Mohan Malik

Asia-Pacific Center for Security Studies, Honolulu

 

CHUYỆN GIẢ TƯỞNG LỊCH SỬ

C�c Sự Tuy�n Nhận

Biển Nam Trung Hoa

Của Trung Quốc

 

Ng� Bắc dịch

 

Bản Đồ Đường Ch�n Vạch

 

������ Quần Đảo Spratly (Trường Sa) � kh�ng qu� l�u trước đ�y được biết l� một v�ng đ�nh c� phong ph� � đ� biến th�nh một khu vực n�ng bỏng quốc tế khi c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc nhấn mạnh với sự h�ng hổ gia tăng rằng c�c h�n đảo, c�c b�i đ� v� c�c b�i san h� đ� từng l�, theo lời của Thủ Tướng �n Gia Bảo (Wen Jiabao), �l�nh thổ lịch sử của Trung Hoa từ thời cổ đại�.� B�nh thường, c�c sự tuy�n nhận l�nh thổ chồng l�n nhau về chủ quyền v� c�c ranh giới tr�n biển phải được giải quyết xuy�n qua một sự kết hợp luật quốc tế th�ng thường, được x�t xử trước T�a �n C�ng L� Quốc Tế (International Court of� Justice) hay T�a Quốc Tế Về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea), hay được trọng t�i chiếu theo Phụ Lục (Annex) VII của C�ng Ước Li�n Hiệp Quốc Về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).� Trong khi Trung Quốc đ� ph� chuẩn UNCLOS, bản hiệp ước n�i chung b�c bỏ c�c tuy�n nhận �dựa tr�n lịch sử�, đ�ng l� loại m� Bắc Kinh khẳng định từng hồi.� H�m 4 Th�ng Ch�n 2012, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc, Jang Jiechi (Dương Khiết Tr�), c� n�i với Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Hillary Clinton rằng c� �đầy đủ bằng chứng lịch sử v� ph�p l� cho thấy rằng Trung Quốc c� chủ quyền tr�n c�c h�n đảo tại Biển Nam Trung Hoa v� c�c hải phận kề cận�.

Đối với �bằng chứng ph�p l�� li�n hệ, tuyệt đại đa số c�c chuy�n vi�n luật ph�p quốc tế đ� kết luận rằng sự tuy�n nhận của Trung Quốc về bằng kho�n lịch sử tr�n Biển Nam Trung Hoa, h�m � thẩm quyền chủ quyền trọn vẹn v� sự chấp thuận cho ph�p c�c nước kh�c xuy�n qu�, l� v� gi� trị.� Bằng chứng lịch sử, nếu c� bất kỳ bằng chứng n�o đi nữa, lại c�ng �t c� tinh chất thuyết phục hơn. C� v�i sự m�u thuẫn trong sự sử dụng lịch sử của Trung Quốc để biện minh cho c�c sự tuy�n nhận của n� đối với c�c h�n đảo v� b�i san h� tại Biển Nam Trung Hoa, trong đ� l� sự kh� c�n l� sự khẳng định kiểu luận chiến về c�c điểm tương đồng với c�c sự b�nh trướng đế quốc của Hoa Kỳ v� c�c nước �u Ch�u trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười ch�n.� Biện minh cho c�c mưu t�nh của Trung Quốc nhằm b�nh trướng bi�n cương tr�n biển của n� qua việc tuy�n nhận c�c h�n đảo v� c�c b�i san h� c�ch xa bờ biển của n�, Jia Qingguo, gi�o sư tại Trường Quốc Tế Học (School of International Studies) của Đại Học Bắc Kinh, lập luận rằng Trung Quốc chỉ noi theo th� dụ được đặt ra bởi khối T�y.� �Hoa Kỳ c� đảo Guam tại � Ch�u rất xa Hoa Kỳ v� người Ph�p c� c�c h�n đảo tại Nam Th�i B�nh Dương, v� thế kh�ng c� g� l� mới�, họ Jia n�i với th�ng tấn x� AFP gần đ�y.

Sự tuy�n nhận của Trung Quốc đối với quần đảo Spratly tr�n căn bản lịch sử bị vướng mắc v�o sự kiện rằng c�c đế quốc trong qu� khứ của v�ng n�y đ� kh�ng h�nh xử chủ quyền.� Tại � Ch�u thời tiền hiện đại, c�c đế quốc được đặc trưng bởi c�c bi�n cương kh�ng được x�c định, kh�ng được bảo vệ v� thường biến đổi.� Kh�i niệm quyền chủ tể tối cao đ� thắng thế.� Kh�c với một quốc gia-d�n tộc (nation-state), c�c bi�n cương của c�c đế quốc Trung Hoa hoặc đ� kh�ng được vẽ một c�ch cẩn thận hay tuần cảnh, m� nhiều phần như c�c v�ng tr�n hay c�c khu vực, tỏa ra từ trung t�m của nền văn minh đến v�ng ngoại vi kh�ng được x�c định của d�n man rợ nước ngo�i.� Quan trọng hơn, trong c�c cuộc tranh chấp l�nh thổ của n� với l�n bang Ấn Độ, Miến Điện v� Việt Nam, Bắc Kinh lu�n lu�n c� quan điểm rằng c�c ranh giới đất liền của n� kh�ng hề được x�c định, ph�n ranh, v� giới hạn.� Nhưng giờ đ�y, khi xảy ra với c�c h�n đảo, c�c cồn c�t, v� c�c b�i san h� tại Biển Nam Trung Hoa, Bắc Kinh lại tuy�n nhận một c�ch kh�c.� N�i kh�c đi, sự tuy�n nhận của Trung Quốc rằng c�c bi�n giới đất liền của n� tr�n mặt lịch sử chưa bao giờ được x�c định v� giới hạn th� m�u thuẫn r� rệt với lập trường rằng c�c bi�n giới tr�n biển của Trung Quốc lu�n lu�n được x�c định v� giới hạn một c�ch r� r�ng.� Ở điểm n�y, một sự m�u thuẫn căn bản trong lập trường của Trung Quốc về bi�n giới đất liền v� tr�n biển hiện ra, l� điều kh�ng thể biện hộ được.� Trong thực tế, ch�nh c�c mưu toan hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi để biến cải c�c bi�n cương kh�ng được x�c định thuộc c�c nền văn minh v� c�c vương quốc cổ đại thụ hưởng quyền chủ tể tối cao th�nh c�c bi�n giới được x�c định, ph�n ranh v� giới hạn r� r�ng của c�c quốc gia-d�n tộc hiện đại h�nh xử chủ quyền ch�nh l� t�m điểm của c�c sự tranh chấp tr�n biển v� l�nh thổ của Trung Quốc với c�c nước l�ng giềng.� N�i mộtg c�ch đơn giản, chủ quyền l� một kh�i niệm thời hậu đế quốc được quy chiếu cho c�c quốc gia-d�n tộc, chứ kh�ng phải đến c�c đế quốc cổ đại.

 

������ C�c bi�n giới ng�y nay của Trung Quốc phần lớn phản ảnh c�c bi�n cương được thiết lập ở một ph�n kh�c ngọan mục trong ch�nh s�ch b�nh trướng của nh� Thanh (M�n Ch�u) thế kỷ thứ mười t�m, m� với thời gian đ� được ki�n cố th�nh c�c bi�n giới quốc gia cố định theo sau sự �p đặt hệ thống quốc gia-d�n tộc kiểu Westphalia (*a) tr�n � Ch�u trong c�c thế kỷ thứ mười ch�n v� hai mươi.� Tuy nhi�n sử k� ch�nh thức của Trung Quốc ng�y nay thường b�p m�o lịch sử phức tạp n�y, tuy�n bố rằng người M�ng Cổ, người T�y Tạng, người M�n Ch�u, v� người H�n đều l� người d�n Trung Hoa, khi trong thực tế, Vạn L� Trường Th�nh đ� được x�y l�n bởi c�c triều đại Trung Hoa để ngăn cản c�c thị tộc M�ng Cổ v� M�n Ch�u nhiều lần chiếm cứ Trung Hoa của người H�n; bức trường th�nh thực sự tượng trưng cho chu vi an to�n v�ng ngo�i của đế quốc Trung Hoa của người H�n.� Trong khi phần lớn c�c sử gia đều nh�n cuộc t�n s�t của c�c đo�n qu�n M�ng Cổ cầm đầu bởi Genghis Khan hồi đầu những năm 1200 như một biến cố tai họa đe dọa đến ch�nh sự sống c�n của c�c nền văn minh cổ đại tại Ấn Độ, Ba Tư, v� c�c d�n tộc kh�c (Trung Hoa l� d�n tộc ch�nh yếu trong đ�), người Trung Quốc lại đ� cổ động một c�ch cố � rằng �ng ta thực sự l� �người Trung Hoa�, v� do đ� mọi khu vực m� người M�ng Cổ (triều đại nh� Nguy�n) đ� từng c� thời chiếm cứ hay chinh phục (chẳng hạn như T�y Tạng v� phần lớn v�ng Trung � Ch�u v� Nội � Ch�u) thuộc về Trung Quốc.� C�c tuy�n nhận của Trung Quốc tr�n Đ�i Loan v� tại Biển Nam Trung Hoa cũng dựa tr�n c�c căn bản rằng cả hai đều đ� l� c�c bộ phận của đế quốc M�n Ch�u.� (Thực sự, trong c�c bản đồ triều đại nh� Thanh hay M�n Ch�u, ch�nh Hải Nam, chứ kh�ng phải c�c Quần Đảo Paracel v� Spratly [Ho�ng Sa v� Trường Sa trong tiếng Việt, ch� của người dịch] được tr�nh b�y như l� bi�n giới cực nam của Trung Hoa).� Trong phi�n bản n�y của lịch sử, bất kỳ l�nh thổ n�o bị chinh phục bởi �người Trung Hoa� trong qu� khứ đều bất di bất dịch như thế, bất kể thời điểm khi cuộc chinh phục c� thể đ� xảy ra.

������ C�ch viết v� sửa đổi lịch sử như thế từ một quan điểm nhuốm d�n tộc chủ nghĩa để ph�t huy sự đo�n kết d�n tộc v� t�nh ch�nh đ�ng của chế độ đ� được đặt l�m ưu ti�n h�ng đầu bởi c�c nh� cầm quyền Trung Hoa, cả phe Quốc D�n Đảng lẫn phe Cộng Sản.� Giới l�nh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc tự h�nh sử một c�ch c� � thức như kẻ thừa kế di sản đế quốc của Trung Hoa, thường sử dụng c�c biểu tượng v� ng�n từ của đế quốc.� Từ c�c s�ch gi�o khoa bậc tiểu học cho đến c�c phim truyện lịch sử tr�n truyền h�nh, hệ thống th�ng tin do nh� nước kiểm so�t đ� cưỡng b�ch nhồi nh�t c�c thế hệ người Trung Hoa bằng một thực đơn về t�nh vĩ đại của Trung Hoa đế quốc.� Như nh� Trung Hoa học �c Đại Lợi Geremie Barm� n�u ra, �Trong nhiều thập ni�n, gi�o dục v� tuy�n truyền Trung Hoa đ� nhấn mạnh đến vai tr� của lịch sử trong vận mệnh của quốc gia-d�n tộc Trung Hoa � Trong khi chủ nghĩa M�c X�t/Leninn�t v� Tư Tưởng họ Mao đ� bị từ bỏ, chỉ c�n giữ lại danh xưng, vai tr� của lịch sử trong tương lai của Trung Hoa vẫn c�n vững chắc�.� Qu� nhiều đến nỗi lịch sử đ� được tinh chế th�nh một c�ng cụ của thuật trị quốc v� ngoại giao (statecraft) (cũng được biết như �sự x�m lăng tr�n bản đồ: cartographic aggression�) bởi c�c định chế nghi�n cứu, giới truyền th�ng v� c�c bộ phận gi�o dục do nh� nước kiểm so�t.

������ Trung Quốc sử dụng chuyện d�n gian, c�c huyền thoại, v� c�c truyền thuyết, cũng như lịch sử, để hỗ trợ cho c�c sự tuy�n nhận l�nh thổ v� v�ng biển rộng lớn hơn.� C�c s�ch gi�o khoa Trung Quốc thuyết giảng kh�i niệm về Vương Quốc Trung T�m như l� nền văn minh cổ xưa nhất v� ti�n tiến nhất ở ngay trung t�m của vũ trụ, được bao quanh bởi c�c quốc gia nhỏ hơn, phần n�o bị H�n h�a tại Đ�ng v� Đ�ng � Ch�u vốn thường trực phải khấu đầu để b�y tỏ sự k�nh phục của họ. �Phi�n bản về lịch sử của Trung Hoa thường x�a bỏ một c�ch chủ � sự kh�c biệt giữa điều kh�ng g� kh�c hơn ảnh hưởng b� quyền, c�c mối quan hệ triều cống, quyền chủ tể tối cao, v� sự kiểm so�t thực sự.� Đồng h�nh với kh�i niệm đ� rằng những kẻ đ� l�m chủ trong qu� khứ sẽ kiểm so�t hiện tại v� tr� hoạch tương lai của ch�nh họ, Bắc Kinh lu�n lu�n đặt một gi� trị cao tr�n �l� b�i lịch sử� (thường l� một sự giải th�ch lịch sử theo kiểu x�t lại) trong c�c nỗ lực ngoại giao của n� nhằm thu đoạt c�c mục ti�u của ch�nh s�ch ngoại giao, đặc biệt để b�n r�t c�c sự nhượng bộ l�nh thổ v� ngoại giao từ c�c nước kh�c.� Gần như mọi quốc gia kề cận, v�o l�c n�y hay l�c kia, đều đ� cảm nhậm được sức mạnh của c�nh tay Trung Hoa � M�ng Cổ, T�y Tạng, Miến Điện, H�n Quốc, Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Phi Luật T�n v� Taiwan � v� đ� l� một đối tượng của lịch sử x�t lại của Trung Quốc.� Như t�c giả Martin Jacques đ� ghi nhận trong quyển When China Rules the World, �Chủ Nghĩa lấy Trung Hoa l�m Trung T�m thời đế quốc đ� định h�nh v� củng cố nền tảng d�n tộc chủ nghĩa Trung Hoa hiện đại�.

 

������ Nếu � tưởng chủ quyền quốc gia đi ngược về �u Ch�u thế kỷ thứ mười bảy v� hệ thống ph�t sinh với Hiệp Ước Westphalia, � tưởng chủ quyền tr�n biển nhiều phần l� một sự biến chế của Hoa Kỳ hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi m� Trung Hoa đ� nắm lấy để mở rộng c�c bi�n cương tr�n biển của n�.� Như Jacques ghi nhận, �� tưởng về chủ quyền tr�n biển l� một s�ng chế tương đối gần đ�y, c� ni�n kỳ từ năm 1945 khi Hoa Kỳ tuy�n bố rằng n� c� � định h�nh sử chủ quyền tr�n l�nh hải của n�.� Trong thực tế, C�ng Ước Li�n Hiệp Quốc về Luật Bi�n tượng trưng cho nỗ lực quốc tế nổi bật nhất để �p dụng kh�i niệm chủ quyền� đặt cơ sở tr�n đất liền cho biển tr�n to�n thế giới � d� thế, điều quan trọng l� n� b�c bỏ � tưởng chứng minh theo quyền lịch sử.� Ch�nh v� thế, cho d� Bắc Kinh tuy�n nhận khoảng t�m mươi phần trăm Biển Nam Trung Hoa như �l�nh hải lịch sử � của m�nh (v� giờ đ�y đang t�m c�ch n�ng sự tuy�n nhận n�y l�n cao th�nh một �quyền lợi cốt l�i� giống như sự tuy�n nhận của n� tr�n Đ�i Loan v� T�y Tạng), Trung Quốc, về mặt lịch sử, gần như c� nhiều quyền để tuy�n nhận Biển Nam Trung Hoa như l� Mexico c� để tuy�n nhận Vịnh Mexico (Gulf of Mexico) cho sự sử dụng độc quyền của n�, hay Iran tr�n Vịnh Ba Tư (Persian Gulf), hay Ấn Độ tr�n Ấn Độ Dương (Indian Ocean).

������ C�c đế quốc cổ đại hoặc đ� gi�nh được sự kiểm so�t l�nh thổ xuy�n qua sự x�m lược, s�p nhập, hay đồng h�a hay đ�nh mất ch�ng v�o tay c�c đối thủ sở đắc hỏa lực hay thuật ch�nh trị cao hơn.� Sự b�nh trướng hay thu hẹp l�nh thổ đ� l� quy chuẩn (norm), được x�c định bởi sức mạnh hay sự yếu k�m của một vương quốc hay đế quốc.� Ngay ch�nh � tưởng �c�c v�ng đất linh thi�ng� c� t�nh chất phi lịch sử (ahistorical) bởi v� sự kiểm so�t l�nh thổ được đặt tr�n kẻ cướp giựt hay ăn trộm những g� ngay trước đ� thuộc về người kh�c.� C�c bi�n cương của c�c triều đại nh� Tần, nh� H�n, nh� Đường, nh� Tống v� nh� Minh đ� s�ng ch�i v� t�n tạ qua lịch sử.� Một Trung Hoa đế quốc h�ng mạnh v� uy lực, rất giống với nước Nga thời sa ho�ng, c� khuynh hướng b�nh trướng v�o Nội � (Inner Asia) v� Đ�ng Dương khi cơ hội ph�t sinh v� sức mạnh cho ph�p.� Sự b�nh trướng tiệm tiến qua nhiều thế kỷ dưới c�c triều đại M�ng Cổ v� M�n Ch�u phi Trung Hoa đ� nới rộng sự kiểm so�t của Trung Hoa đế quốc tr�n T�y Tạng v� c�c bộ phận của v�ng Trung � ch�u (nay l� T�n Cương), Đ�i Loan v� Đ�ng Nam �.� Trung Quốc hiện đại, trong thực tế, l� một �quốc gia - đế quốc: empire-state� ngụy trang như một �quốc gia - d�n tộc: nation-state�.

������ Nếu c�c sự tuy�n nhận của Trung Quốc được biện minh tr�n căn bản lịch sử, khi đ� c�c tuy�n nhận lịch sử của người Việt Nam v� Phi Luật T�n dựa tr�n lịch sử của họ cũng sẽ như thế.� C�c người nghi�n cứu lịch sử � Ch�u đều hay biết, th� dụ, người d�n M� Lai li�n hệ đến người Phi Luật T�n ng�y nay c� một sự tuty�n nhận x�c đ�ng hơn tr�n Đ�i Loan so với sự tuy�n nhận của Bắc Kinh.� Đ�i Loan nguy�n thủy được định cư bởi người vốn l� hậu duệ của giống d�n M� Lai Đa Đảo (Malay-Polynesian) � tổ ti�n của c�c nh�m thổ d�n ng�y nay � l� những người đến cư tr� tại c�c đồng bằng duy�n hải đất thấp.� Mượn lời của nh� quan s�t � C�u nổi tiếng Philip Bowing, c� viết trong năm qua tr�n tờ South China Morning Post, �sự kiện rằng Trung Hoa c� một t�i liệu l�u đời về sử k� th�nh văn kh�ng v� hiệu h�a lịch sử của c�c nước kh�c như được minh họa bởi c�c chế t�c phẩm (artifacts), ng�n ngữ, n�i giống v� c�c n�t tương đồng di truyền, bằng chứng của c�ng cuộc mậu dịch v� du h�nh�.� Trừ khi người ta t�n đồng � niệm về chủ nghĩa ngoại lệ của Trung Hoa, �c�c tuy�n nhận lịch sử� của Trung Quốc cũng c� gi� trị y như c�c sự tuy�n nhận lịch sử của c�c vương quốc v� đế quốc kh�c ở Đ�ng Nam v� Nam � Ch�u.�

Trung Quốc đưa ra sự tuy�n nhận đối với c�c v�ng đất thuộc địa của c�c đế quốc M�ng Cổ v� M�n Ch�u sẽ tương tự như việc Ấn Độ đưa ra sự tuy�n nhận tr�n A Ph� H�n, Bangladesh, Miến Điện, M� Lai (Srivijaya), Nepal, Pakistan, v� Sri Lanka (T�ch Lan) tr�n căn bản ch�ng đ� từng l� c�c bộ phận hoặc của người Maurya, Chola, hay c�c đế quốc Mogul v� Ấn Độ thuộc Anh.

������ C�c sự tuy�n nhận của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa cũng l� một sự biến đổi lớn lao từ định hướng địa ch�nh trị trường kỳ của n� đến quyền lực lục đia.� Trong khi tuy�n nhận một truyền thống h�ng hải mạnh mẽ, Trung Hoa đ� đề cao c�c cuộc viễn chinh hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm của Trịnh H�a đến Ấn Độ Dương v� Phi Ch�u.� Nhưng như t�c giả Bowring vạch ra, �Trung Hoa thực sự l� kẻ đến sau trong việc hải h�nh vượt qu� c�c hải phận cận duy�n.� Trong nhiều thế kỷ, c�c người l�m chủ c�c đại dương l� những giống d�n Malay-Polynesian đ� thuộc địa h�a phần lớn thế giới, từ Đ�i Loan đến T�n T�y Lan (New Zealand) v� Hawaii ở hướng nam v� hướng đ�ng, v� đến đảo Madagascar ở hướng t�y.� C�c chiếc b�nh (lọ) bằng đồng đ� được trao đổi với Palawan, ngay ph�a nam của Scarborough, từ thời Khổng Tử.� Khi c�c người Trung Hoa h�nh hương Phật Gi�o như Ph�p Hiển (Faxian) đến Ấn Độ v� T�ch Lan tr�n thế kỷ thứ năm, họ đ� đi trong c�c chiếc thuyền được sở hữu v� điều khiển bởi người d�n M� Lai.� C�c thuyền từ nơi giờ đ� được biết l� Phi Luật T�n đ� mua b�n với Ph� Nam (Funan), một quốc gia tại phần giờ đ�y thuộc miền nam Việt Nam, một ngh�n năm trước khi c� triều đại nh� Nguy�n�.

������ V� sau c�ng, c�i được gọi l� �c�c sự tuy�n nhận lịch sử� của Trung Quốc đối với Biển Nam Trung Hoa thực sự chưa đầy �một thế kỷ�.� Ch�ng chỉ trở l�i về năm 1947, khi ch�nh phủ Quốc D�n Đảng của Tưởng Giới Thạch vẽ ra c�i được gọi l� �đường mười một vạch� tr�n c�c bản đồ Trung Hoa về Biển Nam Trung GHoa, bao gồm quần đảo Spratly v� c�c chuỗi đảo kh�c m� Quốc D�n Đảng đang cầm quyền tuy�n bố giờ đ�y thuộc chủ quyền của Trung Hoa.� Bản th�n họ Tưởng, n�i rằng �ng ta xem chủ nghĩa ph�t x�t Đức như một m� h�nh cho Trung Hoa, đ� say đắm với kh�i niệm của phe Quốc X� (Nazi) về một lebensraum (�kh�ng gian sinh tồn� cho d�n tộc Trung Hoa.� �ng ta đ� kh�ng c� cơ hội để bản th�n trở th�nh kẻ b�nh trướng bởi người Nhật đ� đặt �ng v�o thế ph�ng thủ, nhưng c�c kẻ vẽ bản đồ của chế độ d�n tộc chủ nghĩa đ� vẽ h�nh chữ U gồm mười một vạch trong một toan t�nh mở rộng �kh�ng gian sinh sống� của Trung Hoa tại Biển Nam Trung Hoa.� Theo sau sự chiến thắng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến v�o năm 1949, Cộng H�a Nh�n D�n Trung Quốc đ� chấp nhận �c� đảo chinh� bản đồ n�y, x�t lại � niệm của họ Tưởng th�nh một �đường ch�n vạch� sau khi x�a bỏ hai vạch tại Vịnh Bắc Việt hồi năm 1953 .

 

����� Kể từ khi kết th�c Thế Chiến Thứ Nh�, Trung Quốc đ� vẽ lại c�c bản đồ của n�, t�i x�c định c�c bi�n giới, chế tạo bằng chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để tạo lập c�c thực thể l�nh thổ mới, đặt t�n lại c�c h�n đảo, v� t�m c�ch �p đặt phi�n bản về lịch sử của n� tr�n c�c hải phận trong v�ng.� Sự th�ng qua ph�p chế nội bộ trong năm 1992, �Luật Về L�nh Hải v� C�c Khu Vực Kề Cận của ch�ng�, đ� tuy�n nhận bốn phần năm Biển Nam Trung Hoa, được tiếp nối bởi c�c vụ đụng độ vũ trang với hải qu�n Phi Luật T�n v� Việt Nam trong suốt thập ni�n 1990.� Gần hơn, việc ph�i một số lượng đ�ng đảo c�c thuyền đ�nh c� v� c�c t�u hải gi�m Trung Quốc đến c�c v�ng biển tranh chấp trong điều kh�ng kh�c g� một �cuộc chiến tranh nh�n d�n tr�n biển cả� l�m c�c sự căng thẳng d�ng cao hơn nữa.� Theo lời b�nh luận của Sujit Dutta, �chủ nghĩa thu hồi đất cũ (irredentism) kh�ng s�t giảm của Trung Quốc [được] đặt tr�n � l� thuyết rằng v�ng ngoại vi phải được chiếm cứ hầu bảo to�n cho v�ng l�i cốt.� Đ�y l� một � niệm c� tinh chất đế quốc trong thực chất đ� được ti�u h�a v�o trong cơ thể (internalized) bởi c�c kẻ theo đuổi d�n tộc chủ nghĩa Trung Hoa � cả phe Quốc D�n Đảng lẫn phe Cộng Sản�.� C�c mưu toan của chế độ [hiện thời] nhằm vươn tới c�c bi�n cương địa dư tưởng tượng của n� với �t căn bản lịch sử đ� từng v� tiếp tục g�y ra c�c hậu quả chiến lược l�m mất ổn định cao độ�.

������ Một l� do người d�n Đ�ng Nam � thấy kh� để chấp nhận c�c sự tuy�n nhận l�nh thổ của Trung Quốc l� ch�ng mang theo b�n m�nh một sự khẳng quyết t�nh ưu việt chủng tộc H�n tr�n c�c sắc d�n v� đế quốc � Ch�u kh�c.� T�c giả Jay Batongbacal của trường luật Đại Học Phi Luật T�n (University of the Philippines) ph�t biểu: �Về mặt trực gi�c, sự chấp nhận đường ch�n vạch l� một sự phủ nh�n tương ứng ngay ch�nh căn cước v� lịch sử của c�c tổ ti�n người Việt Nam, Phi Luật T�n, v� M� Lai; thực tế đ� l� sự phục hồi hiện đại sự phỉ b�ng của Trung Quốc về c�c d�n tộc phi H�n l� �lo�i man rợ: barbarians� kh�ng đ�ng được hưởng sự t�n trọng v� phẩm c�ch b�nh đẳng như c�c con người�.

������ C�c đế quốc v� c�c vương quốc chưa hề h�nh sử chủ quyền.� Nếu c�c sự tuy�n nhận lịch sử c� bất kỳ hiệu lực n�o khi đ� M�ng Cổ c� thể tuy�n nhận to�n thể � Ch�u, đơn giản bởi n� từng c� lần chinh phục c�c v�ng đất tr�n lục địa.� Tuyệt đối kh�ng c� căn bản lịch sử để hậu thuẫn cho một trong c�c tuy�n nhận theo đường c�c vạch, đặc biệt khi x�t thấy c�c l�nh thổ của c�c đế quốc Trung Hoa chưa bao giờ được giới hạn một c�ch cẩn thận như c�c quốc gia-d�n tộc, m� đ�ng hơn đ� hiện diện như c�c khu vực ảnh hưởng tỏa ra xa từ một trung t�m văn minh.� Đ�y l� quan điểm của Trung Quốc đương đại m� Trung Quốc đ� khởi ph�t trong thập ni�n 1960, trong khi thương thảo c�c ranh giới đất liền của n� với v�i trong số c�c nước l�ng giềng của n�.� Nhưng đ�y kh�ng phải lập trường m� n� c� ng�y nay trong c�c sự đụng độ về bản đồ, ngoại giao v� qu�n sự ở cường độ thấp.� Sự t�i giải th�ch li�n tục về lịch sử để th�c đẩy c�c tuy�n nhận ch�nh trị, l�nh thổ, v� tr�n biển đương thời, cộng với khả năng của giới l�nh đạo cộng sản để đ�ng mở �c�c vụ b�ng nổ nhuốm d�n tộc chủ nghĩa� như một v�i nước trong c�c thời khắc căng thẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam H�n, Ấn Độ, Việt Nam, v� Phi Luật T�n, khiến Bắc Kinh sẽ kh� khăn để đoan chắc với c�c l�n bang rằng �sự trổi dậy h�a b�nh� của n� th� ho�n to�n c� t�nh chất h�a b�nh.� Bởi v� c� s�u nước tuy�n nhận c�c b�i san h�, c�c đảo, c�c mỏm đ� v� c�c mỏ dầu tại Biển Nam Trung Hoa, c�c sự tranh chấp Quần Đảo Spratly, theo định nghĩa, l� c�c sự tranh chấp đa tầng đ�i hỏi sự trọng t�i quốc tế.� Nhưng Bắc Kinh khăng khăng rằng c�c sự tranh chấp n�y c� t�nh chất song phương hầu đặt c�c đối thủ của n� v�o giữa c�i đe của lịch sử x�t lại của n� v� chiếc b�a quyền lực qu�n sự đang tăng trưởng của n�. /-

__

Mohan Malik l� gi�o sư về an ninh � Ch�u tại Trung T�m Nghi�n Cứu An Ninh � Ch�u-Th�i B�nh Dương, Honolulu.� C�c quan điểm tr�nh b�y l� của ri�ng t�c giả.� T�c phẩm gần nhất của �ng l� quyển China and India: Great Power Rivals.� T�c giả xin c�m ơn c�c Tiến Sĩ Justin Nankiwell, Carlyle Thayer, Denny Roy v� David Fouse về c�c � kiến của họ tr�n b�i viết n�y.

____

Nguồn: Mohan Malik, Historical Fiction, China�s South China Sea Claims, World Affairs, May-June 2013, c�c trang 83-90.

_____

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH

*a. Westphalia: một v�ng thuộc Đức quốc ng�y nay, đại kh�i nằm giữa hai con s�ng Rhine v� Weser, v� tọa lạc cả hai ph�a bắc v� nam con s�ng Ruhr.� Westphalia nổi tiếng do H�a Ước năm 1648 (1648 Peace of Westphalia Treaty) kết th�c Cuộc Chiến Tranh Ba Mươi năm (1618-1648) giữa c�c l�nh địa của c�c �ng ho�ng đ� t�n ph� v�ng Trung �u.� C�c hiệp ước Westphalia đ� khởi xướng một hệ thống mới của trật tự ch�nh trị tại Trung �u, đặt tr�n kh�i niệm quốc gia c� chủ quyền được cai trị bởi một vị chủ t�, v� thiết lập nguy�n tắc trong quốc tế sự vụ chống lại sự can thiệp v�o c�ng việc nội bộ của nước kh�c.� Hiệp ước Westphalia tượng trưng cho sự chiến thắng của c�c đơn vị chủ quyền tr�n đế quốc, v� g�p phần tạo lập c�c quốc gia dựa tr�n quyền d�n tộc tự quyết.� C�c nguy�n tắc của Hiệp Ước Westphalia đ� được ph�t triển v� k�t hợp v�o luật quốc tề v� m� h�nh quốc gia-d�n tộc trong trật tự thế giới hiện đại.� Ch� của người dịch

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

16.06.2014

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2014