Philip J. Piper 1, Hsiao-chun Hung 2, Fredelia Z. Campos 1,

Peter Bellwood 3, & Rey Santiago 4

 

MỘT SỰ DU NHẬP 4000 NĂM TRƯỚC

C�C CON HEO (LỢN) NH�

V�O QUẦN ĐẢO PHI LUẬT T�N:

C�C H�M � CHO SỰ T�M HIỂU

C�C LỘ TR�NH DI CƯ CỦA CON NGƯỜI

KHẮP V�NG Đ�NG NAM � HẢI ĐẢO

V� KHU VỰC WALLACEA (* a)

 

Ng� Bắc dịch

 

Nghi�n cứu mới về thời đạ T�n Thạch (Neolithic) của v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo đang mở rộng c�c khu�n mẫu cũ v� l�m cho ch�ng trở n�n đa trạng hơn, nh�n bản hơn � giống lịch sử hơn: con người v� c�c s�c vật c� thể di chuyển xuy�n qua c�c hải đảo bằng nhiều con đường.� Con lợn nh� l� một th�nh tố truy t�m quan trọng về con người thời đại Đ� Mới v� t�p qu�n du nhập v�o v�ng Th�i B�nh Dương, v� c�c t�c giả thảo luận đề t�i g�y tranh lu�n l� liệu c�c con heo nh� đầu ti�n đến được c�c h�n đảo ở Đ�ng Nam � từ Trung Hoa xuy�n qua Đ�i Loan hay l� từ b�n đảo Việt Nam l�n cận.� Lộ đồ (trajectory) DNA x�t nghiệm từ c�c con heo hiện đại nghi�ng về ph�a Việt Nam, nhưng c�ct�c giả đ� kh�m ph� con heo nh� h�a thạch ho�n hảo c� ni�n đại khoảng 4000 năm Trước Hiện Đại v� li�n hệ với vật thể văn h�a của Đ�i Loan.� Ch�nh v� thế, thật nguy hiểm nếu chỉ dựa v�o DNA kh�ng th�i � nhưng đ�y c� phải l� c�c c�u chuyện thay thế hay bổ t�c?

 

 

DẪN NHẬP

������ T�c giả Bellwood (1997, 2006) đ� đề xướng rằng c�c cộng đồng canh t�c di cư từ lục địa Trung Hoa đến Phi Luật T�n xuy�n qua Đ�i Loan v�o giữa c�c năm 4000 v� 4500 trước [Ka, trong nguy�n bản, c� lẽ l� chữ viết tắt của kiloannum, một đơn vị thời gian tương đương với một ngh�n (103) năm, ch� của người dịch], mang theo c�ng với họ đồ gốm v� c�c kỹ thuật m�i đ�.� Bằng chứng khảo cổ học, vi khuẩn, v� ngữ học khiến ta nghĩ rằng c�c người n�i tiếng Austronesian đ� du h�nh về ph�a trước từ Phi Luật T�n xuy�n qua Borneo về ph�a t�y v� Sulawesi về hướng nam, sau rốt chiếm ngụ to�n thể v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo (Island Southeast Asia: [viết tắt l�] ISEA), Melanesia, v� Oceania (Gray et al. 2009; Moodley et al. 2009).� Giả thuyết n�y đ� bị th�ch đố bởi một số c�c nh� khảo cổ học v� di truyền học đ� lập luận rằng c�c sự li�n hệ với Đ�ng Nam � Lục Địa, chứ kh�ng phải Đ�i Loan, chịu tr�ch nhiệm cho [sự lan truyền] c�c ng�n ngữ Austronesian v� n�ng nghiệp tại v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo (ISEA) (Oppenheimer 1999; Solheim 2006).� Đặc biệt, t�c giả Solheim (2006) đ� lập luận cho một sự tương đồng mạnh mẽ trong văn h�a vật thể T�n Thạch giữa Việt Nam v� Đ�ng Nam � Hải Đảo.� Ba gia s�c, con lợn (heo), con ch� v� con g�, c�ng với c�c con chuột (c�c lo�i hội sinh: commensals), tất cả đều c� nguồn bgốc tại � Ch�u lục địa v� theo truyền thống được nối kết với c�c cộng đồng canh t�c ban sơ của Đ�ng Nam � Hải Đảo.� Ch�ng thường được d�ng như một sự đại nhiệm cho việc x�c định c�c nguồn gốc v� c�c tuyến đường di cư của con người trong qu� khứ (Larson et al. 2005, 2007a, b & c; Liu et al. 2006; Marisoo Smith 2007; Dobney et al. 2008).� Sự t�i dựng c�c tuyến đường di cư của con người khắp v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo, sử dụng c�c con lợn (heo) nh� được căn cứ ch�nh yếu tr�n di truyền học, v� dựa gần như chuy�n độc tr�n c�c sự giải th�ch từ c�c sự ph�n bố d�n số hiện đại.� Căn cứ tr�n c�c kết quả n�y, c�c con lợn nh� sớm nhất v� được lan truyền rộng r�i nhất được du nhập v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo được gọi l� �N�i Th�i B�nh Dương: Pacific Clade�, v� được tin l� d�ng d�i duy nhất đ� vươn tới được c�c đảo của Th�i B�nh Dương, đi c�ng với nh�n số thực d�n.� Ch�ng r� r�ng c� nguồn gốc từ nơi n�o đ� tại b�n đảo Đ�ng Nam � v� được chuy�n chở xuy�n qua M� Lai, Sumatra, Java v� c�c h�n đảo tại khu vực Wallacea (Flores, Timor, Miluccas) (Larson et al. 2005, 2007 a & b; Dobney et al. 2008), ch�nh v� thế đ� bổ sung một số sự ủng hộ cho c�c tuy�n x�c của t�c giả Solheim về một li�n hệ Việt Nam/Đ�ng Nam � Hải Đảo.

������ C� nhiều kh� khăn trong việc ph�n biệt loại lợn nh� Sus scrofa với tổ ti�n hoang dại v� c�c th�n thuộc gần gủi kh�c chẳng hạn như nh�m S. verrucosis /scrofa trong t�i liệu khảo cổ v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo. �C�c mảnh xương lợn nh� duy nhất được ấn định ni�n đại một c�ch an to�n đến từ c�c h�n đảo nằm b�n ngo�i phạm vi tự nhi�n của c�c nh�m được ph�n loại n�y, chẳng hạn như đảo Flores, nơi m� ch�ng c� thể đ� được du nhập v�o giữa khoảng 3500 đến 4000 năm trước đ�y (Dobney et al. 2008; van den Bergh et al., đang in), tại miền bắc Moluccas v�o 3500 năm định chuẩn Trước Hiện Tại (cal BP) (Summerhayes 2007).� Một phả hệ thứ nh� của c�c con lợn (heo) nh� hiện đại được x�c minh tại Phi Luật T�n r� r�ng c� một nguồn gốc rất kh�c biệt, từ Đ�ng � (Trung Hoa), v� đ� được chuyển vận xuy�n qua Đ�i Loan v�o Quần Đảo Phi Luật T�n, v� sau đ� đ�n Melanesia (Larson et al. 2007 a & b; Dobney et al. 2008).� Trong sự vắng v�ng của bất kỳ bằng chứng khảo cổ n�o cho biết việc ấn định thời điểm của sự du nhập lợn nh� v�o Phi Luật T�n, t�c giả Dobney v� c�c� đồng t�c giả kh�c (et al.) (2008) đ� n�u � kiến rằng sự ph�t t�n do con người l�m trung gian n�y c� lẽ muộn hơn sự di chuyển của �N�i Th�i B�nh Dương: Pacific Clade� của c�c con lợn từ lục địa đến Australasia v� Th�i B�nh Dương.

������ C�c cuộc khai quật gần đ�y tại địa điểm Nagsabaran thuộc đảo Luzon miền bắc Phi Luật T�n đ� mang lại một sưu tập xương tuy nhỏ nhưng quan trọng c� ni�n đại thời đại Đ� Mới v� Đồ Kim Loại.� Lẫn lộn trong đống xương người nhặt được gồm cả xương d� m�u n�u bản xứ loại Cervus mariannus c�ng với c�c loại c�, phần lớn loại Sparidac, r�a v� hai loại lợn kh�c nhau (Piper et al. 2009).� Một loại được x�c minh l� lợn nh� loại Sus scrofa / verrucosus v� được ấn định ni�n đại bằng x�t nghiệm carbon trực tiếp sử dụng một chiếc răng h�m thứ tư duy nhất từ 4500 � 4200 năm định chuẩn Trước Hiện Tại (cal BP). �Bằng chứng mới n�y từ Nagsabaran khiến ta nghĩ rằng c�c con lợn nh� c� thể đ� được du nhập từ Đ�i Loan v�o miền bắc Phi Luật T�n trước khi c� sự di chuyển của �N�i Thại B�nh Dương: Pacific Clade� từ lục địa đến xuy�n qua v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo, khu vực Wallacea v� tiếp đến v�ng Australsaia v� Th�i B�nh Dương.� Điều n�y kế đ� mang c�c h�m � cho sự hiểu biết của ch�ng ta về việc ấn định thời điểm của �c�c sự du nhập lợn (heo) v� c�c cuộc di cư của con người từ lục địa v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo.

 

Bối Cảnh Khảo Cổ

������ Địa điểm khảo cổ của Nagsabaran bao gồm g� đống vỏ s� lớn nằm b�n tr�n c�c trầm t�ch ph� sa tọa lạc tại bờ ph�a nam của lạch Zabaran (hay Lạch Nagsabaran Creek), gần chỗ nối v�o S�ng Cagayan ở ph�a t�y, khoảng 22 c�y số ngược d�ng kể từ cửa s�ng Cagayan ở Barangay Alaguia, Lal-lo, miền bắc đảo Luzon, Phi Luật T�n (H�nh 1).� Được gi�p ở ph�a bắc bởi Lạch Nagsabaran v� c�c c�nh đồng l�a nước ở ph�a nam, g� đống vỏ s� Nagsabaran c� một cấu h�nh giống như một h�n đảo, biệt lập, tại đồng bằng ph� sa, d�i khoảng 600 m�t, rộng 100 m�t v� với một độ s�u tối đa 3 m�t (H�nh 2A).� C�c vỏ s� thu hồi được trong năm 1996 đ� mang lại một ni�n đại bằng x�t nghiệm C14 l� 2950 � 50 Trước Hiện Tại (xem Tsang et al. 2002; Hung 2008).� Một cuộc đ�o sới t�m hố thử nghiệm kh�c nữa bởi một to�n Phi Luật T�n � Đ�i Loan trong năm 2000 v� 2001 thu được một số lượng lớn lao c�c chế t�c phẩm gồm đồ gốm, c�c phiến đ�, c�c hoa tai v�ng tr�n gần như kh�p kin ho�n to�n bằng đất s�t, c�c đồ trang sức kh�c bằng xương, răng v� vỏ s�, v� c�c x�u chuỗi bằng thủy tinh v� đ�.� Căn cứ tr�n lớp li�n tiếp của địa tầng kết tụ chưa khai quật, địa điểm c� thể được chia th�nh hai loạt trầm t�ch ri�ng biệt: một thượng tầng (upper horizon) Thời Đại Kim Loại của g� đống vỏ s� nằm s�u, được ti�u biểu bởi c�c đồ s�nh (ceramics) m�u n�u hơi đỏ v� hơi đen v� c�c x�u chuỗi v� v�ng đeo tay bằng thủy tinh, nằm phủ tr�n c�c kho�ng s�ng b�n ph� sa T�n Thạch với đồ gốm (pottery) tr�ng b�n ngo�i m�u đỏ, c�c hoa tai gần kh�p k�n bằng đất s�t, v� một v�ng đeo tay bằng đ� nephrite [loại đ� ngọc thạch rẻ tiền, m�u sắc thay đổi từ trắng đến xanh đậm, trước đ�y đeo n� l� một c�ch được nghĩ để chữa trị bệnh thận, ch� của người dịch] (Hung 2005, 2008; Iizuka & Hung 2005).� Một loạt 20 ni�n đại x�t nghiệm carbon (18 chất than, một vỏ s� ở s�ng, v� một mảnh xương s�c vật) cho thấy rằng tầm khoảng ni�n đại cho đống vỏ s� trong giới hạn 2 ni�n đại sớm nhất v� muộn nhất [? tạm dịch, nguy�n bản �at the 2-sigma outer limit�, người dịch kh�ng r� nghĩa của thuật ngữ� trong khảo cổ học] nằm giữa 2100 năm định chuẩn Trước Hiện Tại v� 1500 năm định chuẩn Trước Hiện Tại, trong khi c�c lớp đất b�n được ấn định ni�n đại ở tầm khoảng v�ng ngo�i nằm giữa 4000/3800 năm định chuẩn Trước Hiện Tại v� 2600 năm định chuẩn Trước Hiện Tại (Hung 2008).� Trong khoảng trung đến hậu kỳ kỷ nguy�n Holocene, điều được ước lượng rằng con s�ng Cagayan ở độ cao �t nhất hơn 1 m�t so với mức hiện tại của n� v� chỉ sau 2000 năm định chuẩn Trước Hiện Tại, khi mực nước r�t xuống, c�c đống g� vỏ s� mới t�ch tụ dọc theo c�c bờ của con s�ng (Mijares 2007).� V� thế c� thể l� một số hố cắm trụ (postholes) được x�c định tại Nagsabaran đại diện cho c�c di t�ch của c�c cấu tr�c T�n Thạch c� s�n n�ng cao, nh� ra ngo�i, b�n tr�n c�c bờ cạn của con s�ng (Armand Mijares, th�ng tin c� nh�n).

������ Để hiểu r� hơn c�c tầng lớp văn h�a của 4000 năm qua tại Thung Lũng Cagayan, một vụ cộng t�c thứ ba của cuộc điều tra khảo cổ đ� được thực hiện tại Nagsabaran, giữa Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi v� Bảo T�ng Viện Quốc Gia Phi Luật T�n, trong c�c Th�ng Mười Một v� Mười Hai năm 2004.� C�c sự khai quật, ở gần c�c gờ của đống g�, gồm một khu vu�ng 4 x 4 m�t (Hố 9), v� một khu chữ nhật (2 x 4 m�t) (Hố 10), cả hai được đ�o s�u xuống tới 2.5 m�t.� Sự kết tụ địa tầng rất giống với c�c địa điểm g� đống vỏ s� kh�c tại Thung Lũng Cagayan, với một lớp b�n tr�n dầy 1 m�t của g� (đống) vỏ s� (n�ng hơn khi tiến đến gần ra ph�a c�c gờ của g� đống) nằm tr�n ba lớp ph� sa kh�c biệt gộp chung dầy chừng 1 m�t (Hung 2008).� C�c lớp ph� sa bị cắt ngang bởi nhiều lỗ đ�ng trụ v� c�c hố ch�n cất, nhiều hố từ g� (đống) vỏ s� Thời Đại Kim Loại b�n tr�n (H�nh 2B).

������ C�c kết quả của cuộc điều tra x�c nhận c�c sự giải th�ch trong c�c cuộc nghi�n cứu trước đ�y v� x�c minh c�c sự kh�c biệt r� rệt trong c�c diễn biến của c�c loại kh�c nhau trong vật thể văn h�a từ g� đống vỏ s� v� lớp bất b�n nằm b�n dưới.� Th� dụ, g� đống vỏ s� chứa đựng một tập hợp đồ gốm với một tỷ lệ cao c�c mảnh vỡ m�u n�u hơi đỏ v� hơi đen c�ng với c�c x�u chuỗi v� v�ng đeo tay bằng thủy tinh, c�c kh� cụ bằng sắt, c�c vụ ch�n cất bằng chum (vại) v� c�c sự mai t�ng k�o căng ra kh�ng c� đầu.� C�c lớp b�n ph� sa b�n dưới, mặt kh�c, chứa đựng c�c mảnh c� lớp tr�ng ngo�i m�u đỏ, c�c mảnh v� m�u n�u nhạt hay m�u v�ng sậm th� sơ, c�c hạt hay đĩa tr�n l�m x�u chuỗi (spindle whorls), c�c hoa tai v� mặt đeo d�y chuyền gần kh�p k�n bằng đất s�t nung, v� phiến đ� v� r�u, vật liệu rất giống như tại Đ�i Loan.� Sự chuyển tiếp giữa g� đống vỏ s� v� lớp b�n b�n dưới được x�c định r� r�ng bởi một thời kỳ ngắn bỏ phế địa điểm (Tầng 2 trong H�nh 2B).

H�nh 1: Vị tr� của địa điểm Nagasbaran tại miền bắc của đảo Luzon, Phi Luật T�n.

 

C�c Mảnh Xương S�c Vật Từ Nagsabaran

������ Tổng cộng, c�c Hố 9 v� 10 tại Nagsabaran đ� thu gom được 1191 mảnh xương v� răng.� Sự ph�n bố theo địa tầng của c�c xương s�c vật thu hồi từ cuộc khai quật tương ứng rất ch�nh x�c với c�c đỉnh tại c�c điểm tập trung c�c mảnh vỡ được x�c định bởi t�c giả Hung (2008), cho thấy hai giai đoạn ch�nh trong hoạt động của con người tại địa điểm.� Tập hợp xương trẻ hơn gồm 802 mảnh (67% của tổng số tập hợp) th� lẫn lộn với đống vỏ s� lớn v� c� độ s�u từ gần s�t bề mặt hiện đại cho tới khoảng 0.8 m�t b�n dưới bề mặt hiện đại (below modern ground: viết tăt l� bmg).� Phần t�ch lũy xương cổ nhất v� s�u nhất chỉ bao gồm 389 m�nh (33%) v� nằm ở trong c�c trầm t�ch đất s�t b�n giữa khoảng 1.10 m�t v� 1.50 m�t b�n dưới bề mặt hiện đại.� Qu� tr�nh h�a thạch của c�c tập hợp xương được tr�nh b�y chi tiết trong Piper et al. (2009).

������ Cả hai giai đoạn của hoạt động tại địa điểm bao h�m một bộ tương tự của sự ph�n loại lo�i c� xương sống bao gồm cả nai v� c� (Piper et al. 2008).� Đến nay, tuy thế, loại động vật c� v� to lớn th�ng thường nhất trong t�i liệu khảo cổ l� con lợn (heo), chi�m tới khoảng 75% (227) trong tổng số c�c mảnh xương loại động vật c� v� x�c định được.� Con lợn (heo) c� mặt khắp c�c lớp địa tầng, từ tr�n cao 50 mm xuống tới độ sau 1.60 m ở Hố số 9, con số kể sau tương ứng với một độ tuổi tiềm hữu khoảng 4000 Trước Hiện Tại (xem Hung 2008).

������ C�c sự ph�n t�ch số đo h�nh thể sinh vật cho thấy r� r�ng rằng hai chủng loại lợn (heo) kh�c nhau đ� hiện diện trong khu�n khổ tập hợp khảo cổ, được biện biệt dễ d�ng bởi k�ch thước v� h�nh thể c�c chiếc răng của ch�ng như lo�i lợn c� nhiều mụn cơm đặc hữu của Phi Luật T�n Sus philipensis v� một phần tử du nhập của nh�m lợn [c� t�n khoa học l�] Sus scrofa / verrucosus (xem ch� th�ch kỹ thuật đ�nh k�m tr�n mạng tại đia chỉ http://antiquity.ac.uk/projgall/piper/).� Việc ấn định ni�n đại bằng x�t nghiệm 14C trực tiếp một chiếc răng h�m thứ tư h�m dưới mang lại một ni�n đại l� 3940 � 40 Trước Hiện Tại (WK-23397 [năm kh�ng định chuẩn: uncal] hay 4500-4200 năm định chuẩn Trước Hiện Tại (OxCal Version 3), hỗ trợ cho c�c ni�n đại c� được tr�n than đ� thuộc c�ng địa tầng, v� ni�n đại biểu tượng của c�c nh�n t�c phẩm li�n hệ.

 

H�nh 2: A) Vị tr� của c�c r�nh khai quật xuy�n qua g� đống vỏ s� Nagsabara.� C�c Hố số 9 v� 10 tọa lạc tại g�c dưới đ�y b�n phải của h�nh vẽ.�

 

B) C�c lớp địa tầng của Hố số 9.� Thượng tầng trầm t�ch g� (đống) vỏ s�, phủ tr�n một tầng đất s�t mỏng (0.9 � 1.1 mm), ph�n ranh một sự đứt đoạn trong hoạt động, b�n dưới lớp n�y l� một lớp đất s�t b�n chứa đựng sự tập trung kh� nhiều đồ gốm tr�ng men m�u đỏ b�n ngo�i v� văn h�a vật thể kh�c gắn liền với thời đại T�n Thạch, kể cả c�c con lợn nh� (theo Hung 2008).��

 

Thảo Luận

������ C�c loại động vật c� v� to lớn duy nhất sở đắc bởi c�c kẻ chiếm ngụ Thời Đại T�n Thạch v� Kim Loại tại Nagsabaran r� r�ng l� nai v� lợn (mặc d� xương sọ của một con thuộc loại nhai lại c� sừng rỗng [trong nguy�n bản l� bovid, chỉ động vật thuộc loại bovidae, chẳng hạn như b�, cừu, d�, linh dương, ch� của người dịch] đuợc thu hồi từ lớp s�u hơn ở Hố số 1, c�ng với đồ gốm tr�ng m�u đỏ, trong cuộc khai quật năm 2001.� Sự hiếm hoi của giới động vật với th�n x�c to lớn li�n hệ tới vị tr� sinh học địa dư biệt lập của đảo Luzon trong nh�m đảo khu vực Wallacea (xem Heaney 1985).� Từ một mẫu nhỏ b� của c�c phần tử răng� thu hồi được, r� r�ng rằng răng của c�c con lợn v� d� rừng chiếm nhiều hơn một ch�t số răng của c�c con lợn nh�.� Sự kiện n�y khiến ta nghĩ rằng việc săn bắn th� hoang đ� đ�ng g�p số lượng lớn lao nhất chất protein (kh�ng kể lo�i s� hến t�m cua (shellfish) trong Thời Đại Kim Loại) cho sự dinh dưỡng trong suốt cả hai thời kỳ chiếm ngụ tại Nagsabara.� Tuy nhi�n, tại v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo (cũng như tại nhiều vị tr�) ch�ng ta phải thận trọng kh�ng n�n g�n tầm quan trọng cho một �t�i nguy�n� đặc biệt từ sự phong ph� v� tần số xuất hiện của n� trong t�i liệu khảo cổ kh�ng th�i.� Nhiều d�n số bản xứ tại c�c h�n đảo ph�n biệt giữa c�c con lợn rừng được d�ng cho c�c mục đ�ch ăn thịt tổng qu�t, v� lợn nh� được giữ được biệt cho c�c chức năng tế lễ v� nghi thức (Piper, th�ng tin c� nh�n; cũng xem Hayden 2003 v� Barker 2007 để thảo luận).� Một sự hạ s�t �t hơn c�c con lợn nh� nhiều phần l�m cho di chỉ của ch�ng k�m phong ph� hơn trong t�i liệu khảo cổ nhưng c� thể che giấu tầm quan trọng về � thức hệ v� x� hội tổng qu�t của ch�ng.

������ Sự kh�m ph� c�c xương lợn nh� c� ni�n đại trước 4000 Trước Hi�n Tại tại Phi Luật T�n c� c�c h�m � quan trọng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về sự du nhập c�c con heo xuy�n qua v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo.� T�c giả Dobney et al (2008) đ� tr�nh b�y một c�ch kh� thuyết phục rằng �N�i Th�i B�nh Dương� của c�c con lợn đ� được du nhập bởi c�c nh�n số di cư đến New Guinea v� c�c đảo Th�i B�nh Dương từ nơi n�o đ� tại Việt Nam tr�n lục địa th�ng qua một tuyến đường chạy ngang b�n đảo M� Lai, Sumatra, Java, v� Chuỗi Đảo Tiểu Sunda (Lesser Sunda Chain).� Họ c�n lập luận xa hơn rằng sự vắng b�ng ho�n to�n của c�c loại yếu tố di truyền thuộc c�ng một �n�i Th�i B�nh Dương� (�Pacific Clade� haplotypes) trong c�c mẫu lợn từ Trung Hoa, Đ�i Loan v� Phi Luật T�n khiến ta nghĩ rằng nếu c�c d�n ch�ng thời đại T�n Thạch tiền v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo xuy�n qua ngả n�y, như được đề xướng theo truyền thống bởi M� H�nh �Ngo�i Đ�i Loan� (Out-of-Taiwan� Model), khi đ� nhiều phần rằng họ đ� kh�ng chuy�n chở c�c con lợn đi c�ng với họ (Larson et al. 2007; Dobney et al. 2008).� Tham chiếu c�ng c�c nghi�n cứu về di truyền học, Dobney v� c�c t�c giả kh�c (2008: 70) n�u � kiến rằng �một sự ph�t t�n do con người trung gian, ri�ng biệt, c� lẽ sau n�y li�n can đến c�c con lợn nh� v�ng lục địa Đ�ng � di chuyển xuy�n qua Phi Luật T�n đến Micronesia�.

������ Sự kh�m ph� c�c con lợn tại Nagsabaran chứng tỏ một c�ch quả quyết rằng c�c con lợn nh� trong thực tế đ� được du nhập v�o Phi Luật T�n muộn nhất v�o khoảng 4000 năm định chuẩn Trước Hiện Đại.� C�c k�t luận n�y được ủng hộ bởi văn h�a vật thể li�n kết đ� c� c�c sự tương đồng mạnh mẽ với miền nam v� đ�ng nam Đ�i Loan, nguồn gốc đề xường của c�c d�n cư thời đại T�n Thạch tại Phi Luật T�n v� phần c�n lại của Đ�ng Nam � Hải Đảo, Melanesia v� Th�i B�nh Dương (Bellwood 2006; Hung 2008).� Điều n�y cung cấp một chỉ dẫn vững mạnh rằng c�c con lợn nh� đ� được du nhập từ Trung Hoa xuy�n qua Đ�i Loan với bằng chứng sớm nhất của c�c văn h�a T�n Thạch.� Một c�ch đầy hiếu kỳ, c�c nguồn gốc của c�c con lợn nh� sớm nhất tại đảo then chốt Sulawesi, ph�a nam của Phi Luật T�n v� ph�a đ�ng của Borneo, r� r�ng vẫn chưa được giải quyết.� Kh�ng c� c�c loại yếu tố di truyền thuộc c�ng một n�i Đ�i Loan/Phi Luật T�n hay �n�i Th�i B�nh Dương� được b�o c�o bởi Larson v� c�c t�c giả kh�c (2005, 2007a) xem ra sẽ xuất hiện.� Sự ph�n t�ch mtDNA [viết tắt của mitochondrial DNA, chỉ chất mitochondrial deoxyribonucleic acid, ch� của người dịch] thời cổ cho thấy rằng con lợn c� mụn cơm bản xứ Sulawesi Sus celebensis xuất hiện tại một đảo kh�c của khu vực Wallacea, đảo Flores, v�o khoảng 7000 Trước Hiện Tại (căn cứ tr�n c�c ni�n đại than đ� li�n hệ) nhưng cho đến nay chưa c� bằng chứng r� r�ng l� liệu điều n�y c� đại diện cho sự di cư của c�c con lợn rừng, hay c�c th� vật được nu�i tại nh� ở Sulawesi trong sơ kỳ Kỷ Nguy�n Holocene như được đề xướng bởi Groves (1983) (cũng xem Dobney et al. 2008 v� van den Bergh et al., đang in) hay kh�ng.� Đảo Sulawesi c� một số địa điểm �T�n Thạch� được hay biết sớm nhất tại Đ�ng Nam � Hải Đảo (Bellwood 1997) v� một văn h�a vật thể kh� giống với c�c văn h�a được x�c định tại Quần Đảo Phi Luật T�n (Simanjuntak et al. 2008), song, với bằng chứng hiện thời, con người đ� kh�ng du nhập c�c con lợn nh� theo hoặc bất kỳ chiều hướng n�o v�o h�n đảo c�ng với c�c h�nh thức kh�c của văn h�a vật thế T�n Thạch.� C� thể, nếu giống lợn S. celebensis đ� kh�ng sẵn được thuần h�a, n� đ� được thuần h�a tại địa phương trong thời chuyển tiếp T�n Thạch.

������ Tại Borneo, bằng chứng di truyền học từ c�c con lợn nh� hiện đại khiến ta nghĩ rằng ch�ng hoặc đ� được thuần h�a một c�ch độc lập tr�n đảo, hay con c�i của giống lợn rừng bản địa S. barbatus đ� được lai giống với giống lợn nh� S. scrofa được du nhập từ lục địa (Larson et al. 2007a).� Bằng c�ch n�y hay c�ch kia, c�c dữ liệu di truyền h�m � rằng ch�ng kh�c biệt với cả �n�i Th�i B�nh Dương� lẫn c�c con lợn từ Đ�i Loan v� Phi Luật T�n.� Con lợn nh� l�u đời nhất từ Borneo hiện thời bao gồm c�c di chỉ của một con lợn duy nhất từ Động Megala Cave, cửa E (gần với Động Niah Cave) v� c� ni�n đại từ khoảng 3200 Trước Hiện Tại (Medway 1973; Cucchi et al. 2009).� Tuy nhi�n, ni�n đại theo x�t nghiệm 14C được lấy từ di cốt xương sườn con người v� v� thế phải được xem x�t với một số sự thận trọng.� D� thế, một số lượng lợn nh� hay được chăn nu�i c� ni�n đại cuối thi�n ni�n kỷ thứ ba Trước Hiện Tại đ� được x�c định tại Gan Kira, lối dẫn v�o phức hợp Động Niah Cave nơi ch�ng r� r�ng đ� được kết hợp v�o c�c hệ thống cắt cỏ nu�i th� hiện hữu trước đ� (Piper, c�c dũ liệu chưa ấn h�nh).� C� th� dụ Borneo v� Sulawesi n�u l�n c�u hỏi rằng liệu c�c d�n số di cư sớm nhất �khắp c�c đảo của Đ�ng Nam � c� nhất thiết đ� chuy�n chở c�c gia s�c trong c�c diễn biến thực d�n đầu ti�n hay kh�ng, hay trong một số trường hợp sự thuần h�a địa phương đ� diễn ta trước sự du nhập.

Kết Luận

������ C�c kết quả của c�c cuộc nghi�n cứu kết hợp về khảo cổ th� vật, đo lường h�nh thể v� di truyền được thảo luận ở đ�y khi�n ta nghĩ rằng c�c sự thụ đắc v�/hay sự thuần h�a địa phương của c�c con lợn tại v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo l� c�c tiến tr�nh phức tạp.� Chắc chắn, nếu c�c sự giải th�ch của ch�ng ta đứng vững trước sự nghi�n cứu v� kiểm tra s�u xa hơn nữa, r� r�ng rằng c�c người d�n thời đại T�n Thạch với c�c li�n hệ với Đ�i Loan đ� du nhập c�c con lợn nh� v�o miền bắc Phi Luật T�n trong cuối thi�n ni�n kỷ thứ năm, đầu thi�n ni�n kỷ thứ tư Trước Hiện Tại c�ng với c�c th�nh phần kh�c của một văn h�a vật thể T�n Thạch.� Một sự di cư thứ nh� c�n s�u rộng hơn của c�c con lợn nh� (�N�i Th�i B�nh Dương) v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo xuy�n qua Sumatra v� Java tới Chuỗi Đảo Tiểu Sunda (Lesser Sunda Chain) giữa 4000 năm Trước Hiện Tại v� 3500 năm Trước Hiện Tại.� C�c giống lợn kh�c c� thể đ� được thuần h�a một c�ch độc lập tại Borneo v� Sulawesi ở c�c ni�n đại chưa được hay biết hiện nay.

������ C�c cạm bẫy của việc dựa ch�nh yếu tr�n di truyền học hiện đại gần đ�y đ� được phơi b�y trong c�c cuộc nghi�n cứu tổng hợp DNA v� aDNA [?] hiện đại về c�c nguồn gốc của c�c con lợn �u Ch�u v� Cận Đ�ng (Larson et al. 2007c).� C�c nghi�n cứu n�y x�c định c�c d�ng giống di truyền cổ thời trong c�c mẫu khảo cổ thuộc c�c miền địa dư nơi m� ch�ng kh�ng c�n hiện hữu, thay đổi ho�n to�n c�c sự hiểu biết của ch�ng ta về c�c m� thức di cư của con người v� c�c � tưởng về sự thuần h�a cấp miền độc lập.� C�c th� dụ Phi Luật T�n v� �u Ch�u chứng tỏ rằng c�ch duy nhất để x�c định c�c nguồn gốc v� c�c d�ng giống của c�c gia s�c cổ thời ng� hầu đua ra c�c sự suy luận về c�c tuyến đường trước đ�y của sự di cư v� tương t�c của con người l� xuy�n qua sự sưu tầm di truyền v� nghi�n cứu khảo cổ th� vật được kết hợp với nhau./-

***

Cảm Tạ

������ C�c t�c giả xin cảm ơn Bảo T�ng Viện Quốc Gia Phi Luật T�n về việc cho ph�p tiếp cận với c�c tập hợp khảo cổ từ Nagsabaran v� chấp nhận hy sinh chiếc răng h�m thứ tư cho việc ấn định ni�n đại bằng x�t nghiệm radiocarbon. �Ch�ng t�i biết ơn s�u xa �ng Larry Heaney v� c�c đồng sự tại Bảo T�ng Viện Filed về Lịch Sử Thi�n Nhi�n (Field Museum of Natural History) tại Chicago, về sự cho ph�p tiếp cận vật liệu đối chiếu dưới sự bảo quản của họ, v� cho việc cung cấp c�c dữ liệu v� h�nh ảnh về giống lợn Sus scrofa hiện đại tại L�o v� giống S. philippensis từ Zamboanga được sử dụng trong cuộc nghi�n cứu n�y.� Ch�ng t�i cũng biết ơn �ng Armand Mijares (Đại Học Phi Luật T�n: University of the Philippines), �ng Terry O�Connor (Đại Học University of York), v� Quận C�ng Earl of Cranbrook về việc đọc c�c bản thảo ban đầu của b�i viết n�y hay c�c phi�n bản của b�o c�o chưa được ấn h�nh m� bản thảo đ� căn cứ tr�n đ�.� Nhiều sự cảm ơn cũng xin gửi tới �ng Jonathan Jacar của Bảo T�ng Viện Quốc Gia Phi Luật T�n l� người đ� ki�n nhẫn giới thiệu c�c mẫu đ�c sao ch�p của chiếc răng h�m con lợn trước khi đệ tr�nh n� cho sự x�t nghiệm carbon để ấn định ni�n đại.� Tiến Sĩ Philip Piper cũng xin cảm ơn Văn Ph�ng Ph� Viện Trưởng Nghi�n Cứu v� Ph�t Triển (OVCRD), Đại Học Phi Luật T�n về việc cấp ng�n khoản cho dự �n nghi�n cứu n�y.� T�c giả Hsiao-chun Hung cảm ơn Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi về việc ủng hộ cuộc nghi�n luận �n Tiến Sĩ của c� tại Nagsabaran.� ����������

***

T�I LIỆU THAM KHẢO

Barker G. 2007.� The agricultural revolution in prehistoty: why did foragers become farmers.� Oxford: Oxford University Press.

Bellwood P.� 1997.� Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago.� Honolulu (HI): University of Hawai�i Press. ���������

Bellwood, P. �2006.� First farmers: The origins of agricultural societies.� Oxford: Blackwell.

Bellwood, P. & P. White� �2005.� Domesticated pigs in eastern Indonesia.� Science 309(5733): 381.

Cucchi, T., K. Dobney & M. Fujita, 2009.� New insights into pig taxonomy, domestication and human dispersal in Island South East Asia through molar shape analysis: the Sus remains from Niah, and Lobang kudih caves in Sarawak.� International Journal of Osteoarchaeology 19(4): 508-30.

Dobney, K., T. Cucchi & G. Larson.� 2008.� The pigs of Island Southeast Asia and the pacific new evidence for taxonomic status and human-međiate dispersal.� Asian Perspective 47(1): 59-74.

Gray, R. D., A. J. Drummond & S. J. Greenhill.� 2009.� Language phylogenies reveal expansion pulses and pauses in Pacific settlement.� Science 323: 479-83.

Groves, C.� 1983.� Pigs east of the Wallace Line.� Journal de la Soci�t� des Oc�anistes 39:105-119.

Hayden, B.� 2003.� Were luxury foods the first domesticates? Ethnoarchaeological perspectives from Southeast Asia.� World Archaeology 34(3):458-69.

Heaney, I. R.� 1985.� Zoogeographic evidence for miđle and late Pleistocene land bridges to the Philippine Islands.� Modern Quaternary Research in Southeast Asia 9: 127-43.

Hung, H. C.� 2005.� Neolithic reaction between Taiwan and northern Luzon: the pottery and jade evidence from the Cagayan Valley.� Journal of Austronesian Studies 1(I): 109-33.

Hung, H. C.� 2008.� Migration and cultural interaction in southern coastal China, Taiwan and the northern Philippines.� 3000 BC� to AD 1000: the early history of the Austronesian-speaking population.� Luận �n Tiến Sĩ kh�ng được ấn h�nh, Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi.

Iizuka, Y. & H. C. Hung.� 2005.� Archaeomineralogy of Taiwan nephrite: sourcing study of nephrite artifacts from the Philippines.� Journal of Austronesian Studies I: 35-81.

Larson, G., K. Dobney, U. Albarella, M. Fang, E. Matisoo-Smith, J. Robins, S. Lowden, H. Finlayson, T. Brand, E. Willersley, P. Rowley-Conwy, L. Anderson, L & A. Cooper.� 2005.� Worldwide phylogeny of wild boar reveals multiple centers of pig domestication.� Science 307: 1618-21.

Larson, G., T. Cucchi, M. Fujita, �E. Matisoo-Smith, J. Robins, Anderson, B. Rolette, M. Spriggs, G. Dolman, Tae-Hun Kim, Nguyễn Thị Diệu Th�y, E. Randi, M. Doherty, Rokus Awe Due, R. Bolet, T. Djublantono, B. Griffin, M. Intoh, E. Klane, P. Kirch, Kuang-ti Li, M. Morwood, L. Pedrina, P. J. Piper, R. J. Rabett, P. Shooter, G. Van Den Bergh, E. West, S. Wickler, J. Yuan, A. Cooper & K. Dobney.� 2007a.� Phylogeny and ancient DNA of Sus provides new insights into Neolithic expansion in Island Southeast Asia and Oceania.� Proceedings of the National Academy of Sciences USA 104(12): 4834-9.� ������

Larson, G., U. Albarella, K. Dobney & P. Rowley-Conwy.� 2007b.� Current view on Sus phylogeography� and pig domestication as seen through modern mtDNA studies, trong s�ch bi�n tập bởi U. Albarella, K. Dobney, A. Ervynck & P. Rowley-Conwy, Pigs and humans: 10,000 years of interactions: 30-41.� Oxford: Oxford University Press.

Larson, G., U. Albarella, K. Dobney, P. Rowley-Conwy, J. Schibler, A. Tresset J-D. Vigne, C.J. Edwards, A. Schlumbaum, A. Dinu, A. Balasescu, G. Dolman, D.G. Bradley & A. Cooper, 2007c. Pigs, ancient DNA and the origins of Neolithic farming in Europe. Proceedings of the National Academy of Sciences USA 104(39): 15276-81.

Liu, Y.-P., G.-S. Wu, Y.-G, Yao, Y.-W. Miao, G. Luikart, M. Baig, A. Beja-Periera, Z.-L. Ding, M.G. Palanichamy & Y.-P. Zhang.� 2006. Multiple maternal origins of chickens: out of the Asian jungles. Molecular Phylogenetics and Evolution 38: 12-19.

Matisso-Smith, E. 2007. Animal translocations, genetic variation, and the human settlement of the Pacific, trong s�ch bi�n tập bởi J. Friedlaender (ed.) Genes, language and culture history in the southwest Pacific: 10-35: Oxford: Oxford University Press.

Medway, LORD. 1973. The antiquity of domesticated pigs in Sarawak. Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society 46: 169-78.

Mijares, A.S.B. 2007. Unearthing prehistory: the archaeology of northeastern Luzon, Philippine Islands (British Archaeological Reports International Series 1613). Oxford: John & Erica Hedges.

Moodley, Y., B. Linz, Y. Yamaoka, H.M. Windsor, S. Breurec, J.-Y. Wu, A. Maady, S. Bernhoft, J.-M. Thiberge, S. Phuanukoonnon, G. Jobb, P. Siba, D.Y. Graham, B.J. Marshall & M. Achtman. 2009. The peopling of the Pacific from a bacterial perspective, Science 323: 527-30,

Oppenheimer, 8. 1999. Eden in theEast. Phoenix (AZ): Orion.

Piper, P. J., F. Z. Campos & H.-C. Hung. 2009. A study of the animal bone recovered from pits 9 & 10 at the site of Nagsabaran in northern Luzon, Philippines. Hukay 14: 47-90.

Solheim, W.G. 2006. Archaeology and culture in Southeast Asia: unravelling the Nusantau. Quezon City: University of the Philippines Press.

Simanjuntak, T., M.J. Morwood, F.S. Intan, I. Machmud, K. Grant, N. Somba, B. Akw, D.W. Utomo. 2008. Minanga Sipakko and the Neolithic of the Karama River, trong s�ch bi�n tập bởi �T. Simanjuntak (ed.) Austronesian in Sulawesi: 57-76, Depok: Center for Prehistoric and Austronesian Studies.

Summerhayes, G. 2007. Island Melanesian pasts: a view from archaeology, trong s�ch bi�n tập bởi �J. Friedlaender (ed.) Genes, language and culture history in the southwest Pacific: 10-35, Oxford: Oxford University Press.

Tsang, C.H., R. Santiago & H.-C, Hung. 2002. Fei lu bin lu son dao bei hai an kao gu diao cha fa jue bao gao, 1996-2002 [Report on archaeological exploration in northern Luzon, Philippines, 1996-2002] (Annual report for the program of Asian and Pacific study). Taipei: Academia Sinica (in Chinese).

Van Den Bergh, G., Rokus Due Awe, H.J.M. Meijer, K. Szabo, L.W. Van Den Hoek Ostende, M.J. Morwood, T. Sutikna, E.W. Saptomo, P.J. Piper & K.M. Dobney. Đang in. The Liang Bua faunal remains: a 95kya sequence from Flores, East Indonesia. Journal of Human Evolution.

___

C�c t�c giả v� nhiệm sở của họ:

Philip J. Piper (1), Hsiao-chun Hung (2), Fredeliza Z. Campos (1), Peter Bellwood (3) & Rey Santiago (4)

(1)Archaeological Studies Program, University of the Philippines, Diliman, Quezon City 1101, Philippines

(2) Research Center of Humanities and Social Sciences, Academia Sinica, Taipei, Taiwan

(3) School of Archaeology and Anthropology, A.D. Hope Building 14, The Australian National University, Canberra, ACT 0200, Australia

(4) Archaeology Division, National Museum of the Philippines, Padre Burgos St., Manila 1000, Philippines

_____

Nguồn: Philip J. Piper, Hsiao-chun Hung, Fredeliza Z. Campos, Peter Bellwood & Rey Santiago, A 4000 year-old introduction of domestic pogs into the Philippine Archipelago: implications for understanding routes of human migration through Island Southeast Asia and Wallacea, ANTIQUITY 83 (2009): 687-695.

*****

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DICH

* a) Khu Vực Wallacea: t�n sinh học địa dư đặt cho một nh�m đảo Nam Dương được ph�n chia bởi eo biển nước s�u từ c�c thềm lục địa � Ch�u v� �c Ch�u.� Khu Wallacea bao gồm đảo Sulawesi, đảo lớn nhất trong nh�m, cũng như Lombok, Sumbawa, Flores, Sumba, Timor, Halmahera, Buru, Seram, v� nhiều đảo nhỏ hơn.� C�c đảo của Khu Wallacea nằm giữa Sundaland (B�n Đảo M� Lai, Sumatra, Borneo, Java v� Bali) ở ph�a t�y, v� Cận Đại Dương Ch�u bao gồm �c Ch�u v� New Guinea ở ph�a nam v� ph�a đ�ng.� Tổng số diện t�ch của khu Wallacea l� 347,000 km2.

H�nh Khu Wallacea, nh�m đảo nằm trong khu t� m�u đỏ.� Đường Weber Line c� m�u xanh


http://wikimedia.org/

* b) Lesser Sunda Islands hay The Nusa Tenggara (c� nghĩa: C�c Đảo Đ�ng Nam: Southeast Islands): l� một nh�m đảo tại miền nam Đ�ng Nam � Thuộc Biển (Maritime Southeast Asia), bắc �c Ch�u.� C�ng với C�c Đảo Đại Sunda (Greater Sunda Islands)� ở ph�a t�y, ch�ng tạo th�nh C�c Đảo Sunda (Sunuda Islands).� C�c đảo n�y l� một phần của một v�nh cung n�i lửa, V�ng Cung Sunda Arc, được tạo th�nh bởi sức k�o v� h�t xuống dọc theo R�nh Java Trench tại Biển Java Sea. ��


http://wikimedia.org/

Chuỗi Đảo Tiểu Sunda bao gồm nhiều đảo, ch�nh yếu như c�c đảo Bali, Lombok, Sumbawa, Flores, Wetar, Sumba, Timor, Babar �. Về mặt ch�nh trị, phần lớn c�c h�n đảo thuộc chủ quyền Indonesia, cau%� th�nh 3 tỉnh Bali, West Nusa Tenggara v� East Nusa Tenggara.� Một số h�n đảo, nổi bật nhất l� một phần đảo Timor, thuộc quốc gia Đ�ng Timor, tuy�n bố độc lập từ năm 2002.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

23.10.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011