Masashi Nishihara

Kyoto University, Japan

 

CUỘC CHIẾN TRANH

TRUNG � VIỆT �NĂM 1979:

 

Mới Chỉ L� Hiệp Thứ Nhất?

 

 

Ng� Bắc dịch

***

 

Lời Người Dịch:

Gi�o Sư Masashi Nishihara, t�c giả b�i nghi�n cứu dưới đ�y, từ nhiều thập ni�n qua đ� được xem l� chuy�n vi�n h�ng đầu về c�c vấn đề quốc ph�ng của Nhật Bản.� B�i viết n�y được đăng tải trong tập tổng kết t�nh h�nh Đ�ng Nam � thường ni�n, Southeast Asian Affairs 1980, của Học Viện Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, đ� đưa ra một c�i nh�n rất sớm về cuộc chiến tranh bi�n giới Việt - Trung 1979 từ một nh� nghi�n cứu Nhật Bản.

������ Kh�ng giống với c�c nh� nghi�n cứu T�y Phương kh�c, t�c giả đ� c� một c�i nh�n s�u sắc hơn về mặt lịch sử � Ch�u, khi cho rằng �bản chất b�n dưới của sự rạn nứt nằm ở sự th� hận lịch sử giữa hai d�n tộc, hay sự tức giận của Trung Quốc trước sự th�ch thức của một nuớc yếu hơn trong lịch sử đối với khu vực ảnh hưởng truyền thống của ch�nh Trung Quốc�.� Quan điểm n�y đ� được triển khai một c�ch chi tiết hơn bởi một t�c giả H�n Quốc, Yu Insun, 31 năm sau n�y, khi ph�n t�ch cuộc chiến từ quan điểm lịch sử bang giao giữa hai nước Việt-Trung, m� bản dịch sẽ được Gi� O đăng tải nơi đ�y.

������ Với c�i nh�n trường kỳ n�y, t�c giả Masashi Nishihara đ� kết luận: �Đặt trong quan điểm lịch sử, sự căng thẳng như thế đ�nh dấu một ti�u chuẩn b�nh thường, chứ kh�ng phải l� ngoại lệ -- c�c quan hệ hợp t�c được duy tr� trong cuộc chiến tranh ba mươi năm chống lại �chủ nghĩa đế quốc T�y Phương�, đ�ng ra, đ� chỉ l� một kh�c đệm bất thường chen v�o giữa, v� đ� đặt c�u hỏi như trong tựa đề: c� phải trận chiến tranh bi�n giới Việt-Trung 1979 mới chỉ l� hiệp thứ nhất?�

Thực tế cho thấy sự kiện chi�n tranh bi�n giới Việt - Trung l� ch�nh l� một trong hai bước khởi đầu cho cuộc chiến tranh l�u d�i hơn, m� ở một số kh�a cạnh vẫn c�n tiếp diễn đến ng�y nay, được c�c học giả thế giới đặt t�n l� Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Ba.� Một trong những b�i nghi�n cứu về cuộc chiến tranh bi�n giới k�o d�i từ 1980 đến 1987 với s�u cuộc đụng độ lớn lao đ� được gi�o sư Carlyle Thayer c�ng bố hồi năm 1987, m� bản dịch cũng sẽ sớm được đăng tải nơi đ�y.

 

***

������

������ Cuộc chiến tranh mười bảy ng�y của Trung Quốc với Việt Nam đ� khởi sự h�m 17 Th�ng Hai 1979 khi c�c binh sĩ �tuần tra bi�n giới� Trung Quốc ph�t động điều họ gọi l� �tự vệ ho�n k�ch� đ�nh v�o nước l�ng giềng phương nam của họ.� Sau khi ph� hủy v�i tỉnh lỵ v� cuối c�ng gi�nh được sự kiểm so�t tỉnh lỵ chiến lược của Lạng Sơn h�m 5 Th�ng Ba, Qu�n Đội Giải Ph�ng Nh�n D�n Trung Quốc (QĐGPNDTQ) bắt đầu r�t qu�n, loan b�o rằng họ đ� đạt được c�c mục đ�ch của họ.� H� Nội đ� chấp nhận đề nghị của Trung Quốc để tổ chức c�c cuộc đ�m ph�n bi�n giới với điều kiện QĐGPNTQ trước ti�n phải triệt tho�i tất cả c�c binh sĩ của họ.� Tuyệt nhi�n kh�ng phải l� binh sĩ Việt Nam đ� đ�nh đuổi c�c lực lượng địch ra khỏi nước.� B�i x� luận trong tờ Nh�n D�n Nhật B�o [Trung Quốc] h�m 7 Th�ng Ba đ� b�nh luận với sự thỏa m�n về �sự chiến thắng ho�n to�n� của Trung Quốc, nhưng ngay sau khi Trung Quốc tuy�n bố h�m 17 Th�ng Ba rằng tất cả c�c binh sĩ của n� đ� được r�t về, Bộ Quốc Ph�ng Việt Nam đ� đưa ra phi�n bản của ri�ng m�nh về kết quả.� D�n ch�ng ở H� Nội đ� tổ chức một �cuộc tập hợp mừng chiến thắng� khổng lồ h�m 20 Th�ng Ba. ��

������ Nhiều phần chắc hẳn như thế.� Nhưng b�n n�o đ� thực sự chiến thắng?� Bao nhi�u binh sĩ đ� tham dự v�o cuộc xung đột? Mỗi b�n đ� khởi sự chuẩn bị để giao chiến khi n�o?� C�c ch�nh phủ S� Viết v� Mỹ đ� can dự đến mức độ n�o v�o cuộc chiến? Nguy�n do ch�nh x�c l� g�, v� sẽ c� c�c cuộc chiến tranh kh�c theo sau hay kh�ng? Kh�ng c� c�c c�u trả lời r� r�ng, duy nhất cho bất kỳ một trong c�c c�u hỏi quan trọng n�y.� Giống như nhiều cuộc chiến tranh kh�c, sự đổ vỡ bạo động giữa Bắc Kinh v� H� Nội đ� n�u l�n nhiều c�u hỏi hơn l� cung cấp c�c c�u trả lời.�� Ở giai đoạn n�y, người ta chỉ c� thể cố gắng chắp nối c�c th�ng tin rời rạc th�nh c�c sự giải th�ch c� vẻ hợp l�.

 

C�c Nguy�n Do

������ Trong số c�c nguy�n do trực tiếp đ� x� đẩy chiến tranh l� v�i biến cố bi�n giới, cuộc di cư của người Hoa (Hoa Kiều hải ngoại) khỏi Việt Nam, sự k� kết bản Hiệp Ước Hữu Nghị v� Hợp T�c giữa S� Viết v� Việt Nam, v� sự lật đổ của Việt Nam chế độ Pol Pot th�n Bắc Kinh.� C�c nguy�n do n�y giờ đ�y l� c�c biến cố quen thuộc, nhưng nguy�n do cơ bản cho cuộc chiến tranh lại nằm ở nơi kh�c.� Căn nguy�n s�u xa hơn của cuộc xung đột l� sự th�ch đố m� c�c nh� l�nh đạo Việt Nam qu� tự tin đ� đặt ra đối với khu vực ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc -- Đ�ng Nam � � một th�ch đố được n�u ra đối với Trung Quốc ngay trước khi c� sự sụp đổ của S�ig�n hồi năm 1975.

������ Trong cuộc chiến tranh k�o d�i với Hoa Kỳ, giới l�nh đạo H� Nội đ� khai th�c sự xung đột Nga-Hoa để b�n r�t sự viện trợ đ�ng kể từ cả hai ph�a.� Họ đ� kh�ng chấp thuận sự đ�n tiếp bởi cả Bắc Kinh lẫn Moscow d�nh cho c�c cuộc thăm viếng của Tổng Thống Mỹ Richard Nixon trong năm 1972, nhưng đ� kết �n Bắc Kinh một c�ch nghi�m khắc hơn khi họ bắt đầu hiểu được rằng việc gia tăng xung khắc với Li�n Bang S� Viết (LBSV) sẽ chỉ l�m lợi hơn cho ph�a Trung Quốc, bởi quyền lực Mỹ vẫn c�n hiện diện Đ�ng Nam � v� Việt Nam vẫn c�n bị chia cắt.� C�c nh� l�nh đạo H� Nội đ� k� kết hiệp định h�a b�nh Paris hồi Th�ng Một 1973 ng�y c�ng tin tưởng hơn về sự chiến thắng sau c�ng của họ đối với S�ig�n v� Hoa Thịnh Đốn.� Điều n�y đ� l� một sự th�ch đố chống lại quyền lực của Trung Quốc.� V�o l�c đ�, H� Nội đ� sẵn thiết lập một sự hiện diện qu�n sự vững chắc tại L�o v� một khu vực ảnh hưởng tr�n miền đ�ng Kampuchea, sự kiện m� trong trường hợp của Kampuchea, đ� trở th�nh một nguồn cội của sự x�ch m�ch giữa phe Khmer Đỏ th�n Trung Quốc v� Việt Nam.� Ngay cả trước khi c� sự sụp đổ của S�ig�n, c�c rắc rối bi�n giới của H� Nội với Trung Quốc đ� khởi sự.� Sau đ� trong năm 1976, H� Nội đ� thay đổi lập trường của n� về c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa, tuy�n x�c c�c chủ quyền l�nh thổ ở đ�.� Trong Th�ng Ba c�ng năm, Việt Nam nhận được một t�u ngầm từ Li�n Bang S� Viết, được tường thuật l� được đ�ng tại c�c cơ sở t�u ngầm ngo�i khơi Hải Ph�ng v�, c�ng với Ba Lan, huấn luy�n thủy thủ đo�n Việt Nam khoảng 80 người ở hải ngoại.

������ C�c đại biểu của Trung Quốc đ� vắng mặt trong Đại Hội Kỳ Thứ Tư của Đảng Lao Động Việt Nam (giờ đ�y được biết l� Đảng Cộng Sản Việt Nam) hồi Th�ng Mười Hai 1976.� Nhưng điều đ� gần như được chờ đợi, bởi kể từ 1966, Trung Quốc đ� kh�ng gửi c�c ph�i đo�n đại diện đến c�c kỳ họp Đảng Cộng Sản nước ngo�i.� Ngo�i ra, trong một cuộc thăm viếng hồi Th�ng Mười 1975 tại Moscow, L� Duẩn v� ph�i đo�n của �ng đ� ủng hộ c�c lập trường � thức hệ của LBSV tr�n ch�nh s�ch h�a ho�n của S� Viết, ch�nh s�ch tăng cường vũ kh�, v� về Hội Nghị An Ninh v� Hợp T�c tại �u Ch�u (Conference on Security and Cooperation in Europe: CSCE).� Trong kỳ Đại Hội năm 1976, Mikhail Suslov, một ủy vi�n thế lực của Bộ Ch�nh Trị, đ� đến dự, c� lẽ với mục đ�ch hướng dẫn v� củng cố lập trường th�n Moscow của H� Nội.� Như thế kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n rằng Đại Hội năm 1976 r� r�ng đ� sắp xếp s�n khấu cho sự rạn nứt Trung-Việt sau đ�.

������ H�ng loạt đ�ng kể c�c nh� l�nh đạo Việt Nam đ� l�n đường sang Moscvow trong năm 1977, trong số đ� c� V� Nguy�n Gi�p (Bộ Trưởng Quốc Ph�ng, trong Th�ng Ba), Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng, trong Th�ng Tư), L� Thanh Nghị (Ph� Thủ Tướng, Chủ Tịch Ủy Ban Kế Hoạch Nh� Nước, trong Th�ng S�u), Trường Chinh (Chủ Tịch Ban Thường Vụ Quốc Hội, trong Th�ng T�m), L� Duẩn (Tổng B� Thư Đảng, trong Th�ng Mười), v� c�c nh�n vật kh�c.� Tất cả c�c nh�n vật n�y sau đ� cũng đều c� thăm viếng Bắc Kinh, nhưng sự nghi�ng về ph�a Moscow của họ đ� kh�ng bị che dấu.� �ng Gi�p tượng trung cho một trường hợp điển h�nh.� Trong cuộc thăm viếng hồi Th�ng Ba của �ng, đối t�c ph�a Nga của �ng ta, Dmitri Ustinov, đ� hứa hẹn viện trợ để �tăng cường năng lực chiến đấu của Qu�n Đội Nh�n D�n Việt Nam�, nhưng cuộc thăm viếng hồi Th�ng S�u của �ng tại Bắc Kinh đ� r�t ra được một lời tuy�n bố �t cụ thể hơn nhiều: �Trung Quốc sẽ l�m hết sức m�nh để ph�t triển v� tăng cường sự li�n đới v� sự hợp t�c anh em giữa hai nước.� Đ�ng kể hơn, L� Duẩn đ� n�i một c�ch khi�u kh�ch với c�c nh� l�nh đạo Bắc Kinh trong Th�ng Mười Một rằng Việt Nam c�m ơn Li�n Bang S� Viết về �sự ủng hộ vững chắc c�ng viện trợ qu� b�u v� khổng lồ� của n� trong việc giải ph�ng miền nam � một nhận x�t m� �ng ta đ� kh�ng đưa ra trong cuộc thăm viếng hồi Th�ng Ch�n 1975 tại Trung Quốc.� Vi�n tổng b� thư đảng đ� trở về m� kh�ng đưa ra bản tuy�n bố chung th�ng thường.

������ Từ năm 1977 trở đi, Bắc Kinh đ� gạt bỏ bất kỳ sự mơ hồ n�o trong c�c lời tuy�n bố c�ng khai về c�c quan điểm � thức hệ th�n Moscow của H� Nội, sau n�y (sau Th�ng S�u 1978) gọi Việt Nam theo đuổi �chủ trương tiểu b� quyền� hay �một Cuba tại � Ch�u�, đ� đứng v�o h�ng ngũ �đại b� quyền� LBSV.� Trong đầu năm 1978, Việt Nam bắt đầu n�i đến Trung Quốc như một �lực lượng phản động qu�c tế đ� bắt tay với chủ nghĩa đế quốc� v�, từ Th�ng S�u, l� �kẻ th� ch�nh� của Việt Nam.� Sự th�ch đố � thức hệ c�ng địa ch�nh trị n�y từ Việt Nam, kẻ đ� trở th�nh, trong mắt nh�n của Trung Quốc, kh�ng g� kh�c hơn một nước thụ ủy của Li�n Bang S� Viết, đ� cấu th�nh nguy�n do căn bản cho h�ng loạt c�c biến cố sau đ� cuối c�ng dẫn dắt đến cuộc xung đột vũ trang.

 

C�c Sự Chuẩn Bị

������ Ch�nh cường độ của sự bất h�a giữa hai nước đ� khiến gần như kh�ng thể n�o x�c định được thời điểm m� họ khởi sự cho một cuộc đấu vũ trang.� Song sẽ l� điều hữu �ch để cố gắng t�i dựng c�c tiến tr�nh chuẩn bị của họ.

������ Căn nguy�n c�c sự chuẩn bị của Trung Quốc c� thể được truy t�m về lại Th�ng Năm 1978 hay sớm hơn.� Một phi�n họp mở rộng của Bộ Ch�nh Trị của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) được tường thuật đ� nh�m họp trong Th�ng Năm v� được tin rằng đ� quyết định �đ�p ứng bằng h�nh động đối với c�c sự khi�u kh�ch của Việt Nam� v� �th�ch đấu nếu Việt Nam ph�ng ra một cuộc phi�u lưu qu�n sự� (một nguồn tin Hồng K�ng, Jiji Press, 26 Th�ng Bảy 1978).� Nhiều phần rằng c�c cuộc thương thuyết cho hiệp ước h�a b�nh v� hữu nghị Trung Quốc � Nhật Bản đang thảo luận đ� được đẩy nhanh v�o thời điểm n�y.� (N� c� thể đ� diễn ra v�o cuối Th�ng Năm sau khi c� cuộc thăm viếng của Zbigniew Brzezinski tại Bắc Kinh, sự kiện rất c� thể đ� cổ vũ giới l�nh đạo Bắc Kinh lấy một lập trường cứng rắn hơn đối với Việt Nam v� Li�n Bang S� Viết).

������ Quyết định Th�ng Năm của Trung Quốc, nếu được tường thuật ch�nh x�c, đ� được đưa ra để đối đ�p với lời tuy�n bố của Tướng Gi�p trong Th�ng Một rằng 1978 sẽ l� một năm quan trọng cho người Việt Nam, v� với lời k�u gọi của Tướng Văn Tiến Dũng hồi Th�ng Tư về việc theo s�t hơn t�nh trạng vũ kh� trang bị, kỷ luật qu�n đội nghi�m ngặt hơn, v� n�ng cao sự chuẩn bị t�c chiến của đất nước.� R� r�ng hồi đầu năm, �như một bước tiến qu�n sự để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh chống Trung Quốc�, Ch�nh Phủ Việt Nam đ� khởi sự �một h�nh động �thanh lọc� to�n diện� bằng việc trục xuất một c�ch t�n nhẫn c�c người Việt gốc Hoa v� những người kh�c sinh sống dọc theo ph�a Việt Nam của bi�n giới (Beijing Review, số 12, 23 Th�ng Ba 1978, trang 23).� Những g� đ� xảy ra tại tỉnh lỵ của L�o Cai c� thể mang t�nh chất điển h�nh; c�c cư d�n của n� được lệnh t�i định cư tại H� Khẩu, một th�nh phố Trung Quốc tại tỉnh V�n Nam, sau n�y đ� được củng cố với c�c nơi đ�ng qu�n b�n dưới mặt đất.� Sau đ�, theo c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc, ph�a Việt Nam đ� di chuyển ch�nh quyền tỉnh L�o Cai về Y�n B�i (Beijing Review, số 8, 23 Th�ng Hai 1979, trang 13).

������ C�c sự căng thẳng d�ng cao nhanh hơn, bắt đầu khoảng Th�ng S�u.� V�o cuối Th�ng Năm, Việt Nam đ� �m mưu lật đổ Ch�nh Phủ của Pol Pot, mặc d� Pol Pot c� tuy�n bố rằng Việt Nam đ� bắt đầu c�c sự chuẩn bị chống lại �ng ta ngay từ Th�ng Hai 1978.� Điều được đồn đ�i rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đ� tổ chức một Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ Tư b� mật của Ủy Ban Trung Ương trong khoảng thời gian đ� (Far Eastern Economic Review, 23 Th�ng Hai 1979, trang 33).� V�o h�m 5 Th�ng S�u, Trung Quốc đ� b�i bỏ hơn hai mươi mục khoản viện trợ kinh tế cho Việt Nam v� v�o h�m 19 Th�ng S�u Trung Quốc đ� ra lệnh đ�ng cửa ba t�a l�nh sự của Việt Nam tại miền nam Trung Quốc.� Mặc d� nhật kỳ ch�nh x�c vẫn chưa được x�c nhận, v�o l�c n�o đ� trong đầu Th�ng S�u, Ủy Ban Trung Ương của ĐCSVN c� lẽ đ� tổ chức một phi�n họp b� mật của Bộ Ch�nh Trị (mặc d� một số người tranh luận rằng phi�n họp n�y xảy ra khi Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ Tư được triệu tập).� Điều dễ d�ng để giờ đ�y suy đo�n rằng Ủy Ban Trung Ương đ� quyết nghị rằng bởi Trung Quốc đang theo đuổi một ch�nh s�ch th� nghịch đối với Việt Nam, Việt Nam phải gia nhập Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế (Council for Mutual Ecomic Aid: COMECON) v� tăng cường năng lực qu�n sự của n� với viện trợ của S� Viết, v� củng cố sự ph�ng thủ bi�n giới t�y nam của n�.

������ Trong bất kỳ trường hợp n�o, tiếp theo phoi�n họp đ�, Ch�nh Phủ Việt Nam đ� gia nhập khối COMECON h�m 29 Th�ng S�u, sự kiện chỉ khi�u kh�ch th�m sự trả đũa từ Trung Quốc, nước đ� chấm dứt ho�n to�n tất cả khoảng 80 dự �n viện trợ h�m 3 Th�ng Bảy.� Trong Th�ng S�u, Ch�nh Phủ H� Nội đ� bắt đầu n�ng cao cấp số trưng binh v� tổ chức �l�nh xung k�ch� v� d�n qu�n đặc biệt.� C�c sự tường thuật b�o ch� đ� xuất hện, v�o khoảng thời gian n�y, về một số mười lăm sư đo�n Trung Quốc v� năm sư đo�n Việt Nam đối diện nhau ngang qua bi�n giới (Newsweek, 3 Th�ng Bảy 1978, trang 6).� C�c nh� l�nh đạo chủ chiến qu� tự tin tại H� Nội cầm đầu bởi L� Duẩn v� V� Nguy�n Gi�p c� thể đ� nghĩ c� lợi hơn về mặt ch�nh trị khi giữ c�c quan hệ tại bi�n giới s�i sục, hầu duy tr� tinh thần trong Qu�n Đội Nh�n D�n Việt Nam (QĐNVN) v� l�i k�o sự ch� � của d�n ch�ng Việt Nam ra khỏi c�c kh� khăn kinh tế.

������ Trong khi c�c cuộc đ�m ph�n song phương về tỵ nạn sau hết đ� khởi sự h�m 8 Th�ng T�m, cả hai b�n đều đ� thực sự chuẩn bị cho bất kỳ t�nh huống n�o.� Bộ Trưởng Quốc Ph�ng Xu Xianqian đ� viết một b�i b�o chỉ một tuần trước đ� nhan đề �N�ng Cao Sự Cảnh Gi�c Của Ch�ng Ta v� H�y Chuẩn Bị Để Chiến Đấu Một Cuộc Chiến Tranh�.� V�o h�m 14 Th�ng T�m, ĐCSVN đưa ra một lời k�u gọi đến c�c đảng vi�n của n�, �Chuẩn Bị Cho Một Cuộc Chiến Tranh Tr�n Quy M� Lớn!� �V�o h�m 25 Th�ng Ch�n, Việt Nam đ� phản đối sự hiện diện của c�c binh sĩ Trung Quốc dọc theo bi�n giới, v� chỉ hai ng�y sau đ� ph�a Trung Quốc đ� kết �n Việt Nam về c�c sự chuẩn bị chiến tranh dọc bi�n giới.� Trong hai tuần lễ cuối của Th�ng T�m, Li�n Bang S� Viết đ� kh�ng vận một sụ tiếp tế lớn lao c�c vũ kh� đến H� Nội (The Washington Post, 2 Th�ng Ch�n 1978).

������ Ở giai đoạn n�y, ch�ng ta kh�ng thể n�i một c�ch ch�nh x�c thời điểm khi Việt Nam quyết định một c�ch ch�nh thức việc k� kết Hiệp Ước Hữu Nghị v� Hợp T�c với người Nga.� C� thể l� ở Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ Tư của Ủy Ban Trung Ương ĐCSVN được tổ chức trong Th�ng Hai, hay tại Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ Năm được nghĩ được triệu tập l�c n�o đ� giữa đầu Th�ng Ch�n v� cuối Th�ng Mười.� Nhưng điều quan trọng ở đ�y l� bản hiệp ước với người Nga tượng trưng cho một trong c�c giai đoạn sau c�ng cho một cuộc chiến tranh sớm được ph�t động chống lại chế độ Pol Pot trong m�a kh� sắp tới.� Kh�ng k�m quan trọng trong c�c giai đoạn sau c�ng l� sự thiết lập h�m 2 Th�ng Mười Hai Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia Kampuchea Cứu Nguy D�n Tộc (MTTNQGKCNDT) (Kampuchean National United Front for National Salvation: KNUFNS), một vỏ bọc cho sự x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt.� Khi hiệp ước S� Viết � Việt Nam được k� kết, cả Bắc Kinh lẫn chế độ Pol Pot đều tin rằng H� Nội đang hoạch định một sự can thiệp qu�n sự lớn lao v�o Kampuchea với sự ủng hộ của S� Viết.� Với giả định đ�, ph�a Trung Quốc đ� khởi sự chuẩn bị một lần nữa để đối ph� với t�nh thế xuất hiện.� Ch�nh trong khung cảnh n�y nhịp bước nhanh hơn của c�c cuộc thương nghị của Trung Quốc nhằm t�i thiết lập c�c quan hệ với Hoa Kỳ khởi sự c� � nghĩa r� r�ng.

������ Hiệp ước S� Viết � Việt Nam hẳn đ� phải thuyết phục được ph�a Trung Quốc về sự hữu dụng của việc b�nh thường h�a c�c quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc trong việc t�i lập một c�n c�n quyền lực cấp v�ng thuận lợi cho Trung Quốc.� V�o cuối Th�ng Bảy 1978, Việt Nam cũng tiếp x�c với Hoa Kỳ.� Việt Nam đ� từ bỏ c�c điều kiện ti�n quyết trước đ� về c�c khoản bồi thường v�o khoảng 4,750 triệu Mỹ Kim, nhưng sự đối xử v� nh�n đạo với ch�nh người d�n của n�, c�c binh sĩ của n� tại Kampuchea, v� c�c li�n hệ chặt chẽ hơn của n� với Moscow khiến cho Washington cảnh gi�c nhiều hơn.� Ch�nh v� thế Hoa Kỳ đ� đ�p ứng một c�ch thuận lợi với sự sẵn l�ng của Trung Quốc, được biểu lộ một c�ch lặng lẽ hồi đầu Th�ng Mười Hai, để thỏa hiệp tr�n vấn đề Đ�i Loan hầu thiết lập c�c quan hệ ngoại giao đầy đủ.

������ Ch�nh Phủ Hoa Kỳ đ� muốn giữ lại quyền để tiếp tục b�n vũ kh� cho Đ�i Loan, ngay d� sau Th�ng Một 1979, khi Hiệp Ước Ph�ng Thủ Hỗ Tương với Trung Hoa D�n Quốc sẽ bị hủy bỏ. �Giới l�nh đạo Trung Quốc đ� kh�ng thể chấp nhận điều n�y.� Điểm đ� đ� được tranh luận giữa hai b�n trong c�c cuộc thương thảo cứng rắn trong suốt hai tuần lễ đầu ti�n của Th�ng Mười Hai.� Kết quả l�, trong lời tuy�n bố với b�o ch� của Chủ Tịch Hoa Quốc Phong h�m 15 Th�ng Mười Hai, �Hai b�n đ� c� c�c sự kh�c biệt về điểm n�y.� D� thế, ch�ng t�i đ� đạt được một sự thỏa thuận tr�n bản th�ng b�o chung [cho sự b�nh thường h�a] (Beijing Review, số 51, 22 Th�ng Mười Hai 1978, c�c trang 10-11).� Rất nhiều phần như thể Trung Quốc đ� thỏa hiệp với Hoa Thịnh Đốn v�o giờ ph�t ch�t.� V�o giữa Th�ng Mười Hai, sự li�n hệ giữa sự b�nh thường h�a c�c quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc v� h�nh động qu�n sự kế tiếp của Trung Quốc đ�nh Việt Nam th� kh�ng r� rệt.� Nhưng cả hai việc đều li�n quan một c�ch chặt chẽ trong chiến lược của Bắc Kinh, như Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ Charles Percy đ� n�i, �Giờ đ�y ch�ng ta biết l� do tại sao Trung Quốc lại b�y tỏ sự vội v� như thế trong việc b�nh thường h�a c�c quan hệ với Hoa Kỳ�. (Time, 5 Th�ng Ba 1979, trang 35).

������ Một số sự tường thuật cho thấy rằng, sau bản th�ng c�o ng�y 15 Th�ng Mười Hai, trong thực tế bảo đảm an ninh của Đ�i Loan, Bắc Kinh đ� khởi sự chuyển một số binh sĩ thuộc Qu�n Khu Ph�c Kiến đến c�c bi�n giới ph�a bắc v� ph�a nam (xem, th� dụ, Kyodo News Service (H�ng Th�ng Tấn Kyodo), 6 Th�ng Một 1979), nhưng c�c sự di chuyển binh sĩ như thế kh�ng hề được x�c nhận.� Song điều đ� xuất hiện một c�ch r� r�ng h�m 25 Th�ng Một l� sự thay thế Tư Lệnh Qu�n Khu C�n Minh, Wang Bicheng, bằng Dương Đắc Ch� (Yang Dezhi).� Dương, một cựu tư lệnh Quan Khu Vũ H�n, được củ l�m tư lệnh c�c lực lượng Mặt Trận Phương Nam để giao tranh với ph�a Việt Nam (Asahi Shimbun, 18 Th�ng Hai 1979).� Tham Mưu Trưởng của họ Dương l� Zhang Tingfa, tư lệnh Kh�ng Lực QĐNDGPTQ v� l� một ủy vi�n của Bộ Ch�nh Trị của Đảng.� Họ Dương l� một chiến sĩ thiện chiến với kinh nghi�m trong Cuộc Chiến Tranh Triều Ti�n.� �ng ta đ� được thăng chức l�m ph� tư lệnh thứ nh� trong năm 1954.� Điều quan trọng hơn nữa l� trong năm 1967 Yang đ� cầm đầu một ph�i đo�n th�n hữu Trung Quốc sang Việt Nam v� đ� c� một cơ hội để nghi�n cứu c�c khả năng qu�n sự của Việt Nam một c�ch chặt chẽ.� Ch�nh v� thế, sự bổ nhiệm �ng ta l� th�ch hợp, khi c�c binh sĩ của �ng sẽ phải chiến đấu tr�n địa h�nh Việt Nam, một ngh�n thước cao hơn mặt biển.� Sự bổ nhiệm họ Zhang cũng như thế, ph�n đo�n từ sự tường thuật tr�n b�o ch� rằng Trung Quốc c� độ 700 đến 1,000 m�y bay sẵn s�ng cho sự sử dụng tức thời, mặc d� chỉ c� �t chiếc l� thực sự tham chiến.� Cũng cần phải ghi nhận rằng, tại Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ Ba của Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ, được triệu tập từ 18 đến 22 Th�ng Mười Hai 1978, một trong c�c đồng sự th�n cận nhất của Đặng [Tiểu B�nh], Geng Biao, đ� được bổ nhiệm l�m b� thư của Qu�n Ủy � một chuyển động c� � nghĩa kh�c để chuẩn bị cho �cuộc chiến tranh của họ Đặng�.

������ Trong 1978, nếu c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc l� ch�nh x�c, Việt Nam đ� tổ chức ba cuộc trưng binh, bổ sung khoảng 400,000 l�nh ch�nh quy v�o qu�n đội của n�, v� đ� gọi t�i ngũ khoảng 200,000 cựu chiến binh cho c�c đơn vị qu�n đội.� (Sự bổ sung khoảng 600,000 l�nh n�y sẽ đem mức độ lực lượng Việt Nam tổng cộng l�n tới 1,200,000, kh�ng mấy sai biệt với con số 1,023,000 l�nh được đưa ra trong tập s�ch thường đ�ng tin cậy nhan đề Military Balance 1979-80).� V�o cuối Th�ng Mười Hai năm đ�, H� Nội đ� đồn tr� khoảng mười bốn sư đo�n dọc theo bi�n giới Kampuchea v� đ� c� c�c d�u hiệu rằng một số trong bốn sư đo�n của n� tr� đ�ng tại L�o cũng đang tr�n đường hướng xuống ph�a nam. Nếu chỉ c� cuộc tranh chấp Việt Nam � Kampuchea, Trung Quốc c� thể kh�ng xem l� cần thiết để �dạy một b�i học� cho Việt Nam.� Nhưng khi c�c bi�n giới của ch�nh Trung Quốc bị đe dọa, n� cảm thấy bị bắt buộc phải b�nh định ch�ng, như n� đ� l�m tr�n bi�n giới Triều Ti�n hồi cuối năm 1950 v� bi�n giới Ấn Độ trong năm 1962. �C�c con số ch�nh thức được phổ biến bởi hai ch�nh phủ về tần số của c�c biến cố bi�n giới th� kh�ng ph� hợp nhau, nhưng ch�ng l�m li�n tưởng đến sự d�ng cao của c�c biến cố sau năm 1975.� Ph�a Trung Quốc tuy�n x�c 121 vụ g�y ra bởi Việt Nam v� ph�a Việt Nam tuy�n x�c 179 vụ bị khi�u kh�ch bởi Trung Quốc trong năm 1974, được theo sau, lần lượt, bởi 439 v� 294 biến cố cho năm 1975; 986 v� 812 vụ cho năm 1976; 752 v� 873 cho năm 1977; v� 1108 v� 583 vụ cho năm 1978.� Trong khi c� một sự sai biệt lớn giữa hai con số của năm 1978, Trung Quốc cho rằng sự gia tăng r� rệt tới 1108 vụ năm đ� c� li�n hệ chặt chẽ với sự tăng cường ch�nh s�ch �b�nh trướng chủ nghĩa� đương thời khi đ� của Việt Nam.

������ Tờ Nh�n D�n Nhật B�o ng�y 25 Th�ng Mười Hai 1978 c� đăng tải b�i quan điểm ban bi�n tập, �C� một Giới Hạn cho sự Chịu Đựng của Trung Quốc�, trong đ� n� đ� n�u � kiến về �một cuộc chiến tranh trừng phạt�.� B�i b�o ph�t biểu:

C�c nh� cầm quyền Việt Nam đ� đi đủ xa trong việc theo đuổi đường hướng chống Trung Quốc của họ.� C� một giới hạn cho sự chịu đựng v� kiềm chế của nh�n d�n Trung Quốc.� Trung Quốc kh�ng bao giờ bắt nạt, v� sẽ kh�ng bao giờ tỏ vẻ bắt nạt, bất kỳ nước n�o; n� cũng sẽ kh�ng để cho m�nh bị dọa nạt bởi c�c nước kh�c.� N� sẽ kh�ng bao giờ tấn c�ng trừ khi bị tấn c�ng.� Nhưng nếu n� bị tấn c�ng, chắc chắn n� sẽ phản c�ng.� Trung Quốc thực sự nghĩ như những g� n� n�i ra.� Ch�ng t�i muốn cảnh c�o c�c nh� cầm quyền Việt Nam rằng nếu họ dựa v�o sự ủng hộ của Moscow để t�m c�ch được đằng ch�n l�n đằng đầu v� tiếp tục h�nh động trong một cung c�ch kh�ng kiềm chế, họ nhất quyết sẽ gặp phải sự trừng phạt m� họ xứng đ�ng [nhận l�nh].� Ch�ng t�i đang n�i với c�c người điều n�y v�o l�c n�y.� Đừng than phiền sau n�y rằng ch�ng t�i đ� kh�ng trao cho c�c người một sự cảnh c�o r� r�ng trước (Beijing Review, số 52, 29 Th�ng Mười Hai 1978, trang 24).

������ B�i quan điểm ban bi�n tập c� thể c� chủ định tạo �p lực tr�n qu�n đội Việt Nam ngay khi sắp sửa tiến v�o Kampuchea, nhưng quan trọng hơn, n� cho thấy rằng ch�nh phủ Bắc Kinh đ� hoạch định về việc trừng phạt H� Nội ra sao trước khi H� Nội khởi sự cuộc x�m nhập qu�n sự của n� v�o Kampuchea.� Khi ph�a Việt Nam kỷ niệm Ng�y Qu�n Đội của họ h�m 21 Th�ng Mười Hai, Bắc Kinh đ� đ�ng cửa dịch vụ đường hỏa xa từ bi�n giới tới H� Nội, ch�nh v� thế, cắt đứt đường chở nhi�n liệu từ Trung Quốc, tương đương v�o khoảng một phần ba số dầu của Việt Nam.

������ Trung Quốc đ� c� nhiều hơn một việc để l�m.� Đ� l� cuộc thăm viếng của họ Đặng tại Hoa Thịnh Đốn.� Trong Th�ng Mười, �ng ta đ� ho�n tất một cuộc thăm viếng th�nh c�ng tại Tokyo, xuất hiện lần đầu ti�n trước một cuộc họp b�o kiểu T�y Phương, sự kiện m� �ng đ� xử dụng để binh vực cho một �mặt trận th�ng nhất chống b� quyền�.� V�o cuối Th�ng Mười Một, họ Đặng c� n�i với một ch�nh trị gia Nhật Bản sang thăm vi�ng (Yoshikatsu Takeiri, Chủ Tịch Đảng Komeito) về niềm ước muốn của �ng sang thăm Hoa Kỳ.� Sau một v�i sự quanh co, Hoa Thịnh Đốn đ� đưa ra một lời mời ch�nh thức đến họ Đặng h�m 11 Th�ng Mười Hai.� V�o đầu Th�ng Một, c�c nguồn tin t�nh b�o Mỹ phổ biến cho b�o ch� tin tức rằng một số lượng lớn lao c�c binh sĩ Trung Quốc đ� tập hợp dọc theo bi�n giới ph�a nam �trong hai tuần qua�.� Cuộc thăm viếng của họ Đặng đ�n Hoa Kỳ đ� được quyết định v�o �một ng�y (9 Th�ng Một) trước khi n� được loan b�o�, theo lời của Richard Holbrooke (xem b�i diễn văn của �ng ta tại Asia Society, New York, 24 Th�ng Một 1979).� Đ� l� một cuộc thăm viếng được sắp xếp một c�ch vội v�, từ điều m� họ Đặng hẳn đ� phải t�nh to�n hiệu quả của �l� b�i Mỹ� được d�ng để chống lại �ch�nh s�ch b� quyền� của S� Viết.

������ Trong cuộc thăm viếng của �ng ta tại Hoa Kỳ từ 29 Th�ng Một đến 5 Th�ng Hai, họ Đặng đ� bị khuyến c�o bởi Tổng Thống Carter về h�nh động trừng phạt chống Việt Nam, nhưng �ng ta dường như đ� kh�ng mấy để � đến điều n�y.� Trong một buổi ăn trưa với một nh�m k� giả Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn h�m 31 Th�ng; Một, �ng ta c� n�i:

Ch�ng t�i gọi Việt Nam l� Cuba của Phương Đ�ng.� Nếu bạn kh�ng dạy cho họ v�i b�i học cần thiết, họ sẽ kh�ng biết phải quấy l� g� � Nhưng về h�nh động n�o được thực hiện, ch�ng ta sẽ phải chờ xem.� T�i c� thể n�i hai điều: một, ph�a Trung Quốc ch�ng t�i thực sự nghĩ như những g� n�i ra; v� hai, ch�ng t�i kh�ng h�nh động một c�ch hấp tấp (Beijing Review, số 6, 9 Th�ng Hai 1979, c�c trang 13-14).

������ Họ Đặng hẳn đ� nghĩ Ch�nh Quyền Carter c� thể kh�ng gi�p đỡ nhưng mặc nhi�n đồng �, nếu kh�ng ủng hộ, cuộc tấn c�ng của Tr8ung Quốc v�o Việt Nam.� Từ quan điểm của Trung Quốc, sẽ l� điều g�y bối rối cho Carter, trong thực tế, c� t�nh chất bất khả về mặt ch�nh trị, để hủy bỏ �tuần trăng mật� với Bắc Kinh chỉ v�i tuần lễ sau khi kết th�c c�c cuộc đ�m ph�n b�nh thường h�a vốn được thương thảo l�u d�i.

������ V�o h�m 2 Th�ng Hai, c�c nguồn tin của Ch�nh Phủ Mỹ khiến nghĩ rằng Trung Quốc sẽ sớm thực hiện �một cuộc tấn c�ng giới hạn�.� Tr�n đường về nước, họ Đặng đ� dừng ch�n tại Tokyo, v� gặp gỡ, trong số c�c người kh�c, Thủ Tướng Masayoshi Ohira v� cựu Thủ Tướng Kakuei Tanaka, l� những người m� một lần nữa, họ Đặng đ� thuyết giảng về nhu cầu��chế t�i� chống Việt Nam.� Ng�y sau khi �ng về nước, v�o h�m 9 Th�ng Hai, �ng đ� triệu tập Ban Thường Vụ Bộ Ch�nh Trị, cơ cấu đ� quyết định �trừng phạt� Việt Nam.� Theo sau đ�, c�c bản tin đ�i ph�t thanh v� b�o ch� của Bắc Kinh đ� tung ra một loạt c�c sự kết �n Việt Nam v� sự cư xử của n� tại c�c khu vực bi�n giới v� tại Kampuchea, hiển nhi�n đ� được thiết kế để hướng đến dư luận thế giới v� trong nước hậu thuẫn cho h�nh động qu�n sự sắp diễn ra của n�.� V�o ng�y 12 Th�ng Hai, Chủ Tịch Hoa Quốc Phong đ� triệu tập một phi�n họp của Ủy Ban Qu�n Sự của Ủy Ban Trung Ương Đảng.� Tuy nhi�n, họ Đặng, đ� khống chế c�c diễn tiến phi�n họp với tư c�ch ph� chủ tịch qu�n ủy ki�m Tổng Tham Mưu Trưởng QĐGPNDTQ.

������ Tổng Thống Carter, hay biết về sự b�ng nổ sắp xảy ra của cuộc chiến tranh Trung-Việt, đ� triệu tập tại T�a Bạch Ốc buổi tối (giờ Hoa Thịnh Đốn) h�m 16 Th�ng Hai, một phi�n họp đặc biệt đ� quyết định về lập trường căn bản của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tranh.� Điều đ� được quyết định trong số c�c điều kh�c, l� kh�ng can thiệp v�o c�c chiến sự giữa c�c nước cộng sản, kh�ng để cho sự b�ng nổ leo thang, v� kh�ng để cho cuộc chiến tranh l�m phương hại c�c quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc v� an ninh của Hoa Kỳ tại Đ�ng Nam �.

Ấn Định Thời Biểu

������ H�m 13 Th�ng Hai, H� Nội đ� đặt to�n thể xứ sở ở mức độ cao nhất của sự chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với Trung Quốc, nhưng r� r�ng họ đ� kh�ng chờ đợi h�nh động của Trung Quốc khởi sự khi n� diễn ra, v�o h�m 17 Th�ng Hai.� Cuộc tấn c�ng xảy ra khi Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang ở Phnom Penh, để k� kết với chế độ Heng Samrin một bản hiệp ước H�a B�nh, Hữu Nghị v� Hợp T�c giữa Việt Nam v� Kampuchea.� Nhiều sự ức đo�n th� khả hữu về c�c yếu tố m� c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc xem l� quan trọng nhất trong việc ấn định thời biểu cho cuộc ta6n� c�ng.

������ Trước ti�n, Trung Quốc đ� muốn đạt được c�c mục đ�ch của n� v� r�t qu�n trước khi m�a mưa bắt đầu trong Th�ng Tư.� Bởi Bắc Kinh đ� giới hạn c�c mục ti�u của n� v�o việc b�nh định bi�n giới hơn l� tấn c�ng H� Nội hay chiếm cứ một khu vực n�o đ� của Việt Nam, c� thể n� đ� kh�ng chủ định giữ c�c binh sĩ ở đ� trong một thời kỳ l�u d�i, như đ� tuy�n bố.� C�c nỗ lực ngoại giao của họ Đặng để c� được một số mức độ của sự thỏa thuận trước từ Hoa Thịnh Đốn v� Đ�ng Kinh tr�n c�c � định của Trung Quốc th� quan trọng.� Một c�ch hữu l�, c�c cuộc h�nh qu�n đ� phải diễn ra sau khi c� sự trở về của họ Đặng từ Hoa Kỳ v� trước Th�ng Tư.

������ Thứ nh�, nếu Li�n Bang S� Viết sẽ can thiệp qu�n sự từ ph�a bắc, n� sẽ phải đối diện với c�c sự kh� khăn về tiếp vận sau Th�ng Ba, bởi mặt đất đ�ng băng tại miền bắc Trung Quốc v� c�c con s�ng Amur v� Ussuri đ�ng băng, vốn c� thể được sử dụng để bộ binh tiến qu�n xuống hướng nam, sẽ bắt đầu tan băng.� Điều n�y, c� lẽ ph�a Trung Quốc đ� l� luận, sẽ gi�p để l�m nản l�ng sự bố trận của S� Viết v� sẽ giữ một cuộc chiến tranh hạn chế kh�ng leo thang th�nh cuộc xung đột vũ trang rộng lớn hơn (xem b�i viết của� Harlan W. Jencks, trong tờ Asian Survey, Th�ng T�m 1979).� Điều đ� khiến cho việc kết th�c một cuộc tấn c�ng bi�n giới v�o Việt Nam trước cuối Th�ng Ba trở n�n quan trọng hơn.� Người ta c� thể nhớ lại rằng ph�a Trung Quốc đ� cứu x�t c�c điều kiện thời tiết tương tự khi hoạch định cuộc xung đột bi�n giới với Ấn Độ trong c�c Th�ng Mười - Th�ng Mười Hai 1962.� Ph�a Trung Quốc r� r�ng đ� ấn định thời biểu cuộc tấn c�ng của họ cho nhiều tuần lễ gần đến m�a đ�ng tại rặng Hy M� Lạp Sơn nhằm ngăn cản binh sĩ Ấn Độ kh�ng tiến qu�n xuy�n qua địa h�nh khi đ� ngập s�u dưới tuyết.� Với c�ch đ� họ đ� ngặn chặn sự đụng độ tới một cuộc chiến tranh hạn chế.� Ngược lại, trong Th�ng Mười Hai 1971, Thủ Tướng khi đ�, Indira Gandhi, đ� chọn m�a đ�ng cho cuộc tấn c�ng, nhằm l�m nản l�ng c�c binh sĩ Trung Quốc kh�ng băng qua Hy M� Lạp Sơn để trợ gi�p c�c lực lượng Pakistan.� Nhiều cuộc đụng độ lớn tại � Ch�u, nổi bật nhất l� Cuộc Chiến Tranh Việt Nam, đ� bị điều kiện h�a bởi thời tiết.

������ Thứ ba, sẽ an to�n để ức đo�n rằng họ Đặng đ� giả định rằng quan t�m lớn nhất của Brezhnev nằm ở c�c cuộc thương thảo th�nh c�ng cho Thỏa Ước C�c Cuộc Đ�m Ph�n Giới Hạn Vũ Kh� Chiến Lược (Strategic Arms Limitations Talks : SALT ) II với Hoa Thịnh Đốn.� Một khi S� Viết tấn c�ng Trung Quốc, nh�m chống SALT tại Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ sử dụng điều đ� trọng vụ chống đối của họ đối với Li�n Bang S� Viết như một nước g�y hấn v� b�nh trướng, kh�ng quan t�m th�nh thực đến h�a b�nh quốc tế.� Như sự việc đ� diễn ra, trong b�i diễn văn h�m 2 Th�ng Ba của m�nh, Brezhnev đ� kiềm h�m kh�ng gửi qu�n sĩ sang giao chiến với ph�a Trung Quốc, như nhiều quan s�t vi�n đ� ức đo�n rằng �ng c� thể l�m như thế, v� thay v�o đ� đ� nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Thỏa Ước SALT II.

������ Sau c�ng, sự lựa chọn ng�y D (Ng�y Khởi Sự) rất c� thể đ� li�n hệ với cuộc thăm vi�ng Bắc Kinh của Bộ Trưởng Ngoại Giao Ấn Độ Atal Behari Vajpayyee, kẻ đ� l� vi�n chức Ấn Độ cao cấp đầu ti�n đến thăm kể từ sau chiến tranh bi�n giới 1962.� C�c nh� l�nh đạo Trung Quốc c� thể đ� giả định rằng H� Nội sẽ kh�ng chờ đợi một cuộc tấn c�ng từ Trung Quốc chừng n�o vị kh�ch Ấn Độ vẫn c�n ở Bắc Kinh.� (Vajpayee đ� đến h�m 12 Th�ng Hai v� dự định sẽ ở lại cho đến h�m 19 Th�ng Hai) hay �t nhất Ch�nh Phủ H� Nội c� thể đ� nghĩ như thế.� Ch�nh v� thế, Phạm Văn Đồng v� nh�m của �ng ta đ� ở tại Phnom Penh từ 16 đến 19 Th�ng Hai.� Đo�n t�y t�ng của �ng gồm cả Ph� Thủ Tướng ki�m Bộ Trưởng Ngoai Giao Nguyễn Duy Trinh, Ph� Thủ Tướng L� Thanh Nghị, v� T�ng Tham Mưu Trưởng QĐNDVN Văn Tiến Dũng.�� Mặc d� l� điều quan trọng cho Việt Nam để hợp ph�p h�a sự hiện diện qu�n sự của n� tại Kampuchea bằng hiệp ước H�a B�nh, Hữu Nghị v� Hợp T�c song phương với Heng Samrin, người ta c� một l� do tốt để thắc mắc tại sao một nh�m c�c nh�n vật then chốt như thế đ� rời H� Nội ngay khi c�c quan hệ Việt-Trung đang tiến tới một đường hướng đụng độ.� Vajpayee đ� cắt ngắn cuộc thăm viếng của �ng một ng�y v� đ� quay về nước h�m 18 Th�ng Hai.� Trung Quốc đ� hy sinh cơ hội quan trọng để cải thiện c�c quan hệ với Ấn Độ, nhưng r� r�ng đ� l�m cho Việt Nam bị bất ngờ.

������ Dĩ nhi�n, một sự giải th�ch ngược lại cũng l� điều khả hữu: hay biết rằng Phạm văn Đồng v� nh�m của �ng ta sẽ đến Phnom Penh h�m 16 Th�ng Hai, c�c nh� l�nh đạo Bắc Kinh c� thể đ� quyết định gi�ng một trận đ�nh ch�nh trị v�o uy t�n của �ng ta.� Trả gi� bằng việc x�c phạm Vajpayee, họ c� thể đ� t�nh to�n hiệu quả của việc tấn c�ng Việt Nam ng�y sau ng�y m� [Phạm Văn] Đồng v� Heng Samrin, c�c kẻ đ� c�ng nhau lật đổ ch�nh phủ hậu thuẫn bởi Bắc Kinh, sẽ gặp nhau tại Phnom Penh.

 

C�c Cuộc H�nh Qu�n

������ Như ch�nh Đặng Tiểu B�nh đ� x�c nhận với c�c thống t�n vi�n Mỹ h�m 27 Th�ng Hai, Trung Quốc đ� c� 17 sư đo�n lục qu�n hay khoảng 225,000 l�nh dọc bi�n giới, v� trong đ�, 75,000 đến 85,000 đ� thực sự băng ngang qua bi�n giới.� Nhưng Trung Quốc đ� loan b�o trong suốt c�c chiến sự rằng �c�c binh sĩ bi�n ph�ng� của n� đ� ph�ng ra �một cuộc ho�n k�ch tự vệ�.� Việt Nam c� khoảng 100,000 binh sĩ địa phương v� d�n qu�n đ�nh nhau với qu�n ch�nh quy Trung Quốc.� Cuộc chiến tranh mười bảy ng�y từ 17 Th�ng Hai đến 5 Th�ng Ba đ� trải qua bốn giai đoạn:

(1) Trong ba ng�y đầu ti�n c�c lực lượng QĐGPNDTQ đ� x�m nhập từ hơn hai mươi địa điểm dọc bi�n giới v� tiến qu�n khoảng năm đến mười c�y số b�n trong Việt Nam, chiếm cứ L�o Cai h�m 19 Th�ng Hai.� QĐGPNDTQ đ� gặp phải sự kh�ng cự lớn hơn điều m� n� xem ra đ� ước định.

(2) Nhưng, v�o h�m 25 Th�ng Hai, QĐGPNDTQ đ� chiếm cứ tỉnh lỵ của H� Giang, v� th�nh phố Đồng Đăng.� Họ đ� tiến qu�n s�u ba mươi đến năm mươi c�y số t�nh từ bi�n giới.

(3) V�o h�m 27 Th�ng Hai, QĐGPNDTQ đ� tr�n ngập Cao Bằng v� tiến tới Lạng Sơn, một tỉnh lỵ chiến lược tr�n con đường x�m lăng truyền thống tới H� Nội chỉ c�ch 140 c�y số theo hướng t�y nam.� Đ� l� chiến dịch gay go nhất trong to�n thể cuộc x�m lăng.� Điều đ� được tường thuật rằng, v�o l�c kết th�c sự giao tranh h�m 5 Th�ng Ba, to�n thể th�nh phố Lạng Sơn đ� bị ph� hủy thực sự.

(4) V�o ng�y họ gi�nh đoạt được sự kiểm so�t Lạng Sơn, c�c lực lượng Trung Quốc đ� bắt đầu triệt tho�i.

������ Trong khi đ� cả hai b�n đều thực hiện một cuộc chiến tranh tuy�n truyền to�n diện.� Điều n�y khiến cho việc lượng định ch�nh x�c sự tổn hại v� c�c số tổn thất trở n�n kh� khăn.� Ph�n đo�n từ nhiều nguồn tin b�o ch� kh�c nhau, người ta c� thể n�i rằng ph�a Trung Quốc đ� ph� hủy kh�ng chỉ c�c cơ sở qu�n sự quan trọng m� c�n cả c�c chiếc cầu, c�c cơ xưởng, c�c nh� m�y ph�t điện, c�c trường học, c�c ng�i chợ, v� c�c cơ sơ tương tự tại c�c thị trấn v� c�c ng�i l�ng lớn nằm trong phạm vi năm mươi c�y số từ bi�n giới, v� rằng c�c cư d�n của c�c thị trấn địa phương lớn đ� mất phần lớn hay tất cả t�i sản gia đ�nh.� Bởi v� c�c n�ng d�n đ� phải di tản, họ đ� bỏ lỡ m�a trồng l�a gạo.� Tuy nhi�n, c�c binh s� địa phương Việt Nam, c�c kẻ được huấn luyện tốt hơn v� đ� c� thể giao chiến thiện nghệ hơn c�c địa phương qu�n th�ng thường [d�n qu�n?] chống lại qu�n �ch�nh quy� tấn c�ng từ Trung Quốc, đ� g�y ra c�c sự tổn thất về qu�n dụng v� nh�n mạng đ�ng lể cho c�c kẻ x�m lăng.

������ V�o đầu Th�ng Tư, ĐCSTQ đ� th�ng b�o c�c đảng cho vi�n cấp dưới rằng một tổng số 57,000 binh sĩ Việt Nam đ� bị giết chết v� hơn 2,300 người bị bắt giữ, kể cả t�m sĩ quan cấp đại t�.� Mặc d� ph�a Trung Quốc kh�ng phổ biến c�c con số tổn thất của ch�nh n�, một tờ b�o Hồng K�ng đ� ước lượng hơn 10,000 người bị hạ s�t (Ming Bao, 3 Th�ng Tư 1979).� Trong cả hai ng�y 20-21 Th�ng Hai [tạm ngừng nghỉ], một số quan s�t vi�n đ� giải th�ch như một dấu hiệu rằng Trung Quốc đang cho r�t qu�n.� Nhưng r� r�ng ph�a Trung Quốc chỉ cần một hai ng�y để tăng cường cho hỏa lực tiền tuyến của họ, [v� việc] ước lượng thấp khả năng kh�ng cự của Việt Nam.� Trong ba ng�y đầu ti�n của sự giao tranh, tờ b�o n�u tr�n ghi nhận ph�a Trung Quốc đ� mất nhiều nh�n mạng như đối phương của họ, nhưng sau khi hỏa lực được tăng cường, sự tổn thất của Trung Quốc đ� được giảm bớt bằng một phần tư c�c sự tổn thất của Việt Nam.

������ Ph�a Trung Quốc đ� đạt được c�c mục đ�ch của họ hay kh�ng? Như đ� n�i ở l�c khởi đầu cuộc chiến tranh, c�c mục ti�u của họ l� �b�nh định bi�n giới�, �dạy một b�i học� cho ph�a Việt Nam, v� �ph� vỡ huyền thoại v� địch của Việt Nam�, trong khi mục ti�u kh�ng được n�i ra của Trung Quốc c� lẽ nhằm �p binh sĩ Việt Nam phải r�t ra khỏi Kampuchea.� Họ đ� b�nh định bi�n giới �t nhất trong một thời khoảng nhưng chiến dịch của họ hầu như kh�ng c� ảnh hưởng n�o tr�n sự hiện diện qu�n sự của Việt Nam tại Kampuchea.� Họ c� thể chỉ ghi nhận rằng khoảng 50,000 qu�n ch�nh quy theo lời tường thuật đ� được di chuyển bằng đường h�ng kh�ng v� đường bộ, từ L�o v� Căm Bốt, trở về ph�ng thủ H� Nội v�o h�m 24 Th�ng Hai, khi qu�n đội Trung Quốc khởi sự việc tấn c�ng Lạng Sơn.� V� bất kể c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc rằng qu�n ch�nh quy Việt Nam đ� tham gia v�o sự giao tranh, chỉ c� một �t qu�n ch�nh quy QĐNDVN c� can dự trực tiếp.� Một số đ� được ph�i l�n ph�a bắc để ph�ng thủ Lạng Sơn (tin đ�i ph�t thanh H� Nội h�m 24 Th�ng Hai, trong khi tường thuật một huy chương đ� được trao tặng bởi Chủ Tịch nước cho QĐNDVN v� trung đo�n địa phương 13, x�c nhận rằng �t nhất một số qu�n chinh quy đ� tham gia v�o cuộc chiến tranh.) Ch�nh v� thế mục ti�u của Trung Quốc nhằm ph� tan huyền thoại về sự v� địch qu�n sự của Việt Nam đ� kh�ng đạt được, bởi ph�a Trung Quốc đ� kh�ng thể nhử họ [qu�n ch�nh quy Việt Nam] tham gia v�o cuộc xung đột.

������ Ph�a Trung Quốc dường như kh�ng hề c� bất kỳ � định n�o về việc tấn c�ng H� Nội.� C� �t nhất ba nguy�n do.� Trước ti�n, sự ph�ng thủ H� Nội th� qu� mạnh v� chặt chẽ đến nỗi bất kỳ mưu toan n�o để tấn c�ng th�nh phố đều s� gặp phải phản ứng dữ dội.� Thứ nh�, ph�a Trung Quốc sẽ kh�ng thể duy tr� sự yểm trợ tiếp vận cho c�c hoạt động qu�n sự đ�nh v�o H� Nội.� Trong thực tế, QĐGPNDTQ đ� phải giới hạn c�c hoạt động qu�n sự trong phạm vị khoảng năm mươi c�y số từ bi�n giới, bởi c�c hỏa tiễn địa-kh�ng của họ (loại CSA-1 hay loại cải biến hỏa tiễn S� Viết SA-2) đặt tại bi�n giới chỉ c� thể cung cấp sự yểm trợ kh�ng gian b�n trong b�n k�nh đ�.� H� Nội đ� miễn cưỡng để điều động kh�ng lực, phần lớn bởi n� kh�ng muốn bỏ bom v� ph� hủy l�nh thổ của ch�nh m�nh.� Địa thế phức tạp đ� l�m nản l�ng cả hai b�n trong việc điều động c�c phi c�ng thiếu kinh nghiệm.� C�c tiện nghi truyền tin kh�ng-dia yếu k�m, đặc biệt trong kh�ng lực Trung Quốc, được n�i l� một nguy�n do kh�c.� Việc kh�ng sử dụng kh�ng lực của cả hai b�n trong thực tế l� kết quả của sự kiềm chế c� � thức.� Thứ ba, một cuộc tấn c�ng của Trung Quốc v�o H� Nội c� thể mang lại cho S� Viết l� do biện minh của sự can thiệp qu�n sự.� Khi cuộc xung đột bắt đầu tại phương nam, Trung Quốc cũng đ� đặt c�c khu vực bi�n giới ph�a bắc thuộc c�c qu�n khu T�n Cương, Lan Ch�u, Bắc Kinh v� Thiểm Dương trong t�nh trạng b�o động to�n diện.� S� Viết, về phần m�nh, đ� c� khoảng bốn mươi bốn sư đo�n dọc bi�n giới Trung Quốc, nhưng chỉ c� ph�n nửa l� ho�n to�n c� đủ qu�n số v� vũ kh�.� Điều được tin rằng qu�n đội S� Viết ho�n to�n chưa sẵn s�ng cho một trận đ�nh tr�n đất liền to�n diện với Trung Quốc.� Trong khi tuy�n bố rằng �ch�ng t�i đ� t�nh to�n c�c bước đi của S� Viết một c�ch cẩn thận�, c� lẽ họ Đặng đ� �m chỉ rằng c�c nh� l�nh đạo của Trung Quốc đang suy nghĩ: chừng n�o Trung Quốc kh�ng tấn c�ng H� Nội, người Nga sẽ kh�ng quấy rối về mặt qu�n sư c�c l�nh thổ ph�a bắc của Trung Quốc.

������ C� lẽ th�nh quả lớn nhất của Trung Quốc l� sự t�n nhiệm m� họ đ� thiết lập được: Trung Quốc thực sự đ� l�m những g� n� n�i l� n� sẽ l�m.� Một số quan s�t vi�n c� mặt tại H� Nội v�o l�c đ� đ� xuất hiện v� tường thuật rằng ph�a Việt Nam đ� thực sự bị rung động khi nh�n tho�ng qua h�nh động của Trung Quốc.� Nếu mục đ�ch tối hậu của Trung Quốc l� buộc Việt Nam phải rỉ m�u về mặt kinh tế v� qu�n sự, n� chắc chắn đ� c� một t�c động � �p lực t�m l� đ� được thi h�nh một c�ch th�nh c�ng tr�n H� Nội nhằm giảm bớt c�c r�ng buộc của n� với Moscow v� l�m nhẹ bớt sự đối nghịch đối với Bắc Kinh.

 

C�c �m Vang Quốc Tế

������ C�c phản ứng đối với cuộc c�ng k�ch của Trung Quốc v�o Việt Nam một c�ch dễ ti�n đo�n đ� l�i k�o c�c sự đ�p ứng kh�c nhau từ phe x� hội chủ nghĩa v� phe được gọi l� cộng sản �u Ch�u.� Li�n Bang S� Viết được gia nhập bởi Cuba, M�ng Cổ, Đ�ng Đức, Tiệp Khắc, Bulgaria, Hung Gia Lợi, Ba Lan, v� Albania trong việc kết �n cuộc x�m lăng v� đ�i hỏi một sự triệt tho�i tức thời của c�c binh sĩ Trung Quốc.� Rumania đ� y�u cầu cả Việt Nam lẫn Trung Quốc lần lượt r�t qu�n của họ ra khỏi Kampuchea v� Việt Nam, trong khi Bắc H�n giữ im lặng trong một l�c v� sau đ� đứng v�o h�ng ngũ với Trung Quốc.� Tất cả c�c đảng cộng sản T�y �u, kể cả Ph�p, � Đại Lợi, T�y Ban Nha, v� Bồ Đ�o Nha, đ� b�y tỏ cảm t�nh với Việt Nam.� Trong số c�c đồng minh của Moscow, Cuba đ� đưa ra một cử chỉ th�n t�nh nhất.� V�o h�m 23 Th�ng Hai, theo đ�i ph�t thanh Moscow, Ủy Ban Ph�ng Vệ C�ch Mạng Của Cuba đ� gửi một th�ng điệp đến H� Nội, hứa hẹn �viện trợ v� sự ủng hộ kh�ng giới hạn� của nh�n d�n Cuba d�nh cho người anh em Việt Nam của họ.� V�o h�m 2 Th�ng Ba, Đại Sứ Cuba tại Mexico City c� tuy�n bố trong một cuộc phỏng vấn với tờ El Sol rằng nước của �ng sẵn s�ng trợ gi�p Việt Nam bằng mọi c�ch cần thiết, kể cả việc �ph�i sang c�c binh sĩ�.� Ph�a Việt Nam đ� từ khước đề nghị n�y.� Một sự tường thuật kh�ng được x�c nhận cũng tuy�n bố một cuộc gọi nhập ngũ khẩn cấp c�c qu�n nh�n trừ bị tại M�ng Cổ, r� r�ng để tạo �p lực tr�n Bắc Kinh.

������ Cho đến giờ kẻ ủng hộ đ�ng tin cậy nhất của Việt Nam l� Li�n Bang S� Viết.� V�o h�m 18 Th�ng Hai, một ng�y sau khi cuộc tấn c�ng của Trung Quốc khởi sự, Moscow đ� đả k�ch Trung Quốc v� nhắc lại một c�ch lớn tiếng c�c nghĩa vụ cvủa n� được quy định trong hiệp ước S� Viết � Việt Nam.� C�ng lời nhắn n�y đ� được lập lại bởi Bộ Trưởng Ngoại Giao Andrei Gromyko với Đại Sứ Việt Nam tại Moscow (18 Th�ng Hai), bởi Bộ Trưởng Quốc Ph�ng Dmitri Ustinov (23 Th�ng Hai), bởi I. Aleksandrov, một b�nh luận gia tờ Pravda (28 Th�ng Hai), bởi Thủ Tướng Aleksey Kosygin (1 Th�ng Ba), v� sau c�ng bởi đ�ch th�n Leonid Brezhnev (2 Th�ng Ba).� Kh�ng lời n�o trong c�c sự ph�t biểu n�y, tuy thế, kh�c với lời tuy�n bố của Cuba, lại đ� đưa ra bất kỳ sự đề cập n�o đến việc gửi sang c�c binh sĩ.� Một nguồn tin Ch�nh Phủ Mỹ tiết lộ h�m 28 Th�ng Ba rằng, trong khi giao tranh, Li�n Bang S� Viết đ� đề nghị với Việt Nam để gửi sang một tiểu đo�n qu�n Cuba, điều bị từ chối thẳng thừng bởi Việt Nam (Asahi Shimbun, 29 Th�ng Ba 1979).� Nh�n lại, những g� S� Viết thực sự đ� l�m l�:

(1) ph�i đi c�c phi vụ th�m th�nh m�y bay TU-95D Bear xuống ph�a nam từ Vladivostok, khởi sự ngay từ h�m 18 Th�ng Hai;

(2) di chuyển một phần Hạm Đội Th�i B�nh Dương của S� Viết xuống ph�a nam, v�

(3) cung cấp c�c vũ kh� v� nh�n vi�n qu�n sự (c� lẽ với tư c�ch c�c cố vấn).

������ V�o h�m 23 Th�ng Hai, Hoa Kỳ đ� x�c nhận rằng s�u vận tải cơ Antonov-22 to lớn đ� tới H� Nội từ miền nam của Li�n Bang S� Viết, v� được tin rằng một trong c�c m�y bay đ� c� chuy�n chở c�c vi�n chức cao cấp.� V�o h�m 26 Th�ng Hai, hai chuyến m�y bay kh�c chuy�n chở qu�n dụng đến H� Nội xuy�n qua Calcutta được x�c nhận.� V�o h�m 5 Th�ng Ba, ba t�u chiến của S� Viết đ� tiến v�o hải cảng Đ� Nẵng, v� v�o h�m 25 Th�ng Ba, một tuần dương hạm trang bị hỏa tiễn được hướng dẫn, một khu trục hạm v� t�u qu�t m�n được ph�t hiện tại Vịnh Cam Ranh.

������ Quan t�m ch�nh của Ch�nh Quyền Carter l� ngăn chặn chiến tranh, ch�nh yếu bằng phương tiện ngoại giao.� V�o h�m 24 Th�ng Hai, Thứ Trưởng Ngoại Giao Warren Christopher đ� gặp Chai Zemin, Gi�m Đốc Văn Ph�ng Li�n lạc của CHNDTQ tại Washington, v� th�c dục Bắc Kinh triệt tho�i binh sĩ của họ.� C�ng ng�y, �ng đ� thuyết phục Đại Sứ S� Viết Dobrynin rằng Moscow phải thực hiện sự kiềm chế tại bi�n giới Nga-Hoa.� Trong một dấu hiệu kh�c của sự sẵn l�ng của Hoa Thịnh Đốn để chấp nhận h�nh động qu�n sự hạn chế của Trung Quốc, Carter đ� quyết định rằng �ng Michael Blumenthal, Bộ Trưởng Ng�n Khố, sẽ đi đến Bắc Kinh h�m 24 Th�ng Hai như đ� dự liệu, v� Blumenthal đ� ở lại cho đến h�m 1 Th�ng Ba.� Sau đ�, v�o h�m 1 Th�ng Ba, cả Bắc Kinh lẫn Hoa Thịnh Đốn đ� cử h�nh buổi lễ n�ng c�c Văn Ph�ng Li�n Lạc của họ l�n th�nh Đại Sứ Qu�n, như đ� thỏa thuận trong Bản Th�ng C�o Chung Th�ng Mười Hai.� H�ng loạt c�c bước tiến ngoại giao n�y c� thể đ� ảnh hưởng nhiều đến giọng điệu trong b�i diễn văn h�m 2 Th�ng Ba của Brezhnev, �n h�a một c�ch đ�ng ngạc nhi�n v� nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một thỏa ước SALT-II th�nh c�ng hơn l� kết �n th�i độ của Trung Quốc tại Việt Nam.

������ Nhật Bản, b�y tỏ sự quan t�m nghi�m trọng khi c�c chiến sự được mở ra, đ� th�ng b�o h�m 19 Th�ng Hai với H� Nội v� Bắc Kinh hy vọng của Nhật Bản rằng hai nước sẽ giải quyết c�c sự tranh chấp bằng c�c phương tiện h�a b�nh.� V�o h�m 28 Th�ng Hai, Bộ Trưởng Ngoại Giao Sunao Sonoda c� tuy�n bố trong một cuộc tranh luận tại Viện Diet (Quốc Hội) rằng ch�nh s�ch của ch�nh phủ l� duy tr� �sự trung lập nghi�m ngặt�.� C�c thủ đ� T�y �u v� c�c thủ đ� kh�ng cộng sản kh�c tại � Ch�u v� v�ng Th�i B�nh Dương đ� b�y tỏ tương tự sự quan ngại s�u xa về sự b�ng nổ cuộc chiến tranh bi�n giới nhưng đ� th�c giục sự kiềm chế từ Trung Quốc, đồng thời k�u gọi Việt Nam r�t qu�n của họ ra khỏi Kampuchea.� Điều cần ghi nhận rằng Bộ Trưởng Kỹ Nghệ Anh Quốc, E. Varley đ� đến thăm Bắc Kinh, kh�ng l�u sau �ng Blumenthal, để thảo luận, ngo�i c�c vấn đề kh�c, việc b�n c�c chiến đấu cơ Harrier.

������ Nh�n danh Hiệp Hội C�c Quốc Gia Đ�ng Nam � (Association of Southeast Asian Nations: ASEAN), Mochtar Kusumaatmadja, Bộ Trưởng Ngoại Giao Indonesia, đ� c�ng bố một bản tuy�n bố h�m 20 Th�ng Hai, y�u cầu sự đ�nh chỉ tức thời c�c chiến sự v� sự triệt tho�i của mọi binh sĩ ngoại quốc ra khỏi Đ�ng Dương.� Nhưng n� mang t�nh chất �n h�a đối với Trung Quốc, khi so s�nh với sự chỉ tr�ch sắc b�n hơn của n� về sự chiếm cứ của Việt Nam tr�n Phnom Penh.� N� c�n kh�ng đề cập một c�ch trực tiếp đến Trung Quốc bởi, trong giai đoạn ti�n khởi, c�c hội vi�n của khối ASEAN đ� kh�ng đồng � với nhau tr�n c�c sự lượng định của họ về c�c h�nh động của Trung Quốc.� Th�i Lan v� M� Lai đ� nh�n cuộc chiến tranh trừng phạt của Trung Quốc như mo6t. yếu tố trợ lực cho việc t�i lập c�n c�n quyền lực cấp miền c� lợi cho họ, trong khi Indonesia c� khuynh hướng nh�n trong đ� một sự lập lại cuộc đảo ch�nh bất th�nh �do Trung Quốc chỉ đạo� hồi năm 1965 tại Indonesia.� Singapore, lấy một quan điểm phần n�o nằm giữa, hơi nghi�ng về ph�a Trung Quốc, bởi c�c mục ti�u của Trung Quốc dường như l� sự b�nh định bi�n giới, trong khi c�c mục ti�u của Việt Nam l� lật đổ những kẻ đang nắm quyền tại Kampuchea.� Phi Luật T�n cảm thấy bị ảnh hưởng �t nhất bởi c� biến cố tại Đ�ng Dương, mặc d� sau đ� trong năm n� cũng phải g�nh chịu số lượng gia tăng c�c �thuyền nh�n�.

������ Ch�nh v� thế, kh� mỉa mai, Trung Quốc đ� t�m thấy nhiều th�n hữu trong c�c nước phi cộng sản hơn trong c�c nước cộng sản.� Biểu trưng cho sự t�i sắp xếp h�ng ngũ quốc tế n�y tr�n cuộc chiến tranh Trung-Việt l� c�c kết quả của việc bỏ phiếu cho một dự thảo quyết nghị được đề xuất h�m 13 Th�ng Ba bởi c�c quốc gia khối ASEAN tại Kh�a Họp Khẩn Cấp của Hội Đồng Bảo An Li�n Hiệp Quốc.� Nghị quyết đ� k�u gọi một sự đ�nh chỉ tức thời c�c chiến sự, sự triệt tho�i mọi lực lượng ngoại quốc, v� sự kiềm chế của c�c quyền lực b�n ngo�i.� N� đ� bị phủ quyết h�m 16 Th�ng Hai bởi Li�n Bang S� Viết; v� bị chống đối bởi Tiệp Khắc, mặc d� n� được ủng hộ bởi mười ba nước kể cả Trung Quốc.

 

Hồi Kết Cuộc

����� Trận đ�nh, �t nhất hiệp thứ nhất, đ� đi qua, nhưng chiến tranh vẫn c�n tiếp diễn.� C�c cuộc đ�m ph�n cấp thứ trưởng theo sau khởi sự từ h�m 18 Th�ng Tư v� đ� được nh�m họp mười bẩy lần, năm tại H� Nội v� mười hai lần tại Bắc Kinh, trước cuối Th�ng Ch�n.� Nhưng ch�ng đ� kh�ng đem lại c�c kết quả đ�ng kể, ngoại trừ việc tự vận h�nh như một phần tử của sự khống chế tr�n c�c cuộc xung đột bi�n giới.� C�u hỏi l�, b�n n�o đ� thắng hay gi�nh đoạt được thắng lợi tương đối lớn hơn? Trận đ�nh đ� kh�ng mang lại c�c c�u trả lời r�nh mạch.� Sự ph�n đo�n hẳn phải kh�c biệt, t�y theo thời kỳ người ta sử dụng l�m căn bản cho sự thảo luận.� �t nhất năm thời kỳ phải được cứu x�t đến� Th�ng Ba, Th�ng Tư-Th�ng Bảy, Th�ng T�m, Th�ng Ch�n v� phần sau n�y trong năm 1979.

������ Nếu người ta lượng định t�nh trạng chiến tranh t�nh đến Th�ng Ba, Trung Quốc đ� ở v�o một vị thế mạnh hơn.� Bất kể c�c sự tổn thất nặng nề kh�ng ngờ, Trung Quốc đ� th�nh c�ng trong việc chinh phục Lạng Sơn v� c�c tỉnh lỵ bi�n giới kh�c.� Bất kể lời bố c�o chiến thắng của H� Nội, sự kiện c�n lại l� v�o h�m 8 Th�ng Ba, H� Nội đ� chấp nhận đề nghị của Bắc Kinh về c�c cuộc đ�m ph�n song phương v� quan trọng hơn, rằng tờ Nh�n D�n (7 Th�ng Ba) đ� tuy�n bố rằng Việt Nam sẽ kh�ng truy k�ch c�c lực lượng Trung Quốc đang triệt tho�i.� Đ�y c� thể l� c�c dấu hiệu của sự bất lợi tương đối của Việt Nam.� Ngo�i ra, v�o h�m 5 Th�ng Ba, Ch�nh Phủ H� Nội đ� c�ng bố một lệnh tổng động vi�n, c� thể l� một dấu hiệu kh�c về vị thế yếu k�m hơn của Việt Nam.� V�i biến cố trong Th�ng Ba cho thấy Ch�nh Phủ Việt Nam đ� hoảng sợ về khả t�nh của một cuộc tấn c�ng của Trung Quốc v�o thủ đ� của n�.� Th� dụ, v�o h�m 5 Th�ng Ba, ch�nh phủ đ� y�u cầu mọi ngoại giao đo�n cho đ�o c�c đường giao th�ng h�o, t�ch trữ thực phẩm v� di tản c�c trẻ em, phụ nữ v� c�c người gi� đến c�c khu vực an to�n hơn.� C�c mệnh lệnh x�y dựng c�c hố c� nh�n cũng đ� được thi h�nh khắp thủ đ�.� C�c vi�n chức H� Nội đ� lo sợ rằng Trung Quốc sẽ sớm ph�t động một cuộc chiến tranh đại quy m�, v� v�o cuối Th�ng Ba một nguồn tin Mỹ cho thấy rằng Việt Nam vừa mới th�nh lập 6 sư đo�n mới (hay 150,000 qu�n), phần lớn trong đ� xem ra đ� được đồn tr� trong sự ph�ng thủ thủ đ�.

������ C�c sự ph�t triển trong thời kỳ Th�ng Tư � Th�ng Bảy, tuy nhi�n, xem ra đ� bất lợi cho cả Trung Quốc lẫn Việt Nam trong c�c kh�a cạnh kh�c nhau.� Đối với Trung Quốc, c�c quan hệ với L�o tồi tệ hơn khi nhiều nh� ngoại giao v� kỹ sư hơn đ� rời khỏi xứ sớ n�y.� Tệ hại hơn, Việt Nam đ� kh�ng r�t c�c binh sĩ của n� ra khỏi Kampuchea, m� ngược lại, c�n tăng cường sự hiện diện qu�n sự của n� ở đ�.� Trong khi sự trục xuất người Trung Quốc khỏi L�o l�m lợi cho Việt Nam, sắc lệnh tổng động vi�n v� sự thất bại của �c�c v�ng kinh tế mới� buộc nhiều thanh ni�n cố gắng chạy trốn bằng thuyền.� Sự trương phồng g�y kinh ho�ng con số người tỵ nạn l�m phương hại h�nh ảnh quốc tế của Việt Nam, g�y bối rối ngay cả cho đồng minh ch�nh yếu của n�, LBSV.� Điều cần ghi nhận sắc lệnh tổng động vi�n, đ� được thiết kế một phần để ngăn chặn c�c kẻ bất m�n ch�nh trị tiềm năng v� giảm bớt nạn thất nghiệp.� Theo sắc lệnh �mọi đ�n �ng từ 18 đến 45 tuổi v� đ�n b� từ 18 đến 35 tuổi phải gia nhập c�c lực lượng qu�n sự, c�c lực lượng du k�ch, hay c�c to�n tự vệ�, v� mọi c�ng nh�n được bảo l�m việc t�m giờ mỗi ng�y cho sự sản xuất v� hai giờ bổ t�c cho việc huấn luyện qu�n sự.� Bằng c�ch n�y c�c nh� cầm quyền đ� c� thể theo d�i một c�ch hữu hiệu v� ngăn chặn c�c kẻ chống đối về ch�nh trị.

������ Người d�n Nam Việt Nam đ� phản ứng một c�ch mạnh mẽ chống lại sự động vi�n, như nhiều thuyền nh�n gốc d�n Việt đ� chứng thực.� Được hỏi anh ta đ� nghĩ g� về cuộc x�m lăng của Trung Quốc, một người Nam Việt Nam được tường thuật đ� n�i, �Tội nghiệp, ch�ng đ� kh�ng thể tr�n xuống đ�y để giải ph�ng ch�ng t�i� (Newsweek, 28 Th�ng Năm 1979, trang 7).

������ Sự đ�o tho�t đột ngột sang Trung Quốc hồi Th�ng T�m của một cựu Ủy Vi�n Bộ Ch�nh Trị đ� l�m nghi�ng c�n c�n c� lợi cho Trung Quốc một lần� nữa.� Kẻ đ�o tho�t, Ho�ng Văn Hoan, 74 tuổi, l� một kẻ th�nh lập Đảng Cộng Sản Đ�ng Dương, v� đ� l�m Đại Sứ đầu ti�n của Việt Nam tại Bắc Kinh từ 1950 đến 1957.� �ng đ� được bầu v�o Bộ Ch�nh Trị của Ủy Ban Trung Ương trong năm 1956.� Điều cũng quan trọng rằng �ng l� một trong ba cựu Đại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc bị loại khỏi Ủy Ban Trung Ương trong Th�ng Mười Hai 1976.� Khi trốn sang Trung Quốc, �ng đang l� Ph� Chủ Tịch Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội.

����� H�nh ảnh từ l�u về sự đo�n kết nguy�n khối trong giới l�nh đạo đảng [cộng sản] Việt Nam bị chứng tỏ l� một huyền thoại, đ� l� một phần thưởng cho c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc.� Sau đ� trong c�ng Th�ng T�m, ba vi�n chức th�n Bắc Kinh đ� bị đặt trong t�nh trạng quản th�c tại gia.� Liệu c�c dấu hiệu của sự rạn nứt n�y trong đảng c� ho thấy c�c chiều hướng đang chiếm ưu thế hay chỉ l� c�c hiện tượng biệt lập vẫn c�n l� điều cần theo d�i.

������ Li�n quan đến bi�n giới, c�c sự ph�t triển sau Th�ng T�m dường như cho thấy c�c thắng lợi nhỏ nhưng quan trọng cho Việt Nam.� Với một số tiếp tế vũ kh�. trương phồng từ Moscow, sự x�y dựng c�c giao th�ng h�o nối kết nhau tại v�ng n�i non miền bắc, v� c�c sự tăng ph�i c�c lực lượng ch�nh quy QĐNDVN đến đ�, Việt Nam giờ đ�y sẵn s�ng tự ph�ng thủ chống lại một cuộc tấn c�ng trừng phạt thứ nh� từ phương bắc.� Nhưng trong khi điều n�y nhiều phần c� thể được gh�p nối với nhau, c�c cuộc tranh luận của Li�n Hiệp Quốc trtng Th�ng Ch�n v� Th�ng Mười ph�t hiện rằng H� Nội hiện ng�y c�ng gia tăng đối nghịch với cộng đồng quốc tế bằng việc kh�ng l�m g� để trợ gi�p hay đ�nh chỉ tr�o lượng xuất dương ồ ạt của c�c người tỵ nạn, để cung cấp thực phẩm v� sự trợ gi�p y tế cho người d�n Kampuchea đang đ�i kh�t v� đau yếu, v� bởi c�c r�ng buộc gia tăng của n� với Moscow.� Moscow được biết đang chi ti�u khoảng 2 triệu mỹ kim một ng�y cho nước chư hầu của n� v� nền kinh tế m�i xấu hơn của Việt Nam, đặc biệt tại miền nam, sẽ c�n tồi tệ hơn nữa, nếu viện trợ của S� Việt ngừng lại.� Nhưng Moscow c�n c� thể tiếp tục c�c mức độ viện trợ như thế trong bao l�u nữa� l� điều g�y thắc mắc.� Một số tường thuật cho thấy rằng c�c th�nh vi�n Đ�ng �u của khối COMECON đang ph�n n�n về khoản viện trợ to lớn kh�ng c�n đối d�nh cho hội vi�n � Ch�u mới nhất của n� g�y thiệt kại đến ch�ng [c�c nước Đ�ng �u].� Sự thất bại của c�c chương tr�nh sản xuất n�ng nghiệp của miền nam Việt Nam, trong một cử chỉ kh�c thường, được nh�n nhận trong Phi�n Họp Kho�ng Đại Thứ S�u của Ủy Ban Trung Ương Đảng tổ chức hồi Th�ng Ch�n.� Bốn sư đo�n lục qu�n được tường thuật tr� đ�ng tại miền nam để duy tr� an ninh nội bộ chống lại c�c sự bất ổn d�n sự.� C�c kh� khăn kinh tế của Việt Nam sau rốt c� thể buộc ch�nh phủ H� Nội phải cố gắng vươn tới một số mức độ h�a ho�n giới hạn với Trung Quốc hay buộc Moscow �p lực H� Nội phải l�m như thế.� Hay ch�ng ta c� thể nh�n thấy, thay v�o đ�, sự bất h�a hơn nữa giữa c�c nh� l�nh đạo H� Nội với nhau.� Bất kỳ t�nh huống khả dĩ n�o đi nữa đều sẽ ph� hợp với mục ti�u tối hậu của Trung Quốc.

������ Sự rạn nứt Bắc Kinh � H� Nội hồi Th�ng Hai � Th�ng Ba 1979 thường bị nhầm lẫn như chỉ l� một cuộc chiến tranh giữa c�c nước x� hội chủ nghĩa.� Trong khi th�nh tố đ� kh�ng thể phủ nhận được, bản chất b�n dưới của sự rạn nứt nằm ở sự th� hận lịch sử giữa hai d�n tộc, hay sự tức giận của Trung Quốc trước sự th�ch thức của một nuớc yếu hơn trong lịch sử đối với khu vực ảnh hưởng truyền thống của ch�nh n� [in đậm để l�m nổi bật bởi người dịch].� C� lẽ điều n�y đ� l� một th� dụ tốt cho �Tinh Thần Vạn L� Trường Th�nh� của Trung Quốc.� Đặt trong quan điểm lịch sử, sự căng thẳng như thế đ�nh dấu một ti�u chuẩn b�nh thường, chứ kh�ng phải l� ngoại lệ -- c�c quan hệ hợp t�c được duy tr� trong cuộc chiến tranh ba mươi năm chống lại �chủ nghĩa đế quốc T�y Phương�, đ�ng ra, đ� chỉ l� một kh�c đệm bất thường chen v�o giữa.� Chiến tranh Trung-Việt nhiều phần c�n l� một yếu tố nghi�m trọng của sự bất ổn định trong c�n c�n quyền lực trong v�ng./- ����������

---

Tiến Sĩ Masashi Nishihara, hiện l� Gi�o Sư về C�c Quan Hệ Quốc Tế, Học Viện Quốc Ph�ng, Yokosuka, Nhật Bản.� Nguy�n l� Trưởng Văn Ph�ng tại Jakarta của Trung T�m Đ�ng Nam � Học, Đại Học Kyoto, �ng cũng đ� giảng dạy tại Đại Học Kyoto Sangyo University v� Đại Học University of South Carolina [Hoa Kỳ].� Trong năm 1979, �ng l� Gi�o Sư Thỉnh Giảng về C�c Quan Hệ Quốc Tế tại Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi.� C�c ấn phẩm gần đ�y của �ng gồm Political Corruption in Southeast Asia (chủ bi�n, bằng tiếng Nhật, 1975), The Japanese and Suharto�s Indonesia (1976) v� �Are There Any Possibilities of Arms Control in Southeast Asia? � (sắp xuất bản). ����

_____

Nguồn: Masashi Nishihara, �The Sino-Vietnam War of 1979 � Only The First Round? �, Southeast Asian Affairs 1980, Institute of Southeast Asian Studies Heinemann Asia: Singapore, 1980, c�c trang 66-77.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

07.04.2014

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2014