Oliver W. Wolters

Cornell Unversity

 

Về Việc Kể Chuyện Lịch Sử Việt Nam

Trong C�c Thế Kỷ Thứ Mười Ba v� Mười Bốn

 

Ng� Bắc dịch

Đại �: Triều đại nh� Trần cai trị Việt Nam từ 1226 đến 1400 v� đ� duy tr� c�c quan hệ triều cống với Trung Hoa.� Trong khi Trung Hoa thụ hưởng một t�nh trạng tương đối ổn định từ thế kỷ thứ 13 sang thế kỷ thứ 14, sự sụp đổ của Việt Nam dưới thời Trần trở n�n điều tất yếu.� Triều đại nh� Trần đ� dựa v�o Khổng học để tăng cường sự nắm giữ quyền lực của m�nh hơn l� để ph�t huy sự h�a hợp x� hội.� Bận t�m với sức mạnh v� thẩm quyền đ� tạo ra c�c hậu quả bi thảm tr�n định chế triều đại.

***

B�i khảo luận của t�i để kỷ niệm sinh nhật của Tạp Ch� [Đ�ng Nam � học] ph�c họa những đường n�t c� thể l� chương kết luận cho một cuộc nghi�n cứu về Việt Nam trong c�c thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn khi triều đại nh� Trần ngự trị (1226-1400).� Trong năm 1225 gia tộc nh� Trần đ� lật đổ vị ho�ng đế cuối c�ng của triều đại trước, nh� L� (1009-1225) v� cho đến bấy giờ l� triều đại l�u d�i duy nhất. Trong thực tế, thời trị vi của đế triều nh� L�, c�n l�u hơn gần năm mươ� năm so với triều đại kế nhiệm n�.� D� thế, kh�ng c� g� phải nghi ngờ rằng nh� Trần đ� l� triều đại nổi tiếng nhất trong mọi triều đại Việt Nam nhờ c�c chiến thắng của n� khi c�c đội qu�n của Kubilai Khan đến tấn c�ng ba lần trong thế kỷ thứ mười ba.� Song người ta đ� phải t�m hiểu loại triều đại của n� ra sao v� xứ sở m� n� đ� cai tri phải được định nghĩa như thế n�o.� Người ta phải hướng nh�n đến Trung Hoa, nguồn gốc của định chế triều đại, để c� được sự hướng dẫn hay người ta phải t�m kiếm ở nơi n�o kh�c? Một biến cố trong năm 1237 l�m li�n tưởng đến t�nh mơ hồ.� Năm đ� c�c quan chức bị y�u cầu tiến d�ng �trầu v� tr� l�n ho�ng đế khi �ng ta xuất h�nh từ Đầu Cầu Phia Đ�ng gần kinh đ�.� �Trần cau v� tr� mang cả yếu tố Đ�ng Nam � lẫn yếu tố Trung Hoa v�o khung cảnh.

������ Chương kết luận của t�i sẽ được viết như một lịch sử tường thuật lại theo cấu tr�c bi�n ni�n v� t�i hy vọng, sẽ kh�ng c� ti�u điểm qu� chật hẹp.� Một sự tr�nh b�y về một thời khoảng quan trọng như c�c thế kỷ của nh� Trần cần nhiều chỗ.� Một gi� trị kh�c của lịch sự tường thuật l� sử gia được khuyến kh�ch một c�ch li�n tục để đặt ra c�c c�u hỏi như thế n�o v� tại sao c�c sự việc đ� thực sự xảy ra trong một khung cảnh văn h�a c� biệt v� c� thể đang biến đổi.� Sử gia cũng phải c� khoảng trống để suy ngẫm về c�c vấn đề ph�t sinh v� bị th�ch đố để trải nghiệm qua với c�c c�ng cụ tường thuật hữu hiệu v� t�i nghệ tinh xảo n�i chung.

������ Chương cuối c�ng sẽ được dẫn trước bởi năm chương kh�c t�m c�ch khai mở c�c t�nh chất đ�ng theo văn bản (textual properties) trong c�c nguồn t�i liệu của t�i.� Một sự ph�n t�ch theo từng chương c�c nguồn t�i liệu, t�i hy vọng, sẽ cứu vớt t�i ra khỏi vấn đề m� t�i đ� từng dự liệu rằng nếu một sử gia cố gắng kết hợp một khảo hướng kể chuyện với c�c điều kiện của sự ph� b�nh s�t theo văn bản v� li�n tục phải chậm bước hầu đặt c�c c�u hỏi về h�nh thức của một bản văn cũng như về nội dung của n�. 1 �Tư tưởng bị đ�ng lạnh bởi c�c sự ngắt qu�ng�, Tiến Sĩ Johnson đ� nhận x�t, v� cũng như thế, sẽ l� lịch sử tường thuật.

������ Bởi �c�c t�nh chất đ�ng s�t theo văn bản� trong c�c nguồn t�i liệu t�i đề cập kh�ng g� kh�c hơn l� c�c đặc điểm v� cấu tr�c văn chương theo khu�n mẫu vốn mong mỏi được thừa nhận hầu cho ph�p c�c nguồn t�i liệu sẽ được ph� cho � nghĩa bao ch�m v� vượt l�n tr�n c�c kh�a cạnh cụ thể của tin tức.� Một � nghĩa đ�ng theo văn bản của nguồn t�i liệu tượng trưng cho c�ch thức m� Việt Nam �đ� xuất hiện ra� đối với t�c giả của n�, hay theo thể c�ch của n�.� Sự tường thuật của ri�ng t�i về Việt Nam trong chương kết luận sẽ cứu x�t đến �c�c diện mạo� (appearance) cạnh tranh với c�c nguồn t�i liệu, c�c phương thức theo đ� ch�ng soi s�ng lẫn nhau, v� cũng như c�c trường hợp l�m sao m� đ�i khi ch�ng c� vẻ giống nhau.� Điều m� t�i viết ra kh�ng thể gi�p thể hiện một �diện mạo� kh�c chưa c�, tuy nhi�n, c� lẽ, n� c� thể gần s�t hơn với một �sắc diện� (countenance), hay thực chất, đ�ng sau nhiều �diện mạo� kh�c nhau.� Khi d�ng chữ �sắc diện� (countenance), ph�t sinh từ từ ngừ trong tiếng la Tinh �continentia� (c�ch thức m� một người giữ được sự b�nh tĩnh của m�nh), t�i hiểu l� tầm mức theo đ� nước Việt Nam thời Trần �được giữ y�n tĩnh�.

������ Viết lịch sử theo lối thuật chuyện (narrative history) l� kể một c�u chuyện với một cốt truyện (plot).� Cốt truyện bao gồm phương c�ch m� c�c phần v� hiệu quả của một c�u chuyện cấu kết với nhau.� C�c nguồn t�i liệu của t�i c� thể được đọc như c�c c�u chuyện với c�c cốt truyện chịu tr�ch nhiệm về c�c � nghĩa v� �diện mạo� của ch�ng.� Trong một thời gian d�i t�i đ� tin tưởng trằng thế kỷ thứ mười bốn cấu th�nh một đường ph�n c�ch trong lịch sử Việt Nam, nhưng t�i kh�ng cảm thấy được kịch t�nh (drama) cho đến khi t�i hiểu biết nhiều hơn về thế kỷ thứ mười ba.� Ch�nh v� thế, c�i nh�n lướt qua thời nh� Trần l�m li�n tưởng đến một đề t�i cho cốt truyện trong chương kết luận: một c�ch đơn giản, một triều đại sẵn đang tan r� trong v�ng một thế kỷ của cuộc chiến thắng qu�n sự ngoạn mục.� C�u chuyện v� cốt truyện của n�, được ph�c thảo trong b�i khảo luận n�y, phản ảnh một số sự suy tưởng chất chứa trong đầu khi t�i tiến tới việc viết chương kết luận của m�nh.� B�i khảo luận, một c�ch tương tự, giống như một trong nhừng lời đề tựa của t�c giả Henry James, trong đ� n�i chuyện về một c�u chuyện.

������ Trong chương đầu ti�n của m�nh, t�i sẽ cung cấp một bối cảnh lịch sử của thời nh� Trần v� giải th�ch c�c chủ định của t�i.� Nhưng chương cuối c�ng của t�i cần đến điều m� t�i đ� tiến tới việc xem như một khung cảnh th�ch hợp cho lịch sử nh� Trần, t�i sẽ để � đến nhiều nguồn t�i liệu.� Một nguồn trong ch�ng, v� c� lẽ trong sự ph�n t�ch cuối c�ng, l� nguồn t�i liệu đ�ng lưu � nhất, sẽ l� điều m� t�i sẽ đề cập đến như �c�c tiếng n�i� theo đ� t�i muốn n�i đến văn vần hay thơ thời nh� Trần được lưu giữ trong c�c tuyển tập Thơ Văn L� Trần, được xuất bản tại H� Nội trong c�c năm 1978 v� 1989, v� cũng như trong c�c ni�n sử Việt Nam được đề cập đến dưới đ�y.� �C�c �tiếng n�i� gi�p ch�ng ta nghe được c�ch thức m� con người trong thời nh� Trần b�y tỏ c�c sự quan t�m tức thời v� kh�c biệt của họ.� Mặc d� thuộc giới tinh hoa, họ kh� đa dạng: đ� l� c�c tiếng n�i của c�c nh� l�nh đạo, c�c ho�ng th�n, c�c nh� sư, c�c vi�n tướng lĩnh, c�c nh� thơ, nhiều loại quan chức kh�c nhau, v� c�c điền chủ.� C�c t�i liệu Trung Hoa l� nguồn t�i liệu kh�c v� kh�ng hề chỉ c� t�nh c�ch tầm thường hay kh�ng đ�ng tin, bất kể �diện mạo� m� ch�ng chuy�n chở l� �diện mạo� của một xứ sở chậm tiến về văn h�a v� ch�nh trị, xa x�i v� biệt lập với suối nguồn văn minh tại Trung Hoa. 2 �C�c tiếng n�i� v� c�c nguồn t�i liệu Trung Hoa kh�ng thể bị bỏ qu�n trong khi, như vẫn bị xẩy ra qu� thường xuy�n, người ta lại trở l�i về nguồn t�i liệu kh�c v� nổi tiếng, bộ Đại Việt Sử K� To�n Thư hay c�c ni�n sử nh� Trần, được bi�n soạn hồi giữa thế kỷ thứ mười lăm v� [l�] nguồn t�i liệu đ� chuẩn cấp vị thế của �văn bản chủ yếu� cho thời kỳ n�y nhờ chi tiết kh� phong ph� của n�.� C�c ni�n sử, với c�c sự ngắt giọng thường xuy�n được tr� t�nh bởi ch�nh nh� viết sử để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của c�c đoạn b�t k� của m�nh, thuật lại c�u chuyện về gia tộc nh� Trần như một mối quan hệ chuyển động của c�c �ng ho�ng v� c�c bầy t�i v� mang lại cho Việt Nam �diện mạo� được điều h�nh bởi v� phục vụ cho gia tộc cầm quyền, mặc d� cốt truyện của n�, t�i sẽ nghĩ, chỉ được khai mở trong khung cảnh hồi đầu thế kỷ thứ mười bốn.� T�i tiếp tục nhận thấy m�nh phải kh�ng cự lại ảnh hưởng của c�c ni�n sử v� tự nhủ m�nh rằng n� chỉ cung cấp một trong nhiều �diện mạo� của Việt Nam thời nh� Trần.

������ Khung cảnh kế tiếp sẽ gi�p cho chuyện kể của t�i được khởi sự, v� t�i sẽ �t quan t�m đến sự tr�nh b�y rậm rạp cho bằng một �t đặc điểm c� vẻ, theo � kiến của t�i, ảnh hưởng đến những g� xảy ra.� T�i sẽ bắt đầu với hệ cấp tỉ mỉ của gia tộc nh� Trần, tr�n đ� ngự trị một �Thi�n Tử�, nguồn gốc của mọi đề xướng v� được ngh�nh đ�n như một kẻ đứng đầu triều đại v� ho�ng đế kiểu Trung Hoa.� Theo Chen Fu, một sứ giả Trung Hoa năm 1293, chỉ những người quan trọng trong x� hội ph�n chia thứ bậc tỉ mỉ n�y mới d�ng c�c khay bằng bạc đựng trầu cau của họ.� Kh�ng khoản n�o trong c�c t�i liệu của triều đại nh� L� trước đ�y l�m li�n tưởng đến một Triều Đ�nh biệt lập v� ho�n to�n cặn kẽ đến thế, như triều đ�nh đ� mau ch�ng được thiết lập bởi gia tộc t�n nhẫn n�y, xuất th�n từ những kẻ đ�nh c� trước đ�y thuộc v�ng ch�u thổ s�ng Hồng v� c� lẽ c� gốc g�c Trung Hoa.� T�i sẽ �m chỉ đến chương của t�i về c�c ni�n sử để nhớ lại bằng c�ch n�o, qua một chuỗi c�c sự ứng ph� t�o bạo để đối đầu với c�c t�nh trạng khẩn cấp bất ngờ, gia tộc n�y đ� c� thể bảo đảm rằng người con trai trưởng của nh� l�nh đạo sẽ kế vị �ng ta, v� kết h�n với một phụ nữ� thuộc gia tộc họ Trần.� Hơn nữa, c�ng nguồn t�i liệu sẽ cho thấy c�c ho�ng đế được phụ t� bởi c�c ch� b�c v� anh em của m�nh, những kẻ m� c�c ho�ng đế tr�t xuống c�c đặc quyền v� phong cho c�c chức vụ cao cấp nhất.� Trong năm 1266 ho�ng đế cho ph�p c�c th�nh vi�n của ho�ng tộc được tập họp kẻ kh�ng c� ruộng v� khai khẩn đất bỏ kh�ng.� C�c �ng ho�ng ng�y c�ng trở n�n gi�u c�.� Chen Fu chỉ hay biết về c�c điền trang của c�c �ng ho�ng tại v�ng th�n qu� chứ kh�ng phải ở th�nh thị.� Nơi đ�y, khi đ�, sẽ l� một gia tộc hư đốn v� đan kết chặt chẽ.� Một �tiếng n�i� thế kỷ thứ mười ba � tiếng n�i của ho�ng đế Th�nh T�n (mất năm 1290) trong một bữa tiệc gia đ�nh năm 1268 � vang l�n: �đế quốc l� của tổ ti�n ch�mg ta�, v� những kẻ thừa kế n� (c� nghĩa ch�nh �ng ta) phải chia sẻ việc hưởng thụ sự gi�u c� v� uy thế với c�c anh em của m�nh trong gia tộc�.� Trong năm 1370, một vị c�ng ch�a họ Trần, tập họp c�c th�n nh�n ph�i nam yếu đuối chống lại một kẻ so�n ng�i, nhắc nhở họ một c�ch ki�u h�nh rằng �đất nước l� của tổ ti�n ch�ng ta.� Tại sao ch�ng ta l� nhường n� lại cho kẻ kh�c?�

������ Một hệ thống chỉ huy được trải ra từ vị l�nh đạo v� c�c ho�ng th�n xuống c�c bầy t�i tin cậy, được gọi l� h�nh khiển [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] v� thường l� c�c th�i gi�m, v� từ đ�, xuống c�c nh�n vi�n thừa h�nh cấp dưới.� Mọi việc t�y thuộc v�o nh� l�nh đạo v� nh�m cận thần gồm c�c ho�ng th�n v� h�nh khiển chứ kh�ng phải tr�n một hệ thống thư lại.� C�ng việc sẽ được điều h�nh trong một cung c�ch kh�ng ch�nh thức v� thoải m�i.� Dấu hiệu cho thấy một người thuộc v�o giới cận thần triều đ�nh l� khi, bởi một số l� do n�y hay kia, người đ� lọt v�o mắt nh�n của nh� l�nh đạo v� được �bổ nhiệm� v�o một chức vụ tr�ch nhiệm.� Th� dụ, trong năm 1299 một học giả trẻ gặp may mắn để c� cơ hội thảo một bức thư tạ lỗi của kẻ kế ng�i say rượu l�n vua cha.� Chức nghiệp của người đ� giờ đ�y được thăng tiến.� Nhưng ch�nh thể tổ chức thất thường n�y cũng c� khả năng l�m v�o t�nh trạng ngặt ngh�o, như Chen Fy nhận x�t.

������ Sự gi�m s�t c� nh�n của c�c nh� l�nh đạo tr�n ch�nh quyền của m�nh trở n�n hợp l� khi người ta ghi nhận rằng một nguồn t�i liệu Trung Hoa, quyển An Nam Ch� Nguy�n (An-nan zhi-yuan), m� tả Việt Nam trong c�c thời nh� L� v� nh� Trần như một xứ sở �nhỏ b� v� c� thể tiếp cận được�, nơi chỉ c� c�c cỗ xe k�o l� cần thiết để di chuyển tr�n đất liền từ kinh đ� đến Lạng Sơn tại bi�n giới ph�a bắc hay xuống Thanh H�a nơi bờ biển.� C�c nguồn t�i liệu Trung Hoa sử dụng mọi c�ng cụ thuật truy�n khả hữu để nhấn mạnh rằng l�nh địa nh� Trần kh�ng g� kh�c hơn l� một �g�c biển� nhỏ x�u với c�c sự giao th�ng đường s�ng dầy đặc mang lại cho c�c nh� l�nh đạo sự tiếp cận dễ d�ng với c�c khu vực xa x�i hơn.� Mọi nguồn t�i liệu được t� điểm bởi c�c sự đề cập đến c�c con s�ng.� C�c con s�ng l� quang cảnh của c�c cuộc thao diễn hải qu�n, chiến tranh, lụt lội, c�c con đ�, c�c kinh đ�o, sự chuyển vận thương mại, thả b�, c�c ng�i chợ v� tr� giải tr� được tổ chức tr�n c�c chiếc cầu, c�c sự lẩn trốn của c�c �ng ho�ng v� c�c cuộc vượt tho�t, c�c truyền thuyết, v� thi ca về phong cảnh.� Năm 1241, Th�i T�n (mất năm 1277) đ� t�o tợn vượt qua bi�n giới Quảng Đ�ng bằng một chiếc thuyền đi s�ng.� Tất nhi�n, c�c đồ phụ t�ng của một chiếc thuyền c� thể biểu thị thứ bậc ho�ng triều.

������ T�i sẽ tiến tới việc giới thiệu điều m� t�i nh�n như một khia cạnh thiết yếu của khung cảnh, v� �c�c tiếng n�i� giờ đ�y nhận được sự ch� � của t�i.� Chuyện kể về thời nh� Trần phải cứu x�t đến ảnh hưởng của dhyana, hay thiền trong Phật Gi�o, tr�n t�m thức của c�c vị ho�ng đế.� Những kẻ cai trị cho đến năm 1357, chưa đầy nửa thế kỷ trước khi triều đại sụp đổ, đ� để lại một bộ phận văn chương Phật Gi�o đ�ng kể, v� ch�ng ta học hỏi được từ n� răng họ đ� tạo ra một đức t�nh về việc tr�nh c� thi�n kiến hay thi�n vị, việc h�a giải c�c quan điểm dị biệt, v� việc dung chấp c�c phương c�ch h�nh đạo đơn giản (upaya) của đa số thần d�n của họ.� Nhưng họ kh�ng l�ng qu�n c�c nhiệm vụ ch�nh thức của m�nh.� Th�i T�n tuy�n bố rằng �ng phải si�ng năng l�m việc nhưng t�m c�ch d�ng sự nh�n hạ v�o việc nghi�n cứu kh�ng g� kh�c hơn Kinh Kim Cương (Diamond Sutra), một t�i liệu ch�nh cho c�c sự giảng dạy căn bản của thiền ph�i về sự trống rỗng, nhận thức của con người về bản chất Đức Phật như một khoảng trống kh�ng, t�nh thực h�nh của sự gi�c ngộ tức thời, v� t�nh tương đối của mọi hiện tượng.� Những kẻ hấp thụ được c�c lời giảng dạy n�y c� thể bất chấp c�c sự kh�c biệt v� đặc biệt sự kh�c biệt của qu� khứ, hiện tại v� tương lai.� Th�nh T�n, trong một b�i thơ về bản chất đức Phật, viết: �kh�ng c� qu� khứ hay tương lai, mất m�t hay d�nh đoạt được�.� Qu� khứ chỉ quan trọng khi x�t theo hiện tại.� �L�c n�y� l� khi c�c tia chớp của sự gi�c ngộ tinh thần khả dĩ vươn đạt tới được v� nghiệp quả xấu tr�nh tho�t được.� C�i nh�n thanh thản n�y sẽ ph� hợp với phương thức quản trị thoải m�i v� hướng v�o hiện tại, v� người ta sẽ kỳ vọng c�c kẻ l�m chủ được c�c kỹ thuật thiền định để sở đắc c�c kho dự trữ bao la l�ng tin tưởng nơi khả năng của họ để đối đầu với mọi t�nh huống.

������ Khung cảnh đ� được dựng xong, một c�u chuyện theo nhịp bước nhanh sẽ khởi sự.� Triều đại mới mau ch�ng tự thiết lập.� Năm 1299 kẻ nổi loạn cuối c�ng từ thời nh� L� chuẩn bị đầu h�ng, v� người viết sử nhận định rằng �đất nước đ� thống nhất�.� Năm 1237 ch� của vua Th�i T�n, nghĩ đến tương lai nhưng chỉ nhằm bảo đảm cho sự thừa kế đế triều, v� thế đ� n�i với người ch�u trai của �ng: �cần liều m�nh để kết h�n [với người vợ của anh ch�u] hầu c� được sự tin tưởng trong tương lai�.� Th�i T�n miễn cưỡng đồng �, v� sự th� hận gia tộc chua ch�t được giải quyết trong năm 1258 khi đứa con của sự sắp xếp n�y lấy con g�i của người anh bị x�c phạm.� C�c nh� vua trị v� giờ đầy xem ra thụ hưởng một chế độ tự chuy�n (autocracy) kh�ng bao giờ thất bại, v� người viết sử, lu�n lu�n quan t�m đến c�u chuyện của c�c �ng ho�ng, ngừng lại để b�nh luận về bữa tiệc gia tộc được vua Th�nh T�n ban yến v�o năm 1268: �Ch�nh nhờ thế, v�o l�c n�y c�c ho�ng th�n đ� ho�n to�n y�n ổn, h�a hợp lẫn nhau, v� k�nh trọng nh� l�nh đạo�.� Trong một đoạn văn kh�c của sự trần thuật tr� liệu sau một mục về việc điền khuyết c�c chức vụ c�n trống năm 1246, người viết sử ngừng lại để ghi nhận rằng �v�o l�c n�y, xứ sở kh�ng gặp kh� khăn n�o.� D�n ch�ng th� h�i l�ng v� c�c quan chức đ� nắm giữ c�c chức vụ của họ trong một thời gian l�u d�i.� C�c chức vụ cao cấp nhất tại Triều Đ�nh đều nằm trong tay c�c th�nh vi�n kh�n ngoan v� học thức của gia tộc cầm quyền�.

������ Nhưng trong năm 1257 qu�n M�ng Cổ x�m lăng lần thứ nhất v� bị đ�nh bại sau một cuộc giao tranh tr�n s�ng.� Tiếp theo d� cho đến năm 1288, khi, tại s�ng Bạch Đằng, người Việt Nam đ� chiến thắng lần thứ ba, c�u chuyện sẽ tr�n ngập c�c chi tiết h�o hứng.� Bởi v� c�c cuộc chiến thắng của Việt Nam th� nổi tiếng, t�i sẽ cẩn thận để tr�nh b�y rằng đ� c� những l�c su�t nguy khốn, gần như l� c�c tai họa, v� c�n c� cả c�c trường hợp phản bội.� Tuy nhi�n, quan trọng hơn bất kỳ điều g� kh�c, t�i sẽ tr� liệu để cho ph�p �c�c tiếng n�i� sẽ được nghe thấy đều đặn hầu cung cấp, một c�ch tương tự, sự b�nh luận tiếp diễn của ch�ng, được sắp xếp theo ni�n lịch, về những g� đang xảy ra.� Bằng c�ch n�y, t�i hy vọng sẽ ph�t triển chủ đề m� t�i tin rằng quan yếu cho việc hiểu biết thế kỷ thứ mười ba cũng như m�n kịch của lịch sử triều đại nh� Trần.� Chủ đề l� l�m hưng phấn sự tin tưởng khi đối diện trước sự hiểm nguy.� Người d�n Việt Nam sẽ tiến tới việc tin tưởng rằng c�c nh� l�nh đạo của họ sở đắc c�c phương s�ch để th�nh c�ng trong mọi trường hợp.

������ Ngoại giao sắc sảo l� một phương s�ch.� �Ch�nh do � Muốn của �ng Trời m� xứ sở ch�ng ta một lần nữa phải sản sinh ra được sự th�ng th�i giống như nh� hiền triết, sử quan của Triều đ�nh, �ng L� Văn Hưu, k�u l�n, trong năm 1272 khi �ng ta ghi ch�p phương thức m� Đinh Ti�n Ho�ng trong năm 968 tự xưng l� �ho�ng đế�, một tước hiệu trước ti�n được mang bởi Triệu Đ� trong thế kỷ thứ nh� trước C�ng Nguy�n.� Tước hiệu l� một ẩn dụ cho sự độc lập của Việt Nam t�ch khỏi Trung Hoa, một đế quốc kh�c.� C�c nh� l�nh đạo cũng tin tưởng rằng một Triều Đ�nh �theo triều đại� sẽ gi�p v�o việc cung cấp sức mạnh m� họ li�n kết với Trung Hoa.� Dưới thời nh� Trần, ch�nh quyền tốt c� nghĩa kh�ng g� kh�c hơn ch�nh quyền mạnh�� Nhưng Triệu Đ� v� c�c nh� l�nh đạo Việt Nam trong thế kỷ thứ mười v� sau đ� cũng bảo vệ nền độc lập của họ bằng việc gửi một c�ch thận trọng v� nhiều lần việc c�c ph�i bộ triều cống nh�n nhường sang Trung Hoa hầu ngăn chặn trước việc ph�i sang c�c sứ giả Trung Hoa hay tọc mạch.� Kh�ng may, Kubilai Khan, một người M�ng Cổ, th� lập dị v� đ�i hỏi rằng �c�c chư hầu� của �ng ta phải sang Trung Hoa để đ�ch th�n b�i kiến, v� gia tộc họ Trần phải chiến đấu để duy tr� phi�n bản của ch�nh n� về mối quan hệ triều cống.� Sau năm 1988 mối quan hệ được t�i lập như nguy�n, kh�ng thay đổi.

������ Nền ngoại giao của nh� Trần sau hết đ� thắng thế, nhưng c�c sự th�nh c�ng trong thời chiến dưới sự l�nh đạo của c�c ho�ng th�n nh� Trần, hơn bất kỳ điều g� kh�c, sẽ khiến người d�n Việt Nam tin rằng họ kh�ng thể bị x�m phạm.� Một th�y b�i, sau n�y được bổ nhiệm v�o to�n cận thần t�y t�ng của đế triều, đ� ti�n đo�n đ�ng về sự thất trận của qu�n M�ng Cổ khi ch�ng đến x�m lăng lần thứ nh� v� thứ ba trong thập ni�n 1280.� Nhưng kh�ng một ai lại c� điều kiện tốt hơn để tin tưởng nơi c�c b�i học kinh nghiệm cho bằng Trần Quốc Tuấn, vị tư lệnh v� con trai của �ng ho�ng bị sỉ nhục c� vợ bị Th�i T�n cướp mất trong năm 1237.� Khi mất đi v�o năm 1300, Quốc Tuấn nh�n lại th�nh quả t�i diễn v� k�o d�i của cuộc kh�ng chiến của Việt Nam trước Trung Hoa hầu bắt buộc c�c nh� l�nh đạo, c�c phụ t� cao cấp của họ, v� �người d�n b� nhỏ� [phải biết l�] cần đến việc hợp t�c với nhau.� �ng ta đoan chắc với họ rằng c�c chiến thuật du k�ch sẽ đền b� cho sự khiếm khuyết về nh�n số vượt trội.� Ngay trong năm 1286, v�o l�c khởi đầu cuộc x�m lăng thứ ba, �ng đ� tự tin đến nỗi �ng hứa hẹn rằng �chắc chắn� �ng sẽ chiến thắng. ��

������ Muốn c� th�m bằng cớ về sự tin tưởng của Việt Nam nơi kinh nghiệm của họ, t�i sẽ �m chỉ đến sự bi�n soạn của L� Tế Xuy�n v�o năm 1329 c�c c�u chuyện về c�c vị thần linh gi�m hộ cho xứ sở, quyển Việt Điện U Linh Tập, được thảo luận nới chương thứ ba trong cuộc nghi�n cứu của t�i. 3 Nhiều vị thần đ� được vinh danh về sự trợ gi�p của họ để chống lại c�c cuộc x�m lăng của qu�n M�ng Cổ, v� c�c c�ng trạng cụ thể của hai vị thần đ� được ghi ch�p lại.� C�c cốt truyện của c�c c�u chuyện th� đơn giản v� thường được cấu tr�c một c�ch đồng nhất: c�c mối quan hệ nhất định th�nh c�ng giữa c�c nh� l�nh đạo Việt Nam thường l� c�c vị trong thế kỷ thứ mười một, với c�c thần linh địa phương, nhưng chỉ khi n�o nh� l�nh đạo nhận biết một c�ch tỉnh t�o sự hiện diện của một vị thần, trắc nghiệm vị thần đ� nếu cần, chỉ định vị thần đ� v�o một chức vụ c� tr�ch nhiệm qu�n sự, v� tưởng thưởng về c�c sự đ�ng g�p của vị thần đ� v�o sự chiến thắng.� Vị thần, lu�n lu�n ch�o k�nh nh� l�nh đạo, giờ đ�y gia nhập v�o nh�m cận thần t�y t�ng.� Khi thủ tục n�y được tu�n theo, chiến thắng �chắn chắn� sẽ đến.� �Diện mạo� Việt Nam trong c�c c�u chuyện l� diện mạo của một miền đất được bảo vệ bởi si�u nhi�n với phong cảnh đẹp đẽ.� Phong thủy cũng vậy, l� một nguồn gốc cho sự tin tưởng trong c�c thời nguy hiểm.� Theo c�c nh� thơ Việt Nam, kinh nghiệm cho thấy rằng c�c n�i non cưỡi ngang bi�n giới ph�a bắc của họ, bị xem bởi người Trung Hoa l� một khu vực hoang dại v� kh�ng l�nh mạnh, đ� cung cấp một bức b�nh phong bảo vệ từ thời thượng cổ.

������ Sự tin tưởng v�o tương lai m� người ch� của vua Th�i T�n nhấn mạnh trong năm 1237 xem ra được chứng minh trong suốt thế kỷ thứ mười ba.� Sự thừa kế đế triều được đảm bảo.� C�c người con trai cả của ho�ng đế được huấn luyện v� gi�o dục kỹ lưỡng bởi c�c b� mẹ trong gia tộc họ Trần nhất định trở n�n c�c nh� cai tri th�ch hợp.� C�c ho�ng th�n lớn tuổi, hết thế hệ n�y đến thế hệ kh�c, đều nhất mực được bổ nhiệm v� tự nổi bật trong những chức vụ cao cấp nhất.� C�c sứ bộ triều cống được ph�i đi một c�ch thường lệ, c�c điềm triệu, chiến tranh du k�ch, c�c trận đ�nh tr�n s�ng, c�c vị thần linh gi�m hộ, v� phong thủy � nguồn t�i liệu nhấn mạnh như thế, đ� nhiều lần bảo vệ xứ sở.� Đến giờ t�i sẽ nhớ lại một �tiếng n�i� được thảo luận trong chương thứ tư của t�i v� dưới h�nh thức một văn bia ai điếu v� cảm động năm 1291 để vinh danh một vị c�ng ch�a nh� Trần từ trần, Trần Phụng Dương, vợ của Trần Quang Khải.� Quang Khải l� con của vua Th�i T�n v� l� đại thần ch�nh yếu trong suốt thời c� c�c cuộc x�m lăng thứ hai v� thứ ba.� C�c người đ�n b� can đảm v� trung th�nh l� một phần trong c�u chuyện của nh� Trần.� Bia k� xem ra minh chứng c�c chủ đề hay t�i diễn trong thế kỷ thứ mười ba một c�ch quả quyết đến nỗi n� c� thể đại diện cho �to�n thể văn bản� của thế kỷ thứ mười ba trong � nghĩa rằng c�c chủ đề đựoc nối kết với nhau xuy�n qua gia tộc họ Trần. 4 Bia k� bao h�m c�c đặc t�nh nổi bật của gia tộc: h�n nh�n trong họ li�n tục, ch�nh quyền của c�c �ng ho�ng, Phật Gi�o theo thiền ph�i, sự sử dung cố hữu c�c ẩn dụ r�t ra từ Trung Hoa để cung cấp c�c h�nh ảnh về ch�nh họ (bởi thiếu mất sự ao ước v� cung c�ch dịu d�ng của sự tr�ch mắng, c�ng ch�a được so s�nh một c�ch uyển chuyển với một �vị trưởng l�o� Khổng học, anh h�ng t�nh thời chiến (c�ng ch�a lấy th�n m�nh ch�m l�n tr�n người chồng để bảo vệ �ng ta khi họ vượt trốn bằng đường s�ng).� Người phụ nữ t�o bạo n�y tượng trưng cho khả năng của gia tộc m�nh để đối ph� một c�ch đầy tin tưởng với c�c t�nh trạng khẩn cấp.� Bia k� ca ngợi sự th�ch ứng của b� bằng c�ch liệt k� kh�ng �t hơn mười lăm vai tr�, được n�u r� chi tiết, trong đ� b� giỏi trội bật l�n.� Đặc biệt, b� g�nh v�c c�c vấn đề gia đ�nh nặng nề ph�t sinh từ cuộc kết h�n của b� với một �ng ho�ng thời chiến bận rộn sao l�ng b� v� gia đ�nh của �ng.� Chồng của b� l� một nh� h�nh ch�nh, ngoại giao, tướng lĩnh, v� nh� thơ.� C�c �ng ho�ng kh�c cũng đa t�i tương tự.� Sự vụ nh� nước kh�ng lệ thuộc ho�n to�n v�o c�c vị ho�ng đế.� Gia tộc nh� Trần năng động v� t�i ba cung cấp một kho dự trữ l�ng dũng cảm cho mọi t�nh huống.� Tai họa được tr�nh khỏi nhờ gia tộc lu�n lu�n t�m c�ch cố kết với nhau.

������ Chủ đề ch�nh trong c�u chuyện của t�i đến nay rằng người Việt Nam, bất kể những g� xẩy ra, c� l� do để ng�y c�ng tin tưởng hơn.� C�c vấn đề nội bộ của xứ sở kh�ng phải l� kh�ng điều h�nh được, xứ sở r� r�ng kh�ng thể bị khuất phục khi bị tấn c�ng từ b�n ngo�i, gia tộc c� khả năng cấu kết với nhau một c�ch hữu hiệu, v� kh�ng c� l� do để giả định rằng t�nh h�nh sẽ thay đổi một c�ch bất lợi.� Ngược lại, mọi điều trong kinh nghiệm Việt Nam sẽ xem ra đều c� thể ti�n đo�n được.� Sự t�i lập c�c ph�i bộ triều cống sang Bắc Kinh chắc chắn sẽ thuyết phục Triều Đ�nh nh� Trần rằng qu�n M�ng Cổ kh�ng c�n đ�ng sợ nữa.� C�c ho�ng đế Nh�n T�n (mất năm 1308), người đ� truyền giảng đạo Phật tại v�ng n�ng th�n, Anh T�n (mất năm 1320) v� Minh T�n (mất năm 1357) thực h�nh thiền định.� C�c nh� thơ, sử dụng c�c h�nh thức văn chương Trung Hoa, vui sống tại �v�ng đất của c�c con s�ng� của họ, v� sử dụng ng�n ngữ m� c�c thi sĩ Trung Hoa nổi tiếng thời nh� Đường đ� d�ng để t�n dương phong cảnh của họ.� �C�c d�ng s�ng uốn kh�c�, Nguyễn Sương [?] viết, �v� l�o tướng qu�n [Trần Quốc Tuấn] thảo luận về quang cảnh trận chiến�.� C�c ni�n sử tr�nh b�y vua Minh T�n như một nh� l�nh đạo tr�ng kiện đ� tuyển chọn v� điều khiển c�c quan chức của �ng với �sự s�ng suốt�.� Cũng thế, người viết sử giờ đ�y ghi ch�p c�c thời trị v� của Anh T�n v� Minh T�n, phơi b�y cốt truyện của m�nh, cho tha6� đ�u l� phương c�ch một ch�nh quyền tốt được điều h�nh (v� những g� ngăn cản n�) như đ� xảy ra trong c�c thập kỷ đầu ti�n của thế kỷ thứ mười bốn, khi c�c người c� học được bổ nhiệm v�o nh�m t�y t�ng cận thần nh� vua.� Sự bắt mạch k� toa của người viết sử l� một sự hồi tưởng đến sự tr�nh b�y của Việt Điện U Linh Tập về mối quan hệ giữa một nh� l�nh đạo tốt với c�c thần linh; trong cả hai trường hợp nh� l�nh đạo phải đưa ra đề xuất v� c�c kết quả đều c� lợi.� Toa thuốc của nh� viết sử, giống như mệnh đề của c�c chuyện kể, được cấu tr�c như một sự ph�t biểu lập lại nhiều lần v� c� thể nhận biết về mặt c� ph�p: nh� l�nh đạo bổ nhiệm l�m quan chức c�c nh�n vật cao qu� hoạt động hữu hiệu, c� được tiếng tốt v� hưởng dụng c�c sự gia ơn của m�nh. 5� Sử quan hiển nhi�n đang biểu thị cho một cận thần; nh� l�nh đạo đ�ch th�n �bổ nhiệm� v� tưởng thưởng nh�n vi�n của �ng.

������ Một chi tiết kh�c trong c�c ni�n sử l�m li�n tưởng đến sự ổn định trong nửa đầu thế kỷ thứ mười bốn.� Trong một sự ngắt kh�c tr� định nơi đoạn thuộc ni�n đại 1323, người viết sử tuy�n bố rằng, v�o l�c n�y, mười ba nh�n vật đ�ng ngưỡng mộ kế tiếp nhau phục vu c�c nh� l�nh đạo.� C�c nh�n vật n�y, v� hiếm khi c� c�c th�i gi�m, tượng trưng cho (chức năng) h�nh khiển [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] trong thế kỷ thứ mười bốn.� Một số c�n t�ch cực cho m�i đến thập ni�n 1360.� Ch�nh quyền phải ở trong tay c�c người tốt ngay d� tất cả c�c nh�n vật đ�ng k�nh n�y kh�ng hẳn được biết đến như c�c người đậu qua c�c kỳ khảo hạch.

������ Nhưng đ�y kh�ng phải l� to�n thể c�u chuyện.� Chuyện kể của t�i sẽ bắt đầu ph�c thảo c�c quan chức gi� l�o tiếp tục du h�nh v� c�c c�ng việc khẩn cấp v� viết c�c b�i thơ vinh danh c�c th�nh quả chuy�n nghiệp của nhau, c� thể so s�nh c�c đồng sự của họ với c�c quan chức nổi tiếng Trung Hoa.� Một số được đề cập tới trong danh s�ch của người viết sử ghi dưới ni�n đại năm 1323.� V�, khi thế kỷ tiếp diễn, c�c b�i thơ m� tả sự khổ sở tại v�ng th�n qu�.� C�c nh� thơ giờ đ�y c� thể hu�t s�o để giữ vững c�c thần linh của m�nh khi ch�ng kh�ng c�n ch�o đ�n n�i non của họ như một bức b�nh phong bảo vệ, m� lại như nơi tr� ngụ của c�c kẻ bất tử như thể, bất kể c�c kh� khăn tạm thời, họ vẫn hy vọng rằng xứ sở của họ sẽ tồn tại.� T�i cũng sẽ bắt đầu cứu x�t c�c đoạn ghi ch�p đ�ng kinh sợ trong c�c ni�n sử.� Năm 1328, vua Minh T�n, lo lắng về việc cử nhiệm kẻ thừa kế c�ng sớm c�ng tốt, đ� h�nh quyết người cha vợ trong họ Trần khuyến c�o nh� vua h�y từ tốn.� Đ�y l� h�nh vi duy nhất m� nh� viết sử đem ra chỉ tr�ch nh� vua.� V�, như điềm xấu nhiều hơn thế, ni�n sử từ năm 1343 trở đi li�n tiếp đề cập đến c�c cuộc nổi dậy ở v�ng th�n qu�, đ�i khi l� c�c cuộc nổi dậy k�o d�i, v� c�c th�n thuộc của c�c �ng ho�ng v� c�c nh� sư được n�i c� mặt trong số c�c kẻ nổi loạn.� Trong năm 1389, một nh� sư lập l�n một đội qu�n c�c kẻ lang thang, đặt tước hiệu, bổ nhiệm h�nh khiển, v� chiếm đ�ng kinh đ� trong ba ng�y.� C�c cuộc nổi dậy tiếp tục cho đến cuối thế kỷ.� C�c tin thức về ch�ng th� sơ s�i nhưng đủ để đẩy động th�i của l�ng x� v�o một h�nh trạng nổi bật r� n�t hơn v� l�m li�n tưởng đến c�c đuờng n�t m� Triều Đ�nh v� c�c văn h�a cấp dưới ở l�ng x� c�ng c� chung.� C�c l�nh tụ địa phương tập hợp c�c m�n đồ, thu h�t t�y t�ng, v� tự xưng với đẳng cấp đế triều v� c�c biểu tượng của Triều đ�nh.� Nguy�n thủy, gia tộc nh� Trần cũng l�m như thế.� C�c kẻ nổi dậy cũng khai th�c c�c nguồn quy�n lực si�u nhi�n.

������ Trung Hoa nh� M�ng Nguy�n giờ đ�y đang suy sụp, nhưng t�nh trạng xem ra cũng như thế tại Việt Nam.� Những g� đ� xảy ra một c�ch qu� đột ngột như thế?� T�i sẽ tạm ngừung c�u chuyện kể của m�nh.

������ C� thể vua Minh T�n, sinh năm 1300, đang trở n�n gi� l�o.� �ng v� cha của �ng đ� lần lượt mất đi khi họ ở tuổi năm mươi v� bốn mươi bốn tuổi.� C�c b�i thơ của �ng tiết lộ rằng �ng bị �m ảnh bởi tội �c của m�nh v�o năm 1328.� Kh�c với c�c người tiền nhiệm, �ng kh�ng hề được trợ gi�p bởi một người thừa kế c� nặng lực.� Người thừa kế đầu ti�n của �ng bị chết sớm, v� kẻ thừa kế tiếp theo th� ham chơi v� bất lực về sinh l�.� C�c ho�ng th�n lớn tuổi kh�ng c�n l� c�c nh�n vật c� khả năng nữa.� C�c b�i thơ của �ng x�c định một c�ch r� r�ng �ng theo ph�i thiền định.� Ni�n sử m� tả �ng th� n�ng t�nh v� tự cao tự đại.� Vua Minh T�n c� thể l� �nh�n vật trơ nhẵn� (round character) duy nhất của c�u chuyện, kẻ như E. M. Forster đ� định nghĩa, �dầy như một đĩa h�t�.

������ C� lẽ c� t�nh của vua Minh T�n gi�p v�o việc giải th�ch những g� đang xảy ra tại v�ng th�n qu�, nhưng đối với t�i, đ�y chỉ l� một vấn đề của trường hợp ngẫu nhi�n.� C�u chuyện kể của t�i, với c�c thi�n kiến của n� đối với c�c đặc t�nh b�m s�u trong lịch sử nh� Trần, k�o t�i đi theo một hướng kh�c.� Cảnh ngộ của hai kh�a cạnh trong hệ thống ch�nh quyền gia tộc nh� Trần giờ đ�y đang tạo ra c�c vấn đề nghi�m trọng.� Trước ti�n l� quan điểm về t�n gi�o của vua Minh T�n, c�ch biệt với c�c sự việc biểu hiện chẳng hạn như sự bất ổn ở n�ng th�n.� Nh� viết sử cho ch�ng ta hay rằng c�c th�nh vi�n trong nh�m cận thần của �ng ph�n n�n rằng d�n ch�ng bỏ hoang c�c l�ng x� của họ một c�ch tr�i ph�p v� rằng c�c quan chức đ� kh�ng l�m đ�ng bổn phận của họ.� �Tại sao lại lo ngại?� l� thực chất của sự đ�p ứng của �ng, một tho�ng nh�n sống động về sự quản trị sự vụ lỏng lẻo của gia tộc nh� Trần.

������ Nhưng t�i tin rằng một kh�a cạnh kh�c của hệ thống nh� Trần đ� l�m trầm trọng t�nh h�nh một c�ch v� hạn.� Ni�n sử �m chỉ rằng vua Minh T�n v� gia tộc của �ng th� �quảng đại� đối với c�c th�n nh�n của m�nh v� khoan dung khi họ phạm lỗi.� C�c đường n�t n�y c� thể khiến họ trở n�n ph�ng t�ng th�i qu� trong việc cho ph�p c�c th�n nh�n của họ chiếm đoạt đất đai Nh� Nước v� trong việc dung thứ c�c sự x�m chiếm tham lam đất ruộng của d�n l�ng. 6 Th�i quen của c�c nh� l�nh đạo trong việc c�ng dường c�c ng�i ch�a v� ban cấp tặng phẩm bằng đất đai cho c�c th�nh vi�n được �n sủng thuộc giới cận thần của họ sẽ tạo ra �p lực kinh tế phụ trội l�n v�ng n�ng th�n.� Hơn nữa, t�c phong của c�c �ng ho�ng nh� Trần nhất thiết đ� đặt ra c�c gương xấu cho c�c quan chức tham lam.� Trong ni�n đại năm 1377, ni�n sử ca ngợi ngự sử Trương Đỗ bởi v� �ng �lương thiện� v� kh�ng c� �một sản nghiệp�.� Ngược lại, Hồ T�n Xac [Thốc?] v�o cuối thế kỷ, bị tố c�o l�m hại d�n ch�ng, đ� đ�p lại: �ngay khi một đứa con trai nhận được một �n sủng của triều đ�nh, cả d�ng tộc hưởng dụng lương bổng của anh ta�.

������ T�i sẽ phải đặt c�u hỏi tại sao c�c vị ho�ng đế lại cho ph�p th�i độ v� tr�ch nhiệm như thế.� C� thể sự thực h�nh c�c cuộc h�n phối trong họ l�m ph�t sinh điều m� ni�n sử ghi ch�p gần như một cảm gi�c �m ảnh l� việc t�ch rời ra khỏi phần c�n lại của d�n ch�ng, v� điều n�y c� thể khiến họ v� cảm với những g� đang xảy ra b�n ngo�i v�ng giao tiếp chật hẹp của họ.� Cũng v�y, c� lẽ họ xem kh�ng c� g� cần thiết hơn việc duy tr� l�ng trung th�nh v� sự ủng hộ của th�n nh�n của họ.� C�c tướng lĩnh v� c�c nh� h�nh ch�nh nổi tiếng của thế kỷ trước hoặc l� c�c �ng ho�ng hay th�nh vi�n trong c�c gia đ�nh �ng ho�ng.� Nhưng sự v�ng lời của gia tộc kh�ng thể được xem l� chuyện đương nhi�n.� C�u chuyện thế kỷ thứ mười ba sẽ cung cấp c�c th� dụ về c�c cuộc c�i cọ, th� hận v� phản bội.

������ T�i sẽ kh�ng giả vờ l� to�n năng để cho ph�p m�nh duy tr� luồng chuyện kể, nhưng t�i sẽ gặp rất nhiều kh� khăn trong việc tr� liệu để minh chứng tầm mức đ�ch thực của biến động đ� phải trải qua v�o giữa thế kỷ thứ mười bốn.� Để l�m được điều n�y, t�i sẽ tr�nh b�y một sự tương phản quyết liệt giữa Việt Nam kh�ng thay đổi, c� thể ti�n đo�n v� quản trị được trong thế kỷ thứ mười ba v� c�c lốc xo�y tiếp đ�.� Đ�ch thực sự tương phản đ� trấn �p một c�ch hiển nhi�n c�c nh�n vật điều h�nh c�ng việc hay ưu tư v� lu�n lu�n trung th�nh thường l� c�c quan chức � từ giữa thế kỷ trở đi.� Họ sẽ bị kinh ho�ng bởi sự kh�c biệt giữa thế giới anh h�ng, tu�n phục v� r� r�ng c� thể ti�n liệu được của thế kỷ trước với sự bất m�n lan tr�n v� chưa từng thấy trong thời đại của ch�nh họ.� Kịch t�nh trong lich sử nh� Trần l� ảnh hưởng m� sự đối chọi giữa sự ổn định v� biến động x� hội đ� c� tr�n c�c người n�y.� Họ đ� đau khổ đến nỗi họ cảm thấy bị bắt buộc phải viết lại, duyệt x�t lại, v� ngay cả việc lật đổ những g� kinh nghiệm Việt Nam cho đến nay được xem l� chuyện đương nhi�n, v� những g� họ đ� viết lại ch� đạp l�n điều kh�ng g� kh�c hơn l� cốt l�i của kinh nghiệm Việt Nam truyền thống: c�c kh�i niệm li�n quan đến thời gian v� nền an ninh.� Họ đ� k�n đ�o đề nghị c�c phương c�ch mới cho sự sống c�n của triều đại, mặc d� họ sẽ kh�ng bao giờ d�m n�ng cao vị thế v� vai tr� ri�ng của họ trong đời sống c�ng.� Họ đ� phải viết bởi v� họ lớn l�n trong một truyền thống văn h�a đặt một gi� trị cao tr�n chữ nghĩa viết bằng ng�n ngữ Trung Hoa cổ điển v�, t�i ngờ vực, ngay cả việc cứu x�t đến một v�i điều g� đ� chỉ c� sức mạnh khi n� được viết ra. 7

������ Một thế kỷ chiến tranh thắng lợi v� thế được theo sau bởi một thế kỷ khi kinh nghiệm Việt Nam phải được tr�nh b�y lại.� C�c giả định lạc quan nhường chỗ cho sự m�i ưu tư lo sợ, v� c�u chuyện kể của t�i sẽ phải cung cấp c�c dấu hiệu của sự tương phản trong h�nh thức c�c tiếng n�i của thế kỷ thứ mười bốn như sự b�nh luận của họ tr�n c�c sự ph�t triển quan trọng.�

������ Thời gian giờ n�y được quan niệm một c�ch kh�c.� Bởi v� c� sự dửng dưng đối với qu� khứ, Việt Nam sau c�ng được g�n gh�p với một xứ thượng cổ, thời ho�ng kim của Văn Lang khi �c�c phong tục c�n thuần khiết�.� L� do cho sự giả tưởng v� rằng Văn Lang, nguy�n thủy một địa danh kh� hiểu trong hai t�i liệu H�n ngữ ban đầu về miền t�y bắc Việt Nam, được nắm chặt như một ẩn dụ ho�i niệm cho điều được giả định l� một x� hội Việt Nam c� thể thống từ ng�n xưa.� Kỷ luật x� hội từ giờ trở đi l� mối quan t�m quan trọng của ch�nh quyền.� Sự tham chiếu được biết đến đầu ti�n về Văn Lang, một c�ch th�ch hợp, l� trong một b�i thơ của Phạm Sư Mạnh, người được đề cập trong danh s�ch c�c nh�n vật tuyệt hảo năm 1323, được viết khi �ng đang tuần cảnh v�ng t�y bắc hồi giữa thế kỷ.� Ẩn dụ, bởi n� đ� được viết xuống, c� thể trở th�nh một sự kiện lịch sử, như xảy ra v�o khoảng cuối thế kỷ.� Sử gia thế kỷ thứ mười ba, �ng L� Văn Hưu, đ� cần đến Triệu Đ�, vị �ho�ng đ� đầu ti�n, như một ẩn dụ cho nền độc lập của Việt Nam trong sự th�ch thức với cơn tức giận của Kubilai Khan, nhưng Văn Lang đ� trở n�n đủ quan trọng tự bản th�n để chứng minh cho c�c nỗ lực của c�c nh� khảo cổ học hồi thập ni�n 1960 nhằm thu hồi c�c chế t�c phẩm của n�.� Ng�y nay Văn Lang l� một ẩn dụ cho sự khai sinh của quốc gia.

������ C�c điều kiện thay đổi đ� khiến cho � niệm về sự kh�ng thay đổi trở n�n v� nghĩa.� Việt Nam giờ đ�y đ�i hỏi một qu� khứ như một sự ph� ph�n của hiện tại v� để định nghĩa c�c mục đ�ch của n� cho tương lai.� L� Qu�t, bạn của �ng Mạnh, chỉ tr�ch c�c Phật tử thuộc mọi tầng lớp x� hội bởi v�, �khi họ giao tặng một điều g� đ� cho một ng�i đền hay ch�a, họ cảm thấy sung sướng như thể sự tưởng thưởng của họ được bảo đảm trong tương lai�. 8 �Được bảo đảm� thuộc v�o l�nh vực t�n hiệu của thế kỷ thứ mười ba bởi tượng trưng cho t�nh khả dĩ ti�n đo�n được: �� Trời�, �sự chắc chắn�, c�c h�ng r�o thi�n nhi�n�, c�c cấu tr�c văn chương được lập đi lập lại.� �ng Qu�t kh�ng c�n c� thể chia sẻ th�i độ tin tưởng n�y l�u hơn nữa.

������ Vả lại, thời gian c� thể được tổ chức một c�ch kh�c biệt khi � niệm về trực hệ (hay trực tuyến: linearity), được �m chỉ bởi thời thượng cổ mới được t�m thấy của Việt Nam, được thiết lập.. 9 Người Việt Nam tr� thức giờ đ�y ng�y c�ng trở n�n tin tưởng rằng sự ph�n chia thời gian của Trung Hoa th�nh c�c chu kỳ triều đại tương ứng với kinh nghiệm ch�nh họ khi triều đại nh� Lỳ đang cơn suy sụp.� Trong thế kỷ thứ mười ba, L� Văn Hưu, b�nh luận trong ni�n k� năm 1005 về nh� l�nh đạo sau c�ng k�m cỏi của gia tộc họ L� trước đ�, th� giống như t�n điều của Trung Hoa về �sự l�n xuống� của c�c triều đại, nhưng l� do th� đơn giản rằng �ng ta đang bi�n soạn một sử k� th�ch hợp cho một Triều Đ�nh đế triều v� do đ� trong thể c�ch của sử gia nh� Tống Tư m� Quang (Si-Ma Guang) (mất năm 1086) v� bị bắt buộc phải thừa nhận quy ước viết sử của Trung Hoa về chu kỳ triều đại.� Kh�ng giống như thế, Trần Nguy�n Đ�n (mất năm 1390), một hậu duệ của Trần Quang Khải v� c�ng ch�a anh h�ng Phụng Dương, khi �ng th�ch đố c�c đồng sự khinh xuất của �ng bằng c�ch nhắc nhở họ rằng �sự l�n xuống (của c�c triều đại) xuy�n qua thời gian cung cấp một c�ch chắc chắn c�c th� dụ cảnh c�o (về c�c triều đại bị đe dọa bơi sự sụp đổ)�.� Mặc d� th�nh ngữ �sxuy�n qua thời gian� (throughout time� c� thể l� một c�ch n�i hoa mỹ, �ng đang đề cập đến một tiết điệu triều đại thuộc về kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa chứ kh�ng phải của Việt Nam.

������ Ch�nh v� thế, khi thời gian nằm trong một trạng th�i l�n xuống v� kinh nghiệm Việt Nam kh�ng c�n l� một chỉ dẫn khả t�n, người ta bị bắt buộc phải suy x�t về c�ch sử dụng thời gian tốt nhất.� C�c quyết định chưa từng thấy giờ đ�y trở n�n khả thi.� Trong năm 1377 ho�ng đế Duệ T�n chết đi trong chiến trận khi cố gắng trừng phạt người Ch�m b�n ngo�i bi�n giới ph�a nam của Việt Nam v� c�c cuộc đột k�ch t�n ph� của họ đe dọa ngay đến kinh đ� Việt Nam v� khi Triều Đ�nh phải bỏ chạy để được an to�n.� T�n điều triều đại cho đến giờ chủ trương rằng c�c chiến dịch thắng lợi chống lại c�c kẻ th� ngoại lai tăng cường cho thẩm quyền trong nước.� Trong thực tế, sự tin tưởng trong thế kỷ thứ mười ba, t�y thuộc lần lớn v�o sự th�nh c�ng về qu�n sự.� Mặc d� kh�ng cương quyết khi đối diện với c�c vấn đề nội bộ, vua Minh T�n đ� tức thời trong năm 1329 v� 1335 chỉ huy qu�n đội chống lại c�c kẻ x�m lăng từ ph�a t�y bắc.� Nhưng thời đại nay đ� thay đổi v� c�c gi� trị truyền thống đ� bị bỏ rơi.� Sự tự tin đ� xuống thấp đến độ ngay trước khi mở chiến dịch đ�nh Ch�m, b� vợ của vua Duệ T�n v� c�c quan chức của �ng d�m th�c dục �ng đảo ngược c�c ưu ti�n của �ng v� th�i kh�ng đi giao chiến cho đến khi �ng v�n hồi được trật tự trong nước.� Một b�i khảo luận b�c bỏ chiến tranh đ� được viết về thời gian n�y.� Một �t năm sau đ�, Trần Nguy�n Đ�n khuyến c�o một sự phủ nhận kh�c thường kinh nghiệm qu� khứ khi �ng cố vấn vua Nghệ T�n (mất năm 1394) �k�nh trọng vua nh� Minh như một người cha v� y�u vua Ch�m như một người em�.� C�c tổ ti�n của �ng Đ�n sẽ lấy l�m thất kinh.� C�c ho�ng đế Trung Hoa v� Việt Nam c� tư thế ngang nhau.

������ Một th� dụ văn chương về việc viết lại qu� khứ dưới sức �p của c�c t�nh huống thay đổi được cung cấp bởi một phi�n bản cập nhật của quyển Việt Điện U Linh Tập trong đ� c�c thần linh anh h�ng giờ đ�y cũng được vinh danh về việc kiểm so�t c�c ảnh hưởng ma quỷ tại c�c ng�i l�ng. 10 Năm 1379 một kẻ nổi loạn gần kinh đ�, sử dụng c�c ma thuật, tự xưng l�m �vua�.� Bản văn tu chỉnh l� một sự đ�p ứng nhiều hơn trước điều được nhận thức l� một nhu cầu khẩn thiết để v�n hồi trật tự tại v�ng n�ng th�n.� Điều c� thể khẳng định được, đề xuất đưa ra trong năm 1397 để thiết lập c�c trường học ở l�ng x� cho việc giảng dạy c�c nghĩa vụ gia đ�nh, chủ định chắc chắn l� để thuyết phục d�n l�ng kh�ng đi lang thang v� gia nhập c�c to�n nổi loạn.� L� Qu�t đ� lấy l�m x�t xa về sự vắng b�ng c�c ng�i trường như thế.� Sự biện giải d�nh được thắng thế rằng kỷ luật đạo đức th� cần thiết ngo�i c�c chiến dịch trừng trị thường lệ chống lại c�c kẻ nổi dậy.

������ Trong �t năm sau c�ng trước khi c� sự sụp đổ của triều đ�nh v�o năm 1400, gia tộc nh� Trần tự d�nh mắc v�o c�c sự thay đổi mau lẹ g�p phần v�o việc hủy diệt n�.� Khi vua Minh T�n băng h� v�o năm 1357, �ng ta, cho đến năm 1394, được kế nhiệm bởi ba người con trai.� Chỉ c� đứa đầu ti�n trong ch�ng, vua Dụ T�n bất lực v� ph�ng đ�ng (bị mất năm 1369), l� con của người vợ cả của Minh T�n, con g�i của người ch� [hay b�c] m� �ng ta hạ s�t v�o năm 1328.� Sự thừa kế triều đại giờ đ�y l� một cảnh ch�m giết.� Vua Duệ T�n chết trong chiến trận v� vua Nghệ T�n k�m may mắn v� ng�y c�ng tuyệt vọng ph� vỡ truyền thống bởi việc từ bỏ ch�nh s�ch của gia tộc �ng dựa v�o c�c người th�n th�ch của gia tộc v� thay v�o đ�, ủy th�c ch�nh �ng v� Triều Đ�nh của �ng cho một th�n nh�n qua h�n phối, L� Qu� Ly.� Trong năm 1388 vua gi� Nghệ T�n, sinh năm 1321, sau c�ng đ� giao ph� số phận của m�nh cho �ng Ly, giết người ch�u trai v� thừa kế của m�nh, v� ủy th�c đứa con c�n rất trẻ cho sự bảo vệ của �ng Ly.� Một sự k�nh trọng th�i qu� đối với thẩm quyền triều đại của Nghệ T�n khiến cho người ch�u trai bất hạnh của �ng ra lệnh cho c�c người ủng hộ m�nh hạ kh� giới xuống.� Trong năm 1392, đến lượt L� Qu� Ly viết lại qu� khứ, trong trường hợp n�y l� truyền thống Trung Hoa, hầu ca ngợi Chu C�ng (Duke of Chou) l�n vị thế hiền triết cao hơn cả Khổng Tử; Chu C�ng l� một kẻ bảo hộ gương mẫu của một nh� l�nh đạo c�n trẻ v� h�nh ảnh tự ph�c hiện thời của L� Qu� Ly.� Sự tr� ngụy của �ng giải th�ch l� do tại sao, ngay trước khi c� sự từ trần của vua Nghệ T�n v�o năm 1394, một vị phụ ch�nh thế kỷ thứ mười hai cho một nh� l�nh đạo trẻ tuổi nh� L�, �ng T� Hiến Th�nh, lại được ban cấp c�c danh dự đặc biệt sau khi chết.� �ng Th�nh đ� kh�ng được biết đến c�c chuyện kể về c�c thần linh anh h�ng.� Qu� khứ lại được viết lại một lần nữa về lần n�y, cũng vậy, t�i tin t�c giả của quyển Việt Sử Lược đ� t�i duyệt x�t một c�ch chặt chẽ thời trị v� của nh� l�nh đạo cuối c�ng của nh� L�, Huệ T�n (1210-25), để vinh danh vai tr� của kẻ bảo vệ cho vị vua gi� đau yếu đ�.� Kẻ bảo vệ ngẫu nhi�n trở th�nh người s�ng lập ra c�c sự nghiệp của gia tộc nh� Trần, nhưng điều chắc chắn li�n quan l� mối quan hệ h�n th� của người bảo vệ với nh� l�nh đạo họ L� v� kết cuộc tr� định, l� sự đăng quang danh dự v� h�a b�nh của th�n nh�n trẻ tuổi của kẻ bảo vệ l�n ng�i cao.� Trong cả hai kh�a cạnh, bản văn chuẩn bị một c�ch r� rệt căn bản cho việc hợp ph�p h�a sự tiếm ng�i của L� Qu� Ly. 11 C�c ni�n sử m� tả thời trị v� của vua L� sau c�ng rất kh�c biệt.� Người ch� của Th�i T�n cưỡng b�ch vua Huệ T�n phải tự thắt cổ v� hạ s�t gia tộc �ng ta.

������ Bản văn tường thuật thế kỷ thứ mười bốn sẽ kết th�c với cuộc tắm m�u trong năm 1400 đ� lật đổ gia tộc nh� Trần, hủy diệt triều đại, v� mang L� Qu� Ly l�n ng�i.� Vua Nghệ T�n g�n dở, vụng về v� h�n nh�t sẽ được đối chiếu với một L� Qu� Ly cương quyết, xảo quyệt v� độc �c.� C�u chuyện kể cũng sẽ m� tả sự th�nh lập nh�m cận thần của L� Qu� Ly.� Những người n�y tượng trưng cho những kẻ kh�ng phải �l� c�c thi h�nh c�ng t�c hay ưu tư�, bị trấn �p bởi sự thay đổi. 12

������ C� được c�c đường n�t n�y ph�c thảo tầm mức tương phản giữa thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn, giờ đ�y t�i sẽ c� thể quay trở lại chủ đề của cốt truyện của t�i: một triều đại vốn đ� sẵn tan r� trong v�ng một thế kỷ của cuộc chiến thắng qu�n sự ngoạn mục.

������ T�i sẽ n�u � kiến rằng c�u chuyện của t�i về c�c thế kỷ thứ mười ba v� mườI bốn cho thấy rằng quốc gia nh� Trần bị nứt rạn v� n� bị đ� nặng bởi một triều đại.� Thể c�ch v� �diện mạo� triều đại của n� c� thể xem ra hứa hẹn sự li�n tục v� ổn định, v� một l�nh thổ nhỏ b� phải n�n tương đối dẽ d�ng để quản trị.� Nhưng �diện mạo� Trung Hoa của n� v� sự ứng dụng quy ước Trung Hoa về một chu kỳ triều đại của người viết ni�n sử nh� Trần n�ng cao c�c kỳ vọng kh�ng thực tế.� Chỉ c� hai khia cạnh của Việt Nam l� c� thể bị xem l� �c� t�nh chất Trung Hoa� (sinic): C�c ho�ng đế của n� biết rằng c�c bi�n giới được ấn định v� kh�ng thủng lỗ v� rằng họ sẽ bị ph�n x�t bởi khả năng của họ để ph�ng vệ ch�ng, v� một số văn nh�n tr� thức tin tưởng� một c�ch đầy đủ nơi thẩm quyền của chữ được viết ra rằng, khi họ bị đối diện với c�c sự thay đổi nghi�m trọng, họ cảm thấy bị b� buộc phải viết ra kinh nghiệm m� giờ đ�y được ph�t lộ.� Nhưng định chế triều đại Việt Nam, trong thực tế, th� mong manh.� Thực chất của ch�nh quyền, hay của điều t�i nh�n như �sắc diện� của Việt Nam � khả năng của n� để giữ được sự b�nh tĩnh � như� một điều kh�c biệt với �diện mạo� của n�, t�y thuộc v�o c�c t�nh huống kh�c hơn l� v�o uy t�n của định chế triều đại v� sự bảo đảm giả định của n� cho sự bền vững v� chắc chắn kh�ng phải một � thức hệ lệ thuộc v�o c�c gi� trị đạo đức tương li�n, x� hội v� ch�nh trị c�ng c�c nghĩa vụ.� Chương cuối c�ng của cuộc nghi�n cứu của t�i, nếu n� được tiếp nối, sẽ l�m nổi bật c�c kh�a cạnh của t�c phong bản xứ chẳng hạn như một sự ưa th�ch c�c phương c�ch mau lẹ để giải quyết c�c vấn đề tức thời hơn l� việc hoạch định cho tương lai, nhờ cậy đến sự bảo vệ si�u nhi�n, một sự điều h�nh ch�nh quyền c� t�nh c�ch c� nh�n v� kh�ng ch�nh thức, sự trợ gi�p kh�ng thể thiếu được của c�c ch� b�c v� anh em nh� l�nh đạo, một gia tộc cầm quyền xa hoa, một đo�n cận thần t�y t�ng v�ng lời, c�c �n sủng của c�c nh� l�nh đạo, c�c th� dụ về l�ng trung th�nh của c�c quan chức, v� cả về sự lo �u để đạt được th�nh t�ch nhằm đến c�c sự tưởng thưởng chức nghiệp, v� c�c �m chỉ về hệ thống quan hệ họ h�ng song phương chống lại sự cư tr� thường trực tại c�c l�ng x� v� sự vun đắp c�c nghĩa vụ x� hội kiểu Trung Hoa, một hệ thống quan hệ họ h�ng ngược với việc gia tộc họ Trần tự bảo vệ bằng c�ch kết h�n với c�c th�n nh�n của n�.� C�c quan s�t vi�n Trung Hoa đ� mau ch�ng chấm định v� ph�n n�n t�nh chất cốt yếu của t�nh trạng văn h�a: sự vắng mặt của trường học nhằm gi�o huấn �c�c quan hệ x� hội th�ch nghi v� c�c đức t�nh c�ng d�n�.� Trong c�c t�nh huống n�y, quốc gia nh� Trần c� thể được ước vọng chỉ giữ vững được khi gia tộc cầm quyền thống nhất v� c� khả năng v� c� thể vận dụng để tạo ưu thế cho n� điều m� t�i đ� m� tả như l� động th�i bản xứ.� Điều n�y l� những g� đ� xảy ra từ 1226 đến 1357, mặc d� c�c sự việc đ� sẵn đi sai đường trong những năm sau c�ng thời vua Minh T�n.

������ Từ đ� trở đi triều đại đ� suy sụp một c�ch đột nhi�n v� mau ch�ng m� kh�ng c� c�c dấu hiệu rằng n� c� thể hồi phục.� C�c ho�ng đế đa năng, c� khả năng ứng biến c�c sự đ�p ứng trước c�c t�nh trạng khẩn cấp, kh�ng c�n hiện diện tr�n diễn trường.� C�c quan chức trung th�nh c� thể khuyến c�o c�c ch�nh s�ch, nhưng một guống m�y thư lại c� tổ chức kh�ng được cung ứng để gi�p lấp đầy khoảng trống khi c�c ho�ng th�n th�i kh�ng c�n c� khả năng v� thực hiện c�c sự cải c�ch để tr� ho�n sự kết th�c như đ� c� thể xảy ra tại Trung Hoa hồi nh� Đường sau n�y v� tiếp theo đ�.� Thay v�o đ�, thẩm quyền nh� Trần đ� tạm thời được chống đỡ bởi một kẻ �bảo vệ� bất trung.

������ Việt Nam trong c�c thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn kh�ng bao giờ thụ hưởng sự ổn định tương đối của đế quốc Trung Hoa nhưng, c�ng l�c, n� bị cự tuyệt một sự linh động ch�nh trị �Đ�ng Nam ��, khi c�c chế độ, đ�i khi k�o d�i kh�ng hơn một thế hệ hay như thế, c� thể biến mất trong sự kế nhiệm mau ch�ng m� kh�ng c� g�y ra sự thống khổ k�o d�i m� nh� Trần suy sup đ� g�y ra cho Việt Nam.� Sẽ c� c�c sự thay đổi thường xuy�n hơn tại thượng tầng, nhưng đời sống b�n dưới sẽ kh�ng bị tho�i h�a th�nh một sự căng thẳng giữa c�c d�n l�ng v� những kẻ muốn �p đặt trật tự tr�n họ.� Nếu một người đ�p lại rằng định chế triều đại đ� bảo vệ Việt Nam trong thế kỷ thứ mười ba, người đ� sẽ phải giải th�ch l� do tại sao trong thế kỷ thứ mười, trước khi nguy�n tắc triều đại thế tập được thiết lập, Trung Hoa đ� bị chặn cửa v� thể thức của hệ thống triều cống x�c định v� điều h�nh để duy tr� �một mối quan hệ tốt với Trung Hoa�, uyển từ của nh� viết ni�n sử d�ng để chỉ hệ thống.� C�c con người đ�n �ng v� đ�n b�, chứ kh�ng phải c�c định chế, l� yếu tố quan trọng trong c�c thế kỷ thứ mười v� mười một.

������ Một tiểu thuyết đ� được m� tả như �một bộ m�y l�m ph�t sinh c�c sự giải th�ch.� 13 C�ng điều đ� c� thể được n�i cho sự tường thuật lịch sử, mặc d�, kh�ng được may mắn, độc giả của n� thường kh�ng được cao thượng như c�c kẻ đọc tiểu thuyết.� C� lẽ c�c người viết lịch sử trần thuyết phải nh�n nhận một c�ch thẳng thắn l� c� t�nh c�ch khi�u kh�ch hơn l� quyết đo�n.� V� như thế, để kết luận chương cuối c�ng của m�nh, t�i sẽ c�n tr�ch dẫn một nguồn t�i liệu kh�c, c�ng tr�nh của �ng Ng� Sĩ Li�n, nh� b�nh luận hồi cuối thế kỷ thứ mười lăm về c�c ni�n sử nh� Trần, v� l� một nh� Khổng học s�ng t�n, kẻ m� t�i thảo luận trong chương �p ch�t dưới nhan đề �Kh� l� một quốc gia đế quốc th�ch đ�ng: một ph�n quyết cho Việt Nam thế kỷ thứ mười lăm�.� �ng Li�n cũng thế, đ� viết lại kinh nghiệm thời Trần nhưng để ch�m biếm n� v� x�a bỏ n� như l� kh�ng c� gi� trị, m� c�n cả t�nh chất nguy hiểm nữa. 14 �ng Li�n c� thể đồng � với t�i, v�, cũng mỉa mia, với c�c nguồn t�i liệu Trung Hoa m� t�i để cứu x�t rằng Việt Nam thời nh� Trần, về mặt triều đại, đ� kh�ng thể c�ng nhau cấu kết.� Sự kh�c biệt giữa ch�ng t�i l� �ng mong muốn khai th�c đạo đức Khổng học để củng cố định chế triều đại, c�c ch�nh s�ch của n�, v� c�c nh�n vi�n của n�, trong khi t�i sẽ thuật lại c�u chuyện về c�c hậu quả bi thảm m� định chế nhất thiết, sớm hay muộn, mang đến theo bước ch�n của n�./- ���������������������

_______

CH� TH�CH:

1. O. W. Wolters, �Engaging J. D. Legge.� Narrating the Fall of the Ly and the Rise of the Trần Dynasties�, Asian Studies Association of Australia Review 10, 2 (1986): 24-25.

2. Chen Fu, Chen gang zhong shi za (Taipei: Si-ku quan-shu chen-pen ba-ji, nọ 159); An-nan zhi-yuan (H� Nội: L. Aurousseau, bi�n tập, �cole Franҫaise d�Extr�me-Orient, 1932).

3. L� Tế Xuy�n, Việt Điện U Linh Tập (�cole Franҫaise d�Extr�me-Orient A 47).

4. T�i bị ảnh hưởng bởi Valentine Cunningham, British Writers of the Thirties (Oxford University Press, 1988), trang 2.� �ng đ� n�i đến �một l�nh vực được nối kết, to�n bản văn, hay một chuỗi c�c t�n hiệu kh�c nhau, bổ t�c, �t hay nhiều, cho một dấu hiệu đơn nhất�.� Điều n�y c� thể l� một c�ng việc kh�ng thể đạt được đối với sử gia, nhưng n� ph�t ra c�ng c�c t�n hi�u.

5. O. W. Wolters, �Possibilities for a Reading of the 1293-1357 Period in the Vietnamese Annals�, Vietnam Forum 11 (1988): 97-102.

6. Để nghi�n cứu về sự bất ổn ở n�ng th�n, t�i đ� hưởng lợi từ c�c b�i khảo luận trong quyển T�m Hiểu X� Hội Việt Nam Thời L� Trần, H� Nội: Nh� xuất bản Khoa Học X� Hội, 1981.

7. T�i ưa th�ch �việc viết lại: rewriting� �sự ph�t minh của truyền thống� của Eric Hobsbawm, theo �ng, l� những g� xảy ra trong thời gian c� sự thay đổi x� hội mau lẹ.

8. C�c đoạn ghi ni�n sử dưới ni�n đại 1370, khi L� Qu�t mất đi.

9. Rằng đ� c� hai trường hợp cải c�ch ni�n lịch trong thế kỷ thứ mười bốn c� lẽ kh�ng c� t�nh ngẫu hợp.

10. O. W. Wolters, Two Essays on Đại Việt in the fourteenth century, Yale: Southeast Asian Studies, The Lạc Việt Series, no. 9, 1988, c�c trang xx-xxii.

11. Wolters, �Narrating the Fall of the Ly and the Rise of the Tran Dynasties�, c�c trang 25-27.

12. Trong chương cuối c�ng đề nghị của t�i, t�i sẽ cứu x�t đến c�c t�nh trạng kh�c trong sự thay đổi thuộc thế kỷ thứ mời bốn chẳng hạn như một sử sử dụng r� r�ng được mở rộng của sự viết chữ tr�n sừng th� vật của Việt Nam v� sự tham dự của Việt Nam v�o mậu dịch đồ gốm quốc tế.

13. Umberto Eco, Reflections on The Name of the Rose, London: Secker & Warburg Limited, 1985, trang 2.

14. Oliver Wolters, �What Else May Ng� Sĩ Li�n Mean? A Matter of Distinctions in the Fifteen Century�, trong quyển Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese, in Honour of Jennifer Cushman, bi�n tập bởi Anthony Reid, Sydney: Allen & Unwin for ASAA, 1995.

_____

Nguồn: Oliver W. Wolters, On Telling A Story of Vietnam In The Thirteenth and Fourteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, bộ 25, số 1 (Th�ng Ba 1995): từ trang 63 đến 74.�

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

01/11/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2010