Milton E Osborne

GI�O DỤC v� CHỮ QUỐC NGỮ --

Sự Ph�t Triển Một Trật Tự Mới

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

Dưới đ�y l� bản dịch của hai Chương trong quyển khảo cứu nổi tiếng của t�c giả Milton E. Osborne, nhan đề The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), thảo luận về vai tr� v� ảnh hưởng của Quốc Ngữ trong giai đoạn ban đầu của sự hiện di�n của Ph�p tại Việt nam, sẽ lần lượt được đăng tải tr�n Gi� O:

 

Chương 4: Gi�o Dục v� Chữ Quốc Ngữ -- Sự Ph�t Triển Một Trật Tự Mới

Chương 8: Gi�o Dục v� Quốc Ngữ -- Một Sự Chiến Thắng Hạn Chế

 

***

 

 

Sự thay thế sau rốt bộ luật h�nh sự của Ph�p cho hệ thống ph�p l� của Việt Nam l� điều kh�ng tr�nh khỏi; x� hội bản xứ đ� kh�ng c� khả năng để đưa ra c�c sự thay thế cho sự loại bỏ chậm chạp nhưng cương quyết c�c phương ph�p Việt Nam.� Một sự thay đổi c�n quyết liệt hơn nữa li�n can đến sự ph�t triển ngữ học v� gi�o dục đ� xảy ra trong c�ng thời kỳ đ�, nhưng đ� c� một sự kh�c biệt.� Trong khi sự giới thiệu quốc ngữ [chữ Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tr�n một quy m� rộng r�i khắp v�ng Nam Kỳ cũng tượng trưng cho một sự cắt l�a với qu� khứ, nơi đ�y người Việt Nam đ� đ�ng một vai tr� then chốt với người Ph�p v� đ� kh�ng chỉ thụ nhận, bởi kh�ng c� sự lựa chọn giải ph�p n�o kh�c.� Trong gi�o dục, phần được đ�ng giữ bởi người Việt Nam �t nổi bật hơn, song ở đ�y một lần nữa, c� một cảm thức về sự đ�ng g�p t�ch cực, cho d� chỉ bởi một số lượng hạn chế c�c người Việt Nam.� X� hội Nam Kỳ kh�ng thể cung cấp c�c nh� h�nh ch�nh hay chuy�n vi�n Việt Nam trong ng�nh tư ph�p Việt Nam, nhưng n� đ� c� thể v� đ� đ�o tạo ra một số lượng hạn chế c�c c� nh�n xuất sắc m� nếu kh�ng c� họ, ước vọng nồng nhiệt của người Ph�p để ghi t�m c�c điểm cốt yếu trong hệ thống gi�o dục v� triết l� x� hội của họ c� thể đ� kh�ng tạo ra được bất kỳ sự tiến bộ đ�ng kể n�o.

 

C�c nh� cai trị Ph�p đ� tin tưởng rằng quốc ngữ sẽ cung cấp cho họ một vũ kh� mạnh trong trận chiến để loại trừ chữ viết Trung Hoa [H�n tự hay chữ nho] vốn l� động cơ truyền đạt cổ truyền cho c�c t�i liệu viết tại Việt Nam.� H�n tự, được viết đ�ng y như tại Trung Hoa nhưng được ph�t �m theo một lối Việt Nam, đ� được sử dụng trong c�ng việc ch�nh thức v� trong c�c t�c phẩm văn chương.� Trong chữ n�m [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], một hệ thống chữ viết kh�c được d�ng một c�ch rộng r�i tại Việt Nam, H�n tự một lần nữa l� căn bản, nhưng ở đ�y c�c chữ viết đ� biến th�nh ng�n ngữ Việt Nam.� C�c sự kết hợp c�c chữ viết được d�ng để mang lại cả � nghĩa lẫn �m thanh của một từ Việt Nam c� biệt.� Kh�ng c� hệ thống n�o trong c�c hệ thống n�y hấp dẫn đối với c�c gi�o sĩ truyền đạo Thi�n Ch�a ban đầu, l� c�c kẻ thay v�o đ� đ� s�ng chế ra một c�ch k� �m để viết tiếng Việt bằng mẫu tự La M�.� Nh� truyền gi�o vĩ đại Alexander de Rhodes được kể c� c�ng trong việc điển chế v� hệ thống h�a sự k� �m, c�ng tr�nh của c�c đồng sự truyền gi�o của �ng.� C�ch ph�t �m của lối k� tự quốc ngữ được đặt tr�n tiếng Bồ Đ�o Nha, l� ng�n ngữ giao dịch của người �u Ch�u tại Việt Nam trong thế kỷ thứ mười bẩy.� Sự đ�ng g�p lớn lao của Alexander de Rhodes l� c�c dấu giọng (tone marks) [tức c�c dấu sắc, huyền, hỏi, ng� nặng trong tiếng Việt, ch� của người dịch] v� c�c dấu biến �m (diacritics) [tức c�c dấu mũ (^) hay dấu m�c trong cac chữ ơ, ư, ch� của người dịch] để chỉ sự ph�t �m nguy�n �m, c� t�nh c�ch cốt yếu để hiểu được ng�n ngữ Việt Nam. (1).

 

C�c nỗ lực truyền đạo đ� giữ cho quốc ngữ được tồn tại, nhưng trước khi c� sự cập bến của người Ph�p, sự sử dụng c�ch k� �m chưa được thấm nhập tới th�nh phần kh�ng theo Thi�n Ch�a trong d�n ch�ng.� Sự sử dụng ch�nh yếu của n� l� d�ng trong sự giảng đạo v� trong c�c sự tường thuật ngắn vể cuộc đời của c�c th�nh được lưu truyền bởi c�c ph�i bộ truyền gi�o.� Quyết định của ch�nh quyền Ph�p tại Nam Kỳ để sử dụng c�ch k� �m quốc ngữ thay v� dựa tr�n H�n tự trong bản chất c� t�nh c�ch thực dụng.� C�c th�ng dịch vi�n người Việt do c�c ph�i bộ truyền gi�o huấn luyện với họ người Ph�p đ� phải nương tựa v�o l�c ban đầu, đ� được huấn luy�n bằng quốc ngữ nhiều hơn l� sự sử dụng đến chữ H�n.� Hơn nữa, người Ph�p nhận thức được rằng sự hiện diện của một k� �m la m� h�a đ� mở con đường học hỏi tiếng Việt m� kh�ng cần phải th�ng thạo kiểu chữ tả � (ideograms).� Tầm quan trọng về mặt th�ng suốt trong việc học chữ H�n được nh�n nhận, nhưng nhu cầu thực tế đ� giảm bớt [tầm quan trọng đ�].

 

Vượt qu� c�c sự cứu x�t thực tế l� c�c h�m � c� t�nh c�ch triết l�. Đa số c�c nh� h�nh ch�ng Ph�p thủa ban sơ nghi ngờ s�u xa ngụ � lu�n l� của Khổng học trong việc giảng dậy chữ H�n.� Cả c�c nh� cai trị v� c�c gi�o sĩ truyền đạo tại Nam Kỳ, trong c�c thập ni�n s�u mươi v� bẩy mười, đ� tin tưởng rằng sự cải đạo to�n thể d�n ch�ng Việt Nam l� một khả năng thực sự.� Một sự ph�t triển như thế, điều được n�u ra nhằm cung cấp một sự bảo đảm l�ng trung th�nh với nước Ph�p, sẽ được trợ lực bởi sự sử dụng chữ quốc ngữ.� Bất kỳ sự sử dụng tiếp tục chữ H�n n�o, mặt kh�c, được nh�n như c� thể ngăn trở sự tiến triển của c�c � tưởng t�n tiến v� khuyến kh�ch c�c kẻ c�n trung th�nh với triều đ�nh Huế.� Bởi v� sự khẳng quyết của Ph�p về c�c mối nguy hiểm của việc duy tr� c�c h�nh thức cổ truyền trong gi�o dục v� sự sử dụng H�n tự, Nam Kỳ đ� ở tr�n tuyến đầu của một sự thay đổi triệt để sau rốt đ� lan tr�n tr�n khắp c�i Việt Nam.� Niềm tin ở quốc ngữ như một giải ph�p thay thế cho chữ H�n v� như một bước tiến đầu ti�n then chốt cho sự sử dụng đ�ng mong ước hơn nữa của Ph�p ngữ đ� kh�ng bị chống đối n�i chung bởi c�c người Ph�p tại Đ�ng Dương.� Đ� c� c�c ngoại lệ, nhưng tiếng n�i của Luro [người đề nghị v� phụ tr�ch việc huấn luyện c�c nh�n vi�n cai trị người Ph�p l�c khởi đầu thời Ph�p thuộc, ch� của người dịch], l� một �m thanh lạc l�ng trong sự đồng thanh chấp thuận sự sử dụng quốc ngữ v� tiếng Ph�p trong c�c định chế gi�o dục của thuộc địa. (2)

 

Trong tất cả c�c sự ph�t triển tại c�c l�nh vực ng�n ngữ v� gi�o dục, sự thiết lập v� duy tr� một tờ b�o ch�nh quyền bằng chữ quốc ngữ c� lẽ l� một sự kiện đ�ng để � nhất. Đ�y l� tờ Gia Định B�o (Journal of Gia Định).� C�c hy vọng được mong chờ nơi tờ b�o n�y v� t�nh chất của sự tuy�n truyền ch�nh trị v� x� hội của n� tượng trưng cho tinh t�y của c�c nỗ lực của Ph�p nhằm thực hiện một sứ mệnh khai h�a.� Tờ b�o li�n kết chặt chẽ với c�c nỗ lực để b�nh trướng gi�o dục, v� c�c th�nh vi�n Việt Nam trong nh�n vi�n của n� l� c�c người đ�ng g�p quan trọng nhất v�o c�c b�i viết bằng quốc ngữ được ấn h�nh trong thế kỷ thứ mười ch�n. Đ� Đốc de La Grandi�re, với nhiệt t�nh d�nh cho gi�o dục v� việc la m� h�a k� �m tiếng Việt, đ� nh�n thấy gi� trị của việc ấn h�nh một tờ b�o bằng quốc ngữ.� �ng ta � thức n� c� một gi� trị gi�o dục cũng như về mặt th�ng tin thuần t�y.� Đ�y l� năm 1864.(3)� Số b�o đầu ti�n của Gia Định B�o ra mắt ng�y 15 th�ng Tư năm 1865 dưới quyền thống đốc l�m thời của Đ� Đốc Roze.� Trong một bức điện văn m� tả biến cố n�y, �ng Roze đ� ph�t biểu một c�ch r� r�ng c�c mục ti�u của tạp ch� h�ng th�ng mới n�y.� Mục đ�ch của n� �nhắm tới việc ph�n ph�t trong d�n ch�ng bản xứ c�c tin tức đ�ng cho họ quan t�m đến, để đề xuất với họ t�m hiểu về c�c tiến tr�nh mới cho sự cải tiến n�ng nghiệp v� sự tiến bộ trong kỹ nghệ n�ng th�n.�(4)� �Tin tức đ�ng lưu �� c� nghĩa cả những t�i liệu tr�nh b�y ch�nh quyền Ph�p dưới �nh s�ng huy ho�ng nhất lẫn c�c b�i b�o c� thể được m� tả trong c�ch n�i của thế kỷ thứ mười ch�n l� �kiến thức hữu dụng�: c�c b�i b�o được nhắm v�o việc cải thiện sản phẩm n�ng nghiệp hay th�ng tin cho c�c độc giả tr�n thế giới b�n ngo�i Việt Nam.� Bốn năm sau ng�y th�nh lập tờ b�o, Đ� Đốc Ohier đ� đề nghị lồng c�c phụ bản (v�o trong khu�n khổ th�ng thường của tờ b�o) kể lại cuộc đời của c�c danh nh�n Ph�p, đưa ra c�c giai thoại lấy từ c�c tạp ch� bằng tranh hay từ c�c tờ b�o thiếu nhi, l�m sao để đem lại cho d�n bản xứ một sự t�n thưởng đặc t�nh của ch�ng ta dưới c�c sự tr�nh b�y cao đẹp nhất, v� để khiến cho họ quan t�m v� [cũng để] thỏa m�n nhiệt t�nh họ c� về việc đọc b�o (5)

 

Trong những năm ấn h�nh đầu ti�n, Gia Định B�o l� tờ b�o h�ng th�ng.� Sau đ� n� được ấn h�nh hai lần mỗi th�ng v� sau c�ng, v�o cuối thế kỷ, tr�n căn bản h�ng tuần.� Trong sự tổ chức của n�, tờ b�o rập theo khu�n mẫu được đặt ra bởi tờ b�o bằng Ph�p ngữ c� t�n Courrier de Saigon.� C� hai phần, phần đầu tr�nh b�y c�c đoạn tin ch�nh thức, phần thứ nh� c�c t�i liệu kh�ng ch�nh thức, c� sự quan t�m của quảng đại quần ch�ng hơn.� Trong thực tế, trong những số ph�t h�nh đầu ti�n, sự ph�n chia n�y kh�ng được nhận thấy r� n�t.� Một b�i b�o trong phần ch�nh thức thường tr�nh b�y �t nhiều c�c tin tức b�n lề.� Sau n�y, khi giới thư lại h�nh ch�nh của thuộc địa gia tăng v� số c�c quyết định v� sắc lệnh được c�ng bố h�ng tuần nhiều hơn, sự ph�n chia giữa c�c th�ng b�o ch�nh thức đ�ng nghĩa với c�c b�i viết trở n�n r� r�ng hơn.

 

Số thứ tư trong năm ấn h�nh đầu ti�n l� một th� dụ tuyệt hảo của tờ b�o trong c�c năm khởi đầu của n�.� Phần đầu tờ b�o l� c�c ghi nhận về thời tiết v� c�c gi� cả thị trường.� Một số tin tức, chẳng hạn như c�c tin tức li�n quan đến sự th�nh lập một hội đồng về n�ng nghiệp v� mậu dịch, chỉ c� �t, nếu c�, bất kỳ � nghĩa ch�nh trị n�o v� được tr�nh b�y kh�ng c� vỏ bọc tuy�n truyền.� Nhưng một sự bao phủ d� dặt trở n�n r� r�ng trong c�c sự loan b�o kh�c.� Sự rời khỏi nhiệm sở của một vi�n chức người Ph�p được tường thuật:

 

�ng Boresse, quan bố [tiếng Việt trong nguy�n bản, tức quan bố ch�nh, phụ tr�ch c�c việc h�nh ch�nh, t�i ch�nh trong tỉnh, tương đương với chức vụ tỉnh trưởng sau n�y, ch� của người dịch] của Gia Định, về mới trở về �u Ch�u�� Bởi v� đau ốm, �ng đ� để lại đ�ng sau nhiều người Việt Nam m� �ng y�u mến v� tr�ng nom trong s�u năm qua.� Mọi người trong huyện [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] B�nh Long v� B�nh Dương sẽ c� thể nhớ đến �ng l� con người tử tế v� c�ng bằng biết bao, đến khi họ nh�n thấy �ng quay lại đ�y với sự mạnh khỏe, họ sẽ rất vui mừng.� Đ�y l� l� do tại sao �ng Philastre được bổ nhiệm l�m quan bố.� Khi �ng ta ở Định Tường v� Bi�n H�a, �ng ta đ� c� tiếng tốt ở cả hai tỉnh tr�n, v� thế d�n ch�ng sẽ ngưỡng mộ �ng. (6)

 

C�c mẫu tin kh�ng c� t�nh c�ch ch�nh trị c� thể được tr�nh b�y kh�ng cần th�u dệt, nhưng sư rời nhiệm sở của một vi�n chức cao cấp trong Sở Sự Vụ Bản Xứ đặt ra nhu cầu, trong đầu �c c�c vi�n chức Ph�p v�o l�c đ�, việc cần nhấn mạnh cho kẻ bị trị biết về đức t�nh cao cả của c�c nh� cai trị.� Khi đề cập đến sự điều đ�nh tại triều đ�nh Huế, c�c khuynh hướng tuy�n truyền trở n�n mạnh bạo hơn:

 

Một loạt c�c h�nh vi lừa dối v� tr�o trở đ� ngăn cản h�a b�nh giữa hai xứ sở, Nh� Vua An nam đ� hiểu được sức mạnh của Ph�p v� đ� c�n nhắc hai b�n thuận v� chống v� đ� nh�n thấy kh�ng c�n l� do để l�m mất l�ng tin hay l�m kh� khăn.� Nh� vua đ� gửi người đi học Ph�p ngữ; �ng đ� ph�i quan chức đi mua c�c t�u chạy bằng hơi nước; v� �ng đ� ra lệnh cho c�c thợ thủ c�ng học hỏi về c�c m�y m�c.� Nghe n�i rằng triều đ�nh mong muốn đ�n tiếp c�c người học thức từ Ph�p để họ c� thể dạy dỗ nghề nghiệp cho c�ng ch�ng.� Cũng nghe n�i rằng triều đ�nh đ� quyết định thu thập mọi tin tức sẽ gi�p cho họ duy tr� c�c quan hệ với nước Ph�p.� Nhất định l� kh�ng c�n nghi ngờ về � tưởng hợp t�c c�ng nhau nữa.� Ch�nh quyền Huế biết rằng nước Ph�p kh�ng c� � định gạt sang b�n thẩm quyền của An Nam hay cướp ph� xứ sở.� Bởi v� ph�a An Nam ngoan cố, n� sẽ kh�ng đồng � để giảng h�a.� Nhưng giờ đ�y thời điểm để thiết lập h�a b�nh đ� đến. (7)

 

Hiểu cho s�t nghĩa, c� thể những b�i viết như thế ti�u biểu cho việc giảng thuyết d�nh cho c�c ngườI đ� cải đạo, bởi số đ�ng c�c kẻ c� khả năng đọc quốc ngữ l� những người theo đạo C�ng Gi�o vốn đ� sẵn kh�ng tin tưởng nơi triều đ�nh Huế.� � hướng của b�i b�o th� r� r�ng.� Rằng b�i b�o c� biệt n�y đ� được k� t�n bởi �ng Paulus Huỳnh Tịnh Của, một trong những người Việt Nam theo đạo C�ng Gi�o nổi tiếng nhất l�m việc trong nha sở Ph�p, nhấn mạnh đến sự ly th�n tuyệt đối của thế hệ C�ng Gi�o Việt Nam đầu ti�n sống dưới sự cai trị của Ph�p với ch�nh quyền cổ truyền của ho.

 

Sự nhấn mạnh nghi�m trọng được đặt tr�n gi� trị của sự hợp t�c với ch�nh quyền Ph�p.� Tờ b�o đ� đưa ra một điểm đặc biệt về việc ghi nhận c�c sự tưởng thưởng d�nh cho c�c người Việt Nam li�n kết chặt chẽ với sự thiết lập của ch�nh quyền thuộc địa mới tại Nam Kỳ.� Mẫu tin đầu ti�n trong số ra trong th�ng T�m 1865 ghi nhận c�c sự tưởng thưởng d�nh cho c�c ch�nh tổng �đ� l�m việc lầu d�i cho điều tốt của xứ sở, những kẻ đ�ng tin cậy, v� những kẻ đ� biểu lộ l�ng trung th�nh hơn loại th�ng thường.�� C�c người n�y đ� nhận được c�c chứng chỉ nhận thực l�ng trung th�nh của họ v� được hứa một khoản thưởng t�i ch�nh h�ng th�ng li�n tục từ ch�nh quyền. (8)

 

V�o thập ni�n 1870, khuynh hướng biến tờ b�o ng�y c�ng trở n�n c� t�nh c�ch h�nh ch�nh r� rệt hơn nữa.� Những c�c phần về kiến thức hữu dụng vẫn tiếp tục hiện diện, th� dụ, �Sự Tiếp Tục Hoạt Động Kinh Doanh L�ng [Chim, Vịt] v� c�c Trại Sản Xuất L�ng Vịt trong V�ng Ki�n Giang,� (9) v� một loạt d�i nhiều b�i viết về lịch sử Việt Nam.(10)� Sự đề cập đến triều đ�nh Huế �t được đưa ra m� kh�ng c� việc nhấn mạnh đến t�nh tốt của Ph�p v� sự xảo quyệt của Việt Nam.� Những người Việt Nam kh�ng cự lại quyền lực của Ph�p tại miền nam đ� bị tố c�o trong một b�i b�o v�o l�c k� kết một h�a ước giữa Ph�p v� Việt Nam năm 1874:

 

Ph�p v� An Nam đ� k� kết một h�a ước r�ng buộc họ sống như c�c nước l�ng giềng h�a b�nh.� Ch�nh phủ An Nam chuyển giao s�u tỉnh Nam Kỳ cho ch�nh phủ Ph�p.� Về phần m�nh, ch�nh phủ Ph�p đồng � viện trợ cho ch�nh phủ An Nam sao cho c�c tỉnh v� th�nh phố của n� c� thể tồn tại trong h�a b�nh.

 

Ch�nh v� thế, c�c binh sĩ k�u gọi v� �m mưu nổi loạn, những kẻ th�c đẩy việc hy sinh c�c l�ng x� v� đ�n �p d�n ch�ng, kh�ng c�n bất cứ l� do g� để nổi loạn, [g�y ra sự] t�n �c, hay kh�ch động quần ch�ng.(11)������� ������ ���

 

Sự ban h�nh c�c quyết định v� c�c sắc lệnh về c�c vấn đề thuế kh�a v� ph�p l� xảy ra b�n cạnh c�c b�i viết nặng về ch�nh trị tr�n c�c thời cuộc, c�c b�i b�o kiến thức hữu dụng, v� ngay cả c�c mẫu quảng c�o về c�c kỳ đua ngựa sắp tới.�

 

Bất kể những g� đ� được loan b�o hay m� tả, điểm quan trọng l� n� đ� được l�m bằng bản văn viết bằng quốc ngữ.� Số s�ch bằng quốc ngữ ở giai đoạn n�y trong lịch sử Nam Kỳ vẫn c�n rất �t.� Gia Định B�o kh�ng thể cung cấp dễ d�ng hay quan t�m đến việc học đọc cho c�c trường học c� d�ng quốc ngữ để giảng dạy, nhưng n� l� một biểu tượng của c�ch thức theo đ� sự k� �m la m� h�a c� thể được sử dụng.� V� như thế, n� đ� đ�ng một vai tr� thiết yếu trong việc thực hiện sự loại trừ ho�n to�n chữ H�n.

 

����������� C�c người Ph�p đ� đ�ng giữ một phần quan trọng trong việc tổ chức v� bi�n tập tờ Gia Định B�o.� Chủ bi�n đầu ti�n của n� l� �ng Potteaux, một th�ng dịch vi�n cho ch�nh quyền Ph�p trong nhiều năm.�� Nhưng trong số nh�n vi�n cộng t�c với tờ b�o, đ�ng lưu � nhất l� hai nh� ngữ học Việt Nam nổi tiếng, P�trus K� v� Paulus Của.� Cũng l� người C�ng Gi�o như �ng K�, �ng Của gia nhập ch�nh quyền Ph�p năm 1861 v� li�n kết chặt chẽ với n� cho đến khi �ng từ trần v�o năm 1907.� �ng bi�n soạn một quyển từ điển Việt ngữ quan trọng [tức quyển Đại Nam Quấc �m Tự Vị, c� thể xem l� quyển tự điển tiếng Việt đầu ti�n (?) do một người Việt Nam bi�n soạn, ch� của người dịch], được ấn h�nh tại S�ig�n trong năm 1895 v� 1896, v� c�c t�c phẩm của �ng bao gồm từ c�c bản dịch c�c c�u chuyện cổ xưa của Việt Nam từ H�n tự sang quốc ngữ, đến c�c b�i viết v� tiểu luận về c�c đề t�i khoa học v� sự bi�n soạn c�c ph�n quyết của t�a �n. (12) �t phần về c� t�nh của �ng Của được ph�t hiện ra từ c�c t�i liệu về cuộc đời của �ng. �ng c� khả năng v� chịu kh�, nhưng tr�i với �ng P�trus K�, người c� qu� nhiều điều được hay biết v� c� t�nh kh� được ph�c họa rất r� rệt qua thư t�n c� nh�n của �ng ta, �ng Của vẫn chưa được x�c định một c�ch chắc chắn rằng c� phải l� một học giả hay kh�ng.� Sự đ�ng g�p của �ng v�o sự ph�t triển một nền văn học quốc ngữ kh�ng c� g� phải ngờ vực.� Sự kiện rằng tờ Gia Định B�o đ� c� thể hoạt động được l� nhờ rất nhiều ở năng lực của �ng.� Nhưng c�c duy�n cớ s�u xa hơn cho sự cộng t�c nhiệt t�nh của �ng với người Ph�p v� quan điểm của �ng về quan hệ Ph�p-Việt h�y c�n m� mờ. Đạo Thi�n Ch�a của �ng c� thể cung cấp c�u trả lời hay nhất. (13)

 

����������� Điều kh�ng g�y ngạc nhi�n rằng c�c sử gia Ph�p về thời kỳ thuộc địa đ� t�m thấy P�trus Trương Vĩnh K� l� một nh�n vật đ�ng ngưỡng mộ biết bao. �ng l� một người c� c�c khả năng ngữ học vĩ đại v� c�ng l�c một kẻ tin tưởng nồng nhiệt nơi vai tr� m� người Ph�p tự tuy�n xưng cho m�nh tại Việt Nam.(14)� Sinh năm 1837, con của một v� quan, Trương Vĩnh K� được dậy dỗ bởi c�c linh mục C�ng Gi�o, Việt Nam cũng như Ph�p. Đia vị ch�nh thức của cha �ng c� vẻ như đ� bảo vệ cho gia đ�nh trực tiếp của �ng trong thời thơ ấu của cuộc đời �ng K�, nhưng cha �ng chết đi l�c �ng K� được ch�n tuổi, v� gia đ�nh đ� phải chịu khổ v� t�n ngưỡng của họ trong thời kỳ ngược đ�i t�n gi�o.� Học chữ H�n, kinh nghiệm học tập đầu ti�n của �ng K�, được tiếp nối với việc học quốc ngữ, trước ti�n tại Nam Kỳ v� sau đ� tại ph�i bộ truyền đạo C�ng Gi�o ở Pinhalu, Căm Bốt, gần triều đ�nh tại Oudong.� Một khả năng thi�n ph� về c�c ng�n ngữ đ� được k�ch th�ch tại trung t�m huấn luyện gi�o sĩ truyền đạo được duy tr� bởi d�ng Truyền Gi�o Hải Ngoại Ph�p tr�n đảo P�nang [M� Lai].� �ng đ� ở đ� trong 6 năm, từ 1852 đến 1858.� Ch�nh ở tại P�nang m� �ng K� đ� c� được sự tiếp x�c đầu ti�n với tiếng Ph�p v� đạt được sự th�ng suốt n� đ� khiến cho �ng trở th�nh một trong c�c th�ng dịch vi�n đầu ti�n trong thủa ban sơ của sự hiện diện của người Ph�p.

 

����������� P�trus K� đ� quay trở về Nam Kỳ trong năm 1859; �ng đ� quyết định kh�ng đi tu nhưng vẫn tiếp tục l�m việc như một th�y gi�o tại c�c ph�i bộ C�ng Gi�o.�� Ch�nh xuy�n qua c�c sự li�n kết với ph�i bộ truyền gi�o của �ng m� �ng đ� được đề nghị với c�c th�nh vi�n của c�c lực lượng Ph�p tại v�ng S�ig�n, v� trong năm 1860 đ� khởi sự sự l�m việc của �ng v� sự tận tụy với ch�nh quyền Ph�p.� Trong suốt bốn thập ni�n của sự li�n kết n�y, c�c bổn phận v� tr�ch nhệm của �ng th� rất nhiều. �ng l�m việc ban đầu với tư c�ch một th�ng dịch vi�n v� th�p t�ng ph�i bộ Việt Nam sang �u Ch�u, trong năm 1863, khi triều đ�nh Huế t�m c�ch t�i x�t h�a ước đ� k� với Ph�p năm 1862.� �ng đ� dạy tại trường Cao Đẳng Th�ng Dịch (Coll�ge des Interpr�tes) v� sau đ� tại trường Hậu Bổ [?](Coll�ge des Stagiaires).� C� một l�c �ng l� chủ bi�n cho tờ Gia Định B�o.� Với �ng, ch�nh quyền Ph�p đ� mong t�m lời cố vấn về c�c vấn đề h�nh ch�nh.(15)� Trong thập ni�n bẩy mươi v� t�m mươi, �ng bước ra ngo�i c�ng việc cố vấn thuần t�y trong ch�nh trị sự vụ, trước ti�n, �ng đ� thảo một bản b�o c�o chi tiết về t�nh h�nh ch�nh trị tại Bắc Việt, v� sau n�y l�m việc với sự cộng t�c chặt chẽ với �ng Paul Bert trong tư c�ch một nh�n vi�n của Ph�p tại triều đ�nh Huế.� Trong suốt cuộc đời �ng, �ng l� một t�c giả viết rất nhiều.� �ng l� người Việt Nam đầu ti�n soạn ra một quyển sử Việt Nam bằng tiếng Ph�p.� Khu�n khổ c�c t�c phẩm của �ng bao gồm ngữ học, lịch sử, địa l�, lịch sử khoa học tự nhi�n, v� triết l�.� Cuộc đời của �ng vẫn c�n chờ đợi một quyển tiểu sử vượt l�n khỏi c�c th�nh kiến của cả c�c quan điểm của Ph�p lẫn Việt Nam về thời kỳ thực d�n.(16)

 

����������� Từ số lượng lớn lao thư t�n của �ng K�, người ta c� thể c� được một cảm gi�c cụ thể về con người v� về mối quan hệ của �ng với người Ph�p tại Nam Kỳ.� C�c thư từ trong hồ sơ c� nh�n của �ng tại văn khố S�ig�n cho thấy �ng l� một con người c� tinh thần độc lập, mặc d� trung th�nh với ch�nh quyền Ph�p, l� một kẻ đương đầu với bất kỳ sự sỉ nhục đ�ng ngờ n�o đối với ch�nh �ng hay gia đ�nh �ng.� Viết một l� thư xin từ chức v�o năm 1868 tiếp theo sau một số sự khinh thị thực sự hay tưởng tượng, �ng đ� tuy�n bố:

�����������

� T�i hiểu qu� r� về giọng điệu chung của n� [một thư tr�n đ� �ng K� đang trả lời từ vi�n Gi�m Đốc N�i Vụ, Vial] để chỉ phải ngập ngừng trong một gi�y duy nhất về h�nh động m� t�i phải c�.

 

����������� Chỉ c� sự từ chức mới l�m t�i thanh thản tinh thần �

 

����������� Trở về đời sống ri�ng tư, tấm l�ng t�i m�i m�i vẫn ở với Ph�p, c�c c�ng việc h�n mọn của t�i t�y thuộc về n�. (17)

 

����������� Sự khủng hoảng, nếu n� thực sự c� l� như thế, đ� sớm được vượt qua.� Trong mười năm kế đ�, �ng K� đ� c� một giai đoạn trước t�c mạnh nhất trong cuộc đời của �ng.� �ng đ� ấn h�nh quyển Giảng Kh�a Về Lịch Sử An Nam (Cours d�histoire annamite),(18) đ� giảng dạy tại trường Hậu Bổ, v� đ� soạn thảo v� số tập về văn phạm, ngữ vựng, v� s�ch gi�o khoa cho hệ thống trường học ph�t triển một c�ch chậm chạp.� Một cuộc thăm viếng Đ�ng Kinh [Bắc Việt] v�o năm 1876 đ� tạo ra một quyển s�ch du lịch ngắn v� một b�o c�o ch�nh trị trong đ� �ng K� đ� viết với sự bảo đảm lớn lao về mối quan hệ m� Ph�p c� thể c� với c�c phần đất của Việt Nam vẫn c�n giữ lại sự độc lập của ch�ng.� Bản b�o c�o ch�nh trị cũng ph�ng chiếu h�nh ảnh của một người m� tr�i tim v� linh hồn được nối kết với c�c quyền lợi của Ph�p v� sự th�nh c�ng của Ph�p:

 

����������� T�i kh�ng c� sự nghi ngờ g� rằng ảnh hưởng của ch�nh phủ Ph�p [tại Bắc Việt] lại kh�ng dễ d�ng trở th�nh ưu thắng ho�n to�n v� l� một lực vĩ đại để mang lại sự tiếp nhận c�c sự cải c�ch đang l� một nhu cầu cấp b�ch � c�c cải c�ch ch�nh trị -- c�c cải c�ch kinh tế -- c�c cải c�ch về ch�nh s�ch h�nh ch�nh v� cho sự quản trị c�c vấn đề t�i ch�nh, trong vấn đề lập ph�p, v�n v�n, v� v�n v�n�

 

����������� T�i c� niềm tin vững chắc rằng Ch�nh Phủ ở Huế th� v� năng lực để thực hiện c�ng việc vĩ đại n�y v� rằng chỉ ri�ng nước Ph�p mới c� khả năng vực dậy d�n tộc suy t�n n�y.(19)

 

����������� Trong một phần kh�c của c�ng bản b�o c�o, �ng K� đ� cho thấy căn bản C�ng Gi�o của �ng kh�ng phải l� r�o cản để đưa ra � kiến ph� b�nh c�c kể đồng đạo của �ng. �ng nhận x�t, c� một sự th� hận cực kỳ giữa tầng lớp học giả Việt Nam với người theo đạo Thi�n Ch�a tại Bắc Việt, l� c�c kẻ g�nh chịu c�c sự ngược đ�i thường xuy�n, nhưng �sự thực l� người C�ng Gi�o cũng kh�ng thua k�m g� c�c đối thủ của họ trong sự trả đũa, 99 lần tr�n 100.�� Sự tường thuật về c�c cuộc thảo luận của �ng với c�c quan lại Việt Nam ở Bắc Việt phản ảnh một vẻ xa c�ch tương tư.� Giọng điệu như l� của một thầy hiệu trưởng thuyết giảng cho một học tr� kh�ng mấy s�ng tr�.

 

����������� Dưới c�i nh�n của nhiều người trong ch�nh quyền Ph�p, �ng K� trong thực tế trở th�nh người Ph�p trong cả c�ch diễn đạt lẫn trong quan điểm của �ng.� Khi Luro ho�n tất Tập San Bulletin individuel de note (c� nh�n đ�ng ghi nhận) trong năm 1875, �ng đ� đề cập đến �ng K� như �người Ph�p ho�n to�n�; sau n�y, �ng gọi �ng K� l� �người An Nam đ� Ph�p h�a nhất m� ch�ng ta c� được.�(20)� Kh�ng nơi đ�u m� sự ch�nh x�c của lời b�nh luận n�y lại được khẳng định một c�ch r� r�ng hơn cho bằng một l� thư d�i m� �ng K� đ� viết cho một th�ng t�n vi�n tại Ph�p li�n quan đến sự xuất bản tương lai c�c s�ch bằng quốc ngữ:

 

����������� H�nh thức chữ viết n�y, nhờ ở sự quan t�m t�ch cực của ch�nh phủ thuộc địa, đ� mang một t�nh c�ch oai nghi�m của tiện �ch c�ng cộng.� Ch�nh quyền chắc chắn sẽ lấy l�m lo lắng để gia tăng số lượng s�ch [được ấn h�nh bằng quốc ngữ] hầu phổ biến sự sử dụng ch�ng sao nhằm khuyến kh�ch sự �p dụng rộng r�i hơn h�nh thức chữ viết n�y, vốn được k�u gọi để đ�ng vai tr� to lớn nhất trong c�ng cuộc [th�c đẩy] tiến bộ v� sự ph�t triển c�c khả năng �� nhờ ở chữ viết n�y, xứ sở bị truất quyền thừa kế ngh�o kh� n�y sẽ c� thể tiến v�o c�ng đồng c�c d�n tộc v� c�c vấn đề to lớn m� khối T�y đ� đưa ra trước thế giới; c�c khoa học với c�c sự ph�t hiện bất ngờ đ�nh v�o tinh thần v� g�y sững sờ cho tr� th�ng minh sẽ kh�ng c�n l� những sự huyền b� kh�n lường đối với ch�ng ta, v� những sự sai lầm xưa cũ n�y, c�c th�nh kiến, c�c niềm tin v� l� n�y sẽ biến mất, nhường chỗ cho kiến thức ch�n x�c, dẫn đến cảm hứng cao xa v� nghi�m chỉnh hơn về một triết l� kh�n ngoan.� Nhưng để đạt được điều đ� người ta phải c� s�ch, s�ch, v� nhiều s�ch hơn nữa. (21)

 

����������� Giọng điệu l� thư của �ng K�, với sự chối bỏ của n� về qu� khứ, đ� trở n�n quen thuộc trong văn viết Việt Nam trong �t thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ hai mươi.� Tr�n nhiều phương diện, �ng K� đ� ti�n b�o quan điểm ch�nh trị của �ng Phạm Quỳnh, một ủng hộ vi�n quan trọng cho c�c lập trường ch�nh trị của người Ph�p trong c�c thập kỷ 1920 v� 1930.� Cả hai �ng K� v� Phạm Quỳnh đều đưa ra h�nh ảnh của Việt Nam như một nước bị truất quyền thừa kế, một xứ sở với một lịch sử tri thức v� ch�nh trị đ� khiến n� thiếu chuẩn bị trước những th�ch đố của thế giới t�n tiến.� �t nhất, � kiến được tr�nh b�y rằng Việt Nam, trong việc đ�n nhận văn h�a Trung Hoa, đ� gặp bất lợi kh�ng chỉ trong sự ph�t triển ch�nh trị v� c�n cả trong sự ph�t triển tr� thức.(22)� Trương Vĩnh K� th�nh thực tin tưởng những g� �ng đ� viết, v� cuộc đời của �ng ta cung cấp một th� dụ nổi bật của sự cam kết to�n diện của những người Việt Nam , đ� ly th�n bởi t�n gi�o v� sự tho�i lui khỏi trật tự cổ truyền, tiến l�n trước bảo vệ cho những kẻ biện luận cho sự hợp t�c Ph�p-Việt.

 

����������� Trong khi Trương Vĩnh K� v� Huỳnh Tịnh Của đ� bỏ c�ng lao để cung cấp hạt nh�n cho văn chương quốc ngữ, ch�nh quyền thuộc địa lại ph�t triển một c�ch chậm chạp c�c định chế tại đ� c�ch k� �m c� thể được giảng dậy.� Trong c�ng t�c n�y, vai tr� của c�c gi�o sĩ C�ng Gi�o c� một tầm quan trọng lớn lao.� C�c trường học thuộc d�ng truyền đạo của họ cung cấp cho học sinh Việt Nam chỉ với một nền gi�o dục sơ đẳng, nhưng ở S�ig�n, Trường Ph�p mang t�n Gi�m Mục d�Aran do gi�o hội quản trị đ� l� định chế gi�o dục duy nhất trong thập ni�n s�u mươi c� thể huấn luy�n cho thanh ni�n Việt Nam nhiều hơn điều chỉ để trở th�nh c�c th�ng dịch vi�n.� Trường cao Đẳng d�Aran (Coll�ge d�Aran), t�n th�ng dụng hơn của ng�i trường, được th�nh lập trong năm 1861 với mục đ�ch �khắc s�u đạo đức v� đồng h�a thế hệ An Nam trẻ hơn.�� Tuy nhi�n, phải chờ m�i đến sau năm 1864, n� mới đ�o tạo được một số lượng đ�ng kể c�c học vi�n hội đủ điều kiện c� thể đảm tr�ch c�c c�ng việc trong ch�nh quyền Ph�p.(23)�

 

����������� Ngo�i S�ig�n, sự nới rộng nền gi�o dục do Ph�p bảo trợ diễn ra sau một quyết định được ban h�nh ng�y 16 th�ng Bẩy năm 1864.� Quyết định n�y quy định rằng một �th�ng dịch vi�n� sẽ đảm tr�ch c�c lớp d�nh cho thanh ni�n Việt Nam tại từng mỗi trung t�m trong c�c trung t�m quan trọng nhất của thuộc địa để dậy cho học tr� tập viết ng�n ngữ của ch�ng bằng �mẫu tự �u Ch�u.�� Lời b�nh luận th�ng thạo sau đ� về c�c trường n�y cho thấy ch�ng chỉ đạt được sự th�nh c�ng hạn chế nhất.� Đ� Đốc La Grandi�re, một kẻ nhiệt th�nh trong vấn đề gi�o dục y như đối với mọi vấn đề kh�c, kh�ng nh�n thấy g� kh�c ngo�i sự th�nh c�ng.� Trong th�ng Ch�n năm 1864, �ng ta đ� b�o c�o:

 

����������� � Sự tiến bộ được thực hiện bởi c�c học tr� n�y, m� đa số trong họ mới chỉ được học từ hai mươi đến hai mươi lăm ng�y, t�nh đến l�c t�i đến thăm; sự dễ d�ng m� ch�ng cho thấy rằng ch�ng c� thể học c�c vần của ch�ng ta v� ph�t �m ra ch�ng, đ� g�y ra sự ngạc nhi�n thực sự �

�����������

Như t�i c� mọi l� do để hy vọng, nếu việc theo học c�c trường của ch�ng ta tiếp tục, ch�ng ta sẽ c� �t nhất, trong chưa đầy một năm, một ngh�n thanh ni�n An Nam biết đọc v� biết viết ng�n ngữ của họ bằng mẫu tự La Tinh; nhờ đ� ch�ng ta sẽ tống một c� đ�nh chết người v�o chế độ quan lại, v� ch�ng ta sẽ tự m�nh gỡ bỏ được lớp văn th�n l� c�c kẻ lu�n lu�n c� khuynh hướng g�y x�o trộn. (24)

 

����������� C�c � kiến của vi�n thống đốc v�o cuối năm cũng kh�ng k�m phần nhiệt t�nh.� V�o khi đ� hai mươi trường đ� được mở, v� �ng tuy�n bố rằng ba trăm học vi�n đ� học c�ch đoc.� C�c � kiến n�y được đưa ra v�o một l�c chưa c� c�c s�ch gi�o khoa bằng quốc ngữ, cũng chưa c� cả tờ Gia Định B�o v� khi c�c th�ng dịch vi�n, c�c kẻ m� sự v� khả năng đ� thường bị chỉ tr�ch, đang điền thế v�o vai tr� c�c th�y gi�o. (25)

 

����������� Sự t�m kiếm một bức tranh ch�nh x�c cho c�c sự ph�t triển phải vượt qua được c�c trở ngại của sự nhiệt t�nh l�m sai lạc v� c�c con số thống k� đ�ng ngờ vực. � đồ của Đ� Đốc de La Grandi�re nhằm ph�t triển c�c trường học tại c�c tỉnh sẽ giảng dạy bằng quốc ngữ v� một số lượng hạn chế tiếng Ph�p đ� được tr�nh b�y trong c�c b�o c�o hồi cuối thập ni�n s�u mươi v� đầu thập ni�n bảy mươi như một sự th�nh c�ng quan trọng.� Trong khi La Grandi�re vắng mặt tại Nam Kỳ, trong năm 1865, Đ� Đốc Roze đ� biểu lộ sự h�i l�ng của �ng về sự tiến bộ đ� được thực hiện. �ng c� n�i về c�c học tr� đ� c� khả năng đọc v� viết ng�n ngữ của ch�ng bằng quốc ngữ, c�ng đọc v� viết c�c từ ngữ Ph�p văn.� Ng�n ngữ kể sau, �ng ta đ� nh�n nhận sau khi nghĩ lại, rằng ch�ng đ� kh�ng hiểu. (26).� Trong c�ng năm, �ng Roze đ� t�n dương sự sẵn l�ng của cha mẹ Việt Nam để gửi con c�i của họ đến c�c trường dạy bằng quốc ngữ.(27)

 

����������� C�c hy vọng của ch�nh quyền, trong thực tế, vượt qua sự gi�o dục thiếu ni�n kh�ng th�i.� C�c lợi lộc cả về mặt thực tế v� tinh thần của việc giảng dạy bằng quốc ngữ, v� như thế ph� vỡ qu� khứ d�nh mắc với H�n tự, cũng được ph�n đo�n l� quan trọng với cả người lớn tuổi.� C�c người lớn được khuyến kh�ch theo học c�c lớp buổi tối dạy bằng quốc ngữ.(28)� V�o th�ng Ba năm 1869, Đ� Đốc Ohier b�o c�o rằng c� 104 trường tại thuộc đia, được theo học bởi 3,200 học tr�.� S�u trong c�c trường n�y, chủ yếu những trường tại S�ig�n, được dạy bằng tiếng Ph�p cũng như quốc ngữ.(29)� Sau đ� trong c�ng năm n�y, sĩ số theo học c�c trường tổ chức bởi ch�nh quyền Ph�p được b�o c�o l� 4,481 học tr� tại 120 trường.� Ngo�i ra, c� 530 học tr� tại s�u trường được duy tr� bởi c�c th�y giảng Học Thuyết Cơ Đốc Gi�o.(30)� C�c năm tr�i qua, số theo học tại trường được b�o c�o tại Nam Kỳ đ� gia tăng theo.� Trong năm 1870, c�c người học chữ quốc ngữ tại c�c tỉnh được cho hay l�n tới hơn năm ngh�n người.(31)

 

����������� C�c lời tường thuật nhiệt t�nh về sĩ số ng�y c�ng gia tăng c�c trẻ em Việt Nam chen ch�c tại c�c trường dạy bằng quốc ngữ, tuy vậy, chỉ c� �t t�nh thực tiễn. Đ� Đốc Dupr� đ� giảm bớt c�c sự ước lượng thổi phồng trong một điện văn d�i viết th�ng Hai năm 1873:

 

����������� T�i lấy l�m tiếc để n�i rằng trong vấn đề quan trọng n�y của nền gi�o dục c�ng lập, ch�ng ta vẫn c�n t�m kiếm v� m� mẫm cho con đường của ch�ng ta đi.� C�c kết quả thu lượm được cho đến nay h�y c�n xa sự thỏa m�n.� Kể từ khi c� sự chiếm đ�ng, ch�ng ta đ� nh�n thấy rất nhiều trường hiện hữu [trước đ�y] biến mất, v� mọi điều h�y c�n sẽ phải được tạo lập ra.� Người ta muốn lợi dụng [t�nh thế] để thay thế H�n tự được d�ng bởi người An Nam, bằng chữ viết �u Ch�u m� c�c gi�o sĩ truyền đạo đ� sử dụng từ l�u �� Rồi th� người ta đ� ngưng việc giảng dạy chữ H�n tại c�c trường học mới lập của ch�ng ta v� dạy dỗ trẻ em học đọc v� viết bằng c�c mẫu tự của ch�ng ta.� Nhưng sự cải c�ch th� qu� sớm; kh�ng c� g� để dạy học tr� sau khi tập đọc v� tập viết.� C� sự thiếu thốn s�ch v� cả gi�o vi�n nữa �� Tất cả c�c nỗ lực của ch�ng ta đ� kết th�c với việc tập họp ba đến bốn ng�n trẻ em m� cha mẹ ch�ng đ� được bảo đảm bồi thường bởi l�ng x� về sự hy sinh m� họ đ� l�m khi gửi con em đi học.(32)

 

����������� Người ta chỉ c� thể giải th�ch sự kh�c biệt giữa c�c � kiến của Dupr� với c�c sự x�c định trước đ�y về sự th�nh c�ng l� v� c�c sự hy vọng v� nhiệt t�nh đ� l�m sai lạc nh�n quan của c�c vi�n chức Ph�p.� Để c� thể chắp nối th�nh một bản tường thuật về những g� đ� thực sự xảy ra, cần phải dựa v�o c�c � kiến của c�c kẻ đ� ph� b�nh c�c sự ph�t triển gi�o dục v� tr�n những b�o c�o rải r�c m� khi thảo luận về gi�o dục, c� vẻ như đ� đặt t�nh kh�ch quan l�n tr�n sự tin tưởng qu� hăng say về sứ mệnh của nước Ph�p. � định của La Grandi�re l� muốn thiết lập c�c trường học tại tất cả c�c l�ng x� lớn.� Xem ra c� �t sự suy nghĩ thực sự được suy x�t v�o l�c khởi đầu về việc tuyển mộ c�c học tr� cho c�c trường n�y.� Trong một số trường hợp, ch�nh quyền Ph�p thấy ch�nh m�nh cạnh tranh với c�c nỗ lực giảng dạy của Gi�o Hội C�ng Gi�o.

 

����������� Đ� l� trường hợp trong nội vụ của trường trung ương tại Mỹ Tho (�Affaire de l��cole centrale de Mytho�) năm 1872, một sự đụng độ giữa một thanh tra sự vụ bản xứ tại Mỹ Tho với một linh mục, Cha Lize.� Vị linh mục bất m�n về sự tuyển mộ của vi�n thanh tra c�c trẻ em cho trường nh� nước từ số trẻ em trong gi�o xứ �ng ta v� ra lệnh cho ch�ng �phải tu�n phục Thương Đế chứ kh�ng phải người thường.�� T�c động của một sự đụng độ như thế giữa c�c c� nh�n c� biệt trong một cộng đồng người Ph�p nhỏ b� l� điều c� thể hiểu được. Đ� c� sự trao đổi giữa ch�nh quyền v� vị gi�m mục bao tr�m gi�o xứ nơi m� biến cố đ� xảy ra, v� một bản b�o c�o đầy đủ đ� được đệ tr�nh cho sự cứu x�t của thống đốc.� Bản b�o c�o n�y đ� chiếu một luồng �nh s�ng đ�ng ch� � về c�ch thức theo đ� sự theo học tại c�c trường nh� nước được bảo đảm:

 

����������� Trước ti�n, c�c l�ng x� nhận được lệnh cung cấp học tr�; một học tr� cho mỗi l�ng nhỏ hay cỡ trung b�nh; hai học tr� từ c�c l�ng lớn, ba học tr� từ một số �t l�ng c� d�n số đ�ng đảo một c�ch kh�c thường.

 

����������� Bởi ch�nh quyền kh�ng đảm tr�ch việc đ�p ứng ph� tổn cho sự bảo dưỡng ch�ng, một khoản thuế bổ t�c l� 7 phật lăng đ� được quyết định để trang trải cho việc n�y.� Gi� trị của thủ tục n�y xem ra c� nhiều điều để chất vấn, nhưng đ�y kh�ng phải l� vấn đề của sự khiếu nại [bởi c�c linh mục].� C�c Sư Huynh kh�ng khiếu nại chống lại biện ph�p, họ t�m kiếm phần ph�n chia số trẻ em với một số trợ cấp thỏa đ�ng.

 

����������� Trong căn bản, điều n�y kh�ng c� g� mới mẻ.� C�c trường học trong phần s�u của đất nước kh�ng bao giờ c� học tr� tr�n căn bản tự nguyện với một sĩ số lớn lao n�o.� C�c học tr�, phần lớn, được tuyển mộ v� đ�i thọ bởi l�ng x� theo c�ng c�ch đối với d�n qu�n ph�ng vệ, v� với ph� tổn c�n cao hơn thế nữa.(33)

 

����������� Luro, trong giảng kh�a quản trị của �ng ta, Cours d�administration, c� n�u ra c�ng điểm đ�.� Trường quốc ngữ kh�ng c� sự l�i cuốn thực sự đối với d�n l�ng tại Nam Kỳ trong thủa ban đầu n�y.� Y�u cầu rằng trẻ em phải theo học c�c trường mới lập n�y đ� bị lẩn tr�nh bởi việc gửi đi c�c trẻ em ngh�o kh� nhất tại một x� v� trả một khoản đặc cấp cho cha mẹ ch�ng. (34)

 

����������� Phẩm chất của c�c gi�o vi�n tại c�c trường học ban đầu th� k�m cỏi.� Trừ ngoại lệ của tờ Gia Định B�o, hầu như kh�ng c� học liệu, v� việc giảng dạy theo lối học thuộc l�ng.� Như Luro đ� nhận x�t một c�ch s�u sắc, c�c học tr� c� thể so s�nh như một con vẹt c� khả năng viết chữ. (35)� Tr�i với sự giảng dạy cổ truyền, sự giảng dạy tại c�c trường nh� nước n�y đ� kh�ng c� một t�nh c�ch đức dục n�o. Điều n�y l�m e ngại c�c quan s�t vi�n như Luro v� Philastre, v� l� một yếu tố quan trọng trong sự miễn cưỡng của người Việt Nam tại c�c tỉnh để gửi con em họ đến học tại c�c trường nh� nước.� N� kh�ng phải l� sự quan t�m của những th�nh vi�n trong ch�nh quyền Ph�p l� những kẻ nh�n thấy nhu cầu cần loại trừ ảnh hưởng của tư tưởng Khổng học.� Người Việt Nam trong l�ng x� biểu lộ sự quyến luyến của họ với hệ thống cổ truyền bởi việc gửi những trẻ em đ� tham dự tại một trường nh� nước ban ng�y, trải qua một phần của buổi tối để học tập chữ H�n từ c�c thầy gi�o vẫn tiếp tục sinh sống tại c�c l�ng x�.(36)

 

����������� C�c nỗ lực kh�ng th�nh c�ng n�y, d� thế, chỉ l� một kh�a cạnh trong nỗ lực gi�o dục của người Ph�p tại Nam Kỳ.� Trong năm 1874, c�c sai lầm hiển nhi�n của hệ thống đ� dẫn đến một cuộc t�i tổ chức to�n diện c�c nỗ lực gi�o dục.�� Tuy nhi�n, trước khi xảy ra việc n�y, đ� c� hai sự ph�t triển kh�c trong l�nh vực gi�o dục cần lưu � đặc biệt: sự duy tr� c�c trường học tại S�ig�n dạy dỗ trẻ em Việt Nam cả chữ quốc ngữ lẫn tiếng Ph�p, v�, sự kiện đ�ng để � nhất trong mọi sự kiện, c�c nỗ lực để ph�t triển một tầng lớp tinh hoa thượng lưu xuy�n qua việc gửi c�c thanh thiếu ni�n Việt Nam cho c�c thời khoảng k�o d�i để huấn luyện tại Ph�p.� Tại S�ig�n, Trường Cao Đẳng d�Adran tiếp tục l� một định chế quan trọng duy nhất cung cấp người Việt Nam được huấn luyện để đảm nhận c�c chức vụ phụ t� trong ch�nh quyền m�i cho đến năm 1871.� Cũng c� c�c trường cao đẳng (coll�ges: tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] được duy tr� bởi c�c sư huynh C�ng Gi�o tại c�c trung t�m cấp tỉnh, v� trong năm 1868, một Học Vi�n Th�nh Phố (Institution Municipal) đ� được th�nh lập tại S�ig�n đặc biệt d�nh ri�ng cho trẻ em người Ph�p.� Tuy nhi�n, trong năm 1871, trong một nỗ lực để huấn luyện nhiều thanh ni�n Việt Nam hơn c� thể giảng dạy v� l�m thư k� v� th�ng dịch vi�n, một quyết định đ� được lấy để th�nh lập Trường Sư Phạm S�ig�n (�cole Normale of Saigon) (37).� Kết quả thuần của tất cả c�c nỗ lực n�y c�n l�u mới đạt được mức thỏa m�n đối với ch�nh quyền Ph�p.� Gi�m Đốc Trường Sư Phạm c� thể viết, �Chưa bao giờ sự thi đua l�n tới mức độ lớn lao như thế; chưa bao giờ c�c học tr� lại thấu hiểu cặn kẽ tầm quan trọng của gi�o dục đến như thế �,� (38) nhưng c�c nh� h�nh ch�nh hiểu rằng c�c chương tr�nh của họ tiếp tục gặp phải c�c kh� khăn bởi c� vấn đề trong việc tuyển mộ được c�c người Việt Nam thực sự c� khả năng.

 

����������� Hơn nữa, niềm hy vọng rằng c�c người Việt Nam theo học tại Ph�p sẽ cung ứng số phụ t� cần thiết đ� kh�ng hiện thực được.� Sự thi h�nh đ�ng lưu � n�y trong nền gi�o dục thuộc địa đ� khởi sự trong v�ng chưa đầy mười năm kể từ khi c� sự nhập cảnh của người Ph�p đến Việt Nam.� Trong năm 1865, Đ� Đốc Roze đ� sắp xếp cho ba thanh thiếu ni�n Việt Nam đi du lịch sang Ph�p, sao cho họ c� được ấn tượng về c�c sự tuyệt diệu của xứ sở nơi m� c�c kẻ cai trị của họ ph�t sinh.� C�c thanh ni�n �th�ng minh� n�y, chỉ được biết với t�n Tom [?], Gửi [?], v� Cao [?],ở số tuổi mười bảy, mười s�u, v� mười lăm.(39)� C�c phản ứng của họ kh�ng được ghi ch�p lại trong c�c văn khố.� Họ l� c�c kẻ đi trước c�c học sinh, từ năm 1865 trở về sau, đ� được gửi sang hai cơ sở gi�o dục C�ng Gi�o tại Ph�p, Học Viện Sainte Marie tại La Seyne, v� Khu Nội Tr� Của C�c Sư Huynh C�c Trường Thi�n Ch�a (Pensionnat des Fr�res des �coles Chr�tiennes) tại Marseille.(40)� Điều đ�ng lưu � để t�m hiểu nhiều hơn l� về tiến tr�nh tuyển lựa theo đ� c�c trẻ em v� thanh ni�n n�y đ� được chọn cho việc phải được nh�n bởi ch�ng [c�c học tr�, ch� của người dịch] l� một cuộc du h�nh h�o h�ng ca.� C� c�c sự tham khảo cho thấy sự chọn lọc được thực hiện từ �c�c gia đ�nh c� thế lưc.� (41)� Điều n�y c� nghĩa c�c con em của những người Việt Nam đ�, thường theo đạo C�ng Gi�o, l� những kẻ đ� hợp t�c với ch�nh quyền mới v� thường c� giữ c�c chức vụ trong đ�.� Chẳng hạn như trường hợp của người em trai của Trần B� Lộc, t�n Trần B� Hữu [?], đ� theo học tại trường Sainte Marie ở La Seyne, cũng như người anh em họ b�n mẹ của �ng Lộc.

 

����������� Số người Việt Nam theo học tại Ph�p đ� tăng từ mười bốn người trong năm 1866 l�n đến ch�n mươi người trong năm 1870.(43)� Tuổi t�c thanh thiếu ni�n Việt Nam được gửi ra hải ngoại biến đổi một c�ch đ�ng kể, theo một t�i liệu, nằm trong khoảng từ mười một đến hai mươi tuổi. (44)� Tại c�c định chế C�ng Gi�o, ch�ng được dạy trước ti�n tiếng Ph�p �t nhất trong một năm, v� sau đ� c�c m�n sơ đẳng của bậc tiểu học.(45)� Một chuyến du h�nh sang Ph�p như thế, v� sự can hệ sau đ� với kỷ luật nghi�m ngặt của một trường C�ng Gi�o, hẳn phải c� một t�c động đặc biệt tr�n c�c thanh thiếu ni�n Việt Nam.� Chỉ c� một sự tham chiếu hạn chế về sự khổ sở m� nhiều đứa trong ch�ng chắc chắn đ� phải cảm thấy.� Một tờ b�o ở tỉnh đ� cho hay trong một b�i b�o viết hồi th�ng Một năm 1868 rằng ba em trong số c�c học tr� bị bắt giữ cưỡng b�ch để trả về qu�.� C�c cuộc điều tra bởi bộ trưởng thuộc đia cho hay rằng c� thể một đứa trẻ, trong thực tế, đ� bị bắt giữ tr�i � muốn của em.� Nhưng, điều được quyết định l� ngưng kh�ng n�u vấn đề n�y ra, bởi bị xem sẽ �l�m lợi cho b�o ch� nhiều hơn cho t�n gi�o v� giới chức thẩm quyền� trong bất kỳ cuộc điều tra n�o c� thể diễn ra. (46)

�����������

V�o năm 1871 nh� cầm quyền Ph�p tại Nam Kỳ đ� b�y tỏ c�c sự nghi ngờ lớn lao về tầm hữu dụng của chương tr�nh.� Đ� Đốc Dupr� đ� viết, �Người ta nghĩ rằng sau một thời gian cư ngụ khoảng hai hay ba năm tại khu vực th�nh thị, c�c thanh ni�n n�y sẽ d�nh đạt đủ sự học tập cần thiết gi�p cho ch�ng c� thể được sử dụng một c�ch hữu �ch trong nhiều c�ng vụ tại thuộc địa.� (47)� Nhưng điều n�y đ� kh�ng xảy ra.� V�o thời điểm m� Dupr� viết ra, bốn mươi hai học tr� đ� quay về từ nước Ph�p, v� trong số n�y, chỉ c� t�m đến mười người l� c� khả năng đảm nhận được c�c c�ng việc �t nhiều c� t�nh c�ch hữu dụng.� C�c kết luận của Dupr� đ� kh�ng l�m ngạc nhi�n viện trưởng viện Sainte Marie tại La Seyne.� �ng ghi nhận rằng �t nhất một năm trong số hai hay ba năm m� c�c thanh thiếu ni�n Việt Nam sống tại Ph�p phải đựợc d�nh cho việc học tiếng Ph�p. � đồ gửi thanh thiếu ni�n sang Ph�p để học tại c�c trường C�ng Gi�o vẫn tiếp tục trong một khu�n khổ bị cắt giảm đi nhiều cho đến cuối thập ni�n bẩy mươi.� Trong c�c thập kỷ kế tiếp, đ� c� một sự nhấn mạnh gia tăng tr�n sự gi�o dục thế tục cho c�c thanh ni�n Việt Nam theo học b�n ngo�i xứ sở của họ.

 

����������� Ngay tại Nam Kỳ Gi�o Hội C�ng Gi�o vẫn tiếp tục đ�ng một vai tr� quan trọng trong c�c vấn đề gi�o dục.� Trường Cao Đẳng Coll�ge d�Adran tại S�ig�n, v� c�c trường cao đẳng nhỏ hơn ngo�i thủ đ�, c� nh�n vi�n l� c�c sư huynh.� Trường Tabert (Institut Taberd) cũng thế, được th�nh lập trong năm 1874 c�ng khai để d�nh cho c�c trẻ con của c�c cuộc phối hợp dị chủng giữa đ�n �ng Ph�p v� c�c phụ nữ Việt Nam.� C�c viện mồ c�i bao giờ cũng được ghi như một phần của cơ cấu gi�o dục của thuộc địa.� C� lẽ xem c�c cơ sở n�y trong thực chất c� t�nh c�ch từ thiện hơn l� c�c định chế gi�o dục th� đ�ng hơn.� Cũng c� c�c trường C�ng Gi�o tại Ph�p nơi m� học sinh Việt Nam được gửi đến.� Trong khắp c�i thuộc địa, c�c ph�i bộ C�ng Gi�o đ� li�n kết việc giảng đạo với c�c nỗ lực gi�o dục hạn chế.� Điều n�y, như đ� sẵn được tr�nh b�y, c� thể dẫn đến c�c sự đụng độ giữa c�c quyền lợi d�n sự với t�n gi�o.� Một sự lượng định về tầm quan trọng của nỗ lực gi�o dục truyền gi�o n�y cũng kh� khăn y như l� sự cứu x�t về chương tr�nh gi�o dục của ch�nh quyền Ph�p.� Nhiệt t�nh hăng say nhuốm nặng c�c b�o c�o truyền gi�o theo c�ng c�ch m� n� đ� t� m�u cho c�c b�o c�o của ch�nh quyền d�n sự.� C�ng c�ch thức giống nhau, đ� c� c�c sự ph�t hiện ngắn gọn rải r�c, than phiền về sự thiếu tiến bộ v� đưa ra sự ngờ vực nghi�m trọng về c�c lời tường thuật trước đ�y.� C�c số thống k� cung cấp trong c�c Thư Cộng Đồng (Lettres communes) của c�c Ph�i Bộ Truyền Gi�o Hải Ngoại trong khoảng giữa thập ni�n 1870 cho thấy c� khoảng từ ba đến bốn ng�n học sinh Việt Nam theo học tại c�c trường d�ng đạo.(48)� Nhận định ch�nh yếu bởi c�c cuộc thảo luận sau n�y về gi�o tr�nh của c�c trường thuộc ph�i bộ truyền gi�o n�y, c� vẻ cho rằng sự nhấn mạnh đ� được đặt tr�n sự giảng dạy t�n gi�o xuy�n qua phương tiện trung gian l� quốc ngữ. (49)

 

����������� Sự bất m�n tổng qu�t với hệ thống gi�o dục thiết lập bởi Đ� Đốc de La Grandi�re đ� dẫn đến c�c sự cải tổ năm 1874.� Khi ch�nh quyền Ph�p được mở rộng, nhu cầu về số nh�n vi�n Việt Nam trong ch�nh quyền trở n�n cấp thiết hơn.� Một nền h�nh ch�nh lớn hơn c� nghĩa đ� c� nhiều người Ph�p kh�ng biết n�i tiếng Việt đ�ng hơn, v� cần đến một số lượng nhiều hơn c�c người Việt Nam l�m thư k�, th�ng dịch vi�n, v� nh�n vi�n đ�nh điện t�n.� Chương tr�nh hiện thời của nền gi�o dục c�ng lập đ� kh�ng thỏa m�n được c�c nhu cầu n�y.� B�o c�o l�n Cơ Mật Viện (Private Council), gi�m đốc nội vụ ghi nhận rằng hệ thống g�y ra hậu quả l� c�c l�ng x� đ� gửi con em của c�c th�nh vi�n ngh�o khổ nhất đến c�c trường, rằng c�c gi�o vi�n tại c�c trường giảng dạy bằng quốc ngữ n�i chung c� phẩm chất rất k�m, v� rằng Trường Sư Phạm S�ig�n cần được cải c�ch.(50)� Sự kết �n to�n diện n�y đ� đưa đến sự thay đổi đ�ng kể.� Trong một quyết định ng�y 17 th�ng Mười Một năm 1874, c�c trường dạy bằng quốc ngữ đương thời bị b�i b�.� Thay v�o đ� l� đề nghị thiết lập một trường �sơ học� (primary school) ở mỗi ph�n hạt h�nh ch�nh tại thuộc địa, với c�c học tr� do nh� nước hỗ trợ.� Thay cho c�c thủ tục theo học bừa b�i trước đ�y, c�c trẻ em giờ đ�y được ước định theo học trong ba năm.� C�c trường sơ học c� nh�n vi�n gồm cả c�c gi�o vi�n Ph�p v� Việt Nam, m� khả năng sẽ được kiểm so�t bởi nh� nước.� C�c chương tr�nh học tại c�c trường sơ học t�n lập k�o d�i trong ba năm v� sẽ được dạy bằng quốc ngữ lẫn tiếng Ph�p, v� ở một mức độ rất hạn chế, H�n tự.� C�c m�n học ti�u chuẩn như to�n học, h�nh học, v� �c�c kh�i niệm� về sử k� v� địa l� l� c�c m�n then chốt của sự giảng dậy.� Bởi c� nhu cầu về số nh�n vi�n mới, đặc biệt nhu cầu về c�c gi�o vi�n người Ph�p, c�c trường sơ học mới, khởi đầu, chỉ được giới thiệu tại s�u trung t�m ch�nh: S�ig�n, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, v� S�c Trăng. (51)

 

����������� C�c học sinh giỏi nhất từ c�c trường n�y để học cao hơn nữa tại c�c trường Cao Đẳng Bản Xứ (Coll�ge Indig�ne), giờ đ�y thay thế cho Trường Sư Phạm. Định chế bậc nh� [tức trung học, ch� của người dịch] n�y đặt theo t�n của một vi�n cựu bộ trưởng thuộc địa Ph�p, Chasseloup-Laubat, v� ch�nh dưới danh nghĩa n�y m� n� thường được m� tả trong c�c b�i viết đương thời.� Ở đ�y cũng vậy, chương tr�nh học sẽ k�o d�i trong ba năm.� Một trăm trẻ em Việt Nam mỗi năm được tuyển v�o trường, c�c ph� tổn của ch�ng sẽ được đ�i thọ bởi ch�nh quyền Ph�p.� C�c b�i học nhập m�n được quy định như một phần trong học tr�nh tại c�c trường sơ học trở th�nh �một m�n học hợp l� về Ph�p ngữ� tại trường trung học. (52)

 

����������� Hai năm sau đ�, Philastre đ� m� tả t�nh trạng c�c trường học m� �ng ta đ� gặp phải trong diễn tiến của một nhiệm kỳ h�nh ch�nh l�u d�i:

 

����������� Đa số c�c trường học được thiết lập tại nhiều chợ An Nam kh�c nhau đ� bị đ�ng cửa v� thay thế bằng c�c trường cao đẳng (coll�ges) được dựng l�n tại c�c trung t�m h�nh ch�nh.� D�n ch�ng xem việc n�y l� một sự tiết kiệm về kinh tế v� một mối lợi; thay v� phải thu� mướn ba hay bốn đứa trẻ từ cha mẹ ch�ng để ch�ng c� thể được �cung cấp� cho trường học tại l�ng l�n cận, mỗi l�ng giờ đ�y chỉ cần thu� một hay hai đứa trẻ v� �cung cấp� ch�ng cho trường cao đẳng của Sở Thanh Tra (Inspection).� Một số l�ng lại kh�ng phải cung cấp bất cả đưa trẻ n�o hết.

 

����������� Trong quan điểm của t�i, kh�ng chỉ dựa v�o sự quan s�t của m�nh trong một số năm, m� c�n như một kết quả của sự cố vấn m� t�i đ� nhận được từ c�c nh� quản trị h�nh ch�nh v� c�c gi�m đốc c�c trường học, nếu ch�ng ta kh�ng cưỡng b�ch một c�ch c�ng khai c�c l�ng x� phải cung cấp một số lượng học tr� n�o đ�, �t nhất ch�ng ta h�y lợi dụng c�c sai lầm trước đ�y của ch�ng ta v� đa số c�c l�ng x� h�y c�n tin rằng ch�ng vẫn bị bắt buộc phải cung cấp c�c học tr� như trong qu� khứ.� �Nếu bất kỳ ai n�i với ch�ng rằng ch�ng kh�ng bị bắt buộc phải l�m như thế, sẽ kh�ng c�n c� học tr� nữa.� �

 

����������� Hơn nữa, nếu điều n�y xảy ra như thế, nếu chỉ c� một số �t nh�n vi�n An Nam muốn chứng tỏ nhiệt t�nh của họ, gửi con em của họ đến trường, nếu khối đ�ng quần ch�ng chỉ nh�n c�c trường học với sự khinh thường, việc n�y xảy ra từ �c cảm được khơi dậy như hậu quả của c�c biện ph�p cưỡng b�ch đ� được �p dụng trước đ�y cho c�c trường nh� nước v� chống lại c�c thầy gi�o bản xứ thuộc c�c trường học An Nam [cổ truyền] miền ph�.� T�nh trạng li�n hệ đến c�c th�nh kiến t�n gi�o v�, sau c�ng, tr�n hết l� v� c�c trẻ em tuyệt đối chẳng học hỏi được điều g� từ c�c trường học của ch�ng ta.

 

����������� Ch�ng kh�ng học được g� cả bởi kh�ng c� c�c gi�o vi�n.� C�c l�nh vực học tập duy nhất được hay biết đối với người An Nam l� c�c m�n học về triết học v� đạo đức Trung Hoa, v� c�c m�n n�y chỉ được d�nh cho một sự lưu t�m v� c�ng hạn chế tại c�c trường học của ch�ng ta hơn l� tại c�c trường c� c�c th�y gi�o cổ truyền.

 

����������� Người ta chỉ gặp to�n kh� khăn ng�y nay để c� thể t�m cho đủ, tại to�n thể thuộc địa, trong cả người Ph�p v� người An nam, số nh�n vi�n để giảng dạy v� tổ chức một ng�i trường trung ương duy nhất từ đ� c�c gi�o chức An Nam nghi�m chỉnh sẽ tốt nghiệp sau n�y.� L� do n�y lại c�ng nổi bật hơn để cho thấy kh�ng t�i n�o đ�p ứng được nhu cầu của mười hai hay mười lăm ng�i trường. (53)

 

����������� Sự ch�m chước cần phải lu�n lu�n được giảm trừ từ c�c sự tin tưởng ngự trị trong c�c sự ph� b�nh của Philastre v� Luro về t�nh h�nh Nam Kỳ.� Song sự tiến bộ chậm chạp của những năm sau n�y v� c�c kh� khăn m� c�c người kh�c đ� m� tả cung cấp một sự chứng thực quan trọng cho sự ước lượng của họ.� Cả khối h�nh ch�nh hoặc đ� sẵn chấp nhận t�nh trạng tất nhi�n của sự tiến bộ chậm chạp v� c�c kết quả nhỏ nhoi hay đ� tin tưởng rằng những vấn đề tạm thời n�y sẽ sớm tan biến đi.� Chắc chắn l� c�c đồng sự của �ng Philastre đ� kh�ng chia sẻ sự quan t�m của �ng về sự biến mất của sự giảng dậy triết học Trung Hoa.

 

����������� Được chống đỡ bởi c�c th�i độ n�y v� được trợ gi�p trong c�c chương tr�nh của họ bởi c�c nh�n vật An Nam như c�c �ng P�trus K� v� Paulus Của, c�c vi�n chức Ph�p đ� hoạt động trong suốt thập kỷ bẩy mươi để đạt tới sự thay thế chữ H�n bằng quốc ngữ.� Mục đ�ch tối hậu của họ l� một hệ thống gi�o dục với sự giảng dạy bằng tiếng Ph�p v� sự du nhập học thuật hiện đại, như được hiểu bởi người Ph�p.� Bất kể đến c�c sự thất bại v� c�c kh� khăn, điều đ� được quyết định, trong năm 1878, để cưỡng b�ch sự sử dụng quốc ngữ l�m ng�n ngữ duy nhất, ngo�i tiếng Ph�p, được chấp thuận trong mọi văn kiện ch�nh thức.(54)� Một quyết định tương tự đ� được lấy trong năm 1869, nhưng n� vẫn c�n l� một thứ ng�n ngữ chết (tử ngữ) (55).� Quyết định năm 1878 được ước định sẽ l�m gia tăng sĩ số theo học tại c�c trường dạy bằng quốc ngữ, bởi giờ đ�y c� l� do hơn nữa để theo học c�ch k� �m mới.(56)� Mục đ�ch của sự thay thế to�n diện c�ch viết theo mẫu tự la m� thay cho H�n tự đ� được chấp nhận bởi ph�a cai trị; giờ đ�y chỉ c�n l� vấn đề thời gian trước khi ph�a bị trị cũng chấp nhận n�.

 

����������� Đối đầu với sự thay đổi l� c�c trường tư nh�n giảng dạy H�n tự tại c�c l�ng x�.� C�c trường học nhỏ b� n�y vẫn c�n l� một phần của sinh hoạt x� th�n Việt Nam m�i cho đến cuối thế kỷ, nhưng l� do hiện diện của n� ng�y c�ng trở n�n mờ nhạt hơn.� Kh�ng c�n c�c kỳ khảo hạch ba năm một lần tại Nam Kỳ nữa, v� guồng m�y cai trị kh�ng c� chỗ d�nh cho c�c người theo học H�n tự.� V�o cuối thập kỷ bẩy mươi, số c�c th�y gi�o c� thể giảng dạy bằng chữ nho đ� s�t giảm.� Hệ thống thay thế của ch�nh quyền Ph�p, c�c trường giảng dạy bằng quốc ngữ v� tiếng Ph�p, vẫn chưa điều h�nh một c�ch thỏa đ�ng, nhưng ch�ng đ� cung cấp một khu�n khổ cho c�c nỗ lực li�n tục để ghi khắc c�c gi� tri của Ph�p v� học thuật t�y phương.� Sự thay đổi th� chậm chạp v� tiến bộ kh� đạt được.� D� thế, n� vẫn diễn ra.� Chưa đầy một thế hệ kể từ l�c kết th�c thập ni�n bẩy mươi, sự thay thế to�n thể bằng quốc ngữ cho chữ nho đ� đạt được. Điều n�y cung cấp một thước đo kh�c theo đ� để ph�n đo�n c�c sự ph�t triển t�nh đến năm 1879, vốn thường c� vẻ quất v�o sự tự lừa dối v� c�c mưu toan để đạt được điều bất khả./-

 

___

 

CH� TH�CH:

 

1.       Li�n quan đến sự thảo luận về vai tr� trong sự ph�t triển quốc ngữ bởi Alexander de Rhodes, cũng bao gồm cả một số nhận x�t về chữ n�m, xem Maurice Durand, �Alexandre de Rhodes,� BSEI, n.s., XXXII, 1 (1st semester, 1957), 5-30.

2.       Về c�c th� dụ điển h�nh của sự cự tuyệt chữ H�n v� nghi�ng về quốc ngữ, xem AOM Indochine A-20 (2) Văn thư của Đ� Đốc de La Grandi�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, Saigon, 31 December 1863, kh�ng đ�nh số, đ�nh k�m một b�o c�o tổng qu�t cho năm 1863, v� một tiểu luận nhan đề �tudes sur les votes et moyens de la politique francaise en Indochine, 13.

3.       AOM Indochine A-30 (6), Văn thư của Đ� Đốc de La Grandi�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, Saigon, 29 September 1864, No. 985.

4.       AOM Indochine A-30 (8) Văn thư của Đ� Đốc Roze gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, Saigon, 9 May 1965, No. 1,360.

C�c số b�o đầu ti�n của Gia Định B�o th� cực kỳ hiếm c�.� Sưu tập tốt nhất, chỉ bao gồm c�c ấn bản rải r�c trong một số năm, được giữ tại Thư viện của trường �cole des Languages Orientales Vivantes tại Paris.� Sưu tập giữ tại Thư Viện Quốc Gia tại S�ig�n chỉ bắt đầu từ năm 1880; xem L� Ngọc Trụ, bi�n tập, Mục Lục B�o Ch� Việt ngữ (Saigon, 1966).

5.       AOM Indochine X-00 (1) �Extrait d�une lettre adress�e au Ministre par le Gouverneur p.i. de la Cochinchine,� Saigon, 2 March 1869.

6.       Gia Định B�o, số 4 (July 1865).

7.       C�ng t�i liệu dẫn tr�n, số 5 (August 1865).

8.       C�ng nơi dẫn tr�n.

9.       C�ng t�i li�u dẫn tr�n, số 11 (June 1872).

10.   C� nhan đề �Chuyện S�ch Sử Nước Annam,� c�c b�i viết n�y xuất hiện tr�n Gia Định B�o tr�n một căn bản kh�ng thường xuy�n trong c�c năm 1874 v� 1875.� Nhan đề được dịch s�t nghĩa l� The Book of Vietnamese History.� T�c giả kh�ng được x�c định.� Xem ra c� lẽ ch�nh l� �ng P�trus K�.

11.   Gia Định B�o, số 9 (1 May 1874).

12.   Conseil Colonial (Hội Đồng Thuộc Địa) (kh�a họp thường lệ năm 1885), 8 January 1886, 171.� Một khối lượng lớn c�c t�c phẩm của �ng Của được liệt k� trong cuộc thảo luận tại Hội Đồng Thuộc Địa.

13.   Th� dụ, điểm nổi bật cần ghi nhận l� sự thiếu vắng th�ng tin về tiểu sử trong phần d�nh cho �ng Của trong quyển Tự Điển Tiểu Sử-Thư Tịch của Br�bion v� Cabaton (Dictionnaire de bio-bibliographie).

14.   C�ng tr�nh nghi�n cứu của Jean Bouchot, P�trus J.B. Trương Vĩnh K�, vừa cực kỳ hữu �ch vừa l� khu�n mẫu của � kiến của người Ph�p về �ng K�.� N� được r�t ra từ c�c t�i liệu của gia đ�nh.� Một số sự ph�n đo�n của Bouchot phản ảnh giai đoạn khi n� được viết ra.� Th� dụ, h�y cứu x�t � kiến m� Bouchot đ� đưa ra về sự gia nhập của �ng K� v�o ch�nh quyền Ph�p: Dưới c�i nh�n của đồng b�o �ng ta, �ng kh�ng phảI l� một �ng quan lớn, bởi một phẩm trật như thế chỉ c� thể đạt được tiếp theo sau một sự tham dự v�o một cuộc khảo th� đ�ng theo c�c Nghi Lễ, nhưng c� điều g� kh�c lạ v� kẻ cả, nếu t�i c� can đảm để n�i như thế; �ng l�, theo một kiểu n�o đ�, một �ng quan ngoại quốc vĩ đại v� thuộc c�c v�ng đất biểu lộ sự ưu đẳng trong nền văn minh của ch�ng trong một cung c�ch nổi bật như thế.� Phần in nghi�ng l�m nổi bật l� của nguy�n bản.���

15.   AVN S. L. 1,699 mang lại một th� dụ về điều n�y trong l� thư của �ng K� gửi Thanh Tra Inspector Kergaradec, Chợ Qu�n, 14 September 1869, trong đ� �ng K� thảo luận về h�nh ch�nh x� th�n.

16.   C�c cuộc nghi�n cứu gần đ�y bằng Việt ngữ về cuộc đời �ng K�, chẳng hạn như c�ng tr�nh của Khổng Xu�n Thu, nhan đề Trương Vĩnh K�, v� Nguy�n Hương, �Trương Vĩnh K� (1837 � 1898),� Văn H�a Nguyệt San, XIV, 12 (Th�ng Mười Hai 1965), c�c trang 1709-1737, c� sử dụng t�i liệu của Bouchot.� Cuộc nghi�n cứu n�y cũng được r�t ra từ c�c văn khố c�ng v� tư tại Paris v� S�ig�n, kể cả hồ sơ c� nh�n của �ng K� tại c�c văn khố Việt Nam v� c�c t�i liệu gia đ�nh được lưu giữ tại Bảo T�ng Viện P�trus K� tr�n địa điểm c� ng�i nh� của �ng tại Chợ Qu�n, ngoại � S�ig�n.

 

Tầm mức c�c trước t�c của �ng K� c� thể được nhận thấy từ việc tham khảo nhiều thư tịch kh�c nhau về c�c t�c phẩm của �ng.� C� c�c thự tịch trong cuộc nghi�n cứu của Bouchot, nơi c�o ph� của Henri Cordier về sự từ trần của �ng K� trong tập san T�oung Pao, series II, I (1900), c�c trang 262-268.� Sự liệt k� đầy đủ nhất l� thư muc của ch�nh �ng K� nhan đề Catalogue des ouvrages publi�s et �dit�s jusqu�� ce jour par P.J.B. Trương Vĩnh K� � l�usage des �coles indochinoises (Thư Mục C�c T�c Phẩm Đ� Ấn H�nh v� Bi�n Tập cho đến ng�y nay của �ng P.J.B. Trương Vĩnh K� được d�ng tại c�c trường ở Đ�ng Dương) (Chợ Qu�n, 1892).� Đ�y l� bản in lối quay ron�o v� được tham khảo trong số c�c t�i liệu của �ng K� được lưu trữ tại Viện Khảo Cổ (Institute for Archeological Research), S�ig�n.� N� bao gồm 141 t�c phẩm ri�ng biệt được liệt k�.

 

17.   AVN S. L. 172, thư �ng K� gửi �ng Vial, Chợ Qu�n, 3 October 1868, trong hồ sơ c� nh�n của �ng K�.

18.   Cours d�histoire annamite � l�usage des �coles de la Basse-Cochinchine (Saigon, 1875-1877).

19.   T�c giả Bouchot sao ch�p lại bản b�o c�o n�y trong quyển viết tiểu sử �ng K�, c�c trang 34-41, m� kh�ng c� bất kỳ chỉ dẫn n�o về xuất xứ.� T�c giả n�y [tức Milton E. Osborne, ch� của người dịch] c� tham khảo một bản sao b�o c�o viết tay của �ng K� trong sổ văn thư của �ng, �Thư T�n c�c năm 1873-1874� (trong thực tế bao gồm từ năm 1873 đến 1877) tại Bảo T�ng Viện P�trus K�.� N� được ghi ch� trong sổ văn thư mang Số 50, c� nhan đề �Rapport � l�A[d]miral par l�interm�diaire de M. Regault de Premesnil,� Chợ Qu�n, 28 April 1876.� B�o c�o ch�nh trị kh�ng hề được ấn h�nh trong thời sinh tiền của �ng K�.� Bản được ấn h�nh nhan đề l� Chuyến đi Bắc K� năm Ất Hợi (S�ig�n, 1881): Voyage au Tonkin en 1876.� Bản văn được viết bằng tiếng Việt.

20.   AVN S. L. 172; b�o c�o của Luro đề ng�y 16 th�ng S�u, 1875.

21.   Bảo T�ng Viện P�trus K�, �Thư T�n C�c Năm 1873 v� 1874�, Số 105, Thư của P�trus K� gửi �ng Perrin của Hội Ngữ Học (Soci�t� Philologique), S�ig�n, 3 September 1877.

22.   Về quan điểm của �ng Phạm Quỳnh, xem t�c phẩm của �ng ta nhan đề Quelques Conf�rences � Paris (H� Nội, 1923), c�c trang 116-118.

23.   Sự tr�ch dẫn được r�t ra từ t�i liệu �Institutions fond�es en Cochinchine: C�c Học Viện được th�nh lập tại Nam Kỳ,� đề năm 1884, v� được chứa trong AAE Asie Tome 29 Indochine 3.� Cũng xem, AOM Indochine A-20 (3) Văn thư của Đ� Đốc de la Grandi�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 31 December 1864, No. 1,121, c� đ�nh k�m một b�o c�o tổng qu�t cho năm 1864.

24.   AOM Indochine A-30 (6) Văn Thư của Đ� Đốc de La Grandi�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 29 September 1864, No. 985.� Phần nhấn mạnh l� của nguy�n bản.

25.   AOM Indochine A-20 (3) Văn Thư của Đ� Đốc de La Grandi�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 31 December 1864, No. 1,121, c� đ�nh k�m một b�o c�o tổng qu�t cho năm 1864.

26.   AOM Indochine A-30 (8) Văn Thư của Đ� Đốc Roze gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 29 March 1865, No. 1.�

27.   C�ng nơi dẫn tr�n, Văn Thư của Đ� Đốc Roze gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 26 November 1865, kh�ng đ�nh số.�

28.   AM Marine BB4, 876, Văn Thư Đ� Đốc Ohier gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 28 November 1868, No. 1,083.�

29.   C�ng nơi dẫn tr�n, 899, Văn Thư của Đ� Đốc Ohier gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 2 March 1869, kh�ng đ�nh số.�

30.   AOM Indochine A-20 (8) �Rapport pour l�expose g�n�ral de la situation de l�Empire,� S�ig�n, 28 August 1869.

31.   AOM Indochine A-20 (11) Văn Thư của Đ� Đốc Cornulier-Lucini�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 27 September 1870, No. 816.�

32.   AOM Indochine A-20 (14) Văn Thư của Đ� Đốc Dupr� gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 1 February 1873, No. 115.

33.   AVN S. L. 2,727 �Affaire de l��cole Centrale de Mytho,� 1872.

34.   Cours d�administration, trang 681.

35.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 682.

36.   C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 682-683.� Cũng xem Taboulet, La Geste, II, c�c trang 592-597.

37.   BOCF, 1871, pt. 7, c�c trang 230-232.

38.   AVN S. L. 2,756 �Rapport mensuel adress� � Monsieur le Directeur de l�Int�rieur,� (B�o c�o h�ng th�ng gửi �ng Gi�m Đốc Nội Vụ, soạn thảo bởi �ng Robert, Gi�m Đốc Trường Sư Phạm, S�ig�n, 25 April 1874.

39.   AOM Indochine A-30 (8) Văn Thư của Đ� Đốc Roze gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 7 April 1865, No. 1,279.

40.   AOM Indochine X-11 (1).� Hồ sơ n�y c� số văn thư kh� lớn về chương tr�nh.

41.   ANV Điện văn của Bộ gửi Đ� Đốc Ohier, Paris, 7 May 1869.

42.   George Durrwell, Ma Ch�re Cochinchine (Paris, 1911), 265.� Cũng xem hồ sơ c� nh�n của Trần B� Hữu [?], AVN S. L. 2,743.

43.   AVN Điện văn của Bộ gửi Đ� Đốc de La Grandi�re, Paris, 22 November 1866; AOM Indochine A-20 (11), Văn Thư của Đ� Đốc Cornulier-Lucini�re gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 27 September1870, No. 816.

44.   AOM Indochine X-11 (1), Thư Gi�m Đốc Viện Institution Sainte Marie, La Seyne, gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, 15 January 1868.

45.   C�ng nơi dẫn tr�n, 24 October 1871.

46.   AVN Điện Văn của Bộ gửi Đ� Đốc Ohier, Paris, 6 June 1868.� B�i b�o được in trong tờ La Phare de Loire, 5 January 1868.

47.   AOM Indochine X-11 (I) Văn Thư của Đ� Đốc Dupr� gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa, S�ig�n, 11 July 1871, No. 364.

48.   Lettre commune (Thư cộng đồng), No. 3, 31 December 1875; No. 8, 31 December1877; No. 9, 31 December 1878.

49.   Gi�o dục d�ng tu đạo đ� l� nguy�n ủy của sự thảo luận n�ng bỏng v�o cuối thập ni�n ch�n mươi.� Th� dụ xem Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) (kh�a họp thường lệ 1897-1898), 26 November 1897, trang 108.

50.   AOM Indochine D-450 (4) �Conseil Priv�, extrait du registre des d�lib�rations: Cơ Mật Viện: tr�ch lục sổ ghi ch�p c�c quyết đinh.� 17 November 1874.

51.   C�ng nơi dẫn tr�n.� Cho đến khi c�c trường sơ học được thiết lập tr�n một căn bản phổ th�ng, c�c trường dạy bằng quốc ngữ vẫn được tiếp tục.� Kh�ng c� bằng cớ n�o cho thấy rằng c�c trường n�y đ� l�m như thế trong một thời khoảng k�o d�i.

52.   C�ng nơi dẫn tr�n.

53.   AVN S. L. 4,384 �Rapport sur un voyage d�inspection fait du 11 f�vrier au 3 mars, et du 15 mars au 6 avril 1876 dans les deux provinces de Gia Định et de Bien Hoa (circonsription de Saigon),� 15 August 1876.� Sự nhấn mạnh l� của nguy�n bản, khi nằm trong dấu ngoặc k�p.� Philastre đ� đặt dấu ngoặc k�p tr�n từ �cung cấp: furnish� bởi đ�y l� từ được d�ng bởi ch�nh quyền Ph�p. �ng muốn l�m nổi bật sự tương phản sự việc n�y với t�nh h�nh thực tế, trong đ� sự cưỡng b�ch v� �thu� mướn [trẻ đi học]� c� li�n hệ đến.

54.   Quyết định được lấy h�m 6 April 1878.

55.   AOM Indochine X-00 (1) �Extrait d�une lettre adress�e au Ministre par le Gouverneur p. I. [Ohier] de la Cochinchine, � Saigon, 2 march 1869; v� �Extrait d�un rapport annuel du Gouverneur p.i. de la Cochinchine, Ohier, au Ministre de la Marine, sur la situation de la colonie,� Saigon, 13 September, 1869.

56.   AOM Indochine X-00 (1), �Extrait � Expos� de la situation de la Cochinchine pour 1878,� kh�ng đề ng�y.���

 

 

 

Nguồn: Milton E. Osborne, The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), Ithaca and London: Cornell University Press, 1969, Chương 4: Education and Quốc Ngữ -- The Development of a New Order, c�c trang 89-108.�

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o

� 2007 gio-o