R. B. Smith

School of Oriental and African Studies, University of London

 

TH�NH PHẦN TINH HOA VIỆT NAM

TẠI NAM KỲ THUỘC PH�P, 1943

 

Ng� Bắc dịch

 

����������� Điều được biết rất r� rằng l� thuyết thực d�n của Ph�p về sự đồng h�a (assimilation), mặc d� n� kh�ng bao giờ c� thể được thực hiện một c�ch trọn vẹn trong thực tế, h�m � sự ph�t triển tại c�c thuộc địa của Ph�p một giới tinh hoa [�lite, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] sẵn s�ng chấp nhận cả văn h�a Ph�p lẫn một vai tr� (phụ thuộc) trong việc điều h�nh xứ sở.� Tại Nam Kỳ thuộc Ph�p (Cochinchina), giới tinh hoa n�y đặc biệt quan trọng do ở c�c t�nh huống của cuộc chinh phục, giữa c�c năm 1860 v� 1867, khi phần lớn c�c quan chức � học giả Việt Nam từng cai trị miền n�y trước đ�, r�t lui v� từ chối hợp t�c với người �u Ch�u.� Người Ph�p kh�ng c� lựa chọn n�o kh�c ngo�i việc tạo lập ra một giới tinh hoa của ri�ng họ, v� khởi sự đ�o tạo tầng lớp đ� theo c�c cung c�ch của Ph�p.� Tiến tr�nh n�y đ� được thảo luận chi tiết trong một c�ng tr�nh nghi�n cứu gần đ�y của Tiến Sĩ Milton E. Osborne, khảo s�t lịch sử cai trị thực d�n tại miền nam Việt Nam cho đến tận năm 1905. 1� Trong bốn thập kỷ đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mươi, giới tinh hoa n�y tiếp tục tăng trưởng v� ph�t triển, đến nỗi v�o khoảng thập ni�n 1940, n� đ� trở th�nh một phần tử then chốt trong x� hội Nam Kỳ chừng n�o m� sự thống trị của thực d�n c�n tồn tại.� Mục đ�ch của b�i viết n�y l� để khảo s�t th�nh phần v� vai tr� của giới tinh hoa n�y v�o khoảng cuối thời kỳ trong đ� nước Ph�p c� thể xem sự hiện diện của n� tại Đ�ng Dương l� chuyện đương nhi�n.

����������� Một giới tinh hoa c� thể được định nghĩa theo nhiều c�ch.� Một số sẽ lập luận rằng, trong nghĩa ch�nh danh của từ ngữ, kh�ng x� hội n�o lệ thuộc v�o sự đ� hộ của ngoại bang lại c� thể c� một giới tinh hoa, c�c vị thế tr�n tột c�ng được d�nh cho ch�nh c�c nh� cai trị thực d�n.� Bất kỳ nh�m n�o muốn cộng t�c với c�c người ngoại quốc phải, bởi khi l�m như thế, từ bỏ quyền hay khả năng l�nh đạo phần c�n lại của x� hội trong một chiều hướng được lựa chọn ho�n to�n bởi ch�nh họ.� C�c kẻ kh�c sẽ n�u � kiến rằng trong một t�nh trạng như thế, giới tinh hoa ch�n ch�nh l� giới của c�c kẻ theo chủ nghĩa d�n tộc đứng l�nh đạo c�c phong tr�o kh�ng chiến chống lại sự đ� hộ của ngoại bang.� Từ quan điểm n�y, c�c nh�m x� hội sẽ được thảo luận tới tại c�c trang viết n�y phải tu�n theo điều bị xem l� tầng lớp g� đ� k�m hơn một giới tinh hoa [đ�ch thực].� Tuy nhi�n, tầm quan trọng của họ trong lịch sử hiện đại của nam Việt Nam kh�ng thể n�o bị phủ nhận; v� thuật ngữ sau hết phải bị xem l� �t quan trọng hơn � nghĩa lịch sự.� Với sự d� dặt sơ khởi đ�, điều c� thể l�m để định nghĩa giới tinh hoa m� ch�ng ta quan t�m đến theo ba ti�u chuẩn ch�nh y�u kể sau: gi�o dục (đặc biệt tại Ph�p); chức năng chuy�n m�n hay h�nh ch�nh, ph�t sinh từ sự cộng t�c với ch�nh quyền thực d�n; v� c�c phần tưởng thưởng về kinh tế, quyền sở hữu t�i sản, v.v�� Điều sẽ được khuyến c�o l� n�n nh�n c�c ti�u chuẩn n�y trong khung cảnh của x� hội cổ truyền Việt Nam, chứ kh�ng chỉ theo lối quen thuộc đối với c�c người t�m hiểu về x� hội T�y phương.

����������� Tại Việt Nam thời tiền Ph�p thuộc, giống như tại Trung Hoa thời tiền c�ch mạng, c�ng ba ti�u chuẩn n�y đ� mang tầm quan trọng nền tảng.� Vượt xa hơn khối T�y thời tiền thế kỷ thứ mười ch�n rất nhiều, sự thăng ti�n quan chức trong phạm vi quan trường lệ thuộc v�o việc học v� tr�ng tuyển qua một hệ thống khảo th� hơn l� chỉ dựa tr�n sự sở đắc t�i sản.� Điều rất thường xảy ra, l� sự gi�u c� ph�t sinh từ chức quyền hơn l� lối đi v�ng quanh n�o kh�c.� Hậu quả, đ� c� một xu hướng mạnh mẽ về ph�a một gia đ�nh đang l�n t�m kiếm gi�o dục v� chức vụ, chứ kh�ng phải đi theo chiều hướng kinh doanh kinh tế sẽ dẫn đến một c�ch trực tiếp sự gia tăng của cải.� T�i sản trong nhiều trường hợp c� khuynh hướng trở n�n c�ng cộng, trong phạm vi gia đ�nh hay d�ng họ, v� �t c� phương thức bảo to�n ph�p l� để bảo vệ sự gi�u c� ri�ng tư chống lại một chế độ qu�n chủ ghen tỵ.� Khuynh hướng ưa chuộng sự học v� chức quyền hơn l� hoạt động doanh nghiệp ch�nh v� thế đ� ăn s�u tại x� hội Việt Nam trước khi người Ph�p đến nơi, v� n� đ� chỉ bị bỏ lại đ�ng sau một c�ch tiệm tiến.� Hậu quả, mặc d� giới tinh hoa cộng t�c, do Ph�p đ�o tạo đ�i khi được gọi l� giai cấp tư sản, c�c nh�n vật l�nh đạo của n� thường kh�ng phải l� những người đ� trổi bật l�n xuy�n qua c�c nỗ lực kinh tế độc lập.� Họ l� những kẻ nợ sự th�nh c�ng của m�nh rất nhiều nơi sự chấp thuận của người Ph�p, d�nh đạt được xuy�n qua việc theo học tại c�c trường học v� trường cao đẳng Ph�p, hay xuy�n qua sự phục vụ trong nền h�nh ch�nh.� Ngay những người đ� thụ tạo sự gi�u c� kh�ng qua chức quyền cũng c� khuynh hướng l�m như thế xuy�n qua c�c cơ hội tham nhũng hay cho vay ti�n hơn l� qua sự kinh doanh sản xuất.� Một khu�n mẫu x� hội như thế ph� hợp rất đ�ng với c�c tham vọng của Ph�p nhắm cho thuộc địa của họ, kh�ng bao gồm sự ph�t triển kinh tế độc lập tr�n một quy m� rộng lớn.� T�m lại, giới tinh hoa Việt Nam tại Nam Kỳ thuộc Ph�p đ� lệ thuộc rất nhiều v�o người Ph�p, c� lẽ kh�ng tr�nh khỏi như thế.

 

II

����������� Giới tinh hoa do Ph�p đ�o tạo trong thập ni�n 1940 tại Nam Kỳ vừa đ�ng đảo v� vừa đa dạng hơn nh�m nhỏ c�c người đ� ho�n to�n r�ng buộc với văn h�a (v� quyền lực) của Ph�p trong thời khoảng ban đầu của sự thống trị của thực d�n.� Tiến sĩ Osborne đề cập bởi danh t�nh chỉ v�o khoảng một t� người Việt Nam nổi tiếng phục vụ người Ph�p trong thời kỳ 1860-85; v� trong khi họ c� thể kh�ng bao gồm tất cả những kẻ c� bất kỳ kiến thức n�o từ gi�o dục Ph�p v�o l�c đ�, họ chắc chắn gồm tất cả những kẻ được nh�n nhận bởi người Ph�p như một giới tinh hoa thực sự.� T�nh trạng của thời điểm đ� tương phản rất s�u sắc với t�nh trạng của phần tư thế kỷ cuối c�ng của sự thống trị ho�n to�n bởi người Ph�p (1920-45), đ� được phản ảnh r� n�t trong một quyển sổ tay tiểu sử được ấn h�nh năm 1943, c� nhan đề Souverains et Notabilit�s d�Indochine [C�c Chủ Nh�n v� C�c Nh�n Sĩ Của Đ�ng Dương]. 2� Trong số c�c c� nh�n được bao gồm trong đ� 141 người l� d�n bản xứ của Nam Kỳ thuộc Ph�p v� họ tượng trưng một trắc diện trung thực số người thuộc giới tinh hoa Việt Nam m� l�ng trung th�nh với Ph�p th� (hay được tin l�) kh�ng cần thắc mắc.� Một sự ph�n t�ch nh�m người n�y sẽ cung cấp cho ch�ng ta một khởi điểm qu� gi� trong nỗ lực để t�m hiểu t�nh chất của th�nh phần n�y trong x� hội Nam Kỳ.� T�m người trong số 141 người l� phụ nữ, những kẻ sẽ được thảo luận ri�ng biệt cho đ�ng c�ch: ch�ng ta h�y tập trung trước ti�n v�o 133 đ�n �ng.

����������� Họ thuộc v�o một loạt trải rộng về nh�m tuổi, v� điều đ�i l�c sẽ hữu �ch khi ph�n biệt giữa những người sinh ra ở c�c thời kỳ kh�c nhau.� C�c con số sau đ�y cho thấy sự ph�n bố về tuổi t�c:

����������� Sinh ra trong khoảng 1860-79: 50 người

����������� Sinh ra trong khoảng 1880-99: 70 người

����������� Sinh ra từ năm 1900 trở về sau: 13 người

����������� Nh�m đầu ti�n, tr�n 63 tuổi v�o năm 1943, tất cả đều l� c�c người đ� về hưu khỏi c�ng việc thường lệ, mặc d� nhiều người trong họ h�y c�n phục vụ tại nhiều loại ủy ban hay hội đồng kh�c nhau.� Dĩ nhi�n, họ l� đại diện của sự bền� bỉ nhiều y như bất kỳ phẩm chất n�o kh�c; nhiều kẻ c�ng thời với họ với c�c chức nghiệp c� tiếng tăm ngang h�ng đ� chết đi.� Nh�m tuổi trẻ nhất, những người dưới 43 tuổi v�o năm 1943, cũng mang n�t đặc th� trong đ�, n� chỉ bao gồm những kẻ thuộc thế hệ đ� đ� tự m�nh nổi bật khi c�n trẻ: mười một trong 13 người đ� được gi�o dục tại Ph�p.� C�ng thế hệ bao gồm nhiều người, nếu sự cai trị của Ph�p c�n tiếp tục l�u hơn, c� thể hội đủ điều kiện để được kể v�o một quyển sổ tay thuộc loại n�y ở một thời điểm sau n�y trong cuộc đời: c�c vi�n chức phục vụ trong nền h�nh ch�nh, th� dụ, thường đ� kh�ng vươn tới c�c ngạch trật cao cấp cho đến khi họ ở �độ tuổi năm mươi hay lớn hơn.� V� thế, trong nhiều kh�a cạnh, ch�nh nh�m ở giữa c� t�nh chất đại biểu nhất cho giới tinh hoa Nam Kỳ n�i chung, v� một số nỗ lực cần phải được thực hiện theo chiều hướng nhằm so s�nh khu�n mẫu của nh�m n�y với khu�n mẫu tổng qu�t.

����������� Điều sẽ hữu �ch để đến gần 133 người đ�n �ng v� 8 người đ�n ba n�y xuy�n qua một số kh�a cạnh kh�c nhau trong đời sống của họ: đặc biệt, sự gi�o dục (v� t�n gi�o) của họ, chức vụ v� nghề nghiệp của họ, v� sự gi�u c� của họ.� Kh�a cạnh kinh tế phải được để d�nh sau c�ng bởi v� ch�nh ở đ� tin tức trong l� lịch �t c� t�nh c�ch hữu �ch nhất.� Dưới mỗi ti�u đề cần sẽ phải đặt sắp đặt tin tức về mẫu khảo s�t c�c th�nh vi�n của giới tinh hoa n�y đối chiếu với căn bản rộng lớn hơn của c�c� thứ hạng� x� hội tại Nam Kỳ.

��������� Gi�o Dục

Tin tức được cung cấp, hay c� thể được suy luận, về sự gi�o dục của Ph�p tr�n 109 người trong số 133 đ�n �ng được n�u t�n trong quyển sổ tay.� Ngo�i những kẻ m� trường học hay khả năng được x�c định, trong số n�y bao gồm 31 người m� sự gi�o dục kh�ng được n�u ra một c�ch cụ thể, nhưng l� những người m� nghề nghiệp h�m chứa một số lượng gi�o dục tại Ph�p � phần lớn c�c gi�o vi�n hay c�c vi�n chức trong c�c ng�nh h�nh ch�nh.� Tin tức được t�m tắt nơi Bảng 1: c�c con số ở đ� li�n hệ đến tr�nh độ cao nhất của học vấn đạt được bởi mỗi c� nh�n, c� nghĩa kh�ng kiểm k� n�o được lấy về sự theo học, th� dụ, tại trường Trung Học Coll�ge Chasseloup-Laubat, bởi những người sau n�y sẽ theo học tại H� Nội hay ở Ph�p.� Trong thực tế, c� thể ph�n biệt được ba tr�nh độ tổng qu�t của th�nh quả học tập trong Bảng 1, tất cả đều cao hơn tr�nh độ m� người Ph�p đ� đề cập đến (tại Nam Kỳ) như bậc đệ nhất cấp [premier degr�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Trước ti�n, l� tr�nh độ đệ nhị cấp [deuxi�me degr�], bao gồm nhiều trường ở S�ig�n v� một tại Mỹ Tho.� Quan trọng nhất trong c�c tr�nh độ l� Trường Trung Học Coll�ge Chasseloup-Laubat, được th�nh lập năm 1874, v� được đặt theo t�n của cựu bộ trưởng hải qu�n c� tiếng n�i thuyết phục cho việc sự giữ lại S�ig�n thuộc Ph�p v�o năm 1862. 3Bằng cao đẳng th�nh chung [diploma sup�rieur] l� điều kiện sơ đẳng cho sự gia nhập v�o c�c ng�nh h�nh ch�nh của Nam Kỳ v� Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương, v� bởi nhiều người được ghi t�n trong quyển sổ tay n�y l� c�c vi�n chức, điều kh�ng g�y ngạc nhi�n rằng Trường n�y đ� hiện ra một c�ch trội bật trong Bảng 1.� Nhiều người trong số đ� đ� theo học tại H� Nội hay tại Ph�p, v� cũng c� khoảng 31 người đ�n �ng m� sự gi�o dục c� thể được suy luận, c� lẽ cũng đ� theo học ở đ�.� Ngo�i phần d�nh cho người Việt Nam, Trường [Chasseloup-Laubat] n�y cũng l� trường học d�nh cho con trai của c�c người Ph�p tại Đ�ng Dương v� một �t trẻ em Việt Nam theo học với tư c�ch con trai của những người đ� mang quốc tịch Ph�p.� V� thế, v�o l�c ban đầu của thế kỷ thứ hai mươi, trường n�y c� tầm quan trọng hơn nhiều so với ba trường trung học ch�nh kh�c tại S�ig�n.� Hai trong c�c trường n�y được th�nh lập l� trường tư thục trong c�c năm khởi đầu: Trường Coll�ge d�Adran (1862) l� một trường C�ng Gi�o nhưng nguy�n thủy được cấp cho bảy mươi học bổng của ch�nh quyền; v� Viện Institut Taberd (1874), nguy�n thủy c� chủ định d�nh cho c�c trẻ con lai [m�tis, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch]. (Kh�ng r� l� ba người trong quyển sổ tay 1943 đ� theo học tại đ� c� thực sự l� d�ng d�i con lai hay kh�ng).� Một trường học thứ tư ở S�ig�n, được th�nh lập hơi muộn hơn nhưng dần gia tăng tầm quan trọng v�o khoảng thập ni�n 1920 v� 1930, l� trường Trung Học Lyc�e P�trus K�, đặt theo t�n của học giả Việt Nam đầu ti�n đ� trước t�c phong ph� bằng tiếng Ph�p v� bằng tiếng Việt d�ng mẫu tự La M�.

����������� Một cơ sở ban đầu kh�c xuất hiện trong Bảng 1 l� Trường Trung Học Coll�ge de Mỹ Tho, r� r�ng đ� cung cấp một trinh độ gi�o dục thấp hơn trường Trung Học Coll�ge Chasseloup-Laubat bởi v� nhiều học sinh đ� chuyển từ trường n�y sang trường kia.� Trong những năm ban sơ của sự th�ng trị của Ph�p, trước khoảng 1900, c� thể gia nhập thẳng từ trường trung học Mỹ Tho v�o phục vụ ng�nh h�nh ch�nh, nhưng về sau, một sự học tập ở đ� kh�ng th�i kh�ng c�n được xem như hội đủ điều kiện để khởi sự đi l�m.� Điều lưu � cũng cần phải được n�i đến l� Trường Sư Phạm C�c Gi�o Chức (�cole Normale des Instituteurs) tại Gia Định, ngay s�t S�ig�n, được th�nh lập năm 1895, với mục đ�ch đ�o tạo c�c gi�o vi�n tại c�c trường đệ nhất cấp [premier degr�].� V�o khoảng 1920 n� c� gần 200 học vi�n, v� một v�i dấu hiệu chỉ dẫn về k�ch thuớc c�ng t�c của n� c� thể được lượm lặt từ sự kiện rằng khi đ� đ� c� gần 900 trường tiểu học (primary) tr�n to�n c�i Đ�ng Dương.� Nhưng sự kiện rằng chỉ c� ba người trong quyển sổ tay 1943 đ� theo học tại Trường Sư Phạm (�cole Normale) cho thấy n� hiếm khi n�o l� đường lối dẫn đến tư c�ch th�nh vi�n của lớp thượng tầng tinh hoa cao hơn.� Một số c�c định chế kh�c của gi�o dục bậc trung học đ� lớn mạnh trong thập ni�n 1890, nổi bật l� Trường Cơ Kh� � Ch�u (�cole des M�caniciens Asiatiques); nhưng kh�ng c� cựu học sinh n�o của ch�ng hiện diện trong quyển sổ tay.� V� thế, sẽ l� điều sai lạc khi giả định rằng 133 người đ�n �ng xuất hiện ở đ� tượng trưng nhiều hơn một th�nh phần nhỏ d�n Nam Kỳ đ� tiếp nhận một nền gi�o dục Ph�p vượt qu� tr�nh độ sơ đẳng nhất.� Họ l� lớp tinh hoa của giới tinh hoa.

����������� Một số trong 133 nh�n sĩ (notabilit�s) năm 1943 đ� theo học b�n ngo�i thuộc địa Nam Kỳ: một số tại Ph�p, nhưng cũng c� một số ở H� Nội.� Mười ba người trong họ đ� nhận được giai đoạn tiến bộ nhất trong học thức của họ tại H� Nội, v� hai người kh�c đ� theo học tại Trường Luật trong thời kỳ đ� trước khi trường n�y được di chuyển ra H� Nội v�o năm 1917 (theo sự th�nh lập của Viện Đại Học H� Nội).� Trong mười ba người n�y, kh�ng ai thuộc v�o lớp gi� nhất trong ba thế hệ của ch�ng ta (c�c kẻ sinh ra trước năm 1880), v� rất �t kẻ thuộc nh�m trẻ nhất bao gồm ch�nh yếu c�c người trẻ theo học tại Ph�p.� Tuy nhi�n, điều n�y kh�ng n�n được xem như một dấu hiệu của một sự thăng tiến, v� sau đ� một sự suy giảm trong tầm quan trọng của H� Nội như một trung t�m gi�o dục cho Đ�ng Dương trong thời Ph�p thuộc.� Ngược lại, viện đại học ở đ� đ� mở rộng một c�ch đ�ng kể trong suốt c�c thập ni�n 1920 v� 1930, v� v�o khoảng 1940, ng�y c�ng trở n�n th�ng thường cho con em của c�c phụ huynh kh�ng học xa hơn trường Chasseloup-Laubat, sẽ được gửi ra H� Nội.� Tuy� nhi�n, sự mở rộng đ� diễn ra qu� trễ để được phản ảnh nơi quyển sổ tay 1943, nơi chỉ c� những kẻ trội bật nhất trong những người sinh ra sau năm 1900 mới hội đủ điều kiện để ghi v�o sổ tay.� C�c người n�y đa phần được gi�o dục tại Ph�p, trong khi c�c người trẻ tuổi hơn chỉ được học tại H� Nội c� thể sẽ kh�ng xuất hiện với sự trội vượt cho m�i đến giai đoạn sau của đời sống, sau năm 1943.� Sự mở rộng c�c trường v� ban giảng huấn tại H� Nội, ngay d� c�c ti�u chuẩn của ch�ng thấp hơn c�c ti�u chuẩn của c�c trường đại học Ph�p, phản ảnh một sự gia tăng dần dần trong tr�nh độ gi�o dục được y�u cầu bởi c�c vi�n chức nhiều ước vọng sau năm 1917.

Bảng 1

Căn Bản Gi�o Dục Của 109 Th�nh Vi�n Giới Tinh Hoa Nam Kỳ năm 1943

 

Nơi Học Tập, v.v����������������������������������������������������� Cả Nh�m�������� C�c Người Sinh Trong Khoảng

����������������������������������������������������������������������������������������������������������� ����������� 1880-99

Ph�p v.v������������������������������������������������������������������� 27������������������� ����������� 13

Trường Luật (S�ig�n, sau ở H� Nội)��������������������������� � 8������������������� ����������� � 6

Trường Y Khoa, H� Nội��������������������������������������������� � 3������������������� ����������� � 3

H� Nội: c�c trường kh�c��������������������������������������������� � 4������������������� ����������� � 4

Trường Chasseloup-Laubat, S�ig�n���������������������������� ��19���������������� ����������� � �11

Trường Sư Phạm, Gia Định����������������������������������������� � 3������������������� ����������� � 3

Học Viện Taberd, S�ig�n�������������������������������������������� � 3������������������� ����������� � 3

Trường Adran������������������������������������������������������������� � 1������������������� ����������� ----

Trường Mỹ Tho���������������������������������������������������������� � 2������������������� ����������� ----

C�c trường x�c định kh�c������������������������������������������� � 2������������������� ����������� � 1

Trường kh�ng được x�c định�������������������������������������� � 6������������������� ����������� � 2

Chức nghiệp h�m � một v�i sự học tập ở Ph�p����������� � �31���������������� ����������� � �15

______________________________________________________________________________________________________________________

Tổng Cộng������������������������������������������������������������������ 109����������������� ����������� 61

����������� Tr�nh độ tổng qu�t của gi�o dục Ph�p trong giới tinh hoa Việt Nam dần dần gia tăng trong thời kỳ thuộc địa cũng được phản ảnh trong số người theo học c�c trường đại học tại Ph�p.� Trong số 27 người trong Bảng 1 nằm v�o loại n�y, mười một người thuộc v�o nh�m tuổi tr� nhất.� Chỉ c� ba người thuộc nh�m tuổi gi� nhất.� Trong số ba người kể sau n�y, hai người l� con trai của c�c người theo C�ng Gi�o h�ng đầu đ� ủng hộ Ph�p từ l�c khởi đầu, tức L� Ph�t Anh v� Đỗ Hữu Try [?]; một người kh�c l� B�i Quang Chi�u [Chiểu hay Chiếu?], kẻ m� người cha đ� chống đối cuộc chinh phục của người Ph�p nhưng đ� được tuyển chọn bởi ch�nh quyền thực d�n để đi học nước ngo�i.� Ba người n�y kh�ng phải l� những người duy nhất thuộc thế hệ họ theo học ở Ph�p; v�o năm 1943, họ đ� l� những người lớn tuổi, v� những kẻ kh�c thuộc nh�m tuổi họ đ� sẵn chết đi.� Nhưng họ l� một phần của một nh�m nhỏ hơn v� hưởng nhiều đặc ưu hơn c�c đối t�c của họ thuộc thế hệ sinh ra sau năm 1900.

����������� Tiến Sĩ Osborne ghi nhận đ� c� ch�n mươi người Việt theo học tại Ph�p ngay từ năm 1870, nhưng c�c người n�y xem ra chủ yếu l� c�c người C�ng Gi�o theo học c�c trường trung học; �t c� kẻ n�o c� khả năng theo học c�c trường đại học. 4 �V�o năm 1900 c� lẽ �t th�ng thường hơn cho c�c thiếu ni�n đi học tại Ph�p, khi m� phẩm chất của c�c trường tại S�ig�n được cải tiến; nhưng số c�c sinh vi�n đại học đ� gia tăng, v� hầu như tất cả 27 người trong Bảng 1 được biết đ� nhận được cấp bằng đại học.� V�o khoảng thập ni�n 1920 v� 1930, trong thực tế, một số người Việt Nam đ� l� t�c giả của c�c luận �n tiến sĩ.� Về ng�nh theo học, được n�u cụ thể với mọi người trừ ba trường hợp, điều đ�ng ch� � l� trong 27 người bao gồm một một khoa học gia, kỹ sư, nh� n�ng học, s�u b�c sĩ y khoa v� nha sĩ, v� bảy người tốt nghiệp về luật hay thương mại.� Kh�ng c� ai l� sinh vi�n ở văn khoa, mặc d� ch�ng ta hay biết rằng một số người Việt Nam c� theo học tại Đại Học Sorbonne trong thập ni�n 1920, nổi bật l� hai người theo x� hội chủ nghĩa, Nguyễn An Ninh v� Phan Văn H�m: c�c nh�n vật nguy hiểm về ch�nh trị như thế chắc kh� khăn để t�m lối bước v�o một sổ tay như loại sổ tay năm 1943, v� ch�ng ta phải tiếp tục ghi nhớ trong đầu sự giới hạn n�y của tư liệu gốc rễ n�y.� V�o thập ni�n 1920, gi�o dục Ph�p kh�ng c�ch g� đồng nghĩa với l�ng trung th�nh với Ph�p.

����������� Một trong những kết luận đ�ng lưu � nhất xuất hiện từ sự ph�n t�ch ngắn ngủi n�y về căn bản gi�o dục của c�c nh�n sĩ năm 1943 l� tầm kh�ng quan trọng tương đối của Gi�o Hội C�ng Gi�o trong sự học tập của họ.� Ở tr�nh độ trung học, rất đ�ng l� th�nh quả của trường Chasseloup-Laubat hơn l� của c�c học viện t�n gi�o được đặt t�n theo [c�c gi�o sĩ] Adran v� Taberd; v� chỉ c� một người duy nhất trong số 109 người trong Bảng 1 (được ghi thuộc �c�c loại học viện x�c định kh�c�) l� đ� theo học tại một chủng viện.� Trong số người theo học tại Ph�p cũng thế, chỉ c� ba hay bốn người đi theo con đường C�ng Gi�o đến Marseille: phần lớn được học tập tại c�c trường ho�n to�n thế tục.� Bất kể vai tr� của Gi�o Hội ra sao trong những năm ban sơ, sẽ l� một sự lầm lẫn để giả định rằng ảnh hưởng văn h�a Ph�p ho�n to�n lệ thuộc v�o t�n gi�o trong hế kỷ thứ hai mươi, it nhất tại Nam Kỳ.� Tại Trung Kỳ (An Nam) v� Bắc Kỳ (Tongking) vai tr� của Gi�o Hội c� thể lớn hơn.� Điều xảy ra l� rất c� thể, tại c�c khu vực n�y, c�c người C�ng Gi�o đ� sẵn s�ng hơn c�c kẻ kh�c để chấp nhận lối học của Ph�p hơn l� c�ch học cổ truyền, �t nhất l� trước thập ni�n 1920.� Người ta phải cẩn trọng chớ �p dụng một c�ch qu� dễ d�i c�c kết quả của cuộc nghi�n cứu n�y về Nam Kỳ cho Việt Nam, như một to�n thể.

��������� Chức Vụ v� Ngh� Nghiệp.�

Quyển sổ tay 1943 mang lại tin tức kh� đầy đủ về chức nghiệp, v� n� cho thấy 106 người trong tổng số 133 người đ�n �ng Nam Kỳ đ�, hay từng, giữ c�c chức vụ ch�nh thức hay c� nghề nghiệp chuy�n m�n.� Trong số những người c� sự huấn luyện chuy�n m�n, phần lớn được tuyển dụng trong một số chức vụ (thường, nhưng kh�ng phải lu�n lu�n, trong c�ng việc ch�nh phủ), v� kh�ng hơn nửa t� thuộc nghề chuy�n m�n ho�n to�n độc lập với bất kỳ tổ chức n�o.� C�c con số n�y xem ra hậu thuẫn (kh�ng nhất thiết chứng minh, tự bản th�n ch�ng) cho ấn tượng rằng người Việt Nam đ� nh�n sự học tập như một đường lối dẫn đến chức vụ, v� hiếm bao giờ như một phương c�ch để kinh doanh độc lập, trong doanh nghiệp hay bất kỳ l�nh vực n�o kh�c.

����������� Tin tức về 106 người n�y được t�m tắt nơi Bảng 2; một lần nữa, c�c con số tổng qu�t được so s�nh với c�c con số d�nh cho nh�m tuổi ở giữa.� C� thể chia họ th�nh bốn loại nghề nghiệp ch�nh.

Bảng 2

C�c Vi�n Chức V� Nghề Nghiệp Chuy�n M�n Của 106 Người Thuộc Giới Tinh Hoa Nam Kỳ, 1943

 

Nghề Nghiệp��������������������������������������������������������������� Cả Nh�m�������� C�c Người Sinh Trong Khoảng

����������������������������������������������������������������������������������������������������������� ����������� 1880-99

C�c C�ng Việc H�nh Ch�nh Tổng Qu�t

a. Nam Kỳ v� Phủ To�n Quyền���������������������������������� 37������������������� ����������� 35

b. C�c xứ bảo hộ Trung Kỳ - Bắc Kỳ������������������������� � 5������������������� ����������� ----

Qu�n Đội�������������������������������������������������������� ����������� 5�������������������� ����������� �3

Dạy Học��������������������������������������������������������������������� 14������������������� ����������� 7

Y Khoa����������������������������������������������������������������������� 8�������������������� ����������� 7

Dịch Vụ hay H�nh Nghề Ph�p L������������������������������� � 4������������������� ����������� � 2

N�ng Học, Kỹ Sư, v.v� �������������������������������������������� �6�������������������� ����������� ----

Ch�nh Tổng���������������������������������������������������������������� 7�������������������� ����������� � 2

Tổng Cộng������������������������������������������������������������������ 106����������������� ����������� 56

 

1. C�ng việc ch�nh phủ tổng qu�t.�

Loại n�y đến nay l� loại đ�ng đảo nhất, bao gồm hơn ph�n nửa của cả nh�m lẫn nh�m tuổi ở giữa.� Phần lớn 62 người li�n hệ đ� phục vụ, hay c� phục vụ, tại ch�nh Nam Kỳ, mặc d� một số được tuyển dụng bởi Phủ To�n Quyền v� tr�n l� thuyết phải chịu sự bổ nhiệm đến c�c nơi kh�c trong Li�n Bang Đ�ng Dương.� Tuy nhi�n, cả năm người trừ một người thuộc nh�m tuổi lớn nhất, phục vụ cho c�c ch�nh quyền của c�c xứ Bảo Hộ Trung Kỳ v� Bắc Kỳ.� Một trong những người nổi bật nhất trong họ l� �ng Trần văn Th�ng [?] (1875-19?), nguy�n qu�n Bi�n H�a, đ� gia nhập ng�nh h�nh ch�nh Bắc Kỳ năm 1907 v� leo l�n chức tổng đốc [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tỉnh Nam Định, với phẩm tước cao cấp h�ng đại học sĩ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Một người kh�c, Ng�i Nguyễn Văn Hi�n [?] (1877-19?), gia nhập ch�nh quyền Trung Kỳ năm 1894 v� sau một số sự bổ nhiệm cấp tỉnh đ� l�n đến h�ng thượng thư phụ tr�ch cung điện trong thời khoảng 1926 đến 1932.� Nhưng đ�y l� c�c nh�n vật ngoại hạng, v� trong c�c thế hệ sau n�y, đ� �t c� nhu cầu hay cơ hội hơn cho những người sinh đẻ trong Nam Kỳ đi theo tấm gương của họ.� Đối với phần lớn, c�ng việc ch�nh phủ c� nghĩa phục vụ tại Nam Kỳ, nhưng thường (�t nhất ở c�c chức vụ cao hơn mở ra cho người Việt) tại một tỉnh kh�c hơn tỉnh nguy�n qu�n của ch�nh m�nh.

����������� Một chức nghiệp kh�ng phải l� kh�ng điển h�nh, của một vi�n chức được ghi nhận một c�ch đặc biệt về l�ng trung th�nh của �ng ta đối với nước Ph�p, đ� l� hoạn lộ của �ng Trần Văn Mang [?], sinh tại S�ig�n năm 1899.� �ng đ� theo học, lần lượt, c�c Trường Mỹ Tho v� Chasseloup-Laubat, v� đậu bằng Trung Học hay bằng Th�nh Chung [brevet, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] năm 1917.� Đ� gia nhập c�ng việc h�nh ch�nh tại Phủ To�n Quyền, kh�ng l�u sau đ� �ng đ� được gửi đi học tại Trường Ph�p Ch�nh (�cole de Droit) tại H� Nội, nơi m� �ng đ� tốt nghiệp v�o năm 1921.� Sau đ� �ng đ� trải qua một số năm tại một nhiệm sở ch�nh thức tại H� Nội, trước khi quay trở lại một số chức vụ tại Nam Kỳ.� Đ� tr�ng tuyển kỳ thi nhập ngach tri huyện [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], �ng đ� được bổ l�m tri phủ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] trong năm 1928.� Năm 1930 � trong suốt c�c cuộc biểu t�nh v� gần như nổi loạn tại một số tỉnh Nam Kỳ, �ng đ� được ph�i xuống Cao L�nh với một nhiệm vụ đặc biệt để ổn định khu vực.� Sau c�ng trong năm 1936 �ng được giao ph� loại chức vụ cao cấp nhất m� �ng ta c� thể kỳ vọng dưới sự cai trị thực d�n, l� đại biểu [d�l�gu�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, tức chức quận trưởng [?], ch� của người dịch] của Ba Tri (thuộc tỉnh Bến Tre); v� trong năm 1937 �ng l�n đến ngạch cao cấp nhất trong c�ng vụ tại Nam Kỳ, ngạch đốc phủ sứ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� �ng h�y c�n phục vụ trong năm 1943, v� đ� được tuy�n dương với Huy Chương Long Tinh (Order of the Dragon) trong năm 1941. �ng nộp đơn, v� đ� được chấp thuận, được trở th�nh c�ng d�n Ph�p trong năm 1928.� Những người như thế thật thiết yếu đối với sự cai trị của Ph�p tại Việt Nam, v� � dưới mắt nh�n của người Ph�p � qu� xứng đ�ng để được tưởng thưởng v� c�c sự phục vụ của họ.� Nhưng kh�ng kẻ n�o được ủy th�c cho c�c tr�ch vụ cao nhất.� M�i đến năm 1945, sau thời kỳ v� l�nh đạo do Nhật Bản g�y ra (Th�ng Ba � Th�ng T�m, 1945), người Ph�p mới thăng chức cho một người Việt Nam v�o chức vụ điều h�nh cấp tỉnh: sự lựa chọn của họ đổ xuống �ng Nguyễn Văn T�m (sinh năm 1895), đ� gia nhập v�o ng�nh h�nh ch�nh năm 1913, trở th�nh một c�ng d�n Ph�p năm 1927, v� leo l�n ngạch đốc phủ sứ năm 1934 sau khi được củ l�m đại biểu (d�l�gu�) tại Cai Lậy; giờ đ�y �ng được cử l�m nh� quản trị h�nh ch�nh [administrateur, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, tức chức tỉnh trưởng [?], ch� của người dịch] tỉnh T�n An, v� sau đ� trở th�nh thủ tướng của Quốc Gia Li�n Kết Việt Nam (Associated State of Viet-Nam) (1952-3). 5

����������� 57 người thuộc loại n�y xuất hiện trong Bảng 2, dĩ nhi�n, chỉ l� lớp tinh hoa trong ng�nh h�nh ch�nh.� Trong c�c năm 1938-9 c� đến 159 vi�n chức Việt Nam thuộc ngạch c�n bộ cao cấp [cadre sup�rieur, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] phục vụ tại Nam Kỳ, v� c� v�o khoảng một t� người kh�c � th� dụ c�c th�ng dịch vi�n � được bổ nhiệm v�o một vị thế tương tự. 6� Bởi quyển sổ tay 1943 bao gồm nhiều vi�n chức đ� về hưu, khối người c� một con số v� định ở bất cứ một thời điểm n�o, kh�ng mấy chắc rằng 57 người được n�u t�n ở đ� tương đương nhiều hơn một phần năm hay một phần tư số vi�n chức v� cựu vi�n chức c� ngạch trật cao cấp nhất.� Ngo�i ra, c� một số lượng lớn hơn rất nhiều c�c người Việt Nam được tuyển dụng v�o c�c chức vụ thư k� thấp hơn, những kẻ c� thể được n�i thuộc v�o lớp tinh hoa chừng n�o họ c� một số sự học vấn tại Ph�p, nhưng l� những kẻ kh�ng bao giờ leo l�n đến c�c chức vụ c� tầm nổi bật n�o.� V� thế, ở đ�y một lần nữa, ch�ng ta đang chỉ n�i về một �lớp tinh hoa trong giới tinh hoa� m� th�i.

��������� 2. Phục Vụ Trong Qu�n Đội.�

Người Việt Nam được tuyển mộ để phục vụ dưới sự l�nh đạo của người Ph�p ngay từ những ng�y sớm nhất của nền cai trị của thực d�n, nhưng chỉ ở c�c tr�nh độ thấp nhất.� Ngo�i c�c người Việt Nam sau n�y gia nhập qu�n đội Ph�p, c� rất �t cơ hội để leo l�n c�c chức vụ c� bất kỳ tầm quan trọng n�o trong một binh nghiệp.� M�i đến năm 1950 người Ph�p mới sằn s�ng cho ph�p c� một qu�n đội Việt Nam với c�c sĩ quan ri�ng của n�.� Tuy thế, quyển sổ tay 1943 bao gồm 5 người Nam Kỳ theo đuổi binh nghiệp, mặc d� một số người trong họ c� thể đ� được gồm v�o v� c�c hoạt động sau khi đ� về hưu hơn l� v� c�c hoạt động qu�n sự của họ.� Hai nh�n vật qu�n sự đ�ng được n�u danh ra.� Th�i Văn Chanh [Ch�nh?], sinh tại tỉnh Cần Thơ năm 1874, gia nhập qu�n đội Ph�p năm 1893 v� phục vụ tại Madagascar (1900-5) v� tại nước Ivory Coast (Bờ Biển Ng� Voi) (1905-8), sau đ� kết th�c binh nghiệp của �ng ta sau thời kỳ phục vụ tại �u Ch�u từ 1914 đến 1916.� �ng ta trở th�nh c�ng d�n Ph�p năm 1896, v� được thưởng Chiến C�ng Bội Tinh (Croix de Guerre) năm 1911 v� Huy Chương Danh Dự [Chương Mỹ Bội Tinh?] (L�gion d�Honneur) khi về hưu.� Sau khi trở lại Việt Nam, �ng ta mua một nh� m�y l�m muối v� một số ruộng đất, v� cũng trở th�nh một Phật tử t�ch cực, đến nỗi v�o năm 1943, �ng l� Ph� Chủ Tịch Hội Nghi�n Cứu Phật Học.� Thuộc về một thế hệ trẻ hơn nhiều, �ng Nguyễn Văn Xu�n (sinh năm 1892) đ� l� người Việt Nam đầu ti�n theo học Trường B�ch Khoa (�cole Polytechnique) (kh�a năm 1912).� �ng phục vụ trong qu�n đội Ph�p trong Thế Chiến Thứ Nhất, được gắn huy chương tại Verdun, v� leo l�n cấp Trung T� ph�o binh, c� quốc tịch Ph�p tr�n đường binh nghiệp. Sau Thế Chiến Thứ Nh�, �ng trở n�n một ch�nh trị gia t�ch cực, v� l� thủ tướng, trước ti�n của Nam Kỳ v� sau đ� của Việt Nam, giữa c�c năm 1947 v� 1949.� Trong thực tế, �ng đ� l� người đầu ti�n của một loại sĩ quan qu�n đội Việt Nam mới sắp đảm nhận tầm quan trọng đ�ng kể trong đời sống ch�nh trị của Nam Việt Nam sau năm 1954.� Nhưng giữa lớp tinh hoa năm 1943, �ng ta thực sự l� một qu�n nh�n độc nhất.

��������� 3. C�ng Việc Chuy�n M�n.�

Trong c�c l�nh vực h�nh ch�nh tổng qu�t v� qu�n sự, người Ph�p kh�ng l�m g� kh�c hơn việc tạo lập tại Việt Nam c�c phi�n bản của ch�nh họ cho một điều g� đ� đ� từng hiện diện tại x� h�i thời tiền Ph�p thuộc.� Những người gia nhập v�o guồng m�y của Ph�p, đặc biệt, kh�ng l�m g� kh�c hơn việc thay thế nền gi�o dục truyền thống của một học giả Khổng Nho bằng một số biện ph�p của nền gi�o dục tổng qu�t của Ph�p, n�i chung thuộc một loại sơ đẳng hơn.� Nhưng người Ph�p cũng giới thiệu � tưởng về kỹ năng chuy�n m�n, dựa tr�n gi�o dục chuy�n biệt h�a trong một số ng�nh học tập tuyển chọn.� Đến mức độ m� họ cho ph�p hay khuyến kh�ch người Việt Nam thụ đắc một nền gi�o dục thuộc loại đ�, ch�ng cũng c� một t�c động quan trọng tr�n cả văn h�a lẫn kỹ thuật của ch�nh quyền quản trị đất nước.� Ch�ng ta đ� sẵn nhận thấy rằng 27 nh�n sĩ năm 1943 được học tập tại Ph�p, v� nhiều người trong đ� chuy�n m�n trong một ng�nh c� biệt của sự học tập chuy�n m�n, nổi bật về canh n�ng, kỹ sư, y khoa, nha khoa, thương mại v� luật học.� Một số �t người kh�c thụ đắc sự huấn luyện chuy�n m�n h�a thuộc một loại k�m tiền tiến hơn tại H� Nội, đặc biệt trong ng�nh y khoa.� Hơn nữa, loại gi�o dục n�y trở n�n th�ng thường hơn trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930.� Nhưng chỉ một thiểu số nhỏ b� nh�n n� như dẫn đến một sự h�nh nghề chuy�n m�n độc lập, v� họ c� thể l� những người c�n c� c�c nguồn lợi tức kh�c, chẳng hạn như đ�t đai.� Một nh�n vật trội bật trong số c�c trường hợp ngoại hạng n�y l� B�c Sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1945) người đ� theo học tại Viện Institut Pasteur ở Paris v� đ� viết luận �n b�c sĩ về bệnh ph� thủng (beri-beri); nhưng �ng l� một đại điền chủ cũng như l� một b�c sĩ y khoa.� �ng bước v�o ch�nh trị năm 1926 như một người theo phe Lập Hiến (Constitutionalist), th�nh lập Đảng D�n Chủ (Democrat Party) năm 1937, v� trong năm 1946 đ� trở th�nh người cầm đầu một ch�nh phủ Nam Kỳ �tự trị� do Ph�p bảo trợ; nhiệm kỳ của �ng kết th�c với sự tự vẫn. 7

����������� Phần lớn 18 nh� chuy�n m�n trong Bảng 2 (tạm thời kh�ng kể c�c gi�o chức) thuộc v�o một số loại c�ng việc ở c�c định chế, v� nhiều người phục vụ ch�nh phủ.� Người lớn tuổi nhất trong họ, v� kh�ng phải l� người �t đặc sắc nhất, l� �ng B�i Quang Chi�u (1873-1945), kẻ đ� tốt nghiệp từ Viện Canh N�ng Quốc Gia (Institut National Agronomique) năm 1897 v� đ� phục vụ ch�nh phủ từ khi đ� cho đến năm 1926 khi �ng ta gia nhập Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) với tư c�ch l�nh tụ của Đảng Lập Hiến (Constitutionalist Party. 8� Canh n�ng dần trở n�n được ưa th�ch như một ng�nh học trong thập ni�n 1920, v� một v�i nh�n sĩ trẻ tuổi nhất đ� hội đủ điều kiện để c� mặt trong đ� [quyển sổ tay]: th� dụ, Ch�u T�m (ph�n đo�n từ danh t�nh, �ng ta người gốc Trung Hoa), người đ� đủ khả năng để theo học tại c�ng học viện ở Paris năm 1933 v� sau đ� theo học về kỹ thuật trồng l�a gạo tại � Đại Lợi trước khi bước v�o Sở Canh N�ng tại qu� nh�; năm 1939, �ng trở th�nh gi�m đốc Trường Canh T�c L�a Gạo (�cole de Rixculture) ở Cần Thơ.

��������� 4. Dạy Học.�

Một số c�c người n�y đ� thụ đắc c�c khả năng chuy�n m�n h�a, cũng như một số chỉ c� một nền gi�o dục tổng qu�t, đ� trở n�n c�c gi�o chức � cũng l� một hoạt động truyền thống cho c�c học giả tại Việt Nam thời tiền Ph�p thuộc.� Gi�o chức được xem trọng gần như bằng quan chức-học giả, đặc biệt tại l�ng của ch�nh người đ�.� Sự tăng trưởng của c�c định chế gi�o dục dưới thời cai trị của Ph�p đ� sẵn được chỉ dẫn, v� c�c trường học n�y phải được cung cấp nh�n vi�n bằng c�c người c� học đ� đạt được một tr�nh độ n�y hay tr�nh độ kia.� Mười bốn gi�o chức trong Bảng 2 r� r�ng tượng trưng khối kh�ng g� kh�c hơn ch�p đỉnh của tảng băng.� Hai th� dụ sẽ cho thấy loại gi�o chức hội đủ điều kiện ghi v�o quyển sổ tay 1943.� �ng Nguyễn Th�nh Giung, sinh ra tại tỉnh Sa Đ�c năm 1894, theo học tại trường Chasseloup-Laubat v� sau đ� tại Đại Học University of Marseille, đỗ bằng tiến sĩ khoa học (doctorat-�s-sciences) năm 1923.� Năm 1926, �ng trở th�nh gi�o sư (professeur) tại Trường Sư Phạm Đ�o Tạo C�c Gi�o Chức (�cole Normal des Instituteurs), v� sau đ� đảm nhận c�c chức vụ tại trường Chasseloup-Laubat v� trường Lyc�e Petrus K�, trước khi trở th�nh gi�m đốc trường Coll�ge de Mỹ Tho.� �ng Trần Văn Giang [?], mặt kh�c, sinh ra gần T�y Ninh trong năm 1894, kh�ng theo học nơi n�o kh�c ngo�i trường Coll�ge Chasseloup-Laubat (1892-5) v� sau đ� phục vụ như một th�y giảng (instituteur) tại S�ig�n v� T�y Ninh, cho đến khi �ng trở th�nh thanh tra c�c trường học tại T�y Ninh từ 1926 đến 1931.� �ng đ� được gồm v�o, theo giả thuyết, do c�ng việc h�nh ch�nh của �ng trong tư c�ch kể sau, v� ch�nh nhờ đ� m� �ng được phong h�m tri phủ danh dự khi về hưu.� Đa số c�c gi�o chức trong quyển sổ tay đ� được bổ nhiệm v�o c�c trường nh� nước, nhưng một người kh�ng xứng với một sự đề cập qu� ngắn ngủi: �ng Lương Văn Hau [?] (sinh năm 1897), theo học tại Trường Cao Đẳng Thương Mại (�cole de Commerce Sup�rieur) ở H� Nội, v� sau đ� dạy học tại nhiều trường thương mại tư thục kh�c nhau ở S�ig�n, trước khi mở một trường của ch�nh �ng trong năm 1930; �ng đ� kết hợp việc dạy học với c�ng việc một kế to�n vi�n cho nhiều x� nghiệp kinh doanh. �

��������� 5. C�c Ch�nh Tổng (Canton-chiefs).�

Bảy trong số c�c nh�n sĩ năm 1943 đ� giữ c�c chức vụ ch�nh thức thấp hơn l� ch�nh tổng [chef de canton, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Nhưng trong khi c�c vi�n chức của c�c đơn vị lớn hơn trong guồng m�y h�nh ch�nh địa phương được bổ nhiệm bởi ch�nh quyền trung ương từ số nh�n vi�n thường lệ của n�, ch�nh tổng l� một người địa phương được tuyển chọn trong số c�c cư d�n h�ng đầu tại c�c l�ng thuộc tổng của người đ�.� Một chức nghiệp đại diện từ c�c ch�nh tổng được ghi trong quyển sổ tay l� chức nghiệp của �ng Nguyễn Duy Hinh (sinh năm 1874) tại l�ng Đại Điền [?] (tỉnh Bến Tre).� �ng đ� được bổ nhiệm nhiều chức vụ tại x� của �ng, leo từ biện lại [? Tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l�n đến x� trưởng (village manager) trong năm 1901, v� hương sư [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (cố vấn về c�c điều lệ) trong năm 1904.� �ng l�m ch�nh tổng trong hai mươi ba năm (1913-36), v� khi hồi hưu, được phong tặng h�m đốc phủ sứ danh dự; trong năm 1942, �ng được nhận l�m hội vi�n nhận l�nh Huy Chương Danh Dự (L�gion d�Honneur).� �ng nhiều phần sở hữu đất đai, bởi �ng xem ra l� người c� một số t�i sản, được ghi nhận do việc l�m từ thiện của �ng; nhưng kh�ng c� điều g� trong tiểu sử của �ng cho thấy �ng đạt được c�c chức vụ của m�nh bằng bất kỳ đường lối gi�o dục n�o.� Về kh�a cạnh n�y, �ng v� s�u ch�nh tổng kh�c trong Bảng 2 kh�c biệt một c�ch r� rệt với số người c�n lại: họ rất c� thể biết tiếng Ph�p, nhưng họ kh�ng cần phải l� kẻ học cao (ngay cả theo c�c ti�u chuẩn của d�n Nam Kỳ).� C�c người n�y kh�ng phải l� th�nh phần của lớp thượng tầng tinh hoa, trong � nghĩa n�y; v� trong thực tế, chỉ một số rất nhỏ trong họ xuất hiện trong quyển sổ tay. �C� hơn hai trăm tổng tại Nam Kỳ, v� chỉ c� bảy người trong họ được bao gồm: qu� �t so với tỷ lệ c�c vi�n chức cao cấp hơn được liệt k�.� Sự cộng t�c của c�c người như thế d� thế c� t�nh c�ch quan trọng sinh tử cho sự cai trị của người Ph�p, v� vị thế của họ trong x� hội địa phương rất quan trọng.� C� lẽ hay nhất l� nh�n họ như tầng lớp cao nhất của một giới tinh hoa loại kh�c với giới tinh hoa do Ph�p đ�o tạo c� cuộc sống tập trung tại S�ig�n v� c�c thị trấn ch�nh.� Song l�m như thế c� thể gặp phải sự rủi ro của việc tạo ra một sự kh�c biệt qu� lớn lao giữa hai nh�m, bởi đ�i khi c� c�c quan hệ gia đ�nh giữa hai nh�m.� �ng Nguyễn Duy Hinh l� một trường hợp được n�i đến n�y: một trong c�c con trai của �ng, �ng Nguyễn Duy Quan [hay Qu�n?] theo học tại Ph�p, v� với bằng cử nh�n luật khoa [licence en droit] v� bằng tốt nghiệp cao đẳng thương mại [diploma des hautes �tudes commerciales], �ng bước v�o ng�nh c�ng vụ ch�nh phủ v� nhận được, trong năm 1935, một sự bổ nhiệm quan trọng tại triều đ�nh ho�ng gia ở Huế.� �ng B�i Quang Chi�u cũng l� con của một vi�n ch�nh tổng v� được phong h�m đốc phủ sứ danh dự. 9� V� thế, về mặt x� hội, người ta kh�ng thể xem c�c ch�nh tổng như thuộc v�o một tầng lớp ri�ng biệt khỏi giới tinh hoa th�nh thị do Ph�p đ�o tạo.

��������� Sự Gi�u C�

Quyển sổ tay 1943 �t hữu dụng hơn nhiều khi đi đến một sự thảo luận về c�c t�nh huống kinh tế của c�c nh�n sĩ của n�, v� một sự ph�n t�ch thấu đ�o l� điều bất khả.� Người ta c� thể nhận thấy rằng 17 trong số 133 người được n�i một c�ch cụ thể l� c� t�i sản về đất đai hay l�m việc ch�nh yếu trong sự quản trị điền sản của gia đ�nh, nhưng kh� c� thể n�i rằng những người n�y l� c�c người duy nhất thu hoạch một phần lợi tức của họ từ đất đai.� Sự ngh�o n�n về tin tức kinh tế khiến kh�ng thể, một c�ch kh�ng may, đưa ra bất kỳ sự lượng định n�o về tầm mức theo đ� gi�o dục v� chức quyền đ� mang lại phần thưởng kinh tế.� Tất cả những g� ch�ng ta c� thể l�m được l� việc ghi nhận một số nhỏ c�c c� nh�n trong quyển sổ tay c� hoạt động ch�nh yếu l� sự quản trị một điền sản hay một x� nghiệp kinh doanh.� Th� dụ nổi bật nhất l� �ng Trương Văn Bền, kẻ hẳn phải l� một trong những người Việt Nam gi�u c� nhất trong thời của �ng ta; �ng nguy�n qu�n ở Chợ Lớn, sinh năm 1883, v� được nghĩ l� c� d�ng d�i Trung Hoa.� �ng được tr�nh b�y như một �nh� kỹ nghệ� (industriel), l� một trong c�c nh�n vật h�ng đầu tr�n bước tiến để ph�t triển c�c kỹ nghệ Việt Nam trong thời kỳ khoảng 1918: v�o l�c đ� �ng khởi sự một nh� m�y xay l�a v� nh� m�y chế tạo dầu, v� trong năm 1932 �ng đ� bổ t�c v�o ch�ng bằng một nh� m�y sản xuất x� b�ng.� Trong thời khoảng ở giữa, �ng l� gi�m đốc Hội Trồng L�a Gạo ở Th�p Mười (Soc��t� Rizicole de Th�p Mười), sở hữu 10,000 mẫu t�y (hectares) đất, từ năm 1925 đến 1932.� Trong năm 1931, �ng được n�i l� sở hữu 18,000 mẫu đất, nhưng kh�ng r� rằng liệu điền sản l� t�i sản c� nh�n của �ng hay chỉ l� t�i sản của một c�ng ty. 10� �ng kh�ng hề giữ một chức vụ h�nh ch�nh n�o, nhưng trong năm 1918, �ng được cử v�o Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial); v� hai năm sau đ� �ng l� một hội vi�n của Ph�ng Thương Mại (Chambre de Commerce), nơi �ng đ� l� ph� chủ tịch từ năm 1932 đến 1941; từ 1924, �ng cũng phục vụ trong ủy ban quản trị hải cảng S�ig�n.� Rất �t c�c người Việt Nam kh�ng phải l� quan chức lại c� thể thụ hưởng được sự th�nh c�ng đến thế trong l�nh vực kinh tế.� Tuy nhi�n, c� một số �t người ghi trong quyển sổ tay đ� thừa hưởng th�nh quả của sự th�nh c�ng của cha �ng họ v� l� c�c kẻ c� thể sống một cuộc đời nh�n hạ.� Một trong những người đ� l� �ng Jacques L� Văn Đức, sinh năm 1887 tại tỉnh Mỹ Tho, từ một gia đ�nh C�ng Gi�o.� Cha của �ng phục vụ trong ng�nh h�nh ch�nh từ năm 1884 cho đến 1919 v� đ� đ�ng một vai tr� t�ch cực trong sự trấn �p c�c hội k�n trong ph�n nửa sau của chức nghiệp của �ng; bản th�n �ng L� Văn Đức, theo học tại Học Viện Institut Taberd v� đại học ở Marseille, c� phục vụ trong thời gian ngắn như một phụ t� lục sự [? commis-gr�ffier] ở S�ig�n trước khi xin nghỉ v�o năm 1913 để quản trị c�c t�i sản gia đ�nh.� Từ đ� trở đi �ng ta được ghi nhận ch�nh yếu về c�c sự tặng dữ ba ng�i trường mới v� c�c cuộc du lịch của �ng sang �u Ch�u v� � Ch�u.� Điều c� lẽ g�y ngạc nhi�n rằng quyển sổ tay 1943 đ� kh�ng bao gồm nhiều hơn nh�m nhỏ c�c kẻ thuộc loại như �ng ta.� Một sự giải th�ch khả hữu rằng tại nhiều gia đ�nh, c�c t�i sản được tr�ng coi bởi người con trai trưởng l� những kẻ kh�ng thiết g� đến việc gi�o dục hay chức quyền, nhưng ở lại nh� để sống một cuộc đời ho�n to�n kh�c biệt với cuộc sống của c�c người em của họ: một đời sống kh�ng mấy khi dẫn họ đến sự nổi bật trong c�c giới của S�ig�n.� Một c�ch đ�ng ch� �, �ng B�i Quang Chi�u l� một người con thứ, c� người anh lớn hơn, �ng Trứ [?], sống tại Mỏ C�y v� c� vẻ như kh�ng thụ nhận một nền gi�o dục của Ph�p hay bất kỳ loại chức quyền n�o.� Ở đ�y, c� lẽ, ch�ng ta c� một phần của sự giải th�ch tại sao tin tức trong quyển sổ tay lại qu� yếu về đề mục t�i sản v� sự gi�u c�; đ� l� một đề mục qu� phức tạp để được ghi nhận trong tiểu sử của c�c c� nh�n.

����������� Điều cũng kh�ng dễ d�ng để lấp đầy khoảng trống n�y bằng c�ch tham chiếu c�c nguồn t�i liệu kh�c.� C�c t�i liệu cung ứng hiện nay kh�ng đủ gi�p l�m một cuộc ph�n t�ch bao qu�t sự gi�u c� v� t�i sản của giới tinh hoa Nam Kỳ; c� lẽ kh�ng c� t�i liệu n�o như thế hiện hữu, bởi c�c điền chủ Việt Nam kh�ng c� th�i quen ph� trương chi tiết đời sống kinh doanh của họ, v� c� thể c�c nh� chức tr�ch Ph�p kh�ng c� mấy quan t�m để việc tọc mạch qu� s�u v�o c�ng việc của họ.� Nguồn thống k� duy nhất c� bất kỳ sự d�nh dấp n�o đến vấn đề l� cuộc thăm d� của t�c giả Y. Henry về kinh tế n�ng nghiệp trong năm 1930. 11� Tại mười bốn tỉnh m� �ng khảo s�t, �ng t�m thấy c� đến 244 người đăng k� như l� c�c sở hữu chủ nhiều hơn 500 mẫu ruộng l�a.� Nhưng �ng kh�ng quan t�m đến họ như c�c c� nh�n, v� khi x�t đến sự kiện rằng cuộc thăm d� của �ng đặt tr�n c�c con số quyền sở hữu của c�c tổng v� x�, kh�ng thể biết l� liệu �ng c� tr�nh được sự nguy hiểm của việc đếm tr�ng một số sở hữu chủ đến hai lần hay kh�ng.� Cũng kh�ng thể biết đ�u l� tỷ lệ c�c sở hữu chủ l� người Ph�p.� Tuy nhi�n, một điều th� r� rệt: đến nay số lượng lớn nhất của c�c điền sản hơn 500 mẫu t�y tọa lạc tại c�c tỉnh miền T�y, nổi bật l� Rạch Gi�, Bạc Li�u, Long Xuy�n, v� Sa Đ�c.� C�c tỉnh n�y l� c�c khu vực được khai hoang trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930, v� nhiều phần l� một vi�n chức hay doanh nh�n Việt Nam th�nh c�ng sẽ đầu tư tiền bạc của m�nh ở đ�.� Tuy nhi�n, t�nh trạng thay đổi ở mọi thời, v� người ta kh�ng thể biết chắc rằng khu�n mẫu của thập ni�n 1930 c� giống như khu�n mẫu của năm 1943 hay kh�ng.� Bởi một việc, c�c �p lực kinh tế trong thập ni�n 1930 đ� khiến cho c�c điền chủ t�nh c�c gi� thu� đất cao hơn một c�ch tương ứng, v� buộc c�c tiểu điền chủ phải vay tiền với l�i suất cao hơn.� Nhiều đất dai đ� được sang nhượng qua tay, v� đ� c� một cơ hội cho c�c kẻ t�n nhẫn nhiều tiền để đầu tư thụ tạo c�c t�i sản tại mọi phần đất nước, kh�ng chỉ ở c�c v�ng đất mới thuộc miền t�y.

����������� Như trong l�nh vực gi�o dục v� chức vụ, điều cần thiết để nhận thấy rằng kh�ng phải tất cả c�c điền chủ quan trọng đều xuất hiện trong quyển sổ tay 1943, v� trong thực tế, �t c� nh�n m� sự nghiệp như c�c điền chủ được khảo cứu một c�ch đễ d�ng nhất đ� lại kh�ng được gồm trong đ�. Trường hợp n�i đến l� của �ng Trần Trinh Trạch (sinh năm 1874), người vẫn c�n sống v�o l�c c� cuộc cải c�ch ruộng đất năm 1956-7, khi �ng ta phủ nhận đ� sở hữu nhiều đến 28,000 mẫu đất. 12� �ng đ� bắt đầu cuộc sống trong một gia đ�nh người Hoa ngh�o khổ tại tỉnh Bạc Li�u, v� đ� trở th�nh một thư k� ch�nh phủ trong năm 1898.� Như một th�ng dịch vi�n giữa c�c vi�n chức người Ph�p v� c�c thương gia gốc Hoa, �ng đ� c� đủ cơ hội để l�m gi�u c� nh�n hầu về hưu v�o năm 1903 v� tậu một số đất đai.� Việc cho vay tiền gi�p �ng kiếm nhiều lợi� nhuận hơn nữa, v� v�o năm 1930, �ng đ� x�y dựng được một t�i sản gồm 15,000 mẫu đất, con số sau n�y �ng đ� bổ t�c th�m 10,000 mẫu nữa trong suốt thập ni�n 1930. Sự vắng mặt của ch�nh �ng trong quyển sổ tay 1943 cho thấy sự gi�u c� kh�ng th�i đ� kh�ng phải l� một ti�u chuẩn cho sự bao gồm.

����������� Trước khi tiến xa hơn, ch�ng ta cần dừng lại để đề cập ngắn gọn đến t�m người phụ nữ của Miền Nam Việt Nam xuất hiện trong quyển sổ tay 1943.� Năm người trong họ xuất hiện chỉ v� họ l� vợ, g�a phụ hay th�n nh�n của c�c người đ�n �ng nổi tiếng.� Trong một loại đặc biệt của ri�ng b�, c� b� Nguyễn Hữu H�o: con g�i của �ng L� Ph�t Đạt, một trong những người nổi tiếng nhất trong c�c kẻ cộng t�c (collaborateurs) [với Ph�p] hồi thế kỷ thứ mười ch�n.� B� kết h�n với �ng Nguyễn Hữu H�o, người thuộc một gia đ�nh điền chủ C�ng Gi�o kh�c, nhưng đ� mất đi trong năm 1937; con g�i của họ được chọn l�m vợ v� ho�ng hậu của �ng vua Bảo Đại.� B� ta ch�nh v� thế thuộc v�o một lớp tinh hoa trong giới tinh hoa của c�c gia đ�nh người Nam Kỳ vừa c� sự gi�u c� lẫn sự chấp nhận x� hội cao nhất trong mắt người Ph�p.� Một người kh�c trong năm người đ�n b� n�y l� ch�u của một kẻ cộng t�c ban đầu kh�c kh�c, Trần B� Lộc, v� đ� kết h�n với một người con trai của nh�n vật nổi tiếng Trương Vĩnh K�.� Mặt kh�c, ba người phụ nữ trong số t�m người c� thể chứng minh cho sự bao gồm bởi chức nghiệp chuy�n m�n của ch�nh họ.� Một người l� b�c sĩ y khoa, được đ�o tạo ở Ph�p v� tại H� Nội; người thứ nh� l� một gi�o chức tại Trường Nữ Sinh (�cole de Jeunes Filles) tại S�ig�n; v� người thứ ba l� một kịch sĩ, L� Thị Phỉ [Phỉ?], người đ� xuất hiện như c� đ�o h�ng đầu của s�n khấu cải lương (reformed) Việt Nam nở rộ từ thập ni�n 1930.� D� thế, như được hay biết r�, c�c phụ nữ Việt Nam thụ hưởng một vai tr� c� v�i tầm quan trọng đ�ng sau sinh hoạt ch�nh trị v� x� hội Việt Nam, điều được xem l� một sự canh cải đ�ng kể cho phụ nữ rời khỏi nh� trước khi kết h�n v� để theo học cho một chức nghi�p độc lập.� Ba người phụ nữ chuy�n nghiệp n�y v� thế tượng trưng cho c�c sự khởi sự đầu ti�n của một khuynh hướng rất quan trọng trong thực tế.

 

III

����������� Quyển sổ tay 1943 cung cấp cho ch�ng ta một căn bản chi tiết tiểu sử cho sự thảo luận c�c đặc t�nh ch�nh của lớp c� thể được mệnh danh l� �thượng tầng tinh hoa� của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Hai nh�m người, tuy thế, vẫn chưa được n�i đến nhưng phải được nh�n như thuộc v�o giới tinh hoa theo một nghĩa rộng hơn.� Một l� nh�m trong thực tế c� một �t đại diện trong quyển sổ tay: tức những người thuộc v�o văn h�a truyền thống nhiều hơn l� v�o văn h�a Ph�p.

����������� Trong nh�m đầu ti�n c� thể n�i đến ba nh� sư Phật Gi�o trong quyển sổ tay 1943: cả ba đều l� trụ tr� của c�c đền thờ (�ch�a�) tại khu vực S�ig�n-Chợ Lớn, v� con đường tu đạo của họ th� giống nhau. �ng Huỳnh Văn Phước, th� dụ, sinh ra tại tỉnh Gia Định năm 1883, thụ giới ở ch�a Gi�c Vi�n tại Chợ Lớn l�c bảy tuổi, v� đ� d�nh suốt cuộc đời của �ng để tu đạo ở đ�.� Trong năm 1941, �ng đ� l�n đ�n h�ng gi�o phẩm cao nhất của Phật Gi�o ở Việt Nam, tức h�a thượng [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch]; v� trong năm 1943 �ng l� trụ tr� của ch�a.� Trong cuộc đời tu đạo của m�nh �ng kh�ng c� li�n hệ n�o cả với giới tinh hoa do Ph�p đ�o tạo m� ch�ng ta đang thảo luận; nhưng kh�ng thể kh�ng c� khả năng rằng �ng c� li�n quan đến c�c người trở th�nh vi�n chức hay h�nh nghề chuy�n m�n.� Một c�ch ch�nh x�c về l� do tại sao ba nh� sư Phật Gi�o n�y đ� được lựa ra, từ một số lượng đ�ng đảo c�c trụ tr� của c�c ng�i ch�a tại Nam Kỳ, th� kh� m� biết r�; c� thể được nghĩ rằng l� do c�c th�n nh�n của họ.� Hai người kh�c cũng c� thể được n�u như một phần của loại n�y: kh�ng phải l� c�c nh� sự nhưng l� những người c� sự gi�o dục bằng tiếng Trung Hoa.� Về �ng Th�i Xu�n Lai [?], ch�ng ta chỉ biết rằng học vấn của �ng l� bằng Hoa ngữ, v� rằng trong năm 1935 �ng được phong h�m đốc phủ sứ v� được nhận l�nh Huy Chương Danh Dự (L�gion d�Honneur).� Sự nghiệp của �ng kh�ng được �biết r�; �ng sinh ra tại tỉnh Cần Thơ, v� điều kh�ng phải l� kh�ng khả dĩ rằng �ng ta trong thực tế l� một th�nh vi�n l�nh đạo của cộng đồng người Hoa.� �ng Nguyễn Ch�nh Sắt, sinh ra tại Ch�u Đốc năm 1869, cũng c� thể thuộc d�ng d�i Trung Hoa; nhưng �ng cũng l� một học giả, người đ� l�m nhiều việc để nối liền hai văn h�a, cổ truyền v� hiện đại. �Cho đến năm 1906, �ng ch�nh yếu l� một thầy gi�o dạy tiếng Trung Hoa; từ đ� trở về sau, �ng bước v�o nghề viết b�o v� xuất bản, phi�n dịch nhiều s�ch tiếng Hoa th�nh văn tự la m� h�a, chữ quốc ngữ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� c� một l�c l�m bi�n tập cho tờ b�o N�ng Cổ M�n Đ�m.� Nhưng v�o năm 1943 �ng đ� l� một người gi� cả, v� kh�ng dễ d�ng để lập lại sự nghiệp của �ng trong c�c thế hệ trẻ hơn tại Nam Kỳ: trong số c�c nh�n vật văn chương nổi tiếng, �ng c� nhiều đối t�c tại miền Bắc v� miền Trung Việt Nam hơn l� tại miền Nam.

����������� Đạo Phật kh�ng phải l� t�n gi�o duy nhất c� đại diện trong quyển sổ tay 1943.� C� lẽ điều đ�ng ngạc nhi�n, chỉ c� một tu sĩ C�ng Gi�o sinh ra tại Nam Kỳ được gồm trong đ�: tức �ng Nguyễn B� T�ng, sinh ra tại G� C�ng năm 1868, người trong năm 1935 đ� trở th�nh vị gi�m mục Việt Nam đầu ti�n tại Ph�t Diệm (Bắc Phần).� Nhưng quyển sổ tay cũng bao gồm một số người, mặc d� sự kiện n�y kh�ng được n�i ra, được biết l� thuộc v�o một gi�o ph�i mới ở Nam Kỳ, đạo Cao Đ�i. 13� Theo gi�o lệnh của t�n gi�o đ�, c�c tu sĩ của họ trong đạo được ph�p cũng c� một chức nghiệp b�n ngo�i (trừ khi họ l� c�c nh�n vật c� gi�o phẩm rất cao), khiến cho c�c người quan t�m đến l� c�c vi�n chức hồi hưu.� �ng V� Văn Thơm [?] (sinh năm 1868, tại tỉnh Vĩnh Long), đ� l� một th�ng dịch vi�n tại Sở Tư Ph�p (Service Judiciaire) từ năm 1890 đến 1915, v� sau n�y l� một hội vi�n của Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial).� Trong năm 1926, vợ �ng trở th�nh một đệ tử của người s�ng lập đạo Cao Đ�i, �ng Ng� Văn Chi�u, v� hai năm sau đ�, ch�nh �ng đ� trở n�n t�ch cực trong phong tr�o tại Cần Thơ.� �ng Nguyễn Văn Ki�n [?] (sinh năm 1878, tại tỉnh Mỹ Tho) phục vụ trong ng�nh h�nh ch�nh từ năm 1898 đến 1932, v� đ� hồi hưu với h�m đốc phủ sứ;; kh�ng l�u sau đ� �ng được biết l� người cầm đầu đạo Cao Đ�i tại tỉnh Mỹ Tho, mặc d� �ng bị nghi ngờ bởi c�c đối thủ trong đạo của �ng về việc b�n m�nh cho c�c nh� chức tr�ch Ph�p nhằm ph�n h�a gi�o ph�i th�nh hai c�nh.� C� thể c� c�c người kh�c được ghi danh trong quyển sổ tay cũng đi theo đạo Cao Đ�i.

����������� Tuy nhi�n kh�ng phải tất cả c�c nh�n vật quan trọng của đạo Cao Đ�i đều c� vẻ được nh�n với sự chấp nhận bởi người Ph�p, bởi nhiều người trong họ đ� biểu lộ v�o năm 1942 rằng họ chống lại Ph�p v� th�n với Nhật Bản.� Một số c�n bị bắt giam bởi ch�nh phủ.� Bởi trong đạo Cao Đ�i, mối quan hệ truyền thống giữa t�n gi�o v� ch�nh trị đ� t�m thấy sự diễn đạt mới, v� n� chứng tỏ đặc biệt hấp dẫn đối với c�c người m� nền gi�o dục Ph�p kh�ng c� nghĩa l� sự cam kết ch�nh trị, cũng như đối với một số người nhận thấy n� đ� kh�ng dẫn đến sự th�nh c�ng c� nh�n.� Hai trong c�c nh�n vật Cao Đ�i quan trọng nhất năm 1943 l� c�c �ng Nguyễn Ngọc Tương v� Phạm C�ng tắc.� �ng Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951) đ� c� một sự nghiệp kh�ng kh�c ch�t n�o với sự nghiệp của nhiều người trong số 57 nh� h�nh ch�nh được gồm trong quyển sổ tay: �ng đ� theo học tại c�c trường Mỹ Tho v� Chasseloup-Laubat, sau đ� bước v�o ng�nh h�nh ch�nh năm 1902; �ng đ� leo l�n tới ngạch tri phủ� v�o năm 1930, khi �ng về hưu để d�nh trọn thời giờ của m�nh cho t�n gi�o.� �ng thuộc một gia đ�nh hạnh ph�c v� c� một nền gi�o dục tốt, v� trong c�c t�nh huống kh�c, địa vị đứng đầu th�nh thất Cao Đ�i ở Bến Tre m� �ng đ� th�nh lập năm 1934 c� thể dư điều kiện để �ng được xem l� thuộc v�o giới tinh hoa.� Người tranh d�nh lớn nhất của �ng trong phong tr�o, �ng Phạm C�ng Tắc (1893-1958), kẻ đ� trở th�nh người đứng đầu gi�o ph�i tại T�y Ninh năm 1934, cũng l� một cựu nh�n vi�n h�nh ch�nh, nhưng ở cấp thấp hơn nhiều, l�m c�ng việc thư k�.� �ng ta đ� về hưu năm 1926 để đ�ng một vai tr� l�nh đạo tại T�y Ninh, v� v�o năm 1943 bị bắt giam v� c�c t�nh cảm th�n Nhật Bản của �ng.

����������� C�c người theo đạo Cao Đ�i, đến một tầm mức đ�ng kể, đ� quay lưng với sự gi�o dục của Ph�p v� t�m kiếm sự thỏa đ�ng trong một sự giải th�ch mới của một t�n gi�o truyền thống.� C�c người Việt Nam kh�c với một sự gi�o dục của Ph�p, đặc biệt trong số những người đ� từng theo học ở c�c đại học Ph�p, quay lưng lại với cả nền văn h�a cổ truyền lẫn cơ hội thăng tiến dưới sự bảo trợ của thực d�n; thường họ trở th�nh c�c ch�nh trị gia c�nh tả.� Kh�ng thể đưa ra c�ng loại ph�n t�ch c� hệ thống về sự nghiệp của họ như đ� được toan t�nh với c�c nh�n sĩ trong quyển sổ tay, nhưng c� một �t th� dụ rất nổi tiếng.� Trội bật l�n l� trường hợp của �ng Nguyễn An Ninh (1900-1943), người đ� theo học Đại Học H� Nội trong thời gian ngắn khoảng năm 1918, trước khi theo học về luật tại Ph�p.� �ng về nước với mảnh bằng cử nh�n (licence) trong năm 1925, nhưng v�o l�c đ� đ� sẵn tham gia v�o việc th�nh lập một tờ nhật b�o cấp tiến bằng tiếng Ph�p tại S�ig�n, tờ La Cloche F�l�e (C�i Chu�ng R�), v� đ� viết c�c b�i b�o đ�i hỏi nước Ph�p phải giữ đ�ng c�c l� tưởng của ch�nh n� về tự do v� b�nh đẳng tại Việt Nam.� �ng kh�ng bao giờ t�nh to�n việc đi l�m quan chức, nhưng v�o năm 1927 đ� th�nh lập một hội k�n nhằm thiết lập một quốc gia Việt Nam theo x� hội chủ nghĩa; v� thế �ng đ� bị bắt giữ v� tống giam.� �ng lại t�ch cực trong ch�nh trị tả ph�i sau khi được ph�ng th�ch, v� trong năm 1937 đ� t�m c�ch tổ chức một Hội Nghị To�n Đ�ng Dương (All-Indochina Congress), cũng như một loạt c�c cuộc đ�nh c�ng.� Bị bắt giam một lần nữa, �ng đ� chết năm 1943 tại Poulo Condore (Đảo C�n Sơn). 14 �Hai nh�n vật c�nh tả nổi tiếng kh�c, cả hai theo chủ thuyết của Trotsky, cũng đ� theo học đại học tại Ph�p.� �ng Tạ Thu Th�u, trở về từ Ph�p năm 1932 sau một thời hoạt động t�ch cực trong ch�nh trị của sinh vi�n ở đ�, đ� l� linh hồn th�c đẩy đ�ng sau tờ b�o của phe Trotskyist, tờ La Lutte (Tranh Đấu); phụ t� th�n cận của �ng l� �ng Phan Văn H�m (sinh năm 1902), người m� sự học tập về triết l� tại đại học Sorbonne tạo điều kiện để �ng trở th�nh l� thuyết gia của nh�m, cũng như t�c giả của c�c t�c phẩm về triết học Trung Hoa. 15� Chủ nghĩa Trotskyism đặc biệt l�i cuốn đối với thanh ni�n Việt Nam học tập tại Ph�p, đ� kh�ng được chấp nhận đối với Việt Minh cũng như với phe d�n tộc chủ nghĩa �c�nh hữu�.

 

IV

����������� Sự ph�n t�ch tr�n đ�y về thượng tầng tinh hoa năm 1943, c�ng với một số sự nhận định về c�c giới hạn của nguồn t�i liệu ch�nh yếu sử dụng, l�m ph�t sinh một số c�u hỏi về bản chất của giới tinh hoa chỉ c� thể được trả lời bằng việc cứu x�t đến bằng cớ kh�c: th� dụ, bằng cớ cung cấp bởi c�c nhật b�o bằng tiếng Ph�p, m� số lưu h�nh được giới hạn trong cộng đồng do Ph�p gi�o dục.� Đặc biệt, người ta c� thể thắc mắc rằng giới tinh hoa n�y thực sự l� một cộng đồng đồng nhất đến đ�u, t�ch biệt với phần c�n lại của x� hội.� C�u hỏi n�y đ�i hỏi một số sự khảo s�t đến khu�n khổ định chế của giới tinh hoa, vốn được ph�t triển s�u rộng hơn trong c�c thập ni�n 1930 v� 1940 so với t�nh trạng của thời thuộc địa ban sơ.

����������� C�c định chế mới ph�t triển trong thế kỷ thứ hai mươi c� thể được ph�n chia th�nh ba loại ch�nh: gi�o dục, kinh tế, v� ch�nh trị.� C�c định chế gi�o dục thực sự được theo học bởi thanh ni�n Việt Nam muốn t�m kiếm một sự gi�o dục của Ph�p đ� sẵn được ghi nhận.� Về mặt x� hội, ảnh hưởng của ch�ng sẽ l� việc tạo lập c�c bước khởi đầu của một cảm nhận về cộng đồng trong số c�c học tr� v� sinh vi�n của ch�ng, v� � nghĩa n�y đ� được tăng cường bởi một số c�c định chế kh�c theo đ� c�c cựu học vi�n c� thể gia nhập sau n�y trong cuộc sống.� C� lẽ c� tầm tầm quan trọng đặc biệt l� Hội �i Hữu C�c Cựu Học Sinh Trường Chasseloup-Laubat (Amicale des Anciens �l�ves du Coll�ge Chasseloup-Laubat) đ� thể hiện v�o năm 1919 khi �ng B�i Quang Chi�u l� chủ tịch của Hội. 16 �N� đ� đ�ng một vai tr� quan trọng trong sự xuất hiện, v�o thời điểm đ�, của đảng Lập Hiến (Constitutionalist Party) dưới sự l�nh đạo của �ng Chi�u.� Một nh�m kh�c, mở rộng v�ng tay hơn của c�c người Việt Nam c� học thức, l� Hội Gi�o Dục Tương Trợ Của Nam Kỳ (Soc��t� d�Enseignement Mutuel de la Cochinchine), được th�nh lập v�o khoảng năm 1908; đến năm 1918, n� đ� c� bảy chi nh�nh tại c�c tỉnh kh�c nhau, v� tiếp tục b�nh trướng trong thập ni�n 1920. 17� Nhiều nh�n sĩ trong sổ tay 1943 đ� t�ch cực hoạt động trong đ�, v� n� c� lần được n�i l� c� li�n hệ chặt chẽ với Đảng Lập Hiến.� C�c hội n�y bao gồm chủ y�u, nếu kh�ng phải to�n thể, người Việt Nam.� Cũng c� �t nhất một hội văn h�a m� th�nh vi�n chủ yếu l� người Ph�p nhưng v�o thập ni�n 1930 c� bao gồm một số người Việt Nam: Hội Nghi�n Cứu Đ�ng Dương (Soc��t� des �tudes Indo-chinoises), được th�nh lập năm 1883.� Năm 1938, hội c� bốn mươi hội vi�n người Việt Nam, kể cả c�c hội vi�n qua thư t�n, v� hai người Việt Nam ngồi trong ủy ban; tổng số hội vi�n v�o l�c đ� chỉ khoảng gần 300 người. 18

����������� Người Việt Nam theo học tại Paris ở v�o một t�nh trạng kh�c biệt, nơi m� họ chưa bao giờ nhiều hơn một thiểu số t� hon tại c�c trường m� họ theo học.� Bước tiến đầu ti�n cung cấp khu�n khổ định chế cho người Việt Nam tại Ph�p l� sự tạo lập một Hội Tương Trợ C�c Người Đ�ng Dương (Association Mutuelle des Indochinois) tại Paris trong năm 1920.� Hội đ� được t�i tổ chức trong năm 1922, v� đ� c� 34 người Việt Nam trong buổi lễ khai mạc của hội, ngo�i Ho�ng Đế Khải Định v� thượng thư Phạm Quỳnh, đang thăm viếng nước Ph�p v�o l�c đ�.� Trong thập ni�n 1920, việc theo học tại Paris ng�y trở n�n thời thượng, v� trong năm 1928 c�c bước tiến đ� được thực hiện để tạo lập một Nh� Đ�ng Dương (Maison d�Indochine) tại Th�nh Phố Đại Học (University City), nay vẫn c�n hiện hữu ở đ�. 19� Một trong những t�nh chất quan trọng của c�c định chế n�y l�, kh�ng giống như c�c định chế tại ch�nh Nam Kỳ, ch�ng đ� tập hợp người Việt Nam từ c�c miền kh�c nhau của đất nước, ch�nh từ đ� ở một kh�a cạnh n�o đ�, ph� vỡ chủ nghĩa cấp miền địa phương vốn lu�n lu�n hiện diện ở mọi cấp, trừ c�c mức độ x� hội cao cấp nhất.

����������� C�c định chế kinh tế của giới tinh hoa bao gồm một số doanh nghiệp c� bản chất thương mại, c�c tổ chức kh�c c� mục đ�ch bảo vệ c�c nh�m quyền lợi.� Một trong c�c tổ chức quan trọng nhất, hiện diện tại hầu hết c�c tỉnh, l� Nghiệp Đo�n Canh N�ng (Syndicat Agricole).� Tổ chức sớm nhất được th�nh lập l� nghiệp đo�n tại tỉnh Mỹ Tho, trong năm 1912.� Nhiều tổ chức được đề cập đến trong tiểu sử của c�c nh�n sĩ trong sổ tay năm 1943, c�c kẻ đ� đ�ng một vai tr� h�ng đầu trong c�c hoạt động của ch�ng: những nghiệp đo�n tại Long Xuy�n v� Cần Thơ, được th�nh lập v�o năm 1919, của Vĩnh Long, được lập ra trong năm 1922, v� c�c nghiệp đo�n của Bi�n H�a v� B� Rịa, cả hai th�nh h�nh v�o năm 1927.� Trong năm 1919, cũng c� th�nh lập một Nghiệp Đo�n To�n Quốc c�c Người Trồng L�a Gạo (Syndicat National des Riziculteurs) nhằm ph�t huy c�c quyền lợi của c�c chủ điền.

����������� Sự th�nh lập của n� l� một phần của một nỗ lực tổng qu�t v�o l�c đ�, về ph�a c�c th�nh vi�n của giới tinh hoa Việt Nam, nhằm ph� vỡ thị trường độc quyền của người Trung Hoa trong hoạt động thương mại v� kỹ nghệ tại Nam Kỳ; n� bao gồm một cuộc tẩy chay kh�ng th�nh c�ng mậu dịch Trung Hoa, v� sự th�nh lập một Hội Thương Mại An Nam (Soc��t� Commercial Annamite). 20� Phong tr�o kh�ng th�nh c�ng lắm, nhưng n� đưa đến sự khai sinh một khối lượng n�o đ� trong hoạt động doanh nghiệp Việt Nam, v� đ� mang lại sự th�c đẩy cho nỗ lực của c�c chủ điền Việt Nam để bảo vệ c�c quyền lợi của ch�nh c�c nh� sản xuất gạo.� �ng Trương Văn Bền, người m� sự nghiệp đ� được đề cập đến trước đ�y, đ� l� một trong những người th�nh c�ng nhất c� hoạt động kinh doanh khởi sự v�o thời điểm n�y.� Sau n�y, c�c định chế kinh tế kh�c được ph�t triển, đặc biệt trong l�nh vực t�n dụng.� Hội T�n Dụng An Nam (Soci�t� Annamite de Cr�dit), th�nh h�nh v�o năm 1932, được điều h�nh bởi một nh�m bao gồm nhiều nh�n sĩ trong sổ tay 1943: gi�m đốc của hội l� �ng L� Văn Gong [?] (sinh năm 1896), đ� thu thập được c�c kinh nghiệm kinh doanh khi l�m việc tại c�c ng�n h�ng Ph�p tại H�n Khẩu v� Thi�n T�n [2 th�nh phố của Trung Hoa, ch� của người dịch] giữa c�c năm 1919 v� 1926. 21

����������� Đời sống kinh tế của Đ�ng Dương v�o thời điểm n�y bị chi phối tối hậu bởi người Ph�p, v� ch�nh người Ph�p đ� khống chế tại c�c hội đồng lập ra để quy định về mậu dịch, canh n�ng v.v�� Ph�ng Canh N�ng (Chambre d�Agriculture) v� Ph�ng Thương Mại (Chambre de Commerce) mỗi ph�ng gồm hai hội vi�n Việt Nam, chống lại mười hay hơn nữa số người Ph�p.� Trong năm 1928, To�n Quyền đ� thiết lập một hội đồng để đại diện c�c quyền lợi kinh tế quan trọng của to�n Li�n Hiệp Đ�ng Dương: Đại Hội Đồng C�c Quyền Lợi Kinh Tế v� T�i Ch�nh của Đ�ng Dương (Grand Conseil des Int�r�ts �conomiques et Financiers de l�Indochine). 22� Trong số 23 hội vi�n bản xứ của n�, đối với 28 người Ph�p, thường c� khoảng năm hay s�u người từ Nam Kỳ.� Trong năm 1939, hội đồng được cải c�ch, để loại bỏ tất cả sự chỉ định c�c hội vi�n của vi�n To�n Quyền, v� cho ph�p một loạt rộng r�i hơn c�c quyền lợi sẽ được đại diện.� Nhưng chỉ hơn một năm sau đ�, trong Th�ng Mười Một 1940, n� đ� bị đ�nh chỉ v� l� do t�nh trạng chiến tranh v� kh�ng bao giờ được phục hồi.� Kế th�n của n�, Hội Đồng Li�n Bang (Conseil F�d�ral), được lập ra trong năm 1941 v� sau đ� được t�i tổ chức v�o năm 1943, ho�n to�n l� một bộ phận được chỉ định, mặc d� n� đ� c� một đa số người bản xứ v�o năm 1943.� Nhiều nh�n sĩ trong quyển sổ tay 1943 đ� đ�ng giữ một vai tr� trong c�c bộ phận kh�c nhau n�y.� Một th� dụ nổi bật l� �ng Nguyễn Tấn Được [?], sinh ra tại tỉnh Sa Đ�c năm 1884, đ� phục vụ trong ch�nh quyền từ 1904 đến 1918, sau đ� từ chức để th�nh lập Nghiệp Đo�n Canh N�ng (Syndicat Agricole), trong đ� �ng l� chủ tịch cho đến năm 1923.� �ng thuộc v�o Ph�ng Canh N�ng (Chambre d�Agriculture) từ 1925 đến 1938, v� v�o Đại Hội Đồng C�c Quyền Lợi (Grand Conseil des Int�r�ts, 1929-37. �Từ năm 1922 đến 1939, �ng cũng l� một hội vi�n của Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ. ���

����������� Nếu c� bất kỳ định chế n�o tại Nam Kỳ c� thể được n�i đ� l� ti�u điểm cho hoạt động ch�nh trị của ph�a giới tinh hoa, đ� ch�nh l� Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial). 23� Được th�nh lập năm 1980 [sic, nhiều phần phải l� 1890, ch� của người dịch], kh�ng l�u sau khi c� sự bổ nhiệm vi�n thống đốc d�n sự đầu ti�n cho Nam Kỳ, c�c th�nh vi�n Việt Nam ban đầu của n� l� những người m� người Ph�p c� thể tr�ng cậy do sự v�ng lời ngoan ngo�n trước bất kỳ điều g� m� ch�nh phủ đưa ra.� Tiến Sĩ Osborne n�u � kiến rằng nhiều người trong họ đ� chỉ tr�ng chờ một mệnh lệnh của Ph�p, ngay cả trong việc theo d�i c�c cuộc thảo luận, chứ đừng n�i đến n�i việc tham gia một c�ch hữu hiệu.� Nhưng trong thập ni�n thứ nh� của thế kỷ thứ hai mươi, một thế hệ mới của người Việt Nam c� học thức hơn, đ� bắt đầu khai triển một th�i độ ph� ph�n hơn đến c�c c�ng việc, v� bắt đầu b�y tỏ c�c � tưởng của họ tại hội đồng.� Ch�nh trong khung cảnh n�y m� một nh�m l�nh đạo bởi �ng B�i Quang Chi�u đ� th�nh lập Đảng Lập Hiến năm 1917, v� đ� tổ chức phong tr�o kinh tế chống lại người Hoa năm 1919.� C�c đ�i hỏi của họ về sự thay đổi kinh tế, gi�o dục, v� ch�nh trị đạt được một số th�nh c�ng nhỏ trong �t năm sau đ�.� Đặc biệt, trong năm 1922 ch�nh Hội Đồng Thuộc Địa được cải tổ: trước đ�y n� c� mười t�m hội vi�n, bao gồm cả s�u người Việt Nam được b�u cử chỉ bởi 1,500 người, c�c đại biểu từ c�c hội đồng x�; giờ đ�y, số hội vi�n của n� đ� gia tăng l�n 22, gồm cả 10 người Việt Nam, v� những người kể sau n�y sẽ được b�u cử theo quyền c�ng d�n cho ph�p khoảng 21,000 người được bỏ phiếu. 24� Điều n�y đ� mang lại lợi thế cho giới tinh hoa th�nh phố, chống lại ảnh hưởng trước đ�y của c�c th�n h�o th�n x�, v� c�c đảng vi�n Lập Hiển hưởng lợi từ sự thay đổi.� Trong năm 1926, họ c� được tất cả mười ứng cử vi�n của m�nh được b�u trong v�ng bỏ phiếu đầu ti�n, v� đ� c� thể khống chế phe Việt Nam trong hội đồng từ đ� cho đến cuộc b�u cử năm 1939, khi ba người theo phe Trotsky (Tạ Thu Th�u, Phan Văn H�m, v� Trần Văn Thạch) đ�nh bại c�c đối thủ phe Lập Hiến của họ.� Mặc d� hội đồng đ� kh�ng trao cho c�c hội vi�n Việt Nam của n� bất kỳ thực quyền n�o cả, n� phục vụ như một ti�u điểm cho một số hoạt động ch�nh trị đơn giản chỉ bởi sự kiện rằng n� li�n can đến c�c cuộc b�u cử, v� tư c�ch hội vi�n mang lại tư thế, nếu kh�ng phải l� điều n�o kh�c.� �t nhất mười lăm nh�n sĩ trong sổ tay 1943 đ� l� hội vi�n của hội đồng n�y v�o một thời khoảng n�o đ�.

����������� Sự ph�t triển định chế kh�c c� tầm quan trọng cho sự tăng trưởng sự nhận thức về ch�nh trị cũng như văn h�a trong giới tinh hoa l� sự tạo lập một số tờ b�o bằng Ph�p ngữ, được sở hữu, hay viết, bởi người Việt Nam.� Ở đ�y cũng vậy, Đảng Lập Hiến đ� d�nh được sự l�nh đạo, với tờ La Tribune Indig�ne (Diễn D�n Bản Xứ), th�nh lập năm 1917; n� tồn tại m�i cho đến năm 1925, v� sau n�y được thay thế bởi tờ La Tribune Indochinoise (1926-42).� Một tờ b�o ban đầu kh�c, với khuynh hướng cải c�ch l� tờ L��cho Annamite (Tiếng Vang An Nam) của �ng Nguyễn Phan Long (1920-31).� Trong suốt thập ni�n 1920, cũng c� một số tờ b�o Ph�p ngữ cấp tiến hơn, nổi bật l� tờ La Cloche F�l�e của Nguyễn An Ninh (1923-26); tờ L�Annam của �ng Phan Văn Trường (1926-28), tờ b�o m� cuộc sống được kết th�c trong một phi�n t�a ch�nh trị quan trọng x�t xử chủ bi�n của n� c�ng c�c k� giả kh�c; v� tờ La Lutte của �ng Tạ Thu Th�u (1934-39).� Nhưng cũng c� xuật hiện một số tờ b�o c�nh hữu thuộc c�c người Việt Nam c� quan t�m độc nhất l� cung cấp một ti�u điểm cho l�ng trung th�nh với ch�nh quyền thực d�n, th� dụ, tờ Progr�s Annamite (Sự Tiến Bộ Của An Nam) của �ng L� Quang Trinh [?], th�nh lập năm 1924 sau một cuộc tranh luận giữa �ng Trinh v� �ng B�i Quang Chi�u; v� tờ L�Impartial {Kh�ch Quan, V� Tư] (1917-42), th�nh lập bởi người Ph�p lai (m�tis] Henry Chavigny.� V�o thập ni�n 1930, cũng c� một nền b�o ch� t�ch cực bằng Việt ngữ, v� mặc d� b�o ch� quốc ngữ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] chịu c�c hạn chế kiểm duyệt gắt gao, sự xuất hiện của một tờ nhật b�o hay tuần b�o bị yểu tử sau một tờ kh�c cho thấy rằng đ� c� một nhu cầu gia tăng về văn chương của loại n�y, v� một kh�t vọng c�n t�ch cực hơn nữa để đ�p ứng nhu cầu.� Bảy tờ nhật b�o (hay ba lần một tuần) v� mười ch�n tờ tuần b�o bằng Việt ngữ hiện diện tại S�ig�n trong năm 1938 l� kết quả. 25 �Dĩ nhi�n, c�c tờ b�o n�y đ� kh�ng chỉ hạn chế v�o giới độc giả biết tiếng Ph�p; v� thế, ch�ng kh�ng thuộc, theo nghĩa nghi�m ngặt, phạm vi của cuộc nghi�n cứu n�y.� Nhưng cả b�o bằng tiếng Ph�p lẫn tiếng Việt đều quan trọng trong việc g�p phần tạo ra một loại b�u kh�ng khi ch�nh trị mới, trong đ� �c�ng luận� c� thể l� một yếu tố tiềm năng v� trong đ� một loại tinh hoa mới c� thể bắt đầu thao diễn ảnh hưởng văn h�a v� ch�nh trị.

����������� Song khi tất cả c�c điều n�y đ� được tr�nh b�y, kh�ng thể tr�nh khỏi sự kiện rằng c�c loại định chế mới n�y đ� ph�t triển tr�n nền tảng của một khu�n khổ định chế cổ xưa hơn.� Ho�ng triều v� c�c định chế li�n hệ kh�ng c�n quan trọng tại miền Nam; nhưng thị tộc truyền thống vẫn tồn tại v� c� thể c�n được tăng cường hơn bởi sự thăng trầm của một đất nước nằm dưới sự thống trị của ngoai bang. Nh�m th�n nh�n quyến thuộc hay thị tộc, trong thực tế, qu� mạnh � ngay trong năm 1943 � đến nỗi người ta phải th� nhận sau hết rằng một cuộc thăm d� giới tinh hoa Việt Nam qua tiểu sử của c�c c� nh�n kh�ng thể chứa đựng to�n thể sự thực về giới tinh hoa đ�.� Trong một số kh�a cạnh n�o đ�, đ�ng l� c� nh�n được tự do để tạo đời sống theo điều m� người ấy sẽ hay c� thể l�m.� Nhưng sự th�nh c�ng của một người kh�ng chỉ l� của ri�ng của �người đ�: c�c th�nh quả của n� được kỳ vọng sẽ được chia sẻ cho to�n thể gia tộc người đ�, v� t�i sản theo truyền thống l� một vấn đề của gia tộc chứ kh�ng phải cho c�c quyết định c� nh�n.� Kh�ng phải to�n thể th�n nh�n, dĩ nhi�n, sẽ thụ hưởng ở c�ng mức độ từ sự th�nh c�ng của một vi�n chức cao cấp hay một vi�n kỹ sư gi�u c�: những th�n th�ch gần nhất sẽ nhận được phần lớn, v� những kẻ kh�c c� lẽ chỉ nhận được một c�ch gi�n tiếp.��

����������� Mỗi người trong 133 đ�n �ng v� 8 phụ nữ m� sự nghiệp đ� l� chủ đề ch�nh của cuộc khảo s�t n�y phải được nh�n như một th�nh vi�n của một nh�m th�n nh�n quyến thuộc. Điều rất c� thể được lập luận rằng giới tinh hoa đ�ch thực của Nam Kỳ kh�ng bao gồm c�c c� nh�n nhiều cho bằng số c�c gia tộc nổi tiếng, trong phạm vi đ� những người n�y chỉ l� những c� nh�n trội bật nhất.� Sự hiểu biết như ch�ng ta c� được về c�c gia tộc n�y cho thấy ch�ng li�n kết với nhau qua h�n th�, thường xuy�n qua c�c sự kết h�n được d�n xếp theo c�ng tr�nh độ về kinh tế.� Trừ khi tất cả điều n�y được cứu x�t đến, một sự ph�n t�ch thống k� kh�ng th�i về c�c sự nghiệp c� nh�n c� thể mang theo c�ng với n� mối nguy hiểm của việc bị đ�nh lừa một c�ch nghi�m trọng./- ����������� � ���������������������

___

CH� TH�CH

1. Milton E. Osborne, The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), Ithaca, 1969.

2. H� Nội, 1943: Tập s�ch n�y rất hiếm, bản sao d�ng cho b�i viết n�y được chụp từ một vi phim tại Trung T�m East-West Centre, Honolulu.� Quyển s�ch được xếp theo mẫu tự ABC v� kh�ng đ�nh số trang. �

3. Về trường n�y v� c�c định chế gi�o dục ban đầu kh�c, xem Osborne, s�ch đ� dẫn, c�c trang 105, 160.

4. Osborne, s�ch đ� dẫn, trang 4.

5. D. Lancaster, The Emancipation of French IndoChina, London, c�c trang 209, 283, 431.

6. Annuaire Administratif d�Indochine 1938-9, từ trang 544 trở về sau.� Tuy nhi�n, trong số 159 người n�y, chỉ c� khoảng hai mươi người leo l�n ngạch cao cấp nhất, đốc phủ sứ.

7. Tham khảo, Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 � 1952, Paris, 1952, c�c trang 66, 173, 270.

8. Muốn c� b�i viết đầy đủ hơn về chức nghiệp của �ng ta, xem, R. B. Smith, �B�i Quang Chi�u and the Constitutionalist Party in French Cochinchina�, Modern Asian Studies, vol. 3: 2, April 1969, c�c trang 131-50. [Bản dịch sẽ được đăng tải nơi đ�y].

9. B�i Quang Đại [?], ở Mỏ C�y (chết năm 1930), La Tribune Indochinoise, 25 April 1930.

10. Anh Văn v� J. Roussel, Movements Nationaux et Lutte de Classes au Vietnam (Publications de la IVe Internationale), Paris, 1947?, trang 66; trưng dẫn một diễn văn của To�n Quyền Pasquier h�m 25 Th�ng Mười Một, 1931.� C�ng nguồn t�i liệu n�i rằng �ng B�i Quang Chi�u c� 1,500 mẫu đất; v� �ng Nguyễn Văn Ki�n [?] (được n�i đến b�n dưới, nơi trang 475 [của nguy�n bản], c� 5,500 mẫu đất.

11. Y. Henry, �conomie Agricole de l�Indochine (Hanoi, 1932).

12. Robert L. Sansom, The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnam, Cambridge, Mass., 1970, trang 24; tin tức dựa tr�n c�c cuộc phỏng vấn tại tỉnh Bạc Li�u.

13. Về lịch sử đạo Cao Đ�i, xem R. B. Smith, �An Introduction to Caodaism; I: Origins and Early History�, Bulletin of the School of Oriental and African Studies (London), xxxiii, 1969-70, từ trang 336 trở đi.� N� bao gồm c�c chi tiết về tiểu sử của c�c �ng Nguyễn Ngọc Tương, Phạm C�ng Tắc v� c�c nh�n vật Cao Đ�i h�ng đầu kh�c.

14. Về chi tiết sự nghiệp của �ng, xem Avenir du Tonkin, 5 May 1926; v� nhật b�o ở S�ig�n, tờ D�n Quyền, 15-16 August, 1964.

15. Tham khảo M. Durand v� Nguyễn Trần Hu�n, Introduction � la Litt�rature Vietnamienne, Paris 1969, c�c trang 125, 211-12; v� I. M. Sacks, �Marxism in Vietnam�, trong s�ch bi�n tập bởi F. N. Trager, Marxism in South-east Asia, Stanford, 1960, từ trang 127 trở về sau.

16. La Tribune Indig�ne (Saigon), 5, 29 July 1919.

17. C�ng nơi dẫn tr�n, 27 June 1918; 5 March 1928, v.v�

18. B. S. E. I., n. s., xiii, no. 2, 1938, c�c trang 253-63.

19. La Tribune Indig�ne, 15 Feb. 1921, 19 Sept. 1922, v� 27 Aug. 1928.

20. C�ng nơi dẫn tr�n, 5 Sept. 1919, v.v�

21. La Tribune Indochinoise, 11 Jan. 1932.

22. Roger Pinto, Aspects de l��volution Gouvernementale de l�Indochine Francaise, Saigon and Paris, 1946, từ trang 54 trở về sau.

23. C�ng nơi dẫn tr�n, từ trang 43 trở về sau.

24. C�ng nơi dẫn tr�n, v� �Rapport du Gouverneur de la Cochinchine, 4e trim., 1922�, Văn Khố Quốc Gia, S�ig�n, S. L. 366

25. Được đếm từ Mục Lục B�o Ch� Việt Ngữ 1865-1965, S�ig�n, 1966.�����������

-----

Nguồn: R. B. Smith, The Vietnamese �lite of French Cochinchina, 1943, Modern Asian Studies, Cambridge University, London, 6, 4(1972), c�c trang 459-482.

 

Ng� Bắc dịch

30/11/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009