Wilhelm G. Solheim II

University of Hawai�I, Manoa

 

Đ�I LOAN, DUY�N HẢI NAM TRUNG HOA

V� BẮC VIỆT NAM

�V� MẠNG LƯỚI MẬU DỊCH ĐƯỜNG BIỂN

CỦA D�N HẢI ĐẢO (NUSANTAO)

 

Ng� Bắc dịch

 


photo:wikimedia.org/wikipedia/Auckland_University

Bề mặt của mảnh gốm vỡ Lapita từ địa điểm Nenumbo tại Quần Đảo Solomon trong thập ni�n 1970.� Nh� nghi�n cứu l� �ng Roger C. Green khi đ� l�m việc tại Đại Học University of Auckland.� Mảnh vỡ c� chiều ngang đo được 3 ph�n Anh (inch) v� được nghĩ c� ni�n đại trở l�i về tới 1000 năm Trước C�ng Nguy�n.

***

Lời Người Dịch:

Lapita l� một từ ngữ d�ng để chỉ một văn h�a khảo cổ v�ng Th�i B�nh Dương thời cổ được tin bởi nhiều nh� khảo cổ học l� tổ ti�n chung của nhiều văn h�a tại Polynesia, Micronesia, v� một số khu vực duy�n hải của Melanesia.� Văn h�a khảo cổ n�y v� đồ gốm ti�u biểu c� in dấu h�nh răng cưa theo kỷ h� học được đặt t�n theo địa điểm điển h�nh nơi m� n� được kh�m ph� lần đầu tại b�n đảo Fou� ở Grand Terre, đảo ch�nh của v�ng New Caledonia.� Cuộc khai quật được thực hiện trong năm 1952 bởi c�c nh� khảo cổ Mỹ Edward W. Gifford v� Richard Shulter Jr. ở địa điểm số 13.

Khu định cư v� c�c mảnh gốm vỡ sau n�y được ấn định ni�n đại l� khoảng 800 Trước C�ng Nguy�n v� chứng tỏ c� tầm quan trọng trong sự nghi�n cứu về cư d�n ban sơ tại v�ng Hải Đảo Th�i B�nh Dương.� Hơn hai trăm địa điểm Lapita đ� được kh�m ph� từ khi đ�, trải d�i hơn 4000 c�y số từ duy�n hải v� đảo Melanesia đến đảo Fiji v� Tonga, với giới hạn xa nhất về ph�a đ�ng cho tới Samoa. (Nguồn:    http://en.wikipedia.org/wiki/Lapita)

Điều quan trọng nhất đối với c�c nh� nghi�n cứu về Việt Nam l� kết luận của t�c giả, Gi�o Sư Wilhelm G. Solheim, nh� khảo cổ h�ng đầu về v�ng Th�i B�nh Dương, rằng �tổ ti�n của đồ gốm Lapita đến từ Việt Nam�.�

***

Đại �:

������ Sự quan t�m ch�nh yếu của b�i khảo luận n�y l� để đưa ra c�c chi tiết của sự ph�t triển Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển của D�n Hải Đảo (Nusantao) giữa Đ�i Loan, v�ng duy�n hải Nam Trung Hoa v� Bắc Việt Nam từ trước 7000 năm Trước Hiện Tại (B. P.: Before Present) (* a) một ch�t cho tới khoảng 2000 năm Trước Hiện Tại.� Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của D�n Hải Đảo được nh�n như một mạng lưới lưu th�ng v� mậu dịch trải rất rộng, đến nỗi bao tr�m to�n thể Th�i B�nh Dương, c�c khu vực duy�n hải của Biển Trung Hoa v� Nhật Bản, c�c khu vực duy�n hải của Vịnh Bengal v� Ấn Độ Dương m�i tận đến Madagascar, v� v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo v� khu vực duy�n hải của v�ng Đ�ng Nam � Lục Địa.� Khởi sự tại ph�a đ�ng v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo v�i trăm năm trước năm 5000 Trước C�ng Nguy�n (B.C), n� đ� b�nh trướng từ đ� l�n phương bắc xuy�n qua Phi Luật T�n đến Đ�i Loan v� v�ng duy�n hải Nam Trung Hoa v� sau đ� theo hướng bắc dọc bờ biển Trung Hoa đến ph�a t�y v� ph�a nam H�n Quốc v� sau c�ng đến đảo Kyushu tại Nhật Bản, tiến h�nh ở đ�y ngay trước năm 3000 Trước C�ng Nguy�n, nhưng trở n�n ph�t triển tốt nhất tại H�n Quốc v� Nhật Bản trong suốt thi�n ni�n kỷ đầu ti�n Trước C�ng Nguy�n.

*****

������ Văn h�a h�ng hải của Đ�ng Nam � đ� l� ti�u điểm của sự sưu khảo của t�i từ năm 1949, nhưng c�c ấn phẩm cụ thể đầu ti�n của t�i về đề t�i n�y l� v�o năm 1975 (Solheim 1975a, 1975b).� Trong b�i đầu ti�n của c�c văn bản n�y t�i đ� đề cập đến người d�n đ� ph�t triển văn h�a n�y l� Austronesians hay những người n�i tiếng Austronesian (�c Ch�u Nam Đảo) (Solheim 1975a: 151-157).� T�i đ� thay đổi từ ngữ n�y th�nh Nusantao v� l� do kể sau:

Sự sử dụng từ Austronesian (�c [hay Nam �] Đa Đảo) v� / hay danh từ gh�p Malayo-Polynesian (M� Lai Đa Đảo) để chi một d�n tộc v� một văn h�a th� rất gượng �p, cũng như kh�ng ch�nh x�c.� Cả hai từ ngữ l� để chỉ một ngữ tộc (language family) v� kh�ng n�n được d�ng cho c�c mục đ�ch kh�c.� Bởi v� những người n�y chia sẻ c�ng một văn h�a căn bản lẫn một ng�n ngữ, sẽ kh�ng phải kh� khăn để đặt ra một từ ngữ cho một sắc d�n v� văn h�a từ c�c nguy�n mẫu (protoforms) được t�i dựng của ng�n ngữ.� Bởi những người n�y l� d�n của c�c h�n đảo, t�i đề nghị từ ngữ Nusantau để chỉ c�c người d�n v� c�c văn h�a n�y. (T�i rất muốn cảm tạ t�c giả George Grace về việc chuyển cho t�i c�c ngữ căn nusa để chỉ h�n đảo v� tau để chỉ người hay d�n tộc) (Solheim 1975a:158).

������ Kh�i niệm của t�i về Nusantao (v� c�ch đ�nh vần đ�ng của n�) đ� tiến h�a theo thời gian:

T�i giờ đ�y định nghĩa Nusantao (D�n Hải Đảo) như c�c người bản sinh của Đ�ng Nam �, v� c�c hậu duệ của họ, một nền văn h�a hướng về h�ng hải từ l�c khởi thủy của họ, những kẻ ph�t khởi c� lẽ tại v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo kh�ng l�u trước năm 5000 Trước C�ng Nguy�n.� Đa số người d�n thuộc văn h�a n�y, ở bất kỳ thời điểm n�o, c� thể đ� n�i một ng�n ngữ Malayo-Polynesian nhưng chắc chắn đ� c� một thiểu số với c�c k�ch thước kh�c nhau trong họ, đ�i l�c, đ� kh�ng n�i một ng�n ngữ li�n hệ (Solheim 1975a:158).

������ Nusantao (d�n hải đảo) chắc chắn c� li�n hệ trực tiếp với sự ph�t triển v� phổ biến c�c ng�n ngữ M� Lai Đa Đảo.� Tại bất kỳ một thời điểm n�o, cũng đ� c� nhiều c�c kẻ n�i tiếng Malayo-Polynesian kh�c sinh sống tại v�ng nội địa của c�c h�n đảo lớn hơn l� c�c kẻ kh�ng hướng đến h�ng hải, v� t�i sẽ kh�ng xem c�c người n�y l� Nusantao.� Nusantao v� c�c người n�i tiếng Malayo-Polynesian kh�ng thi�n về h�ng hải chắc chắn đ� thường trực hỗn hợp nhau về mặt di truyền, văn h�a v� ng�n ngữ.� Tổ ti�n căn gốc di truyền của họ chắc chắn đ� biến đổi với thời gian v� t�y nơi chốn để bao gồm người Nam M�ng Cổ (Southern Mongoloid) v� t�i sẽ n�u � kiến rằng điều n�y rất c� thể đ� l� trường hợp xảy ra ngay từ ch�nh l�c khởi đầu của họ (Solheim 1984-1985: 85-86 bản tu chỉnh).� Định nghĩa của t�i về Đ�ng Nam � trong nhiều năm c� bao gồm cả Miền Nam Trung Hoa (Solheim 1967a: 3; 1973: 25; 1975a: 154; 1975b: 108; 1979: 200; 1984-1985:P 13; 1992).

 

VĂN H�A D�N HẢI ĐẢO

������ C� nhiều th� dụ về c�c nh�m chủng tộc Nusantao sinh sống ng�y nay v� trong qu� khứ gần đ�y.� C�c th� dụ tốt về những nh�m n�y tại V�ng Đ�ng Nam � Lục Địa l� sắc d�n Bajao, Samal, v� Tausug của M� Lai (Malaysia), Nam Dương (Indonesia), v� Phi Luật t�n. �T�i đ� viết về lối sinh hoạt của ch�ng, rằng họ sinh sống tr�n c�c chiếc thuyền, chắc chắn đ� tiến h�a từ lịch sử ban đầu của ch�ng như D�n Hải Đảo (Nusantao) (Solheim 1990: 243-245).� C�c nh�m tương tự đ� được b�o c�o từ miền duy�n hải Việt Nam, Nam Trung Hoa, Okinawa, v� Nhật Bản (Solheim 1995).� Trong c�c kết luận của m�nh về c�c người d�n n�y từ Nhật Bản v� Okinawa, t�c giả Yanagita (1976; Solheim 1995) đ� viết:

Đến mức liến hệ với đất nước ch�ng t�i, r� r�ng rằng ch�ng t�i đ� c� những người d�n sống cuộc đời của họ tr�n c�c chiếc thuyền kể từ thời của Ho�ng Đế Onin (*b) hay trong khoảng 2000 năm.� Lịch sử của người d�n sống tr�n thuyền (boat people) tại một số phần đất kh�c của � Ch�u xem ra c�n bắt đầu sớm hơn nữa.� Với b�n đảo M� Lai l� trung t�m, một khu vực bao gồm C�c H�n Đảo Ấn Độ Thuộc H�a Lan, C�c H�n Đảo của Miến Điện, v� C�c H�n Đảo Andaman cho thấy c�c d�u vết của giống người tương tự.� Đ� c� nhiều điểm chung giữa c�c người đ� sống cuộc đời của họ tr�n mặt nước.� Tuy nhi�n, gần như kh�ng c� t�i liệu viết n�o về họ c�n t�n tại.

 

SỰ PH�T TRIỂN KH�I NIỆM VỀ

D�N HẢI ĐẢO (NUSANTAO)

������ Dữ liệu đầu ti�n gợi � cho t�i về một mạng lưới mậu dịch đường biển tại Đ�ng Nam � l� nhiều chiếc thuyền bằng gốm từ một địa điểm tại Phi Luật T�n v� từ một địa điểm kh�c tr�n bờ ph�a t�y của Vịnh Xi�m La (Th�i Lan).� �C�c chiếc thuyền n�y, mặc d� kh�c thường v� kh�c biệt về h�nh thể v� sự trang tr�, gần như ho�n to�n giống hệt nhau bất kể c�c địa điểm c�ch nhau v�o khoảng 2700 km đường chim bay v� c�n xa nhiều hơn theo đường biển (Solheim 1964: 200-205, H�nh 1-2).� Khi t�i ghi nhận lần đầu sự tương dồng nổi bật n�y t�i kh�ng nghĩ đến sự giải th�ch về mặt một mạng lưới mậu dịch đường biển.

������ Trong phạm vi ch�nh Đ�ng Nam �, t�i cảm thấy bằng chứng th�i th�c m�nh liệt nhất cho một mạng lưới mậu dịch đường biển trong suốt thi�n ni�n kỷ đầu ti�n Trước C�ng Nguy�n l� sự ph�n phối c�c b�ng (hoa) đeo tai bằng ngọc thạch, được gọi l� lingling-o, v� hiếm hơn nhiều, nhưng c� li�n hệ, một con th� hai đầu đồ c� thể l� hoa tai hay mặt d�y chuyền l�m bằng ngọc thạch.� C�c đồ vật ngọc thạch n�y th� ri�ng biệt v� được t�m thấy tại Botel Tobago ngo�i khơi ph�a nam Đ�i Loan, ph�a bắc Phi Luật T�n, Palawan tại miền trung t�y Phi Luật t�n, Sarawak, bờ bi�n miền trung v� b�n đảo Th�i Lan, nhưng hay gặp nhất tại v�ng duy�n hải Việt Nam (Loofs-Wissowa 1980-1981; Solheim 1982-1983).� Ngo�i ra, sự phủ ch�m l�n nhau trong thời v� kh�ng gian với sự ph�n phối ban đầu đ� m� n�o m�u đỏ (carnelian) v� c�c v�ng đeo tay v� c�c hạt x�u chuỗi bằng thủy tinh ban đầu tại Đ�ng Nam �, c� lẽ l�c đầu được du nhập từ Ấn Độ, xem ra đ� gợi � mạnh mẽ cho t�i về một hoạt động mậu dịch rất rộng r�i.

������ Mậu dịch ban đầu, hay sự đổi ch�c, kh�ng l�m bất cứ ai trở n�n gi�u c�, nhưng đ� cung cấp sự sống cho nhiều người thuộc c�c văn h�a biến h�a nhưng giống nhau.� N� đ� ph� b�y một mạng lưới lưu th�ng c� thể đ� truyền b� c�c � tưởng, c�c loại kh� cụ, v� c�c th�nh tố của nhiều kỹ thuật chung kh�c biệt.� N� cung cấp một phương ph�p di chuyển c�c sản phẩm xa xỉ x�ch tay v� một số vật liệu tương đối hiếm c� cần thiết cho c�c kh� cụ, chẳng hạn như đ� gương đen [obsidian, hay c�n gọi l� đ� vỏ chai, ch� của người dịch], vốn được trao đổi rất rộng r�i tại Đảo Melanesia, v� cho đến tận v�ng ph�a t�y của Indonesia từ Melanesia, bởi sắc d�n Lapita trong khoảng từ 1500 đến 500 Trước C�ng Nguy�n.

 

MỐI QUAN HỆ GIỮA Đ�NG NAM �,

H�N QUỐC V� NHẬT BẢN

������ Nh�n chủng học h�nh dạng, ng�n ngữ học v� khảo cổ học n�u ra một mối quan hệ chặt chẽ giữa c�c d�n tộc v� văn h�a của Nhật Bản v� H�n Quốc thời tiền lịch sử với c�c d�n tộc v� văn h�a của Đ�ng Nam �. C�ch hay nhất để giải th�ch l�m sao m� mối quan hệ n�y đ� xảy ra l�, một phần, xuy�n qua sự th�ng thương được mang lại bởi Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của D�n Hải Đảo.

������ T�c giả Christy Turner II (1976; 1979; 1985: 49-50; 1989) c� đề xuất ra hai loại răng tổng qu�t nhưng li�n hệ nhau cho c�c sắc d�n thuộc chủng tộc M�ng Cổ, c�c mẫu n�y l� Sinodonty (mẫu răng Người Trung Hoa) (*c) cho người gốc M�ng Cổ ở phương bắc v� người Da Đỏ Mỹ Ch�u v� Sundadonty (Mẫu Răng người v�ng Sunda) (*d) cho những người thuộc chủng M�ng Cổ ở phương nam, kể cả c�c sắc d�n của Đ�ng Nam �, Micronesia v� Polynesia.� C�c sắc d�n c� Mẫu Răng Sundadonty n�y bao gồm cả người Jomon: Thằng Văn: 縄文 (*e) của Nhật Bản thời tiền lịch sử, v�o khoảng từ 12,000 cho đến 2000 năm trước đ�y, sau đ� c�c loại răng thay đổi th�nh Mẫu Răng Trung Hoa (Sinodonty), giống như c�c sắc d�n H�n Quốc, miền Bắc Trung Hoa, v� T�y B� Lợi � (Siberia) (Turner 1989: 91; Hanihara 1990a, 1990b).� Sự ph�t triển n�y từ H�n Quốc trong khu�n khổ Văn Minh Yayoi: Di Sinh: 弥生(*f) phải được nh�n như c� li�n hệ với Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của D�n Hải Đảo (Nusantao).� Trong khi Turner, Hanihara, v� c�c t�c giả kh�c nhận định rằng mối quan hệ của người Ainu (*g), người Okinawa, v� người Jomon tiền lịch sử với c�c d�n tộc Đ�ng Nam � ph�t sinh từ một sự di chuyển hướng l�n phương bắc cho đến khi kết th�c thời Pleistocene (Kỷ Nguy�n Băng Tan) (*h), tức trước rất l�u Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của D�n Hải Đảo (Nusantao), t�c giả Brace (1990: 341-343) lại nghĩ nhiều phần hơn rằng sự di chuyển đi theo hướng nam v� rằng người Jomon l� tổ ti�n của c�c chủng tộc Micronesians v� Polynesians.� T�i đồng � với � kiến n�u ra trước (Solheim 1993a).

������ C�c nguồn gốc của ng�n ngữ Nhật Bản vẫn c�n được tranh luận.� � kiến được chấp nhận rộng r�i nhất l� � kiến n�i rằng n� l� một ng�n ngữ nh�m Altaic (*i), c� lẽ c� li�n hệ tr�n một số phương diện với tiếng H�n Quốc.� T�c giả Murayama (1976: 419), c�ng với một it c�c nh� ngữ học Nhật Bản kh�c, đ� n�u giả thuyết rằng tiếng Nhật c� li�n hệ với tiếng Austronesian, m� t�c giả thường đề cập đến l� tiếng Malayo-Polynesian.� T�c giả Murayama (1976: 427) n�u � kiến th�m rằng địa điểm nguy�n thủy tại Nhật Bản nơi m� ng�n ngữ khởi ph�t nằm trong phần miền bắc của đảo Kyushu.� T�c giả Martin (1966; tr�ch dẫn từ Murayama 1976: 428) đ� cố gắng để li�n kết Nhật Bản với H�n Quốc.� Li�n can đến điều n�y, t�c giả Murayam (1976: 419) n�i: �Khi người ta đọc t�c phẩm của �ng Martin về vấn đề n�y, người ta bị đụng chạm nhiều lần bởi sự hiện diện của c�c th�nh tố Malayo-Polynesian quan trọng trong ngữ vựng của hai ng�n ngữ m� �ng ta đ� so s�nh�.� �ng c�n n�u � th�m rằng để nghi�n cứu mối quan hệ của tiếng H�n Quốc v� tiếng Nhật Bản, sẽ cần phải bao gồm tiếng Austronesian trong một sự so s�nh như thế.

������ T�i n�u giả thuyết rằng một phần đa số của th�nh tố Austronesian trong tiếng H�n Quốc v� Nhật Bản được mang l�n phương bắc bởi c�c nh� mậu dịch Nusantao, v� rằng sự việc n�y li�n can đến một thời kỳ l�u d�i của sự tiếp x�c v� h�n nh�n hợp chủng, từ khoảng 4000 Trước C�ng Nguy�n, của c�c nh� mậu dịch Đ�ng Nam � với c�c d�n tộc sinh sống dọc Trung Hoa v� bờ biển ph�a t�y v� ph�a nam H�n Quốc.� Sự kiện n�y tiếp tục một c�ch mạnh mẽ cho đến khoảng 1000 năm trước đ�y v� chắc chắn với một mức độ �t hơn cho đến thời qu� khứ gần đ�y.� T�c giả Paul Benedict (1990) đ� đi s�u v�o chi tiết mối quan hệ ngữ học n�y đề xuất rằng tiếng Nhật l� một ng�n ngữ Austro-Thai, v� c�n tin tưởng xa hơn rằng tiếng Nhật kh�ng li�n hệ một c�ch trực tiếp với tiếng H�n Quốc.

������ Nhiều bằng chứng khảo cổ cho mối quan hệ H�n Quốc / Nhật Bản � Đ�ng Nam � ghi trong s�ch của Solheim (1989), nơi t�i đ� viết:

Phức hợp của c�c chế t�c phẩm đi liền với sự canh t�c l�a gạo tại H�n Quốc đ� từng được ghi nhận trước đ�y, một phần n�o (Kim Won-yong 1964; Kaneko 1966: 18-21; Kim Jeong-hak 1978: 78-81; Solheim 1990, 1992) � Kim Won-yong� (1964) kết hợp với nhau l�a gạo, con dao bằng đ� h�nh b�n nguyệt, v� r�u lưỡi v�m c� h�nh bực thang (stepped adze) �� C�c chế t�c phẩm r� r�ng đối với t�i l� một phần của phức hợp gắn liền với l�a gạo bao gồm: c�i b�n v� mộ đ� với đ� tảng l�m m�i che [capstone dolman, nguy�n bản viết sai, phải l� capstone dolmen, ch� của người dịch], mộ khối hộp chữ nhật gh�p bằng phiến đ� (cist grave), vại (chum) mai t�ng k�p (gấp hai), con dao bằng đ� h�nh b�n nguyệt hay h�nh lươi liềm, r�u lưỡi v�m c� h�nh bực thang, r�u h�nh b�n ch�n, đĩa c� khoan lỗ [c� thể l� một vỏ h�nh tr�n c� lỗ xuy�n qua [?]: spindle whorl], dao ngắn bằng đ�, mũi t�n hay mũi lao (gi�o) bằng đ� m�i nhẵn c� c�n d�i v� đ�y l�m, đồ gốm trơn được n�i l� của H�n Quốc, v� đồ gốm m�i ch�o chạm trỗ tương đối hiếm.

������ T�i n�u giả thuyết rằng nền canh n�ng l�a gạo được du nhập v�o miền t�y Nhật Bản từ H�n Quốc, nhưng cũng thế, c�c chế t�c phẩm gắn liền với c�c sự khởi đầu của nền canh n�ng l�a gạo cả ở H�n Quốc lẫn Nhật Bản, phần lớn, đ� được mang theo hướng bắc từ ph�a bắc của v�ng Đ�ng nam � Lục Địa (đặc biệt từ Nam Trung Hoa) bởi c�c nh� mậu dịch đường biển của d�n hải đảo Nusantao kh�ng phải như một phức hợp m� theo từng th�nh tố một trong hơn hai ngh�n năm.

������ T�c giả Mark Hudson (1990: 68-69) ph�t biểu rằng phần lớn c�c nh� khảo cổ học Nhật Bản nh�n nền canh n�ng l�a gạo đến từ Nam Trung Hoa, v� đặc biệt từ v�ng chung quanh cửa s�ng Dương Tử,� hoặc l� trực tiếp đến Nhật Bản hay qua ngả H�n Quốc.� Tuy nhi�n, điều chắc chắn l� phần lớn c�c điểm tương đồng cụ thể l� với H�n Quốc hơn l� với miền duy�n hải Trung Hoa (tham chiếu Harunari 1990; Wang 1989).�� T�c giả Hudson (1990: 69) cũng cảm thấy rằng sự lan truyền nền canh n�ng l�a gạo về hướng đ�ng dọc theo bờ biển Nhật Bản của Biển Nhật Bản trong suốt c�c thời kỳ Yayoi ban đầu l� xuy�n qua sự đảm tr�ch của một nền văn h�a h�ng hải.

������ T�i đế xướng rằng bờ biển ph�a đ�ng của Trung Hoa nằm giữa cửa s�ng Dương Tử v� mỏm ph�a đ�ng của b�n đảo Sơn Đ�ng l� qu� hương của nền văn h�a Yayoi v� rằng n� đ� được truyền tới Kyushu, Nhật Bản, bởi Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển của D�n Hải Đảo Nusantao, kh�ng phải như một văn h�a đ� nảy nở trọn vẹn, nhưng theo từng th�nh tố một qua nhiều ngh�n năm, tạo th�nh Văn H�a Yayoi tại Nhật Bản.

 

Đ�I LOAN, DUY�N HẢI TRUNG HOA,

V� BẮC VIỆT NAM

������ Nền Văn H�a Dapenkeng: Đại Phần Khanh:大坌坑 (*j) của Đ�i Loan l� nền văn h�a thời T�n Thạch (Neolithic) sớm nhất được t�m thấy tại Đ�i Loan v� như thế c� lẽ l� văn h�a của c�c người n�i tiếng Austronesian nguy�n thủy (proto-Austronesian) đầu ti�n tại Đ�i Loan.� Ni�n đại cho nền Văn H�a Dapenkeng tại Đ�i Loan vẫn chưa được ấn định một c�ch vững chắc, nhưng n� c� thể đ� bắt đầu kh� sớm hơn nền văn h�a tiền lịch sử tiếp theo sau, được ấn định một c�ch an to�n như bắt đầu khoảng năm 2500 Ttrước C�ng Nguy�n.

������ T�c giả Tsang Cheng-hwa (1992a) c� b�o c�o gần đ�y về c�c cuộc khai quật s�u rộng của �ng tr�n quần đảo B�nh Hồ:澎湖島 (Penghu Island) ngo�i khơi bờ bi�n ph�a t�y của miền nam Đ�i Loan.� Đ�y sẽ l� một bước đi hợp l� nằm giữa bờ biển ph�a nam của Trung Hoa với Đ�i Loan.� Tuy nhi�n, ni�n đại sớm nhất cho văn h�a Dapenkeng tr�n quần đảo v�o khoảng 5000 Trước Hiện Tại, tiếp theo việc hạ� thấp c�c mực nước biển sau Sự X�m Thực Giữa Kỷ Nguy�n Holecene (*k) (Middle Holocene Transgression).� Trong Sự X�m Thực Giữa Kỷ Nguy�n Holecene, rất �t c�c đảo n�y nằm tr�n mực nước biển.� Nhiều phần r� r�ng l� c�c sự định cư Dapenkeng đầu ti�n tr�n Đ�i Loan đ� xảy ra trước hiện tượng n�y v� tại khu vực duy�n hải t�y nam của Đ�i Loan.� Rất nhiều khả t�nh rằng sự tiếp x�c đầu ti�n v� sự định cư của c�c h�n đảo n�y đ� đến từ v�ng duy�n hải n�y của Đ�i Loan.

������ T�c giả Tsang (1992b) b�o c�o rằng c�c chế t�c phẩm v� c�c ni�n đại của Văn H�a Dapenkeng tại Đ�i Loan v� c�c đảo rất giống với c�c chế t�c phẩm v� ni�n đại từ c�c địa điểm đồi c�t tr�n bờ biển Ph�c Kiến v� Quảng Đ�ng đối diện, l�m li�n tưởng rằng cội nguồn x�c xuất nhất của Văn H�a Dapenkeng l� nằm tại khu vực đ�: �V�o khoảng 7000 năm Trước Hiện Tại hay sau hơn, c�c văn h�a n�y, ti�u biểu bởi đồ gốm c�t th� được sơn v� c� in dấu d�y thừng (cord-marked), in dấu rổ (giỏ) (basket marked), ấn bằng gờ vỏ s� ốc, c�c kh� cụ bằng sỏi được m�i dũa v� c�c chiếc r�u v� lưỡi r�u h�nh v�m được m�i th�, đều được tạo th�nh tại bờ biển đ�ng nam Trung Hoa� (1992a: 269).� T�c giả Tsang c�n viết th�m rằng c�c sự kh�m ph� từ c�c địa điểm duy�n hải n�y, tr�n c�c g� vỏ s� ốc v� c�c đụn c�t, cho thấy rằng việc c�u c�, săn bắn, v� thu h�i đ� l� c�c hoạt động kinh tế quan trọng nhất, với một số sự canh t�c được bổ t�c v�o đ�.

������ Tung Wan Tsai l� một địa điểm thuộc loại n�y tại Hồng K�ng.� �Sư biến đổi trong c�c văn h�a phẩm khai quật phản ảnh tầm mức tiềm ẩn từ sự sử dụng địa điểm như một nơi đ�ng qu�n ngắn hạn tối thiểu cho đến một trại căn cứ d�i hạn hơn bởi c�c người d�n th�ch nghi với đường biển dưới c�c t�nh huống thay đổi� (Rogers v� c�c t�c giả kh�c 1995).� Li�n quan đến văn h�a vật thể của người sử dụng địa điểm n�y, Rogers v� c�c t�c giả kh�c (1995: 150) tiếp tục, �Một bộ kh� cụ th�ch ứng đường biển sẽ được đ�i lọc để ph� hợp với một lối sống lưu động nơi m� c�c sự sở hữu nhiều thứ sẽ trở th�nh g�nh nặng, với một nền văn h�a vật thể ph�t sinh nhỏ nhắn [về kich thước], đa c�ng dụng, v� dễ d�ng mang theo�.

������ Khu�n mẫu của địa điểm n�y được t�m thấy tại nhiều địa điểm ở Hồng K�ng: �c�c mỏ tich dấu [đồ khảo cổ] rải r�c v� biệt lập, thường nhỏ v� cho thấy một mức độ cao của sự lệ thuộc v�o đường biển; một văn h�a vật thể bảo thủ của c�c vi�n sỏi kh�ng bị biến đổi hay chỉ bị sửa đổi tối thiểu v� một truyền thống của c�c loại đồ gốm th� sơ k�o d�i; v� một sự thiếu s�t c�c đặc t�nh của g�, ụ bếp v� cơ cấu (structural and midden features).� Khu�n mẫu n�y được t�m thấy tại c�c địa điểm cồn c�t c� ni�n đại từ giữa thời đại T�n Thạch (Neolithic: Đ� Mới) trờ về sau� (Rogers v� c�c t�c giả kh�c 1995: 150).� Khởi đầu v�o thời cuối Thời Đại Đồ Đồng v� k�o d�i l�u đến triều đại nh� H�n, �bằng cớ của Tung Wan Tsai vạch c� thấy c�c cơ cấu tạm thời v� t�nh cờ ti�u biểu cho một d�n số sống tr�n thuyền lưu động �� (Rogers v� c�c t�c giả kh�c 1995: 151).

������ T�i đ� kh�ng đồng � với t�c giả Peter Bellwood đ�i l�c về sự di chuyển của c�c người n�i tiếng Austronesian từ Miền Nam Trung Hoa v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo v� Th�i B�nh Dương.� T�c giả Bellwood (1984-1985: 115) đề xuất rằng một sự di tr� của con người c� thể từ Ph�c Kiến băng ngang qua Đ�i Loan trong thi�n ni�n kỷ thứ năm Trước C�ng Nguy�n.� C�c kẻ n�i tiếng Austronesian nguy�n mẫu n�y đ� thiết lập nền canh n�ng ngũ cốc trong đ� l�a gạo c� tầm quan trọng to lớn.� T�i đ� lập luận trước đ�y chống lại tầm quan trọng của l�a gạo trong cuộc di chuyển của c�c kẻ n�i tiếng Austronesian từ duy�n hải Trung Hoa sang Đ�i Loan v� về hướng nam xuy�n qua Phi Luật T�n (Solheim 1984-1985: 84).� Nếu l�a gạo đ� đến Đ�i Loan, n� sẽ thuộc chủng Oryza sativa japonica, loại gạo được trồng tại Trung Hoa v�o thời gian n�y.� T�i đ� tr�nh b�y rằng nhiều phần l�a gạo sớm nhất tại Đ�i Loan v� Phi Luật T�n thuộc chủng Javanica (Nam Dương) chứ kh�ng phải japonica (Nhật Bản) v� loại gạo n�y kh�ng chỉ ph�t sinh từ Nam Dương, m� c�n tiếp tục truyền qua Phi Luật T�n v� Đ�i Loan đến Nhật Bản nơi m� n� chiếm tới 7% số l�a gạo được trồng trọt ng�y nay tại Nhật Bản (Solheim 1993b).

������ Dựa tr�n bằng chứng khảo cổ hi�n thời n�u tr�n, t�i kh�ng đồng � với t�c giả Bellwood (1979: 207) rằng �Đ�i Loan l� một khu vực c� tiềm năng sinh tử cho sự truyền tải c�c sự ph�t kiến văn h�a từ � Ch�u lục địa đến c�c hải đảo�, bởi v� �ng lựa chọn để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của truyền thống văn h�a đồ gốm trang tr� bằng sợi gai hay sợi lanh v�ng Yuanshan [Vi�n Sơn:圓山?](corded ware Yuanshan) (*l).� Bởi v� sinh qu�n của truyền thống n�y c� nhiều x�c xuất nhất nằm tại bờ biển của v�ng lục địa nằm giữa Ph�c Kiến v� Việt Nam, như t�i đ� đề cập trước đ�y, t�i sẽ đặt ra định đề rằng c�c ng�n ngữ d�ng Austronesian c� lẽ đ� được truyền tải v�o v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo v� C�c Đảo Th�i B�nh Dương dọc theo bờ biển ph�a đ�ng của lục địa Đ�ng Nam � hơn l� xuy�n qua đảo Đ�i Loan.

 

C�C KẾT LUẬN

������ T�i lập giả thuyết rằng Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của D�n Hải Đảo Ban Đầu, sau khi tiền từ ph�a nam l�n hướng bắc xuy�n qua Phi Luật T�n, đ� đến miền nam Đ�i Loan v� v�ng duy�n hải đ�ng nam Trung Hoa v�o thời điểm kh�ng l�u trước năm 5000 Trước C�ng Nguy�n.� C�c người d�n Nusantao đ� c� c�c sự tiếp x�c, văn h�a v� di truyền, với người d�n Trung Thời T�n Thạch của miền đ�ng nam Trung Hoa.� Khối người n�y bao gồm những nh�m d�n thuộc hạ lưu s�ng Dương Tử, bời t�i giả định rằng bất kỳ thời điểm n�o m� d�n đi biển trong c�c cuộc kh�m ph� của họ đi ngang qua cửa một con s�ng to lớn, họ sẽ di chuyển ngược d�ng s�ng để tiếp x�c với c�c cư d�n địa phương v� kh�ng ho�n to�n chỉ tr� ngụ dọc theo bờ biển.� Từ đ�, ch�nh l� c�c nh� mậu dịch đường biển Nusantao n�y l� kẻ, trong khi tiếp tục c� sự tiếp x�c với miền t�y nam Đ�i Loan, sẽ mang trở lại c�c hạt giống của Văn H�a Dapenkeng sang Đ�i Loan.

������ T�i cũng sẽ lập giả thuyết rằng c�c người d�n n�y rất dễ th�ch ứng với c�c điều kiện mới.� Với sự hiểu biết của họ cả về c�c hoạt động kinh tế dựa tr�n đất liền lẫn đại dương, chẳng hạn như săn bắn, thu h�i, v� canh n�ng vườn trại, họ mau ch�ng tiếp thụ c�c phần tử văn h�a mới m� họ đ� c� dịp tiếp x�c, tạo th�nh một văn h�a kh�c biệt v� phần n�o mới mẻ tại c�c địa điểm c� đụn c�t v� g� vỏ s� ốc tọa lạc.� T�i n�u giả thuyết rằng c�c địa điểm Trung Thời T�n Thạch n�y dọc theo bờ biển Trung Hoa l� c�c khu định cư tr�n đất liền của D�n Hải Đảo (Nusantao).� Nhờ ở sự hỗn hợp mau ch�ng của họ với c�c văn h�a địa phương m� họ c� dip tiếp x�c, văn h�a vật thể của họ tại c�c khu định cư tr�n đất liền sẽ biến đổi từ địa điểm n�y sang địa điểm kia khi họ di chuyển theo hướng bắc v� nam từ duy�n hải đ�ng nam Trung Hoa.� Sự kết hợp của D�n Hải Đảo (Nusantao) n�y giữa c�c sự định cư tr�n đất liền v� việc mở rộng mạng lưới mậu dịch, theo sự hiểu biết c� t�i, c� t�nh c�ch độc nhất tr�n thế giới, như thế kh�ng c� kiểu mẫu hiện hữu n�o để c� thể ngắm nh�n, ngoại trừ c�c nền văn h�a h�ng hải chắc chắn tiến h�a nhiều vẫn c�n hiện hữu tại � Ch�u v� Th�i B�nh Dương.

������ Hơn nữa, t�i đồng � với t�c giả Tsang rằng sự di chuyển của c�c người thuộc ngữ hệ Austronesian, D�n Hải Đảo n�i tiếng Malayo-Polynesian ng�y nay, từ miền đ�ng nam Trung Hoa, đ� chạy dọc theo bờ biển Việt Nam [in đậm để l�m nổi bật bởi người dịch].� Để tr�nh b�y l� luận của t�i cho sự kiện n�y, t�i phải di chuyển đến Th�i B�nh Dương v� đến truyền thống đồ gốm phổ biến, sớm nhất ở đ�, Truyền Thống Đồ Gốm Lapita (*m).

������ Tr�n căn bản ngữ học, nh�n chủng học h�nh dạng, v� khảo cổ học, điều được đồng � một c�ch tổng qu�t giờ đ�y rằng c�c tổ ti�n của c�c d�n tộc Polynesian l� c�c người sinh dưỡng Nền Văn H�a Lapita của Melanesia v� rằng tố ti�n của người Lapita đến từ v�ng ph�a đ�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo v�o khoảng giữa thi�n ni�n kỷ thứ nh� Trước C�ng Nguy�n.� Điều được tranh luận rằng một th�nh tố quan trọng của Văn H�a Lapita đ� dẫn đến sự thuộc địa h�a c�c đảo ở Th�i B�nh Dương� l� một hoạt động mậu dịch đường trường s�u rộng được thực hiện bời c�c người d�n Lapita (Kirch 1988; Wickler 1990).� Điều được cảm nhận một c�ch tổng qu�t rằng hoạt động mậu dịch đường trường n�y đ� được ph�t triển tại c�c h�n đảo thuộc Quần Đảo Bismark (*n).� Trong khi t�i đ� kh�ng ph�t biểu về n� trong cung c�ch n�y trước đ�y, t�i sẽ n�i rằng th�nh tố mậu dịch đường trường n�y của Văn H�a Lapita đi c�ng với c�c tổ ti�n của d�n Lapita đ� được truyền tải bởi c�c tổ ti�n Nusantao của họ.

������ Trong nhiều năm nghi�n cứu về Văn H�a Lapita, chế t�c phẩm được thu hồi bởi ng�nh khảo cổ để x�c minh ch�nh yếu l� đồ gốm Lapita.� T�i đ� ghi nhận mối quan hệ của đồ gốm Lapita với Truyền Thống Đồ Gốm Sa Huỳnh � Kalanay của v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo (Solheim 1976: 35-36).� Trước khi đồ gốm Lapita được xếp loại như thế, t�i đ� vạch ra mối quan hệ của loại đồ gốm n�y với đồ gốm của Truyền Thống Đồ Gốm Sa Huỳnh � Kalanay của Phi Luật T�n v� Việt Nam (1964: 206-209; 1967b: 167) v� đề xướng rằng n� thuộc v�o c�ng một truyền thống.� Ngay khi việc ấn định ni�n đại bằng x�t nghiệm radiocarbon trở n�n kh� th�ng dụng trong khảo cổ học v�ng Th�i B�nh Dương v� Đ�ng Nam �, điều trở n�n r� r�ng l� sự việc n�y kh�ng thể như thế được, bởi đồ gốm Lapita đ� c� ni�n đại c� phần sớm hơn đồ gốm Sa Huỳnh � Kalanay.� Tuy nhi�n, ch�ng qu� giống nhau, đến nỗi t�i đ� n�u ra rằng hai truyền thống đồ gốm n�y phải c� chung một tổ ti�n (Solheim v� c�c t�c giả kh�c, 1979: 126-129).� Mặc d� kh�ng c� ai kh�c đưa ra nhận x�t về điều n�y, t�i vẫn ủng hộ cho biện luận n�y, bởi trong khi hai truyền thống kh�c biệt nhau, ch�ng c� chung một số lượng đại đa số c�c h�nh d�ng v� sự trang tr� của ch�ng.� Cả c�c h�nh dạng lẫn c�c khu�n mẫu trang tr� đều hiện diện tại cả bắc v� nam Việt Nam rất l�u trước năm 2000 Trước C�ng Nguy�n.� Điều n�y mạnh mẽ gợi �, �t nhất đối với t�i, rằng tổ ti�n của đồ gốm Lapita đến từ Việt Nam (Solheim 1976: 145-146),� được mang đến bởi c�c nh� mậu dịch Nusantao, những kẻ c� lẽ cũng l� c�c tổ ti�n của người d�n Lapita (Solheim 1979: 197).� Điều n�y sẽ c� nghĩa rằng Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Của Người D�n Hải Đảo (Nusantao) đ� ph�t triển về hướng nam từ v�ng đ�ng nam Trung Hoa dọc theo bờ biển của Biển Trung Hoa (China Sea, sic), băng ngang Borneo v� hoặc đi v�ng quanh bờ biển ph�a bắc hay bờ biển ph�a nam của Borneo, hay cả hai, tiến v�o miền đ�ng của Nam Dương v� sau đ� vươn ra ngo�i tới Quần Đảo Bismark.� Mặt kh�c, Micronesia r� r�ng đ� được định cư từ Phi Luật T�n bởi một nh�nh biến thể kh�c của Mạng Lưới Mậu Dịch Đường Biển Nusantao./- �����

--------�������� ���

T�I LIỆU TRƯNG DẪN:

Bellwood, Peter (1979). Man's Conquest of the Pacific. New York: Oxford University Press.

Bellwood, Peter (1984-1985). "A hypothesis for Austronesian origins." Asian Perspectives 26(1): 107-117.

Benedict, Paul (1990) Japanese/Austro-Tai. Ann Arbor, Michigan: Karoma Publishers.

Brace, C. Loring (1990) "Micronesians, Asians, Thais and relations: A craniofacial and odontometric perspective." Micronesica Supplement No. 2: 323-348.

Hanihara, Tsunehiko (1990a). "Dental anthropological evidence of affinities among the Oceania and the Pan-Pacific populations: The basic populations in East Asia, II." Journal of the Anthropological Society of Nippon 98 (3): 233-346,

Hanihara, Tsunehiko (1990b). "Studies on the affinities of Sakhalin Ainu based on dental characters: The basic populations in East Asia, III." Journal of the Anthropological Society of Nippon 98 (4): 425-437.

Harunari Hideji:春成秀爾:Xu�n Th�nh T� Nhĩ (1990). Yayoi jidai no hajimari (The beginning of the Yayoi Period). Tokyo: Tokyo University Press.

Hudson, Mark J. (1990). "From Toro to Yoshinogari: changing perspectives on Yayoi archaeology." In Gina L. Barnes (editor), Hoabinhian, Jomon, Yayoi, Early Korean States, pp. 63-111. Oxford: Oxbow Books.

Kaneko, Erika (1966). "Japan, a review of Yayoi period burial practices." Asian Perspectives 9:1-26.

Kim, Jeong-hak (1978). The Prehistory of Korea. �Phi�n dịch v� bi�n tập bởi Richard J. Pearson and Kazue Pearson. Honolulu: University Press of Hawaii.

Kim, Won-Yong (1964) The Beginning of Rice Cultivation in Korea. Paper No. 15 presented at the International Conference on Asian History (Tham Luận Số 15 tr�nh b�y tại Hội Nghị Quốc Tế về Lịch Sử � Ch�u), University of Hong Kong.

Kirch, Patrick V. (1988). "Long distance exchange and island colonization: the Lapita case." Norwegian Archaeological Review 21: 103-117.

Loofs-Wissowa, H.H.E. (1980-1981). "Prehistoric and protohistoric links between the Indochinese peninsula and the Philippines, as exemplified by two types of ear-ornaments. Journal of the Hong Kong Archaeological Society 9: 57-76.

Martin, S.P. (1966). "Lexical evidence relating Korean to Japanese." Language 42:185-251.

Murayama Schichiro (1976). "The Malayo-Polynesian component in the Japanese language." Journal of Japanese Studies 2: 413-436.

Rogers, Pamela Rumball, Nan W. Leiniager, Sophia Mirchaniani, Julie Van Den Bergh, and Ellen A. Widiowson (1995). Tung Wan Tsai: A Bronze Age and Tian Period Coastal Site. Antiquities and Monuments Office Occasional Paper No. 3, Hong Kong.

Solheim, Wilhelm G., II (1964). "Further relationships of the Sa-huynh-Kalanay Pottery Tradition." Asian Perspectives 8(1): 196-211.

Solheim, Wilhelm G., II (1967a). "International congresses and symposia." Asian Perspectives 10: 1-8.

Solheim, Wilhelm G., II (1967b). "The Sa-huynh-Kalanay Pottery Tradition: Past and future research." In Mario D. Zamorah (editor), Studies in Philippine Anthropology, pp. 151-174. Quezon City, the Philippines: Alemar Phoenix.

Solheim, Wilhelm G., II (1973). "Remarks on the Neolithic in South China and Southeast Asia." Journal of the Hong Kong Archaeological Society 4: 25-29.

Solheim, Wilhelm G., II (1975a). "Reflections on the new data of Southeast Asian prehistory: Austronesian origin and consequence. Asian Perspectives 18(2): 146-160.

Solheim, Wilhelm G., II (1975b). "The Nusantao and South China." Journal of the Hong Kong Archaeological Society 6: 108-115.

Solheim, Wilhelm G., II (1976). "Coastal Irian Jaya and the origin of the Nusantao (Austronesian speaking people)." In Chosuke Serizawa (editor), Colloquium 18 Le Premier Peuplement de 1'Archipel Nippon et les Iles du Pacifigue: Chronologie, Paleogeographie, Industries, pp. 32-42. Proceedings of the International Congress of Prehistoric and Protohistoric Sciences, Nice.

Solheim, Wilhelm G., II (1979). "A look at 'L'Art preboudhique de la Chine et le l'Asie du Sudest et son influence en Oceanie' forty years after." Asian Perspectives 22 (2): 165-205.

Solheim, Wilhelm G., II (1982-1983). "Remarks on 'The lingling-o and bi-cephalous ornaments.'" Journal of the Hong Kong Archaeological Society 10: 107-111.

Solheim, Wilhelm G., II (1984-1985). "The Nusantao hypothesis: the origin and spread of Austronesian speakers." Asian Perspectives 26 (1): 77-88.

Solheim, Wilhelm G., II (1989). "A proposed prehistoric maritime network from Southeast Asia to Korea and Japan." Tham luận tr�nh b�y tại Hội Nghị Tiền Lịch Sử V�ng Quanh Th�i B�nh Dương tại Seattle (Paper presented at the Circum-Pacific Prehistory Conference, Seattle).

Solheim, Wilhelm G., II (1990). "Thoughts on land and sea peoples in Southeast Asia and their possible relationship to initial settlement of Micronesia." Micronesica Supplement 2: 241-246.

Solheim, Wilhelm G., II (1992). "Nusantao traders beyond Southeast Asia." Trong s�ch bi�n tập bởi Ian Glover, Pornchai Suchitta, v� John Villiers, Early Metallurgy, Trade and Urban Centres in Thailand and Southeast Asia, pp. 199-212. Bangkok: White Lotus.

Solheim, Wilhelm G., II (1993a). "The Son Vi and `Hoabinhian' in Japan." Tham luận tr�nh b�y tại Hội Nghị Văn Minh H�a B�nh, H� Nội, Việt Nam (Paper presented at the Hoabinhian Conference, Ha Noi, Viet Nam).

Solheim, Wilhelm G., II (1993b). "Four lobes of the Nusantao Maritime Trading Network." Tham luận tr�nh b�y tại Hội Nghị Lần Thứ 34 Về � Ch�u v� Bắc Phi Ch�u học, Hồng K�ng (Paper presented at the 34th Congress of Asian and North African Studies, Hong Kong).

Solheim, Wilhelm G., II (1995). "The Nusantao and north south dispersals." Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association, đang in.

Solheim, Wilhelm G. II, Avelino Legaspi, and Jaime Neri, S.J. (1979). Archaeological Survey in Southeaster n Mindanao. National Museum Monograph No. 8, Manila.

Tsang Cheng-hwa (1992a). Archaeology of the P'eng-Hu Islands. Taibei: Institute of History and Philology Academia Sinica Special Publications Number 95.

Tsang Cheng-hwa (1992b). "New archaeological data from both sides of the Taiwan Strait and their implications for the controversy about the Austronesian origins and expansion." Tham luận tr�nh b�y tại Hội Thảo Quốc Tế về Austronesian học li�n quan đến Đ�i Loan, Nangang, Đ�i Bắc, Đ�i Loan (Paper presented at the International Symposium on Austronesian Studies Relating to Taiwan, Nangang, Taibei, Taiwan).

Turner, Christy G. II (1976). "Dental evidence on the origins of the Ainu and Japanese." Science 193: 911-913.

Turner, Christy G. II (1979). "Sinodonty and Sundadonty: A dental anthropological view of Mongoloid microevolution, origin, and dispersal into the Pacific Basin, Siberia, and the Americas." Tham luận tr�nh b�y tại Hội Nghị Khoa Học Th�i B�nh Dương Lần Thứ XIV, Khabarovsk, Li�n bang S� Viết (Paper presented at the XIV Pacific Science Congress, Khabarovsk, USSR).

Turner, Christy G. II (1985). "The dental search for native American origins." Trong s�ch bi�n tập bởi Robert Kirk v� Emoke Szathmary, Out of Asia: Peopling the Americas and the Pacific, pp. 31-78. Canberra: The Journal of Pacific History.

Turner, Christy G. II (1989). "Teeth and prehistory in Asia." Scientific American 260(2): 88-96.

Wang Wei (1989). "Chugoku enkai chiho no noko bunka no toden (Eastward transmission of agriculture of the coastal region of China". Kokogaku zasshi 75:108

Wickler, Stephen (1990). "Prehistoric Melanesian exchange and interaction: recent evidence from the northern Solomon Islands." Asian Perspectives 29: 135-154.

Yanagita, Kunio (1976). "Ebune." Phi�n dịch bởi Douglas Fuqua v� Toshiyuki Minami. Ethnos 6: 92-96.

~~~~~~~~

Nguồn: Wilhelm G. Solheim II, Taiwan, Coastal South China and Northern Viet nam and The Nusantao Maritime Trading Network, Journal of East Asian Archaeology (JEAA) 2, 1-2, c�c trang 273-284, Brill, Leiden, 2000.


PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH:

* a) Trước Hiện Tại (viết tắt: THT): Before Present (BP) l� thời khoảng được d�ng trong khảo cổ học, địa chất học, v� c�c ng�nh khoa học kh�c để x�c định l�c m� c�c biến cố trong qu� khứ đ� xảy ra.� Bởi v� thời điểm �hiện tại� biến đổi, c�ch thức th�ng thường l� d�ng năm 1950 l�m điểm gốc cho thang đo thời đại, phản ảnh sự kiện rằng việc ấn định ni�n đại bằng x�t nghiệm carbon 14 trở n�n khả dụng trong thập ni�n 1950.

* b) Ho�ng Đế Onin: Ni�n hiệu trị v� từ Th�ng Ba 1467 đến Th�ng Tư, 1469 của Ho�ng Đế Nhật Bản, Go-Tsuchimikado, sau ni�n hiệu Bunsho v� trước ni�n hiệu Bunmei.

* c) v� *d) Mẫu Răng Trung Hoa: Sinodonty v� Mẫu Răng D�n V�ng Sunda: Sundadonty: �l� hai khu�n mẫu, được x�c định bởi nh� nh�n chủng học Christy Turner, cho v�ng Đ�ng �, thuộc �phức hợp răng của giống d�n M�ng Cổ�: "Mongoloid dental complex".� Nh�m kể sau, Sunfadonty, được xem l� c� h�nh thể của chủng Australoid tổng qu�t hơn, v� c� một tổ ti�n l�u đời hơn nh�nh hậu duệ của n�, Sinodonty.

Về ngữ căn, Sino để chỉ Trung Hoa v� Sunda để chỉ v�ng đất Sundaland, trong khi �ngữ căn �dont� c� nghĩa l� răng.

�ng Christy Turner t�m thấy khu�n mẫu Sundadont nơi sắc d�n Jomon của Nhật Bản, c�c thổ d�n Taiwan, người Filipinos, Indonesians, Thais, Borneans, L�o, v� M� Lai, v� khu�n mẫu Sinodont nơi c�c cư d�n của Trung Hoa, M�ng Cổ, đ�ng T�y B� Lợi � (Siberia), người Mỹ Bản Xứ (Native Americans), v� chủng Yayoi.

Mẫu răng Trung Hoa (Sinodonty) l� một mẫu c� biệt về răng thường c� nơi d�n Bản Xứ Mỹ Ch�u v� một số sắc d�n tại � Ch�u, đặc biệt trong sắc d�n H�n � Trung Hoa miền bắc v� một số d�n Nhật Bản.� Hai răng cửa đầu ti�n h�m tr�n kh�ng nằm c�ng h�ng với c�c chiếc răng kh�c, m� hơi xoay nghi�ng v�o ph�a trong chừng v�i độ, v� hơn thế, ch�ng c� h�nh lưỡi xẻng (shovel-shaped); răng sữa (hay răng cấm, premolar) đầu ti�n ở h�m tr�n c� một ch�n (root) (trong khi răng sữa đầu ti�n h�m tr�n của người Caucasians thường c� hai ch�n).� Răng h�m đầu ti�n h�m dưới của Mẫu Răng Trung Hoa (Sinodont) c� ba ch�n (trong khi n� c� hai ch�n nơi người Caucasians).

Trong thập ni�n 1990, c�c số đo về răng của Turner thường được n�u ra như một trong ba c�ng cụ mới cho việc nghi�n cứu về nguồn gốc v� c�c sự di chuyển trong d�n số lo�i người.� Hai c�ng cụ kh�c l� c�c phương ph�p ngữ học như sự so s�nh khối lượng ngữ vựng của Joseph Greenberg hay sự nghi�n cứu thống k� thể loại biểu tượng ng�n ngữ v� sự tiến h�a của n� của Johanna Nichols, v� c�c cuộc nghi�n cứu di truyền học được khai ph� bởi Cavalli-Sforza.

Ng�y nay, khối lượng tham khảo nhiều nhất tr�n li�n mạng về c�ng tr�nh của Turner đến từ c�c cuộc thảo luận về nguồn gốc của d�n Paleo-Indians v� c�c d�n Mỹ Ch�u Bản Xứ hiện đại, bao gồm cả sự tranh c�i về Người Kennewick.� Turner nhận thấy rằng di cốt răng của cả người Indian (Da Đỏ) cổ thời lẫn hiện đại c� nhiều điểm tương đồng với nhau hơn l� so với c�c phức hợp về răng từ c�c lục địa kh�c, nhưng Mẫu Răng Trung Hoa (Sinodont) của người Paleoindians (Da Đỏ Cổ Thời) x�c định qu� qu�n tổ ti�n họ l� v�ng đ�ng bắc � Ch�u.� Một số cuộc nghi�n cứu sau n�y đ� đặt c�u hỏi về điểm n�y v� v� t�m thấy c�c đặc t�nh của Mẫu Răng V�ng Sunda (Sundadont) nơi một số người d�n Mỹ Ch�u.��

 

Mẫu Răng Trung Hoa: Sinodonty

 

Ch� Thich Của C�c H�nh Tr�n Đ�y:

- Winged incisors with shovel shape: C�c răng cửa x�e c�nh c� h�nh lưỡi xẻng;

- Single rooted upper first premolar: Răng sữa (răng h�m đầu ti�n) thứ nhất của h�m tr�n c� một ch�n răng duy nhất.

- Lower first molar with three roots: Răng h�m đầu ti�n h�m dưới với ba ch�n răng.

* e) Jōmon period (縄文時代, Jōmon jidai): Thời đại Thằng Văn: l� thời kỳ tiền lịch sử của Nhật Bản, từ khoảng 14,000 trước Thi�n Ch�a (BC: Before Christ) cho đến năm 300 Trước �C�ng Nguy�n (BCE: Before Common Era, hay Before The Common Era, hay Before the Christian Era, hay Before the Current Era, đều viết tắt l� BCE).

Từ ngữ jomon trong tiếng Nhật c� nghĩa �mẫu hoa văn bằng d�y thừng: cord-patterned: thằng văn�.� Từ ngữ n�y để chỉ đặc t�nh loại đồ gốm của văn h�a Jomon, mang c�c dấu in được tạo bởi c�c chiếc que c� quấn d�y thừng chung quanh.� Sự thử nghiệm Y-DNA gần đ�y nhận thấy giống Jomon l� c�c tổ ti�n di truyền của sắc d�n Ainu v� một phần d�n tộc Nhật ng�y nay.

Người Nhật ng�y nay được xem l� hậu duệ của một sự hỗn hợp của văn h�a Jomon gồm những người thu lượm � săn bắn cổ thời với văn h�a Yayoi trồng l�a gạo sau n�y.� Hai nh�m tổ ti�n ch�nh yếu n�y đ� đến Nhật Bản bằng c�c con đường kh�c nhau ở c�c thời điểm kh�c nhau.� C�c tổ ti�n Jomon thuộc một văn h�a Thời Đại Băng H� (Ice Age) c� thể đ� đến c�c quần đảo ph�a bắc v� ph�a nam Nhật Bản khoảng 20,000 Trước C�ng Nguy�n, khi c� một chiếc cầu đ� nối liền T�y B� Lợi � (Siberia) v� miền bắc Nhật Bản.� Sắc d�n Yayoi được nghĩ đ� đến v�o khoảng 1000 Trước C�ng Nguy�n từ b�n đảo Triều Ti�n v� v�ng lục địa � Ch�u.

* f) Yayoi period (弥生時代, Yayoi jidai): Thời Đại Di Sinh, l� một kỷ nguy�n thuộc Thời Đồ Sắt trong lịch sử Nhật Bản, thường được ấn định ni�n đại từ 300 Trước Thi�n Ch�a cho đến 300 sau Thi�n Ch�a.� Danh xưng được đặt theo địa danh của v�ng l�n cận Tokyo, nơi c�c nh� khảo cổ lần đầu ti�n kh�m ph� c�c chế t�c phẩm v� c�c đặc t�nh của kỷ nguy�n đ�.� C�c t�nh chất nổi bật của Thời Đại Di Sinh bao gồm sự xuất hiện của c�c loại đồ gốm mới v� sự khởi đầu việc th�m canh l�a gạo tại c�c c�nh đồng l�a.� Thời Đại Di Sinh tiếp theo sau Thời Đại Thằng Văn (Jomon period) (14,000 � 300 BCE) v� văn h�a Yayoi đ� ph�t triển tại một khu vực địa dư chạy từ ph�a nam đảo Kyushu cho đến ph�a bắc đảo Honshu. �Một cuộc nghi�n cứu mới để ph�n t�ch c�c di chỉ h�a than tr�n đồ gốm v� c�c cọc gỗ đ� kh�m ph� rằng c�c vật n�y c� ni�n đại l�i m�i đến tận 900 � 800 BCE, 500 năm sớm hơn ni�n đại được tin trước đ�y.

* g) Ainu (アイヌ?), cũng gọi l� Aynu, Aino (アイノ), v� trong c�c văn bản lịch sử l� Ezo (蝦夷), l� d�n bản xứ hay c�c nh�m bản xứ tại Nhật Bản v� Nga.� Về mặt lịch sử, họ n�i ti�ng Ainu v� đ� sinh sống tại đảo Hokkaido, Quần Đảo Kurils, v� phần lớn đảo Sakhalin.� Phần lớn người tự x�c định m�nh l� Ainu vẫn c�n sinh sống tại c�ng miền n�y, nhưng con số ch�nh x�c người Ainu c�n sống kh�ng được biết r�. Nguy�n do l� v� c�c vấn đề chủng tộc tại Nhật Bản khiến c�c người c� gốc Ainu che dấu căn cước của họ v� v� sự lẫn lộn về c�c di sản hỗn hợp.� Tại Nhật Bản, bởi c� sự kết h�n li�n chủng từ l�u với người Nhật, � niệm về một nh�m chủng tộc thuần t�y Ainu kh�ng c�n khả ứng.� C�c số ước lượng ch�nh thức về d�n số Ainu l� v�o khoảng 25,000, trong khi con số kh�ng ch�nh thức l�n tới 200,000 người. �

* h) Pleistocene: �để chỉ hay li�n quan đến kỷ nguy�n (epoch)� tạo th�nh nửa phần đầu của Thời Kỳ Thứ Tư (Quaternary Period) trong Thời Cenozoic (Cenozoic Era), bắt đầu v�o khoảng hai triệu năm trước v� chấm dứt 10,000 năm trước đ�y, được biểu thị bởi sự nổi l�n v� r�t đi c�c tảng băng bao phủ lục địa v� bởi sự xuất hiện của con người hiện đại.

* i) Altaic l� một ngữ hệ đề nghị bao gồm c�c ngữ tộc Turkic, Mongolic, Tungusic, v� c� thể gồm cả c�c ngữ tộc của tiếng Nhật v� ng�n ngữ Triều Ti�n (H�n Quốc) biệt lập. C�c ng�n ngữ n�y được n�i tại một v�ng cung trải d�i từ đ�ng bắc � Ch�u xuy�n qua Trung � đến v�ng Anatolia v� đ�ng �u Ch�u (Turks, Kalmyks).� Nh�m n�y được đặt t�n theo dẫy n�i Altai Mountains tại v�ng Trung � ch�u.

* j) Văn H�a Dapenkeng (Đại Phần Khanh): Dapenkeng culture 大坌坑 (5000-2500 BC): Địa điểm khai quật khảo cổ Đại Phần Khanh tọa lạc tại ph�a t�y bắc N�i Guanyin (Quan �m), x� Bitou, Thị Trấn Bali, v� quận Đ�i Bắc.� C� hai l�ng nhỏ nằm dưới ch�n n�i, Gongtien v� Jioucheng.� Trước thế kỷ thứ 18, c�c người Ketegalan đ� sinh sống ở đ�y.� L�ng Đại Phần Khanh đ� được vẽ tr�n c�c bản đồ cổ của H�a Lan.

H�nh khu khai quật khảo cổ Đại Phần Khanh


photo: http://en.culture.ntpc.gov.tw/

 

������ Văn h�a Dapenkeng l� tầng văn h�a Thời Đại T�n Thạch (Đ� Mới) sớm nhất được t�m thấy tại Đ�i Loan, v� tượng trưng cho Thời Đồ Đ� ban sơ tại Đ�i Loan.� Bởi thế, văn h�a Dapenkeng mang tầm quan trọng lớn lao về lịch sử.� Theo c�c chuy�n vi�n v� học giả, văn h�a Dapenkeng li�n hệ chặt chẽ với c�c văn h�a Thời Đại T�n Thạch tại c�c tỉnh Ph�c Kiến v� Quảng Đ�ng b�n Trung Hoa.� Tuy nhi�n một số học giả vạch ra rằng văn h�a Dapenkeng đ� được ph�t triển từ văn h�a cuối Thời Đại Đồ Đ� Sơ Kỳ (Paleolithic hay Early Stone Age) tại miền nam Trung Hoa v� ở giai đoạn sớm nhất của Thời Đại Đ� Mới.� C�c chế t�c phẩm t�m thấy tại Đại Phần Khanh ch�nh yếu l� đồ gốm, kể cả gốm mầu n�u, đồ gốm c� dấu in d�y thừng nhỏ m�u n�u nhạt, đồ gốm c� hoa văn được in ấn m�u n�u nhạt, v� đồ gốm rắn chắc c� hoa văn kỷ h� học được in �n.� Phần lớn c�c chiếc thuyền bằng gốm l� c�c chiếc b�nh v� b�t thấp, với c�c phần lồi ra h�nh tam gi�c ở miệng b�nh l�m cho miệng b�nh dầy v� năng. �C�c chiếc thuyền gốm được trang tr� bằng c�c h�nh vẽ, chữ viết, hay dấu in (stamps).� Về mặt kh� cụ h�ng ng�y, c�c dụng cụ bằng đ� như c�c chiếc r�u bằng đ� được đục đẽo, c�c chiếc cuốc bằng đ� đẽo, lưỡi r�u bằng đ� được m�i nhẵn, đầu mũi t�n bằng đ� h�nh tam gi�c, v� c�c chiếc b�a đ� được t�m thấy.� Sự kh�m ph� c�c kh� cụ bằng đ� cho thấy d�n l�ng c� canh t�c, nhưng săn bắn, đ�nh c�, v� thu lượm l� c�c hoạt động sản xuất ch�nh. �(Nguồn: http://en.culture.ntpc.gov.tw/_file/2964/SG/35928/D.html)

������ C�c cư d�n thuộc khu vực văn h�a n�y c� thể l� c�c người n�i tiếng Austronesian v� tổ ti�n của c�c thổ d�n của đảo Đ�i Loan v� của c�c d�n tộc phi Trung Hoa kh�c tại miền nam Trung Hoa đ� hỗn hợp với người Trung Hoa. (Nguồn:� http://www.chinaknowledge.de/History/Myth/prehistory-event.html )

* k) Holocene: để chỉ kỷ nguy�n tạo th�nh nửa phần sau v� l� kỷ nguy�n gần hiện tại nhất trong Thời Kỳ Thứ Tư (Quaternary Period) của Thời Cenozoic (Cenozoic Era), bắt đầu 10,000 năm trước, khi kỷ nguy�n Pleistocene chấm dứt.� Kỷ nguy�n n�y được ti�u biểu bởi sự ph�t triển của c�c nền văn minh lo�i người.

* l) Văn H�a Vi�n Sơn (Yuan Shan Culture): Bắt đầu từ 7000 năm trước, Đ�i Loan đ� được cư ngụ bởi nhiều chủng tộc kh�c nhau Thời Đại T�n Thạch.� Thời Đại T�n Thạch của Đ�i Loan c� thể được chia l�m nhiều giai đoạn, tượng trưng bởi c�c nền văn h�a Dapenkeng (Đại Phần Khanh), văn h�a Vi�n Sơn v� văn h�a Puyuma.� C�c nền văn h�a n�y li�n quan đ�n c�c nền văn h�a Thời Đại T�n Thạch của v�ng duy�n hải đ�ng nam Trung Hoa v� tại Đ�ng Nam �.    

������ Một trong c�c địa điểm khảo cổ đầu ti�n v� nổi tiếng trong v�ng tại Đ�i Loan l� Vi�n Sơn, tọa lạc tại ph�a t�y bắc Lưu Vực Đ�i Bắc (Taipei), tr�n một g� đất nhỏ nằm cạnh s�ng Keelung.� Đại điểm khảo cổ chứa đựng một quần thể lớn nhất c�c g� vỏ s� ốc của đảo Đ�i Loan v� một khối lượng phong ph� c�c chế t�c phẩm sản xuất một c�ch kh�o l�o.� C�c g� đất được kh�m ph� trong năm 1897 khi c�c dụng cụ bằng đ� th� sơ được t�m th�y.� C�c chế t�c phẩm được khai quật sau đ� gồm xương th� vật, đ�, ngọc thạch, đồ gốm, c�c đồ d�ng l�m bằng xương c�ng như c�c đồ mai t�ng.� Từ c�c di chỉ n�y, ch�ng ta biết được rằng cộng đồng ban sơ n�y sinh sống bằng việc đ�nh c�, săn bắn v� canh t�c.

(Nguồn:    http://www.hellomandarin.com/blog/2008/10/30/chinese-culture-yuanshan-site/)

* m) Đồ Gốm Lapita: Lapita l� từ ngữ để chỉ một nền văn h�a khảo cổ Th�i B�nh Dương được tin bởi nhiều nh� khảo cổ l� tổ ti�n chung của nhiều nền văn h�a tại Polynesia, Micronesia, v� một số khu vực duy�n hải của Melanesia.

 

������ Văn h�a khảo cổ v� đồ gốm in dấu răng cưa kỷ h� đặc biệt của n� được đặt t�n theo địa điểm ti�u biểu khi n� được kh�m ph� đầu ti�n tại B�n Đảo Fou� tr�n đảo Grand Terre, đảo ch�nh của New Caledonia.� Cuộc khai quật được thực hiện v�o năm 1952 bởi c�c nh� khảo cổ Hoa Kỳ Edward W. Gifford v� Richard Shulter Jr. tại �Địa Điểm 13�.

 

������ Địa điểm định cư v� c�c mảnh gốm vỡ sau n�y được ấn định c� ni�n đại l� 800 Trước C�ng Nguy�n (BCE) v� được chứng tỏ l� quan trọng đối với việc nghi�n cứu sự di d�n đến c�c Hải Đảo Th�i B�nh Dương.� Hơn hai trăm địa điểm đồ gốm Lapita đ� được kh�m ph� từ đ�, trải d�i từ 4000 km từ v�ng duy�n hải v� đảo Melanesia đến Fiji v� Tonga với giới hạn hướng cực đ�ng ở tận Samoa.

 

������ Từ ngữ �Lapita� được đặt bởi c�c nh� khảo cổ sau khi nghe sai một từ trong ng�n ngữ địa phương Haveke, xapeta�a, c� nghĩa �đ�o một c�i hố� hay �nơi để đ�o hố�, trong cuộc khai quật hồi năm 1952 tại New Caledonia.�

 

������ Đồ gốm Lapita cổ điển được sản xuất từ giữa năm 1350 đến 750 năm Trước C�ng Nguy�n tại Quần Đảo Bismarck Archipelago.� C�c thể loại địa phương của đồ gốm Lapita được t�m thấy tại Vanuatu v� New Caledonia.� Đồ gốm n�y tồn tại tại Fiji, trong khi n� biến mất ho�n to�n tại c�c khu vực kh�c của Melanesia v� tại Siassi.

������

������ Tại miền t�y Polynesia, đồ gốm Lapita được t�m thấy từ năm 800 Trước C�ng Nguy�n trở đi tại khu vực Fiji � Samoa � Tonga.� Từ Tonga v� Samoa, văn h�a Polynesian lan tỏa đến c�c khu vực miền đ�ng Polynesia bao gồm cả Marquesas v� C�c Đảo X� Hội (Society Islands), v� rồi sau đ� đến Hawaii, Easter Island, v� T�n T�y Lan.� Tuy nhi�n, việc chế tạo đồ gốm kh�ng tồn tại tại phần lớn Polynesia, ch�nh yếu bởi thiếu đất s�t th�ch hợp tr�n c�c đảo nhỏ.

 

������ Đồ gốm bằng đất nung lửa thấp, thường pha lẫn với vỏ s� ốc hay c�t, được trang tr� điển h�nh bằng một dấu ấn răng cưa.� Đồ gốm �trơn� kh�ng trang tr� l� một phần quan trọng của phức hợp văn h�a Lapita, cũng bao gồm c�c lưỡi r�u bằng đ� được m�i nhẵn, v� c�c sản phẩm bằng vỏ s� ốc, c�ng c�c dụng cụ bằng đ� phiến như đ� vỏ chai, v� c�c loại đ� tương tự kh�c.

������ Gia s�c chăn nu�i bao gồm heo, ch� v� g�.� Trồng trọt được dựa tr�n loại củ v� c�y, quan trọng nhất l� khoai sọ v� khoai lang, dừa, chuối v� nhiều loại m�t (breadfruit).� Sự sản xuất n�y được bổ t�c bởi việc đ�nh c� v� thu nhặt s� ốc.� Mậu dịch đường xa đ� vỏ chai, c�c lưỡi r�u, v� nguy�n liệu đ� l�m lưỡi r�u được ưa chuộng v� c�c vỏ s� ốc được thực hiện.

 

������ �D�n Lapita� được giả định n�i tiếng proto-Oceanic (Đai Dương nguy�n mẫu), một tiền th�n của nh�nh Oceanic của tiếng Austronesian.� Tuy nhi�n, kh� để li�n kết văn h�a vật thể phi văn chương với c�c ng�n ngữ v� điều n�y kh�ng thể được chứng thực bởi c�c nguồn tư liệu độc lập.

������

������ Một nguồn gốc Đ�ng Nam � tối hậu của phức hợp Lapita được giả định bởi phần lớn c�c học giả, c� lẽ ph�t sinh từ c�c người n�i tiếng Austronesian tại Đ�i Loan hay miền nam Trung Hoa khoảng 5000 � 6000 năm trước đ�y.� Sự ph�t t�n Thời Đại T�n Thach n�y được th�c đẩy bởi một sự tăng trưởng d�n số mau ch�ng tại ph�a đ�ng v� đ�ng nam � Ch�u, v� thường được gọi l� �tuyến xe tốc h�nh sang Polynesian.�� (Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Lapita)

 

Điều quan trọng nhất đối với c�c nh� nghi�n cứu về Việt Nam l� kết luận của t�c giả, Gi�o Sư Wilhelm G. Solheim, nh� khảo cổ h�ng đầu về v�ng Th�i B�nh Dương, rằng �tổ ti�n của đồ gốm Lapita đến từ Việt Nam�.�

 

* n) Quần Đảo Bismarck (The Bismarck Archipelago: l� nh�m c�c đảo nằm ngo�i khơi bờ biển đ�ng bắc của New Guinea tại ph�a t�y Th�i B�nh Dương, v� l� một phần của Khu Hải Đảo của Papua New Guinea.



 

Bản đồ Quần Đảo Bismarck Archipelago

 

/
photo:wikimedia.org/

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

10.10.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011