M. COUGHLIN

VIỆT NAM
DƯỚI B�NG
CỦA TRUNG HOA

 

Ng� Bắc dịch



Mặc d� nhiều s�ch vở đ� được viết về c�c quan hệ của Trung Hoa đối với c�c l�ng giềng của n� tại ph�a bắc, t�y v� đ�ng, tương đối c� it t�i liệu n�i về c�c quan hệ với phương nam.  C�c cuộc nghi�n cứu như thế c� thể mang lại nhiều sự tương phản v� so s�nh qu� gi� v� sẽ l� sự trợ gi�p quan trọng trong việc x�c định vai tr� lịch sử của Trung Hoa cũng nhu c�c � định hiện thời của n� tại Đ�ng Nam �.

Ch�nh s�ch truyền thống của Trung Hoa đối với c�c l�ng giềng phương bắc nằm ngo�i Vạn L� Trường Th�nh n�i chung l� một ch�nh s�ch be bờ ngăn chặn (containment), ch�nh s�ch của n� đối với c�c l�ng giềng phương nam l� một ch�nh s�ch chinh phục v� s�p nhập.  Việt Nam mang lại một trường hợp đ�ng ch� � một c�ch đặc biệt.� Về mặt địa l� v� văn h�a Việt Nam cống hiến một con đường hợp l� cho sự tiến bước li�n tục của Trung Hoa xuống miền nhiệt đới v� sự chinh phục của n� đối với to�n bộ ph�a đ�ng b�n đảo Đ�ng Dương.  C� một l�c điều n�y xem ra như thể sẽ xảy ra.  Nhưng sự việc đ� kh�ng diễn ra như thế, v� bi�n giới ph�a nam của Trung Hoa sau rốt đ� được ấn định ở ph�a bắc Thung Lũng S�ng Hồng.  Như thế n�o v� tại sao m� Trung Hoa đ� bị chặn đứng tr�n đường nam tiến của n�?


Khi đ�, một lần nữa, Việt Nam đ� phải chịu nằm trong một thời kỳ k�o d�i, dưới ảnh hưởng của Ấn Độ.  Mặc d� phần c�n lại của Đ�ng Nam � đ� bị khuất phục trước ảnh hưởng đ�, Việt Nam lại kh�ng bị; n� c�n đ�ng vai tr� nới d�i văn h�a Đ�ng � xuống tận dưới mũi tận c�ng của b�n đảo, s�p nhập Vương Quốc Ch�m vốn chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Gi�o trong tiến tr�nh n�y.  Tại sao Việt Nam vẫn ở trong khu vực ảnh hưởng của Trung Hoa trong khi phần c�n lại của Đ�ng Nam � lại bị Ấn Độ h�a

V� sau hết, đường lối quan hệ của Trung Hoa đối với Việt Nam trong qu� khứ gi�p ch�ng ta suy nghĩ như thế n�o về tương lai của hai quốc gia n�y?

C�c quan hệ của Trung Hoa với Việt Nam c� thể được chia gần như th�nh ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, trước thế kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n, khi m� c�c sự tiếp x�c c� t�nh c�ch ngẫu nhi�n v� kh�ng c� c�c sự quy định của ch�nh quyền; giai đoạn thứ nh� l� từ thế kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n đến thế kỷ thứ mười sau C�ng Nguy�n khi m� khu vực dần d� bị th�n t�nh v� được xem l� một phần của miền nam Trung Hoa; v� giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười ch�n l� thời kỳ độc lập của Việt Nam, bị cắt ngắn trong thập ni�n 1880 v� c� sự s�p nhập khu vực bởi người Ph�p, l� thời kỳ kết th�c việc khảo s�t bởi của cuộc nghi�n cứu n�y.

Trước thế kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n, sự tiếp x�c ch�nh yếu của Trung Hoa với khu vực l� xuy�n qua c�c nh� mậu dịch v� c�c nghệ nh�n l� c�c kẻ đ� chế tạo ra c�c kỹ thuật v� sản phẩm t�n tiến hơn của Trung Hoa cho d�n ch�ng địa phương.  Bằng chứng của sự tiếp x�c như thế được r�t ra từ c�c kh�m ph� hồi gần đ�y tại khu vực Đ�ng Sơn ở Bắc Việt.  Sự tiếp x�c như thế s�u xa đến đ�u l� điều chưa x�c quyết được.

Sau năm 200 trước C�ng Nguy�n, c�c cuộc chinh phục của nh� Tần v� tiền H�n v�o miền nam Trung Hoa bao gồm cả bắc Việt Nam đ� dẫn tới ch�nh s�ch thuộc địa h�a bằng qu�n sự, sự khuyến kh�ch c�c cuộc h�n phối dị chủng giữa binh sĩ Trung Hoa v� phụ nữ bản xứ, v� một sự kiểm so�t được tr� thủ một c�ch lỏng lẻo tr�n khu vực xuy�n qua một hệ thống thổ t� (to ssu) cai trị với sự hợp t�c của c�c t� trưởng bản địa.  Văn h�a Trung Hoa bắt đầu thẩm thấu qua nhiều mức độ.

Trong thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n với sự lật đổ vương quốc Nam Việt độc lập của vi�n tướng Trung Hoa, t�n Triệu Đ� (Chao To), khu vực n�y được nhập v�o Trung Hoa v� một ch�nh quyền cứng rắn hơn đ� được th�nh lập với sự cai trị trực tiếp của c�c tổng đốc Trung Hoa, tương tự nbư chế độ đương thịnh h�nh tại khắp miền nam Trung Hoa.  Ch�nh v�o thời điểm n�y m� tiến tr�nh Trung H�a h�a lần đầu ti�n được theo đuổi một c�ch chủ �.  Sau n�y nh� Đường t�i thiết lập chế độ thực d�n n�ng binh [vừa l� binh sĩ, vừa canh t�c n�ng nghiệp, ch� của người dịch], một h�nh thức thực d�n h�a đ� đ�ng g�p lớn lao v�o sự truyền b� văn h�a cho d�n ch�ng địa phương.  Xuy�n qua thời kỳ n�y một số lượng lớn c�c học giả đ� đến tỵ nạn tại đ�y để tr�nh c�c x�o trộn ch�nh trị thời nh� H�n v� nh� Đường.  Sau năm 180 sau C�ng Nguy�n, nhiều người trong d�n ch�ng địa phương thi đỗ c�c kỳ thi tuyển l�m quan đ� được ph�p phục vụ trong ch�nh quyền v� một lớp c�c nh� h�nh ch�nh quan lại bản xứ đ� sớm được ph�t triển, kh�ng những chỉ phục vụ tại miền nam m� c�n ở khắp nơi trong Trung Hoa.

Sau đ� dưới sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa, tiến tr�nh Trung Hoa h�a t�c động mạnh mẽ nhất ở mức độ ch�nh quyền v� bắt rễ trước ti�n v�o c�c tầng lớp thượng lưu.  Tuy nhi�n, một v�i yếu tố đ� g�p phần v�o sự thẩm thấu xuống lớp n�ng d�n:

1.  Sự �p đặt cố � bởi c�c nh� cai trị Trung Hoa c�c ti�u chuẩn Trung Hoa về y phục, kiểu để t�c, sự t�n trọng c�c nghi thức t�n gi�o, v.v�

2.  Sự thịnh h�nh của h�n nh�n dị chủng, v� ch�nh s�ch thực d�n bởi người Trung Hoa trong thời kỳ ban đầu.

3.  Sự kiện rằng c�c tầng lớp cai trị tại Việt Nam lu�n lu�n gần gũi d�n ch�ng bởi v� đ� kh�ng c� c�c thị trấn quan trọng ngo�i kinh đ� ho�ng triều v� do đ� họ đ� phục vụ như c�c người hướng dẫn v� cố vấn trong sinh hoạt th�n x�.

4.  C�c sự tương đồng căn bản trong nền tảng văn h�a của Trung Hoa v� Việt Nam c� khuynh hướng th�c đẩy giới n�ng d�n n�y tiếp nhận c�c khu�n mẫu văn h�a Trung Hoa.  Cả hai đều l� c�c nền văn h�a v�ng đồng bằng s�ng ng�i trồng l�a nước với c�c bằng cớ l�u đời của tục thờ c�ng tổ ti�n v� t�n ngưỡng nơi linh hồn.

5. Sự kiện rằng hệ thống ch�nh quyền Trung Hoa như Conrad Bekker (1) đ� n�u y kiến, kh�ng thể được du nhập từng phần nhỏ nhặt m�, để c� hiệu quả, đ�i hỏi sự chấp nhận to�n bộ cơ cấu văn h�a phức tạp của Khổng học: nền thư lại của c�ng vụ, hệ thống gi�o dục, hệ cấp x� hội, văn tự Trung Hoa v.v�

Trong suốt thời kỳ n�y, đ� c� nhiều nỗ lực để lật nh�o sự cai trị của Trung Hoa.  Một c�ch đ�ng kể, đ� c� c�c cuộc nổi dậy của tầng lớp thượng lưu, được hướng dẫn bởi c�c địa chủ hay th�nh vi�n của hệ cấp cai trị -- c� nghĩa, từ nh�m được Trung Hoa h�a nhiều nhất.  Nhưng c�c cuộc nổi dậy n�y chỉ th�nh c�ng trong giai đoạn ngắn, như trong năm 939 sau C�ng Nguy�n, khi người y�u nước Ng� Quyền đ� th�nh c�ng trong việc đ�nh đuổi Trung Hoa v� thiết lập triều đ�nh nh� Ng�.

Bởi thế, v�o l�c người Việt Nam đủ mạnh để lật đổ Trung Hoa, họ đ� trở n�n Trung-Hoa -h�a một c�ch to�n triệt, v� theo � kiến của học giả Ph�p, Henri Masp�ro, một c�ch mỉa mai, người Việt Nam theo đ� đ� học hỏi được những g� họ cần biết để bảo vệ sự tự do của m�nh từ nước l�ng giềng v� cố vấn văn h�a phương bắc.  Mặc d� � định của Trung Hoa l� th�p nhập v�o khu�n khổ của n� một tỉnh hạt kh�c, tương tự như c�c tỉnh tại miền Nam Trung Hoa, n� đ� l�m ph�t sinh một c�ch tr�i lại một d�n tộc mới, đ� th�nh c�ng trong việc th�ch ứng hệ thống Trung Hoa hầu thiết lập sự độc lập ri�ng cho ch�nh n�.

Tuy nhi�n, sự mất m�t n�y kh�ng lớn lao như c� thể nh�n thấy ở ngo�i mặt, bởi v� Trung Hoa vẫn tiếp tục h�nh xử sự kiểm so�t lớn lao về mặt ch�nh trị v� văn h�a trong khu vực.  Trong năm 972, người s�ng lập nh� Đinh đ� nh�n ra sự kh�n ngoan để gửi con trai m�nh [tức Đinh Liễn, ch� của người dịch] hướng dẫn một ph�i bộ sang Trung Hoa mang theo tặng phẩm, đổi lại Trung Hoa đ� thừa nhận họ Đinh [tức Đinh Bộ Lĩnh, ch� của người dịch] l�m Quận Vương của Giao Chỉ (t�n Trung Hoa gọi Nam Việt), v� con trai �ng l�m Tiết Độ Sứ An Nam Đ� Hộ Phủ.  Từ ng�y đ� trở đi, tập qu�n triều cống Trung Hoa theo định kỳ đ� được x�c định chắc chắn v� Trung Hoa ở v�o vị thế x�y dựng hay ph� bỏ một triều đại hay ho�ng đế bằng việc tấn phong hay r�t lại sự thừa nhận ch�nh thức.  Như t�c giả Wein đ� vạch ra, c�ng cụ ch�nh trị về tước phong v� thứ bậc chuẩn cấp cho một chư hầu đổi lấy sự thừa nhận quyền chủ tể tượng trưng đ� l� một c�ng cụ qu� b�u cho sự mổ rộng đế quốc m� kh�ng cần đến sức mạnh của vũ kh�, đ� được �p dụng bởi tất cả mọi triều đại Trung Hoa, v� sự th�nh c�ng của n� nhờ dựa v�o văn h�a v� văn minh H�n-Hoa nhiều hơn l� v�o bất kỳ uy lực qu�n sự n�o. �Ước muốn được bao gồm trong �vương quốc văn minh� tr�i với �l�nh địa man rợ� đ� l� một yếu tố c� sức thuyết phục trong nền ch�nh trị đế quốc H�n-Hoa.

C�c lợi điểm hiển nhi�n của văn h�a Trung Hoa tiếp tục được thừa nhận v� c�n được nhấn mạnh hơn nữa.  Nếu thời kỳ trước độc lập đ� l� một thời kỳ truyền b� văn h�a v� tiến h�a đến m� thức Trung Hoa, thời kỳ từ thế kỷ thứ mười trở đi đ� l� m�t giai đoạn tăng cường v� bắt chước một c�ch kỹ lưỡng m� thức đ�.  Trong thời kỳ n�y, c�c triều đại về sau của Việt Nam đ� kh�ng kh�c g� c�c triều đại của nh� Minh v� nh� Thanh, đ� c� những nỗ lực được tập trung v�o việc bắt chước v� vĩnh cửu h�a c�c truyền thống qu� khứ của Trung Hoa m� chỉ c� rất �t t�nh nguy�n chất v� canh cải.

C� thể n�i kh� y�n t�m rằng Việt Nam đ� trở n�n Trung Hoa sau khi c� sự ra đi của ch�nh quyền Trung Hoa nhiều hơn trước nữa.  Ch�nh trong thời kỳ n�y m� đạo L�o v� đạo Phật cũng như Khổng học đ� được ch�nh thức ph�t huy, mỗi tư tưởng đ� được nhấn mạnh ở c�c thời kỳ kh�c nhau bởi c�c ho�ng đế kh�c nhau, v� bắt đầu thẩm thấu xuống mức l�ng x�.  T�c giả L. Cadi�re (4) cho hay rằng kh�ng phải đợi m�i đến thế kỷ thứ mười bảy mới c� sự lưu t�m đặc biệt đến việc bắt chước một c�ch ch�nh x�c c�c nghi thức v� lễ tiết Trung Hoa tại triều đ�nh.  Gi�o dục được cải thiện v� khuyến kh�ch, v� hệ thống thi cử được khai triển.  Ho�ng Đế L� Th�nh T�ng trong thế kỷ thứ mười lăm đ� ban h�nh bộ luật Hồng Đức nổi tiếng, được soạn thảo s�t với khu�n mẫu của Trung Hoa, nhấn mạnh đến c�c sự gi�o huấn về đạo đức Khổng học v� l�m thối ch� c�c tập tục thờ c�ng thần linh của giới n�ng d�n.  Ho�ng đế đ� t�n dương hệ thống thi cử v� thiết lập phong tục cử h�nh lễ �vinh quy� của c�c sĩ tử ứng th� th�nh đạt quay về l�ng qu� của họ.

J. Przyluski (5), một học giả người Ph�p, đưa ra sự m� tả về Việt Nam trong c�c thế kỷ thứ mười bẩy v� mười t�m như sau:

X� hội An Nam truyền thống được tượng trưng bởi sự đồng hiện hữu c�c định chế Trung Hoa v� Việt Nam.  An Nam đ� vay mượn từ Trung Hoa h�nh thức ch�nh quyền, nền thư lại h�nh ch�nh, c�c luật lệ về c�c quan chức, v� danh xưng c�c quận hạt h�nh ch�nh của n�.  Chỉ ở l�ng x� một sự tổ chức bản gốc đ� được ph�t triển v� duy tr�.  Hơn nữa, ảnh hưởng của Trung Hoa đ� kh�ng dừng ở l�ng x�, n� đ� th�m nhập v�o mọi nơi: n� l� một trong những yếu tố ch�nh yếu để x�c định sự tổ chức gia đ�nh v� chức nghiệp của một c� nh�n.

�ng kế đ� đ� tiến tới việc m� tả ch�nh quyền như một chế độ qu�n chủ theo khu�n mẫu Việt Nam với ho�ng đế như vị chủ tể ch�nh trị v� lễ nghi, cai trị xuy�n qua một hội đồng c�c thượng thư v� một hệ cấp thư lại được tuyển chọn bởi c�c kỳ thi chữ nghĩa như b�n Trung Hoa v� gồm cả một viện gi�m s�t (ngự sử đ�i).  Tầm quan trọng đặc biệt được gắn cho tiến tr�nh gi�o dục v� hệ thống thi cử nhằm cung cấp một bậc thang cho c�c sĩ tử c� tham vọng v� khả năng, từ trường học ở l�ng x� l�n đến quốc tử gi�m tại kinh đ�.

L�ng x� Việt Nam được nh�n bởi c�c học giả Ph�p l� c� t�nh chất độc đ�o.  Tuy n� c� vẻ c� kh�c biệt trong chi tiết, nhưng kh�ng c�ch biệt qu� lớn về tinh thần so với khu�n mẫu của đối nh�n Trung Hoa.  N� lu�n lu�n được hưởng một sự tự trị rộng r�i, c� quyền tự quản theo c�c truyền thống đ� được ph�t triển trong nhiều thế kỷ v� thường c� thể kh�c biệt với c�c truyền thống của ngay cả c�c l�ng x� gần cận.  N� c� t�nh c�ch thống nhất kh�ng chỉ về địa b�n m� cả về th�nh phần của n� bao gồm cả c�c tổ ti�n của c�c thế hệ đ� qua v� những vị thần linh kh�c bảo hộ cho l�ng x�.  T�c giả Nguyễn Văn Th�i (6) c� n�i rằng khi một người đề cập đến nguy�n qu�n của m�nh tại Việt Nam, �ng ta kh�ng nhất thiết n�i đến nơi sinh ra của �ng ta, m� l� sinh qu�n của �ng cố nội �ng ta.

Gia đ�nh Việt Nam c� vẻ trong phần lớn kh�a cạnh giống như gia đ�nh Trung Hoa.  N� được tổ chức theo chế độ tộc trưởng v� phụ hệ với nam nh�n lớn tuổi nhất đứng đầu hệ cấp.  Tuổi t�c c� tầm quan trọng lớn lao, cũng như l�ng hiếu thảo v� sự thờ c�ng tổ ti�n, được tin đ� khai sinh trước khi người Trung Hoa đến.  H�n nh�n được sắp xếp, chế độ th� thiếp được chấp nhận v� t�i sản được ph�n chia đồng đều giữa c�c con trai.  Nguy�n tắc của Khổng học về l�ng hiếu thảo mạnh đến nỗi ngay trong thế kỷ thứ mười ch�n Ho�ng Đế Tự Đức đ� v�ng lời mẹ ng�i trong mọi điều nhỏ nhặt v� kh�ng bao giờ d�m n�i cho mẹ biết về việc thua mất xứ Nam Kỳ.

Nghệ thuật truyền thống của Việt Nam c� nguồn gốc, sự hứng khởi v� thường cả sự thực h�nh từ Trung Hoa.  C�c ho�ng đế thường d�ng c�c nghệ nh�n từ Trung Hoa để sản xuất c�c c�ng tr�nh cho triều đ�nh nếu c�c nghệ nh�n địa phương bị xem l� kh�ng đủ tinh th�ng trong c�c kỹ thuật của Trung Hoa.  Những người kh�c được mang sang để dạy c�c kỹ thuật như thế cho nghệ nh�n Việt Nam.  C�c nghệ nh�n n�y đ� trung th�nh với c�c kiểu mẫu Trung Hoa của họ, đến nỗi người ta nh�n tr�ng thấy c�y cỏ Trung Hoa, kh�ng được hay biết l� c� tại Việt Nam, đ� được tr�nh b�y một c�ch kỹ lưỡng trong c�c tranh vẽ của Việt Nam.  Đồ sứ men xanh da trời của Huế nổi tiếng ở triều đ�nh kh�ng phải ph�t sinh từ Huế m� l� từ Trung Hoa -- loại men được gọi l� Men Xanh thời Nh� Minh.  T�c giả Maspero (7) c� viết: Kh�ng giống như Khmer, ch�ng ta kh�ng t�m thấy tại Việt Nam đền đ�i đ�ng gọi l� thực sự cổ xưa, v� việc vay mượn từ Trung Hoa qu� nhiều đến nỗi gần như kh�ng thể x�c định được đ�u l� nguồn cảm hứng nguy�n thủy.�  Nghệ thuật trung-hoa-h�a n�y vươn tới đỉnh cao nơi c�c lăng tẩm của c�c vị ho�ng đế thế kỷ thứ mười t�m v� mười ch�n tại Huế, đ� sao ch�p một c�ch tuyệt vời c�c kiểu mẫu Trung Hoa.  Tuy nhi�n, t�nh nguy�n thủy của Việt Nam, theo lời t�c giả Maspero, tự n� được biểu lộ nơi khung cảnh v� sự sắp đặt c�c lăng tẩm n�y, đ� mang lại cho ch�ng một b�u kh�ng kh� kh� tả của sự huyền b�, c�i đẹp v� sự tĩnh lặng.

Kịch nghệ d�n gian cũng được dập khu�n một c�ch mật thiết theo Trung Hoa với c�c đề t�i Trung Hoa cổ truyền c�ng sự đối xử với ng�nh h�t tuồng.  Giống như b�n Trung Hoa, nghề diễn tuồng kịch bị khinh khi v� kh� c� thể tuyển mộ c�c người đ�ng tuồng từ c�c gia đ�nh lương hảo.

Trong l�nh vực t�n gi�o, Việt Nam đ� noi theo chủ nghĩa chiết trung trong t�n gi�o của Trung Hoa, với Khổng học, Phật Gi�o, L�o (Đạo) Gi�o v� c�c sự thờ c�ng thần linh đều chia sẻ sự t�n trọng ở c�c mức độ biến đổi.  Kh�ng c� cuộc nghi�n cứu to�n diện n�o được thực hiện về c�c sự h�nh đạo v� c�c b�i viết gần đ�y nhất dựa tr�n c�c b�i viết của c�c học giả ban đầu của Ph�p vốn c� khuynh hướng nhấn mạnh đến c�c kh�a cạnh thờ thần linh của t�n gi�o d�n gian v� đ�nh gi� thấp ảnh hưởng của Trung Hoa.  Nhưng c�c tục lệ thờ c�ng thần linh bản xứ hiện hữu c� chia sẻ nhiều đặc t�nh chung với c�c tục thờ c�ng khắp miền Hoa Nam.  Khổng học, cũng như ở Trung Hoa, thấm nhập mọi mối quan hệ x� hội, v� cung cấp một khu�n khổ cho tục thờ c�ng tổ ti�n.  Nội dung triết l� v� � nghĩa s�u xa hơn của n� đều được hiểu r� bởi giới văn nh�n tr� thức (literati) Việt Nam, nhiều người trong họ đ� l� c�c triết gia quan trọng của Trung Hoa.  Như tại Trung Hoa, Phật Gi�o v� L�o (Đạo) Gi�o được nẩy nở v� được ch�nh thức cổ vũ ở c�c thời kỳ kh�c nhau, phần lớn đ� tho�i h�a th�nh ma thuật v� ph�p ph� thủy với c�c tăng, đạo sĩ �t được k�nh trọng trong cộng đồng.

Về y khoa, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Trung Hoa.  Ng�y nay, y thuật của Trung Hoa v� bản xứ lẫn lộn v�o nhau đến nỗi kh�ng thể n�o t�ch biệt được ch�ng, v� từ ngữ y dược Hoa Việt được dung để chỉ tất cả c�c y dược thuật trước thời t�y phương du nhập.  Một b�c sĩ Việt Nam h�ng đầu tại H� Nội c� m� tả hồi gần đ�y sự huấn luyện y khoa của �ng như sau: �Giống như phần lớn c�c đồng nghiệp của t�i, t�i sinh ra từ một gia đ�nh học thức thuộc văn h�a cổ điển.  Gia đ�nh ch�ng t�i đ� h�nh nghề đ�ng y qua t�m đời. Đ� l� một trong những n�t đặc th� trong nghề nghiệp ch�ng t�i. �Đ�ng y bao gồm c�c c�ng thức được truyền từ cha đến con � trong 12 năm t�i đ� học chữ Trung Hoa, sau đ� trong t�m năm cha t�i đ� dạy cho t�i về y học cổ truyền � Ch�ng t�i đ� bổ sung v�o kiến thức thực nghiệm được để lại bởi tiền nh�n bằng sự học hỏi c�c t�i liệu khảo luận  y học cổ xưa được viết bằng Hoa ngữ.� (8)

Chỉ ỏ trong ng�n ngữ, t�i năng bản xứ của Việt Nam mới tự chứng thực. Ảnh hưởng của Trung Hoa chế ngự trong chữ viết v� tiếng n�i ở b�nh diện ch�nh thức, k�o d�i cho m�i đến khi độc lập, tiếng Việt mới dần d� chiếm ng�i vị chủ yếu.  T�c giả Paul Benedict đ� gọi một c�ch hợp l� rằng Hoa ngữ l� tiếng La Tinh v� Hy Lạp của Viễn Đ�ng, nơi m� tiếng Nhật, tiếng H�n quốc, v� tiếng An Nam đ� trở n�n trung-hoa-h�a y như c�c ng�n ngữ �u Ch�u được la tinh h�a.  Ch�nh v� thế, mặc d� được tin l� một giọng �-�c (Austro-Asiatic) v� kh�ng thuộc gia đ�nh ngữ hệ Hoa-Tạng (sino-Tibetan) , ng�n ngữ Việt Nam bao gồm nhiều từ được vay mượn từ Hoa ngữ.  Cho đến thế kỷ thứ mười ba, mọi văn bản đều được viết bằng Hoa ngữ, nhưng v�o thời điểm n�y một loại chữ viết mới, chữ n�m [bằng Việt ngữ trong nguy�n bản, ch� của người dịch], đ� xuất hiện với sự kết hợp t�i t�nh c�c chữ viết trong Hoa ngữ, gồm một th�nh tố tượng trưng cho � nghĩa v� th�nh tố kia cho sự ph�t �m theo c�ch thức m� phần lớn c�c chữ trong Hoa ngữ đ� được chế t�c, để viết th�nh c�c từ trong tiếng Viết.  Một nền văn học bản xứ bằng ng�n ngữ n�y đ� dần d� được ph�t triển, th� dụ nổi tiếng nhất l� quyển Kim V�n Kiều, một thi phẩm được dựa tr�n một c�u chuyện của Trung Hoa m� t�c giả, Nguyễn Du, đ� mang trở về từ Trung Hoa năm 1812 khi v�i tư c�ch một vị quan cao cấp, �ng được ho�ng đế ph�i mang cống vật truyền thống đến triều đ�nh Trung Hoa.

Trong thế kỷ thứ mười bẩy, c�c gi�o sĩ truyền đạo �u Ch�u đ� ph�t triển một văn tự d�ng mẫu tự La M� gọi l� quốc ngữ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], đ� mau ch�ng nhận được sự hưởng ứng v� được d�ng hầu như độc quyền ng�y nay, mặc d� c�c người thuộc thế hệ lớn tuổi hơn h�y c� thể c�n viết bằng h�n tự.

Tuy nhi�n, Hoa ngữ vẫn tiếp tục l� ng�n ngữ viết của triều đ�nh cho m�i đến khi c� sự chinh phục của Ph�p, v� c�c t�c phẩm được viết cả bằng chữ n�m v� quốc ngữ đều ho�n to�n kh�ng được đếm xỉa tới, đến mức bản tiểu sử ch�nh thức của Nguyễn Du chỉ đề cập phớt qua t�c phẩm Kim V�n Kiều của �ng.

Mặc d� Việt Nam trong nhiều cung c�ch l� một m� h�nh sao ch�p thu nhỏ của Trung Hoa v� vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa hơn l� Nhật Bản v� H�n quốc, n� kh�ng c� c�ch n�o l� một bản sao nguy�n văn Vương Quốc Trung T�m [tức Trung Hoa, ch� của người dịch].  Mỗi một hạng mục hay tập hợp c�c mục khoản được chấp nhận, đ� được sửa đổi hay t�i giải th�ch theo c�c nhu cầu hiện tại v� qu� khứ độc đ�o của Việt Nam.  Ch�nh v� thế, mặc d� Việt Nam c� vẻ đ� vay mượn trong luật ph�p hệ thống gia đ�nh theo Khổng học của Trung Hoa, t�n trọng nghi�m ngặt hệ thống theo đẳng cấp về l�ng trung th�nh, địa vị của phụ nữ Việt Nam th� r� r�ng cao hơn địa vị của người phụ nữ trong truyền thống Trung Hoa đối chiếu.  Về vấn đề y phục, người Việt Nam đ� đưa ra một số sự th�ch nghi.  Mũ giống như băng quấn đầu của người miền bắc hất về ph�a sau, c� lẽ l� khăn đ�ng m� Maspero cho hay đ� được mang sớm nhất bởi c�c cư d�n trong khu vực, khi c� sự tiếp x�c đầu ti�n với Trung Hoa. �o d�i hay �o ngắn của quan lại tr�ng rất giống như của Trung Hoa, nhưng v�y xẻ vạt d�i tung bay của phụ nữ với chiếc quần b�n trong c� lẽ cho thấy một số ảnh hưởng của Ấn Độ hay Hồi Quốc.

Mặc d� c�c thang thuốc chữa trị của Việt Nam phần lớn c� nguồn gốc từ Trung Hoa, người Việt Nam c� khuynh hướng chuy�n d�ng thảo mộc trong khi người Trung Hoa d�ng nhiều vật liệu pha chế động vật v� kho�ng sản.  Trong l�nh vực nấu nướng cũng thế, mặc d� người Việt Nam ăn bằng đũa v� thức ăn của họ th� kh� ph�n biệt được với đồ ăn của Trung Hoa đối với một người t�y phương b�nh thường, đ� c� nhiều sự kh�c biệt v� c�c sự biến cải theo khẩu vị địa phương. Nước chấm căn bản � nước mắm [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] m�n gia vị trong mọi bữa ăn th� đặc biệt của Việt Nam v� ho�n to�n kh�c với nước tương, nước chấm gia vị ti�u chuẩn của Trung Hoa.

Bất hạnh thay, kh�ng cuộc nghi�n cứu được tổ chức n�o để t�m hiểu về bản chất v� sự xuất hiện của nhiều phần tử Trung Hoa kh�c nhau trong văn h�a Việt Nam v� v� thế hầu như kh�ng thể truy t�m lịch sử c�c sự ph�t triển n�y như c�c học giả đ� từng l�m đối với Nhật Bản v� H�n Quốc.  Tuy nhi�n, điều r� rệt từ bằng cớ được cung cấp rằng lịch sử Việt Nam trong kh�a cạnh n�y th� ho�n to�n kh�c biệt với Nhật Bản, nơi m� văn h�a nh� Đường đ� được chấp nhận thực sự trong to�n thể [in toto, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� được uốn nắn bởi kinh nghiệm phong kiến của n� v� từ đ� trở đi đ� tiến h�a th�nh một c�i g� độc đ�o v� ri�ng biệt của Nhật Bản.  Ảnh hưởng kế tiếp của Trung Hoa tr�n Nhật Bản th� rời rạc v� sự chấp nhận của Nhật Bản c�c yếu tố văn h�a Trung Hoa sau thời nh� Đường th� c� t�nh chất tuyển chọn cao độ v� kh�ng c� c�ch n�o l�m thay đổi được nền văn h�a đ� tiến h�a.

Sự tiếp x�c của Việt Nam với Trung Hoa tuy thế c� t�nh c�ch li�n tục.  Ch�nh v� thế, sự tiến h�a văn h�a của n� song h�nh một c�ch chặt chẽ với văn h�a của ch�nh Trung Hoa với c�c sự thay đổi trong chi tiết giấy tờ h�nh ch�nh, sự giải th�ch t�n gi�o, phương ph�p đ�nh thuế, v� với một khuynh hướng tiệm tiến đến chủ nghĩa bảo thủ v� truyền thống mạnh như, nếu kh�ng phải c�n mạnh hơn, của Trung Hoa. Điều n�y được ti�u biểu một c�ch mạnh mẽ trong phản ứng của Ho�ng Đế Minh Mạng đối với phương T�y hồi cuối thế kỷ thứ mười ch�n.  L� một đệ tử nghi�m nghị của Khổng học v� một kẻ ngưỡng mộ văn h�a Trung Hoa, �ng đ� ngược đ�i c�c gi�o sĩ truyền đạo t�y phương v� c�c t�n đồ Thi�n Ch�a Gi�o một c�ch t�n nhẫn v� đ� từ chối k� kết một hiệp ước thương mại với Ph�p.  Trong nhiều kh�a cạnh, �ng c�n mang vẻ M�n Ch�u hơn người M�n Ch�u v� chắc chắn sự đ�p ứng của hai đế quốc n�y trước sự tiếp x�c với T�y phương th� tương đồng một c�ch nổi bật.

Gi�o Sư Mus (10) đ� tổng kết về vai tr� của nh� nước Việt Nam trong sự m� tả như sau:

Nh� nước l� kẻ phối hợp.   Mục ti�u của n� l� ngăn cản kh�ng cho c�c cộng đồng nhỏ hơn lạc hướng, v� c�c �đại thần thượng thư � (từ n�y kh�ng mang nghĩa n� c� ở �u Ch�u, chỉ c�c bộ trưởng) ch�nh yếu l� một loại ph�p đ�nh cao cấp ngồi ph�n xử về c�c sự xa rời m� thức Khổng học.  Do đ� nh� nước tuyển mộ tất cả nh�n vi�n của n� trừ c�c chức vụ thấp nhất từ giới văn nh�n tr� thức, l� những người c� sự học tập ho�n to�n theo Khổng học, theo kinh thư v� c�c lời b�nh giảng của ch�ng.

Trung Hoa cung cấp một sự m� tả loại hệ thống n�y trong một sưu tập phong ph� c�c văn phẩm v� lời ch� th�ch.  X� hội l� nội dung của văn học của ch�nh n� v� đ� l� những g� được kỳ vọng của ch�nh n�.

N�i rằng sự gi�o dục c�c quan chức c� t�nh c�ch văn chương tức l� n�i rằng n� c� t�nh c�ch x� hội trong một số � nghĩa, nhưng n� kh�ng được hướng v�o tương lai, như c�c khoa học x� h�i T�y phương đ� l�m.  Đ� c� sự quan t�m trong việc cải thiện hiện tại, chắc chắn l� như thế, nhưng l� tưởng sẽ đạt được lại nằm trong qu� khứ.  Bởi v� c�c sự xấu xa hiện tại ph�t sinh do sự lơ l� khỏi m� thức Khổng học, sự chữa trị của ch�ng kh�ng nằm ở sự canh cải m� l� ở sự quay về.  Kiến thức như một kỹ thuật x� hội ho�n to�n l� chủ nghĩa thủ cựu.

T�nh trạng v� lịch sử H�n Quốc mang lại nhiều sự tương đồng với Việt Nam hơn l� với Nhật Bản.  Cả hai đều l� những khu vực nằm gi�p ranh m� trong nhiều thời kỳ nằm dưới sự đ� hộ về ch�nh trị của Trung Hoa v� m�i đến thế kỷ mười ch�n vẫn chấp nhận quyền chủ tể tượng trưng của Trung Hoa.  Cả hai nước đều bị ảnh hưởng nặng nề về mặt văn h�a từ thời tiền sử cho đến hiện tại bởi văn h�a v� c�c định chế Trung Hoa v� c�c ch�nh quyền của ch�ng đều hoạt động trong khu�n khổ thư lại Khổng học.  Tuy nhi�n, đ� c� c�c sự kh�c biệt nổi bật trong diễn tiến của sự tiến h�a n�y: H�n Quốc kh�ng c� vẻ tiến s�t gần khu�n mẫu Trung Hoa l� v� c� một v�i yếu tố: sự tản quyền nhiều hơn trong c�c thời kỳ k�o d�i, một số xu hướng phong kiến n�o đ� trong quyền sở hữu của giới địa chủ, một cơ cấu giai cấp thế tập, một � niệm kh�c biệt của người n�ng d�n v� sự quan hệ của giới n�y với đất đai, cũng như c�c sự kh�c biệt về t�n gi�o.

C�c t�c giả Fairbank v� Reischauer (11) ph�t biểu rằng mặc d� H�n Quốc tu�n h�nh nghi�m ngặt c�c h�nh thức nghi lễ của Khổng học, c�ng l�c n� vẫn duy tr� sự ph�n c�ch x� hội chặt chẽ vốn l� những phản đề của học thuyết Khổng học.  Họ bổ t�c rằng sự nhấn mạnh tr�n truyền thống gắn liền với sức mạnh ch�nh trị tại Trung Hoa kh�ng được t�m thấy ở H�n Quốc, nơi m� sự tr� trệ kinh tế, sự tham nhũng về ch�nh trị, v� sự kh� cằn về văn h�a đ� nảy sinh.  Khuyết điểm n�y c� lẽ l� hậu quả của một sự li�n hợp kh�ng to�n diện của c�c đặc t�nh [ethos, tiếng Hy Lạp trong nguy�n bản, ch� của người dịch] Khổng học với văn h�a H�n Quốc.  Sự giải th�ch về sức linh hoạt li�n tục của Việt Nam l� nằm ở sự li�n hợp to�n triệt Khổng học với phức hợp văn h�a nơi m�, như Paul Mus (12) đ� n�i, sự c�n bằng Khổng học giữa nh� nước tr�n h�nh thức v� l�ng x� tự trị đ� được duy tr� một c�ch th�nh c�ng cho đến khi c� sự xuất hiện của người Ph�p.

Rồi th� tại sao sự việc lại xẩy ra như thế, khi m� những g� diễn ra tại Việt Nam đ� kh�ng xảy ra tại H�n Quốc, l� nước c� lịch sử tiếp x�c c� thể được xem l� diễn ra li�n tục giống nhau?  Một phần của sự giải th�ch c� thể nằm nơi c�c chủ định lịch sử của Trung Hoa đối với hai khu vực n�y.  Với sự quấy rối li�n tục của c�c bộ lạc ưa can thiệp v� r�o cản vật thể v� t�m l� của bức Vạn L� Trường Th�nh với phương bắc của n�, điều kh� tin rằng Trung Hoa, c� một thời kỳ k�o d�i n�o đ� lại xem H�n Quốc như một phần của Trung Hoa v� đ� h�i l�ng để chấp nhận n� như một chư hầu v� nước lệ thuộc về văn h�a.  Nhưng Việt Nam, �t nhất cho đến thế kỷ thứ mười, đ� l� một phần li�n hợp của Trung Hoa, nước c� chiều hướng nhắm đến khu vực n�y tương tự như chiều hướng của n� đối với Quảng Đ�ng, V�n Nam hay Ph�c Kiến. Ở nơi đ�y c�c bộ lạc xa lạ phải được l�i cuốn, kh�ch lệ hay cưỡng b�ch chấp nhận sự s�p nhập, v� phương ph�p quan trọng nhất để đạt được điều n�y, như Trung Hoa nh�n n�, l� l�m cho họ trở th�nh người Trung Hoa. Điều n�y họ đ� l�m với sự th�nh c�ng vĩ đại tại Hoa Nam, nhưng tại sao lại kh�ng th�nh c�ng tại Việt Nam?            

C�u trả lời phải được t�m trong nguồn gốc của d�n tộc Việt Nam. Người Việt Nam ph�t sinh từ một giống d�n v�ng đồng bằng s�ng ng�i c� sức sống cực kỳ m�nh liệt m� m�i trường địa l� rất tương tự như c�c điều kiện tại Thung Lũng S�ng Ho�ng H�.  Họ c� một ng�n ngữ ri�ng của họ, kh�ng li�n hệ với c�c ng�n ngữ Trung Hoa.  Họ mau ch�ng x�c định với một khu vực � Nam Việt hay Nan Yueh � ph�t triển một khu�n mẫu x� th�n tự. trị v� một nền văn minh đầy sinh kh�.  C�c sự kh�m ph� về khảo cổ học cho thấy bằng cớ về tục thờ c�ng tổ ti�n, bao h�m c�c quan hệ gia đ�nh v� ngay cả thị tộc mạnh mẽ v� một hệ cấp x� hội tương tự như c�c đặc t�nh đ� của Trung Hoa, v� đ� cung cấp một v�ng đất ph� nhi�u cho sự tăng trưởng của hệ thống Khổng học Trung Hoa.  Căn bản văn h�a của Việt Nam th� th�ch hợp cho một khu�n khổ truyền b� văn h�a của ch�nh loại văn h�a m� Trung Hoa phải mang đến.  Hệ thống h�nh ch�nh Khổng học v� triết l� Khổng học đ� được d�ng để hợp thức h�a v� khởi thảo c�c khu�n mẫu v� c�c định chế Việt Nam. Điều n�y sẽ giải th�ch l� do tại sao văn h�a Trung Hoa đ� được thừa nhận trong to�n thể của n� chứ kh�ng bất to�n như ở H�n Quốc hay Nhật Bản, nơi n� m�u thuẫn với c�c yếu tố bất khả tương th�ch trong căn bản văn h�a hiện hữu .

Mặc d� người Việt Nam đ� trở n�n Trung Hoa h�a triệt để, li�n hợp th�nh c�ng tổng thể phức tạp của Khổng học v� x�c định với văn h�a si�u đẳng của Trung Hoa, nhưng họ đ� giữ lại cảm quan về t�nh độc đ�o của họ v� ph�t triển th�nh một sự th�c dục m�nh liệt cho sự độc lập v� một l� lịch ch�nh trị của ri�ng họ.

Cảm thức về d�n tộc chủ nghĩa n�y vẫn c�n tiếp tục t�c động một ảnh hưởng s�u xa cho đến ngay thời điểm hiện tại.  Việt Nam trong qu� khứ đ� t�m kiếm sự trợ gi�p của Trung Hoa trong sự theo đuổi c�c mục ti�u quốc gia của n� như trong cuộc chiến tranh với xứ Ch�m, nhưng n� đ� kh�ng cự mọi mưu toan của Trung Hoa nhằm lợi dụng c�c vị thế như thế v� kh�ng c� điều g� khiến ch�ng ta tin rằng n� lại sẽ kh�ng kh�ng cự một lần nữa c�c mưu toan như thế.  Lịch sử kh�ng chiến của Việt Nam chống lại người Ph�p rất nổi danh v� v� c� vẻ l� c�c bằng chứng gần đ�y về sự bất m�n ở địa phương đối với sự kiểm so�t của Hoa Kỳ l� một phần của một khu�n mẫu tuơng tự.

Nếu c� bất kỳ một chủ điểm n�o trội bật hơn cả nơi d�n tộc nhỏ b� nằm ở ch�p mũi của tiểu lục địa � Ch�u n�y, đ� ch�nh l� c�c nỗ lực của n� để duy tr� sự to�n vẹn quốc gia khi đối diện với sự ch�nh lệch gần như �p đảo.  Lịch sử ph�t sinh được đọc một c�ch h�o hứng v� c�c học giả cho đến nay mới chỉ đ�o bới một c�ch hời hợt ngo�i mặt./-

-----
CH� TH�CH:
1. Conrad Bekker, �Historical patterns of cultural contact in Southeast Asia,� Far Eastern Quarterly, XI, (November 1951), trang 9.
2. Harold C. Hinton, China�s relations with Burma and Vietnam, a brief survey, New York, 1958, trang 2.
3. Harold J. Wiens, China�s march into the tropics, Washington D.C., 1962 [?], c�c trang 75-76.
4. L. Cadi�re, �Religion annamite et non-annamite,� trong quyển Un empire colonial francaise, l�Indochine, do Georges Maspero l�m chủ bi�n, Paris, 1929, trang 279.
5. C�ng nơi dẫn tr�n, trang 205 (bản dịch từ tiếng Ph�p của t�c giả).
6. Nguyễn Văn Th�i, A short history of Vietnam, 1958, trang 218.
7. Georges Maspero, chủ bi�n, Un empire colonial francaise, l�Indochine, Paris, 1929, trang 291.
8. Tr�ch theo Mai Hoa, �Meet a practitioner of eastern medicine�, trong Vietnam Advance, 8 August 1963, trang 25.
9. Paul E. Benedict, �Languages and literature of Indochina�, Far Eastern Quarterly, VI, trang 383.
10. Paul Mus, �Vietnam: a nation off balance�, Yale Review, XLI, 1952, c�c trang 526-527.
11. John E. Fairbank and Edwin O. Reischauer, East Asia: the great tradition, Boston, 1958, trang 449.
12. Mus, đ� dẫn tr�n, trang 531.

____
Nguồn: M. Coughlin, Vietnam: In China�s Shadow, Journal of Southeast Asian Histories, Volume 8, No. 2, September 1967.
 
Ng� Bắc dịch v� ch� giải

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o

� 2007 gio-o