Nir Avieli

National University of Singapore

 

 

B�NH CHƯNG Đ�N NĂM MỚI VIỆT NAM:

 

C�C M�N ĂN LỄ TẾT BIỂU TƯỢNG V�

 

CĂN CƯỚC D�N TỘC BỊ TRANH NGHỊ 1

 

 

Ng� Bắc dịch

 

photo: Wikipedia

Lời Người Dịch:

������ Trong khi c� thể vẫn đưa đến c�ng c�c sự kh�m ph� gi� trị, c� v�i điểm cần n�u ra về phương ph�p v� kỹ thuật nghi�n cứu của t�c giả, một học giả Do Th�i hiếm hoi nghi�n cứu về Việt Nam qua l�nh vực dinh dưỡng/thực phẩm:

������ Trong khi dựa v�o truyền thuyết Việt Nam về B�nh Chưng v� B�nh D�y để truy t�m c�c � nghĩa lịch sử, t�c giả lại khảo s�t một phi�n bản của B�nh Chưng, tức B�nh T�t tại Hội An.� V� l� phi�n bản n�n �t nhiều c� sự biến đổi, như từ h�nh vu�ng sang h�nh trụ, cột, ống của B�nh T�t, b�nh tre thay cho l� dong, d�y tre thay cho lạt giang, nước tương thay cho nước mắm v.v�� Thực ra, miền bắc cũng c� g�i B�nh Chưng d�i, y như B�nh T�t, v� gọi l� B�nh T�y.

������ Mặt kh�c, kh�ng gian nghi�n cứu l� th�nh phố Hội An, một nơi tại miền trung c� một tỷ lệ đ�ng đảo người gốc Hoa so với một mẫu (sample) nghi�n cứu b�nh thường, chuẩn x�c, v� thế c�c sự kh�c biệt c� thể c� sai số nhiều hơn.

������ Sau hết, cuộc NamTiến của người Việt bắt đầu chuyển hướng T�y Tiến dưới thời nh� Nguyễn vần c�n đang diễn tiến khi người Ph�p sang x�m lược.� V� thế c�c đặc điểm v� c� t�nh đặc th� của Miền Trung v� Miền Nam vẫn c�n trong diễn tr�nh th�nh lập v� chưa được x�c định cho đ�n ngay b�y giờ.� Sự kh�c biệt giữa c�c địa phương đương nhi�n sẽ c�, giống như bất kỳ quốc gia n�o kh�c.� Tuy nhi�n, c�c n�t địa phương ch�nh tạo th�nh c�c đường n�t đa dạng l�m phong ph� th�m cho văn h�a một nước, hơn l� c�c lực ph�n h�a, một khi căn cước của d�n tộc được x�c định r� r�ng.

***

 

B�nh Tết Việt Nam (c�c thứ b�nh bằng gạo nếp mừng Năm Mới) l� c�c biểu tượng nấu nướng nổi bật nhất trong lễ hội quan trọng nhất của Việt Nam.� B�i viết n�y khảo s�t c�c � tưởng văn h�a x� hội của căn cước d�n tộc Việt Nam đương đại được biểu lộ bởi c�c m�n ăn n�y v� t�m hiểu c�c phương thức mặc nhi�n v� phức tạp theo đ� ch�ng đ� tham dự v�o việc ph�t triển căn cước văn h�a v� d�n tộc chủ nghĩa Việt Nam.� Đối với khu�n khổ ph�n t�ch �C�c Cộng Đồng Tưởng Tượng�, loại thức ăn n�y phục vụ như một phương tiện quan trọng cho việc thực thi v� �cụ thể h�a� căn cước d�n tộc.

 

Tết, lễ hội Năm Mới Việt Nam, l� biến cố quan trọng nhất trong lịch x� hội Việt Nam, v� b�nh Tết, b�nh đặc biệt của Năm Mới (b�nh g�i gạo nếp với nh�n đậu xanh v� thịt mỡ, cuốn trong l� tre v� luộc s�i qua đ�m) l� biểu tượng nghệ thuật nấu ăn mọi nơi.� Được ăn v�o l�c mở đầu của năm mới bởi mọi người trong nước v� c�c nơi kh�c -- những người tự xem m�nh thuộc tộc Kinh (chủng tộc Việt Nam), m�n lễ tiết n�y l� bản chất của cuộc lễ v� do đ�, mang t�nh chất Việt Nam.� C�c b�nh l� c�c m� h�nh của trật tự vũ trụ.� Ch�ng phản ảnh văn h�a trồng l�a gạo của Việt Nam v� l� luận về dinh dưỡng của n�, v� nỗi lo ngại dặc trưng cho c�c sự sắp xếp v� c�c quy ước x� hội Việt Nam.� Điều xem ra l� một cơ cấu thống nhất v� vững chắc bị thử th�ch bởi c�c sự gi�n đoạn biểu trưng cho ch�nh thể Việt Nam đương đại, chẳng hạn như c�c sự căng thẳng giữa th�nh tố văn h�a thổ địa v� ngoại nhập, v� c�c sự m�u thuẫn giữa c�c định hướng cấp v�ng v� căn cước d�n tộc.� Lịch sử bị quấy rầy bởi chiến tranh của d�n tộc cũng t�m c�c c�ch biểu lộ trong một số kh�a cạnh n�o đ� của B�nh Tết.� Ch�nh từ đ�, c�c chiếc b�nh gạo nếp khi�m tốn n�y l� c�c sự đai diện năng động v� nhiều � nghĩa cho căn cước d�n tộc Việt Nam.

������ Bất kể tầm quan trọng của ch�ng, c�c t�c phẩm bếp n�c n�y đ� bị l�m ngơ bởi c�c nh� khoa học x� hội v� c�c học giả về văn h�a Việt Nam.� B�i viết n�y, dựa tr�n c�ng t�c nghi�n cứu tại chỗ về nh�n chủng học được thực hiện tại Hội An (Trung Phần Việt Nam) trong c�c năm 1999 v� 2000, v� c�c cuộc lưu tr� ngắn hơn trong c�c năm 1998, 2001, v� 2004, khảo s�t c�c � tưởng kh�c biệt v� ngay cả m�u thuẫn, được biểu lộ bởi B�nh Tết li�n quan đến một căn cước d�n tộc Việt Nam nhiều mặt, v� đ�i khi tranh chấp nhau.

������ Căn cước d�n tộc từ l�u đ� l� một kiến tr�c bị tranh nghị v� một sự hiểu biết về d�n tộc chủ nghĩa vẫn c�n hạn chế.� Dựa tr�n kh�i niệm của Anderson (19930 về bản chất �tưởng tượng� của c�c cộng đồng c� t�nh chất l� thuyết v� trừu tượng, b�i viết n�y nhấn mạnh đến c�c phương c�ch theo đ�, thực phẩm, v� c�c m�n ăn biểu tượng d�n tộc n�i ri�ng, c� tham dự v�o sự kiến tạo v� thương thảo về c�c phương diện kh�c biệt của thực thể lẩn tr�nh n�y.� Trong khi một số nghi�n cứu về c�c kh�a cạnh �vặt v�nh, t�o lao� v� thực tiễn (Billig 1995) của �việc thực h�nh d�n tộc chủ nghĩa� mới c� gần đ�y, vai tr� của thực phẩm trong việc kiến tạo căn cước d�n tộc phần nhiều bị lơ l�.� B�i viết n�y n�u � kiến rằng c�c m�n ăn biểu tượng, nhờ c�c phẩm chất nội tại kh�c nhau của thực phẩm, l� c�c phương tiện đặc biệt th�ch hợp cho sự thương thảo v� tr�nh b�y c�c � tưởng m�u thuẫn v� phức tạp li�n quan đến căn cước d�n tộc, đặc biệt với c�c chế độ độc đo�n như của Việt Nam.

 

THỰC PHẨM V� CĂN CƯỚC D�N TỘC

C�c m�n ăn biểu tượng l� c�c dấu hiệu h�ng hồn của căn cước d�n tộc.� Mennell (1985), trong sự so s�nh của �ng về c�ch nấu nướng của Anh v� Ph�p, lập luận rằng c�c c�ch nấu nướng d�n tộc c� thể nhận biết được xuất hiện song h�nh với sự xuất hiện của quốc gia-d�n tộc (nation-state) hiện đại, trong khi� c�c t�c giả Bell v� Valentine (1997:168) vạch ra rằng �thực phẩm v� d�n tộc h�a nhập v�o nhau trong c�c sự thảo luận đại ch�ng đến nỗi thường kh� khăn để kh�ng nghĩ về điều n�y xuy�n qua điều kia �� �Trong c�ng luồng tương tự, �c�c c�u chuyện về ăn uống một thức g� đ� ở một nơi n�o đ� � l� c�c c�u chuyện thực sự về nơi chốn v� người d�n ở đ� � việc đọc một c�u chuyện về thức ăn ph�t hiện, giống như bất kỳ quyển s�ch tiểu sử hay du lịch hay ho n�o, một c�u chuyện lớn lao hơn nhiều � về c�c thời gian v� kh�ng gian đặc biệt� (Freidberg 2003:3-4).

������ Trong khi c�c t�c giả n�y nhấn mạnh đến sức mạnh v� t�nh trực tiếp của c�c quan hệ giữa thức ăn v� căn cước d�n tộc, họ cũng vạch ra rằng c�c m�n ăn biểu tượng d�n tộc thường c� t�nh chất �tưởng tượng� trong đa số trường hợp (Anderson 1983) hay �được s�ng chế ra� (Hobsbawn v� Ranger 1983),�� Sự ph�n t�ch của Narayan (1997:164) về curry (c�-ri), một dấu hiệu phổ qu�t v� kh�ng thể tranh c�i của căn cước Ấn Độ, l� một th� dụ tốt:

Lục so�t c�c ngăn tủ của một ph�ng bếp, hay một cửa h�ng thực phẩm Ấn Độ, v� bạn sẽ kh�ng t�m thấy c�c lọ ghi nh�n hiệu �bột c�-ri�.� Thứ m� người Ấn Độ mua hay chế biến ra thường được gọi l� �masalas�� một hợp chất kh�c biệt của c�c gia vị nghiền th�nh bột được d�ng để tạo gia vị cho h�ng loạt c�c m�n ăn kh�c nhau �Bột c�-ri Anh Quốc thực sự l� một thực thể �được chế tạo�, l� luận của thương mại thực d�n �p đặt một từ ngữ để chỉ một loại m�n ăn đặc biệt cho một hỗn hợp c�c gia vị c� biệt, điều sau đ� đ� trở th�nh một sản phẩm cố định v� quen thuộc.

������ Narayan (1997) cảnh c�o chống lại việc x�c định một m�n ăn n�o đ� với một d�n tộc t�nh c� biệt l� đơn sơ v� ẩn chứa sự lừa gạt, v� khuyến c�o một sự kiểm tra c�c mối quan hệ giữa c�c m�n ăn biểu tượng v� c�c d�n tộc t�nh m� ch�ng được nghĩ đại diện, hầu cho ph�p một sự hiểu biết bao qu�t hơn, d� phức tạp hơn, về căm cước d�n tộc.� T�c giả Mintz (1997:189) vạch ra rằng kể từ l�c bắt đầu thế kỷ thứ hai mươi, �c�c khối đ�ng đảo d�n ch�ng mọi nơi trong thực tế, đang ăn thực phẩm, đ�i khi thường xuy�n h�ng ng�y, đến (hay bắt nguồn) từ những nơi rất xa x�i�, trong khi t�c giả Freidberg (2003:4) bổ t�c rằng �chỉ cần một �t hạt giống hay một số lượng �t ỏi c�c dầu bếp nhập cảnh để biến đổi một �nền canh n�ng v� văn h�a thực phẩm� của một địa phương c� biệt�� Hơn nữa, c�c m�n ăn biểu tượng đại diện cho c�c nơi chốn � ngay d�� -- trường hợp như thế xảy ra qu� thường xuy�n -- � c�c truyền thống [nấu nướng] bộc lộ chỉ l� c�c sự bịa đặt� (Bell v� Valentine 1997:147).� Trong khi c�c sự d� dặt n�y l�m phức tạp v� c�n th�ch thức cả gi� trị của một sự biểu trưng của c�ch nấu nướng trong căn cước d�n tộc, điều kh�n ngoan l� n�n ghi nhớ trong đầu rằng ngay d� quả c� chua mới chỉ đến nước � Đại Lợi trong �t thế kỷ trước đ�y, v� bất kể sự kiện rằng c�c nguồn gốc của sợi m� ống spaghetti c�n bị tranh nghị, m�n m� nui pasta với nước sốt c� chua v� m�n pizza l� c�c m�n đặc trưng của � Đại Lợi kh�ng thể tranh c�i được.� C�u hỏi l� m�n pizza v� spaghetti phản ảnh căn cước � Đại Lợi ra sao hay, đối với Việt Nam, c�c b�nh gạo nếp mừng Năm Mới n�i l�n những g� về việc thể hiện Việt Nam t�nh.

 

Thức Ăn v� Sự Cụ Thể H�a Cộng Đồng Tưởng Tượng

������ Trong khi c�ng tr�nh của Anderson (1983) đ� c�ch mạng h�a một sự hiểu biết về bản chất của c�c quốc gia-d�n tộc v� d�n tộc chủ nghĩa hiện đại, th�ch đố kh�i niệm về c�c cảm thức tự nhi�n v� nguy�n sơ (Giddens 1981:193) về sự li�n thuộc (belonging-ness) m� c�c thần d�n của c�c quốc d�n-d�n tộc được giả định ấp ủ đối với d�n tộc li�n hệ của họ, v� ph� b�y cho thấy đ�y l� c�c � tưởng tưởng tượng được thực sự x�y dựng (Foster 1991:193) ra sao, t�c giả Alonso (1994:382) lại cho rằng �Anderson đ� kh�ng đi đủ xa trong việc x�c định c�c chiến lược qua đ� �sự tưởng tượng đ� trở th�nh �bản chất thứ nh� � được thể hiện trong c�ch thực h�nh cụ thể v� kinh nghiệm đ� trải qua�.� Tương tự, t�c giả Palmer (1998:180) �lập luận rằng Anderson �ngưng lại kh�ng khảo s�t nhiều phương c�ch theo đ� một cảm gi�c về d�n tộc-t�nh (nation-ness) được duy tr� h�ng ng�y ��� B� n�u � kiến rằng

Điểm then chốt l� l�m sao m� người ta đ� tiến bước từ sự hiểu biết n�y về c�c sự thay đổi cấu tr�c cho ph�p � tưởng về một cộng đồng văn h�a xuất hiện, đến một sự hiểu biết về c�ch thức l�m sao c�c c� nh�n trở n�n hay biết một c�ch c� � thức về cộng đồng văn h�a � l�m sao một cảm gi�c về t�nh chất d�n tộc được x�y dựng nối kết c�c c� nh�n với một truyền thống văn h�a đặc biệt.� (Palmer 1998:180).

Trong thực tế, phần nhiều văn liệu x� hội học v� nh�n chủng học về d�n tộc chủ nghĩa đ� đặt ti�u điểm v�o �tập qu�n văn h�a của sự h�nh th�nh căn cước d�n tộc� (Lofgren 1989:5, được tr�ch dẫn trong s�ch của Foster 1991:238), v� v�o c�c phương thức kh�c nhau m� d�n tộc �được cụ thể h�a� (Alonso 1994:380) trong một nỗ lực để lấp hố ngăn c�ch giữa sự � niệm h�a tr�n l� thuyết về d�n tộc như một thực thể tưởng tượng với c�c th�i quen h�ng ng�y đ� sinh sản v� t�i sinh n�.� Trong khi t�c giả Foster (1991:248-252) sử dụng kh�i niệm �commodification: sản phẩm h�a� v� �sự ti�u d�ng� để �cụ thể h�a d�n tộc�, v� trong khi Alonso (1994) đề cập đến �c�c uyển từ dinh dưỡng: alimentary tropes� chẳng hạn như c�ch nấu ăn, thực phẩm, v� sư ti�u h�a, c�c c�ch thức m� thực phẩm v� việc ăn uống gi�p sinh sản ra v� thương thảo về d�n tộc chủ nghĩa lại hiếm khi được thảo luận đến.� Ngay t�c giả Palmer (1998:183), kẻ x�c định dứt kho�t thực phẩm l� một trong ba �ngọn cờ của căn cước� c� tiềm năng khỏa lấp hố ngăn c�ch giữa l� thuyết v� sự thực h�nh d�n tộc chủ ngh�a (c�c ngọn cờ kh�c l� th�n thể con người (body) v� phong cảnh (landscape) 2, v� vạch ra rằng �thức ăn chẳng kh�c g� như một �huy hiệu của căn cước� l� c�c biểu trưng hiển nhi�n hơn của cải, t�i sản (belonging) d�n tộc, chẳng hạn c�c đồng tiền, quốc ca, trang phục, v� c�c lễ tiết, kh�ng vượt qu� c�c sự ph�t biểu tổng qu�t như lời tuy�n bố được tr�ch dẫn ở tr�n.� Ch�nh v� thế, mục đ�ch l� thuyết ch�nh yếu của b�i viết n�y l� để thảo luận c�c phương c�ch theo đ� c�c m�n ăn biểu tựợng d�n tộc lấp đầy hố ngăn c�ch giữa l� thuyết v� sự thực h�nh d�n tộc chủ nghĩa.

 

LỄ HỘI Đ�N NĂM MỚI CỦA VIỆT NAM

������ Lễ hội đ�n Năm Mới Việt Nam, Tết Nguy�n Đ�n [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], lễ hội của ��nh s�ng mặt trời nguy�n sơ� hay �b�nh minh xuất hiện� (Hữu v� Cohen 1997:6), l� biến cố quan trọng nhất được cử h�nh bởi d�n tộc Việt.� Mặc d� c� v�i Tết trong một năm, khi người Việt Nam n�i về Tết, điều đ� c� nghĩa lễ hội đ�n mừng Năm Mới, cũng được biết l� Tết cả [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (lễ tết ch�nh). Thảo luận về Tết, hoạch định về Tết, h�o hức chờ đợi ng�y Tết đến, v� hồi tưởng về Tết truớc đ�y l� c�c đề t�i n�i chuyện thường gặp giữa người d�n Hội An trong c�c th�ng trước ng�y lễ, khi c�c sự chuẩn bị cho Tết sắp đến khởi sự.

������ C�c học giả v� c�c nh� b�nh luận về Việt Nam thường nhấn mạnh n�t nổi bật của Tết như một sự việc lớn lao kh�ng thể so s�nh được.� Jamieson (1995:280 viết: �Thật kh� khăn để người Mỹ hiểu được Tết đ� v� đang c� tầm quan trọng ra sao đối với người Việt Nam.� Tết l� lễ Gi�ng Sinh, Phục Sinh, Đ�m Trừ Tịch, Lễ Tạ Ơn, v� Ng�y Lễ Độc Lập mồng 4 Th�ng Bảy gộp chung lại th�nh một cuộc lễ.� Cử h�nh lễ Tết với gia đ�nh của một người l� một phần thiết yếu của điều mang � nghĩa l� người Việt Nam, trở th�nh một con người to�n diện�.� C�c t�c giả kh�c (Hữu v� Cohen 1997:6; Florence v� Storey 1999:96-9; Kamm 1996:203-5; Ellis 1995:163; Crawford 1965:190) b�nh luận về Tết với lời lẽ cao cả tột c�ng tương tự.

������ Tết được cử h�nh v�o ng�y đầu ti�n của th�ng �m lịch đầu ti�n trong năm Việt Nam, 3 khi ban đ�m c� vẻ tối đen nhất suốt cả năm (Hữu v� Cohen 1997:12), trong khoảng từ 19 Th�ng Một đến ng�y 20 Th�ng Hai, nằm giữa đ�ng ch� v� hạ ph�n (Huard v� Durand 1998:108), v� được xem l� ng�y đầu ti�n của m�a xu�n.� N� được cử h�nh giữa vụ gặt l�a m�a thu v� vụ cấy l�a m�a xu�n, �khi c�c kho vựa t�ch trữ ngũ cốc ở mức nhiều nhất trong năm v� khi hoạt động n�ng nghiệp được đ�nh ho�n cho đến khi khởi đầu m�a cấy l�a (Hữu v� Cohen 1997:12; cũng xem Hickey 1964:130).� Tết do đ� kh�ng phải l� một lễ hội gặt h�i hay cấy l�a, m� l� một thời kỳ nằm giữa.� Trong kh�a cạnh n�y, Tết kh�ng chỉ h�nh lễ để b�y tỏ l�ng biết ơn của n�ng d�n về vụ gặt h�i trước đ� hay niềm hy vọng của họ về c�c vụ thu hoạch sắp tới, n� cũng c�n nhắm v�o việc chiến đấu với c�c hiệu ứng của thời tiết bất ổn định v� v�o việc bảo đảm cho sự an to�n của số thu hoạch cất trữ trong suốt thời kỳ nguy hiểm n�y (một vấn đề sẽ được khai triển sau n�y).

������ Mặc d� cuộc lễ được cử h�nh ch�nh thức tại Việt Nam đương đại trong ba ng�y đầu ti�n của Năm Mới, c�c hoạt động Tết k�o d�i l�u hơn nhiều.� C�c nghi lễ bắt đầu v�o ng�y thứ 23 th�ng chạp �m lịch, khi �ng T�o (Thần bếp), kẻ thường xuy�n �quan s�t c�c hoạt động h�ng ng�y của gia đ�nh� từ vị thế đặc ưu của �ng ta tại nh� bếp (Hickey 1964:130), bay l�n trời để b�o c�o với Ngọc Ho�ng Thượng Đế (v� thần tối cao tr�n trời) về c�c h�nh vi của gia đ�nh trong suốt năm qua.� C�c sự chuẩn bị h�o hức tiếp diễn cho đến gi�y ph�t cuối c�ng của năm hết, v� lễ tiết l�n đến cực điểm khi c�c tổ ti�n xuống từ tr�n trời để đo�n tụ với gia đ�nh của họ trong bữa ăn đầu ti�n của Năm Mới.

������ Ba ng�y kế tiếp được d�ng để thăm viếng c�c th�n nh�n (ng�y đầu ti�n), th�y gi�o (ng�y thứ nhi, v� c�c bạn b� (ng�y thứ ba). �Cũng như đối với phần lớn c�c hoạt động x� hội tại Việt Nam, mỗi cuộc thăm viếng li�n can đến việc ăn v� uống, với bản chất, phẩm chất v� số lượng thực phẩm v� đố uống biểu lộ sự th�n cận x� hội tương đối giữa c�c chủ nh� v� kh�ch của họ.� Tết t�n dần trong khoảng từ ng�y thứ ba v� ng�y thứ bảy của th�ng �m lịch đầu ti�n, khi c�c tổ ti�n về lại Trời.� Tuy nhi�n, việc hoạch định v� c�c sự chuẩn bị khởi sự rất l�u trước th�ng chạp, trong khi c�c nghi lễ thực tế của Tết bắt đầu v�o ng�y 15 của th�ng chạp (ng�y rằm cuối c�ng hay tục thờ c�ng ng�y trăng tr�n của cả năm), v� kh�ng kh� lễ hội ngự trị �t nhất đến ng�y thứ 15 của th�ng gi�ng.

������ Điều quan trọng cần hay biết rằng c�c phong tục Lễ Tết Mừng Năm Mới Việt Nam gần như giống với c�c phong tục của Trung Hoa, khi lễ hội, c�ng với ngữ vựng biểu trưng v� lời n�i của n�, được chấp nhận bởi người Việt Nam từ ph�a Trung Hoa chỉ với sự kh�c biệt nhỏ nhoi.� Tầm quan trọng của sự vay mượn văn h�a n�y sẽ được mở rộng khi thảo luận về vai tr� của b�nh Tết như c�c biểu tượng d�n tộc Việt Nam.

 

C�c Chiếc B�nh Gạo (Nếp) Mừng Năm Mới

������ C�c phong tục cổ truyền của Tết được t�m tắt trong một c�u đối phổ th�ng:

Thịt mỡ, dưa h�nh, c�u đối đỏ,

C�y n�u, tr�ng ph�o, b�nh chưng xanh.

(Fat pork, picked shallots, red couplets;

New Year pole, strings of firecrackers, green rice cakes.)

Ng�y nay ở Hội An, cọc trụ ng�y Tết (c�y n�u), v� c�u đối đỏ (c�c ước vọng cho Năm Mới, được viết theo truyền thống bằng c�c c�u thơ c� vần điệu tr�n giấy m�u đỏ) th� hiếm c�, v� ph�o đ� bị cấm từ năm 1994.� Trong sự đối phản r� rệt với c�c phong tục bị mờ nhạt n�y, c�c m�n ăn đặc biệt chuẩn bị cho lễ hội mừng năm mới, đặc biệt b�nh Tết, th� cực kỳ phổ biến, v� c� thể được nhin thấy v� được ăn ở mọi nơi.� Ta lại c�n c� thể lập luận rằng c�c m�n ăn v� c�c bữa ăn ng�y Tết giờ đ�y l� c�c đường n�t ch�nh của cuộc lễ (như ch�ng đ� nhiều phần như thế trong qu� khứ).� Trong thực tế, khi mời một người n�o đ� đến thăm viếng trong kỳ lễ hội, lời mời l� �ăn Tết�, nhấn mạnh đến t�nh chất trung t�m của thực phẩm v� việc ăn uống.

������ Tết ph� b�y c�c m�n ăn đặc biệt, một số được d�ng tr�n to�n quốc, trong khi một số kh�c l� c�c m�n ăn địa phương.� Tại Hội An, v�o Tết năm 2000, c�c m�n ăn phổ th�ng nhất sau B�nh Tết l� mứt quất (candied kumquat oranges), si-r� d�u (mulberry syrup), v� rượu d�u (mulberry liqueur), cũng như một loạt c�c m�n ăn thịt lợn (heo).� M�m c�ng Ngũ Quả phải được trưng b�y tr�n b�n thờ tổ ti�n người d�n Hội An bao gồm quả na (custard-apple), dừa non, đu đủ, xo�i, v� dưa hấu.� Hạt dưa hấu kh� v� một loạt tr�i c�y kh� v� giữ được l�u, được b�y trong một khay nhiều ngăn đặc biệt, để mời kh�ch d�ng c�ng với nước tr�.� Trong khi tất cả c�c m�n n�y đều mang � nghĩa biểu trưng (Avieli 2003:330-49), c�c b�nh gạo [nếp] Năm Mới l� c�c biểu tượng nấu nướng nổi bật nhất, xuất hiện như m�n ăn trung t�m điểm tr�n hầu hết mọi b�n thờ tổ ti�n, được d�ng trong thực tế tại mọi bữa ăn suốt c�c ng�y đầu ti�n của lễ hội v� thường xuy�n trong hai tuần kế tiếp.

������ Sự chuẩn bị b�nh Tết kh�ng kh� khặn song đ�i hỏi thời gian, sức lao động, dụng cụ, v� một số kinh nghiệm.� V� thế, phần lớn c�c gia đ�nh th�nh thị mua ch�ng tại bất kỳ một trong v�i hệ thống tiếp thị mọc l�n khắp nơi trong tuần lễ trước ng�y lễ hội.� Để l�m b�nh gạo [nếp], cần ng�m gạo nếp v� đậu xanh trong nước qua đ�m.� Gạo đ� ng�m được n�n v�o một khu�n gỗ h�nh chữ nhật [t�c giả sẽ tr�nh b�y về việc g�i b�nh t�t, d�ng đến khu�n h�nh chữ nhật, chứ kh�ng phải khu�n h�nh vu�ng d�ng để g�i b�nh chưng th�ng thường, ch� của người dịch] v� c� nh�n bằng đậu xanh nghiền [sic] v� thịt lợn được chi�n (r�n) bằng mỡ [sic, thịt heo c� mỡ đ� được chi�n sơ qua?].� L� tre [miền bắc thường d�ng l� dong, miền nam c� thể d�ng cả l� chuối, ch� của người dịch] được quấn chung quanh chiếc b�nh v� được buộc chặt bằng sợi d�y tre mỏng [miền bắc d�ng lạt giang, ch� của người dịch].� C�c chiếc b�nh được luộc trong nước s�i với lửa nhỏ qua đ�m trong một nồi sắt lớn.

������ B�nh Tết Hội An c� h�nh ống (trụ), d�i khoảng 30 centim�t, đường k�nh 8-10 cm, v� c�n nặng khoảng 1 k� l�.� Cũng c� loại b�nh chay v� một loại sang trọng với nh�n bằng thịt b�.� Gi� trung b�nh cho một b�nh gạo nếp tại Hội An v�o dịp Tết năm 2000 v�o khoảng 10,000 đồng (khi đ� v�o khoảng 70 xu Mỹ Kim).� Để ăn b�nh, phần l� bọc quanh được gỡ ra v� chiếc b�nh được cắt th�nh từng khoanh.� Để giữ cho b�nh gạo được tươi mềm, l� bọc ngo�i được b�c từ đầu b�nh sẽ được cắt khoanh.� Bởi gạo nếp d�nh chặt v�o nhau, c�c con dao kh� cắt được b�nh.� Thay v�o đ�, một sợi d�y tre vốn được buộc l� bọc ngo�i được d�ng tới; một v�ng tr�n được l�m bằng sợi d�y tre, xiết quanh ph�a đầu b�nh được b�c l�, cắt th�nh từng khoanh b�nh c� chiều rộng từ 3-5 cm một c�ch tao nh�.� Lớp gạo nếp ngo�i c�ng c� m�u hơi xanh (thấm m�u của l� tre), trong khi ruột c� m�u hơi v�ng v� được chấm họa với c�c mẩu mỡ b�ng lo�ng v� c�c miếng thịt heo m�u nhạt.

������ B�nh Tết được d�ng với một thứ nước chấm thơm ngon hơi cay l�m bằng nước tương [x� dầu] v� ớt đỏ bằm.� Trong �t ng�y đầu ti�n của lễ hội, c�c khoanh b�nh Tết được d�ng tưoi.� Nhưng bởi c�c chiếc b�nh phần n�o trở n�n kh� đi sau �t ng�y (đặc biệt nếu phần bọc bằng l� bị b�c ra), c�c khoanh b�nh c� thể được chi�n (r�n) sơ qua để gi�nh lại hương vị của ch�ng.� B�nh Tết th� d�nh, b�o, chắc, v� c� nh�n đầy đặn.� Tết được biểu trưng bởi việc ăn nhiều (v� bu�ng thả n�i chung); c�c b�nh nếp l� m�n ăn đầy đặn nhất của lễ hội v�, v� lẽ đ�, của to�n thể nghệ thuật nấu nướng của Việt Nam, vốn thường c� t�nh chất nhẹ, d�n, v� tươi.

������ Người Việt Nam giải th�ch việc ăn b�nh Tết trong lễ hội bằng truyền thuyết b�nh chưng (b�nh nấu trong nước đun s�i) v� b�nh d�y (elastic cake [?]).� C�c phi�n bản của c�c người cung cấp tin tức n�i chung giống v� ph� hợp với văn liệu (th� dụ, Schultz 1994:54-62; Hữu 1998:664-5):

������ Vua H�ng Vương thứ s�u c� hai mươi con trai v� kh�ng thể quyết định xem ai sẽ l� kẻ nối ng�i của m�nh. [C�c vua H�ng được tr�nh b�y bởi người d�n Việt Nam đương đại như l� c�c người s�ng lập ra quốc gia.] Một đ�m, một vị thần xuất hiện trong giấc mơ của nh� vua v� cố vấn nh� vua về c�ch thức lựa chọn người kế ng�i.� Sau đ� nh� vua đ� triệu tập c�c con của ng�i v� n�i họ �đi mọi nơi tr�n thế giới v� t�m cho �ng thức ăn tuyệt diệu nhất.� Ho�ng tử n�o mang về m�n ăn kho�i khẩu nhất sẽ l� kẻ nối ng�i của ta�.

������ Mọi người con đều vội v� đi t�m của ngon, ngoại trừ người con thứ mười s�u [c� văn bản kh�c n�i l� thứ mười t�m, ch� của người dịch], ho�ng tử Lang Li�u.� Bị mất mẹ, ngh�o khổ, v� kh�ng c� sự ủng hộ ch�nh trị, �ng cảm thấy rất thất vọng.� Một đ�m ho�ng tử nằm mơ thấy một vị thần n�i cho ho�ng tử hay rằng tr�n thi�n đ�nh c� hay biết về sự thất vọng của �ng, n�n đ� ph�i vị thần đến cố vấn: �Kh�ng g� qu� hơn hạt gạo, sản vật của con người.� H�y d�ng gạo nếp, vo v� ng�m nước.� Tạo h�nh th�nh hai kiểu b�nh: một h�nh vu�ng giống như quả đất, một h�nh tr�n giống như v�m trời.� D�ng ch�y v� cối để gi� thịt lợn v� mỡ c�ng một số đậu xanh v� nhồi l�m nh�n cho chiếc b�nh vu�ng, g�i lại bằng l�, v� luộc cả hai loại b�nh qua hết một đ�m.� D�ng c�c chiếc b�nh l�n vua cha v� ho�ng tử sẽ được chọn l�m người kế ng�i�.� Trợ gi�p bởi b� v� gi�, vợ v� con của �ng, ho�ng tử Lang Li�u học c�ch thức l�m ra c�c chiếc b�nh.

������ Khi ng�y chờ đợi đ� đến, c�c ho�ng tử d�ng l�n vua cha c�c m�n ăn kh�c thường nhất, từ những nơi xa x�i nhất v� tuyệt diệu nhất, nhưng nh� vua kh�ng h�i l�ng: �C�c m�n ăn n�y đều đ�ng cho sự ngưỡng mộ hiếu kỳ, nhưng ch�ng lại đắt gi� v� xa lạ�.� Khi đ� Lang Li�u d�ng l�n c�c chiếc b�nh bạo nếp.� Nh� vua, sau khi nếm c�c chiếc b�nh v� nghe kể chuyện về c�c nguồn gốc thần linh của ch�ng, tức thời chỉ định ho�ng tử l�m người kế ng�i.

������ Kể từ ng�y đ�, điều trở th�nh phong tục để nấu b�nh chưng v� b�nh d�y [hay gi�y, theo s�ch của Schultz 1994:55] cho ng�y Tết.� Tuy nhi�n, c�ch thức để g�i b�nh d�y h�nh tr�n đ� bị mất trong d�ng thời gian v� b�nh chưng, được l�m ra cho lễ hội m�a xu�n, được gọi l� b�nh Tết.

 

Khoa Dinh Dưỡng, Vũ Trụ Quan v� Việc Canh T�c L�a Gạo

������ Điều quan trọng để ghi nhớ rằng truyền thuyết phản ảnh l� luận dinh dưỡng vững chắc b�n trong b�nh Tết: sự kết hợp to�n thể chất carbonhydrates, proteins, mỡ, sinh tố, v� kho�ng chất.� Nước chấm đậu tương v� ớt cung cấp th�m chất protein, c�c sinh tố v� c�c kho�ng chất.� L� luận dinh dưỡng n�y được d�ng l�m căn bản cho phần lớn � nghĩa biểu tượng của c�c chiếc b�nh gạo nếp, như c�c m�n tổng hợp duy nhất c� thể chống đỡ cho c�c � tưởng giống như c�c � tưởng được chuy�n chở bởi b�nh Tết.

������ T�nh chất biểu trưng c�ng nhi�n nhất của c�c chiếc b�nh l� h�nh dạng.� Theo truyền thuyết, c�c chiếc b�nh phải c� h�nh vu�ng v� h�nh tr�n, v� văn bản n�i r� rằng c�c chiếc b�nh mang h�nh dạng của đất v� trời, một c�ch lần lượt (phản ảnh vũ trụ quan của Trung Hoa).� Ch�nh v� thế, việc chế tạo ra c�c bộ b�nh h�nh tr�n v� h�nh vu�ng cho một lễ hội để ch�o mừng sự bắt đầu của một năm mới v� sự t�i sinh của thi�n nhi�n trong m�a xu�n (Hữu v� Cohen 1997:30) l� một h�nh vi biểu trưng cho sự s�ng tạo v� t�i tạo của vũ trụ.� B�nh Tết khi đ� l� một m� h�nh của vũ trụ, một �tiểu vũ trụ của một thế giới m� con người sống trong đ� � �một hệ thống đơn giản h�a, chuy�n biệt h�a, v� tương đối kh�p k�n, hoạt động song h�nh với thế giới kh�ng x�c định m� n� rậ khu�n� (Handelman 1998:xxii). ���

������ Điều kỳ lạ l� kh�ng nguồn cung cấp tin tức n�o hay c�c nguồn t�i liệu đ� ấn h�nh (Schultz 1994:54-62; Hữu 1998:665) lại c� thể giải th�ch l� do tại sao chỉ c� b�nh chưng h�nh vu�ng trở th�nh b�nh Tết, trong khi b�nh d�y h�nh tr�n hiếm khi được sắm sửa cho lễ hội ng�y nay.� Tuy nhi�n, chiếc b�nh h�nh vu�ng, c� h�nh thể như tr�i đất, nhấn mạnh đến bản chất của ng�y lễ l� hướng đến đất v�, từ đ�, đến sự canh t�c.� Schultz (1994:56) n�u � kiến rằng �h�nh vu�ng được xem l� một biểu trưng cho sự biết ơn của người d�n Việt Nam d�nh cho tr�i đất, nơi đ� cung cấp cho họ c�c thực phẩm nhiều chất dinh dưỡng�.�� Hữu (1998:665) n�i rằng đối với người Việt Nam, �b�nh Chưng l� một biểu trưng cho l�ng biết ơn của họ d�nh cho tr�i đất đ� nu�i sống họ� trong khi trong phi�n bản của Nguyễn v� Sachs (2003:81), vị ho�ng tử n�i: �một chiếc b�nh sẽ c� h�nh vu�ng v� sẽ tượng trưng cho đất, nhắc nhở ch�ng ta đến c�c thửa đất h�nh vu�ng từ đ� ch�ng ta trồng cấy sản vật của m�nh�.� Truyền thuyết v� c�c chiếc b�nh, khi đ�, kh�ng chỉ l� c�c m� h�nh của vũ trụ v� của c�c th�nh tố thi�n nhi�n m� c�n l� một m� h�nh canh t�c Việt Nam truyền thống, với l�a gạo, đậu, v� thịt heo đại diện cho ba th�nh phần chủ yếu của n�: ngũ cốc, rau củ, v� chăn nu�i.

������ C�c chiếc b�nh n�u bật gạo (th�nh phần x�c định của ch�ng) như phần chủ yếu của n�ng nghiệp Việt Nam.� Trong thực tế, gạo l� sản phẩm quan trọng nhất sự dinh dưỡng của Việt Nam, v� canh t�c n� l� hoạt động th�ng thường nhất tại Việt Nam (Nguyễn 1995:218) � khoảng 80% d�n số sống tại th�n qu�, v� khoảng 80-90% những người n�y tham gia v�o việc trồng cấy l�a gạo.� Mặc d� chỉ c� 125 ng�y mỗi năm được d�ng trực tiếp cho sự canh t�c l�a gạo (D. Nguyễn 1993:316), phần lớn c�c hoạt động th�n qu� kh�c xoay quanh sự khai th�c phần c�n s�t lại của l�a gạo (Jamieson 1995:34) hay việc khắc phục c�c sự khiếm khuyết về mặt dinh dưỡng của n�.� Th� dụ, đậu phụng (lạc), c�c loại hạt đậu, v� dừa được trồng trọt để cung cấp protein v� mỡ; rau l� xanh v� c�c loại rau thơm cung cấp chất sợi, c�c sinh tố, v� c�c chất kho�ng bị mất khi xay gạo; c�c con lợn được nu�i bằng c�m gạo v� đồ ăn dư (ch�nh yếu l� gạo); v� c�c con vịt được l�a th�nh từng bầy đo�n tr�n c�c c�nh đồng l�a mới thu hoạch để bảo đảm rằng mọi hạt gạo sẽ đuợc m�t sạch; ngay cả c�c con ch�, bất kỳ khi n�o được cho ăn, đều c� gạo.� Sau c�ng, một n�ng d�n được ch�n cất trong đồng l�a của �ng ta, l� quay trở về, tr�n phương diện vật l� v� biểu tượng, chu kỳ của l�a gạo, vốn l� nguồn cội của đời sống con người.

 

photo: Wikipedia

 

������ Đậu xanh v� thịt heo th� quan trọng cho b�nh Tết, nhưng được ẩn giấu, sự thực như thế, dưới lớp gạo dầy.� Trong thực tế,� c�c chiếc b�nh cũng c� thể được nhận thức như một m� h�nh của sự tổ chức kh�ng gian của v�ng th�n qu� � c�c c�nh đồng l�a gạo v� tận bao quanh c�c ng�i l�ng, nơi c�c mảnh vườn nhỏ trồng rau (v� c�c loại củ quả kh�c), v� c�c con lợn v� c�c gia s�c n�ng nnghiệp kh�c được chăn nu�i gần c�c ng�i nh�.� Một người cung cấp tin tức n�u � kiến rằng m�u xanh của c�c chiếc b�nh, sinh ra bởi việc nấu gạo trong lớp bọc bằng l�, tượng trưng cho c�c c�nh đồng l�a m�u xanh.

������ Phần lớn c�c b�nh gạo cho lễ hội Việt Nam (th� dụ b�nh thưởng trăng trung thu hay b�nh tro giữa m�a hạ) kh�ng được l�m bằng gạo thường (gạo tẻ) [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] m� bằng gạo d�nh như keo (nhớt,d�nh) (gạo nếp) [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Sự kh�c biệt n�y quan trọng đến nỗi th�nh ngữ nếp-tẻ được d�ng để diễn tả c�c sự đối chọi chẳng hạn như tốt-xấu, phải-tr�i, v� ngay cả trai-g�i (Nguyễn 2001).� Gạo nếp đ� được gieo trồng cả ngh�n năm trước gạo (thường) hạt d�i, nhưng ng�y nay gạo thường [tẻ] lại được canh t�c tr�n một quy m� lớn hơn nhiều bởi n� gặt h�i được c�c số thu hoạch nhiều hơn một c�ch đ�ng kể v� c� thể canh t�c được tr�n đất đai bạc m�u hơn (Hữu 1998:186).� Trong khi gạo nếp l� loại duy nhất được cung ứng dưới thời trị v� của c�c vua H�ng (cho đến khi truyền thuyết v� c�c chiếc b�nh được ghi ni�n kỳ), xem ra c� một số t�nh chất n�o đ� đ�i hỏi sự suy tưởng.

������ Trước ti�n, Nguyễn (2001) ph�t biểu rằng tiền lệ lịch sử của gạo d�nh t�ch ri�ng nếp như loại gạo �thực sự�, thức dinh dưỡng thủy tổ của x� hội Việt Nam v� khẩu phần đ�ch thực của n�.� Ch�nh v� thế, gạo nếp trong nhiều lốt vỏ kh�c nhau lu�n lu�n thay thế gạo tẻ trong lễ tiết v� c�c nghi lễ.� Trong kh�a cạnh n�y, gạo nếp d�nh vượt thời gian v� cho ph�p người Việt Nam đương đại t�i diễn lịch sử cổ xưa của họ v� t�i trải nghiệm thời kỳ huyền thoại của sự h�nh th�nh d�n tộc được t�n dương bởi truyền thuyết.

������ Thứ nh�, một số người cung cấp tin tức n�u � kiến rằng gạo nếp đại diện cho sự hợp quần bởi t�nh d�nh chặt nhất qu�n của n�.� Ch�nh v� thế, c�c chiếc b�nh gạo d�nh (ph� b�y dưới c�c t�n gọi, h�nh dạng, m�u sắc, nh�n độn b�n trong, v� khẩu vị kh�c nhau trong phần lớn c�c lễ hội Việt Nam) tượng trưng cho sự cấu kết v� đo�n kết x� hội, c�c cảm nhận m� c�c lễ hội v� c�c nghi thức x� hội kh�c muốn khi�u dẫn.� B�nh Tết ph� diễn sự hiểu biết của Durkheim (1915) về việc sử dụng thức ăn lễ hội để ph�n biệt sự linh thi�ng với phần thế tục.�� Thời gian h�ng ng�y l� thời gian của gạo thường, th� tục, kh�ng h�nh dạng, kh�ng m�u sắc, kh�ng m�i vị, v� được cấu tr�c một c�ch lỏng lẻo.� Thời gian thi�ng li�ng th� kh�c thường, được khu�n đ�c một c�ch cẩn thận th�nh c�c h�nh dạng ri�ng biệt, v� được đ�nh dấu bằng m�u sắc.� Ch�nh v� thế, c�c h�nh dạng v� c�c m�u sắc của b�nh Tết ph�n biệt ch�ng với c�c b�nh gạo tẻ h�ng ng�y v� th�ng thường v�, từ đ�, biểu lộ thời gian linh thi�ng.

������ Sau c�ng, một � tưởng ph� b�y bởi truyền thuyết rằng quyền lực ch�nh trị li�n hệ với khả năng nu�i ăn người d�n.� �� Vận mệnh của quốc gia, bất luận tại �u Ch�u hay tại Phi Ch�u hay � Ch�u, từ l�u được r�ng buộc một c�ch chặt chẽ với sự chận đứng hay ngăn ngừa nạn đ�i v�, một c�ch tổng qu�t hơn, với việc cung cấp thực phẩm cho d�n ch�ng� (Arnold 1988:96, được tr�ch dẫn trong s�ch của Counihan 1999:7-8).� Truyền thuyết x�c định vị vua Việt Nam l� tưởng l� một kẻ nu�i nấng d�n tộc, v� như kẻ nu�i ăn d�n tộc bằng gạo.

Điều đ�ng kể rằng, mặc d� hữu l� để ước vọng người d�n Việt Nam sẽ c� được chiến sĩ dũng m�nh nhất, chiến thuật gia sắc sảo nhất, kẻ đạo đức nhất, hay người c� học thức uy�n th�m nhất trong c�c ho�ng tử được tuyển lựa l�m vua của họ, họ đ� chọn một kỳ thi nấu ăn để x�c định sự thừa kế ng�i vua, khiến ta nghĩ rằng khả năng nu�i nấng l� phẩm chất thiết yếu nhất của thuật l�nh đạo Việt Nam.� Hơn nữa, truyền thuyết b�c bỏ m�n ăn ngoại lai hay đắt gi� nhất khi nghi�ng về gạo.

 

B�nh Tết v� Nỗi Lo �u Canh T�c L�a Gạo

������ Mọi Tết Việt Nam đều được cử h�nh trong một thời kỳ chuyển tiếp, đ�nh dấu một sự chuyển đổi từ một m�a canh t�c n�y sang m�a canh t�c kh�c.� Tết Năm Mới diễn ra v�o l�c khi thời tiết kh�ng thể ti�n đo�n được đe dọa đến số thu hoạch đang cất trữ, c�c vụ gặt h�i tương lai, v� sức khỏe c�ng như sự sung t�c của người d�n.� Trong khi phần lớn c�c nh� b�nh luận nhấn mạnh đến c�c kh�a cạnh lạc quan v� vui vẻ của Tết, sự thực l� lễ hội n�y xảy ra trong một thời gian nguy hiểm.� Điều n�y được phản ảnh trong một số th�nh tố biểu trưng h�m � sự nguy hiểm, nhưng ch�nh trong c�c thức ăn lễ hội, đặc biệt trong b�nh Tết, nỗi lo �u đ� hiển hiện r� r�ng nhất.

������ Kh�a cạnh trở ngại nhất của m�a n�y l� sự t�ng trữ an to�n số thu hoạch mới gặt h�i gần đ�y.� Sau khi đập l�a, gạo được phơi dưới nắng mặt trời, sau đ� được đổ v�o c�c bao lớn để cất trữ tại c�c nơi tr�n cao, thường tr�n c�c x� ngang m�i nh� nơi g�c x�p.� Gạo phải được bảo vệ khỏi tia s�ng mặt trời trực tiếp, mưa, c�c lo�i gặm nhấm, c�c c�n tr�ng, c�c trận lụt m�a h� đột xuất v� quan trọng nhất, tr�nh sự ẩm thấp, c� thể l�m gạo nẩy mầm v� bị mốc.� Một c�ch biểu trưng, b�nh Tết cũng bảo vệ gạo nhờ sự đun luộc l�u d�i, một số lượng lớn chất mỡ b�o, v� l� bọc quấn b�n ngo�i.� C�c người cung cấp tin tức n�i rằng c�c b�nh gạo c� thể giữ được �t nhất một th�ng.� C�c b�nh gạo lễ hội l� một loại thực phẩm được cất giữ l�u ng�y trong một loạt thực phẩm mừng Năm Mới c� thể giữ l�u ng�y � mứt quất (candied oranges), siro d�u (mulberry syrup), một loạt c�c loại mứt v�/hay tr�i c�y kh� (dứa, đu đủ, dừa, đ�o, v� mơ) � v� hạt dưa hấu c� mặt mọi nơi, vốn được phơi kh� để bảo tồn.� Ngay cả m�n thịt lợn kho mỡ (thịt mỡ) được n�i ở tr�n trong c�u đối về Tết, cũng như m�n ăn thịt lợn kho nước mắm kiểu Hội An, trong thực chất l� c�c thực phẩm giữ được l�u ng�y.

����� Trong một kh�a cạnh n�o đ�, c�c m�n ăn lễ hội kh�c nhau, v� đă,c biệt b�nh Tết, l� c�c phương c�ch thực tiễn, t�m l� v� c� thể thần diệu, nhằm khắc phục sự đe dọa của việc l�m hư hại của b�o lụt.� Việc ăn thức ăn dự ph�ng d�i ng�y biểu lộ sự lo �u n�y (c� lẽ để l�m giảm bớt sự lo �u), v� c�n c� thể được xem như một b�a ph�p để bảo vệ c�c số thu hoạch đang được cất trữ.� C�c tập tục ng�y Tết kh�c � lau chui sạch sẽ nh� cửa, qu�t nh� bằng lớp v�i trắng v�, quan trọng nhất, lau ch�i nh� bếp, thay c�c vi�n gạch l� bếp (Hữu v� Cohen 1997), v� ngưng kh�ng nấu ăn trong �t ng�y dịp Tết � được nhắm để bảo đảm rằng c�c thứ đe dọa đến gạo cất trữ �đều bị loại trừ.

������ B�nh Tết l�m nhiều điều hơn việc t�n dương sự canh t�c l�a gạo v� b�y tỏ l�ng biết ơn cho vụ gặt h�i th�nh c�ng, ch�ng c�n ph�t lộ mối quan ngại của c�c n�ng d�n Việt Nam rằng c�c số sản vật gặt h�i c� thể bị mất m�t v� rằng sự gặt h�i của m�a sắp tới c� thể bị thất bại.� C�ng l�c, c�c b�nh gạo nếp, được cất giữ l�u ng�y như ch�ng l�m được, biểu trưng cho t�nh ki�n tr� v� � ch� sống c�n qua bất kỳ tai họa n�o.� Sự tồn trữ l�u d�i đặc biệt của b�nh Tết l� một trong c�c đặc điểm quan trọng nhất của ch�ng v�, như thế, cung cấp căn bản cho sự giải th�ch xa hơn nữa.

 

C�C KH�A CẠNH TRANH CHẤP

CỦA CĂN CƯỚC D�N TỘC VIỆT NAM

������ Trong khi c�c kh�i niệm biểu trưng về vũ trụ quan v� về việc canh t�c l�a gạo, vốn tạo th�nh nền tảng chung về văn h�a x� hội trong bản chất Việt Nam, c� thể được nhận thấy một c�ch r� r�ng trong truyền thuyết, c�c � tưởng kh�c th� mặc thị, lẩn trốn, v� phức tạp hơn.� Một số trong c�c sự giải th�ch của c�c người cung cấp tin tức cho t�i về b�nh Tết quan t�m ch�nh yếu về căn cước d�n tộc Kinh/Việt Nam v� mang một �m điệu đương đại r� rệt.

������ Khi t�i hỏi c� (miss/teacher) Nguyệt, c� gi�o dạy tiếng Việt cho t�i, đ�u l� đạo l� của truyền thuyết, c� suy nghĩ một hồi, rồi đ�p: �b�i học l� ch�ng t�i kh�ng th�ch những g� ngoại lai!� C� Nguyệt đang đề cập đến một sự giải th�ch bằng l�ng y�u nước, chiếu s�ng một sản phẩm địa phương (tức, của người Việt Nam/Kinh), cho d� đơn giản v� tầm thường đến đ�u, vẫn đ�ng được mong muốn hơn c�c xa x� phẩm nhập cảng, bất kể ch�ng c� tinh tế ra sao.� Tại Việt Nam thời hậu c�ch mạng đương đại (Malarney 2002), khi t�c động của tr�o lưu văn h�a, tin tức, � thức hệ ngoại quốc tr�n �c�c gi� trị truyền thống� (Drummond v� Thomas 2003:8) được tranh luận một c�ch s�i nổi, truyền thuyết v�, từ đ�, b�nh Tết được giải th�ch như việc b�y tỏ sự tự h�o d�n tộc v� một cảm nhận về t�nh si�u việt văn h�a.� Khi ăn chiếc b�nh gạo tầm thường, người Việt Nam muốn nới l�n sự ưa th�ch của họ d�nh cho văn h�a v� c�c sản phẩm Việt Nam so với c�c sản phẩm nhập cảng, cho d� c�c sản phẩm đ� c� hoa mỹ đến đ�u.� C�c chiếc b�nh, khi đ�, c� nghĩa l�ng y�u nước.

������ Sự giải th�ch của c� Nguyệt c� thể bắt nguồn từ một trong hai khung cảnh khả hữu.� N� c� thể được quy kết cho tinh thần độc lập nguy�n thủy, l�u cả ngh�n năm của người Việt Nam � c�c kẻ lu�n lu�n ưa th�ch qu� hương của họ v� c�c sản phẩm của n� hơn c�c h�ng h�a, � tưởng v� c�c nh� cai trị ngoại quốc kể từ thời b�n huyền thoại của c�c vua H�ng � một tinh thần đ� được ki�n định trong suốt lịch sử nhiều x�o trộn của c�c cuộc đấu tranh li�n tục gi�nh độc lập của d�n tộc.� N� cũng c� thể được quy kết cho một hệ thống gi�o dục nhuốm d�n tộc chủ nghĩa/l�ng y�u nước đương đại, nhằm cổ vũ c�c thiếu nhi (v� người lớn) Việt Nam t�n k�nh qu� hương của họ.�� Tuy nhi�n, khi được hỏi liệu c� một người n�o đ� n�u ra sự giải th�ch n�y hay liệu c� phải c� ấy đ� học về n� tại trường học như một học sinh (hay với tư c�ch một c� gi�o), c� Nguyệt tuy�n bố rằng đ�y đơn giản l� c�ch m� c� hiểu về truyền thuyết.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, sự li�n tục của c�c cuộc đấu tranh gi�nh độc lập đặc trưng cho lịch sử Việ Nam khiến ta nghĩ rằng khuynh hướng n�y kh�ng chỉ l� một � tưởng hiện đại v� được c�i đặt.� Trong thực tế, sự giải th�ch của c� Nguyệt xem ra l� một sự biểu lộ đương đại của một khuynh hướng cổ xưa, c� gốc rễ văn h�a s�u xa về sự tự khẳng quyết v� sự độc lập.

������ Hơn nữa, cả truyền thuyết v� b�nh gạo m� tả văn h�a Việt Nam độc lập thời tiền lệ thuộc Trung Hoa.� C�c vua H�ng đ� cai trị trước khi c� sự đến nơi của người Trung Hoa, v� truyền thuyết thuật lại một phong tục được nghĩ rằng đ� được thiết lập trước khi c� sự đến nơi của c�c kẻ địch trường kỳ n�y v�, đ�i khi, l� c�c kẻ chinh phục.� Như t�c giả Hữu (1998:117) vạch ra, �người Việt Nam đ� chấp nhận nhiều phong tục của lễ mừng Năm Mới kiểu Trung Hoa theo Khổng học, nhưng họ đ� bản địa h�a h�nh thức v� nội dung của ch�ng v� đ� bổ t�c bằng c�c c�ch thức mới của ri�ng họ, r�t ra từ kho t�ng văn học d�n gian trong di sản văn h�a Việt Nam thời tiền lệ thuộc Trung Hoa của họ�.� Khai triển xa hơn vấn đề bản địa h�a, t�c giả n�i th�m: �Thực ăn phổ th�ng nhất được ăn trong ng�y Tết chắc chắn l� b�nh chưng � c� nguồn gốc được nối liền với � thời đại c�c vua H�ng, những người đ� s�ng lập ra quốc gia Việt Nam đầu ti�n�.� Trong thực tế, trong khi c�c b�nh gạo lễ hội kh�c, chẳng hạn như b�nh tro giữa m�a h� [b�nh � tro, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] hay b�nh trung thu, đều được nh�n nhận bởi c�c người cung cấp tin tức cho t�i l� c� nguồn gốc Trung Hoa, xem ra kh�ng c� m�n ăn Năm Mới Trung Hoa n�o song h�nh với b�nh Tết.� C�c người cung cấp tin tức cho t�i nhấn mạnh, giống như t�c giả Hữu đ� l�m, rằng c�c chiếc b�nh Tết mang t�nh chất Việt Nam độc đ�o.� Ch�nh v� thế, m�n ăn nổi bật nhất trong lễ hội Việt Nam quan trọng nhất ph� b�y kh�ng chỉ l�ng y�u nước m� c�n đại biểu cho một văn h�a Việt Nam thuần t�y, bản địa, chưa bị ảnh hưởng/l�m sai lạc bởi ảnh hưởng Trung Hoa.

������ Nơi đ�y ch�ng ta đối diện với nghịch l� đầu ti�n ph�t sinh khi tiến đ�n việc ph�n t�ch � nghĩa của b�nh Tết li�n quan đ�n căn cước d�n tộc Việt Nam: lễ hội Tết (c�ng với ch�nh ni�n lịch Việt Nam), c�c từ ngữ Tết v� Tiết, cũng như từ ngữ b�nh, đều được vay mượn từ tiếng H�n.� Ch�nh v� thế, c�c chiếc b�nh (được nghĩ) phi Trung Hoa, c�ng với truyền thuyết v� sự nhấn mạnh của n� tr�n �địa phương t�nh�, l� c�c th�nh tố chủ chốt đ� �Việt Nam h�a� lễ hội, ngay d� ch�ng, cũng vậy, rất c� thể c� nguồn gốc từ Trung Hoa.� Trong thực tế, sự kiện rằng nước tương chứ kh�ng phải nước mắm � nước muối c� Việt Nam c� mặt khắp nơi, t�c nh�n khẩu vị ch�nh yếu v� l� dấu ấn của nghệ thuật nấu nướng Việt Nam � được d�ng l�m nước chấm đi k�m gợi � xa hơn rằng, bất kể c�c lời tuy�n bố được đưa ra bởi truyền thuyết v� bởi c�c người cung cấp tin tức cho t�i, b�nh Tết c� một căn bản Trung Hoa [sic].

������ Điều quan trọng cần ghi nhận rằng kh�i niệm căn cước Việt Nam/Kinh kh�c biệt với người Trung Hoa l� một vấn đề quan trọng v� nhạy cảm tại Việt Nam đương đại.� Trong khi suốt phần lớn lịch sử như một d�n tộc, người Việt Nam đ� tranh đấu chống lại sự chiếm đ�ng của Trung Hoa, c�c giai đoạn l�u d�i của sự thống trị của Trung Hoa đ� c� một t�c động kh�ng thể phủ nhận được tr�n hầu hết mọi kh�a cạnh của x� hội v� văn h�a Việt Nam.� Hậu quả l� một cảm nhận y�u gh�t lẫn lộn đối với người Trung Hoa v� văn h�a của họ.� Trong khi nhiều trong c�c gi� trị v� phong tục Việt Nam đ�ng y�u nhất c� nguồn gốc Trung Hoa, người Việt Nam rất hăng h�i để chứng minh (với người kh�c cũng như với ch�nh họ) rằng văn h�a của họ th� kh�c biệt v� độc đ�o.

������ Theo c�ng đường hướng, khi c�c học giả T�y Phương, thường được huấn luyện trong ng�nh Trung Hoa học, quay sang nghi�n cứu Việt Nam, họ đ� nhấn mạnh đến sự tương đồng giữa c�c định chế x� hội v� c�c sự sắp xếp văn h�a giữa Trung Hoa v� Việt Nam v� c� khuynh hướng xem nhẹ c�c sự kh�c biệt, m� tả văn minh Việt Nam như một sự phản ảnh mờ nhạt văn minh Trung Hoa tiến bộ hơn (xem, th� dụ, Huard v� Durand 1998).� Chỉ c� c�c sự nghi�n cứu hậu 1975 mới dần dần chuyển hướng ch� � đến t�nh kh�c biệt v� độc đ�o về văn h�a Việt Nam (th� dụ, Marr 1981; Taylor 1983; Jamieson 1995); nhưng ngay trong c�c t�c phẩm n�y, t�c động Trung Hoa được nh�n nhận v� thường được nhấn mạnh.� V� thế, trong khi t�c động của văn h�a Trung Hoa tr�n Việt Nam kh�ng thể phủ nhận được, thật dễ d�ng để hiểu l� do tại sao người Việt Nam đương đại cảm thấy bị buộc phải chứng minh rằng văn h�a của họ l� một văn h�a ri�ng biệt, phi Trung Hoa.

������ Một th� dụ tốt về c�c phương c�ch theo đ� c�c học giả Việt Nam nhấn mạnh đến sự độc lập văn h�a Việt Nam c� thể được nhận thấy trong sự xử tr� của họ về c�i gọi l� trống đồng Đ�ng Sơn.� Trống Đ�ng Sơn l� biểu tượng đương đại cho �những g� l� Việt Nam�, xuất hiện tr�n một loạt rộng r�i c�c chế t�c phẩm từ b�a s�ch lịch sử (th� dụ, Trần v� H� 2000) đến c�c b�ch chương tr�n đường phố li�n can đến việc hoạch định gia đ�nh, tấm tạp đề của c�c nữ tiếp vi�n H�ng Kh�ng Việt Nam, v� cho đến gần đ�y, tr�n vỏ hộp b�n chải đ�nh răng c� thể vất đi sau khi sử dụng tại c�c kh�ch sạn năm sao ở H� Nội.� Theo t�c giả Pelley (1998:375), c�c trống đồng cũng xuất hiện tr�n �một loạt v� tận c�c m�n đồ lặt vặt được sản xuất với � tưởng nhắm v�o ng�nh du lịch đang ph�t triển�.� Trong kh�a cạnh n�y, biểu hiệu Đ�ng Sơn được d�ng cho cả sự ti�u thụ nội bộ lẫn �c�c quan hệ ngoại giao�.

������ T�i vẫn thường dọ hỏi về � nghĩa của c�c trống đồng v� c�c l� do cho sự sử dụng ch�ng trong c�c khung cảnh như thế.� Mặc d� phần lớn c�c người t�i n�i chuyện c� nh�n nhận ra ch�ng l� c�c trồng Đ�ng Sơn, họ đ� c� thể gặp kh� khăn để giải th�ch sự th�ch đ�ng của ch�ng tr�n c�c tấm tạp dề hay tr�n c�c b�ch chương đường phố, v� c� khuynh hướng đưa ra c�u trả lời như sau: �Đ�y l� c�c vật cổ xưa của Việt Nam�, h�m � rằng c�c chiếc trống ghi khắc c�c người khi�ng ch�ng l� người Việt Nam. �

������ Tuy nhi�n, cũng giống như b�nh Tết, c�c nguồn gốc của c�c chiếc trống n�y được giả định l� c�c chế t�c phẩm Việt Nam thời ban sơ bị tranh nghị v� g�y nhiều tranh c�i.� Trong khi t�c giả Pelley (1998:376) n�u � kiến rằng c�c chiếc trống được nhấn mạnh như một hậu quả của �sự s�ng b�i đồ cổ� của Việt Nam thời hậu thực d�n, �đ� xuất hiện như trung t�m điểm của một nỗ lực phức tạp nhằm t�i � niếm h�a (recontextualize) Việt Nam trong một khu�n khổ Đ�ng Nam � ri�ng biệt thay v� Đ�ng ��, t�c giả Xiaorong (1998:45) vạch ra rằng c�c chiếc trống cũng được tuy�n nhận như c�c biểu trưng của căn cước văn h�a ri�ng biệt (tức phi-H�n) bởi c�c tỉnh ph�a nam Trung Hoa, đặc biệt V�n Nam v� Quảng T�y, nổi tiếng c� c�c nh�m chủng tộc phi H�n đ�ng đảo.� Ch�nh v� thế, �ng n�i, �c�c học giả Việt Nam v� Trung Hoa cố gắng đưa ra c�c sự tuy�n nhận chuy�n độc một truyền thống c� thể được chia sẻ bởi c�c tổ ti�n của cả người Việt Nam lẫn c�c d�n tộc �t người của miền Hoa Nam (Xiaorong 1998: 45).

������ Khi đ�, xem ra c�c trống Đ�ng Sơn v� c�c chiếc b�nh gao Năm Mới đ� được viện dẫn tại Việt Nam trong c�c khung cảnh tương tự.� Mặc d� c�c nguồn gốc của cả hai đều bị tranh nghị, v� d� c� c�c chỉ dấu r� r�ng về c�c gốc rễ Trung Hoa của ch�ng, người Việt Nam nhận thấy cả hai l� c�c chế t�c phẩm thời tiền Trung Hoa hậu thuẫn cho sự tuy�n nhận của họ về một văn h�a Việt Nam độc lập, nguy�n sơ thời tiền Trung Hoa.� Trong thực tế, sự tuy�n nhận đưa ra bởi nh� khảo cổ học Việt Nam Phạm Huy Th�ng (được tr�ch dẫn trong s�ch của Xiaorong 1998:44), �trống đồng Đ�ng Sơn được đ�c tr�n đất Việt Nam bởi những kẻ g�nh v�c văn h�a Đ�ng Sơn �ch�ng l� t�c phẩm của những tổ ti�n người Việt Nam ng�y nay � những kẻ � thức được căn cước chủng tộc v� văn h�a của m�nh�, r� r�ng giống như sự khẳng quyết của t�c giả Hữu vốn được tr�ch dẫn trước đ�y, li�n quan đến bản chất của b�nh Tết như một th�nh tố bản địa h�a, v� trong thực tế th� đ�ng ngờ vực.

 

B�nh Tết Như Khẩu Phần Chiến Đấu

������ B�nh Tết được thảo luận cho đến nay như một phương tiện của sự biện biệt (Bourdieu 1984), đại diện cho một văn h�a Việt Nam thời tiền Trung Hoa, độc lập (bất kể c�c nền tảng lung lay cho sự tuy�n nhận n�y).� Tuy nhi�n, n�i rằng người Việt Nam lựa chọn một thức ăn lễ hội độc đ�o để tự ph�n biệt họ với người Trung Hoa kh� kết th�c được sự ph�n t�ch.� Điều cần phải được khảo s�t xa hơn l� bản chất của sự kh�c biệt, tức, vạch ra c�c th�nh tố t�ch biệt Việt Nam như l� độc đ�o v� kh�c biệt với người Trung Hoa.� Trong kh�a cạnh n�y, c�c luận điểm thảo luận đến nay li�n can đến việc canh t�c l�a gạo sẽ kh�ng đủ bởi cả Việt Nam lẫn Trung Hoa đều l� c�c x� hội canh t�c l�a gạo.� Tương tự như thế đối với c�c tư tưởng về vũ trụ quan gắn liền với c�c h�nh dạng của c�c chiếc b�nh, như c�c b�nh n�y, cũng vậy, đều c� bản chất Trung Hoa.� V� thế, phải c� điều g� kh�c nữa mang t�nh chất ri�ng biệt Việt Nam.

������ T�nh chất ri�ng biệt của c�c chiếc b�nh, t�nh chất t�ch biệt ch�ng như thức ăn Việt Nam nổi bật nhất, l� sự kiện rằng ch�ng được bảo quản l�u ng�y v�, từ đ�, thường được mang theo bởi người Việt Nam như �c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu: iron rations� trong c�c cuộc chiến tranh v� tận của d�n tộc.� C�c chiếc b�nh được đặc biệt đề cập đến bởi sử gia Việt Nam Nguyễn Khắc Viện như c�c khoản lương thực tiếp tế cho c�c binh sĩ của Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) trong chiến dịch thắng lợi của �ng chống qu�n x�m lược M�n Ch�u của Trung Hoa.� V�o ng�y 20 Th�ng Chạp �m Lịch (Th�ng Mười Hai năm 1788), mười ng�y trước Tết, Nguyễn Huệ tập hợp c�c binh sĩ của �ng tại Ninh B�nh v� thề hứa rằng họ sẽ ăn Tết tại Thăng Long đ� được Giải Ph�ng (H� Nội) v�o ng�y 7 th�ng gi�ng �m lịch (K. Nguyễn 1993;104-5).� �ng sau đ� ra lệnh �c�c binh sĩ tốc h�nh ra bắc, cung cấp cho họ b�nh chưng, vốn kh�ng đ�i hỏi nhiều th� giờ để sửa soạn trước khi ăn� (Hữu v� Cohen 1997:90).� Tương tự, một trong c�c người cung cấp tin tức cho t�i vạch ra rằng trong c�ng gi�y ph�t lịch sử đ�, c�c cư d�n Thăng Long đ� nhờ cậy đến việc nấu b�nh Chưng như một phương c�ch đề ph�ng chống lại cuộc chinh phục v� cướp b�c dự liệu của qu�n M�n Ch�u.� Họ đ� cất dấu c�c chiếc b�nh gạo trong c�c giếng nước của họ �bởi b�nh Chưng được bảo quản rất tốt ngay trong c�c điều kiện rất kh� khăn�.� Ch�nh v� thế, c�c chiếc b�nh cũng được d�ng bởi thường d�n, như c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu l�u bền v� chuyển tải được trong thời kh� khăn v� chiến tranh.

������ B�nh Tết (hay, c� lẽ, c�ch gọi phổ th�ng hơn của ch�ng, b�nh Chưng) cũng được d�ng như c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu bởi c�c binh sĩ Việt Nam tại Điện Bi�n Phủ.� Một phi c�ng qu�n sự Ph�p, hiện sống tại Do Th�i, kẻ đ� l�i c�c m�y bay chuy�n chở h�ng h�a trong cuộc chiến tranh Ph�p-Việt, cho t�i hay rằng t� binh Việt Minh bị bắt giữ tại v�ng l�n cận Điện Bi�n Phủ hồi năm 1953, đ� �chỉ c� quần �o sạch sẽ v� �t gạo trong v�i loại t�i g�i bằng l� l�m đồ tiếp liệu�.� Trong thực tế, ngay b�y giờ, b�nh Chưng được b�n như khẩu phần dự ph�ng thiết yếu cho thường d�n tại c�c quầy dọc theo c�c con đường n�i đồi hun h�t của Cao Nguy�n T�y Bắc.

������ Như đ� vạch ra trớc đ�y, b�nh Tết giữ được l�u d�i, dễ mang, v� nhiều chất dinh dưỡng, kh�ng chỉ về mặt calories m� c�n cả về mặt chất dinh dưỡng thiết yếu, v� c� thể chống đỡ cho con người trong một thời gian d�i.� Hơn nữa, như �m�n ăn trọn bữa�, ch�ng cung cấp một cảm nhận c� thực chất của sự thỏa m�n văn h�a v� t�m l�.� B�nh Tết, khi đ�, tạo th�nh c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu ho�n hảo v�, trong thực tế, được d�ng như c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu �trong c�c giai đoạn v� khung cảnh lịch sử kh�c nhau.� Ch�nh v� thế, m�n ăn biểu tượng trong lễ hội Việt Nam quan trọng nhất, m�n ăn c� tiềm năng c� đặc thực chất của hiện th�n Việt Nam, thực sự l� một khẩu phần dự ph�ng thiết yếu, thức ăn m� c�c binh sĩ mang theo l�c đi chiến đấu.

������ Nơi đ�y một lần nữa, sự hiểu biết b�nh Tết như khẩu phần dự ph�ng thiết yếu c� thể được giải th�ch theo hai c�ch.� Ch�ng c� thể được nh�n như phản ảnh bản chất cốt yếu của người Việt Nam như một d�n tộc hiếu chiến t�n s�ng chiến trường v� ch�o đ�n n� trong ng�y quan trọng nhất bằng việc ăn tiệc với c�c khẩu phần chiến đấu.� C�ch kh�c, ch�ng c� thể được nhận thức như kết cuộc của một lịch sử l�u d�i của c�c sự th�ch đố qu�n sự bởi c�c cường quốc ngoại lai, đ� định h�nh ngay m�n ăn lễ hội Việt Nam quan trọng nhất th�nh h�nh thức của một khẩu phần dự ph�ng thiết yếu cứng c�p.�

������ Trong thực tế, điều hợp l� nhất rằng c�c chiếc b�nh tượng trưng cho cả sự cần thiết lịch sử lẫn một số loại tự h�o về sự chịu đựng trường kỳ như thế v� c�c chiến thắng lập lại nhiều lần trong việc chống c�c nước h�ng mạnh hơn.� Nhưng bất luận ch�ng ta lựa chọn c�ch nh�n n� ra sao, � tưởng rằng m�n ăn lễ hội Việt Nam nổi bật nhất trong thực chất l� một khẩu phần chiến đấu c� t�nh chất hấp dẫn v� k�ch th�ch sự suy nghĩ.� Liệu ch�ng ta chọn việc nhận thức b�nh Tết như phản ảnh sự say đắm của người Việt Nam với c�c cuộc chiến tranh (tức, như c�c kẻ x�m lăng), hay như một kết cuộc của một lịch sử l�u d�i của c�c sự th�ch đố qu�n sự bởi c�c lực lượng b�n ngo�i (tức, như c�c nạn nh�n của bạo lực, kh�ng cự một c�ch can đảm qu�n x�m lược), hay như việc biểu lộ cả hai, c�c b�nh gạo lễ hội Việt Nam nhấn mạnh đến t�nh độc đ�o� của người Việt Nam.� Đ�y l� d�n tộc được t�i luyện bởi v� số c�c cuộc chiến tranh, m� họ đ� chiến thắng nhờ khả năng của họ sử dụng c�c t�i nguy�n nhỏ nhoi cung ứng cho họ, hầu kh�ng cự v�, sau rốt, �p đảo c�c địch thủ của họ, c�c kẻ, vẫn thường nhiều phần h�ng mạnh hơn họ nhiều.� B�nh Tết, khi đ�, kh�ng chỉ về văn h�a Việt Nam ri�ng biệt.� Ch�ng cũng đại diện cho tinh thần đ� thu đạt được c�c chiến thắng qu�n sự lập đi lập lại nhiều lần tr�n S�ng Bạch Đằng, tại Điện Bi�n Phủ, v� trong cuộc chiến tranh du k�ch l�m ti�u hao qu�n đội Hoa Kỳ.

 

B�nh Tết v� Căn Cước Cấp Miền

������ Trong khi truyền thuyết m� tả r� r�ng b�nh Tết �c� h�nh vu�ng như tr�i đất�, v� trong khi b�nh Tết miền bắc thực sự c� h�nh vu�ng, c�c b�nh gạo Năm Mới ở Hội An th� d�i v� c� h�nh ống trụ.� Dung, một trong những người cung cấp tin tức cho t�i c� kiến thức nhất v� qu� gi� nhất (v� l� một trong �t người d�n Hội An c� bằng Cao Học về văn chương Việt Nam), c� n�u � kiến:

������ Khi tổ ti�n ch�ng t�i di chuyển xuống miền Nam, họ mang theo b�nh Chưng để ăn ở dọc đường, bởi b�nh Chưng c� thể được giữ trong l�u d�i.� Tuy nhi�n, họ đ� định h�nh ch�ng th�nh h�nh ống trụ, chứ kh�ng phải h�nh vu�ng, bởi trong c�ch n�y họ dễ d�ng đ�ng g�i hơn v� sẽ kh�ng dễ bị vỡ n�t như c�c chiếc b�nh h�nh vu�ng, bởi khi c�c chiếc b�nh bị r�ch, ch�ng bị hư hỏng mau ch�ng hơn. ��Đ�y l� l� do tại sao b�nh Tết của ch�ng t�i c� h�nh ống trụ.

������ Tại Hội An, b�nh Tết h�nh ống trụ được gọi l� b�nh T�t (với một dấu nhấn giọng l� dấu sắc), c� nghĩa �c�c chiếc b�nh được b�c l� v� x�n cắt, th�nh từng khoanh: sliced cakes�, bởi c�ch th�ch hợp để cắt ch�ng l� d�ng một trong c�c sợi tre đ� được d�ng l�m c�c sợi d�y g�i b�nh để x�n ch�ng.� Khi t�i hỏi l� do cho phương ph�p cắt x�n n�y (vốn kh�ng thể �p dụng cho c�c chiếc b�nh miền bắc v� h�nh dạng h�nh vu�ng của ch�ng) [sic], t�i được trả lời rằng khi d�ng kỹ thuật n�y, �c� thể x�n c�c khoanh rất mỏng, sao cho c� thể chỉ ăn �t nhất v� giữ cho chiếc b�nh được l�u hơn�, v� bởi �chỉ một đầu của chiếc b�nh bị b�c l� bọc b�n ngo�i, v� ngay d� đầu n�y trở n�n kh� hay mốc, vẫn c� thể x�n phần bị hư đi v� d�ng phần c�n lại của chiếc b�nh�.� Ở đ�y cũng vậy, tất cả c�c kỹ thuật bảo quản v� tiết kiệm n�y kh� c� thể l�m được với c�c chiếc b�nh h�nh vuo6ng.

������ Đ�y l� một th� dụ kh�c cho cả sự sử dụng thực tế lẫn sự h�nh th�nh kh�i niệm trừu tượng về c�c chiếc b�nh như c�c khẩu phần dự ph�ng thiết yếu, hậu thuẫn hơn nữa � kiến cho rằng b�nh Tết đ� trở n�n c�c biểu tượng nấu nướng nổi bật như thế bởi v� ch�ng đ� l� một trong c�c phương tiện để sống s�t được d�ng bởi người Việt Nam trong tiến tr�nh l�u d�i của việc thiết lập, mở rộng, v� bảo vệ xứ sở của họ.� Tuy nhi�n, h�nh dạng kh�c nhau v� cung c�ch theo đ� n� được giải th�ch khiến ta nghĩ rằng vẫn c�n c�c vấn đề kh�c cần xem x�t đến.

������ Sự giải th�ch của c� Dung x�c định bản chất của sự ph�n biệt h�m � bởi c�c h�nh dạng kh�c nhau của c�c chiếc b�nh.� Đ�y kh�ng chỉ l� một sự ph�t biểu về nghệ thuật bếp n�c tr�n sự kh�c biệt (ch�ng t�i th� kh�c biệt v� từ đ� c�c chiếc b�nh lễ hội của ch�ng t�i kh�c biệt) m�, đ�ng hơn, l� một điểm về sự kh�c biệt văn h�a chủ yếu giữa c�c người Miền Bắc với người d�n Miền Trung v� Miền Nam.� Trong khi tổ ti�n của những người d�n Miền Bắc ng�y nay ở lại đ�ng sau sự tương đối thoải m�i v� an to�n của Ch�u Thổ S�ng Hồng, c�c cư d�n đương đại của Miền Trung v� Miền Nam l� hậu duệ của những người đ� c� sự can đảm v� �c s�ng kiến, di chuyển xuống ph�a nam v� mở rộng văn h�a Việt Nam tới phần l�nh thổ ng�y nay.� C�c chiếc b�nh gạo h�nh trụ cột l� một sự biểu lộ sự tự khẳng quyết của người Việt Nam hiện sinh sống tại c�c phần Miền Trung v� Miền Nam của xứ sở như những người can đảm hơn v� c� s�ng kiến v�, ch�nh từ đ�, l� một biểu trưng của l�ng y�u nước địa phương v� căn cước cấp miền.

������ Giống như đối với cuộc tranh luận �về căn cước Việt Nam đối chọi với căn cước Trung Hoa�, vấn đề b� quyền văn h�a v� sự biến thể cấp miền vừa c� t�nh chất quan trọng lẫn nhạy cảm tại Việt Nam đương đại.� Trong số nhiều nh� � thức hệ, nh� b�o v� c�c nh� tr� thức Việt Nam đương đại, đặc biệt c�c người Miền Bắc, �văn h�a Bắc Việt� được m� tả, một c�ch c�ng khai hay mặc nhi�n, l� văn h�a Việt Nam thuần t�y v� chuẩn đ�ch (xem Drummond v� Thomas 2003;8), với l�ng x� Miền Bắc được bao quanh bởi h�ng r�o tre như m� h�nh thu nhỏ của n� (Wheeler 2004).� Trong thực tế, sự hiểu biết n�y đ� được thiết định qu� vững chắc trong người Việt Nam đương đại đến nỗi nhiều người trong số c�c người Hội An cung cấp tin tức cho t�i, đặc biệt c�c người c� học vấn cao hơn, đ� nhấn mạnh rằng văn h�a địa phương (v� đặc biệt thổ ngữ địa phương, tiếng Quảng (Quảng [Nam] language) mang nặng �m hưởng bản địa l� �kh�ng ch�nh x�c�, �kh�ng thuần t�y� v� ngay cả �bị l�m sai lạc�.� Hiển nhi�n, sự khẳng định như thế phản ảnh cấu tr�c quyền lực đương đại, với Miền Bắc nắm b� quyền ch�nh trị tr�nh b�y văn h�a của ri�ng n� l� chuẩn đ�ch v� thuần t�y, trong khi �m chỉ rằng c�c đặc t�nh văn h�a của c�c miền kh�c l� hậu quả của một sự đối đầu bị � nhiễm với c�c văn h�a, bản địa lẫn ngoại lai.� Khuynh hướng n�y c� thể được nhận thấy, th� dụ, trong sự ưu ti�n r� rệt d�nh cho c�c xướng ng�n vi�n Miền Bắc tr�n c�c băng tần truyền thanh v� truyền h�nh quốc gia. 6

������ Tuy nhi�n, trong khi văn h�a Miền Bắc được ch�nh thức tung h� như �văn h�a Việt Nam thực sự, v� trong khi sự x�c quyết n�y sẽ được tiếp nhận kh�ng g�y nhiều suy tưởng hay phản kh�ng bởi c�c người sinh sống tại Miền Trung v� Miền Nam, h�nh dạng trụ cột của b�nh T�t tại c�c phần đất n�y của xứ sở gợi � về một c�u chuyện kh�c rằng những người n�y �tự n�i về bản th�n m�nh� (Geertz 1973).� Trong thực tế, c�c h�nh dạng trụ cột mang � nghĩa dũng cảm, nhiều s�ng kiến, v� sức mạnh v�, ch�nh từ đ�, � tưởng rằng Trung Kỳ v� Nam Kỳ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (Centreners v� Southerners) kh�ng chỉ kh�c biệt m� ở trong một số kh�a cạnh c�n hay hơn Bắc Kỳ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (Northerners).� C�c chiếc b�nh, khi đ�, l� c�c chiếc thuyền chuy�n chở c�c � tưởng kh�c biệt v� đ�i khi m�u thuẫn nhau.� Trong khi b�nh Tết trong thực chất tuy�n dương căn cước Việt Nam � một d�n tộc canh t�c l�a gạo tiền Trung Hoa đ� phải tranh đấu gi�nh độc lập trong phần lớn đời sống của n� như một nh�m khu biệt � phi�n bản h�nh trụ cột khiến ta nghĩ rằng văn h�a Việt Nam kh�ng chỉ về sự đo�n kết v� đồng nhất, m� c�n về c�c sự kh�c biệt cấp miền v� l�ng y�u nước địa phương.

 

KẾT LUẬN

������ B�nh Tết l� sự biểu lộ cụ thể căn cước d�n tộc Việt Nam, khỏa lấp hố ngăn c�ch giữa l� thuyết v� sự thực h�nh d�n tộc chủ nghĩa.� Khi ăn c�c chiếc b�nh, hay đ�ng hơn, khi �tiếp thụ� ch�ng (Fischler 1988), điều tưởng tượng trở n�n cụ thể v� hữu h�nh.� D�n tộc chủ nghĩa Việt Nam, khi được định h�nh v�o trong c�c chiếc b�nh Tết, kh�ng c�n trừu tượng m� trở n�n c� thực chất, v� khi c�c chiếc b�nh được ti�u h�a, d�n tộc trở n�n được hiện th�n một c�ch cụ thể bởi c�c người d�n của n�.� Lập luận ch�nh của t�i, khi đ�, rằng thức ăn l� d�n tộc chủ nghĩa.

������ Tuy nhi�n, như đối lập với kh�i niệm quy ước về c�c đối tượng cụ thể l� c� t�nh chất cứng ngắc v� bất động, b�nh Tết th� năng động, uyển chuyển, v� nhiều � nghĩa một c�ch đặc biệt, t�m c�ch chuy�n chở c�c � tưởng kh�c nhau v� đ�i khi m�u thuẫn, l�m ph�t lộ nhiều về c�c phương c�ch theo đ� người Việt Nam đương đại suy nghĩ về ch�nh họ.� Trong thực tế, c�c chiếc b�nh kh�ng chỉ l� c�c suy tưởng về sự h�nh th�nh kh�i niệm chủ đạo của căn cước Việt Nam, ch�ng cũng kh�ng phải l� c�c đại biểu cứng ngắc cho c�c trật tự x� hội v� vũ trụ hiện hữu.� B�nh Tết chuy�n chở c�c sự căng thẳng, cảm t�nh y�u gh�t lẫn lộn, v� ngay cả c�c sự đổ vỡ trong �Chuyện Kể Đại D�n Tộc�, đại diện kh�ng chỉ cho sự canh t�c l�a gạo v� sự t�n thờ c�c th�nh tố hay cho sự l�nh đạo th�ch đ�ng v� l�ng y�u nước (c�c � tưởng được ước định sẽ được b�y tỏ bởi c�c biểu tượng d�n tộc), m� c�n cho c�c nghịch l� v� kh� khăn trọng yếu m� Việt Nam như một quốc gia-d�n tộc hiện đại phải đối diện, chẳng hạn như c�c cảm gi�c vừa y�u vừa gh�t đối với Trung Hoa v� văn h�a của họ, hay c�c quan hệ ngoại vi-trung t�m (hay đ�ng hơn, trung ương-c�c miền) nhiều kh� khăn.� Kế đ�, c�c m�n ăn biểu tượng th� đặc biệt th�ch hợp cho việc chuy�n chở c�c chiến lược v� c�c sự rắc rối của �việc thực h�nh d�n tộc chủ nghĩa�.� Trong kh�a cạnh n�y, khi đ�, thức ăn l� d�n tộc chủ nghĩa, kh�ng chỉ trong c�c phương diện c�ng khai v� biểu thị của n�, m� cũng xảy ra khi gặp c�c sự căng thẳng, m�u thuẫn, v� nghịch l�.

������ Tuy nhi�n, c�u hỏi c�n lại l� �tại sao lại l� thức ăn?� �Điều g� t�ch biệt phạm vi nấu nướng như một đấu trường th�ch hợp cho sự thương thảo về c�c � tưởng phức tạp, đa � nghĩa, g�y tranh c�i, v� c�n c� t�nh chất khuynh đảo.� C�u hỏi n�y c�ng nổi bật hơn nữa khi cứu x�t đến khung cảnh ch�nh trị c� biệt của Việt Nam.� Trong thực tế, chế độ độc đo�n của quốc gia n�y sẽ kh� dung thứ sự biểu lộ c�c � tưởng chẳng hạn như c�c � tưởng được chuy�n chở bởi b�nh Tết trong bất kỳ l�nh vực văn h�a x� hội n�o kh�c.� Khi đ�, điều g� khiến cho phạm vi n�u nướng vừa linh động lẫn tho�t khỏi sự kiểm duyệt, ngay d� trong c�c khung cảnh ch�nh trị độc đo�n/trấn �p như khung cảnh của Việt Nam đương đại?� Để trả lời c�c c�u hỏi n�y, ch�ng ta phải quay trở về một số t�nh chất căn bản của thức ăn như một chế tạo phẩm văn h�a.

������ Trước ti�n, bản chất co d�n v� năng động của thức ăn khiến n� trở th�nh một chiếc thuyền l� tưởng cho c�c � tưởng phức tạp v� nhiều � nghĩa.� Thức ăn, tr�i với phần lớn c�c chế tạo phẩm vật chất kh�c, l� một chất liệu nằm trong sự thay đổi thường trực, với tốc độ mau lẹ (Levi-Strauss 1966; cũng xem Clark 2004).� �Sống� được biến đổi th�nh �nấu chin� v�/ hay đến �thối rữa�, v� phần đ� nấu ch�n được ăn (ti�u h�a v� b�i tiết ra ngo�i) hay vứt bỏ (trước/sau khi thối rữa) trong v�ng v�i tiếng đồng hồ.� Hơn nữa, thức ăn �t bị quy định v� ti�u chuẩn h�a hơn phần lớn c�c phần tử văn h�a kh�c, lu�n lu�n ph� b�y sự biến đổi c� nh�n, địa phương, v� theo miền một c�ch lớn lao.� Trong thực tế, �n�m nếm t�y theo khẩu vị� l� một sự chỉ dẫn đi theo sau ngay cả c�ng thức tỉ mỉ nhất.� C�c t�nh chất n�y � bản chất linh động, thay đổi thường trực, v� kh�c biệt s�u rộng � cho ph�p t�nh năng động ngoại lệ khi gặp c�c � nghĩa biểu trưng.� Ch�nh sự co d�n của c�c phương tiện cho ph�p sự co d�n của � nghĩa.

������ Thứ nh�, ch�nh c�ng c�c t�nh chất đ� dẫn dắt c�c nh� nh�n chủng học v� c�c nh� khoa học x� hội kh�c kh�ng ng� ng�ng tới l�nh vực gia đ�nh, thường lệ v� khi�m tốn n�y giải th�ch sự ph�ng t�ng tương đối của thức ăn để biểu lộ c�c � tưởng sẽ kh�ng được dung thứ trong bất kỳ diễn trường văn h�a x� hội n�o kh�c.� Ch�nh bản chất tầm thường v� đầy nữ t�nh của việc nấu ăn c�ng như bản chất dễ bị hủy hoại của thức ăn x�c định l�nh địa bếp n�c l� kh�ng quan trọng, kh�ng đe dọa v� do đ� it cần sự kiểm so�t.� Một c�ch nghịch l�, đ�ch thực bản chất v� t�nh v� ngắn ngủi n�y của việc nấu nướng v� ăn n�y đ� tạo sự dễ d�ng cho sự biểu lộ v� thương thảo về c�c vấn đề kh� khăn, nhạy cảm v� ngay cả bị cấm đo�n trong phạm vi bếp n�c.� Sau hết, b�nh Tết chỉ l� c�c chiếc b�nh gạo nếp./- ���

---

CH� TH�CH

 

1. C�ng t�c khảo s�t tại thực địa được bảo trợ bởi Viện Truman Institute v� Viện Scheine Institute, Đại Học Hebrew University of Jerusalem [Do Th�i]. B�i viết n�y được soạn thảo với tư c�ch một nh� nghi�n cứu hậu tiến sĩ tại Viện Nghi�n Cứu � Ch�u, thuộc Đại Học Quốc Gia Singapore (Asia Research Institute of the National University of Singapore). T�i cảm ơn Ng� Minh Hien, Trinh Diem Vy, Erik Cohen, Tim Winter, Bruce Lockhart, v� David Sutton về c�c lời b�nh luận hữu �ch của họ.

 

2. �C�c Cờ Hiệu: Flags� được vay mượn từ kh�i niệm của Billig�s (1995) về chủ nghĩa d�n tộc tầm thường, như điều th� thiển, thường lệ, v� kh�ng giải th�ch cho c�c sự biểu lộ d�n tộc t�nh trong sinh hoạt h�ng ng�y.

 

3. Lịch Việt Nam (th�ch nghi với lịch Trung Hoa) l� �m-dương lịch (luni-solar).� Ni�n lịch theo mặt trăng 355 ng�y phải được tu chỉnh để đ�ng nhịp với lịch theo mặt trời 365 ng�y.� Do đ�, một th�ng thứ mười ba được bổ t�c mỗi ba năm một, giữa c�c th�ng ba v� th�ng tư (Huard and Durand 1998:106; Ellis 1995:159).

 

4. T�c giả Nguyễn Khắc Viện kh�ng đưa ra c�c sự tham chiếu cho sự tr�nh b�y biến cố n�y, g�y ra c�c sự nghi ngờ nghi�m trọng về gi� trị lịch sử của n�.� Tuy nhi�n, c�ng việc của c�c sử gia Việt Nam đương đại c� thể được hiểu phần n�o l� để phản ảnh c�c sự trần thuật ch�nh thức hơn l� c�c sự tường thuật lịch sử.� Do đ�, ngay d� c�c binh sĩ của Nguyễn Huệ chưa hề c� b�nh T�t, điểm quan trọng l� người Việt Nam đương đại nghĩ rằng họ [l�nh của Nguyễn Huệ] đ� c�. Ch�nh v� thế, kh�i niệm h�a c�c chiếc b�nh như khẩu phần của c�c binh sĩ, ngay d� đ�y l� một �truyền thống� được s�ng chế ra, phản ảnh sự hiểu biết của họ như c�c động cơ đương đại của c�c � tưởng biểu trưng.� ��

 

5. Để đối c�n c�ch n�o đ� với lời lẽ anh h�ng n�y, điều cần phải ghi nhận rằng lịch sử Việt Nam cũng c� thể được hiểu như bị dao động giữa c�c hiệu ứng thống nhất của sự đe dọa v�/hay sự chinh phục được đặt ra bởi sự x�m lược của nước ngo�i, v� cuộc tranh đấu nội bộ ph�n đ�i x� hội n�y bất kỳ khi n�o người Việt Nam được độc lập.� Trong thực tế, c�c cuộc chiến tranh tại Đ�ng Dương trong suốt thế kỷ trước, đặc biệt cuộc chiến tranh được hay biết l� �Cuộc Chiến Tranh Việt Nam� (1965-1975), c� thể được hiểu như c�c cuộc nội chiến giữa c�c phe Việt Nam.� Nhưng ngay từ c�i nh�n n�y, b�nh Tết như khẩu phần chiến đấu biểu lộ vai tr� trung t�m của chiến tranh trong lịch sử v� căn cước d�n tộc Việt Nam.

 

6. Khi t�i hỏi một người bạn ở Hội An rằng tại sao c�c băng tần quốc gia (c�c băng tần truyền h�nh VTV 1-4) tr�nh chiếu c�c xướng ng�n vi�n n�i giọng miền bắc, anh ta n�i tiếng bắc [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] th� �ho�n chỉnh hơn� v� rằng �mọi người trong nước c� thể hiểu được n�.� Tuy nhi�n, kinh nghiệm của t�i thấy rằng tiếng bắc th� xa lạ đối với người d�n Hội An chẳng kh�c n�o tiếng của họ cũng xa lạ đối với d�n miền bắc.

 

___

 

THƯ TỊCH

 

Alonso, A. M. 1994. The Politics of Space, Time, and Substance: State Formation, Nationalism

and Ethnicity. Annual Review of Anthropology 23:379-405.

 

Anderson, B. 1983. Imagined Communities: Reflections on the Origins and Spread of Nationalism. London.

 

Arnold, D. 1988. Famine: Social Crisis and Historical Change. New York.

 

Avieli, N. 2003. Rice Talks: A Culinary Ethnography of Identity and Change. Luận �n Tiến Sĩ, The Hebrew University of Jerusalem.

 

Bell, D., and G. Valentine. 1997. Consuming Geographies: We Are Where We Eat. New York.

 

Billig, M. 1995. Banal Nationalism. London.

 

Bourdieu, P. 1984. Distinction: A Social Critique of the Judgment of Taste. London.

 

Clark, D. 2004. The Raw and the Rotten: Punk Cuisine. Ethnology 43(1):19-31.

 

Counihan, C. M. 1999. The Anthropology of Food and Body: Gender, Meaning, and Power. New York.

 

Crawford, A.C. 1965. Customs and Culture of Vietnam. Rutland.

 

Drummond, L., v� M. Thomas (đồng bi�n tập). 2003. Consuming Urban Culture in Contemporary Vietnam. London.

 

Durkheim, E. 1915. The Elementary Forms of Religious Life. London.

 

Ellis, C. 1995. Culture Shock Vietnam: A Guide to Customs and Etiquette. Singapore.

 

Fischler, C. 1988. Food, Self and Identity. Social Science Information 27(2):275-92.

 

Florence, M., v� R. Storey. 1999. Vietnam: A Travel Survival Kit. Melbourne.

 

Foster, R. J. 1991. Making National Cultures in the Global Ecumene. Annual Review of Anthropology 20:135-260.

 

Freidberg, S. 2003. Not All Sweetness and Light: New Cultural Geographies of Food. Social & Cultural Geography 4(1):3-6.

 

Geertz, C. 1973. The Interpretation of Cultures. New York.

 

Giddens, A. 1981. A Contemporary Critique of Historical Materialism. London.

 

Handelman, D. 1998. Models and Mirrors: Towards an Anthropology of Public Events. New York.

 

Hickey, G. C. 1964. Village in Vietnam. New Haven.

 

Hobsbawn, E., v� T. Ranger (đồng bi�n tập) 1983. The Invention of Tradition. Cambridge.

 

Huard, P., v� M. Durand. 1998. Viet-Nam, Civilization and Culture. Hanoi.

 

Huu, N. 1998. Sketches for a Portrait of Vietnamese Culture. Hanoi.

 

Huu, N., v� B. Cohen. 1997. Tet: The Vietnamese Lunar New Year. Hanoi.

 

Jamieson, N. 1995. Understanding Vietnam. Berkeley.

 

Kamm, H. 1996. Dragon Ascending: Vietnam and the Vietnamese. New York.

 

Levi-Strauss, C. 1966. The Culinary Triangle. Partisan Review 33:586-95.

 

Lofgren, O. 1989. The Nationalization of Culture. Ethnologie Europeen 19(1):5-24.

 

Malarney, S. K. 2002. Culture, Ritual and Revolution in Contemporary Vietnam. London.

 

Marr, D. G. 1981. Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. Berkeley.

 

Mennell, S. 1985. All Manners of Food: Eating and Taste in England and France from the Middle Ages to the Present. Oxford.

 

Mintz, S. W. 1997. Afterword: Swallowing Modernity. Golden Arches East: McDonald�s in East Asia, bi�n tập bởi J. L. Watson, pp. 183-200. Stanford.

 

Narayan, U. 1997. Dislocating Cultures: Identities, Traditions and Third-World Feminism. New York.

 

Nguyen, D. N. 1993. Markets and Villages. The Traditional Village in Vietnam, bi�n tập. The Gioi Publishers, pp. 318-368. Hanoi.

 

Nguyen, K. V. 1993. Vietnam: A Long History. Hanoi.

 

Nguyen, N. C., v� D. Sachs. 2003. Two Cakes Fit for a King. Hawai�i.

 

Nguyen, V. H. 1995. The Ancient Civilization of Vietnam. Hanoi.

 

Nguyen, X. H. 2001. Glutinous-Rice-Eating Tradition in Vietnam and Elsewhere. Bangkok.

 

Palmer, C. 1998. From Theory to Practice: Experiencing the Nation in Everyday Life. Journal of Material Culture 3(2):175-199.

 

Pelley, P. 1998. �Barbarians� v� �Younger Brothers�: The Remaking of Race in Postcolonial Vietnam. Journal of Southeast Asian Studies 29(2):374-391.

 

Schultz, G. F. 1994. Vietnamese Legends. Hanoi.

 

Taylor, W. K. 1983. The Birth of Vietnam. Berkeley.

 

Tran, H. D., v� T. A. Ha. 2000. A Brief Chronology of Vietnamese History. Hanoi.

 

Wheeler, C. 2004. Beyond the Bamboo Hedge: The Littoral Integration of Cochinchina, 17th-18th Centuries. Paper presented at the Vietnam, Cambodia, and Laos Study-group Seminar. Singapore.

 

Xiaorong, H. 1998. The Present Echoes of the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern Vietnam and China. Explorations 2(2):27-46.

_____

Nguồn: Nir Avieli, Vietnamese New Year Rice Cakes: Iconic Festive Dishes and Contested National Identity, Ethnology, Volume 44 (Spring 2005), c�c trang 167-187.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

02.03.2015

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2015