Roderich Ptak

Institut f�r Sinologie

Ludwig-Maximilians-Universitat Munchen, Germany

 

 

VỊNH BẮC VIỆT:

 

MỘT TIỂU ĐỊA TRUNG HẢI? 1

 

 

Ng� Bắc dịch

***

 

Bản Đồ Cổ Nhất Của Anh Về To�n Bộ Biển Nam Trung Hoa (1703)

 

 

Quan Điểm H�ng Hải, Sự Trao Đổi, V�

T�nh Lưỡng Ph�n Đất Liền-Biển

 

������ Trong những năm gần đ�y, kh�i niệm của Fernand Braudel về Địa Trung Hải �u Ch�u thường được �p dụng cho khung cảnh � Ch�u, đặc biệt c�c Biển Đ�ng Trung Hoa (East China Sea) v� Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) v� Ấn Độ Dương.� T�c giả Denys Lombard đặc biệt đ� n�i về điểm n�y tại c�c hội nghị quốc tế, v� �ng đ� ho�n to�n tin rằng một quyển s�ch chuy�n đề bao qu�t cần phải được viết ra về đề t�i n�y.� Tuy nhi�n, một quyển s�ch T�y Phương quan trọng truyền tải một c�ch c� hệ thống c�c chiều k�ch kh�i niệm của m� h�nh Đại Trung Hải đến thế giới � Ch�u chưa được xuất bản.� Thay v�o đ�, ch�ng ta t�m thấy một số lượng lớn c�c cuộc nghi�n cứu nhỏ hơn v� v�i tuyển tập khai ph� c�c điểm c� biệt hay �m chỉ một c�ch mơ hồ đến khả t�nh (hay c�c kh� khăn) trong việc so s�nh cảnh quan �u Ch�u với c�c Biển � Ch�u.� B�i viết n�y nằm trong c�ng loại n�y.� B�i viết mong ước n�u � kiến về một số (nhưng chắc chắn kh�ng phải tất cả) c�c t�nh chất c� thể được quy kết cho một �ph�n kh�c� nhỏ của thế giới h�ng hải � Ch�u, tức Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tongking).

������ N�i chung, c�c sử gia đ� ch� � đến lịch sử của c�c đế quốc, hay c�c v�ng rộng lớn hơn chẳng hạn như tiểu lục địa Ấn Độ, khảo s�t c�c t�nh trạng tự nhi�n hay t�nh trạng kh�c li�n hệ với kh�ng gian đ�.� Nếu họ mở rộng c�c cuộc nghi�n cứu của họ ra đến c�c biển cả, hay �t nhất c�c khu vực duy�n hải n�o đ�, họ c� khuynh hướng nh�n c�c thực thể n�y từ đất liền, mặc nhi�n giả định rằng bờ biển v� đại dương rộng mở phải được xem l� c�c loại hạng phụ thuộc.� C�c khu vực n�y ch�nh v� thế được g�n cho một t�nh chất ngoại vi v� thường bị nhận thức như bị lệ thuộc về mặt chức năng v�o một số trung t�m văn h�a hay ch�nh trị tại nội địa của một v�ng đất liền rộng lớn hơn.� C�c sử gia h�ng hải c� một khảo hướng kh�c.� N�i một c�ch ẩn dụ, họ tự đặt m�nh ở giữa biển, th� dụ Vịnh Bengal, để quan s�t c�c bờ biển chung quanh hải phận n�y.� C�i nh�n của họ đi từ biển v�o đất liền, v� kh�ng đi theo con đường v�ng quanh n�o kh�c.

������ Đối với sử gia h�ng hải, �t nhất tr�n l� thuyết, c�c bờ biển đối diện được nối liền với nhau bởi một chuỗi v� hạn định �c�c đường� v� �c�c d�ng mạch� xuy�n đại dương.� Một số trong c�c d�y li�n kết n�y đ� chỉ hiện hữu �tiềm ẩn� v� kh�ng hề hiện thực, c�c d�y li�n kết kh�c c� thể được l�m cho hiển thị bởi bằng chứng lịch sử, khảo cổ, nh�n chủng v� ng�n ngữ học. �C�c d�y li�n kết n�y � hay đ�ng hơn �c�c mạng lưới�, nếu ch�ng được ph�t triển th�nh c�c �mạng� tinh vi hơn � c� thể được biểu trưng như c�c hệ thống �trao đổi�.� Sự trao đổi trong nghĩa của Braudel �m chỉ tr�o lưu của c�c th�nh tố vật chất v� phi-vật chất, thường qua c�c thời kỳ l�u d�i hơn.� N�i c�ch kh�c, c�c sản vật v� c�c h�ng h�a mậu dịch được lu�n chuyển từ một khu vực duy�n hải n�y sang một khu vực duy�n hải kh�c, thường qua c�c thời đại li�n tiếp nhau v� ho�n to�n độc lập với sự vươn cao v� sụp đổ của quyền lực ch�nh trị.� Ngo�i điều đ�, ch�ng ta cũng c� thể nhận thấy tr�o lưu của c�c th�nh tố văn h�a chẳng hạn như c�c t�n gi�o, c�c kh�i niệm về định chế, kiến thức kỹ thuật, đồ trang bị, v.v�

������ Một giả định quan trọng gắn liền với điều tr�n l� sự lưu h�nh của �c�c sự vật� xuy�n qua biển, từ bờ biển n�y sang bờ biển kh�c, th� quan trọng cho một hải cảng hay bờ biển c� biệt � về lượng lẫn phẩm � hơn l� sự lưu h�nh �c�c đồ vật� từ c�ng địa điểm đ� đến phần nội địa li�n hệ của n�, xuy�n qua c�c tuyến đường tr�n đất liền.� Trong thực tế, nếu biển đ�n tiếp đa số trong mọi sự li�n kết với b�n ngo�i, khi đ� địa điểm duy�n hải trong c�u chuyện c� thể được nh�n như một bộ phận của một cảnh tr� h�ng hải to lớn hơn, bởi, hiển nhi�n, n� t�y thuộc nhiều c�c m�c nối h�ng hải của n� hơn l� v�o sự lưu th�ng nội địa.� Phần trung t�m của duy�n hải Quảng Đ�ng c� thể l� một trường hợp được n�i đ�n.� H�y giả định rằng n� được� li�n kết một c�ch mật thiết với Đ�ng Nam �, qua biển cả, hơn l� với v�ng nội địa n�i non v� nội đia Trung Hoa.� Nếu một giả thiết như thế sẽ được chấp nhận, khi đ� một đia điểm như Macau hay ngay cả v�ng Quảng Đ�ng c� thể được xem như một phần của một hạng mục h�ng hải rộng lớn hơn được đồng nhất một c�ch mơ hồ với Biển Nam Trung Hoa [South China Sea, theo c�ch gọi chung của c�c học giả T�y Phương, Việt Nam gọi l� Biển Đ�ng, ch� của người dịch], hay �thế giới Đại Dương Phương Nam: Nanyang� [nanyang, phien �m trong tiếng Việt l� Nam Dương, c�ng t�n người Việt d�ng để gọi nước Indonesia, ch� của người dịch], nếu một nh�n hiệu như thế được cho ph�p.

������ Trong một số � nghĩa, điều tr�n cũng c� thể �p dụng cho một số văn h�a hải đảo n�o đ�, trừ khi một quần đảo lệ thuộc, một c�ch đơn phương, v�o một quyền lực đất liền duy nhất hay v�i quốc gia l�n cận, vốn sẽ cung cấp đa số trong tất cả đồ nhập cảng bằng đường biển -- vật chất hay kh�ng � một c�ch gi�n tiếp hay trực tiếp, xuy�n qua một số hải cảng trung gian.� Th� dụ, nếu Sri lanka (T�ch Lan) bị hạ thấp xuống th�nh một �v�ng phụ thuộc�của một Ấn Độ �giũa đất liền, kh�ng c� bờ biển�, n� sẽ trở n�n kh� khăn để x�c định rằng h�n đảo đ� như một yếu tố lớn lao trong lịch sử h�ng hải của Vịnh Gulf of Manar, Vịnh Bengal hay Ấn Độ Dương trong tổng thể của n�.

 

Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương v� C�c Biển Kh�c;

C�c Sự Kh�c Biệt v� Tương Đồng Cốt Yếu

������ Nơi đ�y ch�ng ta phải hướng đến c�c chiều k�ch kh�ng gian của thế giới h�ng hải � Ch�u.� Như đ� n�i nơi đoạn mở đầu, Ấn Độ Dương v� c�c biển � Ch�u kh�c được so s�nh với Địa Trung Hải �u Ch�u.� Nhưng c� c�c sự kh�c biệt nền tảng giữa cảnh tr� �u Ch�u v� � Ch�u.� Trước ti�n, Địa Trung hải l� một khu vực kh�p k�n với Eo Biển Gibraltar (Straits of Gilbraltar) l� lối tho�t tự nhi�n duy nhất của n�. Biển Đen ( hay Hắc Hải: Black Sea) c� thể được nh�n như một kh�ng gian phụ thuộc, c� lẽ phần n�o hơi giống (hay kh�c biệt) với Bi�n Adriatic Sea (?).� Ngược lại, Ấn Dộ Dương l� một thực thế khổng lồ với� v�i ng� tho�t ra rộng lớn tại c�c sườn ph�a t�y v� ph�a đ�ng của n�.� Hơn nữa, trong thời đại thuyền buồm, ph�n nửa ph�a nam của n� vẫn c�n l� v�ng đất chưa được kh�m ph� bởi con người (terra incognita) hay giống như chưa được kh�m ph� (quasi incognita) v� kh�ng đ�ng giữ vai tr� n�o trong thương mại quốc tế.� Sự trao đổi văn h�a v� thương mại bị giới hạn v�o c�c bờ biển ph�a bắc v� ph�a t�y, trải d�i từ Mozambique xuy�n qua c�c bờ biển Hadramaut v� Oman đến Gujarat, Malabar, Sri Lanka, Tamilnadu v� c�c địa điểm kh�c quanh Vịnh Bengal, Biển Andaman, cũng như đến viền ph�a t�y của thế giới M� Lai.� South Africa (Nam Phi) v� �c Đại Lợi chỉ can dự v�o cảnh tr� n�y ở một thời điểm sau n�y.

������ Địa Trung Hải r� r�ng kh�c biệt.� Trong thực tế, tất cả c�c phần duy�n hải đều bị l�i k�o v�o c�ng cuộc mậu dịch v� trao đổi văn h�a trong c�c thời kỳ l�u d�i trong lịch sử.� Thực ra, trong �t thế kỷ li�n tiếp nhau, Địa Trung Hải đ� vận h�nh như một �hồ� của La M�, duy�n hải của n� nằm dưới sự kiểm so�t tr�n danh nghĩa của một thực thể ch�nh trị duy nhất, c� trung t�m đặt ở v�ng địa dư nằm giữa kh�ng gian đ�, tức Rome (La M�).� R� r�ng, kh�ng c� g� khả s�nh c� thể tuy�n nhận được cho Ấn Độ Dương.� Sự kiểm so�t ch�nh trị tr�n c�c bờ biển của n� lu�n lu�n manh m�ng v� kh�ng trung t�m đ� thị n�o khả s�nh với thủ đ� Rome lại c� thể được x�c định tại v�ng trung t�m của Ấn Độ Dương.

����� Hơn nữa, cũng c� một sự �kh�c biệt địa dư� quan trọng giữa cả hai kh�ng gian: Mậu dịch v� sự lưu th�ng tại c�c Biển � Ch�u, phần lớn, được hướng dẫn bởi luồng gi� v� gi�ng nước chảy theo m�a; điều n�y kh�ng xảy ra qu� mức tại Địa Trung hải, nơi một chiếc thuyền, chạy bằng m�i ch�o hay buồm, c� thể thực sự di chuyển giữa bất kỳ hai địa điểm n�o � chỉ với một �t ngoại lệ -- trong thời khoảng d�i hơn của cả năm.

������ Đương nhi�n, c�c � tưởng ph�c họa ở tr�n, v� một số điểm kh�c n�o đ�, thường được n�u l�n để chỉ cho thấy rằng Ấn Độ Dương v� Địa Trung Hải thực sự kh�ng thể so s�nh với nhau được.� Tuy nhi�n, c�c kết quả kh�c biệt c� thể thu đạt được nếu kh�i niệm nằm dưới m� h�nh Braudel được sửa đổi, hay, một c�ch lựa chọn kh�c, nếu một ph�n kh�c n�o đ� của Ấn Độ Dương � v� một số kh�ng gian của Đ�ng Nam � v� Đ�ng Bắc � � được đặt cạnh trường hợp �u Ch�u, một c�ch ri�ng rẽ, một đối với một.� Vấn đề k�ch thước v� một số (nếu kh�ng phải tất cả) �c�c sự m�u thuẫn� kh�c c� thể �được l�i v�ng quanh� trong c�ch n�y.

������ Th� dụ, giả định Bohai 渤海 sẽ được ph�n t�ch từ một �quan điểm Địa Trung Hải�.� C� một ng� tho�t ra, c�c khu vực duy�n hải chung quanh kh�ng gian đ� được đ�nh dấu bởi sự đa trạng văn h�a kh�ng k�m như ch�ng đưộc đ�nh dấu bởi sự đồng nhất (homogeneity), chế độ gi�ng nước chảy v� luồng gi� thổi kh�ng thể được cảm thấy mạnh mẽ như trong trường hợp, th� dụ, Biển Nam Trung Hoa, v� đ� c� c�c thời kỳ trong lịch sử, khi c�c bờ biển của Bohai đều nằm dưới một chế độ cai trị, th� dụ dưới Khublai Khan, trong khi ở c�c thời gian kh�c, Sơn Đ�ng, B�n Đảo Li�u Đ�ng v� duy�n hải H� Bắc [Trung Hoa] họp th�nh một phần của c�c đế quốc tranh gi�nh, như trường hợp trong thế kỷ thứ mười một.� Tuy nhi�n, chưa bao giờ c� một trung t�m h�ng hải khả s�nh với th�nh phố Rome.� Do đ�, theo trực gi�c, phần lớn c�c sử gia c� lẽ sẽ nh�n Bố Hải như một �phần phụ thuộc� h�ng hải của miền bắc Trung Hoa, hay Trung Hoa trong tổng thể, v� kh�ng qu� nhiều như một thực thể của ri�ng n�.

 

C�c T�nh Chất H�ng Hải Phổ Qu�t:

Hủy Diệt M� H�nh Địa Trung Hải

������ Nhiều th� dụ nữa c� thể được thảo luận trong c�c c�ch tương tự, với c�c mức độ kh�c nhau về chiều s�u v� chiều d�i, v� bằng việc viện dẫn đến mọi loại lập luận, nhưng c�c kết quả c� lẽ sẽ lu�n lu�n giống nhau � tức một �bản sao� một đối một của Địa Trung Hải �u Ch�u sẽ kh�ng c� đối với ph�a đ�ng của Sharm-el-Sheik v� Basra.� Tuy thế, �vấn đề Địa Trung Hải� cũng c� thể được khảo s�t từ một quan điểm kh�c � v� một quan điểm �t cứng ngắc hơn.� N�i một c�ch đơn giản, người ta c� thể x�c định một loạt c�c phần tử hay điều kiện căn bản theo đ�, th� dụ, một mức độ tối thiểu n�o đ� sẽ phải được c� để một khu vực hội đủ điều kiện trở th�nh một �Địa Trung Hải� hay �chuẩn Địa Trung Hải�.� Nếu một khảo hướng như thế được thực hiện, n�i c�ch kh�c, nếu ch�ng ta sẽ c� một bản kiểm k� �c�c t�nh chất h�ng hải phổ bi�n: maritime universals� khả dĩ �p dụng cho bất kỳ loại kh�ng gian h�ng hải n�o, khi đ� một v�i (nhưng chắc chắn kh�ng phải tất cả) biển trong nhiều biển của � Ch�u c� thể nằm v�o một số sự sắp loại �Đại Trung Hải�.� Hay �t nhất, ch�ng sẽ tạo th�nh c�c biến thể của một chủ đề tương tự -- một c�i g� đ� giống như c�c phần tử ph�i sinh (derivatives) của một �ph�n tử mẹ� (master molecule), bất kể t�nh chất n�o m� phần kể sau (ph�n tư mẹ) c� thể đ� được ph� cho.� V�i c�u hỏi dĩ nhi�n sẽ c�n cần phải được giải đ�p: Th� dụ, người ta sẽ phải x�c định một danh biểu của c�c yếu tố căn bản như thế n�o, v� đ�u l� c�c ti�u chuẩn phải dựa v�o trong tiến tr�nh lượng gi� một ứng vi�n h�ng hải c� biệt?� Hơn nữa, kh�ng phải mọi người đều sẽ nh�n c�c sự vật giống nhau, đặc biệt v� bằng chứng về lượng v� phẩm kh�ng phải l�c n�o cũng c� thể cung ứng được � d� dưới h�nh thức văn bản hay qua khảo cổ học.

������ Cả định nghĩa về c�c tinh chất h�ng hải phổ qu�t �trừu tượng� lẫn sự �p dụng của ch�ng v�o c�c trường hợp c� biệt ch�nh v� thế sẽ vẫn c�n l� một sự vụ rất chuy�n đo�n.� Trong thực tế, kh�ng c� lối tho�t cho t�nh trạng nghịch l� n�y.� Tập hợp một danh biểu �c�c thực chất� h�ng hải, một c�ch tất nhi�n v� quyết đo�n, sẽ bị giới hạn bởi một số loại th�nh kiến văn h�a.� Người ta c� thể so s�nh việc n�y với sự x�c định c�c th�nh phần ngữ học trong c�c từ ngữ đơn giản.� Theo l� thuyết, h�nh ảnh trong đầu của một từ ngữ được hợp th�nh bởi v�i phần tử.� Một c�ch giả định, một số trong c�c �mảnh� n�y c� t�nh chất phổ qu�t v� xuất hiện trong h�ng trăm từ ngữ tương tự c� thể được t�m thấy trong gần như mọi ng�n ngữ, trong khi c�c phần tử kh�c chỉ xuất hiện trong khung cảnh của một hệ thống ngữ học c� biệt; kh� khăn nằm ở chỗ nhận dạng c�c khoản mục �hiếm c� n�y; hơn nữa, những người sử dụng một bộ mật m� c� biệt c� thể dễ d�ng hiểu sai một loại phổ qu�t th�nh một thực thể đơn độc, v� ngược lại.� V� thế, quay trở lại l�nh vực nghi�n cứu của ch�ng ta, người ta c� thể n�u � kiến n�y: c�c kh�ng gian h�ng hải c� hiện hữu, tại � Ch�u v� c�c nơi kh�c; lịch sử của c�c kh�ng gian n�y c� thể được kết hợp với mọi loại �trao đổi� văn h�a v� thương mại; hơn nữa, theo Braudel, một số kh�ng gian được nhận thức, bằng trực gi�c hơn l� một c�ch kh�ch quan, như c�c v�ng vĩ m� (macro-regions) đặc trưng bởi một mức độ n�o đ� t�nh đồng nhất �nội tại�.� Điều n�y kế đ� dường như để biện minh sự hiện hữu của ch�ng như c�c thực thể ri�ng biệt của sự nghi�n cứu.

 

Từ Một Kh�ng Gian Duy Nhất

Đến Một Chuỗi C�c Biển:

Con ĐườngTơ Lụa H�ng Hải

������ Nếu một c�i nh�n mơ hồ v� thuộc trường ph�i ấn tượng như thế c� thể được chấp nhận, người ta c� thể chứng minh một bước xa hơn: c�c bờ biển của � Ch�u được xếp h�ng bởi một chuỗi c�c thực thể h�ng hải.� C�c thực thể n�y trải d�i từ Biển Nhật Bản tại ph�a Đ�ng tới khu vực Mũi Đất (Cape) [?] ở ph�a t�y nam.� C�c kh�ng gian ở giữa l� c�c Biển V�ng (Ho�ng Hải) v� Biển Đ�ng Trung Hoa (East China Sea), Biển Nam Trung Hoa (South China Sea), v�ng Sulu v� nhiều biển kh�c nhau của miền đ�ng Indonesia ng�y nay, Eo Biển Malacca, Biển Andaman, Vịnh Bengal, Vịnh Gulf of Manar, Biển Ả Rập, v� v.v�.Trong một số � nghĩa, Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) v� Biển Đỏ (Red Sea: Hồng Hải) l� c�c đơn vị phụ thuộc của Ấn Độ Dương, hay hai trong số c�c biển phụ của n�, giống như Vịnh Th�i Lan c� thể được định nghĩa như một ph�n kh�c của Biển Nam Trung Hoa.� Tổng qu�t, ch�ng ta c� thể n�i, rằng phần lớn c�c kh�ng gian n�y tạo th�nh một �bộ phận� khổng lồ, một đại lộ h�ng hải, với c�c ph�n nh�nh biến đổi kh�c nhau.� Hệ thống n�y, c�i được gọi l� �con đường tơ lụa tr�n biển�, đ� nối kết v�ng Viễn Đ�ng xuy�n qua Đ�ng Nam � v� Ấn Độ với v�ng Levant v� Đ�ng Phi Ch�u.

������ Gần như theo định nghĩa, bất kỳ tuyến đường n�o c� thể được n�i l� để li�n kết một số điểm, giống như bất kỳ đường phố n�o sẽ dẫn một người l�i xe xuy�n qua c�c khoảng kh�ng gian kh�c nhau.� C�c kh�ng gian n�y, hay c�c v�ng, c� thể kh�ng nhất thiết đồng nhất về t�nh chất.� Điều đ� cũng �p dụng cho h�nh ảnh của con đường tơ lụa tr�n biển: C�c đại dương v� c�c biển cả tr�n đ� �xa lộ� nhiều ấn tượng n�y được tạo th�nh, c� thể được nh�n như một chuỗi d�i c�c thực thế cấp v�ng, một số trong đ� c� thể tương đồng một c�ch r� rệt với Địa Trung Hải �u Ch�u, trong khi c�c miền kh�c mang c�c t�nh chất rất kh�c biệt � t�y thuộc v�o c�c ti�u chuẩn được d�ng cho việc thẩm tra bản chất của ch�ng.� Trong � nghĩa đ�, ch�ng ta đang ngắm nh�n một chuỗi c�c kh�ng gian Địa Trung Hải, chuẩn [hay g�n giống] Địa Trung Hải v� phi Địa Trung Hải được nối kết với nhau theo nhiều c�ch kh�c nhau.� Một c�ch giả định, ch�ng c�ng c� một số đặc t�nh chung n�o đ�, bất kể c�c đặc t�nh n�y ra sao, nhưng c�ng l�c, �ngữ nghĩa� (semantics) của cấu tr�c to�n thể cho ph�p ch�ng ta x�c định c�c n�t đặc trưng ri�ng biệt chỉ biểu lộ trong một hay hai trường hợp, nhưng chắc chắn kh�ng phải tại mọi ph�n kh�c. �

������ R� r�ng, kh�ng ai lại sẽ c� thể l�m ra một m� h�nh ch�nh x�c cho một cấu tr�c như thế bao giờ, mặc d� cấu tr�c như thế đ� hiện hữu.� Hơn nữa, như đ� n�i, một số trong c�c ph�n kh�c của n� kh� giống với �bản sao gốc� Địa Trung Hải trong khi c�c ph�n kh�c kh�c th� kh�ng.� H�nh ảnh đ� c� thể đảo ngược hay sửa đổi nếu, th� dụ, Biển Nam Trung Hoa � thay v� Địa Trung Hải -- sẽ được x�c định l�m khu�n mẫu ch�nh (archetype) cho mọi khu vực h�ng hải, v� nếu người ta sẽ t�m xem c�c kh�ng gian kh�c, kể cả Địa Trung Hải �u Ch�u, �đ� sai lệch� ra sao đối với đối t�c Đ�ng Nam � của n�.� Nhưng đo lường �Thế Giới Cũ� bằng c�c ti�u chuẩn � Ch�u c� thể kh�ng được ưa th�ch thật nhiều bởi c�c đồng nghiệp của ch�ng t�i ở v�ng Viễn T�y.

 

Ph�n Định C�c Kh�ng Gian Đ� Kiến Tạo

������ Điều n�i tr�n gỉa thiết hai điều kh�c.� Trước ti�n, phải c� một sự ph�n định địa dư r� r�ng của bất kỳ kh�ng gian n�o, v� thứ nh�, sự cứu x�t th�ch đ�ng phải được d�nh cho chiều k�ch thời gian.� C�c bi�n giới địa dư của Địa Trung Hải dễ d�ng được x�c định, điều kh�ng �p dụng được đối với tất cả biển ở � Ch�u.� Trong khi Vịnh Ba Tư v� Hồng Hải, như c�c biển gần như kh�p k�n, mỗi biển c� một lối ra (thi�n nhi�n) � giống như Địa Trung Hải � Biển Nam Trung Hoa c� chung một �bi�n giới� d�i v� phần n�o trống trải với Biển Java (Java Sea).� Địa điểm ch�nh x�c của bi�n giới đ�, hay �khu vực bi�n giới: border area�, l� một sự vụ chuy�n đo�n.� Ch�ng ta thực sự kh�ng thể x�c định c�c giới hạn ph�a nam của Vịnh Gengal (Bay of Bengal) v� Vịnh Manar (Gulf of Manar) [trong tiếng Việt, thường dịch cả hai từ ngữ Bay v� Gulf l� Vịnh.� Thực ra, trong Anh ngừ, Bay: Vũng th� nhỏ hơn Gulf: Vịnh, ch� của người dịch], nếu c�c ti�u chuẩn địa dư thuần t�y được cứu x�t đến.

������ C�c vấn đề như thế n�y cũng c� thể được t�m thấy trong khung cảnh đia dư truyền thống.� Biển Zhanghai 漲海 (Trường Hải) cổ xưa l� một trường hợp th�ch ứng.� Cả c�c giới hạn ph�a nam v� ph�a đ�ng của n� th� kh�ng r� r�ng.� Một số học giả chắc chắn sẽ lập luận rằng kh�i niệm kh�ng gian nằm b�n dưới c� bao gồm cả phần ph�a t�y của khu vực giờ đ�y thường được li�n kết với từ ngữ �Biển Nam Trung Hoa�; c�c học giả kh�c c� thể lựa chọn một �giải ph�p� rộng lớn hơn, tin tưởng rằng biển Zhanghai bao tr�m một diện t�ch lớn hơn Biển Nam Trung Hoa rất nhiều.� Song c�c học giả kh�c c� thể sẽ nghĩ rằng c� hai thực thể kh�c biệt � một biển Zhanghai rộng lớn hơn (cũng gọi l� Da Zhanghai 大漲海 (Đại Trường�������� Hải) v� một đơn vị nhỏ hơn vốn l� một ph�n kh�c của thực thể rộng lớn hơn.

������ Cho d� điều n�y c� thể l� đ�ng, ch�ng ta đều hay biết sự đồng hiện hữu của hai tuyền đường biển ch�nh y�u � c�c đường được gọi l� tuyến đường mậu dịch ph�a T�y v� ph�a Đ�ng, hay xihanglu (t�y h�ng lộ) (t�y h�ng lộ: lộ tr�nh chở h�ng đường biển về ph�a t�y) 西航路 v� donghanglu東航路� (đ�ng h�ng lộ) -- đ� đ�ng giữ một vai tr� quyết định trong sự nhận thức kh�ng gian của Biển Nam Trung Hoa, c�c phần cũng đ� được nối kết với một �Đ�ng Dương: Eastern Ocean� v� một �T�y Dương: Western Ocean� trong thời nh� Nguy�n, nh� Minh v� đầu nh� Thanh.� N�i một c�ch tổng qu�t hơn, đ� c� nhiều c�ch kh�c nhau về việc nhận thức v� x�c định c�c kh�ng gian h�ng hải.� C�c biến số li�n can trong c�c tiến tr�nh như thế thường biến đổi từ thời n�y sang thời kh�c, trừ khi c�c điều kiện địa dư qu� r� r�ng � như trong trường hợp Địa Trung Hải �u Ch�u � đến nỗi �t hay kh�ng c� sự ngờ vực n�o được n�u l�n bao giờ đối với c�c bi�n giới địa dư của một khu vực.

 

X�c Định Thời Gian v�

Hiện Tượng Trường Kỳ (Longue Dur�e).

������ Chiều k�ch thời gian l� hạng muc thứ nh� sắp được xem x�t ở đ�y.� Braudel quan t�m phần lớn đến c�i gọi l� hiện tượng trường kỳ [longue dur�e: d�i hạn, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Chắc chắn, trong quan điểm của �ng, một số th�nh tố đ� tồn tại trong c�c thời kỳ l�u d�i hơn c�c phần tử kh�c.� C�c th�nh tố �l�u d�i nh�t�, trong phần lớn c�c trường hợp, l� c�c t�nh trạng vật thể gắn liền với một khu vực.� Một c�ch điển h�nh, c�c khu�n mẫu chiều gi� thổi, hệ thực vật v� hệ đ�ng vật của một miền vĩ m�, c�c hệ thống thủy triều v� c�c luồng nước chảy nằm v�o hạng mục n�y.� C�c hiện tượng n�y thường vẫn c�n bất biến, hay gần như bất biến, xuy�n qua v�i ngh�n năm, mặc d� c�c t�c động của c�c tai ương bất ngờ chẳng hạn như c�c vụ động đất v� c�c trận b�o lụt kh�ng n�n bị ước lượng thấp.� Ngược lại, sự vươn cao v� sụp đổ của c�c đế quốc duy�n hải, c�c hải cảng v� c�c mạng lưới thường l� �c�c sự vụ� ngắn hạn.� Sư lưu chuyển h�ng h�a v� c�c tư tưởng dường như trải d�i giữa hai th�i cực n�y; trong một số trường hợp, ch�ng k�o d�i v�i thế kỷ, hay c�n l�u hơn nữa, trong c�c trường hợp kh�c ch�ng biến mất một c�ch kh� mau ch�ng.� Hơn nữa, đ�i khi người ta c� thể ph�t hiện c�c chuyển động theo chu kỳ, c�c sự thăng v� trầm, hay c� lẽ một số c�t tuyến (hay �đường kẻ thẳng: linear�) bất biến � từ điểm x đến điểm y � trong sự xuất hiện tiệm tiến của một �đặc t�nh� c� biệt.

������ Đ�u l� thời khoảng tối thiểu cho một hiện tượng khả dĩ quan s�t được cần phải c� để được liệt k� như một �th�nh tố h�ng hải�, hay t�nh chất thiết yếu của một khu vực, đương nhi�n sẽ m�i m�i c�n l� một vấn đề của sự tranh luận.� Th� dụ, liệu sự xuất cảng c�c h�ng dệt b�ng vải của Hải Nam, vốn được �m chỉ một c�ch mơ hồ trong một số văn bản Trung Hoa trung cổ, phải được xem như một mục khoản trường kỳ (longue dur�e) của Biển Nam Trung Hoa, hay ch�ng ta đang nh�n đến một hiện tượng tương đối ngắn hạn trong trường hợp n�y, vốn chỉ c� một tầm quan trọng bi�n tế trong một khung cảnh l�u d�i hơn của thời gian?� Dĩ nhi�n, kh�ng c� c�c c�u trả lời r� r�ng cho c�c c�u hỏi như thế, tr�n l� thuyết cũng như trong thực tế, bởi bằng chứng định lượng (quantitative) kh�ng c�, cũng như kh�ng c� vất kỳ khu�n khổ n�o c� thể cho ph�p ch�ng ta đo lường �ứng vi�n� b�ng vải chống lại �c�c biến s� khả dĩ quan s�t kh�c xem ra rơi v�o hạng mục �trao đổi�.

������ Một lần nữa, người ta tốt nhất c� thể khảo s�t c�c vấn đề như thế trong một cung c�ch tổng qu�t v� rất ấn tượng � bằng việc giả định rằng một số hiện tượng n�o đ�, hoặc l� ch�ng c� bản chất kh� tĩĩnh, hay thuộc loại k�m bền bỉ hơn, đ� c� một t�c động đang kể v� �k�o d�i� tr�n một m�i trường đ� định.� Điều n�y kế đ� giả thiết rằng một số lượng đầy đủ của c�c sự ph�t triển, hay c� lẽ c�c biến cố, trong thực tế c� thể được x�c định như c� xảy ra trong kh�ng gian đ�, v� trong c�c thời kỳ l�u d�i trong lịch sử.� N�i c�ch kh�c, nếu qu� �t th�nh tố được ghi nhận, khi đ� kh�ng c� một căn bản dữ liệu đủ để tuyển chọn từ đ�.

������ Mọi điều kh�c, kh�ng cần n�i th�m, vẫn c�n mơ hồ v� lệ thuộc v�o c�c quan điểm c� nh�n.� R� r�ng, kh�ng c� c�c định nghĩa kiểu to�n học; h�nh ảnh của một bộ cấu tr�c theo hệ cấp của c�c th�nh tố trường kỳ, được nhận thức xuy�n qua lăng k�nh của lịch sử h�ng hải, sẽ lu�n lu�n c� th�nh kiến v� kh�ng trọn vẹn; d� thế -- v� rất nghịch l� -- đ�i khi ch�ng ta dường như cảm thấy rằng c�c h�nh ảnh như thế phản ảnh bản chất của �thực tại�, bất kể thực tại đ� c� thể ra sao.

 

Vịnh Bắc Việt:

T�i Cứu X�t Kh�ng Gian Của N�

������ Nơi đ�y ch�ng ta c� thể hướng đến chủ đề của ch�ng ta, Vịnh Bắc Việt.� Để bắt đầu, cần phải ph�n minh về điều ch�ng ta đang n�i đến.� �Ngữ nghĩa học� hiện đại của t�n gọi n�y �m chỉ một khu vực c� c�c bi�n giới ph�a t�y, ph�a bắc v� ph�a đ�ng tương đối dễ d�ng x�c định: n�i một c�ch đơn giản,� ch�ng đồng nhất với bờ biển của miền bắc Việt Nam, bờ biển Quảng T�y, sườn ph�a t�y của B�n Đảo L�i Ch�u (雷州半島:Leizhou Pennisula) thuộc tỉnh Quảng Đ�ng, �t nhiều từ lối ra của Eo Bi�n Quỳnh Ch�u: Qiongzhou 瓊州xuống tới khu vực chung quanh Yinggehai 莺歌海 thuộc huy�n Ledong 樂東.

������ Vị tr� ch�nh x�c của bi�n giới giữa bản th�n Vịnh [Bắc Việt] v� Eo Biển Qiongzhou c� thể l� một điểm g�y tranh luận: Một số chuy�n vi�n c� khuynh hướng xếp nửa ph�a t�y của eo biển đ� như một phần lệ thuộc của Vịnh [Bắc Việt], trong khi c�c chuy�n vi�n kh�c chắc chắn sẽ ưa th�ch việc xem to�n thể eo biển như một thực thể ri�ng biệt.� Cả hai giải đ�p, theo t�i nghĩ, đều c� thể chấp nhận được trong khung cảnh một sự khảo s�t lịch sử tổng qu�t.� Hải h�nh xuy�n qua eo biển đ� gần như l�c n�o cũng được nhận thức l� cực kỳ nguy hiểm, ch�nh yếu bởi sự thay đổi luồng gi� v� gi�ng nước chảy, nhưng kh�ng th�nh tố cụ thể nổi bật n�o c� thể được x�c định trong văn liệu c� thể buộc sử gia phải lựa chọn bất kỳ một trong c�c sự lựa chọn địa dư n�o được ph�c họa ở tr�n.

������ Bi�n giới ph�a nam của Beibuwan (Bắc Bộ Loan) 北部湾, như Vịnh Bắc Việt được gọi trong s�ch địa dư hiện đại của Trung Hoa, th� �t dễ d�ng để x�c định.� Diện t�ch của n� kh�ng nhất thiết phải đ�ng như khu vực được bao phủ bởi Giao Chỉ Dương (Jiaozhiyang� 交趾 (cũng vi�t 阯,址)羊� xưa kia trong c�c thời kỳ trước đ�y.� Trong thực tế, c� c�c l� do để giả định rằng Giao Chỉ Dương (Jiaozhiyang) (một địa danh trở n�n nổi tiếng dướ thời nh� Tống) k�o d�i xa về ph�a nam hơn nhiều so với �t�n gọi anh em họ� hiện đại của n�. ��Nhưng ngay sự kiện n� thực sự rộng lớn như thế n�o, vẫn c�n l� điều chưa r�.� Hơn nữa, xem ra nhiều phần c�c giới hạn v�ng ngo�i của n� th� kh�c biệt trong c�c thời kỳ sau n�y.� C�c t�n gọi kh�c, chẳng hạn như từ ngữ �Jiaozhijie�: �Giao Chỉ Giới�: 交趾 , cũng cần phải được cứu x�t đến.� Ch�ng xuất hiện trong c�c văn bản cổ đại v� tr�n c�c bản đồ truyền thống, đặc biệt dưới thời nh� Minh.� Bằng chứng tr�n bản đồ địa dư đặc biệt khiến ta nghĩ rằng kh�ng gian n�y đ� c� h�nh tam gi�c với nhiều h�n đảo trong v�ng ch�u thổ của S�ng Hồng.� Một c�ch đ�ng ch� �, c�c bản đồ Bồ Đ�o Nha thế kỷ thứ mười s�u cũng cho thấy c�c đặc điểm n�y, c� thể ch�ng ph�t sinh từ bản đồ Trung Hoa trước đ�.

������ Khi đ�, ch�ng ta sẽ phải đặt định c�c giới hạn ph�a nam của Beibuwan (Bắc Bộ Loan), hay Vịnh Bắc Việt, ở nơi đ�u trong thời đại của ch�ng ta? Phần lớn c�c bản đồ hiện đại m� t�i c� thể tham khảo xem ra n�u � kiến, kh� mơ hồ, rằng bi�n giới n�y đồng nhất một c�ch đại cương với một đường nằm ngang tưởng tượng được vẽ ở khoảng 18o Bắc vĩ độ, hay ngay cả ở 19o Bắc vĩ độ, từ đảo Hải Nam cho tới bờ biển Việt Nam.� Nhưng dĩ nhi�n người ta cũng c� thể lựa chọn một đường li�n kết nằm ch�o (nghi�ng g�c) nối, th� dụ, Yinggehai với một điểm n�o đ� gần Huế.� Cho d� điều n�y c� thể l� đ�ng --- v� mục đ�ch của b�i viết n�y, c�ng kh�ng thực sự cần thiết để đưa ra một sự lựa chọn cứng ngắc giữa bất kỳ một trong c�c khả t�nh n�y.� Đ�ng hơn, t�i sẽ đề nghị một khảo hướng v� c�ng kh�c biệt ở đ�y, c� cứu x�t đến một số chiều k�ch truyền thống n�o đ�.

������ Trước ti�n, như ch�ng ta đều biết, mạch mậu dịch ph�i t�y vĩ đại hay xihanglu (t�y h�ng lộ) đi theo bờ biển ph�a đ�ng của Hải Nam xuống huyện Wanning 萬寧 ng�y nay, nơi n� bọc quanh h�n đảo ng�y nay gọi l� Dazhoudao 大洲島.� Từ đ� n� chạy suốt cho đ�n khu vực Faifo (hội An) ng�y xưa.� Một c�ch đi kh�c, nếu một chiếc thuyền chọn một đường đi trực tiếp hơn từ, th� dụ, ch�u thổ S�ng Ch�u Giang [Pearl River, th�nh phố Quảng Ch�u, ch� của người dịch] xuống tới Miền Trung Việt Nam, ở một khoảng c�ch xa hơn từ bờ biển Hải Nam, n� cũng c� thể tiến bước � một c�ch ho�n to�n thẳng tắp � đến một trong c�c h�n đảo ngo�i khơi xa hơn Hội An.� Điều đ� c� nghĩa xihanglu (t�y h�ng lộ) giống như một h�nh lang rộng lớn băng qua đại dương rộng mở theo một hướng nằm ch�o, v� rất r� rệt vượt qu� c�c giới hạn ph�a nam của Beibuwan (Bắc Bộ Loan) ng�y nay.

������ D� thế, một chiếc t�u đi theo �xa lộ� n�y, c� thể dễ d�ng tiến v�o Vịnh Bắc Việt, hoặc bởi việc l�i thuyến theo hướng bắc từ một hải cảng như Hội An, hay bằng viếc tiến đến khu vực Sanya 三亞 thuộc miền nam Hải Nam.� C� lẽ khi đ�, hai điểm n�y � hay đ�ng hơn to�n thể khu vực nằm giữa ch�ng, c� nghĩa v�ng nơi m� c�c tuyến đường địa phương� xuy�n qua Vịnh [Bắc Việt] nhập v�o �khu� xihan: t�y h�ng �quốc tế�, phải được x�c định như giới hạn ph�a nam của kh�ng gian h�ng hải m� ch�ng ta đang thảo luận đến trong b�i viết n�y.�� Nếu � tưởng n�y hấp dẫn, khi đ� ranh giới mặc nhi�n chắc chắn sẽ kh�ng phải l� một ranh giới thi�n nhi�n, được x�c định bởi c�c hiện tượng địa dư, đ�ng hơn, n� sẽ l� một �sự x�y dựng� nh�n tạo, ph�t sinh từ c�c nhu cầu hải h�nh v� kinh nghiệm của con người.� Hơn nữa, tổng số k�ch thước của kh�ng gian �của ch�ng ta� c� lẽ sẽ gần bằng c�c k�ch thước của Giao Chỉ Dương cổ xưa, ngay d� n� sẽ kh�ng ho�n to�n đồng nhất với n�.

������ C�c nguồn t�i liệu truyền thống của Trung hoa chứa đựng một địa danh bổ t�c c� một số li�n hệ.� Địa danh n�y l� c�i được gọi Qizhouyang (Thất Ch�u Dương): 七洲 , r� rệt l� một phần của biển bao quanh miền đ�ng bắc Hải Nam, gần quần đảo Qizhou (Thất Ch�u) 七洲.� Theo s�ch địa dư cổ đại, một thuyền đi xuống ph�a nam, từ Quảng Đ�ng tới bờ biển xứ Ch�m, đ� tới Qizhouyang trước ti�n, trước khi n� tiến v�o khu duy�n hải của Trung Phần Việt Nam.� Bi�n giới ch�nh x�c của v�ng kể sau với Qizhou �Dương� kh�ng được x�c định nơi đ�u, nhưng điều n�y kh�ng quan hệ g� với ch�ng ta, bởi bi�n giới đ� nhất định nằm ngo�i khu vực �của ch�ng ta�.� Song Qizhouyang (Thất Ch�u Dương), như một hạng mục phụ thuộc của Nanhai 南海 cổ xưa, hay một thực thể ri�ng biệt, c� thể l� một mối quan ngại n�o đ� trong một c�ch kh�c biệt, bởi � t�y thuộc v�o định nghĩa về c�c giới hạn ph�a bắc của n� � n� nhập chung v�o lối tho�t ph�a đ�ng của Eo Biển Qiongzhou (Quỳnh Ch�u), v� do đ� l� v�ng đ�ng bắc của Vịnh Bắc Việt. ���

 

Vịnh Bắc Việt:

C�c Chiều Gi� v� Gi�ng Nước Chảy

 

C�c Bản Đồ Chiều Gi� Thổi v� Gi�ng Nước Chảy Tại Vịnh Bắc Việt

 

������ N�i chung, Vịnh Bắc Việt chịu c�ng khu�n mẫu gi� thổi cũng chi phối Biển Nam Trung Hoa�� Cho d� rặng n�i trung t�m của Đảo Hải Nam, v�ng đất đồi n�i của miền nam Quảng T�y, v� c�c miền n�i non quanh lưu vực S�ng Hồng v� tại Trung Phần Việt Nam bao quanh Beibuwan (Bắc Bộ Loan) ở ba mặt, gi� nam chế ngự bản th�n Vịnh [Bắc Việt] trong suốt m�a h�, trong khi c�c luồng gi� lục địa kh�, thổi xuống từ nội địa Quảng T�y, chiếm thượng phong trong m�a đ�ng.� V� thế, một c�ch l� tưởng, c�c thuyền buồm đến từ Đ�ng Nam � sẽ tiến v�o Vịnh [Bắc Việt] giữa Th�ng Tư v� Th�ng Mười v� quay trở về hướng nam giữa Th�ng Mười Một v� Th�ng Ba.

������ Trong suốt phần lớn của năm, cũng c� thể tiến xuy�n qua Eo Biển Qiongzhou, nhưng c� một số sự giới hạn n�o đ�, vả lại hệ thống c�c gi�ng nước chảy phải được am tường hầu c� được một bức tranh r� n�t hơn.� Theo ước lệ, Eo Biển được m� tả như một khu vực c� gi�ng chảy g�y ra bởi luồng gi� v�, c�ng l�c, một v�ng nơi m� c�c thủy triều ngược chiều tương t�c.� Sự nghi�n cứu gần đ�y ph�t hiện rằng tr�o lưu của nước xuy�n qua Eo Biển đi theo một cấu tr�c v� c�ng phức tạp trong thực tế.� Nơi đ�y chỉ c� những nhận x�t quan trọng nhất l� sẽ được t�m tắt.� Trong m�a đ�ng, phần lớn nước tr�n mặt tại Eo Biển di chuyển từ đ�ng sang t�y.� Điều n�y c�ng �p dụng cho h�nh lang xihang: t�y h�ng gần Hải Nam (tuy nhi�n, kh�ng qu� xa c�ch h�n đảo đ�).� C�c thuyền xuống ph�a nam ch�nh v� thế c� thể dựa v�o hai lực song h�nh: chiều gi� thuận lợi v� gi�ng nước chảy thuận lợi.� Nhưng khi tiến v�o Vịnh Bắc Việt từ khu vực Haikou (Hải Khẩu) 海口, một thuyền buồm dẽ d�ng bị mắc cạn, nếu n� muốn đi đến Hepu (Hợp Phố) 合浦, Qinzhou 欽州 (Kh�m Ch�u?) hay một số hải cảng n�o kh�c dọc bờ biển Quảng T�y � bỏi gi� đại lục chiếm thượng phong trong suốt m�a đ�.

������ Cuộc du h�nh từ khu vực Danxian 儋縣 tr�n đảo Hải Nam xuống bờ biển gần Sanya ng�y nay cũng đặt ra một số trở ngại bởi, mặc d� giớ thường thổi từ ph�a bắc, gi�ng nước ưu thế lại theo chiều ngược lại.� Tr�i lại, sẽ dễ d�ng hơn để di chuyển dọc theo bờ biển Việt Nam nếu nơi đến của một cuộc du h�nh l� nơi n�o đ� tại Th�i Lan hay xa hơn.� B�n trong bản th�n Vịnh [Bắc Việt], một gi�ng chảy theo chu kỳ c� thể được nhận thấy.� Điều n�y �m chỉ một sự di chuyển ngược kim đồng hồ trong m�a đ�ng, c� thể g�y kh� khăn cho việc tiến tới từ v�ng Danzhou � tr�n một lối đi nằm ngang � thẳng đến bờ biển miền bắc Việt Nam.

������ Cảnh tượng th� rất kh�c biệt trong m�a h�.� Gi�ng chảy ưu thế đi theo bờ biển Việt Nam đẩy nước mới v�o Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Một lần nữa, người ta t�m thấy một sự di chuyển (b�n) chu kỳ b�n trong Vịnh [Bắc Việt], bởi phần lớn nước tr�n mặt giờ đ�y chạy dọc theo bờ biển Quảng Đ�ng ra ph�a đ�ng, v� từ đ� dọc theo bờ biển ph�a t�y của b�n đảo Leizhou xuống ph�a nam v�, sau c�ng, đổ v�o Eo Biển Qiongzhou, hay xuống ph�a t�y đảo Hải Nam.� Phần kh� khăn nhất để hải h�nh trong m�a h� c� lẽ l� bờ biển Leizhou bởi c�c c�c lưồng gi� nam.� Từ đ�y, nếu một chiếc t�u muốn thực hiện một số việc mậu dịch tại v�ng Hải Ph�ng trước ti�n, v� sau đ� tiến tới khu vực Haikou, n� c� thể n� tranh đi về ph�a bắc xa hơn v�ng ch�u thổ S�ng Hồng, cố gắng l�i t�u vế hướng đ�ng tr�n một tuyến đường nằm ngang thay v�o đ� (l� một lối đi dĩ nhi�n chỉ khả dĩ nếu c�c luồng gi� kh�ng thổi từ một hướng ph�a đ�ng.

������ Một số hiện tượng địa phương n�o đ� cũng phải được cứu x�t.� Th� dụ, trong m�a h� người ta t�m thấy một gi�ng chảy (nguợc chiều kim đồng hồ) chu kỳ nhỏ đến v�ng đồng bắc của Hải Nam, gần khu vực của Luodousha 羅斗沙 ng�y nay.� Điều n�y � c�ng với gi�ng chảy về ph�a đ�ng xuy�n qua Eo Biển Qiongzhou � thường khiến kh� khăn để l�i thuyền xuy�n qua Eo Biển đ� trong hướng đi về ph�a t�y, bất kể c�c chiều gi� thuận lợi từ ph�a nam hay đ�ng nam.� L�i thuyền theo hướng kh�c, trong c�ng m�a đ�, c� thể nguy hiểm kh�ng k�m nếu gi� đột ngột chuyển từ hướng nam th�nh đ�ng nam.� N�i c�ch kh�c, một luồng gi� nam c� thể đẩy một chiếc t�u v�o Eo Biển, nhưng một khi n� tiến đến lối ra ph�a đ�ng của �lạch� (channel) đ�, n� dễ d�ng bị chặn lại bởi c�c luồng gi� nam thổi mạnh.� Sau c�ng, trong mọi m�a c�c chủ t�u l�i xuy�n qua Eo Biển phải bảo đảm rằng, khi gi� thường đến từ b�n h�ng, c�c thưyền s� kh�ng bị đ�nh giạt v�o một bờ biển gần đ�.

������ Gộp chung, điều tr�n khiến ta nghĩ rằng c�c luồng gi� m�a v� gi�ng chảy (đ� sẵn được ghi ch�p lại bởi Zhou Qufei 周去非 (Chu Khứ Phi) v� c�c t�c giả kh�c) đ� �p đặt một số c�c sự hạn chế tr�n việc l�i thuyền xuy�n qua Vịnh Bắc Việt.� N�i chung, tiến dọc theo bờ biển Việt Nam đến Quảng T�y v� quay lại kh�ng �m chỉ qu� nhiều kh� khăn (khu đ� ngo�i khơi bắc phần Việt Nam v� một số cồn c�t n�o đ� tại khu vực Quảng T�y l� �c�c ngoại lệ�).� Nhưng một khi Hải Nam, B�n Đảo Leizhou v� Eo Biển Qiongzhou được đưa v�o chương tr�nh, việc hải h�nh, như một quy luật, trở n�n phức tạp hơn nhiều.� Lưu th�ng trong c�c khu vực n�y kh�ng thể ti�n đo�n được như đi dọc theo bờ biển Việt Nam hay xihanglu (t�y h�ng lộ), v� chắc chắn sẽ mất nhiều th� giờ hơn.

������ �B�n tr�n, điều đ� được n�i rằng một số biển � Ch�u c� thể được nhận thức như được đặc trưng bởi c�c t�nh trạng trường kỳ rất c� biệt kh�ng nhất thiết giống như c�c t�nh trạng bị đối diện tại thế giới Địa Trung Hải.� Hệ thống c�c luồng gi� thổi v� gi�ng nước chảy b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan) l�m ta nghĩ rằng ch�ng ta đang nh�n v�o một cảnh tr� v� c�ng ri�ng biệt, trong thực tế, nhất định kh�c với nhiều kh�ng gian h�ng hải kh�c.� Hơn nữa, một c�u hỏi quan trọng c� thể được n�u l�n ở điểm n�y: Nếu Vịnh Bắc Việt được tiếp cận một c�ch dễ d�ng theo đường của một tuyến giao th�ng lớn b�m s�t duy�n hải Việt Nam, trong khi lưu th�ng ngang qua bản th�n Vịnh, tr�n một tuyến trực tiếp giữa Việt Nam v� Hải Nam, cũng như lưu th�ng xuy�n qua Eo Biển Qiongzhou đặt ra một số kh� khăn n�o đ�, khi đ� �- c� phải ch�ng ta đang đối ph� với một thực thể �độc lập�, hay đ�ng hơn, c� phải ch�ng ta kh�ng n�n định nghĩa Beibuwan (Bắc Bộ Loan) như một bộ phận phụ thuộc ph�a bắc của Biển Nam Trung Hoa, như t�n gọi bằng tiếng H�n ng�y nay xem ra muốn đề nghị?� Theo trực gi�c, người ta c� thể lựa chọn giải ph�p thứ nh�, bởi v� trong kỷ nguy�n l�i thuyền buồm, một số yếu tố then chốt n�o đ� r� r�ng nghi�ng về c�c sự li�n kết theo hướng nam với b�n ngo�i của Vịnh, hơn l� c�c tuyến đường b�n trong của n�, nhưng c�c th�nh tố kh�c cần phải được cứu x�t trước ti�n trước khi một kết luận c� thể được r�t ra.

 

Vịnh Bắc Việt v�

�V�ng Đai� Duy�n Hải Của N�

������ Địa Trung Hải, giống như qu� nhiều kh�ng gian h�ng hải kh�c, được �nu�i dưỡng� bởi một số con s�ng quan trọng, chẳng hạn như s�ng Nile, Po, Rh�ne, hay Ebro.� Con s�ng ch�nh yếu chảy v�o Biển Andaman l� s�ng Irawanddy, trong khi trong trường hợp Vịnh Bắc Việt, chắc chắn S�ng Hồng phải nhận được sự ch� � của ch�ng ta.� Ngược lại, Qinjiang 欽江,Nanliujiang 南流江, Jiuzhoujiang �九州江� v� phần lớn c�c con s�ng của Hải Nam th� kh� ngắn v� kh�ng quan trọng.� Lưu th�ng đường s�ng � v� v�i đường lộ tại ch�u thổ S�ng Hồng -- nối liền v�ng của Hải Ph�ng ng�y nay với nội địa của n� tr�n một khoảng c�ch đ�ng kể v� c� l� c� mật độ cao hơn nhiều so với bờ biển Quảng T�y đ� từng được nối kết với nội địa của n� xa hơn ở ph�a bắc.

������ Nhưng dĩ nhi�n, kh�ng c� bằng chứng thống k� n�o cho một giả thuyết như thế, v� người c� thể dễ d�ng n�u l�n một số c�c lập luận chỉ cho thấy một tr�o lượng li�n tục c�c h�ng h�a từ miền bắc v� miền trung Trung Hoa xuy�n qua c�c hải cảng Quảng T�y đến Đ�ng Nam � v� ngược lại.� Trong thời nh� H�n v� ngay cả sau n�y, như � kiến được n�u ra như thế, Hepu (Hợp Phố) đặc biệt đ� hoạt động như một hải cảng then chốt cho mọi mậu dịch nối liền Trung Hoa với thế giới M� Lai.� T�i sẽ quay trở lại � tưởng n�y sau n�y nhiều hơn.

������ Một c�u hỏi kh�c li�n quan đến B�n Đảo Leizhou.� Bởi, một c�ch tất nhi�n, việc l�i thuyền xuy�n qua lạch Qiongzhou hẹp đặt ra c�c nguy hiểm n�o đ�, người ta thắc mắc rằng liệu sự vận tải tr�n đất liền băng ngang qua b�n đảo, đ�n Haikang 海康 hay Zhanjiang 湛江 tr�n sườn ph�a đ�ng của n� c� bao giờ thay thế cho lưu th�ng đường biển đến một mức độ n�o đ� hay kh�ng.� Tr�o lượng đ�ng-t�y của h�ng h�a xuy�n qua T�y Giang (West River), từ trung t�m mậu dịch cổ xưa của Yongzhou 邕州 (gần Nanning (Nam Ninh) ng�y nay) xuy�n qua Tengxian 藤縣,Wuzhou梧州 v� Zhaoping 肈慶 cũng phải được cứu x�t đến.� T�m lại, c�c sản phẩm sản xuất tại miền bắc Việt Nam c� thể được gửi bằng c�c đường bộ đến Quảng Ch�u, hay xuy�n qua tuyến đường duy�n hải đ�n, th� dụ, Qinzhou, v� từ đ� đến một số nơi kh�c xa hơn ở ph�a bắc, v� sau c�ng đến v�ng Ch�u Giang (Pearl River) � hay, một c�ch kh�c, ch�ng c� thể được gửi thẳng đ�n nơi bằng đường biển. ��

������ Một c�ch tổng qu�t hơn, điều xem ra l� đ�ng để giả định rằng một số tuyến đường tr�n đất liền n�o đ� được r�ng buộc một c�ch chặt chẽ với lưu th�ng đường biển băng ngang qua Beibuwan (Bắc Bộ Loan), giống y như c�c sự chuyển vận xuy�n qua eo biển băng ngang b�n đảo M� Lai � nếu ch�ng c� thực sự xảy ra � thường bị nh�n như một phần hợp th�nh của c�c thế giới Biển Nam Trung Hoa v� Ấn Độ Dương.� Trong trường hợp Vịnh Bắc Việt, c�c sử gia h�ng hải ch�nh v� thế phải thắc mắc, họ phải nh�n từ ngo�i biển v�o đất liền s�u đến đ�u � hay, đ�u l� nơi �v�ng đai� h�ng hải tận c�ng, v� đ�u l� nơi m� phạm vi đại lục chiếm cứ?� Một c�u trả lời th�ch đ�ng cho c�c c�u hỏi n�y th� kh� m� t�m thấy được, bởi một số h�ng h�a v� sản phẩm n�o đ� được trao đổi hầu như mọi nơi, c� nghĩa rằng mậu dịch kh�ng lệ thuộc chuy�n độc v�o vận tải đường biển.

������ C�c con ngựa l� một trường hợp n�i đến.� Ch�ng đến từ V�n Nam ( Dali (Đại L�) 大理 / Nanzhao (Nam Chiếu) 南詔 thời cổ đại) xuống v�ng S�ng Hồng, xuy�n qua c�c tuyến đường tr�n đất liền, v� được b�n cho Trung Phần Việt Nam v� c�c địa điểm kh�c nhau ở Qnảng T�y.� Bởi v� c�c con vật n�y th� cần thiết cho qu�n đội, cả An Nam lẫn xứ Ch�m đều ước muốn ch�ng.� Nếu An nam l�m gi�n đoạn đường d�y cung cấp cho xứ Ch�m, xứ kể sau sẽ t�m c�ch mua c�c con ngựa từ Trung Hoa, ngay cả từ Hải Nam, xuy�n qua khu vực h�ng hải.� Hải Nam c� nu�i dưỡng c�c giống ngựa của ch�nh n� v� dưới thời nh� Minh thường xuy�n gửi ch�ng l�m dồ triều cống cho đất liền.� Tại Quảng T�y, xem ra như thế, c�c trung t�m mua b�n th� vật tại Yongzhou [Ung Ch�u?] v� c�c địa điểm kh�c được d�ng l�m nơi thu nhận c�c con ngựa triều cống từ V�ng T�y Nam, nhưng cũng ph�n phối c�c h�ng nhập cảng đến c�c v�ng kh�c.� Gộp chung lại, điều n�y khiến ta suy nghĩ rằng mậu dịch li�n v�ng về c�c con ngựa xuy�n qua v� chung quanh Beibuwan (Bắc Bộ Loan) l� một hệ thống linh động v� phức tạp cao độ, t�y thuộc v�o một số yếu tố ch�nh trị v� c�c yếu tố kh�c.� C�c nhận x�t tương tự c� thể �p dụng cho sự sản xuất v� mậu dịch về gỗ gharu (gharu woods), gỗ c� hương thơm (calambac), gỗi mun (ebony).� V� thế c� vẻ th�ch đ�ng để gồm cả một v�i trung t�m tr�n đất liền� v�o cuộc thảo luận chung về c�c tr�o lượng sản lượng , v.v�chạy xuy�n qua Beibuwan (Bắc Bộ Loan).

������ Trong trường hợp Địa Trung Hải �u Ch�u, một h�nh ảnh kh�c xuất hiện, như th� dụ sau đ�y c� thể cho thấy.� Chuyến h�ng được gửi từ bờ biển Libya sang � Đại Lợi lu�n lu�n đi bằng đường biển bởi c�c sự vận tải tr�n đất liền � xuy�n qua Ai cập, Syria, Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ) v� v�ng Balkans, hay qua tuyến đường Iberia � th� qu� phức tạp v� kh� tốn k�m.� Ph� tổn của việc gửi h�ng h�a tr�n đất liền từ Leizhou đến bắc phần Việt Nam, hay theo chiều hướng kh�c, c� lẽ cũng vượt qu� ph� tổn của c�c chuyến t�u chở h�ng trực tiếp băng ngang Beibuwan (Bắc Bộ Loan); tuy nhi�n, với c�c sự sai biệt �t hơn về thời gian v� khoảng c�ch, c�c sai biệt ph� tổn chắc chắn �t hiệu ứng trong trường hợp n�y hơn l� trong cảnh tr� Địa Trung Hải.� T�nh to�n theo con số, dưới c�c t�nh trạng ổn định, xu hướng chuyển đổi từ biển sang đất liền hẳn phải cao hơn trong phạm vị Vịnh Bắc Việt so với trong phạm vi phần lớn ph�n kh�c thuộc �đối t�c� �u Ch�u của n�.� Nếu điều đ� đ�ng, c� c�c l� do bổ t�c để kể gồm một v�ng đai nội địa rộng lớn v�o một cuộc thảo luận tổng qu�t về biển �của ch�ng ta�.� Ch�nh v� thế người ta c� thể gọi to�n bộ cảnh tr� l� điều g� đ� giống như �Đại Vịnh Bắc Việt: Greater Beibuwan (Đại Bắc Bộ Loan)�.

 

Mậu Dịch Đường Xa:

Một Sự Chuyển Hướng Lịch Sử v� C�c H�m � Của N�

������ B�n tr�n, điều đ� sẵn được đề nghị rằng một sự ph�n biệt giữa lưu th�ng đường trường v� mậu dịch bờ biển c� thể được thực hiện.� Một số ph�n kh�c n�o đ� của mậu dịch duy�n hải cũng c� thể được xếp v�o hạng mục �bu�n b�n nhỏ�.� Một kẻ bu�n b�n nhỏ điển h�nh sẽ l� một thương nh�n lưu động di chuyển từ hải cảng n�y sang hải cảng kế tiếp, m� kh�ng c� một thương nghiệp hay định chế vững chắc n�o để nương tựa.� Tại mỗi địa điểm, anh ta sẽ t�m kiếm c�c cơ hội, cố gắng mua rẻ v� b�n đắt, đến mức t�i đa anh ta c� thể l�m được.� Một c�ch giả định, trong một số thời điểm v� thời kỳ n�o đ�, ch�ng ta c� thể đối diện với những người như thế khắp v�ng Beibuwan (Bắc Bộ Loan), một số những kẻ c� lẽ n�n được gọi l� �c�c nh� bu�n b�n để sinh nhai lần hồi: subsistence traders� � nhưng họ hiếm khi được nhận dạng trong c�c văn bản của ch�ng ta.

������ Mậu dịch đường trường, gần như bởi định nghĩa, đ�i hỏi c�c h�nh thức tổ chức tinh tế hơn.� Điển h�nh, c�c thương nh�n đường trường, hay đ�ng hơn c�c nh�m thương nh�n, c� thể t�m thấy tr�n xihanglu (t�y h�ng lộ).� Nếu sự triều cống v�/hay mậu dịch ch�nh phủ được xem như c�c h�nh thức đặc biệt của hạng mục đ�, khi đ� c�c cuộc mua b�n thời sơ Minh được hướng dẫn bởi Zheng He 鄭和 v� c�c th�i gi�m trong triều kh�c cũng phải được kể v�o.� Phần lớn c�c chuyến kinh doanh n�y bọc quanh Hải Nam v� khu vực giờ đ�y được định nghĩa l� Beibuwan (Bắc Bộ Loan), mặc d� ch�ng r� r�ng c� cặp bến bờ biển xứ Ch�m.

������ Điều n�i tr�n kh�ng n�n được d�ng để �m chỉ rằng mậu dịch dọc theo xihanglu (t�y h�ng lộ) cổ xưa thuộc v�o một hạng mục si�u đẳng, trong khi sự trao đổi băng ngang Beibuwan (Bắc Bộ Loan) l� thứ yếu.� Đ�ng ra c� vẻ nhiều phần rằng trong một số thời kỳ v� thời điểm n�o đ�, mậu dịch đường trường giữa thế giới M� Lai, Vịnh Th�i Lan v� miền nam Trung Hoa c� tiến v�o Vịnh {Bắc Việt} một c�ch rất thường xuy�n, v� rất trực tiếp.� Đặc biệt trước khi c� sự trổi dậy của Panyu (Phan Ngung hay phi�n Ngung) 番禺/Quảng Ch�u, c�c nơi như Hepu đ� được d�ng như c�c hải cảng để nhập v�o Vương Quốc Trung T�m.� Bờ biển miền nam Quảng T�y khi đ� được nối kết một c�ch chặt chẽ với miền bắc, v� mậu dịch nội địa bắc-nam đ� hoạt động như một đoạn tiếp nối của một tuyến đường biển quan trọng chạy từ Beibuwan (Bắc Bộ Loan) thẳng xuống ph�a nam.

������ M� h�nh n�y c� thể khi�n ta nghĩ, một c�ch ti�n khởi, rằng lưu th�ng đường trường dọc theo c�c ph�n kh�c ph�a đ�ng của xihanglu (t�y h�ng lộ) vẫn c�n k�m ph�t triển, hay kh�ng hiện hữu g� cả.��� Với sự trổi dậy tiệm tiến của sự nổi bật thương mại của, trước ti�n, v�ng bờ biển trung phần Quảng Đ�ng, v� sau n�y, nhiều hải cảng v� vũng nước của Ph�c Kiến, nhiều t�u thuyền hơn sẽ tiến một c�ch trực tiếp đến c�c khu vực n�y, v� cũng như đến Chiết Giang� v� v�ng hạ lưu s�ng Yangzi (Dương Tử) ng�y nay.� Sự tăng trưởng của sự vận tải bằng t�u thời nh� Wu (Ng�) (thế kỷ thứ ba), sự trổi dậy của c�c trung t�m đ� thị tại miền đ�ng Trung Hoa, đặc biệt dưới thời nh� Đường, v� c�c yếu tố kh�c l�m chuyển hướng lưu th�ng, trong c�c thời trước đ�y, vốn chấm dứt tại Hợp Phố (Hepu), đến c�c nới kh�c quanh Biển Đ�ng Trung Hoa.� Nếu bức tranh đ� được vẽ một c�ch ch�nh x�c, khi đ� ch�ng ta đang nh�n v�o một sự bi�n đổi chức năng quan trọng trong lịch sử của Beibuwan (Bắc Bộ Loan): Trong l�c khởi đầu, Vịnh [Bắc Việt] đ� phục vụ như� trạm cuối c�ng ở phương bắc của một lối đi đường trường; về sau, n� dần mất đi vị thế đ� cho c�c v�ng kh�c.

������ Nơi đ�y một lần nữa ch�ng ta c� thể nhớ lại h�nh ảnh của một đại lộ đường biển quốc tế -- con đường tơ lụa tr�n biển, vốn nối kết thế giới cực đ�ng với miền Viễn T�y (Far West).� Hiển nhi�n, c�c phần kh�c nhau của �xa lộ� đ� đ� xuất hiện trong c�c thời kỳ kh�c nhau,� v� c�c ph�n kh�c n�y c�ng tăng trương với nhau theo d�ng thời gian, từng bước một.� Sự biến đổi tiệm tiến ph�c họa ở tr�n c� thể được nh�n như một th�nh tố trong tiến tr�nh đ�.� Nếu đ�ng thế, khi đ� � về mặt kỹ thuật � c�c chức năng của Beibuwan (Bắc Bộ Loan), hay Vịnh Bắc Việt, t�y thuộc, �t nhất đến một số mức độ n�o đ�, [nhưng] kh�ng ho�n to�n chuy�n độc v�o cơ chế nội bộ của n�, m� v�o c�c yếu tố b�n ngo�i.

������ T�m lại, c� c�c l� do để giả định rằng mậu dịch đường trường đ� chuyển hướng ra khỏi Beibuwan (Bắc Bộ Loan) v� rằng điều n�y bị khiến dẫn bởi c�c sự thay đổi về cấu tr�c xảy ra trong phạm vi một thực thể h�ng hải rộng lớn hơn, tức Biển Nam Trung Hoa, hay tập hợp của to�n bộ c�c Biển � Ch�u � tức, chẳng hạn như con đường tơ lụa tr�n biển.� Nếu � tưởng n�y được chấp nhận, khi đ� Beibuwan (Bắc Bộ Loan) phải được xếp loại � kh�ng qu� nhiều theo c�c th�nh tố h�nh thể địa dư của n�, m� đ�ng hơn� theo c�c yếu tố nh�n văn � như một thực thể phụ thuộc.� �t nhất, n� sẽ kh�ng c�n l� một kh�ng gian bản địa (autochthonous), hay (chuẩn) tiểu Địa Trung Hải.

 

Vịnh Bắc Việt: Lệ Thuộc hay Độc Lập?

������ Nhưng dĩ nhi�n, điều tr�n c� thể bị đặt v�o sự nghi ngờ.� Trước ti�n, bằng chứng định lượng kh�ng được cung ứng; ch�ng ta kh�ng thể n�i l� liệu con số tổng hợp tất cả c�c sự trao đổi địa phương b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan) quan trọng nhiều (hay �t) hơn tổng số của tất cả sự tương t�c trực tiếp giữa, th� dụ, miền nam Quảng T�y với Đ�ng Nam � hải đảo hay kh�ng.� Thứ nh�, h�nh ảnh của một đơn vị lệ thuộc về mặt chức năng c� thể bị đảo ngược, một khi điều kể sau được đảm nhận: Một sự chuyển biến quan trọng của kiểu được m� tả ở tr�n dẫn dắt đến một số loại �t�nh trạng tự t�c� trong phạm vi Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Khi mậu dịch dọc theo xihanglu (t�y h�ng lộ) bắt đầu tăng trưởng � v�o bỏ qua Vịnh [Bắc Việt] � phần kể sau dần dần th�nh �độc lập hơn, giờ đ�y ph�t triển phần lớn theo đường lối ri�ng của n�.� N�i một c�ch ẩn dụ, n� đ� bắt đầu �k�ch hoạt� một bộ th�nh tố thụ nhận theo di truyền m�, cho tới khi đ�, h�y c�n nằm y�n b�n dưới bề mặt.� Trong một số � nghĩa, điều n�y c� thể dẫn đến một mức độ gia tăng của t�nh đồng nhất cấp miền � v�, nếu sự tương đồng Địa Trung Hải được g�n giữ, đ�n sự xuất hiện muộn m�ng của một khu vực h�ng hải kh� kh�p k�n.

������ Tuy nhi�n, một lần nữa, c�c � tưởng n�y vẫn c�n thuần t�y l� thuyết.� Bởi đối với thời khoảng ban sơ, chỉ c� rất �t điều để dựa v�o.� Thứ nh�, điều n�i tr�n c� thể bị biến th�nh một khung cảnh phức tạp hơn, nếu -� ngo�i lưu th�ng đường trường v� mậu dịch lặt vặt � c�c hạng mục bổ t�c tiến v�o thế trận.� Th� dụ, sự trao đổi �cấp miền� � giữa xứ Ch�m, miền nam Trung Hoa, Hải Nam, Xi�m La, v.v� -- kh�c biệt một c�ch chắc chắn với c�c hạng mục kh�c.� Tương tự, c�c sự chuyển vận qu�n sự ngang qua Vịnh [Bắc Việt] cũng đ�ng giữ vai tr� của ch�ng.

C�c sự sửa đổi kh�c cũng c� thể được đưa v�o.� Th� dụ, c� thể l� như thế, trong thời khoảng ban sơ, khi Trung Hoa bắt đầu tuy�n nhận sự kiểm so�t tr�n c�c khu vực như Jiaozhou 交州 v� Rinan 日南, v�ng nội địa �Việt Nam� c� �t sự quan trọng đối với to�n thể hệ thống trao đổi ngang qua Beibuwan (Bắc Bộ Loan) hơn l� n� c� sau n�y?� C� phải ch�ng ta đang nh�n v�o một cảnh tr� nơi m� sự lưu th�ng bắc nam chế ngự bị thay thế một c�ch tiệm tiến bởi một số lượng gia tăng c�c sự nối kết đ�ng t�y nằm ngang (hay ch�o g�c) nối liền đầu m�t Việt Nam (v� v�ng nội địa) gần cận hơn với miền t�y Hải Nam v� lạch Qiongzhou (Qnỳnh Ch�u)?� Kh�ng c� c�c c�u trả lời thẳng thừng c� thể t�m thấy được cho c�c c�u hỏi n�y.� Sự nghi�n cứu thực nghiệm v� sự phỏng định bổ t�c sẽ cần phải l�m để t�m ra c�c giải ph�p th�ch hợp.

 

C�c Vấn Đề Mở Ngỏ Ở Tầm Vi M�:

C�c T�nh Trạng Tự Nhi�n

B�n Trong Vịnh Bắc Việt

������ Ở điểm n�y ch�ng ta sẽ quay trở lại một c�ch ngắn ngủi với vấn đề gi�ng nước chảy v� luồng gi� thổi.� Điều đ� được đề xuất rằng c�c cuộc du h�nh dọc theo sườn ph�a t�y của đảo Hải Nam v� xuy�n qua Eo Biển Qiongzhou được ho�n tất �t dễ d�ng hơn c�c chuyến du h�nh dọc theo đường bắc nam, từ miền nam Quảng T�y, th� dụ, tới Huế.� Nếu thế, khi đ� tuyến đường �dễ d�ng hơn� (v� dễ ti�n liệu hơn) c� thể li�n hệ đến hạng mục đường trường, trong khi c�c lối th�ng h�nh �kh� khăn� (v� bất trắc hơn) được �đảo ngược� d�nh cho c�c hoạt động ở quy m� nhỏ, v� c�c vụ kinh doanh lặt vặt.� Điều n�y n�u l�n c�c c�u hỏi quan trọng: C� phải c�c t�nh trạng tự nhi�n phần n�o chịu tr�ch nhiệm cho sự xuất hiện của một khu�n mẫu hai mặt như thế?� Liệu ch�ng ta c� thể li�n hệ c�c sự di d�n v� sự tăng trưởng c�c hải cảng c� biệt với c�c sự kiềm chế tự nhi�n?

������ Trường hợp của Hải Nam c� thể gi�p cho ch�ng ta được ở đ�y.� Từ c�c thời nh� Tần v� nh� H�n trở đi, sự cập bến của c�c binh sĩ v� c�c di d�n Trung Hoa l�n h�n đảo dẫn đến sự xuất hiện của c�c địa điểm duy�n hải nhỏ trong c�c khu vực Haikou, Lin�gao 臨高 v� Danxian.� C�c v�ng n�y đối diện với Vịnh Bắc Việt v� B�n Đảo Leizhou, trong khi c�c bờ biển ph�a đ�ng v� ph�a nam của Hải Nam vẫn c�n hầu như chưa bị đụng chạm tới � hay trong tay của c�c nh�m phi-Trung Hoa.� Điều n�y xem ra rất ph� hợp với giả định trước đ�y của ch�ng ta, tức mậu dịch b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan) nguy�n thủy quan trọng hơn mậu dịch dọc xihanglu (t�y h�ng lộ).

������ Tuy nhi�n, ngay trong c�c thời kỳ sau n�y, khi xihanglu (t�y h�ng lộ) đ� sẵn được ph�t triển đầy đủ, c�c bờ biển ph�a đ�ng v� ph�a nam của Hải Nam vẫn c� �t tầm quan trọng trong mậu dịch quốc tế.� C�c khu định cư gần hay ở ngay ch�nh Sanya (Tam �) ng�y nay, Lingshui 陵水, Wanning v� Wenchang 文昌 chưa bao giờ được khai triển như c�c trung t�m hải cảng đ� thị quốc tế khả s�nh với c�c nơi như Quanzhou 泉州.� C� thể c� một sự giải th�ch đơn giản cho điều n�y: Xihanglu (t�y h�ng lộ) chạy xuy�n qua biển mở ngỏ, c�ch kh� xa c�c bờ biển của Hải Nam.� Để vươn tới bất kỳ một trong những vũng nhỏ của h�n đảo, c�c t�u thuyền đ� phải rẽ ra khỏi tuyến đường ch�nh v� tiến v�o địa điểm n�y từ hướng đ�ng hay hướng nam, thường với gi� nam.� Kh�ng c� vấn đề g� với điều đ�, nhưng để quay trở lại xihanglu (t�y h�ng lộ), c�c thuyền thường đ� phải đợi một sự thay đổi chiều gi� � v� ch�nh v� thế trong nhiều tuần lễ.� Điều n�y � cộng với c�c yếu tố bổ t�c n�o đ� (nạn hải tặc, sự bất ổn định kinh tế, một hạ tầng cơ sở nội bộ yếu k�m, v.v�) �- khiến cho miền đ�ng Hải Nam tương đối k�m hấp dẫn đối với c�c du kh�ch quốc tế.

������ Như chờ đợi, điều n�i tr�n n�u � kiến rằng c�c yếu tố tự nhi�n đ� c� một ảnh hưởng tr�n sự ph�t triển c�c khu vực h�ng hải cỡ nhỏ.� V� thế người ta phải t�m kiếm c�c địa danh s�ng ch�i khả s�nh b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Đ�y l� v�i � tưởng.� Sự xuất hiện của Qinzhou v� Lianzhou như c�c trung t�m địa phương của hoạt động mậu dịch đ� kh�ng chỉ thuận lợi bởi một khu�n mẫu khả dĩ ti�n đo�n được về gi� v� gi�ng nước chảy, m� c�n bởi sự kiện rằng cả hai địa điểm cung cấp nơi tr� n�u tự nhi�n cho c�c t�u v�o bến.� Trong khi điều n�y đưa đến sự tăng trưởng của mậu dịch đường biển, c�c th�nh tố kh�c kh�ng như thế.� C�c t�c giả thời nh� Tống ph�n n�n về một số c�c khu vực nguy hiểm dọc theo bờ biển Quảng T�y v� An Nam � c�c bờ biển phẳng, c�c cồn c�t ngo�i khơi, c�c n�i đ� thẳng đứng, v.v� -- c� n�i th�m rằng việc l�i thuyền gần duy�n hải Quảng Đ�ng, đến ph�a đ�ng của Leizhou, th� �t bất trắc hơn l� l�i thuyền b�n trong nửa phần ph�a bắc của Beibuwan (Bắc Bộ Loan).

������ Trong c�c thời kỳ kh�c, ch�ng ta nghe n�i về mậu dịch địa phương giữa An Nam v� Quảng T�y, c� thể khiến ta nghĩ rằng c�c sự lo sợ trước đ�y đ� bị n�i qu� mức.� C�c b�o c�o v� c�c giai thoại về sự gỡ bỏ c�c r�o cản duy�n hải, đặc biệt c�c h�n đ� ngầm, cũng phải được cứu x�t trong c�c khung cảnh như thế, mặc d� ch�ng kh� để giải th�ch.� C�c c�u hỏi kh�c li�n quan đến một số đảo nhỏ b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan), chẳng hạn như Xieyang 斜陽島,khoảng s�u mươi lăm c�y số nam Beihai 北海 ng�y nay.� Gần như kh�ng c� g� được ghi ch�p về c�c vị tr� như thế trong t�i liệu thời trước nh� Minh; hơn nữa, c� c�c l� do để giả định rằng một số địa điểm n�o đ� đ� thay đổi d�ng vẻ địa h�nh của ch�ng với d�ng thời gian.� C�c sử gia, t�i e sợ, hiếm khi khảo s�t c�c vấn đề như thế từ quan điểm của họ.� R� r�ng, kh�ng hiểu biết nhiều hơn về c�c t�nh trạng tự nhi�n b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan), tr�n mức độ vi m� của c�c ph�n kh�c c� biệt, sẽ c�n g�y kh� khăn để x�y dựng một bức tranh khảm to�n diện.

 

C�c Sự Thay Đổi B�n Ngo�i Kh�c Nữa v�

T�c Động Của Ch�ng Tr�n Vịnh Bắc Việt

Trong c�c doạn trước, � kiến được n�u l�n rằng một số đặc t�nh �tĩnh� n�o đ�, đặc biệt l� c�c yếu tố địa dư, c� thể bị li�n can đến một số th�nh tố k�m �bền bỉ� hơn.� C�c luồng gi� v� gi�ng nước chảy thuộc v�o hạng mục �tĩnh�.� Sự chuyển hướng của mậu dịch đường trường khỏi miền nam Quảng T�y sang xihanglu (t�y h�ng lộ), c� thể trong thời Tam Quốc (Sanguo) hay Nam Bắc Triều (Nanbeichao), thuộc v�o tầng thứ nh�.� C�c sự chutyển hướng v� thay đổi hơn nữa c� thể được bổ t�c v�o �chương tr�nh con người� khi ch�ng ta tiến bước qua thời gian.� Th� dụ, dưới thời nh� Đường ch�ng ta nghe n�i về mậu dịch đường trường gần bờ biển Quảng Đ�ng; sự tăng trưởng của lưu th�ng đường trường, vẫn v�ng quanh Beibuwan (Bắc Bộ Loan), tiếp tục diễn ra dưới triều nh� Tống, nhưng giờ đ�y cũng c� một số sự tham chiếu đến mậu dịch lặt vặt b�n trong Vịnh [Bắc Việt], đ� l� điều mới.

C�c sự quan s�t n�y ph� hợp với c�c th�nh tố kh�c.� Sẵn c� dưới thời nh� Đường, một số hay phần lớn mậu dịch quốc tế dọc theo xihanglu (t�y h�ng lộ) đ� được thực hiện bởi c�c thương nh�n Hồi Gi�o từ v�ng T�y � Ch�u v� c�c v�ng kh�c.� Đ�y l� ca6u chuyện về c�c nh� mậu dịch được gọi l� Bosi 波斯.� N� tiếp tục dưới thời nh� Tống, nhung giờ đ�y c� một đặc t�nh kh�c: Ch�ng ta c� thể x�c định một mạng lưới Hồi Gi�o trải d�i từ xứ Ch�m xuy�n qua miền nam Hải Nam v� Quảng Ch�u đến Quanzhou thuộc tỉnh Ph�c Kiến.

N�i một c�ch nghi�m ngặt, phần của Hải Nam thuộc v�o mạng lưới đ� kh�ng th�ch hợp một c�ch ch�nh x�c với hạng mục đường trường � v� c�c l� do hải h�nh v� địa dư, như đ� được giải th�ch � nhưng ch�ng ta c� thể giả định một c�ch an to�n rằng n� đ� phục vụ như một loại đường phụ b�n h�ng trong khu�n khổ cấu tr�c to�n diện, c� thể so s�nh với một kh�c đường ngắn, với một trạm nhi�n liệu (Sanya), gần một đại lộ quan trọng c� bốn lằn xe chạy.

Sự chuyển tiếp từ nh� Tống sang nh� Nguy�n đ� dẫn đến một sự suy giảm tạm thời c�c khu sinh sống của ngoại kiều tại Quảng Ch�u, trong khi Quanzhou củng cố vị thế của n�.� Một c�ch giả định, điều n�y �m chỉ một sự biến chuyển trong trọng lượng dọc theo xihanglu (t�y h�ng lộ), nhưng kh�ng c� ảnh hưởng trực tiếp tr�n mậu dịch b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� C�c sự thay đổi trong khu vực đ� đ� xảy ra bởi c�c sự ph�t triển kh�c: v�i chiến dịch qu�n sự tại v�ng An Nam � Ch�m li�n can đến c�c hoạt động hải qu�n tr�n quy m� lớn đ� c� một t�c động ti�u cực tr�n sự trao đổi địa phương � v� cũng c� thể, trong v�i thập ni�n, tr�n hải vận dọc theo mạch mậu dịch ph�a t�y to lớn.� Đ�y l� thời gian khi c�c thương nh�n tăng cường c�c hoạt đ�ng của họ dọc theo c�i gọi l� donghanglu (đ�ng h�ng lộ).� Tuyến đường d� chạy từ Quanzhou qua miền nam Đ�i Loan đến Phi Luật T�n v� miền đ�ng Indonesia v� c� thể đ� phục vụ như một sự thay thế cục bộ (hay tạm thời) cho xihanglu (t�y h�ng lộ).

Sự chấm dứt nền cai trị của M�ng Cổ đ� dẫn đến sự ph� hủy Quanzhou v� một cuộc di cư của phần lớn c�c thương nh�n Hồi Gi�o từ c�c hải cảng Trung Hoa.� Song tệ hại hơn, ho�ng đế Hongwu đ� ngăn cấm to�n bộ mậu dịch đường biển của tư nh�n.� Hậu quả, c�c từ điển địa dư địa phương li�n quan đến Hải Nam v� miền nam Quảng T�y hầu như kh�ng c� tin tức g� về c�c hoạt động h�ng hải b�n trong Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Mậu dịch triều cống khi đ� l� phương c�ch hợp ph�p duy nhất để ra v�o.� C� một số bằng chứng rằng Hải Nam đ� phục vụ như trạm dừng ch�n bất chợt cho c�c sứ bộ triều cống từ xứ Ch�m, Malacca v� Xi�m La, nhưng trong thời đại của Trịnh H�a, khi Trung Hoa ph�t triển ng�nh mậu dịch ch�nh phủ của ch�nh n�, c�c ph�i bộ triều cống sẽ bọc quanh Hải Nam v� đi thẳng đến Quảng Ch�u.� Sau Trịnh H�a, Hải Nam một lần nữa được n�i đến như một trạm tr�n đường xuống ph�a nam.� Băng đảng Wokou倭寇 v� c�c t�u của đảo Ryukyu đ�i khi đổ bộ l�n Hải Nam cũng được n�i đến trong thời kỳ đ�.

Bởi mậu dịch lặt vặt b�n trong Vịnh Bắc Việt vẫn l� bất hợp ph�p, v� bởi thời sơ Minh c� chỉ huy v�i chiến dịch đ�nh An nam, ch�ng ta c� thể giả định rằng sự trao đổi địa phương ngang qua Beibuwan (Bắc Bộ Loan) giờ đ�y k�m nổi bật hơn nhiều so với thời nh� Tống.� Nhưng như thường lệ, kh�ng c� c�c con số để chứng minh c�c điểm như thế.

T�m tắt: Điều tr�n cho thấy rằng c�c yếu tố ch�nh trị, qu�n sự v� �nh�n tạo� kh�c đ� c� một t�c động quyết định tr�n Vịnh Bắc Việt.� Nếu được phỏng đo�n ch�nh x�c, ngay cả mậu dịch lặt vặt cũng suy giảm trong nhiều thập ni�n li�n tiếp, bởi �thời tiết� địa-ch�nh trị tại Trung Hoa.� Đ� c� c�c thời kỳ, khi Trung Hoa kiểm so�t phần lớn c�c điểm chung quanh Beibuwan (Bắc Bộ Loan) � th� dụ trong thời nh� H�n hay dưới thời nh� Đường � trong khi ở c�c thời điểm kh�c, sự thống trị ch�nh trị bị ph�n t�n.� C�c sự thăng trầm n�y hiện ra trong sự tương phản r� rệt với một loạt c�c hiện tượng trường kỳ (longue dur�e) tự nhi�n được ph�c họa ở tr�n.� Trong thực tế, người ta c� ấn tượng rằng kh� nhiều c�c �biến s� b�n ngo�i t�c động v� rằng, nh�n từ quan điểm n�y, kh�ng phải l� qu� đ�ng để n�u � kiến rằng mậu dịch ngang qua Vịnh [Bắc Việt] l� một th�nh tố li�n tục v� ổn định.� Từ đ�, liệu ch�ng ta vẫn phải gọi khu vực đ� l� một tiểu Địa Trung Hải hay kh�ng?

 

Sự Di D�n V� Sự Đồng Nhất Văn H�a

������ Nhưng c� lẽ người ta buộc phải cẩn thận hơn v� cởi mở hơn.� Trước ti�n, xin lập lại, sự thiếu s�t bằng chứng th�nh văn r� r�ng về sự trao đổi tr�n quy m� nhỏ thường xuy�n trong một số thời kỳ n�o đ� kh�ng tự động �m chỉ rằng c�c chuyển chuyển vận h�ng h�a ngang qua Vịnh đ� kh�ng xảy ra.� Thứ nh�, c�c nh� d�n tộc học v� những nh� nghi�n cứu kh�c đ� chứng minh rằng c�c sự di d�n bất chợt đ� diễn ra giữa lục địa v� đảo Hải Nam.� Về mặt ng�n ngữ học, khu vực Lin�gao th� li�n hệ đến một số v�ng n�o đ� ph�a b�n kia Beibuwan (Bắc Bộ Loan), chỉ cần n�u ra một th� dụ.� Linyi (L�m �p) 臨邑/Ch�m, r� r�ng, đ� tiếp x�c thường xuy�n với Hải Nam; c� bằng chứng về c�c nh�m người Ch�m nhỏ sinh sống tại c�c thị trấn duy�n hải của Hải Nam.� Khổng học, được du nhập bởi người Hoa, c� thể được xem như một th�nh tố văn h�a kh�c với một chức năng �ti�u chuẩn hoa� n�o đ�; về mặt kỹ thuật, tầng lớp quản trị tr�n Hải Nam cũng như c�c thị trấn hải cảng của Quảng T�y v� An Nam c� thể phần lớn được li�n hệ với c�c lối sống v� cai trị của Trung Hoa.� C�c bi�n ni�n sử địa phương cũng cho thấy sự phổ biến dần d� của Phật Gi�o v� ngay cả Đạo (L�o) Gi�o quanh Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� N�i một c�ch nghi�m ngặt, tất cả c�c th�nh tố n�y đều được du nhập hoặc từ phương bắc hay phương nam h�ng hải, nhưng ch�ng đ� g�p phần đến mức độ n�o đ� cho sự đồng nhất văn h�a trong khu vực �của ch�ng ta�, �t nhất trong một số thời kỳ.

������ Ch�ng ta c� thể lập luận rằng phần lớn tầng lớp của văn h�a Hy Lạp - La M� được ph�t sinh từ trong phạm vi hệ thống Địa Trung Hải v� kh�ng hấp thụ qu� nhiều từ thế giới b�n ngo�i, ch�nh v� thế c� thể c� sự kh�c biệt nữa ở đ�y giữa m� h�nh �u Ch�u v� Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Một mặt, người ta kh�ng n�n đ�nh gi� thấp c�c t�n ngưỡng địa phương chẳng hạn như sự t�n thờ Limu黎母 (c� v�i c�ch viết chữ li [trong h�n tự]), một vị thần linh quen thuộc với nh� chuy�n m�n về Hải Nam.� Ảnh hưởng văn h�a Trung Hoa từ phương bắc th� mạnh, v�ng, đ�ng thế, nhưng th�nh tố Yue : Việt, thuộc v�o một thời đại trước đ� cũng kh�ng n�n bị l�ng qu�n.� Văn h�a Việt (Yue), như ch�ng ta đều biết, được li�n kết một c�ch th�n mật với vận tải duy�n hải v� đường biển. ��Hơn nữa, nếu người ta chịu nh�n nhận rằng kh�ng phải mọi điều được gọi l� Trung Hoa ng�y nay đều sẽ tu�n theo c�ng c�c ti�u chuẩn �cổ xưa� trong c�c thời đại trước đ�y (v� thời khoảng đ� gồm cả thời kỳ khảo cổ), khi đ� c�c quan điểm của ch�ng ta c� thể đ�i hỏi c�c sự điều chỉnh hơn nữa.� N�i một c�ch kh�c, người ta c� lẽ c� thể x�y dựng một văn h�a Lingbiao 嶺表 / Giao Chỉ (Jiaozhi) �phương nam�, dựa tr�n c�c th�nh tố bản địa, với một sự pha trộn phương bắc mạnh mẽ v� một �t gia vị M� Lai v� phương nam kh�c, tuy�n x�c rằng một cấu tr�c như thế sẽ đủ để hợp thức h�a h�nh ảnh của một nền văn minh Vịnh Bắc Việt (Beibuwan (Bắc Bộ Loan)) � v� ch�nh từ đ�, � tưởng về một tiểu Địa Trung Hải.

 

Nhận X�t Cuối C�ng

������ Cuộc thảo luận tr�n, hy vọng, đ� tr�nh b�y một số trở ngại về kh�i niệm v� c�c trở ngại kh�c m� c�c sử gia phải nắm vững nếu họ muốn x�c định một thực thể h�ng hải như một kh�ng gian của sự trao đổi với một �văn h�a� ri�ng biệt của ch�nh n�.� Bởi một chuỗi �c�c hiện tượng phổ biến� đ�ng tin cậy sẽ cần đến để neo thuyền nơi gi�ng nước an to�n, người ta bị vướng mắc v�o một nghịch l� về �ngữ nghĩa học� ở đ�y, như đ� giải th�ch.� Một c�ch nghịch l�, giải ph�p duy nhất, theo �định nghĩa�, l� một giải ph�p bằng trực gi�c.

Nếu một số loại của m� h�nh trừu tượng � với th�nh tố Đia Trung Hải v� c�c th�nh tố kh�c � c� thể được x�y dựng v� �p dụng cho c�c kh�ng gian biển kh�c biệt tr�n to�n thế giới, khi đ�, chắc chắn, Beibuwan (Bắc Bộ Loan) sẽ phải l� một trong c�c �địa thế: terrain� đ�.� Tiết điệu của n� bị chi phối bởi một bộ c�c hiện tượng tự nhi�n � ch�nh yếu l� gi� m�a v� gi�ng nước chảy.� C�c th�nh tố n�y c� thể được nhận thấy, một c�ch trực diện v� kh�ch quan.� Tr�i với Địa Trung Hải �u Ch�u, c�c t�nh chất kh�c của n�, thường l� nh�n tạo v� thường chỉ nh�n thấy được xuy�n qua một viễn vọng k�nh đặc biệt, thuộc một bản chất �t li�n tục hơn v� phần n�o chịu ảnh hưởng b�n ngo�i.� V� thế, hiện tượng trường kỳ [longue dur�e , tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], như một ti�u chuẩn, c� thể cần phải được sửa đổi trong trường hợp Beibuwan (Bắc Bộ Loan).� Kết luận theo trực gi�c l�, ở c�c thời điểm lịch sử, biển nhỏ n�y đ� cấu th�nh một kh�ng gian của ch�nh n�, nhưng n� ho�n to�n gắn liền với c�c biển kh�c, tương tự như Vịnh Gulf of Manar nằm giữa Sri Lanka (T�ch Lan) v� v�ng đất Chola, v� v� thế kh�ng �độc lập� như, th� dụ, Vịnh Ba Tư (Persian Gulf), hay �người anh em họ xa x�i nhất� (ultra-extreme cousin) của n�, Địa Trung Hải �u Ch�u./-

____

1. Nguy�n thủy được đọc tại Hội Thảo Quốc Tế �A Mini-Mediterranean Sea�: The Gulf of Tongking through History, Nanning, Th�ng ba 2008.

***

THƯ TỊCH TUYỂN CHỌN

 

Anderson, James, �Slipping through Holes: The 10th to 11th Century Sino-Vietnamese Coastal Frontier as a Subaltern Trade Network�, tham luận đọc tại Hội Thảo Quốc Tế �A Mini-Mediterranean Sea�: The Gulf of Tongking through History, Nanning, Th�ng Ba 2008.

Chai Kai Wing (Chen Jiarong��������������� �), Sui qian jiaotong shiliao yanjiu������������������������� (Hong Kong: Centre of Asian Studies 2003).� Centre of Asian Studies Occasional Papers and Monographs 151.

Chin, James K., �Ports, Merchants, Chieftain and Eunuchs: Reading Maritime Commerce in Early Guangdong�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi; Shing Muller, Thomas Hollmann v� Putao Gui, Guangdong Archaeology and Early Texts, Archaologie und fruhe Texte (Zhou-Tang).� (Wiesbaden: Harrassowitz Verlag 2004), c�c trang 217-239, South China and Maritime Asia 13.

Han Zhenhua��������������� , Nanhai zhudao shidi yanjiu�������� (Beijing: Shehui kexue wenxue chubanshe, 1996).

Horden, Peregrine, v� Nicholas Purcell, The Corrupting Sea, A Study of Mediterranean Historỵ� (Oxford: Oxford University Press, 2000).

Li Tana, �A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coasts�, Journal of Southeast Asian Studies 37 (2006), c�c trang 83-102.

Li Tana, �The Rise and Fall of the Jiaozhi Ocean Region�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Roderich Ptak v� Angela Schottenhammer, The Perception of Maritime Space in Traditional Chinese Sources.� (Wiesbaden: Harrassowitz, 2006), c�c trang 125-139.� East Asian Maritime History 2.

Liu Yingsheng������������� , Silu wenhua.� Haishang juan�������������� .� (Hangzhou: Zhejiang renmin chubanshe, 1995).

Lombard, Denys, �Une autre �M�diterran�e� dans le Sud-est Asiatique�, H�rodote 28 (1988), c�c trang 184-193.

Manguin, Pierre-Yves, Les Portugais sur les c�tes du Việt-nam et du campa.� �tudes sur les routes maritimes et les relations commerciales, d�apr�s les sources portugaises (XVIe, XVIIe, XVIIIe si�cles).� (Paris: �cole franҫaise d�Extr�me-Orient, 1972).� Publications de l��cole franҫaise d�Extr�me-Orient 81.

Netolitzky, Almut, Das Ling-wai tai-ta von Chou Ch� �-fei.� Eine Landeskunde S�dchinas ans dem 12.� Jahrhundert.� (Wiesbaden: Franz Steiner Verlag, 1977).� M�nchener Ostasiatische Studien 21.

Pelliot, Paul, �Le Fou-nan�, Bulletin de l��cole franҫaise d�Extr�me-Orient 3 (1903), c�c trang 248-330.

Ptak, Roderich, �Chinesische Wahrnehmungen des Secraums vom S�dchinesischen Meer bis zur K�ste Ostafrikas, ca. 1000-1500�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Dietmar Rothermund v� Susanne Weigelin � Schwiedrzik, Der Indische Ozean.� Das afro-asiatische Mittelmeer ads Kultur- und Wirtschaftsraum . (Wien: proMedia, 2004), c�c trang 37-59, Edition Weltregionen.

Ptak, Roderich, Die maritime Seidenstraβe.� K�stenrӓume, Seefahrt und Handel in vorkolonialer Zeit.� (M�nchen: C. H. Beck 2007).� Historische Bibliothek der Gerda-Henkel-Stiftung 2.

Ptak, Roderich, �Hainan and Its International Trade: Ports, Merchants, Commodities (Song to Mid-Ming)�, tham luận đọc tại Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ 10 Về� Lịch Sử H�ng Hải (The 10th International Conference of Maritime History), Taipei, Th�ng T�m 2006.

Ptak, Roderich, �Hainan and the Trade in Horses (Song to Early Ming)�, tham luận tr�nh b�y trong m�a thu 2006, xuất hiện trong một tuyển tập của Austrian Academy of Sciences (H�n L�m Viện Khoa Học �o Quốc).

Ptak, Roderich, �Quanzhou: At the Northern Edge of a Southeast Asian �Mediterranean�?�, trong s�ch bi�n tập bởi Angela Schottenhammer, The Emporium of the World: Maritime Quanzhou, 1000-1400.� (Leiden: E. J. Brill, 2001), c�c trang 395-427.� Sinica Leidensia 49.

Ptak, Roderich, S�dostasiens Meere nach chinesischen Quellen (Song und Yuan)�, Archipel 56 (1998), c�c trang 5-30.

Ptak, Roderich, �Zhanghai: Raum und Konzept: Von den Anfӓngen bis zur Tang-Zeit�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Shing M�ller, Thomas Hӧllmann v� Putao Gui, Guangdong: Archaeology and Early Texts, Archӓologie und fr�he texte (Zhou-Tang).� (Wiesbaden: Harrassowitz Verlag 2004), c�c trang 241-253.� South China and Maritime Asia 13.

Shi Maochong v� c�c t�c giả kh�c, �The Role of Qiongzhou Strait in the Seasonal Navigation of the South China Sea Circulation�, Journal of Physical Oceangraphy 32.1 (2002), c�c trang 103-121.

Sutherland, Heather, �Southeast Asian History and the Mediterranean Analogy�, Journal of Southeast Asian Studies 34.1 (2003), c�c trang 1-17.

Salmon, Claudine, v� Roderich Ptak, đồng bi�n tập, Hainan: De la Chine � l�Asie du Sud-Est.� Von China nach S�dostasien.� (Wiesbaden: Harrassowitz Verlag, 2001).� South China and Maritime Asia 10.

Wang Gungwu, �The Nanhai Trade.� A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea�, Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society 31.2 (1959), c�c trang 1-135.

Wheeler, Charles, �Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth to Eighteenth Centuries�, Journal of Southeast Asian Studies 37 (2007), c�c trang 123-153.

Whitmore, John K., �The Disappearance of V�n Đồn: Trade and State in Fifteenth Century Đại Việt: A Changing Regime?�, tham lu�n, đọc tại Hội Thảo Quốc Tế International Workshop:�A Mini Mediterranean Sea�: The Gulf of Tongking through History, Nanning, Th�ng Ba 2008.

Wiethoff, Bodo, Chinas dritte Grenze.� Der traditionelle chinesische Staat und der k�stennahe Seeraum. �(Wiesbaden: Harrassowitz, 1969), Verӧffentlichungen des Ostasien-Instituts der Ruhr-Universitӓt Bochum.

Wills, John, �The South China Sea is not a Mediterranean: Implications for the History of Chinese Foreign Relations�, tham luận đọc tại Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ 10 Về Lịch Sử H�ng Hải, Taipei, Th�ng T�m 2006.

Wong, Roy Bin, �Entre monde et nation: les regions braudeli�nnes en Asie�, Annales 66.1 (2001), c�c trang 9-16./-�

_____

Nguồn: Roderich Ptak, �The Gulf of Tongking: A Mini-Mediterranean?�, The East Asian �Mediterrane�n: Matitime Crossroads of Culture, Commerce and Human Migration, bi�n tập bởi Angela Schottenhammer, Wiesbaden: Harrassowitz Verlag, 2008, c�c trang 53-72.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

10.02.2014

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2014