HIỆP ƯỚC NG�Y 23 TH�NG BA, NĂM 1907

GIỮA PH�P V� XI�M LA V�

SỰ HO�N TRẢ BATTAMBANG V� ANGKOR

VỀ LẠI CĂM BỐT

 

Lawrence Palmer Briggs

Manton, Michigan

 

Ng� Bắc dịch

 

 

---------

Đ�y l� b�i dịch thứ trong loạt b�i c� chủ đề về sự x�m chiếm, s�p nhập v� chia cắt l�nh thổ tại Đ�ng Dương của thực d�n Ph�p để lập th�nh c�c nước Việt Nam, L�o v� Căm Bốt thuộc Ph�p bắt đầu từ hậu b�n thế kỷ thứ 18, sẽ lần lượt được đăng tải tr�n gio-o:

 

B�i 1. Sự Thiết Lập Chế Độ Bảo Hộ Ph�p Tr�n Căm Bốt, của R. Stanley Thomson.

B�i 2.  Xi�m La v� Ph�p, 1863-1870, của R. Stanley Thomson.

 

B�i 3.  Aubaret v� Hiệp Ước Ng�y 15 Th�ng Bảy năm 1867 giừa Ph�p v� Xi�m La, của Lawrence Palmer Briggs

 

4.  Hiệp Ước Ng�y 23 Th�ng Ba năm 1907 giữa Ph�p v� Xi�m La v� Sự Ho�n Trả Battambang v� Angkor cho Căm Bốt, của Lawrence Palmer Briggs

 

5.  Cuộc Tranh Gi�nh C�c Bờ S�ng Cửu Long, 1892-1896, của Claire Hirshfield

 

6. Sự Tranh Chấp Bi�n Giới Ph�p-Th�i Năm 1940 v� Sự Cam Kết của Phibuun Sonkhraam với Nhật Bản, của E. Thadeus Flood.

 

-----

 

 

Để c� sự thẩm định th�ch đ�ng việc h�an trả v�ng đất Battambang v� Angkor về lại Căm Bốt như một hậu quả của hiệp ước ng�y 23 th�ng Ba, năm 1907 giữa Ph�p v� Xi�m La, cần phải hiểu biết đ�i ch�t về lịch sử của Đế Quốc Khmer cổ xưa hay �t nhất lịch sử của c�c d�n tộc v�ng thung lũng s�ng M�kong (Cửu Long) v� s�ng M�nam kể từ khi c� sự xuất hiện sắc d�n Tai [t�n viết bằng Anh ngữ, c� s�ch dịch l� sắc d�n Đại, xem ch� thich số 15 dưới đ�y, ch� của người dịch] tại miền trung M�nam hồi đầu thế kỷ thứ mười hai.

 

 

TẦM MỨC CỦA ĐẾ QUỐC KHMER CỔ THỜI

 

���� Đế Quốc Khmer cổ đại dưới thời nh� l�nh đạo vĩ đại cuối c�ng của n�, vua Jayavarman VII (1181 c� lẽ đến khoảng năm 1215 sau C�ng Nguy�n), bao gồm tất cả phần ph�a nam của b�n đảo Đ�ng Dương ngoại trừ phần b�n M� Lai.� Kể từ hồi gần kết th�c của thời đại Ch�n Lạp, trong thế kỷ thứ t�m, quốc gia của d�n Tai tại Nam Chiếu (Nan Chao) (648-1253) � v�ng V�n Nam ng�y nay � đ� l�, với �t sự gi�n đoạn ngắn ngủi, bi�n giới ph�a bắc của Đế Quốc Khmer.� Đế Quốc n�y dưới thời Jayavarman VII bao gồm tất cả v�ng nay l� L�o v� Xi�m La ngoại trừ vương quốc của sắc d�n M�n (Mon) c� t�n Haripunjai, tại thung lũng s�ng M�ping, một v�ng đất ph� nhi�u miền đ�ng bắc con s�ng M�nam. (1)

 

���� Kinh đ� của Đế Quốc vĩ đại n�y � Yasodharapura, tại địa điểm c� c�c phế t�ch của th�nh phố c� tường th�nh bao quanh ng�y nay gọi l� Angkor Thom � tọa lạc tại bờ đ�ng bắc của Biển Hồ của Căm Bốt, gần nơi đỉnh b�n tr�n đầu hồ.� Mặc d� v�ng n�y đ� l� nơi đặt kinh đ� trong nhiều thế kỷ, ch�nh vua Jayavarman VII mới l� kẻ đ� x�y dựng c�c bức tường th�nh ng�y nay cho Angkor Thom v� ng�i đền trung t�m ng�y nay của n�, đền Bayon.� Chung quanh kinh đ� n�y như l� trung t�m điểm, Jayavarman VII đ� x�y dựng nh�m c�c c�ng tr�nh tuyệt diệu nhất chưa bao giờ được tiến h�nh từ đầu �c hay được kiến tạo dưới sự gi�m s�t của một con người duy nhất. (2)

 

���� V�ng ph�a bắc v� t�y bắc của Angkor được cư ngụ bởi d�n gốc Indonesians chưa văn minh, được tin l� c� li�n hệ với người Khmers về huyết thống v� ng�n ngữ, được gọi l� d�n Lawas bởi người Mon, d�n Mọi bởi người An Nam, v� d�n Kha bởi người L�o sau n�y.� C�c phế t�ch của c�c th�nh phố Khmer nằm rải r�c tr�n phần lớn miền n�y, v� trải khắp phần lớn c�c thung lũng s�ng Cửu Long v� s�ng M�nam, c�c c�ng tr�nh kiến tr�c Khmer thuộc một số loại được t�m thấy.� Trong số 102 bệnh viện được duy tr� bởi Vua Jayavarman VII, 14 bản bia khắc đ� được kh�m ph�.� Hơn một nửa trong ch�ng l� ở v�ng đất ng�y nay (trước năm 1940) thuộc Xi�m La, một (Say Fong) ở xa m�i về ph�a bắc như Vạn Tượng.� C�c th�nh phố, c�c đền thờ v� c�c bệnh viện n�y được nối kết với kinh đ� bởi một m�ng lưới tuyệt diệu của c�c xa lộ, nhiều phần trong đ� h�y c�n đang được sử dụng.� Thung lũng s�ng S�mun ho�n to�n thuộc Khmer.� C�c phế t�ch của một số trong c�c đền đ�i tinh tế nhất v� điển h�nh nhất của Khmer được t�m thấy ở đ�.

 

 

`���������� SỰ XUẤT HIỆN CỦA SẮC D�N TAI (3)

 

���� Thủa ban đầu của thế kỷ thứ mười hai � c� thể sớm hơn thế một ch�t � một số người miền nam M�ng Cổ, thường được biết theo danh xưng ng�n ngữ v� văn h�a của họ l� sắc d�n Tai, bắt đầu dần dần chạy từ phương bắc xuống c�c thung lũng thượng lưu c�c s�ng M�nam v� M�ping.� Họ xuất hiện trong h�nh ảnh chạm ch�m (bas reliefs) của đền Angkor Wat v�o khoảng năm 1150 sau C�ng Nguy�n, được ph�c họa như c�c l�nh đ�nh thu� trong qu�n đội Khmer, thuộc quyền chỉ huy của c�c chiếu vương (chao) ri�ng của họ, tức c�c thủ lĩnh, mặc c�c y phục man rợ của họ.� C�c chữ khắc k�m [h�nh chạm trỗ] gọi họ l� người Sayam v� Sayam-kut. (4)

 

���� V�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười ba, họ đ�nh bại vi�n chỉ huy Khmer tại v�ng thượng lưu s�ng M�nam v� thiết lập vương quốc Sukhothai � vương quốc Xi�m La đầu ti�n của sắc d�n Tai.� Gần cuối thế kỷ thứ mười ba, Trung Hoa đ� khởi sự n�i đến c�c sứ đo�n đến từ Sien: Xi�m hay của Sien-lo: Xi�m La. (5) V�o thời điểm n�y, d�n Tai tại Sukhothai đ� bắt đầu tự gọi m�nh l� Th�i (Thai), được n�i c� nghĩa �tự do.� �Một Ho�ng Tử v�ng Th�i Lu (Tai) đ� ch�nh phục vương quốc Haripunjai của d�n M�n (Mon) v� thiết lập thủ đ� của m�nh tại Chieng-Mai, v�o năm 1296.� Một Ho�ng Tử gốc Tai đ� cưới con g�i của một Chiếu Vương (Chao) cầm đầu nước chư hầu của sắc d�n Mon tại Uthong (c� vẻ l� thừa kế của c�c vương quốc Dvaravati v� Louvo của d�n Mon cổ thời), đ� trở th�nh người kế ng�i của Chiếu Vương, th�nh lập kinh đ� mới tại Ayuthia năm 1350 v� khởi đầu trị v� với vương hiệu Rama Thibodi I.� Vương quốc mới n�y sớm bao tr�m l�n v� thu h�t Sukhothai v� cung cấp một gi�ng c�c nh� vua cai trị Xi�m La (như ch�ng ta b�y giờ gọi n�) cho đến gần cuối thế kỷ thứ mười t�m.� Năm 1353, Fa Ngom, vương quốc d�n L�o lệ thuộc tại Luang Prabang, tuy�n bố độc lập khỏi Sukhothai (6) v� th�nh lập vương quốc L�o c� t�n Lan Chang, bao gồm to�n thể thung lũng s�ng Cửu Long chạy từ bi�n giới Trung Hoa xuống đồng bằng s�ng S� Mun.� Trước khi chấm dứt thế kỷ thứ mười bốn, đ� c� ba vương quốc của d�n Tai ph�t triển tr�n l�nh thổ trước đ�y của người Mon hay Khmer: vương quốc d�n Yun tại Lan-na, hay Chieng Mai; vương quốc d�n Xi�m La tại Ayuthia; v� vương quốc d�n L�o tại Lan Chang. (7)

 

���� Sau khi qu�n đội Khmer bị đ�nh đuổi ra khỏi thung lũng s�ng M�nam, họ c� vẻ đ� từ bỏ v�ng thượng v� trung lưu s�ng Cửu Long cho người L�o v� đ� r�t lui về v�ng đất cư ngụ ch�nh yếu bởi người Khmer � với thung lũng s�ng S� Mun v� v�ng Korat-Jolburi-Chantabun như một bi�n giới.� Trong hai thế kỷ, họ đ� chống trả một c�ch th�nh c�ng người Xi�m để giữ g�n c�c bi�n cương n�y.� Một lần � trong khoảng 1430-31 � người Xi�m La đ� chiếm đoạt Angkor v� đặt một b� nh�n của Xi�m La l�n ng�i vua.� Nhưng người Căm Bốt đ� t�i chinh phục lại kinh đ� của họ trong năm sau đ�; v� mặc d� đ� dời thủ đ� về Phnom Penh (Nam Vang), họ đ� kh�ng từ bỏ c�c bi�n cương cũ, m� c�n tiếp tục chiến đấu để bảo vệ ch�ng trong suốt thế kỷ thứ mười s�u, đ�i khi li�n minh với người Miến Điện, nước đ� hai lần lục so�t kinh đ� của Xi�m La. (8)� Sau c�ng, trong khỏang 1593-94, nh�n vật vĩ đại Phra Naret Suen, kẻ đ� d�nh được độc lập từ Miến Điện, qua x�m lăng Căm Bốt, chiếm đoạt v� lục so�t kinh đ�, ở Lovek, gần Phnom Penh.� Cuộc chiến tranh k�o d�i trong mười năm, trong đ� T�y Ban Nha đ� hai lần t�m c�ch can thiệp từ Manila để ủng hộ một nh� vua Căm Bốt.� Sau hết, trong năm 1603, Xi�m La đ� th�nh c�ng trong việc sắp đặt ứng vi�n Căm Bốt của m�nh, t�n Soriyopor, l�n ng�i vua.v� đạt được sự thừa nhận ch�nh n� như l� quốc gia nắm quyền b� chủ.

 

 

SỰ TRANH GI�NH XI�M LA � AN NAM TẠI CĂM BỐT

 

���� Sự chiến thắng của Xi�m La chỉ c� t�nh c�ch đoản kỳ.� Con trai của Soriyopor l�n nối ng�i �ng năm 1618.� Một trong những h�nh vi ch�nh thức đầu ti�n của anh ta l� x�a bỏ mọi h�nh thức chư hầu đối với Xi�m La.� �t năm sau đ�, anh ta cưới một C�ng Ch�a An Nam, thuộc gia đ�nh ch�a Nguyễn, một triều đại, với kinh đ� gần tỉnh Quảng Trị ng�y nay, đ� cai trị v�ng duy�n hải An Nam (sau n�y được gọi l� Nam Kỳ; Cochin-China) v� tranh quyền với triều đại họ Trịnh tại Bắc Kỳ (Tonkin), với tư c�ch �c�c Đ� Thống Cung Điện� của c�c Ho�ng Đế nh� L� suy đồi, tại H� Nội, l� c�c nh� cầm quyền tr�n danh nghĩa.� Từ thời điểm n�y cho đến khi c� sự can thiệp của người Ph�p, trong hậu b�n thế kỷ thứ mười chin, Căm Bốt l� một cục xương gi�nh giựt giữa Xi�m La v� An Nam.� Thoạt ti�n, An Nam d�nh được ưu thế.� Trong suốt phần lớn c�c thế kỷ thứ mười bẩy v� mười t�m, Căm Bốt được cai trị bởi một loạt c�c Nh� Vua �kh�ng l�m g� cả�, v� phần lớn c�c quốc vương Xi�m La trong c�ng thời kỳ chỉ c� thể tự h�o l� �t v� dụng hơn vua Căm Bốt một ch�t.� C�c đời ch�a Nguyễn năng động, mặt kh�c, đ� thu h�t những g� c�n lại của vương quốc Ch�m cổ xưa, dẫn họ tiếp cận trực tiếp với Căm Bốt, v� sau đ� tiến h�nh việc s�p nhập v� chiếm đ�ng to�n thể đồng bằng s�ng Cửu Long, m� chỉ gặp một sự tranh c�i bằng miệng su�ng, từ Xi�m La, nước vẫn c�n tuy�n bố l� chủ nh�n v� kẻ bảo hộ của Căm Bốt.

 

���� Cuộc cướp ph� lần thứ ba của Miến Điện v�o Ayuthia (1767) đ� đưa đến việc l�n ng�i vua Xi�m La một qu�n nh�n lai Trung Hoa dũng m�nh t�n Tak-Sin (1767-1781).� V�o khoảng c�ng thời gian đ�, một gia đ�nh h�ng mạnh tức nh� T�y Sơn đ� bắt đầu tranh chấp với ch�a Nguyễn để gi�nh quyền kiểm s�at miền nam An Nam.� Trong khi cuộc tranh chấp diễn ra, Tak Sin đ� can thiệp v�o chuyện của Căm Bốt, sắp đặt ứng vi�n của �ng ta l�n ng�i vua, chinh phục Korat v� miền thung lũng thượng lưu s�ng S� Mun (1775), chiếm đoạt Vạn Tương (1778) v� bắt đầu x�c định quyền b� chủ của �ng ta tr�n hai vương quốc L�o tại Luang Prabang v� Vientian, nguy�n được ph�n đ�i ra từ vương quốc Lan Chang trong năm 1707. �Tak-Sin bị lật đổ v� giết chết trong năm 1787 v� Phya Chakri, kẻ th�nh lập triều đại Xi�m La ng�y nay, l�n ng�i vua.

 

���� Trong năm 1783, trong một cuộc nổi dậy tại Căm Bốt, Nh� Vua thiếu ni�n, Ang Em, l�n chin tuổi, đ� chạy trốn sang Xi�m La c�ng vơi đo�n t�y t�ng của m�nh, trong khi một thượng thư của Căm Bốt t�n Ben nắm quyền cai trị với tư c�ch Nhiếp ch�nh tại Oudong.� Năm 1795, Phya Chakri (sau n�y được gọi l� vua Rama I) tấn phong cho Ang Em � giờ đ�y 21 tuổi � tại Vọng C�c v� t�i lập anh ta l�n ng�i vua Căm Bốt.� C�i gi� của sự ủng hộ của Xi�m La cho Ang Em l� thượng thư Ben, kẻ nằm dưới ảnh hưởng của Xi�m La, được đảm nhận thường trực ch�nh quyền tại c�c tỉnh Battambang v� Angkor. (9)� Liệu v�o l�c đ� việc n�y c� được hiểu như l� một th�i ấp với quyền thế tập hay kh�ng l� một điểm g�y tranh luận, c� lẽ sẽ kh�ng bao giờ giải quyết được, bởi kh�ng c� một văn bản n�o về vấn đề n�y hiện c�n c� được. (Trong c�ch thức trực tiếp, cuộc tranh chấp được giải quyết bởi �ng Ben, kẻ đ� đổi l�ng trung th�nh qua b�n Xi�m La, v� quyền lực của Xi�m La đủ mạnh để bảo đảm sự thừa kế trong gia tộc �ng ta cho đến khi nước Ph�p được bảo đảm tr�n sự ho�n trả l�nh địa n�y về Căm Bốt theo hiệp ước năm 1907).� Đ�y l� sự s�p nhập bởi sự dụ dỗ, kh�ng phải bằng hiệp ước hay sự thỏa thuận n�o kh�c, th�nh văn hay bằng miệng, c�ng khai hay mặc nhi�n, khi đ� hay sau n�y, giữa hai xứ sở.

 

���� Xuy�n qua ảnh hưởng của một nh� truyền gi�o Ph�p, Pigneau de B�haine, người Ph�p đ� trợ gi�p ch�a Nguyễn tranh quyền tại An Nam, v� v�o năm 1802, �ng ta đ� chiến thắng tr�n qu�n T�y Sơn, họ Trịnh v� vua L�, v� v�o năm đ�, �ng l�n ng�i Ho�ng Đế An Nam, đặt vương hiệu l� Gia Long.� Trong phần lớn nửa thế kỷ tiếp đ�, ng�i vua Căm Bốt được nắm giữ bởi hai Nh� Vua, Ang Chan (Nặc �ng Ch�n) (1806-1834) v� Ang Duong (Nặc �ng Dương) (1842-1859), c�c vua đ� triều cống cả hai nước Xi�m La v� An Nam, v� một c�ch thẳng thừng, d�ng nước n�y chống nước kia.� Ch�nh trong thời trị v� của nh� vua n�u t�n trước, Xi�m La đ� chiếm giữ c�c tỉnh của Căm Bốt tại Mlu Prey, Tonl� Repu, v� Stung Treng thuộc v�ng đ�ng bắc (1810-1815), (10) v�, trong khi An Nam, đ� tuy�n bố chủ quyền tr�n L�o, vướng mắc v�o một cuộc nổi lọan ở Nam Kỳ v� với người Ph�p về c�c sự ngược đ�i t�n gi�o, Xi�m La đ� chiếm giữ Vientian (1828) v� đưa ra lời tuy�n nhận về l�nh thổ của n�, đ� giảm d�n một c�ch c� hệ thống hầu hết d�n cư b�n bờ ph�a tả s�ng Cửu Long bằng c�ch di d�n sang bờ ph�a hữu của con s�ng hay đem giam giữ tại Vọng C�c. (11)

 

���� V�o l�c c� sự từ trần của Ang Chan năm 1834, An Nam đ� ở thế thượng phong tr�n khắp nước Căm Bốt, ngoại trừ v�ng được cai quản bởi gia tộc �ng Ben, đ� đặt một phụ nữ l�n ng�i, tố chức xứ sở th�nh c�c ph�n hạt h�nh ch�nh của An Nam v� c�ng khai chuẩn bị việc s�p nhập n�.� Với sự trợ gi�p của Xi�m La, Căm Bốt đ� th�nh c�ng trong việc đ�nh đuổi người An Nam, v� đặt Ang Dương l�n ng�i vua (1842); nhưng c�c mưu toan của Xi�m La nhằm chinh phục v�ng đồng bằng đ� kết th�c trong sự thất trận thảm hại v� v�o năm 1847, Ang Duong t�i lập t�nh trạng chư hầu đối với cả hai nước.� (12)

 

 

SỰ THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ BẢO HỘ CỦA PH�P TR�N CĂM BỐT (13)

 

���� Nghi ngờ c�c động lực của cả hai chủ nh�n �ng của m�nh, Ang Duong đ� t�m kiếm một sự bảo hộ của Ph�p; nhưng, xuy�n qua việc ứng xứ ngớ ngẩn của Montigny, nh� ngoại giao Ph�p được ph�i sang để d�n xếp sự việc, lời đề nghị đ� tr�i đi v� Ph�p đ�nh mất cơ hội của m�nh.� Ang Duong chết v�o cuối năm 1859 v� được thừa kế bởi người con trai �ng ta, Norodom, l� kẻ được nu�i lớn l�n như một con tin tại Vọng C�c v� được biết, c�n th�ch n�i tiếng Xi�m La hơn tiếng mẹ đẻ.� Một cuộc nổi dậy bởi người em, t�n Votha (1861-62) đ� đ�nh đuổi �ng ta ra khỏi nước.� Cuộc nổi loạn đ� bị dẹp tan bởi một người anh em kh�c, t�n Sisowath, với v�i sự trợ gi�p của một chiếc t�u vũ trang Ph�p.� Người Ph�p, trong khi đ�, đ� chinh phục S�ig�n v� ba tỉnh l�n cận, m� họ tổ chức th�nh thuộc địa Nam Kỳ, với một Đ� Đốc l�m Thống Đốc.� Xi�m La ph�i c�c binh l�nh đi để lập lại Norodom l�n ng�i, nhưng Ph�p đ� dẫn Sisowath về S�ig�n.

 

���� Vi�n Đ� Đốc-Thống Đốc Ph�p giờ đ�y thuyết phục Norodom h�y chấp nhận chế độ bảo hộ (ng�y 11 th�ng T�m, năm 1863), trao cho Ph�p kiểm s�at c�c vấn đề đối ngoại của Căm Bốt, với một Tr� Sứ Cao Cấp Ph�p tại Nam Vang, dưới quyền Thống Đốc Nam Kỳ.� Chế độ bảo hộ được tuy�n c�o ng�y 12 th�ng Tư năm 1864.� Nhưng điều mau ch�ng được tiết lộ l�, v�o ng�y 1 th�ng Mười Hai, năm 1863, Norodom đ� k� kết một mật ước với Xi�m La, cũng trao cho xứ sở đ� quyền bảo hộ tr�n Căm Bốt.� V� thế, một hiệp ước mới được lập ra tại Paris, v�o ng�y 15 th�ng Bẩy năm 1867, theo đ�, để đổi lấy sự ti�u hủy của Xi�m La bản mật ước của n� với Căm Bốt v� sự thừa nhận của n� về chế độ Bảo Hộ của Ph�p, Ph�p đ� nh�n nhận lời tuy�n x�c của Xi�m La tr�n hai tỉnh Battambang v� Angkor v� bảo đảm sự tu�n h�nh hiệp ước của Căm Bốt.

 

 

VẤN ĐỀ L�O V� HIỆP ƯỚC NĂM 1893

 

Cuộc tranh chấp giữa Ph�p v� Xi�m La nổ ra dọc b�n cạnh s�ng Cửu Long, nơi miền thương v� trung lưu.� N� bị th�c đẩy bởi sự tranh gi�nh mậu dịch giữa Ph�p v� Anh.� Người Ph�p nghĩ rằng họ c� thể đặt quan hệ mậu dịch với miền nam nước Trung Hoa bằng c�ch ngược gi�ng Cửu Long.� Khi họ nhận thấy việc n�y l� bất khả thực h�nh, họ đoạt lấy thủy lộ của S�ng Hồng bằng c�ch thiết lập c�c sự bảo hộ tr�n Bắc Kỳ (Tonkin) v� Trung Kỳ (Annam) (1884).� C�c hoạt động của Ph�p tại Bắc Kỳ đ� đem lại hai hậu quả quan trọng v� tức thời � (1) sự x�m chiếm của Xi�m La tr�n L�o v� (2) sự chiếm giữ của Anh Quốc tr�n v�ng Thượng Miến (Upper Burma).

 

���� Trong suốt c�c thế kỷ mười t�m v� mười ch�n, L�o đ� bị chia cắt th�nh c�c vương quốc Vientian v� Luang Prabang.� Trong phần lớn thế kỷ thứ mười t�m, quyền b� chủ lỏng lẻo v� đứt đoạn của An Nam hiếm khi bị dị nghị; nhưng trong khi người An Nam vướng mắc v�o c�c cuộc tranh chấp giữa c�c triều đại v� sau n�y với người Ph�p, Xi�m La đ� can thiệp.� Trong năm 1828-32, như đ� sẵn ghi nhận, Xi�m La đ� kết liễu vương quốc Vientian (Vạn Tượng) bằng c�ch triệt hủy kinh đ�, bắt đi Nh� Vua v� c�c ho�ng tử, di chuyển phần lớn từng loạt (en masse) người L�o sang bờ đối diện của con s�ng Cửu Long hay chuyển họ để giam giữ tại c�c nơi kh�c trong vương quốc.� Trong khoảng giữa thế kỷ thứ mười ch�n, v�ng Hạ L�o cũng giống như v�ng Chaco trước khi c� sự kh�m ph� ra dầu hỏa ở đ� � gần như bị bỏ hoang, bị xem kh�ng c� gi� trị, kh�ng ai hay biết hay quan t�m bi�n giới ở nơi đ�u.� Luang Prabang được cai quản bởi một hậu duệ của vương triều cổ truyền của Lan Chang, nằm dưới quyền b� chủ kh�ng li�n tục của cả Xi�m La v� An Nam, ngoại trừ v�ng Trấn Ninh, đ� được s�p nhập v�o An Nam v� được chia th�nh c�c quận huyện h�nh ch�nh An Nam.� Nhưng trong khoảng 20 năm, v�ng Thượng L�o bị cướp ph� bởi c�c qu�n nổi dậy ngo�i v�ng ph�p luật thuộc sắc d�n �Ho� hay �Haw� từ Trung Hoa, m� kh�ng c� nhiều nỗ lực bảo vệ từ An Nam hay Xi�m La. (14)

 

���� Như thế khi Ph�p giao chiến với An Nam, Xi�m La đ� bắt đầu lưu �.� Chulalongkorn c� một c� gi�o người Anh trong thời trẻ, dưới ảnh hưởng của Anh Quốc v� đ� hấp thụ tư tưởng của chủ ngh�a To�n Th�i (Pan-Thaism) với Xi�m La c� một thứ quyền b� chủ tr�n mọi nơi c� người d�n Th�i (trong một số trường hợp, sự tuy�n x�c được chứng minh của n� l� c� tương đồng với chủng tộc Tai). (14)� Do thế, trong năm 1885, Chulalongkorn đ� gửi một đo�n viễn chinh để chiếm giữ đất L�o v� v�ng c� d�n Tai xa m�i đến tận s�ng Đ� (Black River) tại Bắc Việt, nơi kh�ng c� một người Xi�m La n�o cả v� chưa bao giờ c�.� Ph�p phản ứng lại bằng c�ch ph�i August Pavie l�m Ph� L�nh Sự cho nhiệm sở mới thiết lập tại Luang Prabang, v� Pavie đ� sớm (1887-88) thuyết phục người L�o v� c�c tộc trưởng d�n Tai kh�c của miền đ� h�y chấp nhận quyền b� chủ của Ph�p.� Tron g khi đ�, tin tưởng m�nh sẽ được hậu thuẫn bởi Đại Anh C�t Lợi, Xi�m La đ� sẵn l�ng � hầu như c�n vui mừng -- thả m�nh v�o cuộc chiến tranh với Ph�p.� Sự trợ gi�p của Anh đ� kh�ng được thực hiện.� C�c ch�nh kh�ch, ngồi tại b�n giấy của họ tại c�c thủ đ�, với sức nặng của c�c đế quốc đ� l�n vai họ, hiếm khi thỏa m�n c�c sự k�u n�i của c�c vai phụ nằm chầu r�a quanh đế quốc.� V� thế, Xi�m La bị b� buộc phải k� một hiệp ước (ng�y 3 th�ng Mười, năm 1893), tuy�n đọc bởi Ph�p, nhưng được hạn chế bởi sự lo sợ của Ph�p đối với Anh.

 

���� Hiệp ước ng�y 3 th�ng Mười, năm 1893 quy định, ngo�i c�c việc kh�c, rằng Xi�m La sẽ từ bỏ mọi sự x�c quyết tr�n đất đai nằm b�n bờ tr�i của s�ng Cửu Long v� c�c h�n đảo tr�n s�ng (Điều 1).� Xi�m La đồng � kh�ng x�y đắp th�nh lũy tại c�c tỉnh Battambang v� Siemreap (Angkor) hay tr�n một giải đất rộng 25 c�y số dọc bờ b�n phải của s�ng Cửu Long, v� rằng tất cả c�c v�ng đất trung lập h�a n�y phải được cảnh s�t bởi c�c thẩm quyền địa phương (c�c Điều 2,3,4).� Một định ước đ�nh k�m k� c�ng ng�y quy định rằng c�c đồn trạm của Xi�m La b�n bờ tr�i con s�ng Cửu Long phải được di tản trong v�ng một th�ng (Điều 1); rằng mọi c�ng sự ki�n cố trong c�c khu vực trung lập h�a phải bị ph� hủy (Điều 2); rằng người Ph�p, người An Nam v� người L�o thuộc bờ tr�i của s�ng Cửu Long v� mọi người d�n Căm Bốt bị giam giữ tại Xi�m La v� bất kỳ l� do g� phải được trao trả cho c�c giới chức thẩm quyền Ph�p tại Vọng C�c hay tại bi�n giới v� rằng kh�ng c� trở ngại n�o được đặt ra tr�n đường trở lại của c�c cựu cư d�n tr�n v�ng đất b�n bờ tr�i con s�ng về căn nh� cũ của họ (Điều 4); v� rằng Ph�p sẽ tiếp tục chiếm đ�ng Chantabun cho đến khi n�o mọi sự quy định trong định ước đ� được chấp h�nh (Điều 6). (15)

 

���� Bi�n giới giữa L�o v� C�c Bang Quốc Shan thuộc Anh (nằm trong Miến Điện) được giải quyết bởi định ước London ng�y 15 th�ng Một năm 1896, chấp nhận s�ng Cửu Long, đoạn nằm từ bi�n giới Xi�m La l�n đến Trung Hoa, l�m đường ph�n chia giữa c�c khu vực ảnh hưởng của Ph�p v� Anh. (17)� Định ước n�y cũng quy định về sự trung lập h�a nước Xi�m La ch�nh danh; c� nghĩa, v�ng đồng bằng v� lưu vực tho�t nước của c�c s�ng M�kong (Cửu Long) v� M�nam.� Trong khi Anh Quốc v� Ph�p hứa hẹn t�n trọng sự to�n vẹn của Xi�m La trong c�c giới hạn đ� đề cập ở tr�n v� bảo đảm sự bảo vệ cho n� chống lại một quyền lực thứ ba, định ước đ� thiết lập một loại bảo hộ hỗn hợp của hai cuờng quốc đ� tr�n Xi�m La.� Về mặt thực tế, một sự bảo hộ như thế đ� sẵn hiện hữu trong một thời gian rồi. �������������������������

 

 

QUYỀN TRỊ NGOẠI T�I PH�N CỦA NGƯỜI �GỐC � CH�U

V� C�C ĐỊNH ƯỚC NĂM 1902 V� 1904

 

���� Kh�ng b�n n�o h�i l�ng với bản hiệp ước năm 1893.� Xi�m La ph�n n�n rằng người Ph�p đ� kh�ng trả lại Chantabun v� rằng danh s�ch của họ về c�c người được bảo hộ (xem dưới đ�y) th� qu� d�i v� gồm th�u qu� nhiều. (18)� Ph�p tuy�n bố răng b�n Xi�m La qu� chậm chạp trong việc thực thi c�c điều khoản của hiệp ước, đặc biệt v� sự di tản người L�o v� c�c cản trở sự hồi hương của người L�o đặt ra bởi ph�a Xi�m La. (19)� Từ quan điểm của Căm Bốt, kh�ng hiệp ước n�o về vấn đề n�y lại c� thể xem l� chung thẩm khi m� c�n bỏ lại trong tay người Xi�m La c�c tỉnh Battambang v� Angkor, nơi c� nhiều người Căm Bốt nhất trong số c�c tỉnh Căm Bốt. (20)� Sự chống đối của Anh Quốc đ� ngăn cản Ph�p khỏi việc đ�i trả lại c�c tỉnh n�y cho Căm Bốt v�o năm 1893. (21) Nhưng định ước London (1896) đ� trao cho Ph�p quyền tự do h�nh động trong miền n�y.

 

���� Nhưng điều l�m cho Xi�m La kh� chịu nhất l�, ngay v�o l�c m� Vua Chulalongkorn đang cố gắng canh t�n h�a Xi�m La v� sắp sửa khởi sự một sự vận động nhằm đạt được sự hủy bỏ thẩm quyền trị ngoại t�i ph�n của người �u Ch�u v� Hoa kỳ, c�c quốc gia �u Ch�u c� thần d�n lệ thuộc hay d�n được bảo vệ gốc � Ch�u tại Xi�m La bắt đầu giải th�ch c�c điều khoản trị ngoại t�i ph�n được mở rộng để bao gồm cả d�n lệ thuộc gốc � Ch�u của họ.� Điều n�y g�y kinh hỏang.� Trong năm 1907, de Caix (22) ước lượng rằng c� khoảng 18,500 người Ph�p gốc � Ch�u tại Xi�m La. (22) Một số trong họ đ� cư ngụ tại đ� trong nhiều năm, ngay cả nhiều thế hệ, đ� kết h�n dị chủng, v� đ� c� doanh nghiệp ở đ�.� Phần lớn người Căm Bốt sinh sống tại c�c khu định cư n�i tiếng Khmer ở thung lũng s�ng S� Mun l� hậu duệ của c�c cư d�n Khmer sinh sống nơi c�c v�ng đ� khi ch�ng bị chinh phục bởi Xi�m La khoảng một thế kỷ hay l�u hơn thế.� Garnier n�i rằng khi �ng ta đi ngang qua thung lũng đ� hồi năm 1867, �ng lấy l�m ngạc nhi�n khi thấy rằng tiếng Khmer được th�ng hiểu ở hầu như mọi nơi v� ở một số địa điểm, l� ng�n ngữ duy nhất của cư d�n, mặc d� c� phần trong v�ng n�y đ� thuộc về Xi�m La từ cuối thế kỷ thứ mười bẩy. (24)� Người Căm Bốt sống ở những nơi kh�c tại Xi�m La đ� bị chuyển đi bởi c�c cuộc đột k�ch của Xi�m La trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười chin, v� hậu duệ của họ đ� sinh sống ở đ� từ bấy giờ.� Tất cả những người Căm Bốt n�y đều thuộc thẩm quyền t�i ph�n của c�c t�a �n Xi�m La chiếu theo hiệp ước năm 1867.� Phần lớn người An Nam ở Xi�m La l� hậu duệ của người An Nam theo đạo Thi�n Ch�a đ� biết ơn khi được nương n�u tại đ� trong c�c thời kỳ ngược đ�i t�n gi�o dưới thời vua Minh Mạng v� c�c vua kế vị �ng (1820-1860).� Phần lớn những người L�o � hoặc l� họ hay tổ ti�n của họ -- đ� bị di tản bởi c�c cuộc đột k�ch của Xi�m La v�o miền đ�ng nước L�o trong suốt thế kỷ thứ mười ch�n.

 

���� Tất cả những người n�y v� c�c hậu duệ của họ giờ đ�y được th�c dục đến đăng k� tại c�c t�a L�nh Sự Ph�p v� c�c giới chức thẩm quyền Ph�p nhấn mạnh đến việc mở rộng quyền trị ngoại t�i ph�n đến họ. �Sự �p dụng n�y một nguy�n tắc d�nh cho c�c xứ sở mọi rợ hay lạc hậu đối với Xi�m la v�o thời đại Chulalongkorn, đương thực hiện sự tiến bộ thật mau lẹ tiến tr�nh t�y phương h�a, đặc biệt trong vấn đề ph�p l�, chỉ l�m x�c phạm rất nặng nề đến niềm tự h�o d�n tộc của người Xi�m La.� �t nhất, một số c�c vi�n chức Ph�p xem ra đ� k�o căng điều n�y đến mức tối đa, c� thể với � tưởng mang lại cho n� gi� tri g�y phiền nhiều lớn nhất tr�n thị trường mậu dịch.� Khi đ�, sự nắm giữ một số lượng gia tăng v� lớn lao c�c thần d�n bởi một kẻ th� tiềm ẩn ở c�c địa điểm chiến lược trong vương quốc cũng l� một mối đe dọa cho chủ quyền của quốc gia đ�.� Theo t�c giả de Caix, người Xi�m La kinh hỏang rằng người Nhật c� thể đ�i hỏi c�c quyền bảo vệ tương tự cho người Trung Hoa tại Xi�m La, cho ph�p Nhật được can thiệp v�o sự vụ của Xi�m La. (25)� H�nh th�i mới v� đ�ng gh� sợ m� vấn đề n�y kho�c lấy v�o l�c n�y chưa bao giờ được nhấn mạnh đ�ng mức như l� một l� do của sự khứng chịu hăng h�i của Xi�m La bản hiệp ước năm 1907 v� � muốn của n� để ho�n trả Battambang v� Angkor về cho Căm Bốt.

 

���� Chulalongkorn đ� kinh ho�ng khi Đại Anh C�t Lợi bỏ rơi �ng ta trong giờ ph�t nguy hiểm của �ng v�o năm 1893 v� đ� lo sợ thực sự khi Anh Quốc k� kết định ước London năm 1896. (26) �V� thế khi cuộc tranh chấp về trị ngoại ph�p quyền trở n�n cấp b�ch, �ng ta quyết định đi tới Paris v� giải quyết to�n thể vấn đề.� �ng đ� thực hiện cuộc du h�nh năm 1897 v� được tiếp đ�n một c�ch tốt đẹp.� Một sứ giả Xi�m La đ� sang ch�o hỏi To�n Quyền Doumer tại S�ig�n trong th�ng Ba năm 1899 v� vi�n To�n Quyền đ� c� cuộc thăm viếng đ�p lễ trong th�ng kế đ�.� C�c điều kiện xem ra thuận lợi cho một cuộc cứu x�et mới tất cả c�c kh�a cạnh của vấn đề.

 

���� Vấn đề đ� được mang ra cứu x�t tại Paris v� một định ước đ� được k� kết ng�y 7 th�ng Mười, năm 1902.� Xi�m La đồng �: (1) thừa nhận sự tuy�n nhận của Luang Prabang đối với giải đất tr�n bờ t�y của con s�ng Cửu long (Điều 1) v� (2) trả lại c�c tỉnh Mlu Prey, Tonl� Repu v� Stung Treng (Điều 1-2), nguy�n đ� chiếm đọat của Căm Bốt trong khoảng từ 1810 � 15, để đổi lấy (1) sự b�i bỏ khu vực trung lập b�n phải con s�ng Cửu Long (Điều 3), (2) sự di tản của v�ng Chantabun (Điều 2), (3) sự phục hồi quyền trị ngoại t�i ph�n của c�c người được bảo hộ gốc � Ch�u của Ph�p cho� những người sinh ra tr�n l�nh thổ thuộc v�ng bảo hộ của Ph�p, trước hay sau sự thụ đắc của Ph�p, v� cho con c�i của những người đ�, nhưng kh�ng kể c�c ch�u (Điều 5) v� (4) sự duyệt x�t lại c�c danh s�ch của Ph�p cho ph� hợp với Điều 5 (Điều 6).� Một thời hạn bốn th�ng được ấn định cho sự ph� chuẩn (Điều 10). (27) Quy ước n�y g�y l�n một cơn b�o chống đối tại Ph�p đến nỗi n� kh�ng hề được đệ tr�nh để ph� chuẩn.� C�c lập luận của phe chống đối tập trung ch�nh yếu v�o sự bỏ rơi của Ph�p c�c quyền của một số người d�n bảo hộ gốc � Ch�u của n�. (28)

 

���� C�c cuộc thương thuyết lại được dựng l�n v� một định ước mới được k� kết tại Paris h�m 18 th�ng Hai năm 1904.� Xi�m La nhường v�ng đất n� chiếm giữ cho đến ph�a nam rặng n�i Dangkrek Mountains (Điều 1) � c� nghĩa, v�ng Mlu Prey, Tonl� Repu, v� Basak � v� từ bỏ mọi sự tuy�n nhận tr�n phần đất nằm b�n bờ tay phải của s�ng Cửu Long đối diện với Luang Prabang (Điều 4).� Xi�m La đồng � chỉ sử dụng c�c binh sĩ địa phương để l�m việc cảnh s�t tại Battambang v� Angkor (Điều 6) v� đồng � tham khảo với Ph�p li�n quan đến c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh tại thung lũng s�ng Cửu Long v� sự tuyển dụng c�c kỹ sư kh�ng phải người Xi�m ở đ� (Điều 7).� Xi�m La chấp nhận, với một số sự d� dặt, c�c danh s�ch c�c thuộc d�n v� người được bảo hộ của Ph�p cho đến nhật kỳ bấy giờ (Điều 10).� Ph�p đồng � (1) gạt bỏ thế hệ ch�u của c�c thuộc d�n v� người được bảo hộ gốc � Ch�u ra khỏi c�c đặc quyền trị ngoại t�i ph�n (Điều 11), (2) thẩm quyền t�i ph�n bản xứ đối với một số vấn đề nhỏ nhặt v� (3) di tản khỏi Chantabun khi mọi điều khỏan của định ước được thi h�nh.� Một ủy hội hỗn hợp được th�nh lập để ph�n định c�c ranh giới (Điều 3).� Một thời hạn bốn th�ng được ấn định cho sự ph� chuẩn (Điều 16).� Trong nghị định thư c�ng ng�y với bản định ước, Xi�m La cắt nhượng, như c�c sự sửa đổi lại c�c bi�n giới, hải cảng Krattt, tr�n v�ng Vịnh Xi�m la, v� giải đất Dan-Sai, thuộc miền L�o-Xi�m, b�n dưới Luang Prabang. (29)� Định ước, c�ng với nghị định thư của n�, đ� được ph� chuẩn bởi Nghị Viện Ph�p hồi th�ng Mười Hai, năm 1904, sau một sự tr� ho�n k�o d�i 10 th�ng, thời hạn d�nh cho sự ph� chuẩn đ� được gia hạn hai lần.

 

���� Một trong những hậu quả của định ước n�y l� Quốc Vương Chulalongkorn đ� khởi sự, lần đầu ti�n, cho bao gồm cả người Ph�p trong số c�c cố vấn ngoại quốc của �ng.� Năm 1902, de Caix n�i rằng �trong số 190 người ngoại quốc được mời l�m việc bởi Ch�nh Phủ ở Vọng C�c, c� 95 người Anh, 42 người Đức, 35 người Đan Mạch, v� chỉ c� 2 người Ph�p, một người l� một kỹ sư ở vị thế thứ yếu, người kia chỉ l� một thuộc cấp� trong khi th�nh phố Vọng C�c được tuần cảnh bởi người d�n Sikh dưới quyền c�c sĩ quan ch�nh quy người Anh. (30)

 

���� Hai sự bổ nhiệm được thực hiện như hậu quả của bản định ước n�y đ� c� một ảnh hưởng quan trọng tr�n việc thương thảo v� ph� chuẩn bản hiệp ước x�c định sẽ diễn ra trong v�i năm sau đ�:

 

(1) Từ năm 1897, một ủy hội hỗn hợp � người Xi�m La, Bỉ, Anh v� Nhật Bản � đ� cố gắng ph�c thảo một bộ luật h�nh sự, dựa tr�n c�c bộ luật tiến bộ nhất của �u Ch�u, v� vừa đệ tr�nh một dự �n kh�ng l�m thỏa m�n được mọi người.� C�c bộ luật kh�c � d�n sự v� thương mại, c�c bộ luật về thủ tục tố tụng v� một đạo luật về sự tổ chức c�c t�a �n � đ� được dự ph�ng.� Một luật gia nổi tiếng của Ph�p, Georges Padoux, người được Ch�nh Phủ Ph�p bổ nhiệm l�m Tổng L�nh Sự tại Vọng C�c, đ� được cử l�m Cố Vấn Lập Ph�p bởi Quốc Vương Chulalongkorn, đảm tr�ch vai tr� chỉ đạo việc sọan thảo c�c bộ luật n�y.� Padoux đ� đến Xi�m La năm 1905 v� bắt đầu l�m việc tr�n một dự �n đ� được tu chỉnh của bộ h�nh luật. (31)

(2) Đứng đầu ủy hội bi�n giới, dự liệu nơi điều 3 của bản định ước, người được củ nhiệm l� Đại T� Fernand Bernard, một sĩ quan th�ng minh v� nhiệt th�nh với c�i nh�n thấu triệt sắc b�n c�c vấn đề ngoại giao v� ch�nh trị.� Bernard tức khắc khởi sự th�m hiểm c�c miền sẽ được ph�n ranh v� đ� ở nhệm vụ n�y trong ba năm kế đ�.

 

 

C�C CUỘC THƯƠNG THẢO CHO MỘT HIỆP ƯỚC MỚI

 

���� Định ước ng�y 13 th�ng Hai năm 1904, vẫn kh�ng được t�n thưởng giống như c�c bản định ước trước đ� v� sự kh�ch động cho một hiệp ước mới đ� khởi sự ngay cả trước khi n� được ph� chuẩn.� Hai vấn đề quan trọng l�: (1) sự ho�n trả c�c v�ng Battambang v� Angkor cho Căm Bốt v� (2) sự giải trừ quyền trị ngoại t�i ph�n của c�c thuộc d�n � Ch�u của Ph�p tại Xi�m La.� Bất kỳ hiệp ước n�o kh�ng mang lại một sự giải quyết r� r�ng hai vấn đề kể tr�n s� kh�ng thể n�o được xem l� c� t�nh c�ch vĩnh viễn.

 

���� Nhận thấy bản định ước năm 1904 kh�ng phải l� một giải ph�p chung cuộc cho vấn đề n�u ra, Bernard đ� khởi sự t�m kiếm c�c căn bản cho một sự giải quyết r�nh mạch.� �ng nhận thấy rằng, bởi c� sự h�nh văn sai lạc trong bản định ước, bởi c� sự thiếu hiểu biết về địa h�nh, v�ng Dan-Sai, được chuẩn cấp cho Luang Prabang, l� một mũi gi�o d�i thọc v�o nội địa Xi�m la, kh�ng c� gi� trị g� mấy đối với Ph�p hay v�ng Luang Prabang, nhưng lại cực kỳ đe dọa đến Xi�m La một khi Ph�p lựa chọn việc củng cố n�.� �ng nhận thấy, một c�ch tương tự, rằng hải cảng Kratt kh�ng phải l� cửa ngỏ tự nhi�n của bất kỳ phần l�nh thổ n�o của Căm Bốt v� rằng cư d�n của miền đ� đa số l� người Xi�m La.� Bởi thế khi Bernard quay trở về Paris trong th�ng S�u năm 1906, �ng đ� đệ tr�nh một văn thư l�n Bộ Trưởng c�c Thuộc Địa., đề nghị Ph�p: (1) phục hồi v�ng Dan Sai v� Hải Cảng Kratt cho Xi�m La; (2) từ bỏ, với một số sự d� dặt n�o đ�, tư c�ch trị ngoại ph�p quyền đối với d�n bảo hộ gốc � Ch�u của Ph�p v� (3) y�u cầu sự ho�n trả c�c tỉnh Battambang v� Angkor.� Văn thư n�y tức thời được đệ tr�nh sang Bộ Ngoại Giao.� Victor Collin de Plancy, một nh� ngoại giao chuy�n nghiệp, được cử l�m Sứ Thần tại Xi�m La để đảm nhận c�c cuộc thương thảo với �ng Ho�ng Devawongse, anh em của Vua Chulalongkorn v� l� Bộ Trưởng Ngoại Giao, cho một hiệp ước mới.

����

���� Một v�i điều kiện thuận lợi cho c�c sự thương thảo lần n�y:

 

(1) Ph�p sẵn l�ng từ bỏ trị ngoại ph�p quyền lấy một đối khoản th�ch đ�ng, trong khi Xi�m La đang cải c�ch c�c t�a �n của n� v� một ủy hội mới, đứn g đầu bởi một người Ph�p (�ng Padoux) vừa mới ho�n tất một dự �n mới về một bộ luật h�nh sự, dựa tr�n c�c bộ luật �u Ch�u t�n tiến nhất, đến mức độ m� ch�ng c� thể �p dụng được cho c�c ho�n cảnh của Xi�m La.� Khi m� c�c điều kiện được cải thiện tại Xi�m La, quyền trị ngoại t�i ph�n trở n�n �t quan trọng hơn đối với Ph�p.� Điều c� thể n�i rằng ở thời điểm n�y, quyền trị ngoại t�i ph�n của c�c thuộc d�n Ph�p gốc � ch�u đối với Ph�p đ� trở th�nh một vật phẩm đổi ch�c, sẽ được đ�nh đổi cho điều g� m� n� c� được nhờ vật phẩm đ�.� Mặt kh�c, đối với Xi�m La sự kiện đ� đang ng�y c�ng trở n�n một vết � nhục của t�nh trạng yếu k�m m� c�c quốc gia �u Ch�u đ� chậm chạp một c�ch kh�ng thể hiểu được trong việc gỡ bỏ đi.

(2) Nước Ph�p bắt đầu nh�n thấy rằng một ch�nh s�ch thiện � sẽ được đền b� tại Xi�m La.� Một Cố Vấn Lập Ph�p người Ph�p (�ng Padoux) đ� được bổ nhiệm để gi�m s�t sự soạn thảo c�c bộ luật kh�c nhau liệt k� ở tr�n.� Tiếng Ph�p được giảng dạy trong c�c trường học bởi c�c gi�o vi�n Ph�p.� C�c kỹ sư Ph�p được tuyển dụng trong c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh.� � tưởng đ� bắt đầu thẩm thấu đến c�c nh� l�m ch�nh s�ch của Ph�p rằng họ n�n chuộc lỗi cho sự chậm trễ của họ trong việc nh�n nhận sự tiến bộ của Xi�m La bằng c�ch l� kẻ ti�n khởi thực hiện c�c bước tiến cho việc gỡ bỏ vết � nhục của t�nh trạng trị ngoại t�i ph�n.

(3) Khi vấn đề ho�n trả Battambang v� Angkor được n�u l�n lần đầu ti�n � một c�ch t�nh cờ, bởi kh�ng thể t�m thấy đ�u l� c�c ranh giới tự nhi�n � người Ph�p đ� ngạc nhi�n về sự sẵn s�ng m� với n� người Xi�m La vui l�ng thảo luận to�n bộ vấn đề.� Người Xi�m la đ� kh�ng c� mưu toan n�o để thực d�n h�a c�c tỉnh n�y hay muốn biến cải c�c cư d�n th�nh thần d�n của Xi�m La.� Trong suốt thời kỳ chịu quyền b� chủ của Xi�m La, v�ng n�y đ� l� một l�nh địa thế tập của một gia tộc Căm Bốt (32) v� đ� được cai trị theo c�c phong tục của Căm Bốt.� Như đ� sẵn được ghi nhận, n� c�n được canh g�c bởi binh sĩ địa phương (c� nghĩa người Căm Bốt).� Sau hơn một thế kỷ dưới sự đ� hộ của Xi�m La, Bernard n�i người ta sẽ thất vọng để t�m k�ếm ngay d� một vi�n chức cấp thấp c� thể n�i được tiếng Xi�m La. (33)� Khi đ�, Quốc Vương Xi�m La cũng lấy l�m kinh hoảng về con số người được bảo hộ đến đăng k� tại T�a L�nh Sự Ph�p tại Battambang, l�n tới 4,500 người t�nh đến đầu năm 1906.� C� tin cho hay một hay nhiều cố vấn Ph�p kiểm so�t c�c h�nh động của vị tổng đốc thế tập.� Một vi�n chức Ph�p t�n Ponsot thực sự đ� được bổ nhiệm bởi Vua Chulalongkron l�m Ủy Vi�n Khấm Sứ Ho�ng Gia Xi�m La tại Battambang.� Vi�n chức đ� đ� sẵn thảo luận vấn đề với Quốc Vương Xi�m La v� họ đ� quyết định sẽ thanh l� to�n thể vấn đề, nếu Ph�p trả gi� đ�ng mức cho họ. (34)

(4) Một l� do tại sao l� điều dễ d�ng cho Xi�m La để đạt tới kết luận n�y li�n quan đến sự ho�n trả Battambang v� Angkor ch�nh l� th�i độ đ� được chấp nhận một c�ch tổng qu�t rằng số phận của c�c tỉnh n�y đ� sẵn được ti�n định.� Trong thực tế, một khu vực ảnh hưởng thường được xem l� c� tiềm năng s�p nhập.� Khi A nh quốc, kẻ đ� chống đối kịch liệt một sự bảo hộ của Ph�p tr�n l�nh địa n�y v�o năm 1893, đ� vui l�ng xem n� nằm trong khu vực của Ph�p năm 1896, v� sự tin tưởng n�y được củng cố hơn khi Anh Quốc k� kết Thỏa Ước Th�n Hữu (Entente Cordiale) với Ph�p v�o ng�y 6 th�ng Tư năm 1904.

(5) Cố vấn đầu ti�n về Ngoại Giao cho Quốc Vương Chulalongkorn, một luật gia người Bỉ, t�n Rolin-Jacquemyns, kẻ m� Ph�p nghĩ rằng chịu ảnh hưởng của Anh Quốc, đ� mất đi v� được kế nhiệm trong năm 1903 bởi Gi�o Sư Edward H. Strobel, thuộc Đại Học Harvard, l� kẻ mau ch�ng tạo được ảnh hưởng lớn lao tr�n Quốc Vương.� Strobel rất sẵn l�ng để nghe c�c đề nghị của Ph�p li�n quan đến Battambang v� Angkor v� đồng � với Ph�p về mong ước để loại bỏ tất cả c�c nguy�n nh�n g�y ra sự đụng chạm.� Mặc d� hiệp ước năm 1907 được k� kết bởi Collin de Plancy v� �ng Ho�ng Devawongse, thư t�n được c�ng bố bởi Bernard (35) cho thấy rằng c�c nguy�n tắc của n� đ� được đồng � trước bởi Bernard v� Strobel trong một cuộc đ�m thoại m� Bernard cho hay đ� k�o d�i trong mười tiếng đồng hồ.� Ernest Outrey, khi đ� l� Đại Biểu cho Nam Kỳ v� Căm Bốt trong Nghị Viện Ph�p, n�i rằng Bernard đ� nhận c�ng cho m�nh qu� nhiều về c�c cuộc thương thảo n�y, v� rằng sự ho�n trả Battambang v� Angkor cho Căm Bốt l� nhờ hầu như ho�n to�n ở một bản b�o c�o d�i m� Strobel đ� đệ tr�nh l�n Quốc Vương, (36) th�c dục sự ho�n trả. (37)

(6) Một biến cố kh�c g�p phần lớn cho đ�i hỏi của Ph�p về sự ho�n trả c�c tỉnh n�y l� sự l�n ng�i vua Căm Bốt của �ng Ho�ng được l�ng d�n, Sisovath, h�m 25 th�ng Tư năm 1904, kế nhiệm Norodom.� Một th�ng sau ng�y đăng quang của �ng (ng�y 26 th�ng Tư năm 1904), Nh� Vua mới khởi h�nh sang Ph�p, nơi �ng được đ�n tiếp nồng nhiệt.� �ng đ� ở tại nước Ph�p trong suốt thời kỳ c� sự tiến h�nh c�c cuộc thương thảo.

(7) Kh�ng phải l� một nguy�n nh�n �t quan trọng nhất dẫn đến sự giao ho�n Battambang v� Angkor ch�nh l� quyết t�m của mọi b�n li�n hệ nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai dứt kho�t một lần cho xong.� Kh�ng đ�u thể hiện r� quyết t�m n�y cho bằng lời mở đầu của bản hiệp ước.� Trong khi mục đ�ch của c�c Định Ước ng�y 7 th�ng Mười năm 1902 v� ng�y 13 th�ng Hai năm 1904 được ph�t biểu l� �nhằm điều h�a một số kh� khăn n�o đ� đ� ph�t sinh trong sự giải th�ch Hiệp Ước v� Định Ước ng�y 8 th�ng Mười năm 1893,� mục đ�ch của bản hiệp ước ng�y 23 th�ng Ba năm 1907 l� nhằm �để bảo đảm sự quy định chung quyết (38) mọi vấn đề li�n quan đến biến giới chung của Đ�ng Dương với Xi�m La.�

(8) Sau hết, Quốc Vương Chulalongkorn đang sắp sửa thăm viếng �u Ch�u v� mong muốn rằng mọi tranh chấp rắc rối được giải quyết trước ng�y khởi h�nh của �ng.

 

 

HIỆP ƯỚC NG�Y 23 TH�NG BA NĂM 1907 V� SỰ TIẾP NHẬN N�.

 

���� V�o ng�y 23 th�ng Ba năm 1907, một bản hiệp ước dựa tr�n sự thỏa thuận được đạt tới bởi Bernard v� Strobel, đ� được k� kết tại Vọng C�c bởi Victor Collin de Plancy đại diện cho Ph�p v� �ng Ho�ng Devawongse đại diện cho Xi�m La.

 

���� Xi�m La đ� nhường c�c tỉnh Battambang, Sisophone v� Siemreap (39) (Điều 1) v� nhận lại hải cảng Kratt v� l�nh thổ v�ng Dan Sai (Điều 2).� Ph�p đồng � rằng tất cả c�c thuộc d�n gốc � Ch�u hay c�c người được bảo hộ của n� đăng k� sau ng�y k� kết hiệp ước sẽ phải chịu thẩm quyền t�i ph�n tại c�c ph�p đ�nh thường luật (regular tribunals) của Xi�m La.� Những người đ� sẵn đăng k� v� con của họ, nhưng kh�ng kể c�c ch�u (grandchildren), sẽ phải chịu quyền t�i ph�n tại c�c phi�n t�a thường luật (regular courts) của Xi�m La, như được dự liệu nơi Điều 12 của định ước năm 1904, cho đến khi c�c bộ luật mới của Xi�m La được mang ra chấp h�nh, khi đ� tất cả họ đều phải chịu x�t xử bởi c�c ph�p đ�nh thường luật của Xi�m La (Điều 5). (40)

 

���� Xi�m La kh�ng c� vẻ v�o l�c đ� quan t�m lớn lao đến sự đ�nh mất v�ng Battambang v� Angkor.� C�c v�ng đất n�y chỉ c� � nghĩa nhỏ b� đối với họ.� Lunet de Lajonqui�re, người thực hiện một cuộc khảo s�t khảo cổ ở đ� l�c đương thời, ước lượng d�n số Xi�m La của hai tỉnh n�y l�c chuyển giao v�o khỏang 2,000 người. (41)� �ng ta c� thể đ� ước lượng qu� lố con số đ�.� Theo tập t�i liệu Annuaire general de l�Indochine cho năm 1921 (trang 300) � mười bốn năm sau đ�, đ� kh�ng c� một người Xi�m La duy nhất n�o cư ngụ tại đ�.� Một số �t người Hoa Kỳ sinh s�ng gần đ�y tại Xi�m La v� chỉ hay biết với v�i trang cuối c�ng của lịch sử v�ng n�y, đ� tạo ra cảm tưởng sai lạc tại Hoa Kỳ rằng v�ng đất n�y l� thuộc �Xi�m La.�� Năm 1907, theo �ng Outrey, (42) Xi�m La đ� chỉ nhận sự triều cống tượng trưng, một �t đặc quyền đ�nh c� v� một số chức vị cho một số thanh tra.

 

���� Căm Bốt từ l�u đ� th�i kh�ng l� một kẻ tranh d�nh nguy hiểm đối với Xi�m La. �C� thời n� đ� từng l� một quốc gia tr�i độn nằm giữa Xi�m La v� An Nam.� Khi Ph�p thay chỗ An Nam tại Nam Kỳ, gi� trị n�y kh�ng c�n nữa.� Vấn đề mới về quyền trị ngoại t�i ph�n biến Battambang trở th�nh một điểm nguy hiểm.� Xi�m La th� vui sướng đ�nh đổi v�ng đất rắc rối n�y, v� dụng với n�, cho bước đầu ti�n để x�a bỏ vết � nhục của t�nh trạng h�n yếu h�m � trong quyền trị ngoại t�i ph�n của người gốc � Ch�u.� Xi�m La cảm thấy h�i l�ng với bản hiệp ước.� Theo de Caix, (43) tờ Siam Observer, m� �ng cho hay l� cơ quan ch�nh thức của Ch�nh Phủ, c� tuy�n bố ng�y kế đ�: �Nếu kết số của sự trao đổi đất đai c� vẻ mang nhiều lợi lộc cho b�n Ph�p, t�nh trạng qu�n bằng sẽ được t�i lập bởi sự nhuợng bộ đưa ra bởi Ph�p li�n quan đến thẩm quyền t�i ph�n tr�n c�c thuộc d�n v� kẻ được bảo hộ gốc � Ch�u.� (44)� Hiển nhi�n, Xi�m La đ� kh�ng đưa ra sự phản đối chống lại bản hiệp ước cho đến khi n� nằm dưới ảnh hưởng của Nhật Bản ba mươi năm sau đ�.

 

���� Sự ho�n trả Battambang v� Angkor c� nhiều � nghĩa đối với Căm Bốt.� Ngo�i d�n số v� đất đai, với c�c c�nh đồng l�a v� ngư nghiệp của ch�ng, Angkor c�n l� sự nối kết duy nhất của Căm Bốt với qu� khứ huy ho�ng nhất m� bất kỳ d�n tộc Đ�ng Dương n�o đ� từng c�.� N� l� kinh đ� của Đế Quốc Khmer cổ xưa trong suốt thời kỳ mang vẻ vĩ đại của n�.� N� vẫn c�n gần cận trung t�m địa dư của sắc d�n Khmer tại Đ�ng Dương.� Sau hơn một thế kỷ dưới sự thống trị của Xi�m La, c�c tỉnh n�y l� c�c địa phương đồng nhất về mặt chủng tộc nhất � v� nhiều t�nh Căm Bốt � của xứ sở đ�.

 

���� C�c điều khoản của Hiệp Ước ng�y 23 th�ng Ba năm 1907 dự liệu sự b�i bỏ thẩm quyền trị ngoại t�i ph�n của thuộc d�n Ph�p gốc � Ch�u ngay khi c�c đạo luật tương ứng được ban h�nh, đ� l� bước tiến vĩ đại đầu ti�n để giải tho�t Xi�m La ra khỏi t�nh trạng n� lệ quốc tế tủi nhục n�y, một sự t�ng phục hẳn phải mang lại nhiều nhức nhối cho người Xi�m La hơn quyền trị ngoại t�i ph�n d�nh cho người �u Ch�u v� người Hoa Kỳ, bởi người gốc � Ch�u th� đ�ng v� rắc rối hơn nhiều, v� n� hẳn c�n l�m người Xi�m La cảm thấy nhục nh� hơn khi m� c�c người gốc � Ch�u kh�c, những người m� họ xem l� thấp k�m hơn họ , đ�i hỏi quyền được x�t xử tại c�c t�a �n �u Ch�u.

 

���� Anh quốc sớm đi theo sự dẫn đường của Ph�p (năm 1909), v� đ� đ�i gi� của n�, l� sự cắt nhượng c�c tiểu bang Kelantan, Trenganu, Kedah, Perlis v� c�c h�n đảo kề cận B�n Đảo M� Lai. (45)� C�c quốc gia kh�c c� c�c thuộc d�n hay người được bảo hộ gốc � Ch�u tại Xi�m La cũng đi theo chiều hướng n�y.� Bộ h�nh luật đ� được ban h�nh năm 1908.� C�ng việc sọan thảo c�c bộ luật kh�c đ�i hỏi nhiều năm.� Ngay khi bất kỳ phần n�o được ho�n tất, c�c điều khoản của n� trở n�n khả dĩ thi h�nh đối với c�c thuộc d�n hay kẻ được bảo hộ gốc � Ch�u cho đến khi chung cuộc tất cả c�c người trong họ đều phải chịu thẩm quyền t�i ph�n của c�c t�a �n thường luật của Xi�m La.

 

���� Vấn đề c�n lại l� sự hủy bỏ quyền trị ngoại t�i ph�n của người �u Ch�u v� người Hoa Kỳ.� Sự v�n động đến mục ti�u n�y được kh�ch động phần lớn bởi một chuỗi c�c cố vấn Hoa Kỳ -- Strobel, Westergard, v� James.� Sau c�ng, khi c�c bộ luật gần ho�n tất, v�o ng�y 16 th�ng Mười Hai năm 1920, Hoa Kỳ đ� đưa đề xướng về sự từ bỏ quyền trị ngoại t�i ph�n của người Hoa Kỳ v� �u Ch�u tại Xi�m La.� Trong khoảng năm 1924-25, Francis B. Sayre, khi đ� l� Cố Vấn Ngoại Giao, đ� thực hiện một chuyến du h�nh sang �u Ch�u cho mục đ�ch ho�n tất c�ng t�c k� kết bản văn sau c�ng của c�c hiệp ước n�y.� C�u chuyện về sự hủy bỏ quyền trị ngoại t�i ph�n của người �u Ch�u v� người Hoa Kỳ tại Xi�m La đ� được kể lại trong tạp ch� American journal of international law bởi tiến sĩ C.C. Hyde (1921) v� Tiến Sĩ F.B. Sayre (số th�ng Gi�ng năm 1928).� Tuy nhi�n, kh�ng c� người n�o đ� ghi nhận c�ng trạng của Ph�p v� c�ng t�c mở đường v� quan trọng hơn của sự loại bỏ quyền trị ngoại t�i ph�n của c�c thuộc d�n v� người được bảo hộ gốc � Ch�u hay cho việc cải c�ch ng�nh tư ph�p của Xi�m La bằng việc sọan thảo c�c bộ luật t�n tiến, dựa phần lớn tr�n c�c bộ luật của �u Ch�u, tạo dễ d�ng cho việc thuyết phục người Hoa Kỳ v� �u Ch�u h�y giao ph� c�c c�ng d�n v� thuộc d�n của họ cho c�c t�a �n Xi�m La. (45)

 

���� Đề cập đến bản hiệp ước ng�y 16 th�ng Mười Hai, năm 1920, Ti�n Sĩ Hyde đ� đưa ra lời ph�t biểu: �Điều cần ghi nhớ trong đầu rằng m�n nợ của Xi�m La đối với c�c cố vấn v� luật gia ngoại quốc kh�ng chỉ giới hạn v�o những người mang quốc tịch Hoa Kỳ.� Người ta biết rằng c�c luật sư người Anh đ� cung cấp sự phục vụ to lớn trong c�ng việc m� xứ sở đ� phải đối đầu.� (47) Sự kiện xem ra l� đ�ng rằng dự �n sau c�ng của bộ luật h�nh sự năm 1908 ch�nh yếu l� c�ng tr�nh của một người Ph�p, �ng Padoux v� rằng ủy ban đ� mất nhiều năm để soạn thảo c�c bộ luật kh�c v� luật tổ chức c�c t�a �n đ� bao gồm to�n c�c th�nh vi�n người Ph�p, trong v�i năm (1908-1914) dưới sự chủ tọa của �ng Padoux.� Ủy ban n�y tiếp tục l� một ng�i trường về ch�nh tri học trong đ� ng�nh luật học được giảng dạy bởi c�c luật gia người Ph�p cho đến khi c� cuộc c�ch mạng v� hiệp ước theo sau trong năm 1938./- ��

�� ����

����������������������������������������������������������������������������������������

_____

 

 

CH� TH�CH:

 

1.       Georges Maspero c� cố gắng để tr�nh b�y c�c giới hạn của Đế Quốc Khmer v�o năm 960 sau C�ng Nguy�n (�tudes Asiatiques [Hanoi, 1925], quyển 2, c�c trang 79-123), nhưng �ng nghĩ vương quốc người Mon tại Haripunjai l� của Khmer.

2.       Một số trong c�c c�ng tr�nh kiến tr�c n�y được m� tả bởi Larry [L.P.] Briggs, trong quyển A Pilgrimage to Angkor (Oakland, Calif, 1943), trong đ� cũng bao gồm một sự thảo luận ngắn về c�c nguồn cội của sự hiểu biết của ch�ng ta về Đế quốc Khmer cổ xưa.

3.       Lawrence Palmer Briggs, �Dvaravati, the most ancient kingdom of Siam�, Journal of the American Oriental society, 65 (April-June 1945), c�c trang 105-106.

4.       Briggs, A pilgrimage to Angkor, trang 84; Georges Co�des, �Les bas-reliefs d�Angkor Vat�, Bulletin de la commission arch�ologique Indochinoise (1911), c�c trang 170-220; E. Aymonier, Le cambodge (1903), quyển 3, c�c trang 262-263. Syam, Cyame, hay Sayyam được n�i c� nghĩa n�u đậm hay m�u đen trong v�i ng�n ngữ tại Đ�ng Nam �.

5.       [Ch� của chủ bi�n.� Hsien hay Hsien-lo l� c�c k� �m bằng mẫu tự la m� ti�u chuẩn của Wade-Giles cho từ Xi�m La (Siam) trong tiếng H�n.]

6.       Trước khi Sukhothai bị thu đoạt bởi Ayuthia.

7.       Về sự th�nh lập vương quốc Lan Chang của d�n tộc L�o, xem Paul Le Boulanger, Histoire du Laos francaise (Paris, 1931).

8.       Về c�c cuộc x�m lăng của Miến Điện v�o Xi�m La, xem G.E.Harvey, History of Burma (London, 1925).

9.       J. Moura, Le royaume du Cambodge (Paris, 1883), quyển 2, c�c trang 90-97; A. Leclere, Histoire du Cambodge (Paris, 1914), c�c trang 401-402.

10.   Moura, đ� dẫn tr�n, c�c trang 104-105; Leclere, đ� dẫn tr�n, c�c trang 411-412.

11.   F. Garnier, Voyages d�exploration en Indochine (Paris, 1873), quyển 1, c�c trang 247-262.

12.   Moura, đ� dẫn tr�n, c�c trang 111-120; Leclere, đ� dẫn tr�n, c�c trang 419-430.

13.   Moura, đ� dẫn tr�n, c�c trang 136-164; Leclere, đ� dẫn tr�n, c�c trang 443-459; A. de Villemereuil, Explorations et missions de Doudart de Lagr�e � Extraits de sus manuscripts (Paris, 1883), c�c trang 112-114, 116, 443-449.� Cũng xem b�i viết của R. Stanley Thomson, trong tạp ch� Far Eastern quarterly, 4 (August 1945), c�c trang 313-340 v� No. 5 (Novermber, 1945), c�c trang 28-46.

14.   Le Boulanger, đ� dẫn tr�n, c�c trang 149-151, 166-179; 192-204; Capitaine de Pelacot, �Le Tran Ninh historique�, Revue Indo-Chinois (Hanoi, 1906), c�c trang 755-56.

15.   Tai [như được viết trong Anh ngữ, ch� của người dịch] l� một t�n gọi tổng qu�t giống d�n cư tr� tại miền nam Trung Hoa, Miến Điện, Xi�m La, L�o v� Bắc Việt.� Th�i [Thai trong nguy�n bản viết bằng Anh ngữ, ch� của người dịch], trong nghĩa nghi�m ngặt nhất của n�, để chỉ ri�ng người Tai ch�nh t�ng tại v�ng thung lũng c�c s�ng M�kong v� M�nam v� c�c� v�ng kề cận con s�ng m� th�i.� Nhưng c� c�c � niệm kh�c về � nghĩa của từ Th�i.� Một b�i diễn văn từ Quốc Vương, được n�i l� được đưa ra bởi Quốc Vương Chulalongkorn ng�y 21 th�ng Ch�n năm 1884, c�ng cuộc viễn chinh của �ng ta trong năm 1885 để chiếm giữ L�o v� xứ d�n Tai tại Bắc Kỳ, cho thấy rằng chủ thuyết To�n Th�i: Pan-Thaism đ� c� một kh�i niệm bao qu�t hơn về � nghĩa của từ ngữ Th�i (Xem Đại T� Col. F. Bernard, � l��cole des diplomats [Paris, 1935], trang 92). [Quốc hiệu Th�i Lan ng�y n�y được đặt v� gọi theo Anh ngữ: Thailand, c� nghĩa v�ng đất (land) của sắc d�n Th�i, với � nghĩa bao tr�m ở những nơi c� sắc d�n n�y cư ngụ, tức c� thể gồm c�c phần l�nh thổ thuộc miền nam Trung Hoa, Miến Điện, L�o v� một phần Bắc Việt. �Quốc hiệu Th�i Lan n�y mới chỉ được tuy�n c�o v�o ng�y 11 th�ng 5 năm 1949, thay cho danh xưng trước l� Xi�m La, ch� của người dịch].

16.   L. de Reiniach, Receuil des traits conclus par la France au Extr�me-Orient [Paris, 1902, 1907], quyển 1, c�c trang 315-317; Bulletin de la comit� de l�Asie francaise (Paris, Jan. 1902), c�c trang 13-16.� Từ giờ trở đi ghi tắt l� BCAF.

17.   Reinach, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 338-340.

18.   BCAF (Jan. 1902), trang 13.

19.   Livre jaune.� Affaire de Siam, 1891-1902 (Paris, 1902), c�c trang 8-9.

20.   Theo quyển Annuaire gen�rale de 1921 (trang 300), người Căm Bốt tiếp tục chiếm tới 90% cư d�n của c�c tỉnh n�y, trong khi kh�ng c� người Xi�m La n�o cư ngụ ở đ� cả.

21.   A. Berjoin, Le Siam et les accords franco-siamois (Paris, 1927), c�c trang 119-120.

22.   Robert de Caix l� chủ bi�n của tạp ch� BCAF.

23.   BCAF (1907), c�c trang 113-114.

24.   Garnier, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 234-235.

25.   Questions diplomatiques et colonials (Paris, March 16, 1907), trang 615.

26.   F. Bernard, đ� dẫn tr�n, c�c trang 138-139; Berjoin, đ� dẫn tr�n, trang 83.

27. Reinach, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 439-442.

28. Bernard, đ� dẫn tr�n, trang 161; BCAF (1907), trang 113-114.

29. British and foreign state papers (1904), bộ 97, c�c trang 961-963.

30. BCAF (Jan, 1902), 16.

31. Lawrence Palmer Briggs, �The codification of the laws of Siam (1897-1924) and its effects on the extinction of extraterritorial jurisdiction�, American journal of international law, sắp được ấn h�nh trong tương lai gần đ�y.

32. Villemereuil, đ� dẫn tr�n, trang 116.

33. Bernard, đ� dẫn tr�n, c�c trang 203-204.

34. C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 188-189.

35. C�ng nơi dẫn tr�n, Phụ Lục (Appendix).

36. E. Outrey, �Un nouveau trait� franco-siamois�, Revue politique et parliamentaire, 121 (Paris, October, 1924), c�c trang 113-116.

37. Frances B. Sayre, cũng thuộc trường Đại Học Harvard v� một trong những người kế nhiệm Tiến Sĩ Strobel l�m Cố Vấn Ngoại Giao cho Quốc Vương Xi�m La, trong một b�i viết trong tạp ch� American journal of international law� (January 1928) n�i rằng �c�c giải đất rộng lớn của Đ�ng Dương thuộc Ph�p được cắt xẻo nhiều lần kh�c nhau từ đất Xi�m La� (trang 77), v� n�i về �sự cắt nhượng của Xi�m La cho Ph�p nhiều đất của Xi�m La hơn nữa, c� nghĩa, đất v�ng Battambang, Siem Reap, v� Sisophon� (trang 97),� lại kh�ng để � đến sự kiện rằng hai người Ph�p quan t�m nhất đến sự ho�n trả l�nh địa n�y đ� ghi hầu như to�n thể c�ng lao cho việc ho�n trả của n� cho một trong hai kẻ tiền nhiệm nổi danh của Tiến Sĩ Sayre, tức Tiến Sĩ Edward H. Strobel.

38. Chữ in nghi�ng l� của t�c giả.

39. Sisophon được lập ra từ tỉnh Battambang.� Siemreap l� một danh xưng đ�i khi được d�ng để chỉ tỉnh Angkor.

40. BCAF (1907), trang 131.

41. E. Lunet de Lajonqui�re, �Les provinces recouvr�s du Cambodge�, BCAF (1907), trang 159.

42. E. Outrey, đ� dẫn tr�n, c�c trang 113-116.

43. BCAF (1907), c�c trang 113-114.

44. T�c giả đ� kh�ng thể t�m được một bản sao của ấn phẩm n�y cho đến nay để chứng thực cho lời tuy�n bố n�y.

45. British and foreign state papers (1909), quyển 102, c�c trang 126-128.

46. G. Padoux, Code penal du royaume de Siam, Promulgu� le 1 juin, 1980 (Paris, 1909); R. Guyon, L�Oeuvre de codification au Siam (Paris, 1919); Briggs, �The codification of the laws of Siam �� đ� tr�ch dẫn trong ch� th�ch số 31.

47. American Journal of International law (1921), trang 430.� Chữ in nghi�ng l� của t�c giả./-

���

_____

 

Nguồn: Lawrence Palmer Briggs, The Treaty of March 23, 1907 between France and Siam and the Return of Battambang and Angkor to Cambodia, The Far Eastern quarterly, Vol. V, August 1946, No. 4, c�c trang 439-454. �

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

                                                                                                                                                       

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o