Andr� Malraux, photo: www.didier-faubert.com



Michel Dye

Universit� de Avignon

 

ANDR� MALRAUX V�

 

SỰ QUYẾN RŨ CỦA PHƯƠNG Đ�NG

 

TRONG QUYỂN �TH�N PHẬN CON NGƯỜI�

 

 

Ng� Bắc dịch

*****

 

Lời Người Dịch

������ Mặc d� ch�nh Andr� Malraux đ� gọi quyển tiểu thuyết nổi tiếng của �ng, La Condition Humaine, l� một bản tường tr�nh, nhưng như t�c giả Michel Dye đ� viết trong b�i nghi�n cứu n�y, nhiều phần đ�y l� một t�c phẩm giả tưởng, tuy c� xen lẫn c�c mẫu tin tức c� thực thu lượm từ một người bạn k� giả của Andr� Malraux.� Ch�nh v� bản th�n Andr� Malraux cũng l� một tr� thức dấn th�n đấu tranh, b�i viết của Michel Dye được dịch nơi đ�y cũng c� nhữmg l�c lẫn lộn giữa thực v� ảo, giữa giả tưởng v� đời thực.� Từ quyển tiểu thuyết n�y, t�c giả đ� đưa ra một số nhận x�t về Andr� Malraux như sau:

������ 1. Mặc d� kh�ng phải l� một người ủng hộ nhiệt t�nh cho cuộc c�ch mạng Trung Hoa, nhưng �ng đ� cố gắng l�i chủ nghĩa d�n tộc An Nam theo chiều hướng giải ph�ng x� hội, v� chủ định n�y l� căn nguy�n của quyển La Condition Humaine.

������ 2. Sự giải nhiệm của Quốc Tế cộng sản c�c nh� c�ch mạng Thượng Hải, c�c kẻ quyết định duy tr� chiến dịch của họ bất kể mọi điều, đưa đến sự đ�n �p trong đ� Kyo v� th�n hữu của anh ta l� c�c nạn nh�n.� Bằng việc chiếu rọi v�o sự bỏ rơi n�y v� dừng lại tr�n số phận �c độc tức thời đổ xuống c�c nh� c�ch mạng Trung Hoa n�y, Malraux bộc lộ sự ủng hộ của �ng cho học thuyết của Trotsky, v� nhấn mạnh đến c�c t�nh trạng c� biệt của c�ch mạng Trung Hoa.

������ 3. Malraux cũng đ� sớm nhận ch�n được c�c ảo tưởng của chủ nghĩa cộng sản, qua lời một trong c�c nh�n vật ch�nh trong truyện, gi�o sư triết học Gisors, nơi phần kết luận của t�c phẩm:�

T�i kh�ng muốn đi sang Mạc Tư Khoa.� T�i sẽ dậy học một c�ch khốn khổ ở đ�.� Chủ nghĩa m�c-x�t đ� ngừng sống trong t�i.

Để độc giả dễ d�ng theo d�i nội dung b�i nghi�n cứu n�y, người dịch c� bổ t�c Phụ Lục 1 liệt k� c�c nh�n vật ch�nh trong t�c phẩm La Condition Humaine ngay trước khi bước v�o b�i viết.

Để độc giả c� thể hiểu biết th�m một Andr� Malraux, một ch�nh trị gia trong thực tế lịch sử, người dịch c� bổ t�c, sau b�i viết, Phụ Lục 2, bản tường tr�nh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc về chuyến thăm viếng v� c�ng t�c của Andr� Malraux tại Bắc Kinh trong thời Chiến Tranh Việt Nam, v�o Th�ng T�m năm 1965.� Khi tiếp x�c với c�c nh� l�nh đạo Trung Cộng tai Bắc Kinh, Andr� Malraux c� tr�nh b�y với ch�nh quyền Trung Cộng đề nghị của ch�nh phủ De Gaulle của Ph�p để chia cắt Đ�ng Dương một lần nữa, dọc theo rặng Trường Sơn.� Theo đề nghị n�y, Việt Nam C�ng H�a sẽ bị hy sinh, v� thuộc về sự kiểm so�t của H� Nội hay Mặt Trận Giải Ph�ng Miền Nam�Theo học giả Jean Lacouture, đ�y l� một � kiến ch�nh trị hoang tưởng nhất của một tiểu thuyết gia trong vai ch�nh kh�ch. �Andr� Malraux đ� kh�ng n�i g� đến đề xuất n�y khi thuật lại chuyến thăm viếng của �ng tại Trung Hoa trong tập hồi k� Anti-M�moires của �ng ta.

***

 

To�t Yếu:

Nh� văn Ph�p Andr� Malraux gục ng� v� sự m� đắm của �ng với văn h�a Phương Đ�ng.� Quyển s�ch của �ng, �La Condition Humaine: Th�n Phận Con Người� gi�p �ng đoạt Giải Prix Goncourt năm 1933.� C�c chuyến du h�nh thường xuy�n của �ng đến � Ch�u đ� khiến �ng quen thuộc với lịch sử v� văn h�a Phương Đ�ng.� Quyển s�ch l� bản c�o trạng c� nh�n của �ng về x� hội tư sản đ� sỉ nhục �ng trong c�ng việc của �ng tại Đ�ng Dương, như một kẻ s�ng lập tờ b�o L�Indochine.� Một ph�n cảnh đặc biệt của c�ch mạng Trung Hoa đ� mang lại cảm hứng cho quyển s�ch.

***

Phụ Lục 1 của người dịch

C�C NH�N VẬT CH�NH TRONG TRUYỆN

 

TCHEN (CH�EN) TA ERH, một kẻ khủng bố người T�u.

KYO GISORS, nửa Ph�p, nửa Nhật Bản, một trong c�c người tổ chức cuộc nổi dậy ở Thương Hải.

�NG GI� GISORS, bố của Kyo, c� thời l� Gi�o Sư X� Hội Học tại Đại Học Bắc Kịnh

MAY GISORS, vợ của Kyo

BARON DE CLAPPIQUE, Nam Tước người Ph�p, một nh� bu�n đồ cổ, thuốc phiện, v� c�c h�ng lậu.

KATOV, người Nga, một trong những người tổ chức cuộc nổi dậy.

HEMMELRICH, người Đức, nh� bu�n m�y h�t.

LU YU HSUAN, cộng sự vi�n của anh ta.

KAMA, họa sĩ Nhật Bản, anh em rể của �ng Gi� Gisors.

FERRAL, Chủ Tịch Ph�ng Thương Mại Ph�p v� đứng đầu Tổ Hợp Franco-Asiatic Consortium.

VAL�RIE, nh�n t�nh của Ferral.

MARTIAL, Cảnh S�t Trưởng Thượng Hải.

KONIG, Chỉ huy cảnh s�t của Tưởng Giới Thạch.

VOLOGIN v� POSSOZ, c�c nh�n vi�n cộng sản tại H�n Khẩu.

PEI v� SUAN, c�c thanh ni�n khủng bố người T�u.

 

***

 

Khi được trao giải thưởng Prix Goncourt cho quyển La Conditon Humaine v�o năm 1933, Andr� Malraux c� n�i rằng �ng đ� viết n� �để ủng hộ cho cuộc đấu tranh m� c�c kẻ Trung Hoa theo cộng sản [đ� nhận được] cảm t�nh s�u xa nhất của n�: pour soutenir la lutte des communists chinois [qui avaient] toute sa sympathie�. 1 Malraux đ� hấp thụ văn h�a Phương Đ�ng do nhiều chuyến du h�nh của �ng sang v�ng Viễn Đ�ng, v� trong thực tế �ng d�ng t�c phẩm n�y để đưa ra một bản c�o trạng x� hội tư sản đ� sỉ nhục �ng tại Đ�ng Dương.� Mặc d� kh�ng phải l� một người ủng hộ nhiệt t�nh cho cuộc c�ch mạng Trung Hoa, nhưng �ng đ� cố gắng l�i chủ nghĩa d�n tộc An Nam theo chiều hướng giải ph�ng x� hội, v� chủ định n�y l� căn nguy�n của quyển La Condition Humaine.� Malraux được nghĩ như một kẻ phi�u lưu phi đạo đức trong x� hội thực d�n tại Phnom Penh v� S�ig�n, bởi cuộc viễn chinh khảo cổ của �ng tại Căm Bốt. �Tuy nhi�n, �ng đ� được đ�n tiếp nồng nhiệt trong giới đấu tranh Việt Nam.� Từ ngay trong cuộc lưu tr� đầu ti�n của �ng tại Đ�ng Dương, �ng đ� tiếp x�c với luật sư Paul Monin, một trong c�c nh�n vật then chốt trong chiến dịch An Nam.� Ch�nh c�ng với �ng n�y m� Malraux đ� tung ra, trong lần lưu tr� thứ nh� của m�nh tại Đ�ng Dương, tờ b�o L�Indochine, v� sau đ� tờ L�Indochine enchain�e.� C�c tờ b�o n�y đ� tố c�o chế độ đ�n �p v� sự b�c lột người d�n n�ng th�n, c�ng ch�nh quyền thực d�n.� V�o l�c n�y đ� c� một vụ mưu s�t nhắm v�o Monin bởi một người An Nam được trả tiền với nhiều x�c xuất nhất bởi ch�nh ban điều tra h�nh sự.� Cuộc mưu s�t n�y đ� c� t�c động tr�n Malraux đến nỗi �ng đ� bắt đầu quyển La Condition Humaine với cảnh kẻ s�t nh�n v�n m�n chống muỗi của Monin [sic] sang một b�n, vung lười dao cạo m� với n� kẻ s�t nh�n sắp sửa tấn c�ng Monin [sic].� Nh� văn hẳn đ� phải ph�t triển sự cảm nhận của �ng về lẽ c�ng bằng x� hội trong c�c kỳ lưu tr� li�n tiếp n�y tại Đ�ng Dương.� Ch�ng cũng đ� ph� b�y cho �ng thế giới kh�c, một nền văn minh kh�c biệt kh�ng thể kh�ng l�i cuốn một người trẻ tuổi say đắm với nghệ thuật của Khmer.� V�o l�c đ�, � Ch�u được nh�n như một địa điểm huyền b� v� x� hội Khổng học chỉ được biết đến ch�t �t, nhưng kh�ng phải kh�ng c� sự thu h�t đối với kẻ khao kh�t sự tuyệt đối như Malraux.� Quyển La Condition Humaine cho thấy một c�ch r� r�ng c�c sự tin tưởng của t�c giả.� N� cũng tr�nh b�y văn h�a Phương Đ�ng, điều �ng hẳn c� được sự hiểu biết nhiều hơn nhờ cuộc du h�nh thế giới m� �ng đ� thực hiện trong năm 1931 với tư c�ch đại diện cho nh� xuất bản Gallimard.� Ch�nh trong cuộc du h�nh n�y �ng đ� kh�m ph� ra Trung Hoa, đặc biệt Thượng Hải, v� Nhật Bản, c�c nơi chốn cho c�u chuyện được dựng l�n.� ����

Trong quyển La Condition Humaine, Malraux đặt ti�u điểm v�o một lớp lang của c�ch mạng Trung Hoa, cuộc nổi dậy năm 1927 tại Thượng Hải được tổ chức bởi phe cộng sản v� bị đ�n �p bởi viến tuớng Quốc D�n Đảng, Tưởng Giới Thạch.� �ng gọi quyển s�ch của m�nh l� một bản tường tr�nh, nhưng trong thực tế nhiều phần n� l� một t�c phẩm loại giả tưởng.� C�c đoạn tin cắt từ b�o ch� v� c�c mẩu tin tức lấy từ người bạn của �ng, Georges Manue, một ph�ng vi�n tường thuật cuộc nổi dậy đấu tranh cộng sản tại Trung Hoa, tạo th�nh căn bản của một quyển truyện đi xa hơn phạm vi của một quyển sử bi�n ni�n.� C�c mục ti�u của Malraux trong quyển La Condition Humaine như sau: để phản ảnh c�c thảm cảnh của một thế giới đang ph�t triển, để định h�nh d�n tộc đang biểu lộ c�c kh�t vọng của một thời đại bị gi�y v� v� để m� tả cuộc chiến đấu của con người với Định Mệnh.� Thực ra, ngay trong ch�nh nhan đề La Condition Humaine đ� bao h�m sự tham chiếu đến Pascal v� đến si�u h�nh học.� Malraux b�c khước c�c h�nh ảnh đẹp mắt th� vị, bởi �ng nhắm đến việc đặt sự nhấn mạnh tr�n mối quan hệ giữa c� nh�n v� h�nh động tập thể, v� �ng ph�c họa trong quyển tiểu thuyết của m�nh cuộc xung đột giữa con người v� vận mệnh.� �ng muốn đi thẳng đến vấn đề, v� ch�nh v� thế, đ� chỉ m� tả vẻ bề ngo�i một c�ch tho�ng qua.� Khung cảnh cho h�nh động hay của � nghĩ n� khi�u dẫn kh�ng được m� tả tự bản th�n, m� trong sự tương quan với � thức của c�c nh�n vật.� T�c giả đẩy ch�ng ta thẳng v�o ngay giữa bạo lực c�ch mạng, qua việc thuật lại h�nh động khủng bố được thực hiện bởi Tchen v�o l�c bắt đầu quyển truyện.� Sự tr�nh b�y về m�i trường bị giảm thiểu v�o sự m� tả đơn giản nhất của n�, trong tầm nh�n của nh�n vật ch�nh.� Ch�nh v� thế ch�ng ta với tư c�ch c�c độc giả kh�m ph� c�ng với Tchen, kẻ sắp sửa hạ s�t nạn nh�n của anh ta, c�c ngọn đ�n th�nh phố trong b�ng đ�m, nhưng người viết truyện kh�ng dừng lại ở sự m� tả th�nh phố.� Giống như đ�i mắt của Tchen, đ�i mắt ch�ng ta nhắm đến chiếc m�n ch�ng muỗi che đậy con người đang nằm ngủ c� mạng sống sẽ bị hy sinh cho c�ch mạng.� Th�nh phố � Ch�u kh�ng thực sự được m� tả sau đ�.� Trong sự m� tả sơ s�i m� Malraux viết về n� �t trang sau đ�, t�i năng của người viết nằm nơi khả năng cho thấy rằng cuộc nổi dậy đang kề cận.� Ch�nh v� thế �m thanh �ng m� tả, thay v� để chỉ hoạt động dồn dập của một hải cảng, lại nhấn mạnh đến sự căng thẳng m�nh liệt; tiếng c�i của c�c chiếc thuyền tuần cảnh nhắc nhở ch�ng ta về c�c chiến thuyền, v� bản chất bệnh hoạn của tiếng c�i hụ được nghe như một k�u th�t cầu cứu.� B�t ph�p của Malraux c� t�nh c�ch �m chỉ.� Sự ngh�o đ�i th� thảm của khu sinh sống của người Trung Hoa, một vũ trụ c�u gh�t của sự dơ bẩn, c�c ng� cụt hoang t�n v� c�c đường hẻm quanh co, được n�i đến trong �t h�ng của sự m� tả.� Tuy nhi�n, vượt qu� những g� �ng nh�n thấy, người viết truyện dự tưởng đến đời sống của người d�n đang phải chịu đựng sự b�c lột � nhục:

Cach�s par ces murs, un demi-million d�hommes: ceux des filatures, ceux qui travaillent seize heures par jour depuis l�enfance, le peuple de l�ulc�re, de la scoliose, de la famine 2. (CH, 23-4) ��

Che khuất bởi c�c bức tường n�y, nửa triệu người: những người thợ xe sợi, những kẻ l�m việc mười s�u tiếng đồng hồ mỗi ng�y từ l�c c�n thơ ấu, lớp người của bệnh lở lo�t, của chứng vẹo xương sống, của sự đ�i kh�t. 2 (CH, 23-4)

Trong h�nh ảnh tầng lớp lao động Trung Hoa m� �ng ph�c thảo nơi đ�y, Malraux vươn tới một chiều k�ch anh h�ng ca.� M� tả sự bất c�ng x� hội, �ng sử dụng c�c kh� cụ văn chương tương tự như c�c dụng cụ của Zola, t�c giả quyển Germinal.� Để tạo t�c động tr�n độc giả, �ng trước ti�n sử dụng một h�nh d�ng, sau đ� một sự c�n bằng h�ng biện, trước khi thay thế h�nh d�ng bằng một từ ngữ về chủng loại h�m � sự khuếch đại, ph�ng lớn.� Sau c�ng, �ng chấm dứt c�u văn với một sự t�ch lũy cố � đặt sự nhấn mạnh tr�n c�c bệnh tật ảnh hưởng đến người T�u.� Tuy nhi�n, kh�ng giống như Zola, Malraux kh�ng dừng lại tr�n sự tố gi�c n�y.� C�u cuối c�ng của đoạn văn n�y một c�ch kh�n kh�o mang ch�ng ta trở lại thị kiến về thi�n nhi�n được n�u ra ở phần mở đầu của đoạn văn.� Th�nh phố xem ra bị r�ng động bởi một cơn b�o dữ dội, v� người đọc kh�ng thể l�m g� kh�c hơn ngo�i việc nh�n thấy trong sự b�ng nổ đột nhi�n của sự kiện đại biến n�y cuộc nổi dậy của người d�n Thượng Hải l� c�c kẻ, giống như thi�n nhi�n, c� khả năng nổi giận.� Cẩn thận để tr�nh kh�ng viết một quyển truyện quanh co d�i d�ng, Malraux loại bỏ sự m� tả hời hợt.� B�u kh�ng kh� của Thượng Hải chủ yếu được chuyển tải xuy�n qua � thức của Kyo, nh�n vật ch�nh y�u tổ chức cuộc nổi dậy chống �người phe ch�nh phủ: govermentals�, c�c kẻ được ủng hộ bởi Phương T�y.

Les concessions, les quartiers riches, avec leurs grilles lav�es par la pluie � l�extr�mit� des rues, n�existaient plus que comme des menaces, des barriers, de long murs de prison sans fen�tres: ces quartiers atroces, au contraire � ceux ou les troupes de choc �taient les plus nombreuses � palpitaient du fr�missement d�une multitude � l�aff�t.� (CH, 24)

C�c t� giới, c�c khu gi�u c�, với c�c khung chấn song được gột rửa bởi mưa ở cuối c�c con đường, chỉ c�n hiện diện như những sự đe dọa, những h�ng r�o chắn ngang, những bức tường d�i của nh� t� kh�ng cửa sổ; c�c khu vực t�n �c n�y, ngược lại, l� những nơi c� c�c to�n qu�n xung k�ch đ�ng đảo nhất, nơi kh�ng biết bao nhi�u người đang phập phồng run rẩy trong cuộc mai phục.

Quang cảnh tại H�n Khẩu, một c�n cứ địa cộng sản trước đ�y, được tr�nh b�y nơi đoạn mở đầu của phần thứ ba theo một lối tương tự, mặc d� xuy�n qua một c�i nh�n ph� ph�n của Kyo. ��N� đ� trở th�nh một thị trấn ma, v� hải cảng giờ đ�y chỉ chứa c�c t�u ph�ng thủy l�i v� thuyền buồm.� Tiểu thuyết gia kh�ng thực sự m� tả vũ trụ phức tạp của Trung Hoa, bởi �ng quan t�m nhiền hơn đến việc đặt định c�c chi tiết biểu tượng hơn l� việc m� tả sự đa dạng của � Ch�u.� Trong cung c�ch n�y, sự im lặng của đ�m đ�ng người d�n Trung Hoa, thường ồn �o biết bao, được nhấn mạnh nhằm l�m nổi bật bản chất kh�c thường của cuộc đ�nh c�ng đ� mang Thượng Hải đến một t�nh trạng đ�nh trệ v�o l�c khởi đầu phần thứ nh�.� Trong �bi�n ni�n� n�y về cuộc c�ch mạng Trung Hoa, trong thực tế tầng lớp lao động chỉ c� một vai tr� kh�ng đ�ng kể.� Malraux chỉ đưa ra sự ch� � hạn chế về nỗi thống khổ của người Trung Hoa bị b�c lột.� Hơn nữa, �ng chiếu rọi �t �nh s�ng tr�n c�c động lực của c�c c�ng nh�n ở Thượng Hải.� Cuộc c�ch mạng m� �ng ph� b�y cho ch�ng ta phần lớn l� h�nh động của c�c tr� thức, từ nhiều tầng lớp x� hội, những kẻ m� �ng hiểu biết về � thức hệ nhiều hơn căn bản x� hội của họ.� ��ng n� tr�nh viết một bản tường tr�nh về Trung Hoa, v� thay v�o đ� biến tiểu thuyết của �ng th�nh đấu trường cho một cuộc tranh luận ch�nh trị v� si�u h�nh học.� Cuộc tranh luận n�y th� kh�ng thể tr�nh n� đối với một người T�y Phương ở giữa c�c cuộc chiến tranh, nhưng bởi v� �ng đ� bị say đắm bởi v�ng Viễn Đ�ng, sự tr�nh b�y của �ng mang một m�u sắc Đ�ng Phương mạnh mẽ.

C�ch mạng Trung Hoa được đề cập trong quyển La Condition Humaine ở nơi m� cuộc nổi dậy đang l�m rung chuyển Thượng Hải, v� c� �c�c kẻ nắm ch�nh quyền� đang kiểm so�t miền bắc Trung Hoa bất h�a với cả phe cộng sản lẫn qu�n đội Quốc D�n Đảng, phe kể sau được l�nh đạo bởi Tưởng Giới Thạch, kẻ đ� chinh phục miền nam, v� đang tiến đến Thượng Hải.� Malraux m� tả của nổi dậy thắng lợi được tổ chức bởi c�c người cộng sản đấu tranh tại Thượng Hải, v� bị x�i giục bởi Chu �n Lai, nhằm đ�nh bại viến tường phe d�n tộc chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch.� Nh�n vật lịch sử n�y được đại diện bởi Kyo Gisors trong quyển tiểu thuyết, nhưng kẻ kể sau th� rất kh�c biệt với ch�nh trị gia trong đời thực, v� kh�ng phải l� một sự ho�n vị văn chương của �ng ta.� L� con trai của một người đ�n �ng Ph�p v� một phụ nữ � Ch�u, Kyo tượng trưng cho sự hỗn hợp của hai văn h�a.� Con trai của �ng bị ảnh hưởng bởi văn minh T�y Phương, v� g�nh chịu một loại c� đơn hiện sinh.� Anh ta nhận biết được sự khả dĩ bị x�m hại của ch�nh m�nh khi đối diện với định mệnh, v� cảm thấy rằng c�ch mạng mang lại � nghĩa cho cuộc đời anh ta.� Từ sự gi�o huấn Nhật Bản của m�nh, Kyo đ� g�n giữ sự nhiệt th�nh cho h�nh động, vốn cũng l� một đường n�t T�y Phương, v� anh ta được ph� b�y như một con người thực tế nhắm đến hiệu quả.� Sự cam kết của anh ta với tầng lớp lao động Trung Hoa, kh�c xa với lớp tr� thức thuần t�y, th� cụ thể v� được tr�nh b�y l� kh�ng thể ph�n ly khỏi l�ng vị tha của anh ta:

Kyo avait chosi l�action, d�une faҫon grave et premedit�e, comme d�autres choisissent les armes ou la mer: il availt quitte son p�re, veҫu � Canton, � Tiensin, de la vie des manoeuvres et des coolies � pousse pour organizer les syndicats. (CH, 67-8)

Kyo đ� lựa chọn h�nh động, một c�ch nghi�m chỉnh v� cố �, giống như c�c người kh�c lựa chọn binh nghiệp hay biển cả: anh đ� xa rời khỏi người cha, đến sống tại Quảng Ch�u, tại Thi�n T�n, cuộc đời của c�c c�ng nh�n v� c�c cu -li, hầu tổ chức c�c nghiệp đo�n (CH, 67-8)

Ảnh hưởng bởi Nhật Bản, nơi anh ta sống thời c�n trẻ, Kyo tin tưởng rằng điều cần thiết l� phải h�nh động tr�n c�c tư tưởng, v� v� thế anh quả quyết đ�nh liều mạng sống của m�nh.� Giống y như Mao Trạch Đ�ng sẽ l�m sau n�y, anh ta quan t�m đến c�c quyền lợi quốc gia của Trung Hoa.� Trong chiến lược của anh ta về ch�nh nghĩa của d�n n�ng th�n, anh ta biểu lộ t�nh chất c� nh�n của phong tr�o c�ch mạng Trung Hoa.� Anh ta chống đối Vologuine, một vi�n chức thư lại của khối Komintern v� kẻ ủng hộ cho l� thuyết của Stalin tuy�n bố rằng điều cần thiết l� thiết lập đầu ti�n căn bản của chủ nghĩa cộng sản tại Li�n Bang S� Viết trước khi mở rộng n� đến c�c nước kh�c, đặc biệt l� Trung Hoa.� Kyo đại diện cho đề xướng c� tinh chất c� nh�n m� Chu �n Lai đ� thể hiện trong đời sống thực tế.

Xuy�n qua hai nh�n vật n�y, Malraux n�u l�n c�u hỏi về sự xung đột giữa phe ch�nh thống M�c-x�t v� � thức hệ phe Trotsky, nhưng �ng kho�c cho n� một chiều k�ch � Ch�u bằng việc nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa c�c tư tưởng của Kyo v� những tư tưởng của Hồ Ch� Minh [?] hay Mao Trạch Đ�ng.� C�c nh� c�ch mạng Thượng Hải như Kyo hay Tchen chống lại một Vologuine lạnh l�ng, kẻ mong ước duy tr� li�n minh với c�c lực lượng bảo thủ của Tưởng Giới Thạch.� Từ khước bất kỳ sự thỏa hiệp n�o với vi�n tướng phe d�n tộc chủ nghĩa, họ chủ định tiếp tục cuộc c�ch mạng.� Trong c�c chỉ thị của Komintern ra lệnh đ�nh chỉ hoạt động của giới n�ng d�n, Kyo nh�n thấy một sự phản bội đối với phong tr�o c�ch mạng Trung Hoa, v� �ng ưa th�ch Vologuine thừa nhận bản chất đặc th� của c�ch mạng Trung Hoa.� Bằng việc hoạch định h�nh động của giới n�ng d�n v� tổ chức một cuộc tuần h�nh từ th�nh phố n�y đến th�nh phố kh�c, Kyo ph�t biểu c�c tư tưởng tương tự như c�c tư tưởng của Hồ Ch� Minh, kẻ m� Malraux hẳn phải biết đến, khi l�m chủ bi�n cho tờ L�Indochine tại Phnom Penh.� Nh�n vật Ferral trong vai một đại doanh nh�n được gợi hứng bởi người anh (hay em) của nh� ngoại giao Philippe Berthelot, kẻ l�m gi�m đốc ng�n h�ng Ph�p-Hoa trong thập ni�n 1920.� Anh ta am hiểu một c�ch r� r�ng mối nguy hiểm m� phong tr�o n�ng th�n Trung Hoa đưa đến cho hệ thống nghiệp vụ ng�n h�ng đương thời.� Do đ�, anh ta ho�n to�n ngả về phe Tưởng Giới Thạch, chống lại phe cộng sản, bằng việc g�p sức v�o sự đoạn tuyệt của anh ta với họ [phe cộng sản] v� li�n minh với d�n kinh doanh tư sản của Thượng Hải.� Dĩ nhi�n, Ferral bị kết �n phải thất bại v�o hồi kết cuộc của quyển truyện, bởi anh ta đại diện cho chủ nghĩa đế quốc chống lại phong tr�o giải ph�ng c�c tầng lớp lao động.� Tuy nhi�n, xuy�n qua Kyo v� Tchen, Malraux cũng tố gi�c ch�nh s�ch hợp t�c với phe Quốc D�n Đảng được �p đặt tr�n đảng cộng sản bởi Stalin, bởi n� khước từ kh�ng cứu x�t đến c�c t�nh chất x� hội v� kinh tế c� biệt của Trung Hoa. �Malraux đặt sự nhấn mạnh tr�n c�c vấn đề tất nhi�n bị g�y ra bởi sự hợp t�c với Quốc Tế cộng sản m�, qua việc từ chối kh�ng đồng h�nh c�ng với x� hội chủ nghĩa Trung Hoa, c� � định duy tr� một ch�nh s�ch hợp t�c với giới tư sản.� Trong đường hướng n�y, �ng đi qu� cuộc tranh luận khu biệt về � thức hệ nội bộ của cộng đồng c�ch mạng.� �ng đưa ra một quan điểm mới dựa tr�n kinh nghiệm c� nh�n của �ng về v�ng Viễn Đ�ng.� Sự giải nhiệm của Quốc Tế cộng sản c�c nh� c�ch mạng Thượng Hải, c�c kẻ quyết định duy tr� chiến dịch của họ bất kể mọi điều, đưa đến sự đ�n �p trong đ� Kyo v� th�n hữu của anh ta l� c�c nạn nh�n.� Bằng việc chiếu rọi v�o sự bỏ rơi n�y v� dừng lại tr�n số phận �c độc tức thời đổ xuống c�c nh� c�ch mạng Trung Hoa n�y, Malraux bộc lộ sự ủng hộ của �ng cho học thuyết của Trotsky, v� nhấn mạnh đến c�c t�nh trạng c� biệt của c�ch mạng Trung Hoa.

C�i chết bi thảm của Kyo đem đến cho t�c giả của quyển La Condition Humaine cơ hội để t�n dương sự cam kết mang lại cho con người cảm gi�c tham dự v�o sự tiến h�a của nh�n loại.� Xuy�n qua c�i chết n�y, Malraux cũng ngợi ca sức mạnh kh�c thường của t�nh chất m� c� lẽ �ng đ� nhận thấy nơi người d�n � Ch�u v� l� điều �ng cũng c� thể nh�n thấy nơi cha của �ng, kẻ đ� tự tử ngay trước khi Malraux viết quyển La Condition Humaine.� Một c�ch điềm nhi�n, Kyo tự tử để tr�nh khỏi bị tra tấn v� đ� uống thuốc độc �như thể anh nhận được mệnh lệnh: comme s�il eut commande� (CH, 305).� Bằng việc kiểm so�t c�i chết của ch�nh m�nh, anh ta chứng tỏ sức mạnh của m�nh v� đ�nh bại số phận đ�ng sợ của anh ta, bỏi [nếu] �chết đi l� thụ động; [nhưng] tự tử l� một h�nh động �[si] �mourir est passive; [�] se tuer est un acte� (CH, 303).� Quyết t�m m�nh liệt của Kyo cũng c� thể được t�m thấy nơi nh�n vật Tchen, kẻ đ� được gợi hứng bởi Hin.� Anh ta l� một người An Nam cũng đ� l�m việc cho tờ L�Indochine, v� Malraux nhận biết rất r� về sự bạo động của anh ta.� Ngo�i ra, cả Kyo v� Tchen đều c� một hỗn hợp của c�c ảnh hưởng T�y Phương v� Đ�ng Phương.� Mặc d� Tchen l� người Trung Hoa, anh ta khởi đầu bị ảnh hưởng bởi một mục sư ph�i Tin L�nh Lutheran, v� đ� từng được dạy dỗ để tự t�ch m�nh ra khỏi thế giới �thay v� tự hạ m�nh trước hắn: au lieu de se soumettre � lui (CH, 67) như c�c người Phương Đ�ng thường l�m.� Bị khống chế bởi c�c tư tưởng của m�nh, anh ta ph� b�y chủ nghĩa c� nh�n cực đoan, điều cũng nối kết anh ta với tinh thần T�y Phương.� Anh ta nhiều phần l� một đồng minh của c�c nh� c�ch mạng Thượng Hải hơn l� một chiến sĩ cụ thể cho c�ch mạng.� Anh ta nhận thấy rằng h�nh động l� một c�ch để l�m nhẹ bớt nỗi lo �u si�u h�nh m� vị trợ gi�o thứ nhất truyền sang cho anh ta.� Đối với loại anh h�ng kiểu Nietzsche n�y, việc �m bom tấn c�ng tự s�t được thực hiện chống lại vi�n tướng Tưởng Giới Thạch l� một khoảng khắc hoan lạc tối thượng, bởi Tchen tin tưởng rằng điều đ� gi�p anh ta gi�nh lại được sự hợp nhất của con người bị ph�n chia của anh ta v� đoạt được sự kiểm so�t ho�n to�n của ch�nh m�nh.� Thực tế, trong c�i chết, anh hy vọng khắc phục được sự c� đơn v� t�m được an b�nh ho�n to�n.� Ở khoảnh khắc tối thượng, Tchen cảm th�ng với c�i chết; trong c�ch n�y, anh hội tụ với Kama, một họa sĩ, kẻ m� sự đ�m thoại với c�i chết dường như cũng l� một c�ch mang lại � nghĩa cho cuộc đời anh ta.� Tại điểm n�y, Tchen, kẻ chứng minh t�nh thần b� của h�nh vi khủng bố bởi việc giết người đ� trở th�nh một nguồn cội quyến rũ đối với anh ta, đang tiến tới sự thần b� Đ�ng Phương.� Điều n�y xem ra đ� l�m say đắm Malraux kh�ng kh�c g� niềm tin c�ch mạng, như c� thể được nh�n thấy bởi sự ph�t triển của Gisors ở phần cuối quyển truyện.

Gisors l� một triết gia người Ph�p giảng dạy chủ nghĩa Marx.� �ng c� c�c th�nh tố của Andr� Gide cũng như của Bernard Groethuysen, nh� tư tưởng M�c-x�t nửa gốc Đức, một nửa H�a Lan, l�m việc cho N. R. F [?].� Gisors c� ảnh hưởng mạnh mẽ tr�n c�c đệ tử của �ng, d� họ c� l� con trai ch�nh �ng, l� Tchen, kẻ �ng l�m người trợ gi�o thứ nh�, hay Pei.� Ch�ng trẻ tuổi Pei biểu lộ niềm tin bất khả lay chuyển nơi h�nh động anh h�ng của c�c nh� c�ch mạng Thượng Hải, v� anh ta viết một l� thư cho May ở đoạn cuối quyển truyện, tr�ch dẫn c�c lời lẽ t�m t�nh của Gisors từ qu� khứ:

(�) Il faut que l�usine, qui n�est encore qu�une esp�ce d��glise des catacombs, devienne ce que fut la cath�drale et que les homes y vouient, au lieu des dieux, la force humaine en lutte contre la Terre � (CH, 330)

(�) Nh� m�y, hiện vẫn c�n l� một loại nh� thờ với c�c hầm mộ, phải trở th�nh giống như ng�i th�nh đường, v� con người phải nh�n thấy trong đ�, thay v� c�c thần th�nh, sức mạnh con người đấu tranh chống lại Quả Đất. (CH, 330)

Tuy nhi�n, kh�ng giống như kẻ khủng bố trong nh�m của Tchen, Gisors đ� mất đi sự lạc quan lớn lao n�y, kể từ khi c� c�i chết của con trai �ng, Kyo.� �ng, kẻ thường giải th�ch thế giới theo c�c định luật của triết học M�c-x�t, đoạn tuyệt với học thuyết n�y v� quay trở về c�ng việc đầu ti�n của �ng, giảng dạy nghệ thuật T�y Phương.� Bị r�ng động s�u xa bởi c�i chết của đứa con, Gisors từ chối kh�ng đi theo thiếu phụ bạn đời của Kyo sang Li�n Bang S� Viết, v� đảm nhận chức vụ m� �ng đ� được bổ nhiệm, khi c� ta th�c giục �ng ra đi v�o l�c c� ta đến thăm �ng tại ng�i nh� của họa sĩ Kama, tại Nhật Bản:

Je ne d�sire pas aller � Moscou.� J�y enseignerais mis�rablement.� Le marxisme a cess� de vivre en moi. (CH, 332).

T�i kh�ng muốn đi sang Mạc Tư Khoa.� T�i sẽ dậy học một c�ch khốn khổ ở đ�.� Chủ nghĩa m�c-x�t đ� ngừng sống trong t�i. (CH, 332)

Một sự thay đổi ho�n to�n diễn ra trong tư tưởng của người đ�n �ng n�y, kẻ đ� sống một lối sống Đ�ng Phương trong một thời gian d�i, giờ đ�y c� khuynh hướng nhắm tới sự th�ng th�i Trung Hoa cổ truyền.� Gisors l� một kẻ h�t nha phiến hạng nặng, v� lu�n lu�n t�m thấy n� như l� một h�nh thức của sự n� tr�nh cho ph�p �ng tho�t ra khỏi sự phi l� v� th�n phận con người kh�ng thể chịu đựng được.� Đối với �ng, thuốc phiện c� c�ng chức năng như phụ nữ trong thế giới T�y Phương.� N� mang lại cho �ng cảm gi�c giả tạo nhưng hữu hiệu của sự y�n tĩnh, v� một h�nh thức của t�nh trạng an b�nh m�, mặc d� ngắn ngủi, nhưng s�u đậm, bởi đối với một kẻ nghiện nha phiến trong một ảo tưởng do thuốc phiện g�y ra, tự th�n c�i chết được t�n vinh.� Trước thi h�i của đứa con trai từ trần, Gisors đột nhi�n nhận thức được rằng Kyo đ� ngưỡng phục �ng biết bao.� Mặc d� tại điểm n�y �ng từ chối đi ẩn n�u trong sự an to�n m� thuốc phiện mang lại cho �ng, �ng quay trở lại n� đ�i l�c sau n�y tại Kob�, đ� tin tưởng rằng tốt hơn n�n suy nghĩ bằng thuốc phiện hơn l� bằng tư tưởng.� Gisors cũng t�m thấy h�a b�nh m� �ng khao kh�t nơi nghệ thuật.� �ng l� một kẻ s�nh s�i uy�n th�m về nghệ thuật Trung Hoa, v� c� sự cảm nhận kh�c thường đối với hội họa Đ�ng Phương.� �ng cũng hướng đến �m nhạc để t�m sự an ủi:

Depuis que Kyo est mort, j�ai d�couvert la musique.� La musique seule peut parler de la mort.� J��coute Kama, maintenant, d�s qu�il joue. (CH, 381).

Kể từ khi Kyo chết đi, t�i kh�m ph� ra �m nhạc.� Chỉ m�nh �m nhạc c� thể đối thoại với c�i chết.� Giờ đ�y, t�i lắng nghe Kama, bất kỳ khi n�o �ng ấy chơi nhạc. (CH, 381)

Bằng việc lẩn tr�nh trong �m nhạc, vốn cho ph�p cảm th�ng với c�i chết, Gisors đồng � với l� thuyết của Kama rằng sự cảm th�ng với c�i chết mang lại � nghĩa cho sự sống.� Kh�ng c�n nhắm đến sự h�nh động, giờ đ�y �ng chỉ ao ước sống trong sự h�a hợp với vũ trụ, ph� hợp với văn h�a Trung Hoa cổ truyền.� L�nh đạm trước sự biến h�a của thế giới, Gisors n�i �ng hiện trong một phương c�ch �được giải tho�t (�) khỏi c�i chết v� cuộc sống: delivr� (�) de la mort et de la v�e (CH, 332) v� tất cả những g� �ng mong muốn giờ đ�y l� được sống h�a hợp với tiết điệu của vũ trụ:

On peut tromper la vie longtemps, mais elle finit toujours par faire de nous ce pour quoi nous soremes[sommes?] faits. (CH, 333)

Người ta c� thể đ�nh lừa đời sống trong một thời gian l�u d�i, nhưng sau hết n� lu�n lu�n bắt ch�ng ta phải hiện h�nh như ch�ng ta được chủ định sẽ l�. (CH, 333)

Gia nhập v�o chủ nghĩa nh�n bản Trung Hoa, điều m� Malraux đề cập đến trong quyển La Tentation de l�Occident, Gisors giờ đ�y tin tưởng rằng kh�ng cần thiết phải h�nh động để hiện hữu; nh� cựu triết gia M�c-x�t giờ đ�y chỉ nghĩ đến việc tự hiến m�nh trước c�c lực của vũ trụ, v� đề nghị với c�c đồng b�o của �ng một l� tưởng để trầm tư:

Il faudrait que les homes puissent savoir qu�il n�y a pas de r�el, qu�il est des mondes de contemplation � avec ou sans opium � off tout est vain � (CH, 333)

Con người phải c� khả năng để hiểu rằng kh�ng c� g� l� thực hữu, rằng c� c�c thế giới của sự trầm tư � nhờ c� hay kh�ng c� thuốc phiện � nơi mọi thứ đều l� h�o huyền � (CH, 333)

Trong khi nh�n vật May t�m kiếm một l� do để sống trong cuộc giao chiến m� giờ đ�y c� ta tr� định sẽ thực hiện tại Li�n Bang S� Viết trong c�c nh�m nổi loạn, Gisors gi� l�o t�m thấy sự ổn định trong sự cảm th�ng với thi�n nhi�n.� Tr�n nh�n qua cửa sổ nh� của Kama tại hải cảng Kob�, trong �sự ch�i l�a của m�a xu�n Nhật Bản: l��blouissement du printemps japonais� (CH, 334), �ng, trong một � nghĩa, h�a lẫn v�o vũ trụ, v� ch�nh từ đ� c� thể vượt l�n tr�n th�n phận con người:

Le ciel rayonnait dans les trous des pins comme le soleil, le vent qui d�chirait mollement les branches glissa sur leurs corps �tendus.� Il semble � Gisors que ce vent passait � travers lui comme un fleuve, comme le Temps m�me, et, pour la premi�re fois, l�id�e qui s��coulait en lui le temps qui le rapprochait de la mort ne le separa pas du monde mais l�y relia dans un accord serein. (CH, 334-5)

B�u trời s�ng l�ng l�nh giống như mặt trời tại những khoảng trống giữa c�c c�y th�ng; gi� lay động nhẹ nh�ng c�c c�nh c�y trượt d�i tr�n c�c th�n c�y nghi�ng ngả.� Dường như đối với �ng Gisors, l�n gi� n�y đang chạy xuy�n qua người �ng giống như một d�ng s�ng, giống như bản th�n Thời Gian, v� lần đầu ti�n, � tưởng rằng thời gian mang �ng đến gần c�i chết hơn đang tr�i chảy xuy�n qua �ng đ� kh�ng t�ch biệt �ng ra khỏi thế giới, m� lại c�n nối buộc �ng v�o đ� trong một sự h�a hợp �m dịu. (CH, 334-5)

Gisors l� phần đối nghịch của May, kẻ l�nh đạm trước c�i đẹp của thế giới.� Trong m�i trường của m�nh, c� ta chỉ nh�n thấy hoạt động của con người v� suy nghĩ về sự chuyển h�a của n�.� Tuy nhi�n, Gisors chọn con đường chủ nghĩa nh�n bản Trung Hoa cổ truyền.� Trong năm 1933, Malraux bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Bernard Groethuysen, v� đ� quay trở lại với l� thuyết của M�c-x�t về sự biến thể của x� hội.� Thế nhưng �ng bị say đắm bởi miền Viễn Đ�ng m� �ng đ� kh�m ph� trong c�c chuyến du h�nh li�n tiếp của �ng, v� trong quyển La Condition Humaine, đối chiếu l� thuyết n�y với một kh�i niệm về con người v� về vũ trụ r�t ra từ minh triết Trung Hoa cổ thời.� �ng m� tả c�c số phận con người c� biệt l� một phần t�ch hợp của c�c biến động của lịch sử.� C�c nh�n vật l�m việc cho sự chuyển biến của x� hội Trung Hoa m� �ng tr�nh b�y với ch�ng ta trong t�c phẩm n�y, hầu h�t l� c�c t�n đồ của một t�n gi�o đặt tr�n một sự tin tưởng m� qu�ng nơi c�ng việc, trong đ� kh�ng c� chỗ cho Thượng Đế.� Ở điểm n�y, Malraux tự ph� b�y sẽ chống lại thực d�n một c�ch r� r�ng.� Trong quyển La Condition Humaine, �ng bộc lộ khuynh hưởng tả ph�i của m�nh, biểu lộ một khuynh hướng Trotsky chấp nhận c�c đặc t�nh của phong tr�o c�ch mạng Trung Hoa, đặc biệt li�n quan đến quyền sở hữu đất đai.� Tuy nhi�n, sử dụng t�nh trạng lịch sử của Trung Hoa trong năm 1927, Malraux ph� diễn bi kịch của th�n phận con người.� �ng khai triển một l� thuyết về con người đối chọi với định mệnh bộc lộ sự bất quyết của một hệ thống tư tưởng bị l�i cuốn bởi cả triết học M�c-x�t lẫn chủ nghĩa thần b� Đ�ng Phương.� Trong � niệm của Phương T�y về con người được đưa ra bởi Pei ở phần cuối quyển truyện, con người được phong thần, ph� hợp với l� thuyết M�c-xit, l�m căn bản cho sự kiểm so�t vũ trụ.� Triết l� Đ�ng Phương m� Gisors tin tưởng sau c�i chết của Kyo, tuy thế, g�n �t sự quan trọng cho bản th�n con người.� Bằng việc reo rắc � thức con người trong Đại Thể của vũ trụ, chủ nghĩa thần b� Trung Hoa cho ph�p Gisors vươn tới sự y�n tĩnh v� thanh thản m� �ng ao ước.� Bị x�u x� giữa triết l� T�y Phương về sự th�nh c�ng được đạt tới qua h�nh động ở một b�n, v� quan điểm Đ�ng Phương đặt con người tu�n theo � muốn của vũ trụ b�n kia, Malraux đi t�m kiếm đường hướng.� C�c tư tưởng của May ph�t biểu ở phần cuối của quyển truyện biểu lộ một sự t�ch rời n�o đ� khỏi l� thuyết M�c-x�t ch�nh thức.� Chủ nghĩa M�c-x�t của Malraux bị vẫn đục với sự lo ngại bởi �ng vẫn c�n bị �m ảnh v� c�i chết hủy hoại mọi thứ tr�n lối đi của n�.� Điều n�y c� thể được nh�n thấy bởi th�i độ m� Malraux g�n cho Gisors, kẻ bị l�i cuốn đến sự thoải m�i được cung cấp bởi minh triết Đ�ng Phương.� T�c giả của quyển La Condition Humaine th� hiếu kỳ về Kẻ Kh�c.� Trong những trang cuối c�ng của quyển truyện, �ng đưa ra trong h�nh thức văn chương một số th�nh tố của triết l� Trung Hoa cổ truyền, vốn đ� sẵn l�i k�o được sự ch� � của độc giả đến điều đ� trong năm 1926 xuy�n qua c�c l� thư trao đổi giữa Ling v� A. D.� Trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng n�y, Malraux chống đỡ cho tư tưởng n�y, đặt ti�u điểm tr�n mối quan hệ giữa Đ�ng v� T�y, điều, vượt qu� cuộc tranh luận ch�nh trị ở phần l�i cốt của t�c phẩm, chứng tỏ sự k�nh trọng s�u xa của t�c giả đối với c�c gi� trị của x� hội Trung Hoa, với di sản Khổng học của n�./-

---

CH� TH�CH

1. Jean Lacouture, �Andr� Malraux et le communism�, trong tờ Le Monde, 25 Th�ng Mười Một 1978.

2. Tất cả c�c tr�ch dẫn từ quyển La Condition Humaine, viết tắt l� CH, để chỉ theo ấn bản của nh� xuất bản Gallimard �dition, coil. �Folio�, 1946.

____

Nguồn: Michel Dye, �Andr� Malraux and the temptation of the Orient in �La Condition Humaine��, Journal of European Studies, 29,1 (March 1999): 45(9)

 

*****

PHỤ LỤC 2

TƯỜNG TR�NH NG�Y 12 THANG T�M 1965 CỦA BỘ NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC

VỀ CUỘC THĂM VIẾNG CỦA QUỐC VỤ KHANH NƯỚC PH�P, ANDR� MALRAUX

TẠI TRUNG HOA

Bộ Ngoại Giao Trung Quốc tường thuật về một cuộc thăm viếng của Quốc Vụ Khanh Ph�p Quốc Andr� Malraux tại Trung Hoa.� Malraux �đ� đến một phần như một trung gian h�a b�nh cho Hoa Kỳ v� đ� đề nghị một kế hoạch đến Chu �n Lai để ph�n chia Việt Nam.� Họ Chu đ� b�c bỏ đề nghị n�y.� Nội dung của bản tường thuật của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc như sau:

Trong khoảng từ ng�y 19 Th�ng Bảy v� ng�y 6 Th�ng T�m (1965), Quốc Vụ Khanh nước Ph�p (Andr�) Malraux đ� đến thăm Trung Hoa với tư c�ch đặc sứ của de Gaulle. �Thoạt ti�n, ch�nh phủ Ph�p cho hay rằng Malraux sẽ đ�n Trung Hoa như một du kh�ch ri�ng tư. �Nước Ph�p đ� l�m như thế v� ba l� do: để bảo vệ uy t�n của Ph�p như một �đại cường� v� kh�ng tỏ vẻ rằng họ cần đến sự gi�p đỡ của ch�ng ta; để ngăn chặn viễn ảnh rằng ch�ng ta sẽ cự tuyệt cuộc thăm viếng của Malraux bởi �ng ta l�m việc với tư c�ch một trung gian h�a b�nh tại Việt Nam; v� kh�ng chọc giận Hoa Kỳ. �Sau khi Malraux đ� đến Trung Hoa, ch�nh phủ Ph�p lo ngại rằng c�c l�nh đạo của ch�ng ta sẽ kh�ng tiếp �ng ta. �Do đ�, ch�nh phủ Ph�p nhấn mạnh rằng de Gaulle muốn thực hiện c�c cuộc n�i chuyện với c�c nh� l�nh đạo ch�ng ta v� rằng Malraux đang thực hiện một cuộc thăm viếng ch�nh thức. �Nhưng trong c�c lời tuy�n bố c�ng khai, ch�nh phủ Ph�p vẫn nhấn mạnh rằng Malraux đang l�m một chuyến du h�nh c� nh�n. �Ch�ng ta đ� b�y tỏ sự bất m�n của ch�ng ta về tư c�ch kh�ng r� r�ng của Malraux v� xảo thuật được thực hiện bới ch�nh phủ Ph�p. �Sau đ�, ch�nh phủ Ph�p đ� chuyển một l� thư giới thiệu của de Gaulle đến Chủ Tịch Lưu (Thiếu Kỳ) cho ph�p Malraux được �trao đổi quan điểm một c�ch ho�n to�n� với Trung Hoa về �c�c vấn đề quan trọng li�n quan đến cả Trung Hoa lẫn Ph�p quốc cũng như tương lai của thế giới�. �Ch�nh phủ Ph�p cũng b�y tỏ sự xin lỗi đối với ch�ng ta. �Để khai th�c c�c sự m�u thuẫn giữa Ph�p v� Mỹ, v� để ve v�n de Gaulle, Chủ Tịch Mao, Chủ Tịch Lưu, Thủ Tướng Chu, v� Ph� Thủ Tướng Trần (Nghị) đều đ� tiếp Malraux v� thảo luận với Malraux về c�c vấn đề như sau:

(1) Việt Nam v� Đ�ng Dương

Vấn đề Việt Nam đ� l� đề t�i ch�nh m� Malraux muốn thảo luận. �Thay v� n�u vấn đề một c�ch trực tiếp, �ng ta đ� lựa chọn việc thăm d� ch�ng ta một c�ch gi�n tiếp. �Ph� Thủ Tướng Trần (Nghị) đ� hỏi Malraux rằng liệu �ng c� mang bất kỳ đề nghị cụ thể n�o về Việt Nam từ de Gaulle hay kh�ng, �ng đ� trả lời kh�ng, n�i rằng nước Ph�p sẽ kh�ng xướng xuất bất kỳ đề nghị n�o m� kh�ng c� được sự thỏa thuận của Trung Quốc. �Trong cuộc gặp gỡ của �ng với Thủ Tướng (Chu), Malraux đ� gi�n tiếp đưa ra kế hoạch �trung lập h�a Đ�ng Dương�: chia cắt Việt Nam dọc theo rặng n�i Trường Sơn. �Khu vực ph�a đ�ng của rặng n�i, kể cả S�ig�n, sẽ thuộc về Việt Nam D�n Chủ C�ng H�a (DRV) hay Mặt Trận Giải Ph�ng Miền Nam; khu vực ph�a t�y của rặng n�i cũng như L�o, Căm Bốt, v� Th�i Lan sẽ được �trung lập h�a�. �Malraux cũng hỏi l� liệu c� khả t�nh n�o để mở c�c cuộc thương thuyết khi Hoa Kỳ �hứa hẹn� r�t qu�n. �Thủ Tướng đ� tức thời b�c bỏ kế hoạch của Malraux, vạch ra rằng c�c bi�n giới tại Đ�ng Dương đ� được ấn định v� rằng điều cần được thảo luận ngay l�c n�y l� sự t�n trọng nền độc lập v� trung lập của Căm Bốt v� L�o tr�n căn bản C�c Hiệp Ước Geneva.� Thủ Tướng cũng đ� giải th�ch lập trường của ch�ng ta về Việt Nam v� b�y tỏ sự ủng hộ vững chắc của ch�ng ta cho cuộc đấu tranh y�u nước chống Mỹ của nh�n d�n Việt Nam. ��ng đ� cho rằng Hoa Kỳ, thay v� t�m c�ch c�ch để bảo tồn uy t�n v� giải kết, đ� mong muốn ở lại Việt Nam.

(2) Ch�ng lại B� Quyền Mỹ-S� Viết [kh�ng được phi�n dịch].

(3) Cải c�ch tại Hoa Kỳ [kh�ng được phi�n dịch].

(4) C�c quan hệ Trung-Ph�p [kh�ng được phi�n dịch].

(5) C�c vấn đề nội bộ Trung Quốc [kh�ng được phi�n dịch].

 

Ng�y 12 Th�ng T�m, 1965

[1] Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa v�o ng�y 24 Th�ng T�m, 1965 đ� gửi th�ng tư n�y đến c�c văn ph�ng cấp miền, c�c ủy ban cấp tỉnh của n�, cũng như đến c�c bộ thuộc Hội Đồng Nh� Nước v� Tổng Cục Ch�nh Trị của Giả Ph�ng Qu�n Nh�n D�n Trung Hoa.

_____

Nguồn: digitalarchive.wilsoncenter.org/document/111526

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

19.08.2013    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2013