http://www.asiatravel-cambodia.com/cambodia-history/funan.htm

 

Lynda Norene Shaffer

 

THỜI ĐẠI CỦA PH� NAM

Từ Thế Kỷ Thứ 1 Đến Thế Kỷ Thứ 6

 

Ng� Bắc dịch

 

 

C�c nh� mậu dịch từ tiểu lục địa Ấn Độ, t�m kiếm nguồn cung cấp tơ lụa, đ� khởi sự du h�nh xuy�n qua c�c hải phận Đ�ng Nam � tr�n đường đến Trung Hoa, muộn lắm l� v�o khoảng thế kỷ thứ 1 sau C�ng Nguy�n.� Thế kỷ n�y cũng chứng kiến sự xuất hiện của Ph� Nam, vưong quốc đầu ti�n với k�ch thước v� n�t độc đ�o ri�ng so với bất kỳ nơi n�o kh�c tại Đ�ng Nam �, �t nhất cho đến mức m� c�c t�i liệu lịch sử c� thể ghi ch�p được.� N� tọa lạc tr�n đất liền, gần nơi m� giờ đ�y l� v�ng bi�n giới Căm Bốt v� Việt Nam.� C�c thủy thủ trong khu vực h�ng hải đ� bị thu h�t đến c�c hải cảng của n�, nơi m� họ c� thể trao đổi c�c đặc sản của c�c h�n đảo lấy nhiều loại sản phẩm tuyệt diệu được cung cấp tại Ph� Nam.� Tuy nhi�n v�o cuối thế kỷ thứ tư, M� Lai đ� l�i k�o phần lớn c�ng việc mậu dịch qu� cảnh n�y xuống ph�a nam tr�n một thủy lộ mới chạy ngang qua Ph� Nam v� chuy�n chở c�c nh� mậu dịch xuy�n c�c eo biển hẹp m� ng�y nay được gọi l� eo biển Malacca v� Sunda.� V� họ đ� khởi đầu để giới thiệu với thế giới �c�c hương liệu gia vị� của v�ng Moluccas [c�n được mệnh danh l� Quần Đảo Gia Vị, thuộc Nam Dương,, giữa đảo Sulawesi v� New Guinea, ch� của người dịch] � đinh hương, hạt nhục đậu khấu v� vỏ hạt nhục đậu khấu.

 

C�c Con Đường Tơ Lụa Tr�n Biển v� Sự Xuất Hiện Của Ph� Nam

 

C�c con đường tơ lụa sớm nhất l� c�c con đường tr�n đất liền chạy từ t�y bắc Trung Hoa xuy�n qua v�ng Trung � ch�u v� Iran đến ph�a đ�ng v�ng Địa Trung Hải.� C�c con đường n�y đ� sớm bắt đầu được ph�t triển ngay từ thế kỷ thứ nh� trước C�ng Nguy�n, v�o thời nh� H�n của Trung Hoa v� của Đế Quốc La M�.� V�o khoảng thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, một nhu cầu ng�y c�ng gia tăng về tơ lụa cũng đ� khuyến kh�ch sự ph�t triển hai con đường tơ lụa tr�n biển, một con đường bắt đầu với một h�nh tr�nh tr�n đất liền từ ph�a T�y Trung Hoa sang Ấn Độ.� C�c số lượng lớn lao c�c tơ lụa đ� được chuyển vận xuy�n qua lưu vực Tarim v� băng qua dẫy n�i Karakoram để v�o nơi ng�y nay thuộc v�ng bắc của Hồi quốc (Pakistan) v� Ấn Độ, rồi từ đ� c�c chuyến t�u h�ng được tải tới c�c hải cảng của biển Ả Rập (Arabian Sea) từ bờ biển t�y bắc của Ấn Độ.� Một số tơ lụa n�y được chất l�n c�c t�u cập bến nhiều hải cảng kh�c nhau tại Vịnh Ba Tư (Persian Gulf), nhưng phần lớn trong đ� tiếp tục một cuộc hải h�nh d�i hơn dẫn đến Biển Hồng Hải (Red Sea), sau đ� lụa sẽ được vận tải xuy�n qua Ai Cập, sau hết đến được v�ng Địa Trung Hải (K. Hall, 1979: 38-39). Đ�i khi, cũng v�o khoảng thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, sắc d�n Yuezhi, một d�n tộc v�ng Trung �, đ� chinh phục to�n thể chiều d�i của con đường tr�n đất liền chạy từ Trung Hoa sang Ấn Độ, từ lưu vực Tarim đến Biển Ả Rập.� Họ đ� thiết lập vương quốc Kushana, m� triều đ�nh của n� đ� trở th�nh một trung t�m văn h�a quan trọng.

 

Thủy lộ mới thứ nh� xuy�n qua hải phận Đ�ng Nam �, đ� ph�t sinh như hậu quả của việc c�c thương nh�n tại bờ biển ph�a đ�ng Ấn Độ muốn t�m kiếm một thủy lộ trực tiếp đến nguồn cung cấp tơ lụa tại Trung Hoa.� Khởi h�nh từ c�c hải cảng gần cửa s�ng Ganges River (Hằng H�), họ l�i thuyền chạy dọc bờ biển của Vịnh Bengal cho đến khi gặp B�n Đảo M� Lai, từ đ� họ xu�i nam tới địa điểm hẹp nhất, Eo Đất Kra c� chiều ngang khoảng 35 dặm (xem c�c bản đồ, nơi trang 4 v� 19 [trong nguy�n bản]).� Sau khi c�c h�nh kh�ch v� h�ng h�a được vận tải băng ngang giải đất hẹp n�y, c�c chiếc t�u ph�a b�n kia kế đ� đ� chuy�n chở ch�ng dọc theo bờ biển của Vịnh Th�i Lan cho đến khi ch�ng tới được Ph� Nam.� Sau khi trải qua một số thời gian tại địa phương n�y, họ sẽ l�n c�c chiếc thuyền kh�c để l�m một cuộc du h�nh đến Trung Hoa.

 

Mặc d� băng ngang B�n Đảo M� Lai tại Eo Đất Kra đ�i hỏi việc bốc dỡ, vận tải tr�n đất liền, v� chất lại h�ng h�a l�n t�u, phần lớn c�c thủy thủ tại Vịnh Bengal c� vẻ đ� kh�ng c� ước muốn du h�nh xuống phần dươi b�n đảo nằm qu� Eo Kra, v� một cuộc du h�nh như thế c� lẽ cũng kh�ng c� mấy hấp dẫn đối với c�c thương nh�n.� Kh�ng chỉ v� việc l�i thuyền tr�n đoạn đường c�n lại chạy quanh B�n Đảo M� Lai sẽ l�m gia tăng th�m 1,600 dặm cho chuyến du h�nh của họ, m� c�n bởi eo biển gần mỏm ph�a nam th� n�ng v� đầy c�c b�i đ� ngầm v� gi�ng nước nguy hiểm.� Vả chăng, ở nhiều thời điểm kh�c nhau, bờ biển dọc theo eo biển được tin l� hang ổ của qu�n hải tặc c�n g�y nhiều nguy hiểm kh�c nữa (Fa Xian, 1956: 77).

 

Thoạt nh�n, điều c� vẻ l� kỳ lạ rằng vương quốc đầu ti�n của Đ�ng Nam � đ� kh�ng ph�t triển tr�n B�n Đảo M� Lai, gần Eo Đất Kra chiến lược, m� lai tr�n bờ biển ph�a b�n kia của Vịnh Th�i Lan.� Sự giải th�ch c� vẻ đ�ng tin nhất cho sự th�nh c�ng của Ph� Nam, một c�ch tương đối khji so s�nh với c�c hải cảng c� khả năng cạnh tranh kh�c trong v�ng vịnh, l� nhờ số cung cấp thực phẩm dồi d�o của n�.� Đất đai quanh Kra bị bao phủ bởi rừng nhiệt đới, v� thổ nhưỡng của n� kh�ng hỗ trợ cho sự th�m canh (Peacock, 1979:200), trong khi đ� Ph� Nam c� lợI thế của đất n�ng nghiệp ở s�t cận một hải lộ.� Vương quốc tọa lạc tại nơi m� bờ biển ăn l�m s�u v�o ph�a trong đ� k�o hảI phận của vịnh đến gần s�t Biển Hồ (Tonle Sap) v� con s�ng Cửu Long, một con s�ng d�i đ� bồi đắp một khối lượng lớn đất ph� sa.� Thung lũng của d�ng s�ng th� ph� nhi�u v� rộng lớn, v� c�y cối c� thể tăng trưởng m� kh�ng cần dẫn nước nhờ ở m� thức ngập lụt tự nhi�n của d�ng s�ng.� Ph� Nam v� thế thụ hưởng c�c số thu hoạch phong ph� v� đ�ng tin tưởng khiến n� c� thể dự trữ thực phẩm cho ch�nh người d�n của n� v� cho kh�ch du h�nh, một khả năng nhiều phần đ� l� l� do thu h�t c�c kh�ch bu�n b�n đường trường lui tới c�c hải cảng của n�. (K. Hall, 1985a: 48-49, 56).

 

Cung cấp cho c�c kh�ch du h�nh đi lai giữa Ấn Độ v� Trung Hoa đ�i hỏi c�c số lượng lớn lao về thực phẩm.� Bởi m� thức gi� m�a thổi, c�c kh�ch mậu dịch đường trường thường kh�ng thể chỉ dừng bước tại một hải cảng Đ�ng Nam � trong v�i ng�y v� v�i tuần. Đ�ng ra, phải chừng nửa năm, khi gi� thổi từ đất liền ra, c�c kh�ch du h�nh chạy thuyền từ Ấn Độ hay Trung Hoa đến một hải cảng Đ�ng Nam �, nơi m� họ sẽ phải ở lại cho đến khi gi� chuyển hướng v� thổi v�o đất liền, khi đ� họ c� thể khởi h�nh để đi hoặc Ấn Độ hay Trung Hoa.� Ch�nh v� thế, mọi t�u thuyền, bất luận l� ch�ng đi đến hay khởi h�nh từ Trung Hoa, c� khuynh hướng đến Đ�ng Nam � v�o c�ng một thời khoảng v� ra đi cũng v�o c�ng một thời khoảng.� Thời lượng m� kh�ch du h�nh c� thể ở lại hải cảng để chờ gi� đổi chiều th� kh�c nhau, nhưng thường v�o khoảng từ ba đến năm th�ng.� Bởi v� hải cảng phải nu�i ăn cho tất cả kh�ch du h�nh c�ng một l�c, v� thường k�o d�i h�ng nhiều th�ng, sự tiếp cận của một hải cảng ở Đ�ng Nam � với c�c số thặng dư n�ng phẩm c� t�nh c�ch thiết yếu cho sự th�nh c�ng của n�.

 

H�y c�n nhiều điều để t�m hiểu về Ph� Nam.� Giống như nhiều vương quốc Đ�ng Nam �, n� được chứng minh l� một đề t�i kh� nắm vững.� Khoa cổ học l� một nguồn th�ng tin quan trọng, v� c� nhiều bia k� được khắc tr�n đ� hay dập tr�n khu�n kim loại.� D� thế, phần lớn những g� biết được về vương quốc n�y đ� đến từ c�c bản văn trần thuật đương đạI của Trung Hoa, v� ngay ch�nh danh xưng được biết giờ đ�y, �Ph� Nam�, trong thực tế l� một từ ngữ của Trung Hoa để chỉ địa điểm, chứ kh�ng phải l� danh xưng c� gốc Đ�ng Nam � (vẫn c�n chưa chắc chắn).� Cũng chưa c� sự đồng � ho�n to�n về chủng tộc của người Ph� Nam.� Trong qu� khứ, một số học giả cho rằng họ l� người giống Malayo�Polynesian, nhưng phần lớn giờ đ�y tin rằng họ l� người Khmer x�t về mặt ng�n ngữ v� chủng tộc, nhờ ưu thế về bằng cớ bia k� cho thấy như thế (Jacques, 1979: 374-5).

 

Khu vực trọng t�m của Ph� Nam nằm b�n ph�a Việt Nam của v�ng nay l� bi�n giới Việt Nam � Căm Bốt, nhưng c� một số địa điểm li�n hệ mật thiết nằm b�n ph�a Căm Bốt.� Thủ đ�, Vyadhapura, được thiết lập tại một địa điểm tr�n đất liền, gần Biển Hồ v� s�ng Cửu Long, trong thế kỷ thứ nh�.� Vyadhapura c� thể được phi�n dịch l� �Th�nh Phố Của Nh� Vua-Thợ Săn�, hiển nhi�n l� một sự tham chiếu đến vị vua hồi thế kỷ thứ nh�, Hun Panhuang, l� kẻ đ� đi v�o trong rừng, bắt v� thuần h�a c�c con voi to lớn, huấn luyện ch�ng cho c�c mục đ�ch qu�n sự, v� sau đ� d�ng ch�ng để mang lại sự thần phục của c�c nước l�ng giềng (K. Hall, 1982:93).� V�o đầu thế kỷ thứ ba, vi�n tướng qu�n vĩ đại Fan Shiman đ� mở rộng quyền lực của Ph� Nam về hướng t�y dọc theo bờ biển miền bắc của Vịnh Th�i Lan v� xu�i xuống B�n Đảo M� Lai cho m�i đến Eo Đất Kra (Wolters, 1967: 37; K. Hall, 1985a: 63-64).

 

C�c thương nh�n Ấn Độ kh�ng phải l� những người duy nhất thăm viếng vương quốc Ph� Nam tr�n đường đến Trung Hoa.� V�o khoảng thế kỷ thứ nh� sau C�ng Nguy�n, trạm trung chuyển tr�n đất liền n�y đ� hấp dẫn c�c thương nh�n từ v�ng Trung Đ�ng, v� ngay cả từ nơi xa x�i như Hy Lạp.� Trong thực tế, hai ngườI tự xưng l� sứ giả của Ho�ng Đế La M� Marcus Aurelius đ� xuất hiện tại Trung Hoa năm 166 sau C�ng Nguy�n, đ� đến nơi đ� qua ngả Ph� Nam.� Kh�ng c� vẻ rằng họ thực sự l� c�c sứ giả ch�nh thức: c� lẽ đ�ng nhất ho l� c�c thương nh�n Hy Lạp (lệ thuộc La M�) đ� xưng nhận quy chế ngoai giao để d�nh được sự tiếp cận với th�nh phố Lạc Dương, khi đ� l� kinh đ� của nh� H�n (Yu, 1967: 159-60; K. Hall, 1985a: 38).

 

C�c di t�ch khảo cổ của �t nhất một trong c�c hải cảng của Ph� Nam được t�m thấy gần thị trấn ng�y nay gọi l� �c Eo của Việt Nam, tọa lạc phần n�o trong đất liền, c�ch bờ biển khoảng 3 dặm, như khu định cư li�n quan đến hải cảng của Ph� Nam.� Kh�ch du h�nh đến được nơi đ� xuy�n qua một mạng lưới c�c con kinh tho�t nước nối liền Vịnh Th�i Lan với S�ng Cửu Long (Taylor, 1992: 158).� C�c đồ vật được khai quật ở đ� bao gồm c�c sản phẩm địa phương, c�c h�ng h�a được trao đổi trong v�ng Đ�ng Nam �, v� h�ng nhập cảng từ Ấn Độ, Iran, v� Địa Trung Hải.� Rất nhiều đồ sứ được t�m thấy.� Nhiều ấn t�n v� nhiều đồ nữ trang c� nguồn gốc Ấn Độ, v� c� c�c tấm b�a ch� bằng thiếc, c� vẻ được l�m tại Ph� Nam, với c�c biểu tượng của c�c vị thần Ấn Độ Gi�o như Visnu v� Siva.� C�c phẩm vật từ Trung Hoa bao gồm c�c tượng Phật nhỏ v� một tấm gương bằng đồng, trong khi từ Địa Trung Hải l� c�c mảnh đồ thuỷ tinh, một đồng tiền v�ng của thế kỷ thứ nh�, v� c�c huy chương bằng v�ng mang h�nh ảnh của Antoninus Pius v� Marcus Aurelius (K. Hall, 1985a: 59; Wolters, 1967: 38; Christie, 1979: 284-86).

 

 

Ph� Nam v� C�c Thủy Thủ M� Lai

 

Thị trường m� Ph� Nam cung cấp đ� l�i cuốn c�c thủy thủ M� Lai từ c�c phần kh�c nhau trong khu vực hải h�nh t�m đến c�c hải cảng của n�.� Họ mang đến c�c đồ tiếp liệu v� nguy�n liệu chẳng hạn như sắt được d�ng ngay tại Ph� Nam (Wolters, 1967: 52; 1982: 35n), cũng như c�c sản phẩm m� họ hy vọng để trao đổi vớI c�c h�ng h�a hiếm qu� được mang đến bởi c�c thương nh�n từ c�c v�ng đất xa x�i.� Tự nguy�n thủy, c�c nh� mậu dịch quốc tế tụ họp tại Ph� Nam, nhắm v�o tơ lụa của Trung Hoa, �t hay kh�ng quan t�m đến c�c dặc sản của Đ�ng Nam �.� Nhưng người M� Lai sau rốt đ� th�nh c�ng trong việc giới thiệu c�c sản phẩm của ch�nh họ v�o c�ng cuộc mua b�n quốc tế.

 

C�c sản phẩm đầu ti�n như thế c� thể được giảI th�ch như sản phẩm thay thế cho những h�ng h�a c� gi� trị m� c�c nh� bu�n b�n xa x�i đ� vận tải tới Trung Hoa.� Trong số c�c h�ng h�a n�y c� hương trầm (frankincense) từ Đ�ng Phi Ch�u v� nam Ả Rập, v� hương dược liệu họ bdellium myrrh từ Đ�ng Phi Ch�u, nam Ả Rập, t�y nam Iran, v� c�c khu vực đ� kh� tại Ấn Độ (Wolters, 1967: 105, 113).� C�c chất liệu n�y thường được d�ng để chế tạo nước hoa v� hương, trầm, nhưng người Trung Hoa cũng d�ng ch�ng trong dược phẩm.�� Tuy nhi�n, trong thời đại của Ph� Nam, c�c thủy thủ M� Lai đ� c� thể d�ng nhựa th�ng ở Sumatra để thay thế cho hương trầm v� c�nh kiến trắng [tức benzoin: an tức hương, một loai nhựa thơm từ c�y ở đảo Java, ch� của người dịch] để thay thế cho hương dược liệu bdellium myrrh.� Họ cũng giới thiệu một sản phẩm mới, long n�o, một loại nhựa sớm c� gi� trị như một dược phẩm v� như một th�nh tố của hương, trầm v� dầu sơn b�ng (v�c-ni) (Wolters, 1967: 65, 103-4, 127).� Kể từ đ� trở đi, long n�o đắt gi� nhất l� long n�o của v�ng Barus, một hải cảng tr�n bờ biển t�y bắc của Sumatra.� C�c gỗ c� m�i thơm như gỗ gharu v� gỗ đ�n hương (sandalwood) (một đặc sản của Timor, c�ch Ph� Nam về ph�a đ�ng nam khoảng 1,800 dặm) cũng trở th�nh c�c h�ng h�a mậu dịch quan trọng v�o thời điểm n�y (Wolters, 1967: 65-66).

 

Một dấu hiệu về tầm quan trọng của Ph� Nam đối với c�ng cuộc mậu dịch h�ng hải của Trung Hoa được cung cấp bởi một ph�i bộ Trung Hoa được ph�i đi từ vương quốc nh� Ng� (Wu) đến Ph� Nam trong thế kỷ thứ ba.� Nh� Ng�, kiểm so�t miền nam Trung Hoa, l� một trong c�c vương quốc cấp v�ng đ� xuất hiện sau sự sụp đổ của nh� H�n năm 221.� Nh� vua của n�, quan t�m đến mậu dịch quốc ngoại, c� nghe n�i rằng c�c h�ng h�a từ Ấn Độ v� c�c v�ng kh�c ở phương t�y c� thể c� mặt tại Ph� Nam v� v� thế đ� ph�i hai sứ giả đến đ� một l�c n�o đ� trong thời khoảng nằm giữa c�c năm 245 v� 250i.� Trong b�o c�o sau đ� của họ về cuộc viễn chinh khảo s�t, họ c� đưa ra sự m� tả sau đ�y về Ph� Nam:

 

[D�n ch�ng Ph� Nam] sống trong c�c cung điện, nh� cửa, c�c th�nh phố c� tường th�nh bao quanh �� D�n ch�ng th� chuy�n về canh n�ng.� Họ gieo hạt trong một năm v� thu h�i cho ba năm.� Hơn nữa, họ th�ch đục đẽo v� chạm khắc đồ trang tr�.� Nhiều đồ d�ng để ăn của họ l�m bằng bạc.� Thuế [quan] được trả bằng v�ng, bạc, ngọc trai, v� nước hoa.� C� s�ch vở v� văn khố cất chứa v� nhiều thứ kh�c.� Chữ viết của họ tr�ng giống như chữ của người Hồ [một d�n tộc v�ng Trung � sử dụng văn tự c� nguồn gốc từ Ấn Độ] (Coed�s, 1971: 42; cũng xem K. Hall, 1982: 82).

 

Bản b�o c�o của c�c sứ giả cũng đoan quyết với nh� vua Trung Hoa rằng vương quốc Đ�ng Nam � n�y trong thực tế c� c�c sự tiếp x�c với c�c v�ng viễn t�y.

 

C�c Cuộc H�n Nh�n Quốc Tế: Gi�ng Tộc v� Văn H�a��

 

Bởi v� c�c kh�ch du h�nh từ Ấn Độ đ� lưu tr� lại tại Ph� nam trong nhiều th�ng mỗi lần, điều kh�ng g�y ngạc nhi�n rằng người d�n Ph� Nam, đặc biệt l� giới cầm quyền của n�, đ� trở n�n quen thuộc với văn h�a Ấn Độ.� Mặc d� số lượng thương nh�n Ấn Độ c� lẽ đ�ng hơn nhiều, c� thể ch�nh c�c gi�o sĩ c� khuynh hướng theo dấu ch�n của họ, c�c nh� Qu� Tộc theo B� La M�n gi�o v� c�c tăng lữ, đ� đ�ng một vai tr� quan trọng hơn trong c�c sự đối thoại về văn h�a.� C�c nh� l�nh đạo địa phương bắt đầu thừa nhận v� th�ch ứng với c�c th�nh tố l�i cuốn nhất của văn h�a Ấn Độ, khi ch�ng ph� hợp với c�c mục đ�ch ri�ng của họ.� V�o thế kỷ thứ nh�, c�c danh xưng v� tước hiệu bằng tiếng Phạn (Sanskrit) đ� được sử dụng, v� về sau đ� xuất hiện phần n�o đ� trong c�c bia khắc bằng tiếng Phạn v� tiếp đến, trong c�c ng�n ngữ địa phương được viết bằng văn tự ph�t nguy�n từ Phạn ngữ.� Bằng việc x�ch gần lại văn h�a Ấn Độ trong cung c�ch n�y, c�c nh� l�nh đạo n�y đ� khởi sự một tiến tr�nh tr�n to�n v�ng thường được đề cập như l� tiến tr�nh �Ấn Độ h�a� (Coed�s, 1971; Powers, 1993).

 

C�c sự tham chiếu đến tiến tr�nh �Ấn Độ h�a� của v�ng Đ�ng nam � l�m li�n tưởng đến một sự so s�nh mặc nhi�n với sự La M� h�a của v�ng Địa Trung Hải, Phạn h�a v�ng tiểu lục địa Ấn Độ, hay t�nh trạng Trung Hoa h�a, tức sự truyền b� văn h�a người H�n phương bắc tr�n khắp c�i đế quốc Trung Hoa v� ảnh hưởng văn h�a của Trung Hoa tr�n nhiều phần của H�n Quốc v� bắc phần của Việt Nam.� Tuy nhi�n, c�c sự kh�c biệt quan trọng hiện hữu giữa hai tiến tr�nh n�u tr�n với những g� đ� xảy ra tại Đ�ng nam �, đem lại hậu quả rằng th�nh ngữ Ấn Độ h�a c� thể g�y hiểu lầm.� C�c nh� l�nh đạo Đế Quốc Mauryan của Ấn Độ (322-186 trước C�ng Nguy�n) đ� chinh phục phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ, v� c�c ho�ng đế nh� H�n đ� chinh phục phần lớn đất đai ng�y nay được biết l� Trung Hoa, c�ng với c�c phần l�nh thổ tại H�n Quốc v� Việt Nam.� Người La M� đ� chinh phục c�c bờ biển của Địa Trung Hải, cũng như phần lớn ph�a t�y �u ch�u v� Anh Quốc.� Song kh�ng c� người d�n n�o trong số d�n ch�ng Đ�ng Nam � trở n�n giao kết với c�c kh�a cạnh kh�c nhau của nền văn h�a Ấn Độ lại c� bao giờ bị chinh phục hay thực d�n h�a bởi người Ấn Độ.

 

Mối quan hệ của người d�n Đ�ng Nam � với văn h�a Ấn Độ ch�nh v� thế c� thể so s�nh gần giống hơn với sự th�ch ứng của c�c vương quốc Nhật Nhĩ Man (Đức: Germanic) tr�n những th�nh tố của nền văn minh Byzantine v� La M� (kể cả Thi�n Ch�a Gi�o) trong thời kỳ Trung Cổ hay sự đ�n nhận nồng nhiệt của Nhật Bản d�nh cho Phật Gi�o v� c�c c�c đặc t�nh v� văn h�a Trung Hoa trong thời kỳ Nara v� đến một mức độ n�o đ� sau n�y.� Trong khi đ�ng l� người d�n Đ�ng Nam � được kh�ch lệ bởi c�c truyền thống Ấn Độ, ngưỡng mộ ch�ng v� vay mượn một c�ch tự do từ ch�ng, họ vẫn l� chủ vận mệnh của m�nh: chất liệu ngoại lai thường được t�i tạo trong b�n tay của họ trước khi được đan kết v�o một thế giới theo sự thiết kế của họ.� �Ấn Độ h�a� v�ng Đ�ng Nam � cũng gần giống như việc �Trung Hoa h�a� Nhật Bản hay �Địa Trung HảI h�a d�n Đức � c�c từ ngữ m� c�c sử gia chưa bao giờ cảm thấy c� một l� do để đặt ra.

 

Một thẩm quyền về miền n�y đ� n�u � kiến rằng nhiều phong tục v� th�i độ căn bản biện biệt một c�ch điển h�nh c�c nền văn h�a Đ�ng Nam � với c�c nền văn h�a của Ấn Độ, ngay cả trong những t�nh trạng trong đ� ảnh hưởng của c�c khuynh hướng văn h�a c� nguồn gốc từ Ấn Độ th� hiển nhi�n. Điều n�y cũng c� vẻ l� trường hợp li�n quan đến sự xuất hiện của c�c vương quốc, bất kể đến h�nh thức trang tr� mang đường n�t đồ trang sức của Ấn Độ.� Th� dụ, c� bằng cớ r� rệt cho sự ki�n tr� của một cảm thức bản xứ về hệ cấp đặt tr�n c�c quyền lực c� nh�n c� thể hay kh�ng c� thể được thừa kế. Đối với người Đ�ng Nam �, vấn đề d�ng tộc kh�ng quan trọng cho bằng khả năng phi thường của c� nh�n v� / hay của c�c tiền nh�n oai h�ng đặc biệt. Điều cũng kh�ng mấy quan trọng l� c�c tổ ti�n li�n hệ thuộc b�n cha hay b�n mẹ.� Đ�ng hơn, hậu duệ ho�ng gia nặng về huyết tộc trong c�ng gia đ�nh (cognatic); c� nghĩa c�c sự tuy�n x�c quyền h�nh c� thể dựa hoặc tr�n d�ng d�i ph�a mẹ hay ph�a cha đều được.� Khi đ�, trong thực chất, sự giao kết với văn h�a Ấn Độ đ� kh�ng l�m thay đổi c�c cơ cấu căn bản của c�c x� hội Đ�ng Nam �, v� người d�n Đ�ng Nam � trong suốt tiến tr�nh n�y đ� kh�ng bỏ rơi c�c hệ thống gi� trị bản địa của họ hay thế giới quan căn bản của họ (Wolters, 1982: 4-15).� Thay v�o đ�, một khi họ đ� trở n�n quen thuộc với hệ thống chữ viết của tiếng Phạn, với ngữ vựng v� c�c văn bản ch�nh trị bằng tiếng Sanskrit, v� với c�c t�n gi�o, nghệ thuật, v� văn chương Ấn Độ, họ trở th�nh c�c tham dự vi�n c� �c s�ng tạo trong một thế giới văn h�a lớn rộng hơn.

 

Quan điểm của Ph� Nam về sự đối thoại văn h�a n�y c� thể được nhận thấy trong một huyền thoại lập quốc vốn đ� l�u đời khi m� c�c sứ giả Trung Hoa ghi ch�p lại n� khoảng năm 240 sau C�ng Nguy�n.� Theo một sự trần thuật, cuộc đối thoại với truyền thống Ấn Độ khởi đầu khi một nh� cai trị nữ ph�i, người m� Trung Hoa gọi l� Liễu Diệp (Lin Ye), cầm đầu một cuộc đột k�ch v�o một chiếc thuyền đi ngang qua.� Một trong những h�nh kh�ch, một nh� qu� tộc B� la M�n t�n Kaundunya, cầm đầu cuộc kh�ng cự lại c� ta v� đ�nh bại c�c kẻ đột k�ch.� Sau đ� Liễu Diệp kết h�n với nh� qu� tộc B� La M�n, nhưng c� chỉ l�m như thế sau khi anh ta đ� uống thứ nước của địa phương.� Hai người kế đ� đ� di thừa vương quốc, v� bảy phần đất nước được giao cho đứa con trai của họ để cai trị, trong khi phần c�n lại họ giữ l�m l�nh địa ri�ng của m�nh (K. Hall, 1985a: 49; Jacques, 1979: 376; D. Hall, 1968: 25-26; Coed�s, 1971: 37).

�����������

Sự hiện hữu của một thần thoại như thế kh�ng nhất thiết c� nghĩa l� một cuộc h�n phối ho�ng gia thực sự đ� xảy ra theo cung c�ch được m� tả.� Cuộc h�n phối rất c� thể c� t�nh c�ch ẩn dụ.� Bằng c�ch n�o đi nữa, thần thoại giải th�ch một c�ch r� r�ng rằng c�c truyền thống bản địa đ� được sinh s�i nẩy nở nhờ c�c truyền thống của Ấn Độ v� rằng sự li�n hợp ch�nh trị v�o c�c l�nh địa rộng lớn hơn đ� xảy ra c�ng một l�c với sự tương t�c n�y.� Điều quan trọng cần ghi nhận rằng một người phụ nữ Ph� Nam đ� l� người khởi xướng sự đối đầu, v� rằng ch�nh sự kết h�n của ngoại kiều với c� ta đ� thiết lập cho người đ�n �ng một vị thế trong x� hội địa phương.

 

Việc uống nước của Kaundinya c� thể được giải th�ch theo v�i c�ch kh�c nhau.� Tuy nhi�n, một � nghĩa c� thể c� rằng anh ta đ� uống nước thề, tuy�n hứa l�ng trung th�nh với d�ng tộc địa phương, như một chỉ dấu rằng anh ta sẽ phục vụ Ph� Nam, giống như c�c truyền thống Ấn Độ sau rốt đ� phục vụ cho một loạt c�c thể chế ch�nh trị nhiều tham vọng tại Đ�ng Nam �.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, c�u chuyện chứa đựng một lu�n l� quan trọng: c�c điều tốt l�nh kh�ng đến từ việc tấn c�ng v� cướp b�c c�c chiếc thuyền ngang qua m� từ việc th�n thiện với ch�ng.� C�u chuyện của Liễu Diệp v� Kaundinya ch�nh v� thế đ� được d�ng để giải th�ch ch�nh s�ch từ khước việc cướp biển của vương quốc để nghi�ng về một ch�nh s�ch hợp t�c với kh�ch du h�nh để mang lợi cho cả đ�i b�n.

 

 

C�c Sự Ph�t Triển Khu Vực Hải H�nh

 

Mặc d� Ph� Nam nổi tiếng nhất, n� kh�ng phải l� trung t�m duy nhất thịnh đạt tại Đ�ng Nam � trong c�c thế kỷ n�y.� Bằng cớ khảo cổ cho thấy rằng một số loại chuyển tiếp ch�nh trị đ� diễn ra tại bờ biển ph�a bắc của đảo Java một c�ch sớm sủa, ngay trong ba thế kỷ cuối c�ng trước C�ng Nguy�n (Wisseman-Christie, 1991: 25).� V� trong thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n, khi c�c sứ giả Trung Hoa đang thăm viếng Ph� Nam, họ c� nghe về một số địa điểm kh�c nằm trong khu vực hải h�nh.� Họ hay biết rằng tại �Zhiaing� (rất c� thể nằm tr�n bờ biển đ�ng nam của đảo Sumatra) c� một �ng vua đ� nhập cảng giống ngựa Yuezhi từ miền t�y bắc Ấn Độ, trong khi tại �Sitiao� (rất c� thể nằm tại miền Trung đảo Java) l� một v�ng đất ph� nhi�u c� nhiều th�nh thị với c�c phố x� (Wolters, 1967: 52-61).

 

C�c trung t�m h�ng hải n�y c� vẻ đang trong tiến tr�nh th�ch ứng h�a một số th�nh tố của t�n gi�o v� thuật điều h�nh quốc gia của Ấn Độ, ngo�i việc th�ch nghi nhiều loại quyền lực bản xứ kh�c nhau chẳng hạn như sự t�n k�nh c�c tổ ti�n lừng lẫy, nhằm n�ng cao c�c vị thế ch�nh trị của ch�nh họ, hay �t nhất để loan b�o c�c th�nh quả v� ch�nh s�ch của họ.� C�c bia k� v�o khoảng 400 năm sau C�ng Nguy�n tại miền t�y Kalimantan v� v�o khoảng giữa thế kỷ thứ năm tại miền t�y đảo Java cho thấy rằng �t nhất c� một số kẻ đ� kh�m ph� ra sức mạnh biểu tượng của văn tự Phạn ngữ (Sanskrit) (Kulke, 1991: 4-7).� Về������� điều cho đến hồi gần đ�y được nghĩ l� bia k� bằng chữ Phạn cổ xưa nhất tại Đ�ng Nam � l� bản bia k� khắc tr�n đ� được t�m thấy tại V� Cạnh (D�n ch�ng tại V� Canh, tọa lạc tại bờ biển Việt Nam gần th�nh phố Nha Trang ng�y nay, n�i tiếng M� Lai v� sinh sống trong khu vực duy�n hải thuộc thế giới h�ng hải, một nơi sau n�y được biết l� xứ Ch�m).� Tr�n căn bản loại văn tự được sử dụng, bia k� V� Canh đ� từng được ghi c� nhật kỳ khoảng cuối thế kỷ thứ nh� hay đầu thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n, nhưng một cuộc nghi�n cứu gần đ�y đ� lập luận rằng n� kh�ng thể sớm hơn thế kỷ thứ năm qu� xa.� Cuộc nghi�n cứu n�y cũng n�u � kiến rằng Sri-Mara, nh� vua được ai điếu trong bia k�, đ� kh�ng c� mối quan hệ đặc biệt, lệ thuộc với Ph� Nam, như đ� từng được đề xuất trong qu� khứ. Đ�ng hơn, �ng ta phải được hiểu như nh� l�nh đạo c�c vương quốc n�i tiếng M� Lai trổi dậy trong khu vực hải h�nh, tương tự như c�c vương quốc tại Kalimantan v� Java (Kulke, 1991: 5).

 

 

Sự Xuất Hiện Của Một Con Đường Ho�n To�n Tr�n Biển

Xuy�n Qua C�c Eo Biển Của Đ�ng Nam

 

Bắt đầu thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n, một loạt c�c sự chuyển h�a ch�nh trị đ� xảy ra dọc theo c�c hải lộ tơ lụa kh�c nhau từ Trung Hoa đến Địa Trung Hải, c�c sự biến đổi đ� đạt đến cực điểm với sự xuất hiện của một con đường ho�n to�n tr�n biển giữa Ấn Độ v� Trung Hoa chạy xuy�n qua v�ng eo biển Đ�ng Nam �.� Trong năm 226 sau C�ng Nguy�n, một đế quốc mới xuất hiện tại Iran, mang lại c�ng với n� sự phục hoạt của quyền lực Iran tại v�ng Trung � Ch�u.� C�c nh� vua triều đại Sassanid cai trị đế quốc n�y l� những người theo đạo Zoroastrianism [Hệ thống t�n gi�o lập bởi Zoroaster, tin l� c� kiếp sau v� phe thiện sẽ thắng phe �c, l� t�n gi�o thịnh h�nh tại Iran trước khi nước n�y đổi sang đạo Hồi, ch� của người dịch], v� họ đặt t�nh c�ch ch�nh thống về ch�nh trị của m�nh tr�n một mối quan hệ đặc biệt với vị thần linh tối cao, Ahura Mazda [vị thần tối cao v� s�ng lập ra thế giới theo đạo Zoroastrian, ch� của người dịch].� Sau đ�, trong năm 320, triều đại Gupta tuy�n c�o lập một vương quốc Ấn Độ gi�o tr�n s�ng Hằng H� (Ganges).� Bởi v� sự b�nh trướng quyền lực Iran đ� l�m suy yếu sự kiểm so�t của vương quốc Kushana tr�n con đường tơ lụa từ Trung Hoa sang Ấn Độ, c�c nh� vua triều đại Gupta đ� c� thể đ�nh bại Kushanas, thống nhất miền bắc Ấn Độ, v� đặt phần lớn tiểu lục địa dưới sự thế lực của m�nh.

 

C�ng thời khoảng đ�, tại Ethiopia, Quốc Vương Ezana của v�ng Axum [kinh đ� cổ thời của Ethiopia, ch� của người dịch] đ� biến cải vương quốc của �ng th�nh một l�nh địa theo Thi�n Ch�a Giao.� Axum l� một thế lực l�u đời tại v�ng Biển Hồng Hải, một vương quốc m� nh� ti�n tri gốc Iran, Mani (215-276 sau C�ng Nguy�n), người lập ra đạo Manichaeism, đ� xếp hạng như �một trong bốn đế quốc vĩ đại nhất của thế giới� (Kobishanov, 1981: 383).� Từ l�u n� đ� l� một trung t�m mậu dịch lớn, nơi m� c�c con đường mậu dịch tr�n đất liền từ nội địa của Phi Ch�u (v�ng c� c�c sản phẩm như ng� voi) gặp gỡ c�c con đường hải h�nh của Biển Hồng Hải v� Ấn Độ Dương.� Hơn nữa, v�o khoảng gần đ�ng thời gian đ�, năm 330 Constantine I đ� di chuyển thủ đ� của đế quốc từ Rome sang Constantinople [tức th�nh phố Istanbul, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ng�y nay, ch� của người dịch] v� bắt đầu biến cải Đế Quốc La M� từ t� gi�o đa thần th�nh Đế Quốc Byzantium theo Thi�n Ch�a Gi�o.

 

L�c đầu, sự thiết lập quyền lực của triều đại Sassanian c� vẻ đ� g�y ra một sự đ�nh trệ trong mậu dịch tr�n con đường tơ lụa tr�n biển đi từ c�c hải cảng v�ng t�y bắc Ấn Độ xuy�n qua Hồng Hải đến Địa Trung Hải.� Người Iran đ� lấn chiếm c�c phần đường của c�c con đường tơ lụa m� vương quốc Kushanas đ� kiểm so�t v� sau đ� hiển nhi�n đ� chuyển hướng nhiều tơ lụa nhắm chở đến c�c hải cảng của Ấn Độ về c�c con đường tr�n đất liền xuy�n qua Iran để đến Biển Hắc Hải v� Đia Trung Hải.� Tuy nhi�n, sự tr� chậm n�y kh�ng k�o d�i, bởi mậu dịch của v�ng Biển Hồng Hải sớm được phục hồi bởi một li�n minh giữa c�c quyền lực mới Thi�n Ch�a Gi�o h�a tại Constantinople v� Adulis, thủ đ� của vương quốc Axum tại Ethiopia.

 

Constantine I đ� theo đuổi một ch�nh s�ch Hồng Hải bao qu�t, dự tr� để ngăn chặn sự thiết lập bất kỳ một quyền lực độc lập n�o tr�n b�n đảo Ả Rập (Shahid, 1984a: 70), v� cả �ng ta lẫn Nh� Vua Ezana đều bị quấy rối bởi quyền lực của Sabaeans v� Himyarites, c�c cộng đồng Đo Th�i được được thiết lập từ l�u tại Yemen.� Trong thời gian m� triều đại Sassanian củng cố quyền lực của họ, c�c cộng đồng n�y c� vẻ như đ� đạt được sự kiểm so�t tr�n phần lớn hoạt động mậu dịch tiến v�o Hồng Hải, v� c�c đồng minh mới theo Thi�n Ch�a Gi�o c�n nghi ngờ ch�ng th�ng đồng với Iran.� Sau một cuộc x�m lăng của Ethiopia v�o Yemen v�o giữa thế kỷ thứ tư (hiển nhi�n đ� được thực hiện với sự trợ gi�p của Byzantine), mậu dịch v�ng Hồng Hải đ� được phục sinh, nhưng với một sự kh�c biệt.� Kh�ng c� thể l�m g� đối với sự kiểm so�t của Iran tr�n phần lớn mậu dịch tơ lụa, c�c t�u thuyền Hồng Hải kh�ng c�n ch�nh yếu đi đến c�c hải cảng v�ng t�y bắc của Ấn Độ nữa.� Thay v�o đ�, ch�ng đ� di h�nh đến c�c hải cảng bu�n b�n hạt ti�u tại miền nam Ấn Độ v� đến đảo T�ch Lan (Sri Lanka).

�����������

Nhiều chiếc thuyền di chuyển qua lại giữa Hồng Hải v� miền nam Ấn Độ v� T�ch Lan l� thuyền của Ethiopia.� Mặc d� người Hy Lạp c� một số thuyền tại Hồng Hải, ch�ng hiếm khi n�o đi qu� Socotra, một h�n đảo ngo�i khơi bờ biển ph�a nam của Arabia (Runciman, 1975: 132).� Tuy nhi�n, bởi c�c nh� mậu dịch Ethiopia d�ng đồng tiền của Hy Lạp để mua sản phẩm, đ� c� c�c sự kh�m ph� lớn lao đồng tiền Byzantinium tại miền nam Ấn Độ.� C�c nhật kỳ tr�n c�c đồng tiền n�y chứng thực rằng hoạt động m�u dịch n�y đ� nở rộ từ thời trị v� trong thế kỷ thứ tư của vua Constantine I cho đến thời trị v� của vua Justin I (518-527) trong thế kỷ thứ s�u.� Trong thực tế, cho đến thế kỷ thứ bẩy người Ethiopia vẫn c�n l� quyền lực thương mại ưu thắng tại khu vực Hồng Hải (McNeill, 1963: 412).

 

V�o khoảng c�ng l�c m� Ethiopia d�nh được sự kiểm so�t tr�n Biển Hồng Hải qua việc x�m lấn Yemen, một sự ph�t triển quan trọng kh�c đ� xảy ra ở ph�a b�n kia đại dương bao la miền nam.� V�o khoảng năm 350 sau C�ng Nguy�n, c�c thủy thủ M� Lai đ� ph�t triển một hải lộ ho�n to�n tr�n biển đầu ti�n chạy từ T�ch Lan sang đến Biển Nam Hải (South China Sea).� Sau khi l�n t�u tại T�ch Lan, c�c h�nh kh�ch được l�i trực chỉ theo hướng đ�ng, xuy�n qua hoặc Eo Biển Malacca hay Eo Biển Sunda, để đến một trong những hải cảng tại Biển Nam Hải. (Một số c�c hải cảng như thế c� lẽ đ� hiện hữu tại phần cực nam của Biển Nam Hải, tr�n c�c h�n đảo Sumatra, Java, v� Borneo, l� c�c hải cảng đang cạnh tranh tr�n hải tr�nh n�y -- mặc d� trong thời kỳ thịnh vượng của Ph� Nam, c� vẻ kh�ng hải cảng n�o trong ch�ng lại t�m c�ch d�nh đạt quyền b� chủ tr�n v�ng kh�c).� Sau một sự dừng ch�n, trong khi chờ đợi gi� đổi chiều, họ c� thể tiến bước đến Trung Hoa.

 

Ch�nh v� thế, c�c thủy thủ M� Lai đ� c� thể cung cấp sự lưu th�ng quốc tế tr�n một con đường ho�n to�n tr�n biển, nhanh hơn, qua lại giữa Trung Hoa v� c�c thị trường tơ lụa.� C�c kh�ch du h�nh khởi đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa kh�ng c�n phải l�i t�u b�m s�t lấy bờ biển quanh Vịnh Bengal v� Vịnh Th�i Lan, vận tải h�ng h�a băng ngang eo đất Kra để đến được Ph� Nam.� Theo hải lộ mới n�y, họ c� thể lướt đi một c�ch mau lẹ trong m�a gi� nồm, trực chỉ từ c�c eo biển đến c�c hải cảng tại Biển Nam Hải.� Điều n�y cũng c� nghĩa h�ng h�a vận tải xuất ph�t từ Trung Hoa v� v�ng biển Đ�ng Nam � c� thể thực hiện một chuyến du h�nh nhanh ch�ng hơn đến c�c hải cảng của T�ch Lan.

 

 

Sự Tường Thuật của Fa Xian Về Hải Lộ Mới Chạy Qua Eo Biển������������

 

Sự kinh khiếp ra sao của hải lộ mới ho�n to�n chạy tr�n biển đối với kh�ch du h�nh lần đầu được nhận thấy r� r�ng từ một bản văn tường thuật viết bởi nh� sư Phật Gi�o t�n Fa Xian, người đầu ti�n đ� m� tả đường đi n�y.� V�o năm 399 sau C�ng Nguy�n, ở tuổi 65, Fa Xian rời tu viện của �ng tại Tr�ng An, Trung Hoa, l�m một cuộc h�nh hương về th�nh địa của t�n gi�o của �ng tại miền bắc Ấn Độ.� �ng đ� du h�nh sang Ấn Độ bằng con đường tr�n đất liền, dẫn �ng băng qua c�c sa mạc đ�ng sợ v� qua rặng n�i Karakoram, xuy�n qua c�c ngọn đ�o ở cao độ 18,000 bộ, nơi kh�ng kh� th� mỏng v� mọi loại hoạt động, ngay d� bước đi, th� kh� khăn.

 

Phần đ�ng kinh h�i nhất trong chuyến du h�nh của �ng l� băng qua hẻm n�i s�u nơi đầu nguồn của con s�ng Ấn H� (Indus River).� �ng v� v� c�c kh�ch du h�nh kh�c đ� phải chọn con đường chạy dọc theo một lối đi hẹp cắt v�o sườn n�i, m� Fa Xian đ� n�i �như một bức tường đ� cao mười ngh�n bộ. �Gần bờ m�p, con mắt trở n�n rối loạn; v� muốn tiến tới, nhưng kh�ng biết đặt b�n ch�n nơi đ�u.�� Kế đ� họ đ� phải leo xuống lại hẻm n�i s�u, bước xuống những bậc dựng đứng lần nữa được cắt v�o sườn v�ch đ�, v� rồi băng qua con s�ng tr�n một chiếc cầu được l�m bằng c�c sợi d�y thừng bện v�o với nhau (Fa Xian, 1956: 9-10).� Kh�ch du h�nh đ� kh�ng c� c�ch g� kh�c ngo�i việc nh�ch từng ph�n tr�n đường băng ngang, ngay cả khi c�c luồng gi� mạnh quất v�o chiếc cầu đong đưa.� (Kh�ch du lịch dũng cảm ng�y nay c� thể lấy xe bu�t chạy từ Trung Hoa sang Hồi Quốc (Pakistan) theo con đường của Fa Xian, nhưng tất cả c�c b�o c�o cho hay rằng, ngay cả với sự chuyển vận hiện đại, h�nh tr�nh vẫn chỉ d�nh cho c�c kẻ gan dạ).

 

Ch�nh v� thế, v�o năm 415 sau C�ng Nguy�n, khi �ng gi� t�m mươi tuổi Fa Xian dự tr� chuyến hồi hương về Trung Hoa, �ng ta đ� kh�ng muốn trở về bằng c�ng con đường đ� dẫn �ng tới.� Biết r� những g� ở sau lưng, nhưng kh�ng biết những g� ở ph�a trước, �ng ta đ�nh liều, chọn việc quay về qu� bằng hải lộ ho�n to�n tr�n biển.� Những g� �ng kh�m ph� được l� l�i thuyền tr�n đại dương th� cũng kinh khiếp y như dấn bước tr�n đất liền.� �ng rời T�ch Lan tr�n một thương thuyền chuy�n chở hai trăm người, nhưng chỉ sau hai ng�y rời khỏi cảng, họ đ� gặp phải một cơn gi� b�o, k�o d�i trong mười ba ng�y.� Sau khi thời tiết trở lại quang đ�ng, họ nhận thấy chiếc t�u bị hư hỏng v� sớm bị ch�m.� Ngay v�o l�c đ� chiếc t�u bị mắc cạn ở một h�n đảo v� danh, nơi m� thủy thủ đo�n c� thể sửa chữa [con t�u].� Tuy nhi�n, bởi v� đi lạc, họ mất th�m th� giờ để t�m nơi đến.� Qu� trễ v� vớI khẩu phần đ� hết từ l�u, cuối c�ng họ đ� l�i v�o một hải cảng tại v�ng Biển Nam Hải (Giles, 1956: 76-78).

 

Fa Xian đ� trải qua năm th�ng tại hải cảng n�y. �ng c� vẻ kh�ng vui th�ch với sự ngừng ch�n n�y, � kiến duy nhất của �ng rằng t� gi�o v� B� La M�n gi�o, chứ kh�ng phải Phật Gi�o, được ph�t triển ở đ�.� Trong phần thứ nh� của h�nh tr�nh của �ng, từ hải cảng n�y về Trung Hoa, chiếc t�u của �ng lại gặp phải một trận b�o.� Sau bảy mươi ng�y thủy thủ đo�n vẫn chưa nh�n thấy v�ng đất liền n�o, v� thế họ biết m�nh đ� bi lạc mất hải cảng m� họ nhắm đến � v� cũng như to�n thể lục địa.� (Thời gian l�i thuyền b�nh thường đến Trung Hoa l� năm mươi ng�y).� V� thế c�c thủy thủ chỉ đơn giản quay sang tr�i (hướng t�y bắc) bởi v� � Ch�u ở đ�u đ� [tr�n hướng n�y].� Cuối c�ng khi mắc cạn, họ c� mặt ở tỉnh Sơn Đ�ng, 1000 dặm ph�a bắc nơi nhắm đến của họ!� Họ đ� kh�ng c� � tưởng rằng họ đương ở đ�u, nhưng Fa Xian biết �ng đ� về qu� hương khi �ng nh�n thấy một khoảnh đất trồng c�c loại rau Trung Hoa (Giles, 1956: 79).

 

Sau cuộc trở về Trung Hoa của Fa Xian, c�c kh� khăn tr�n c�c con đường tơ lụa tr�n đất liền c�ng l�m gia tăng tầm quan trọng của c�c hải lộ m� �ng đ� đi qua.� Miền bắc Trung Hoa bị chiếm đ�ng bởi c�c d�n du mục đến từ v�ng thảo nguy�n hoang dại giữa � �u, g�y ra một cuộc chạy trốn khổng lồ của d�n ch�ng Trung Hoa từ bắc xuống nam.� Bởi sự dời cư đ�i hỏi tiền bạc v� phương tiện, c�c nh�m c� nhiều ưu quyền hơn chiếm đa số trong số c�c người tỵ nạn, một số c�c sử gia tuy�n bố rằng c� tới từ 60 đến 70 phần trăm c�c tầng lớp thượng lưu miền bắc di chuyển xuống ph�a nam s�ng Dương Tử.� Miền nam Trung Hoa tuy thế đ� kh�ng bị x�m chiếm bởi qu�n x�m lăng, một phần v� c�c kẻ cỡi ngựa từ c�c đồng cỏ phương bắc kh�ng thể n�o ph�ng ngựa băng ngang c�c c�nh đồng l�a, v� trong thực tế, hai vương quốc Phật Gi�o,� Liu Song (420-479) v� Nan Qi (479-502) đ� ph�t triển ở nơi đ� trong thế kỷ thứ năm.

 

C�c di d�n từ phương bắc, đ� c� thị hiếu từ l�u với c�c sản phẩm đến từ �c�c v�ng ph�a t�y,� đặc biệt lưu � đến những g� họ gọi l� h�ng h�a �Ba Tư.� Đế Quốc Sassanian đ� l� một trung t�m mậu dịch v� sản xuất quan trọng, v� Trung Hoa tin rằng n� sẽ l� một nguồn cung cấp c�c sản vật gi� trị v� hiếm qu�, nhiều sản vật trong đ�, trong thực tế, kh�ng phải đ� được sản xuất hay trao đổi tại Iran.� Trong số nhiều h�ng h�a được xem l� của Ba Tư (Persian) v�o l�c n�y l� h�ng dệt đắt tiền, hương dược liệu, trầm hương, chất ph�n chua [alum, d�ng để chế bột nổi, thuốc nhuộm v� giấy, ch� của người dịch], c�y th� l� Ai Cập (cumin), ma thạch (asbestos), hổ ph�ch, ngọc trai v� đ� qu� (Wolters, 1967: 129-38).

 

Cho đến giữa thế kỷ thứ năm, c�c h�ng h�a �Ba Tư� vẫn tiếp tục đến được miền nam Trung Hoa bằng c�c con đường tr�n đất liền trải d�i từ Iran đến Trung Hoa.� Tuy nhi�n, v�o năm 428, người Iran giao chiến với c�c kẻ du mục từ đồng cỏ hoang được gọi l� sắc d�n Hephthalites, hay giống Hung Trắng, l� c�c kẻ đe dọa bi�n cương ph�a đ�ng của n�.� V� v�o năm 439 triều đ�nh Bắc Ngụy của M�ng Cổ đ� củng cố quyền lực của n� tr�n phần lớn ph�a bắc Trung Hoa, kể cả c�c con đường chiến lược dẫn đến ph�a t�y.� T�nh thế c�ng nghi�m trọng hơn, triều đ�nh bị tấn c�ng từ Trung � bởi một sắc d�n từ đồng hoang kh�c.� Với sự sự giao tranh dọc theo c�c con đường tơ lụa tr�n đất liền, người ta kh�ng lấy l�m ngạc nhi�n khi thấy tr�o lượng c�c h�ng h�a được gọi l� của Ba Tư chảy xuy�n qua miền bắc Trung Hoa xuống ph�a nam bị ngặn chặn.

 

Tuy nhi�n, những người tỵ nạn tại miền nam Trung Hoa đ� kh�ng bị tước đoạt bao l�u.� C�c nh� mậu dịch Iran gia tăng việc sử dụng đường biển, từ vịnh Ba Tư đến T�ch Lan, nơi họ c� thể mua c�c h�ng h�a Trung Hoa được mang đến h�n đảo trung chuyển n�y bởi c�c thủy thủ M� Lai (Wolters, 1967: 150-51).� C�c nh� mậu dịch từ v�ng Vịnh Ba Tư đ� trở n�n thiết định một c�ch chắc chắn tại đ� hồi đầu thế kỷ thứ năm (Wolter, 1967: 81), v� họ đ� đến T�ch Lan với nhiều h�ng h�a �Ba Tư � đ�ng mong muốn.� C�c h�ng h�a n�y c�c thủy thủ M� Lai c� thể chuyển vận ngược đến Trung Hoa, nương theo gi� m�a để lướt qua c�c eo biển.

 

C�c thủy thủ M� Lai cung cấp c�c h�ng h�a �Ba Tư � n�y đ� l�i thuyền đến Trung Hoa từ c�c hải cảng ở Đ�ng Nam �.� Ch�nh v� thế, điều kh�ng g�y ngạc nhi�n l� nhu cầu miền nam Trung Hoa đ� sớm ph�t triển cho c�c sản phẩm của khu vực hải h�nh của n�.� Kh�ng chỉ thị trường về c�c loại nhựa v� gỗ thơm vẫn c�n mạnh, m� Trung Hoa trở th�nh một thị trường kh�ng đ�y cho sừng t� gi�c. ( Tại Trung Hoa n� được d�ng để chế tao ra một loại thuốc bổ dưỡng, bảo đảm chữa trị được chứng bất lực của đ�n �ng, trong khi tại Nhật Bản, n� được d�ng như một loại b�a v� được treo ở cột giường ngủ cho c�ng mục đ�ch đ�.� Hậu quả của sự đ�i hỏi của v�ng Đ�ng � về sừng khiến cho t� gi�c trở n�n tuyệt chủng tại Đ�ng Nam �.)� Người Trung Hoa cũng trở th�nh c�c người mua quan trọng c�c phẩm vật như l�ng chim, gỗ thơm, mu r�a, v� ma thạch.� V� v�o khoảng cuối thế kỷ thứ năm hay đầu thế kỷ thứ s�u, c�c người ti�u thụ Trung Hoa đ� rất quen thuộc với hạt ti�u v� c�c đồ gia vị kh�c của Đ�ng Nam �.� Tuy nhi�n, bởi v� người Trung Hoa c� khuynh hướng nghĩ c�c đồ gia vị n�y trước ti�n v� tr�n hết như th�nh phần pha chế hương, trầm hay dược thảo, họ đ� n�i về c�ng cuộc thương mại n�y kh�ng phải như mậu dịch về đồ gia vị m� như sự trao đổi vể hương liệu v� dược liệu (xiang-yao: hương dược?).

 

 

C�c Đồ Gia Vị V�ng Moluccas

�����������

Trong số c�c sản phẩm m� c�c thủy thủ M� Lai giới thiệu tr�n thị trường quốc tế l� �c�c đồ gia vị ngon miệng� hiếm c� � đinh hương, hạt nhục đậu khấu, v� vỏ hạt đậu khấu phơi kh� (mace). � c�c đồ gia vị đ� trở th�nh m�n h�ng đắt gi� nhất v� sinh lợi nhất trong c�ng cuộc mậu dịch.� (Quế v� hạt ti�u chắc chắn l� c� gia trị, nhưng kh�ng giống như ba loại n�y, ch�ng được cung cấp với số lượng đ�ng kể tại một số địa điểm thuộc miền nam � ch�u. )� Sự ph�n bố c�c trống đồng lớn, được chế tạo tại miền bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển Biển Java v� Biển Banda n�u � kiến rằng c�c nh� mậu dịch Java c� thể đ� thụ đắc c�c gia vị ngon miệng từ �C�c Đảo Gia Vị: Spice Islands� nguy�n thủy, tại v�ng Moluccas (c�ch Java hơn một ng�n dặm về ph�a đ�ng v� 2,000 dặm ph�a đ�ng Eo Biển Malacca), v� đ� giới thiệu ch�ng v�o mạng lưới mậu dịch li�n v�ng ngay từ thế kỷ thứ nh� hay thứ ba trước C�ng Nguy�n (Wisseman-Christie, 1991: 25).� D� thế, c�c gia vị n�y vẫn chưa được hay biết rộng r�i tại Ấn Độ hay Trung Hoa m�i cho đến khi c� sự ph�t triển đường đi ho�n to�n tr�n biển của M� Lai chạy từ T�ch Lan đến Trung Hoa.

 

Gia vị được biết l� đinh hương (cloves) thực sự l� nụ hoa chưa nở được phơi kh�, của c�y đinh hương.� Trước năm 1600, c�c vườn đinh hương với bất kỳ tầm quan trọng về mặt thương mại n�o, chỉ được trồng tại năm h�n đảo n�i lửa nhỏ b� � Ternate, Tidor, Motir, Makian, v� Batjan -- tọa lạc ngo�i khơi gi�p bờ biển ph�a t�y của đảo Halmahera (Brierley, 1994: 43).� Hạt nhục đậu khấu v� vỏ hạt đ�u khấu [t�c giả c� lẽ đ� nhầm lẫn vỏ hạt n�y cũng l� một loại c�y, ch� của người dịch] được trồng tại v�ng đất ph�n xuất thạch của c�c đảo ở Banda, một nh�m gồm mười đảo ở Biển Banda, nằm ph�a ch�nh nam của h�n đảo được gọi l� Ceram (d� thế ch�ng qu� nhỏ, với tổng số diện t�ch 17 dặm vu�ng, n�n kh�ng xuất hiện hay được n�u t�n tr�n nhiều bản đồ).� Những g� được b�n như hạt đậu khấu l� một hạt được t�m thấy trong hột mầm, trong khi bột vỏ (mace) đến từ lớp vỏ mỏng m�u đỏ dẻo dai bọc quanh hạt n�y.

 

Với gi� trị m� c�c đồ gia vị ngon miệng n�y đ� thụ tạo được ở khắp Đ�ng B�n Cầu, điều đ�ng để � l� kh�ng kẻ n�o đ� t�m c�ch ph� vỡ cơ chế tương đương một sự độc quyền của Moluccas m�i cho đến thế kỷ thứ mười bảy, khi người H�a Lan chiếm giữ c�c h�n đảo sản xuất gia vị.� Xuy�n qua nhiều thế kỷ, người d�n tr�n đảo đ� canh chừng nghi�m ngặt c�c du kh�ch để ngăn chặn việc l�n l�t mang đi hạt giống hay c�y trồng.� C�c người trồng c�y gia vị ở Moluccas, c� kỹ năng cao trong việc tr�ng nom c�y v� thu h�i v� phơi kh� c�c đồ gia vị, kh�ng c� � định chia sẻ kiến thức n�y cho kẻ kh�c.� Hơn nữa, ngay d� c�c kẻ bu�n lậu c� th�nh c�ng trong việc xuất l�n l�t một số hạt giống, nhiều phần họ vẫn chưa bao giờ thu h�i được một vụ gặt n�o cả.� C�c hạt giống mau ch�ng bị hư hoại, v� ngay cả nếu sồng được, c�c c�y n�y thường kh�ng tăng trưởng đến mức độ ch�n m�i.� Vả chăng, ch�ng cũng cực kỳ k�n chọn nơi được trồng, ho�n to�n c� biệt về mặt loại đất, nhiệt độ, độ ẩm, m� h�nh vũ lượng h�ng năm, v� loại b�ng r�m được cung cấp bởi c�c c�y kh�c.� C� một c�u tục ngữ từ c�c người canh t�c rằng �c�c hạt đậu khấu phải c� thể ngửi thấy biển, v� c�y đinh hương phải tr�ng thấy biển� (Ridley, 1912: 105).� Ch�nh v� thế, một �t nơi tr�n thế giớI c� thể lập lại đ�ng c�c điều kiện tr�n c�c h�n đảo gia vị n�y.

 

 

Sự Tan Biến Của Ph� Nam Giữa Những Sự Khủng Hoảng Của Thế Kỷ Thứ S�u������

 

Trong khoảng năm trăm năm, cho đến thế kỷ thứ s�u sau C�ng Nguy�n, l�nh địa Ph� Nam đ� thịnh vương, k�o d�i sau khi c� sự ph�t triển con đường ho�n to�n đi tr�n biển từ T�ch Lan đến Trung Hoa.� Tuy nhi�n, v�o khoảng giữa thế kỷ thứ s�u n� đ� phải g�nh chịu một sự tuột dốc, v� kh�ng l�u sau đ� bị chinh phục từ phương bắc, bởi vương quốc Ch�n Lạp (Chenla) của người Khmer.� C�c sử gia đ� chưa c� thể nhận ra c�c nguy�n do của sự sụp đổ của Ph� Nam, nhưng điều đ�ng ghi nhận l� n� đ� xẩy ra gần như đồng thời với một loạt c�c x�o trộn v� biến chuyển đọc theo tất cả con đường mậu dịch h�ng hải từ Constantinople đến Trung Hoa.

 

Trong năm 520 sau C�ng Nguy�n, nh�m d�n Hephthalites của v�ng Trung � chọc thủng c�c ph�ng tuyến bảo vệ bởi qu�n đội Sassanian, c�i khi�n bảo vệ cả Iran v� Ấn Độ.� C�c nh� l�nh đạo triều đại Sassanian tại Iran t�m c�ch sống s�t sau sự thất trận n�y trong hơn một trăm năm, nhưng triều đại Gupta th� kh�ng l�m được như vậy.� Do �p lực từ b�n ngo�i v� sự căng thẳng ở b�n trong, quyền lực của c�c nh� vua Gupta đ� suy t�n, v� v�o khoảng giữa thế kỷ thứ s�u, đế quốc đ� tan r� th�nh nhiều vương quốc cấp miền.� Khu vực biển Hồng Hải cũng bị x�o trộn bởi c�c sự giao tranh.� V�o khoảng đầu thập ni�n 520, nh� vua Ethiopia tố c�o rằng người Hymyarites gốc Do Th�i tại Najran, bắc Yemen, l� ngược đ�i người theo đạo Thi�n Ch�a, v� trong năm 525, �ng ta đ� thực hiện một cuộc viễn chinh trừng phạt họ, chiếm đ�ng Yemen trong v�ng bốn mươi lăm năm sau đ�.� Từ năm 527 đến năm 532 v� một lần nữa từ năm 540 đ�n 562, Byzantine v� Iran giao chiến với nhau.� Trong năm 570, một đội qu�n của triều đại Sassanid băng ngang b�n đảo Ả Rập v� x�m lăng Yemen, theo đ� triệt hạ sự kiểm so�t của Ethiopia tr�n v�ng Biển Hồng Hải.� Trong thực tế, sự chiếm đ�ng của Iran tr�n Yemen k�o d�i hơn s�u mươi năm.

 

Ngo�i c�c x�o trộn tr�n c�c đường mậu dịch h�ng hải miền nam, c�n c� một sự bộc ph�t chứng bệnh dịch hạch truyền nhiễm.� Trong quyển s�ch nhan đề Plagues and Peoples của m�nh, �ng William McNeill đ� m� tả l�m sao m� sự truyền nhiễm đ� lan rộng từ Ấn Độ v� c�c hải cảng kh�c tr�n Ấn Độ Dương cho đến Hồng Hải.� V�o năm 542, n� đ� lan đến Constantinople, nơi một nh�n chứng tận mắt ước lượng rằng tỷ lệ tổn thất l�n cao đến mức 10,000 người một ng�y (Mango, 1980: 68).� Bệnh dịch v� nạn đ�i c�n tiếp tục t�n ph� Địa Trung Hải trong gần hai trăm năm sau đ�.

 

McNeill cho rằng sự bộc ph�t chứng dịch n�y l� một hậu quả trực tiếp của c�c sự r�ng buộc thương mại chặt chẽ giữa Ấn Độ, Phi Ch�u v� v�ng Địa Trung Hải.� Giống �chuột đen� đ�ng vai tr� chủ nh�n chứa chất c�c con bọ ch�t (rận) mang mầm dịch c� nguồn gốc từ Ấn Độ.� Ch�ng l� c�c con vật giỏi leo tr�o v� c� thể dễ d�ng d�ng c�c sợi d�y thừng buộc c�c chiếc thuyền buồm với c�c neo cố định để l�n xuống c�c con t�u di chuyển từ hải cảng n�y sang hải cảng kh�c.� Trước khi c� cuộc truyền nhiễm hồi thế kỷ thứ s�u, c�c con chuột đ� di cư từ Ấn Độ sang Đ�ng Phi Ch�u v� v�ng Biển Hồng Hải, đ� chạy băng qua cầu đất hẹp để sang Địa Trung Hải, v� đ� lan tr�n khắp v�ng biển đ�, mặc d� kh�ng vượt qu� Eo Biển Gibraltar (nơi m� c�c con t�u của Địa Trung Hải hiếm khi lai v�ng cho m�i đến v�i thế kỷ sau n�y).� Ch�nh v� thế, khi c�c con bọ ch�t tr�n một số con chuột n�y, bất luận l� tr�n bờ biển Ấn Độ hay Phi Ch�u, trở n�n bị nhiễm bởi trực tr�ng dịch hạch, chứng bệnh t�n ph� n�y đ� được truyền đi dọc theo đường đi của �sự khuếch t�n giống chuột đen� (McNeill, 1976, 1976: 111-12).� Mặc d� McNeill kh�ng đề cập đến khả t�nh n�y, xem ra nhiều phần l� giống chuột n�y cũng đ� tự ph�n t�n về ph�a đ�ng của Ấn Độ, đến Ph� Nam v� c� thể đến miền nam Trung Hoa, v� c�c khu vực n�y cũng gặp phải nạn dịch hạch v�o thời gian n�y.

 

McNeill c�n n�u � kiến đi xa hơn rằng sự bộc ph�t nạn dịch n�y c� thể đ� l� một nguy�n do quan trọng của sự thu hấp quyền lực tại �u Ch�u từ v�ng Địa Trung Hải l�n ph�a bắc, một tiến tr�nh đ� khởi sự v�o cuối thế kỷ thứ s�u. Ở b�n đối xứng, mỏm ph�a đ�ng của c�c con đường hải h�nh miền nam, cũng c� một sự di chuyển quyền lực nhận thấy được l�n ph�a bắc.� Ph� Nam bị chinh phục từ phương bắc, v� v�o năm 581, Trung Hoa được t�i thống nhất với triều đại nh� T�y (518-618), đặt căn cứ tại miền bắc, đ� chinh phục miền nam.

 

Cắt ngang giữa hai đầu mỏm n�y, sự di chuyển l�n hướng bắc n�y được tăng cường sau khi c� c�c sự chinh phục của Hồi Gi�o trong c�c thế kỷ thứ bẩy v� thứ t�m.� V�ng Umayyad Caliphate, c� thủ đ� đặt tại Damascus, đ� d�nh được sự kiểm so�t tr�n tất cả c�c con đường từ Trung Hoa sang Địa Trung Hải, v� dưới sự bảo trợ của họ c�c con đường tr�n đất liền đ� ph�t đạt, trong khi lưu th�ng tr�n biển Hồng Hải bị s�t giảm.� C�ng l�c, c�c cuộc chinh phục của Hồi Gi�o kh�ng c� vẻ đ� g�y ra một ảnh hưởng ti�u cực tr�n con đường ho�n to�n đi tr�n biển của M� Lai chạy xuy�n qua v�ng c�c eo biển, bởi mậu dịch quốc tế dọc hải lộ n�y vẫn tiếp tục b�nh trướng.� Tuy nhi�n, con đường vận tải Kra kh�ng bao giờ d�nh lại được tầm quan trọng trước đ�y của n�.� Thời đại của Ph� Nam đ� đi đến chỗ kết liễu, v� từ d� trở đi, c�c hải cảng h�ng mạnh l�i cuốn c�c nh� mậu dịch quốc tế đến trong v�ng sẽ được tọa lạc trong khu vực hải h�nh của M� Lai tại Đ�ng Nam �, tr�n c�c h�n đảo Sumatra v� Java.

 

Sau hết, thế kỷ thứ s�u đ� chứng kiến một biến chuyển kinh tế quan trọng.� Cho đến thời điểm đ�, kh�ng c� kẻ n�o tại v�ng Địa Trung Hải hiểu được b� quyết sản xuất ra tơ sống; tất cả lụa mua b�n, cũng như tất cả c�c cuộn chỉ tơ để l�m ra lụa, đều được nhập cảng.� Ch�nh v� thế, trong thế kỷ thứ s�u, khi c�c sự giao chiến giữa Byzantium v� triều đại Sassanid l�m gi�n đoạn c�c con đường mậu dịch, một cuộc khủng hoảng lụa đ� ph�t sinh.� Trong số nhiều sự việc kh�c, c�c tấm khăn cho�ng bằng lụa d�ng cho c�c sự ch�n cất của người theo đạo Thi�n Ch�a bị thiếu hụt, Byzantium kh�ng c�n c� thể giữ y�n c�c d�n tộc tại bi�n cương của n� với c�c m�n qu� ngoại giao bằng lụa, v� một số lượng lớn c�c thợ đệt� (c�c người thường nhập cảng cuộn chỉ sơi hay dệt lại c�c vải v�c nhập cảng) bị mất việc.

 

Theo Procopius [sử gia Byzantium, năm 562 l�m thị trưởng Th�nh phố Constantinople, mất khoảng năm 565(?), ch� cua người dịch], vấn đề đ� được giải quyết bằng một trong c�c h�nh động đ�nh ch� � hơn của sự do th�m kinh tế.� Trong năm 551, c�c tu sĩ gi�o ph�i Cơ Đốc Nestorian Christian c� n�i với Ho�ng Đế Justinian rằng lụa l�m từ c�c tổ k�n tơ được nhả ra bởi c�c con tằm ăn l� d�u, v� v�o năm 553, theo lời y�u cầu của Ho�ng Đế Justinian, c�c tu sĩ đ� th�nh c�ng trong việc đem l�n c�c con tằm ra khỏi nước Trung Hoa bằng c�ch dấu ch�ng trong một gậy tre, sau đ� đ� chuyển giao ch�ng sang Byzantium (Simkin, 1968: 87).� Mặc d� c�c chuy�n vi�n về mậu dịch lụa quốc tế ng�y nay xem c�u chuyện của Procopius l� ngụy tạo, họ c� đồng � rằng ng�nh tằm tang (trồng d�u nu�i tằm), c�ng việc thực sự sản xuất� ra c�c sợi tơ dệt lụa, đ� được thiết lập tại c�c v�ng đất của Byzantium ph�a đ�ng Địa Trung Hải sau thời trị v� của Justinian (Liu, 1995b: 25).� Lụa của Trung Hoa vẫn c�n l� một vật phẩm quan trọng trong mậu dịch đường trường, nhưng c�c thế kỷ trong đ� nhu cầu về sản phẩm n�y l� động lực th�c đẩy đ�ng sau c�c con đường bu�n b�n mới, tr�n đất liền cũng như tr�n biển, đ� đi đến chỗ kết th�c./-

 

___

THAM KHẢO:

 

Brierley, Joanna Hall, 1994, Spices: The Story of Indonesia�s Spice Trade, Kuala Lumpur: Oxford University Press.

 

Christrie, ẠH., 1979, �Lin-I, Fu-Nan, Java�, do Smith v� Watson bi�n tập, 1979: 281-87.

 

Coed�s, Georges, 1971, The Indianized States of Sputheast Asia, chủ bi�n bởi Walter E. Vella, Phi�n dịch bởi Susan Brown Cowing, Honolulu: University Press of Hawaii.

 

Fa Xian, 1956, The Travels of Fa-hsien.� Xem Giles, 1956.

 

Giles, F.H., 1956, The Travels of Fa-hsien (399-414 A.D.) or Record of the Buddhistic Kingdoms, Cambridge: Cambridge University Press, 1923.� In lại: London: Routledge & Kegan Paul.

 

Hall, Daniel G.E., 1968, A History of Southeast Asia, ấn bản lần thứ 3, London: Macmillan, and New York: St. Martin�s Press.

 

Hall, Kenneth, 1979, �The Expansion of Roman Trade in the Indian Ocean: An Indian Perspective�, The Elmira Review: 36-42.

 

Hall, Kenneth, 1982, �The �Indianization� of Funan: An Economic History of Southeast Asia�s First State�, Journal of Southeast Asian Studies 13 (1): 81-106.

 

Hall, Kenneth, 1985a, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, Honolulu: University of Hawaii Press.

 

Jacques, Claude, 1979, � �Fu Nan �, �Chen La �: the Reality Concealed by These Chinese Views of Indochina, do Smith v� Watson bi�n tập, 1979: 371-79.

 

 

Kobishanov, Y.M., 1981, Aksom: Political System, Economics and Culture, First to Fourth Century�, do Moktar chủ bi�n, 1981: 381-99.

 

Kulke, Hermann, 1991, �Epigraphical References to the �City� and the �State� in Early Indonesia�, Indonesia 52: 3-22.

 

Liu Xinru, 1995b, The Silk Roads: Overland Trade and Cultural Interactions in Eurasia.� Sắp được xuất bản bởi Temple University Press, trong loạt Khảo Luận về Lịch Sử To�n cầu v� Đối Chiếu của H�i Sử Học Hoa Kỳ.

 

 

Mcneill, William H., 1963, The Rise of the West: A History of the Human Community, Chicago: University of Chicago Press.

 

McNeill, William H., 1976, Plagues and Peoples, Garden City, N.J.: Anchor Press/Doubleday.

 

Mango, Cyril Ạ, 1980, Byzantium: The Empire of New Rome, New York: Charles Scribner�s Sons.

 

Peacock, B. A. V., 1979, �The Late Prehistory of the Malay Peninsula�, do Smith v� Watson bi�n tập, 1979: 199-214.

 

Powers, Janet, 1993, �Indian Sea Voyages to the Islands of Gold.�� B�i viết được tr�nh b�y tại Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ Nh� của Hội Sử Học Thế giới, Honolulu, th�ng S�u.

 

Ridley, Henry N., 1912, Spices, London: Macmillan and Co.

 

Runciman, Steven, 1975, Byzantine Style and Civilization, Harmondsworth, Eng.: Penguin Books.

 

Shahid, Irfan, 1984a, Byzantium and the Arabs in the Fourth Century, Washington, D.C.: Dumbarton Oaks.

 

Simkin, C.G.F., 1968, The Traditional Trade of Asia, London: Oxford University Press.�������������������� �

Taylor, Keith, 1992, �The Early Kingdoms�, do Tarling bi�n tập, 1992: 137-82.�

 

Wisseman�Christie, 1991, �States without Cities: Demographic Trends in Early Java� Indonesia 52: 23-40.

 

Wolters, O.W., 1967, Early Indonesian Commerce: A Study of the Origins of Srivijaya, Ithaca: Cornell University Press.

 

Wolters, O.W., 1982, History, Culture, and Religion in Southeast Asian Perspectives, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

 

Yu Ying-shih, 1967, Trade and Expansion in Han China: A Study of the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations, Berkeley: University of California.

___

 

Nguồn: Lynda Norene Shaffer, Maritime Southeast Asia to 1500, Armonk, New York & London, England: M. E. Sharpe, 1996, Chapter 2: In The Time of Funan, c�c trang 18-36

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

� 2007 gio-o

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o