AUBARET V� HIỆP ƯỚC

NG�Y 15 TH�NG BẢY, NĂM 1867

GIỮA PH�P V� XI�M LA

Lawrence Palmer Briggs

 

NG� BẮC dịch

 

 

Lời người dịch:

 

���� Trong b�i viết được dịch dưới đ�y c� một chi tiết quan trọng li�n hệ đến lời thỉnh cầu xin chuộc lại ba tỉnh Bi�n H�a, Gia Định, Định Tường của sứ bộ do �ng Phan Thanh Giản cầm đầu, qua lời tuy�n bố của Ho�ng Đế nước Ph�p khi tiếp kiến sứ bộ Việt Nam, xin tr�ch lại như sau:

 

�� �Trong diễn văn từ tr�n ngai v�ng h�m 6 th�ng Mười Một năm 1863, Napol�on III cảm thấy cần thiết để xin lỗi về c�c cuộc viễn chinh xa x�i n�y v� để giải th�ch rằng ch�ng đ� kh�ng được dự liệu trước.� Phan-Thanh-Giản, với sự trợ gi�p của Aubaret, đ� thỉnh cầu nội vụ l�n Ho�ng Đế v� đ� được bảo quay trở về An Nam với lời hứa hẹn rằng bản hiệp ước sẽ được sửa đổi đ�ng theo c�c � muốn của �ng.�

����

���� Đ�y hẳn phải l� một yếu tố quan trọng để đ�nh gi� c�ng trạng của �ng Phan Thanh Giản, người được ca ngợi bởi t�c giả như một ch�nh kh�ch v� nh� ngoại giao vĩ đại của Việt Nam thời bấy giờ. NB

 

---------

Đ�y l� b�i dịch thứ ba �trong loạt b�i c� chủ đề về sự x�m chiếm, s�p nhập v� chia cắt l�nh thổ tại Đ�ng Dương của thực d�n Ph�p để lập th�nh c�c nước Việt Nam, L�o v� Căm Bốt thuộc Ph�p bắt đầu từ hậu b�n thế kỷ thứ 18, sẽ lần lượt được đăng tải tr�n gio-o:

 

B�i 1. Sự Thiết Lập Chế Độ Bảo Hộ Ph�p Tr�n Căm Bốt, của R. Stanley Thomson.

B�i 2.  Xi�m La v� Ph�p, 1863-1870, của R. Stanley Thomson.

 

3.  Aubaret v� Hiệp Ước Ng�y 15 Th�ng Bảy năm 1867 giừa Ph�p v� Xi�m La, của Lawrence Palmer Briggs

 

4.  Hiệp Ước Ng�y 23 Th�ng Ba năm 1907 giữa Ph�p v� Xi�m La v� Sự Ho�n Trả Battambang v� Angkor cho Căm Bốt, của Lawrence Palmer Briggs

 

5.  Cuộc Tranh Gi�nh C�c Bờ S�ng Cửu Long, 1892-1896, của Claire Hirshfield

 

6. Sự Tranh Chấp Bi�n Giới Ph�p-Th�i Năm 1940 v� Sự Cam Kết của Phibuun Sonkhraam với Nhật Bản, của E. Thadeus Flood.

 

-----

 

 

***

 

 

PH�P TẠI AN NAM V� NAM KỲ, 1856-62

 

Gia Long (1802-20) đ� mắc nợ ngai v�ng của �ng c�ng sự thiết lập Đế Quốc An Nam nơi sự trợ gi�p của người Ph�p, đặc biệt l� của gi�o sĩ truyền đạo, Pierre Pigneau de B�haine, Gi�m Mục địa phận Adran.� V�o thời gian n�y, người Ph�p chắc chắn c� thể c� một sự bảo hộ tr�n An Nam nếu y�u cầu.� Vua Gia Long đ� bảo vệ c�c gi�o sĩ truyền đạo người Ph�p v� T�y Ban Nha trong thời trị v� của �ng v� đ� thử giao cho Ph�p một số lợi thế thương mại; nhưng c�c người kế nhiệm Ng�i, như vua Minh Mạng (1820-41), Thiệu Trị (1841-47) v� Tự Đức (1847-83), đ� ngược đ�i c�c nh� truyền gi�o v� đ�ng cửa đất nước đối với c�ng cuộc mậu dịch của �u Ch�u.� Trong năm 1856, Charles de Montigny, một nh� ngoại giao Ph�p, trở v� nước từ nhiệm sở của �ng tại Trung Hoa, được lệnh k� kết c�c hiệp ước thương mại với Xi�m La v� An Nam v� đạt được sự bảo vệ cho c�c nh� truyền đạo Ph�p tại An Nam.� Tại T�n Gia Ba, �ng nhận được lệnh gh� ngang Căm Bốt, để đ�p ứng với sự ướm hỏi m� Ang Duong, nh� vua của xứ sở đ� (1842-59), đ� đưa ra về một sự bảo hộ của Ph�p.� Trong năm 1856, Montigny đ� k� kết một hiệp ước với Mongkut, nh� vua Xi�m La (1851-68), v� mặc d� c� dừng ch�n tại hải cảng Kampot của Căm Bốt, �ng đ� kh�ng thăm viếng thủ đ� hay lập một li�n� minh với Ang Dương, l�m cho nh� vua n�y buồn nhiều.� �ng được đ�n tiếp một c�ch tồi tệ tại Tourane (Đ� nẵng) v� Huế, v� đ� kh�ng th�nh c�ng trong việc k� kết bất kỳ loại hiệp ước n�o với An Nam. (1)

 

���� Trong khi An Nam tiếp tục t�n s�t c�c nh� truyền gi�o Ph�p v� T�y Ban Nha, Ph� Đ� Đốc Charles Rigault de Genouilly đ� xuất hiện tại Đ� Nẵng trong th�ng T�m-Ch�n năm 1858 với một lực lượng nhỏ v� đ� ph�o k�ch c�ng chiếm giữ hải cảng đ�.� Kh�ng xem một cuộc tấn c�ng v�o Huế l� c� t�nh khả thi, �ng ta chuyển hướng về ph�a đồng bằng s�ng Cửu Long, nơi �ng chiếm giữ S�ig�n, trong th�ng Hai năm 1859.� Với lực lượng nhỏ, hiển nhi�n kh�ng nhằm l�m g� kh�c hơn một cuộc biểu dương, Đ� Đốc Rigault đ� chỉ c� thể giữ được mỗi một đồn nhỏ ở S�ig�n v� kiểm so�t Đ� Nằng từ hải cảng, cho đến khi được kế nhiệm bởi Đề Đốc Th�ogene Page, trong th�ng Mười Một, 1859.� �ng Page được chỉ thị thương thảo một hiệp ước, [theo đ�] chấp thuận sự tự do truyền b�o đạo Thi�n Ch�a, v� đạt được quyền thiết lập l�nh sự tại ba hải cảng v� một đại biện tại kinh đ�, m� kh�ng đ�i hỏi g� về l�nh thổ hay khoản bồi thường n�o kh�c. (2)� C�c nỗ lực tại c�c cuộc thương thảo th� k�o d�i v� v�o cuối năm đ�, Page được lệnh t�i nhập hạm đội tại Trung Hoa, nơi m� người Ph�p v� người Anh đang hợp t�c trong cuộc chiến tranh đ�nh v�o Trung Hoa.� �ng di tản khỏi Đ� Nẵng v� để lại một to�n qu�n đồn tr� nhỏ gồm c�c Thủy Qu�n Lục Chiến Ph�p v� T�y Ban Nha v� một số người Phi Luật T�n (Tagalogs) đến từ Manila để trấn giữ S�ig�n.� Trong th�ng Ba, 1860, lực lượng n�y đ� bị tấn c�ng bởi một lực lượng đ�ng đảo của An Nam, cuộc bao v�y k�o d�i gần một năm.� Cho đến giờ ph�t n�y, c� vẻ vẫn chưa c� bất kỳ đ�i hỏi n�o về đất đai.

 

���� Khi h�a b�nh sau rốt đ� được k� kết với Trung Hoa v�o năm 1860, một lực lượng lục v� hải qu�n đ�ng kể đ� được ph�i xuống Nam Kỳ dưới sự chỉ huy của Ph� Đ� Đốc L�onard Charner.� Lực lượng n�y đ� đến S�ig�n trong th�ng Hai, 1861.� Gần như tức thời, Charner đ� gửi một sứ giả sang Căm Bốt để mở c�c quan hệ th�n hữu với vương quốc n�y.� Như ch�ng ta đ� thấy, c�c nỗ lực của Ang Duong nhằm đạt tới một li�n minh với Ph�p đ� thất bại bởi c�c sai lầm vớ vẩn của Montigny.� Người con trai của Ang Duong, Norodom (1859-1904), th� rất th�n cận với Xi�m La.� Anh ta đ� được nu�i nấng như một con tin tại triều đ�nh Xi�m La v� được tường thuật rằng th�ch n�i tiếng Xi�m La hơn tiếng mẹ đẻ.� Khi Norodom xuất gia đi tu, giống như tất cả c�c b� trai ph�i Phật Gi�o Tiểu Thừa vẫn phải l�m trong một thời kỳ, Mongkut (vị vua tương lai của Xi�m La), khi đ� l� một nh� sư, đ� l� cha đỡ đầu [sư phụ] của anh ta. (3)� Tuy nhi�n, v�o năm 1861, Norodom xem ra đ� sẵn l�ng lắng nghe sự ch�o mời của Ph�p.� Charner th�ng b�o cho anh ta hay rằng Ph�p đến Nam Kỳ để ở lại v� bảo đảm với anh ta về t�nh hữu nghị của người Ph�p. (4)� Nhưng cuộc chinh phục v�ng đồng bằng diễn ra chậm chạp.� Người An Nam c� tổ chức giỏi giang v� được l�nh đạo tốt, v� đ� ki�n cường kh�ng cự.� Khi l�nh thổ được chinh phục, Charner đ� bổ nhiệm c�c vi�n chức người Ph�p, m� �ng đặt danh hi�u l� c�c Gi�m Đốc Sự Vụ Bản Xứ (Directors of Native Affairs), để thay thế c�c quan lại An Nam tại c�c phủ v� c�c huyện [phủ and huyện, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch](c�c ph�n hạt h�nh ch�nh gần tương đương với cấp x� (communes)� v� quận (arrondissements) của Ph�p).� C�c quan lại n�y trung th�nh với Ho�ng Đế Tự Đức v� đ� ra đi khi quản hạt của họ bị chinh phục.

 

���� Th�ng Mười Một năm 1861, Charner được thay thế bởi Ph� Đ� Đốc Louis Bonard.� Vi�n sĩ quan năng động v� rất th�ng minh n�y đ� từng c� một kinh nghiệm s�u rộng tại những nơi như Alg�ria, Tahiti, v� v�ng Guiana thuộc Ph�p, v� đ� học hỏi về nền h�nh ch�nh của c�c xứ lệ thuộc v�o c�c nước kh�c.� V�o th�ng S�u, 1862, s�u tỉnh [Nam Kỳ] đ� được chinh phục, v� Bonard đ� bổ nhiệm một bộ tổng tham mưu để cai quản c�c tinh n�y.� Bộ phận n�y bao gồm một văn ph�ng trung ương, c� một ph�ng th�ng tin về phong tục v� c�c định chế An Nam đi k�m.� Đứng đầu Văn Ph�ng C�c Sự Vụ Bản Xứ n�y, �ng đ� đề cử Linh Mục Th�ophile Le Grand de la Liraye, một nh� truyền gi�o tại An Nam trong gần 20 năm, c� một sự quen biết qu� b�u, v� hiểu ng�n ngữ r�nh rọt.� Bonard đ� b�i bỏ C�c Chức Gi�m Đốc C�c Sự Vụ Bản Xứ của Charner, v� cố gắng t�i lập ch�nh quyền địa phương của An Nam bằng c�ch phục hồi c�c phủ v� c�c huyện, do c�c người An Nam trung th�nh đảm tr�ch, lu�n lu�n được gi�m thị bởi một số �t c�c Thanh Tra C�c Sự Vụ Bản Xứ người Ph�p, dưới quyền một Ch�nh Thanh Tra tại S�ig�n.� Trong chức vụ quan trọng n�y, �ng đ� bổ nhiệm một phụ t� của �ng, Đại �y Hải Qu�n Gabriel Aubaret.

 

���� Nhiệm vụ n�y rất kh� khăn.� Gần như kh�ng thể dẫn dụ được c�c người An Nam c� uy t�n trong số c�c đồng sự của họ ở lại v� phục vụ dưới tay người Ph�p.� C�ng việc của c�c sĩ quan trẻ người Ph�p bị trở ngại v� kh�ng c� kiến thức về phong tục v� c�c định chế An Nam, v� thế cần thiết lập một ch�nh quyền được l�ng d�n v� th�ng minh.� C�c linh mục truyền gi�o hiểu biết v� c� thể giảng dạy ng�n ngữ, nhưng một sự hiểu biết ch�nh x�c về c�c định chế v� phong tục chỉ t�m thấy trong c�c kinh s�ch v� bản thảo, thường viết bằng chữ H�n v� chỉ c� thể được tiếp cận với sự kh� khăn.� Hệ thống n�y thường bị xem l� kh�ng th�nh c�ng, v� bị thay thế sau n�y; nhưng n� đ� đ�o tạo được một nh�m tuyệt vời c�c nh� h�nh ch�nh, c�c kẻ th�m hiểm, v� c�c nh� nghi�n cứu � Ch�u học trẻ tuổi.� Aubaret, Vial, Harmand, Philastre, Doudart de Lagr�e, Garnier, Luro, Delaporte, Moura, Aymonier, Pavie � đ�y l� một số nh�n vật trong số c�c sĩ quan trẻ của Hải Qu�n Ph�p đ� đặt ch�n l�n bờ biển Nam Kỳ dưới chế độ C�c Đ� Đốc-Thống Đốc (Admiral Governors).� C�c văn gia Anh Quốc v� Mỹ cần khảo s�t c�c th�nh quả của nh�m v� địch n�y trước khi kết luận � như đ�i khi họ l�m như thế -- rằng Ph�p thiếu khả năng để cai trị c�c d�n tộc c� nền văn h�a v� sự huấn luyện thấp k�m hơn.

 

���� Gabriel Aubaret đ� l� kẻ đầu ti�n trong c�c sĩ quan trẻ n�y tự trau dồi một c�ch ho�n hảo trong việc học hỏi ng�n ngữ v� c�c định chế An Nam.� Anh ta đ� đến bờ biển Trung Hoa với tư c�ch một Trung �y Hải Qu�n năm 1858 (5) v� đ� học tiếng H�n tại đ�.� Anh ta đ� tới Nam Kỳ c�ng với Đ� Đốc Charner hồi đầu năm 1861, v� trước cuối năm đ� anh ta đ� ấn h�nh một quyển ngữ vựng tiếng An Nam.� Bản dịch của anh ta Bộ Luật An Nam gồm hai quyển (được ấn h�nh tại Paris năm 1865) c� mang Lời Đề Tựa ghi nhật kỳ l� ng�y 1 Th�ng T�m, 1862.� Bản dịch của anh ta từ tiếng H�n quyển Lịch Sử v� Sự M� Tả V�ng Hạ Lưu Nam Kỳ (Histoire et Description de la Basse-Cochin-Chine) c� ghi nhật kỳ năm 1863.� Anh ta cũng ấn h�nh một quyển văn phạm tiếng An Nam trong năm 1864.� Khi người An Nam cầu h�a, anh ta đ�ng vai th�ng dịch vi�n trong c�c cuộc thương thuyết giữa Đ� Đốc Bonard v� nh� ch�nh kh�ch v� ngoại giao vĩ đại của An Nam, �ng Phan-than-Giảng [trong nguy�n bản, t�n l�t v� t�n gọi bị viết sai l� Than Giang, phải l� Thanh Giản mới đ�ng ch�nh tả, ch� của người dịch].

 

���� Bản hiệp ước ng�y 5 th�ng S�u năm 1862 (1) d�nh cho c�c nh� truyền gi�o Ph�p v� T�y Ban Nha quyền được giảng đạo v� h�nh đạo t�n gi�o của họ khắp c�i An Nam, v� dự liệu rằng người An Nam c� thể đi theo đạo Thi�n Ch�a (Điều 2); (2) nhường c�c tỉnh Bi�n H�a, Gia Định (S�ig�n) v� Định Tường (Mỹ Tho) v� đảo C�n Sơn (Poulo Condore) cho Ph�p v� d�nh cho c�c t�u thuyền Ph�p quyền lưu h�nh tr�n s�ng Cửu Long v� tr�n tất cả c�c phụ lưu của n� (Điều 3); (3) mở cửa c�c hải cảng Đ� Nẵng (Tourane), B� Lac [?Lạt] v� Quảng An cho c�ng cuộc thương mại của Ph�p v� T�y Ban Nha (Điều 5); v� (4) dự liệu rằng An Nam phải trả một khoản bồi thường l� $400,000 đ� la (7) mỗi năm trong mười năm (Điều 8).� Một thời kỳ l� một năm được d�nh cho sự ph� chuẩn, sau đ� lễ trao đổi sự ph� chuẩn sẽ diễn ra tại Huế (Điều 12). (8)

 

 

SỨ BỘ PHAN-THANH-GIẢN TẠI PARIS

V� C�C QUAN ĐIỂM CỦA AUBARET, 1863-65.

 

���� Hiệp ước ng�y 5 th�ng S�u, 1862 đ� kh�ng được ph� chuẩn, v� chiến sự đ� kh�ng ngừng khi, trong th�ng Mười Hai, 1862, một ph�i đo�n An Nam đ� đến S�ig�n với phần thanh trả đầu ti�n của khoản bồi thường.� Họ đ� đề nghị một sự tu chỉnh hiệp ước, theo đ� sự cắt nhượng ba tỉnh sẽ được b�i bỏ, thay v�o đ� l� một khoản bồi thường to lớn.� Lời y�u cầu n�y chắc hẳn kh�ng l�m vui l�ng Đ� Đốc Bonard, kẻ đ� đưa một điều khoản li�n quan đến sự cắt nhượng c�c tỉnh v�o trong bản hiệp ước, m� kh�ng hề c� c�c chỉ thị từ Paris v� tr�i với sự cố vấn của Aubaret nhưng với sự chấp thuận đồng t�nh của phần lớn c�c sĩ quan kh�c tại S�ig�n v� với sự chấp thuận kh�ng c�ng khai nhưng được hiểu ngầm của Bộ Trưởng Hải Qu�n, Hầu Tước Chasseloup-Laubat, v� của Đ� Đốc (giờ đ�y l� Thượng Nghị Sĩ) Rigault de Genouilly.� Ch�nh v� thế, c�c vấn đề đứng y�n tại chỗ cho đến th�ng Tư năm 1863, khi sự ph� chuẩn đến từ Paris v� được trao đổi tại Huế, Ph� Đ� Đốc Bonard quay về Paris trong c�ng th�ng đ� để nghỉ dưỡng bệnh, giao quyền chỉ huy trong khi �ng vắng mặt cho Đề Đốc Pierre de Lagrandi�re.� Bonard mang theo �ng ta một bản sao tờ hiệp ước đ� được ph� chuẩn. (9)

 

���� Nhưng người An Nam lấy l�m bất b�nh s�u xa về sự cắt nhượng ba tỉnh.� Aubaret chống lại sự cắt nhượng v� đ� đệ tr�nh một kế hoạch được gọi l� �kế hoạch Aubaret�, sẽ chỉ d�nh cho Ph�p th�nh phố S�ig�n v� cửa con s�ng, c�ng một sự bảo hộ tr�n s�u tỉnh đ� sẵn bị chinh phục.� Th�ng Mười Hai, 1863, một sứ bộ An Nam cầm đầu bởi Phan Thanh Giản rời đi Paris để n�u vấn đề l�n Ho�ng Đế Napol�on III.� Aubaret th�p t�ng ph�i bộ n�y v� b�nh vực kế hoạch của m�nh trước ch�nh phủ Ph�p.� Nội vụ kh�ng ho�n to�n v� vọng.� Một phe đ�ng kể tại Ph�p chống đối bất kỳ sự can thiệp n�o tại c�c xứ sở xa xăm.� Những người kh�c, kể cả Napol�on v� nhiều bộ trưởng của �ng, quan t�m s�u xa về vụ Maximilian tại Mễ T�y Cơ (Mexico), vừa phải g�nh chịu một sự thất trận nghi�m trọng.� Cuộc viễn chinh đ� g�y tổn ph� một ng�n khoản khổng lồ v� nhiều người theo phe b�nh trướng nghi�ng về việc đ�nh đổi Nam Kỳ lấy một khoản bồi thường lớn nhất m� họ c� thể đ�i được.� Trong diễn văn từ tr�n ngai v�ng h�m 6 th�ng Mười Một năm 1863, Napol�on III cảm thấy cần thiết để xin lỗi về c�c cuộc viễn chinh xa x�i n�y v� để giải th�ch rằng ch�ng đ� kh�ng được dự liệu trước. (10)� Phan-Thanh-Giản, với sự trợ gi�p của Aubaret, đ� thỉnh cầu nội vụ l�n Ho�ng Đế v� đ� được bảo quay trở về An Nam với lời hứa hẹn rằng bản hiệp ước sẽ được sửa đổi đ�ng theo c�c � muốn của �ng. (11)� �ng về đến S�ig�n h�m 18 th�ng Ba năm 1864. (12)

 

���� Trước khi khởi h�nh đi Ph�p, Aubaret, với tư c�ch Ch�nh Thanh Tra C�c Sự Vụ Bản Xứ, c� trợ lực v�o việc soạn thảo hiệp ước ng�y 11 th�ng T�m năm 1863 với Norodom, trong đ� Chế Độ Bảo Hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt được thừa nhận.� Aubaret t�n th�nh một chế độ bảo hộ hỗn hợp mềm mỏng của Ph�p v� Xi�m La tr�n Căm Bốt, tương tự như chế độ sau n�y được du nhập v�o trong bản hiệp ước của �ng.� Ch�nh �ng l� kẻ, đầu ti�n v� hầu như độc nhất trong số c�c vi�n chức Ph�p tại Đ�ng Dương, t�n th�nh một sự thừa nhận lời tuy�n x�c của Xi�m La tr�n c�c tỉnh Battambang v� Angkor. (13)� Việc n�y g�y ra một sự bất đồng giữa �ng v� Đ� Đốc Lagrandi�re, v� �ng sớm được thay thế trong chức vụ phụ t� v� Ch�nh Thanh Tra C�c Sự Vụ Bản Xứ bởi Trung �y Hải Qu�n Adrian (Henri) Rieunier, một người trẻ với c�c tư tưởng ho�n to�n kh�c biệt.

 

���� Trong khi ở Paris, Aubaret được bổ nhiệm l�m Xử L� Đại Biện ở Huế v� L�nh Sự tại Vọng C�c v� nhận chỉ thị để thương thảo c�c hiệp ước ở cả hai nơi trong đ� sẽ thể hiện c�c quan điểm của �ng.� Đ�y l� một chiến thắng to�n diện cho Aubaret.� �ng mang trở lại bản hiệp ước An Nam đ� được sửa đổi cũng như bản hiệp ước Căm Bốt đ� được ph� chuẩn, l� bản văn c� lẽ �ng đ� cầm theo khi về Paris.� Từ Singapore, �ng đ� gửi c�c bản hiệp ước về S�ig�n, trong khi �t ng�y sau đ� �ng đ� l�n t�u chở thư t�n Entrecasteaux để đến Vọng C�c nhằm chuyển giao một l� thư viết tay của Ho�ng Đế [Napopl�on III] gửi Quốc Vương Xi�m La.� �ng đến Vọng C�c h�m 14 th�ng Tư năm 1864 v� đ� được tiếp đ�n với sự long trọng lớn lao bởi Quốc Vương v� c�c quan chức trong ng�y kế đ�.(14) Phya Montrey Sorivong, nh� ngoại giao vĩ đại v� anh em của Kralahome, l�n chiếc t�u Entrecasteaux đến S�ig�n tr�n đường đi Oudong, nơi �ng sẽ đại diện cho Xi�m La tại buổi lễ đăng quang ch�nh thức của Norodom l�n l�m Vua xứ Căm Bốt.� Khi Aubaret l�m xong c�ng việc của m�nh tại Vọng C�c, �ng tiếp tục sang S�ig�n, nơi �ng ta được đ�n tiếp rất lạnh nhạt bởi Đề Đốc de Lagrandi�re, giờ đ�y đảm nhận chức Thống Đốc Nam Kỳ.(15)� �ng tiếp tục l�n đường đến Huế bằng con t�u Entrecasteaux, nơi tại triều đ�nh �ng được đ�n tiếp với sự hoan h� lớn lao v� được ph�p cho ngồi ở bậc thang dẫn l�n ngai v�ng, một danh dự chưa từng được ban cho một người ngoại quốc n�o trước đ�y.(16)� Nhưng c�c sự thương thảo sớm bị đ�nh trệ, bởi An Nam kh�ng c� tiền v� đưa ra c�c sự phản đối về việc trả một khoản bồi thường lớn hơn.� Giao tranh vẫn c�n tiếp diễn ở một số địa điểm, v� sự việc bắt đầu trở n�n r� rệt, ngay cả đối với Aubaret, rằng Vua Tự Đức đang mua thời gian, trong khi c�c mệnh lệnh đến từ Paris đ� chỉ thị h�y đ�nh chỉ c�c sự thương thảo.

 

���� Hầu tước Chasseloup-Laubat, Bộ Trưởng Hải Qu�n, v� Rigault de Genouilly tiếp tục tranh đấu cho sự s�p nhập c�c tỉnh, v� v�o cuối năm 1864, Đ� Đốc Lagrandi�re đ� ph�i Trung �y Rieunier về Paris để thỉnh cầu cho l� lẽ của họ. (17)� Anh trung �y n�y l�m việc rất hiệu quả đến nỗi trong th�ng Một năm 1865, sau khi nghi�n cứu bản b�o c�o của Bộ trưởng Hải Qu�n, Napol�on III đ� gửi thư cho Aubaret loan b�o sự từ chối dứt kho�t của �ng l� kh�ng t�n th�nh c�c đề nghị xin chuộc lại [c�c tỉnh đ� mất] được đưa ra bởi ph�a An Nam. (18)� Bởi thế, phe đ�i s�p nhập sau c�ng đ� chiến thắng, v� Ph�p đ� trụ lại ở Nam Kỳ.� Đối với nh�m nhỏ n�y, v� c� lẽ ch�nh yếu với Đ� Đốc Lagrandi�re, việc đ� th�ch ứng với sự hiện diện thường trực của Đế Quốc Ph�p tại Đ�ng Dương v�o thời điểm n�y.� Kẻ chống đối ch�nh yếu ch�nh s�ch đ�, trong số c�c vi�n chức của Đ�ng Dương, l� Gabriel Aubaret, l� kẻ, như được thấy, giờ đ�y đ� thua trong cuộc đấu của �ng ta tại An Nam.� Hiệp ước ng�y 5 th�ng S�u năm 1862 v� sự s�p nhập ba tỉnh vẫn kh�ng bị thay đổi.

 

 

AUBARET V� HIỆP ƯỚC NG�Y 14 TH�NG TƯ NĂM 1865 VỚI XI�M LA

 

���� Khi nhận được bản hiệp ước với Căm Bốt ng�y 11 th�ng T�m năm 1863 đ� được ph� chuẩn, Đại �y Esnest Doudart de Lagr�e, người được cử nhiệm l�m Tr� Sứ Ph�p tại Căm Bốt, đ� long trọng tuy�n c�o Chế Độ Bảo Hộ Của Ph�p h�m 12 th�ng Tư, 1864 (hai ng�y trước khi Aubaret đến Vọng C�c) v� cho �p dụng tức thời chế độ n�y.� Ng�y mồng 3 th�ng S�u năm 1864 được d�nh cho lễ đăng quang của Norodom. �Một nghi thức ngoại giao được sắp xếp theo đ� buổi lễ gia miện sẽ được thực hiện bởi c�c đại diện của Quốc Vương Xi�m La v� Thống Đốc Nam Kỳ, với sự hiện diện của Tr� Sứ Ph�p.� Như ch�ng ta thấy, Montrey Sorivong được ph�i tới từ Vọng C�c cho dịp n�y.� Đ� Đốc Lagrandi�re đ� cử Ch�nh Văn Ph�ng của m�nh, Đại �y D�smoulins l�m đại diện cho �ng. (19)

 

���� Tất cả c�c nhượng bộ n�y đối với Xi�m La l�m tức giận c�c vi�n chức Ph�p tại Đ�ng Dương, c�c kẻ ủng hộ bản hiệp ước với An Nam v� chịu tr�ch nhiệm về bản hiệp ước với Căm Bốt � Lagrandi�re, Doudart de Lagr�e, Rieunier, v� những người kh�c.� Đối với họ, c�c lời tuy�n x�c của Xi�m La trong nội vụ c� thể kh�ng cần xem x�t đến.� Nước Ph�p thừa kế c�c quyền hạn của An Nam tại Căm Bốt, v� Căm Bốt đ� chấp nhận sự bảo hộ của Ph�p.� Đối với ho, Xi�m La kh�ng c� d�nh d�ng g� đến lễ đăng quang v� kh�ng c� c�c sự x�c quyết hợp l� tr�n c�c tỉnh Battambang v� Angkor, c�c phần đất c� thể t�i s�p nhập về Căm Bốt t�y � m�nh [tức của Ph�p].� Nh�m n�y tố c�o Aubaret đ� tr�nh b�y sai lạc tại triều đ�nh Ph�p về t�nh trạng thực sự tại Đ�ng Dương, đ� ph�ng đại c�c quyền hạn của Xi�m La v� sự nguy hiểm nếu x�c phạm n�. (20)� Xi�m La đ� lợi dụng tối đa t�nh h�nh.� Montrey Sorivong đ� từng đến �u Ch�u trong một sứ mệnh ngoại giao, đ� gặp gỡ Napol�on III v� c� hay biết về c�c sự bất đồng tại triều đ�nh Ph�p.� Sau khi đội vương miện, trước sự ngạc nhi�n của Ph�p v� kh�ng hề c� sự dự liệu n�o trong chương tr�nh, Montrey Sorivong đ� đọc một văn bản, bằng tiếng Xi�m La, trong đ� �ng duyệt x�t c�c quan hệ của Xi�m La với Căm Bốt v� t�i x�c nhận c�c sự tuy�n x�c của Xi�m La tr�n Battambang v� Angkor. (21)

 

���� V�i tuần sau đ�, Đ� Đốc Lagrandi�re v� c�c đồng sự của �ng tại Đ�ng Dương c�n gặp phải một sự bất ngờ kh�c khi họ đọc số ra ng�y 20 th�ng T�m, năm 1864 của tờ Straits Times ở Singapore, rằng Xi�m La đ� k� kết một mật ước với Norodom h�m 1 th�ng Mười Hai năm 1863, trao cho Xi�m La sự bảo hộ tr�n Căm Bốt, trong thực tế, tương đương với điều đ� chấp thuận cho Ph�p qua hiệp ước ng�y 11 th�ng T�m, năm 1863.� Trong mật ước n�y, Căm Bốt được xem l� nước chư hầu đối với Xi�m La v� Norodom được gọi l� �Ph� Vương, Kinh Lược Sứ; Viceroy.�� Lời tuy�n nhận của Xi�m La x�c định rằng Battambang v� Angkor c�ng l�nh thổ kh�c của Căm Bốt thuộc quyền chiếm hữu của Xi�m La; v� ngay cả c�c tỉnh Pursat v� Kompong Svai cũng vẫn nằm trong tay của Xi�m La cho đến khi người Xi�m cảm thấy được đối xử với sự thỏa m�n ho�n to�n. (22)� R� r�ng v�o thời điểm n�y Xi�m La t�y thuộc v�o sự chống đối của triều đ�nh Ph�p đối với c�c hao tổn về sinh mạng v� tiền bạc cho c�c cuộc mạo hiểm xa x�i như thế.� Trong thực tế chắc chắn l� Montrey Sorivong đ� thuyết phục Norodom, hầu c� thể khuyến dụ �ng ta k� kết mật ước, rằng Ph�p sẽ sớm lui khỏi Đ�ng Dương. (23)

 

���� Sự c�ng bố bản mật ước g�y bối rối cho phe chủ trương s�p nhập của Ph�p v� đặt một luận điệu kh�c v�o tay phe chống đ�i.� Để thỏa m�n sự đối lập tại Paris, giờ đ�y cần đi đến một sự thỏa hiệp với Xi�m La hay từ bỏ chiến trường.� Xi�m La phải hay biết rằng n� kh�ng thể ngăn cản Ph�p thi h�nh chế độ bảo hộ tr�n Căm Bốt; nhưng x�c định sự tuy�n nhận của n� tr�n Battambang v� Angkor v� c� hay biết về sự bất đồng quan điểm tại triều đ�nh Ph�p, Xi�m La đ� bảo vệ -- v� lại c�n ph� trương � bản mật ước v� trị gi� mặc cả của n� tại ph�ng họp ch�nh phủ.� C�i gi� cho sự từ bỏ mật ước l� sự thừa nhận lời tuy�n x�c của Xi�m La tr�n Battambang v� Angkor.� Vi�n thưốc đắng cay nhất đối với Đ� Đốc Lagrandi�re v� c�c người ủng hộ �ng ch�nh l� L�nh Sự Aubaret, kẻ đ� đề nghị một chế độ bảo hộ hỗn hợp tr�n Căm Bốt trong năm 1863 v� t�n th�nh việc thỏa m�n lời tuy�n x�c của Xi�m La tại triều đ�nh Ph�p v� trong m�a đ�ng kế đ�, (24) đ� được ph�p thảo lập một hiệp ước đ�ng theo c�c quan điểm của �ng v� để thỏa m�n c�c đ�i hỏi của Xi�m La.� V� vi�n L�nh Sự lại kh�ng nằm dưới quyền kiểm so�t của Đ� Đốc-Thống Đốc Nam Kỳ.

 

���� Tuy nhi�n, cần ghi nhận rằng mặc d� n�i chung Aubaret sẵn l�ng thừa nhận nhiều lời tuy�n x�c của Xi�m La tr�n Căm Bốt, �ng ta đ� thất vọng bởi điều �ng xem l� sự lọc lừa của bản mật ước.� Sau �khi nhận được c�c chi tiết của bản mật ước, �ng đ� y�u cầu, hồi cuối th�ng Ch�n năm 1864, một sự giải th�ch từ Kralahome (Thủ Tướng Xi�m La).� Một sự trao đổi quan điểm giữa Aubaret với Kralahome cho thấy rằng Xi�m La sẵn l�ng thực hiện c�c sự thay đổi trong mật ước.� Aubaret đ� b�o c�o về Paris h�m 5 th�ng Mười năm 1864 v� trong th�ng Một, năm 1865 �ng nhận được c�c chỉ thị bổ t�c cho ph�p �ng thương thảo với Xi�m La về sự b�i bỏ bản mật ước. (25)

 

���� Trong th�ng Tư, năm 1865 L�nh Sự Aubaret � kẻ cũng ki�m nhiệm chức Xử L� Đại Biện tại Huế -- đ� quay trở lại Vọng C�c để t�i lập c�c cuộc điều đ�nh.� �ng c� vẻ đ� từ S�ig�n đi ngược gi�ng tr�n con t�u vũ trang Mitraille, đ� đến nơi h�m 9 th�ng Tư. (26)� V�o ng�y 14 th�ng Tư, �ng k� kết một bản hiệp ước với Phya Sorivong. (27)� Như ch�ng ta sẽ thấy sau n�y, đ� c� một sự nhầm lẫn lớn lao trong đầu �c của một số t�c giả Hoa Kỳ viết về đề t�i n�y.(28)� Bản hiệp ước n�y kh�ng được t�m thấy trong bất kỳ sưu tập t�i liệu n�o, bởi v� n� kh�ng bao giờ được ph� chuẩn bởi ch�nh phủ Ph�p v� ch�nh v� thế, chưa bao giờ được mang ra thi h�nh.� C�c điều khoản của n�, như được tr�nh b�y bởi Đại t� Bernard, như sau (theo bản dịch của t�c giả b�i viết n�y): (29)

 

Điều I: Quốc Vương Xi�m La thừa nhận v� x�c định một c�ch long trọng sự Bảo Hộ của Ho�ng Đế nước Ph�p tr�n vương quốc Căm Bốt.

 

Điều II: Hiệp ước được k� kết hồi th�ng Mười Hai năm 1863 giữa Quốc Vương Xi�m La v� Nh� Vua Căm Bốt được tuy�n bố l� bị hủy bỏ v� kh�ng c� gi� trị, v� ch�nh phủ Xi�m La sẽ kh�ng dẫn chứng n� trong tương lai dưới bất kỳ t�nh huống n�o.

 

Điều III: Ho�ng Đế nước Ph�p, mong muốn rằng vương quốc Căm Bốt sẽ phải được tự do v� độc lập trong tương lai v� giải kết khỏi mọi quy chế chư hầu, cam kết sẽ kh�ng chiếm giữ đất đai của vương quốc n�y để s�p nhập v�o phần sở hữu của Ph�p tại Nam Kỳ.

 

Điều IV: C�c bi�n giới của c�c tỉnh Battambang v� Angkor, cũng như c�c bi�n giới miền L�o thuộc Xi�m gi�p ranh Căm Bốt, được chấp nhận v� thừa nhận bởi Ph�p� như ch�ng hiện c� v�o ng�y k� kết sự d�n xếp n�y.� Sự ph�n ranh x�c thực c�c bi�n giới n�y sẽ được thực hiện, với sự trợ gi�p của c�c bảng đ�nh dấu v� cột mốc, bởi một ủy hội c�c vi�n chức Xi�m La v� Căm Bốt dưới sự gi�m s�t của c�c sĩ quan Ph�p.� Sự ph�n ranh n�y c� một mục đ�ch đặc biệt l� nhằm ngăn chặn bất kỳ sự x�m nhập quấy nhiễu của người Căm Bốt v�o l�nh thổ Xi�m La hay của người Xi�m La v�o l�nh thổ Căm Bốt.

 

Điều V: Vương quốc Căm Bốt được thừa nhận l� tự do v� độc lập.� Vương quốc n�y kh�ng phải chịu dưới bất kỳ quyền b� chủ n�o v� do đ� nằm giữa c�c phần đất sở hữu của Ph�p một b�n v� vương quốc Xi�m La ph�a b�n kia.

 

���� Tuy nhi�n, v� trong sự cứu x�t đến c�c phong tục cổ truyền, Nh� Vua Căm Bốt sẽ c� quyền b�y tỏ l�ng t�n phục đối với Quốc Vương Xi�m La c�ng l�c như đối với Ho�ng Đế nước Ph�p, nhưng điều cần phải được th�ng suốt rằng sự t�n s�ng n�y chỉ l� một biểu hiệu của l�ng k�nh trọng, kh�ng ảnh hưởng bất kỳ c�ch n�o đến nền độc lập trọn vẹn của Căm Bốt.

 

���� Nếu Nh� Vua Căm Bốt mong muốn, như trong qu� khứ, gửi c�c tặng phẩm l�n Quốc Vương Xi�m La, ch�nh phủ Ph�p sẽ kh�ng xen v�o bất kỳ trở ngại n�o.� Ch�nh phủ n�y sẽ kh�ng chống đối trong bất kỳ phương c�ch n�o c�c quan hệ th�n hữu m� Căm Bốt c� thể mong ước đem ra đối đ�i với Xi�m La.

 

Điều VI: C�c h�ang tử Căm Bốt quen cư tr� tại vương quốc Xi�m La, ch�nh phủ Ph�p sẽ kh�ng ngăn cản điều n�y trong tương lai; v� nếu c�c ho�ng tử n�y muốn sống trong l�nh thổ Ph�p, ch�nh phủ Xi�m La sẽ kh�ng chống lại điều n�y trong bất kỳ phương c�ch n�o.

 

Điều VII: Ch�nh phủ Ph�p cam kết sẽ khiến cho Căm Bốt phải t�n trọng mọi mục khoản chứa đựng trong c�c điều kh�c nhau của bản thỏa thuận n�y.

 

���� Như nhiều người dễ d�ng nhận thấy, bản hiệp ước n�y mang c�c dấu ấn của tư tưởng của L�nh Sự Aubaret.� Xi�m La thừa nhận chế độ Bảo Hộ Ph�p tr�n Căm Bốt v� tuy�n bố bản mật ước của n� bị hủy bỏ v� v� hiệu.� Đổi lại, Ph�p chấp thuận sự tuy�n x�c của Xi�m La, kh�ng chỉ tr�n Battambang v� Angkor, m� c�n đối với tất cả c�c l�nh địa kh�c m� Xi�m La đ� chiếm đoạt từ Căm Bốt v� L�o � Mlu Prey, Tonl� Repu, Stung Treng, v� �miền L�o thuộc Xi�m La� � ngay cả, �t nhất trong tạm thời, c�c tỉnh Pursat v� Kompong Svai, phần m� Xi�m La chưa bao giờ chiếm giữ trước đ�, (30) nhưng Norodom đ� d�ng hiến cho sư phụ cũ của �ng ta, nếu Mongkut sẽ bảo vệ cho phần l�nh thổ c�n lại của �ng ta chống lại người An Nam v� người Ph�p. (31)� Mongkut hiển nh�n l� kh�ng thể l�m tr�n lời hứa n�y v� thay v�o đ� cố t�m c�ch giữ n�, giờ đ�y �ng ta đang cướp đoạt người bạn của �ng ta một c�ch đầy xảo quyệt một phần đất lớn từ l�nh thổ đ� như một khoản tưởng thưởng cho việc thừa nhận quyền b� chủ của Ph�p tr�n phần l�nh thổ c�n lại.

 

���� Hơn thế nữa, sau khi x�c định Chế Độ Bảo Hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt, bản hiệp ước đ� tiến h�nh sự ti�u hủy n� (1) bằng c�ch tuy�n bố Căm Bốt được tự do v� độc lập (Điều V), v� (2) bằng c�ch cho ph�p Xi�m La (a) được nhận sự t�n phục của Căm Bốt (Điều V) v� (b) tiếp tục giữ c�c ho�ng tử của Căm Bốt l�m con tin (Điều VI).� Thật kh� để nh�n thấy l� do tại sao một đại diện của một cường quốc �u Ch�u, c� thể �p đặt theo � muốn của m�nh, lại thảo lập ra một hi�p ược một chiều như thế, chống lại c�c quyền lợi hiển nhi�n của chủ nh�n �ng, kể cả việc bỏ rơi c�c quyền lợi của kẻ được bảo trợ, để nghi�ng về c�c quyền lợi của đối thủ của n�. C�u trả lời được t�m thấy nơi c�c � tưởng c� nh�n của Aubaret, được hậu thuẫn bởi sự đối lập của phe chống b�nh trướng tại Paris v� c� thể, đến một số mức độ n�o đ�, bởi nỗi lo sợ về c�c sự rắc rối với Anh Quốc.

 

 

SỰ TIẾP NHẬN �HIỆP ƯỚC AUBARET�

 

���� �Hiệp ước Aubaret� nổi tiếng như thế, hiếm khi được tr�ch dẫn hay đọc tới, v� xuất hiện nơi đ�y, với sự tin tưởng rằng đ�y l� lần đầu ti�n trong một ấn phẩm bằng Anh ngữ tại Hoa Kỳ.� Landon n�i rằng n� được ph� chuẩn trong năm 1867. (32) Như sẽ được nhận thấy sau n�y, �hiệp ước Aubaret� đ� kh�ng bao giờ được ph� chuẩn, v� đ� bị thay thế bởi hiệp ước năm 1867, vốn được thương thảo tại Paris v� được k� kết bởi Hầu Tước de Moustier về ph�a Ph�p v� hai sứ giả Xi�m La về ph�a Xi�m La.� V� thế, kh� c� thể nh�n thấy l� chỉ với sự xuất hiện của chiến thuyền vũ trang Mitraille của Ph�p trong th�ng Tư năm 1865 lại đ� �cưỡng b�ch� hay �khuyến dụ� được c�c nh� ngoại giao Xi�m La tại Paris k� kết v�o một hiệp ước trong năm 1867, như Landon xem ra muốn bắn tin. (33) Bốn điều khoản Landon tr�ch dẫn, nhưng kh�ng x�c định từ bản hiệp ước n�o m� ch�ng đ� được r�t ra, ngo�i việc gọi đ� l� �bản hiệp ước mới� m� kh�ng đưa ra nguồn gốc tin tức, th� kh�ng phải đến từ �hiệp ước Aubaret� v� ch�nh v� thế chỉ c� thể li�n kết một c�ch lung mung với sự xuất hiện của một chiếc thuyền vũ trang của Ph�p tại Vọng C�c hồi th�ng Tư 1865.

 

���� Vua v� c�c quan chức Xi�m kh�ng c� vẻ phản đối bản �hiệp ước Aubaret.�� N� rất c� lợi cho họ, v� c�c quan hệ ch�nh thức cho đến thời điểm đ� giữa Ph�p v� Xi�m La xem ra kh�ng thiếu sự mật thiết.� Sự sử dụng một chiếc thuyền vũ trang nhỏ để chuy�n chở một vi�n chức kh�ng c� g� phải kinh ho�ng hay kh�c thường tại một v�ng v� ở một thời kỳ khi m� sự lưu th�ng h�nh kh�ch thường lệ c�n bị hạn chế, (34) v� một cuộc thăm viếng của một chiếc t�u vũ trang kh�ng c� g� phải b�o động trừ khi được k�m theo bằng c�c sự đe dọa.� Nhưng người Anh, m� ảnh hưởng đương gia tăng tại triều đ�nh Xi�m La, đ� khai th�c tối đa những g� họ c� thể l�m được từ sự vụ.� Từ Montigny đến Aubaret, nước Ph�p chỉ được đại diện một c�ch yếu k�m tại Vọng C�c, v� ảnh hưởng của họ theo đ� cũng suy giảm.� Mặt kia, người Anh đ� mở rộng ảnh hưởng của họ một c�ch lớn lao.(35)� Ngo�i ra, một c�ch tổng qu�t, họ được đại diện vững mạnh tại Vọng C�c.� Ng�i (Sir) John Bowring, người đ� thương thảo hiệp ước Anh Quốc năm 1855, giờ đ�y l� một thứ đại sứ lưu động cho Xi�m La tại �u Ch�u, v� b� Anna Leonowens, một quả phụ Anh trẻ tuổi tại Singapore, kẻ l�m c� gi�o của c�c con của Quốc Vương Mongkut, đ�i khi cũng phục vụ như thư k� cho Quốc Vương phụ tr�ch thư từ với �u Ch�u của �ng.� Một nh� truyền gi�o y sĩ Hoa Kỳ, Dan Beach Bradley, l� một trong c�c b�c sĩ của Quốc Vương v� vừa khởi sự cho ra một trong những tờ b�o đầu ti�n tại Xi�m La.� Cả b� Leonowens v� B�c Sĩ Bradley c� vẻ l� rất chống Ph�p v�, c�ng với L�nh Sự Anh, �ng Knox cũng như Kralahome (kẻ gặp kh� khăn với Ph�p tại Căm Bốt v� chịu tr�ch nhiệm về bản mật ước) đ� t�m mọi cơ hội để l�m mất uy t�n Ph�p.

 

���� Những người n�y đ� khởi sự c�ng k�ch Aubaret ngay từ trước khi bản hiệp ước được lập ra, v� khi c�c điều khoản của n� được giả định phải giữ k�n.� Kh�ng c� điều n�o trong c�c b�i viết của b� Leonowens, B�c Sĩ Bradley, hay bất kỳ ai trong số người theo họ cho thấy rằng bất kỳ người n�o trong họ lại c� được sự hiểu biết s�u sắc nhỏ nhoi nhất về t�nh khi thực sự của Aubaret hay nhiệm vụ thực sự của �ng ta tại Vọng C�c.� V�o ng�y 9 th�ng Tư năm 1865, �ng Bradley c� ghi trong nhật k� của �ng như sau: �Chiến thuyền Ph�p Mistraille (Sic: giữ nguy�n theo nguy�n văn) đến nơi v�o buổi s�ng đ�ng l� đ� tạo ra một sự hoảng loạn bởi n� đến để cưỡng �p (compel) Ch�nh Phủ Xi�m La phải b�i bỏ hiệp ước mới nhất của họ với nh� vua Căm Bốt� (36) (chữ viết nghi�ng l� của t�c giả).� Bản hiệp ước Aubaret tức thời xuất hiện tr�n tờ b�o mới được ấn h�nh gần đấy của Bradley, với một số nhận x�t ch� bai khiến cho một Aubaret nhạy cảm v� tỉ mẩn tức thời phản đối với Quốc Vương Mongkut. (37)� Việc n�y xem ra đ� khởi đầu cho chiến dịch lăng mạ Aubaret, được tiếp tục tr�n tờ b�o của Bradley v� trong c�c b�i viết của b� Leonowens (38) v� mới được l�m sống lại hồi gần đ�y bởi c�c t�c giả Kenneth P. Landon v� Margaret Landon, (39) nhưng trong đ� xem ra chỉ c� �t bằng chứng về sự tham gia của Xi�m La l�c bấy giờ.

 

Tuy nhi�n, cần phải ghi nhận rằng khi Aubaret khởi h�nh về Ph�p sau cuộc điều đ�nh cho bản hiệp ước, một �tập t�i liệu ch� bai �ng ta đ� được lưu h�nh dưới nhan đề �một th�ng tri li�n quan đến tư c�ch của �ng G. Aubaret, l�nh sự của Ho�ng Đế Oai Nghi�m của nước Ph�p tại Vọng C�c.�� T�c giả t�i liệu n�y được quy kết, bởi vi�n quyền l�nh sự Ph�p, cho nh�m th�n Anh Quốc của Thủ Tướng Xi�m La v� đ� đổ lỗi việc x�i dục ấn h�nh n� cho vi�n l�nh sự Anh Quốc.� (40)� Trong thực tế, tất cả c�c c�o buộc chống lại Aubaret đều c� thể truy nguy�n đến Thủ Tướng Xi�m La hay phe Anh Quốc, hay �t nhất được x�c quyết như thế bởi người Ph�p, v� xem ra c� vẻ đ�ng như vậy. �C�c động lực của Kralahome c� vẻ nhằm l�m người Ph�p mệt mỏi bằng c�ch k�o d�i c�c cuộc thương thảo v� bằng c�ch lợi dụng phe ở Paris chống đối sự b�nh trướng tại Đ�ng Dương, cho đến khi người Ph�p ho�n to�n r�t ra khỏi b�n đảo.� Thoạt ti�n điều n�y xem ra kh�ng phải l� ho�n to�n v� l�. (41)� Đương nhi�n l� phe Anh Quốc c� trợ gi�p với sự tuy�n truyền của họ.

 

���� Bản hiệp ước dự ph�ng n�y được k� kết bởi Aubaret v� Phya Sorivong v� được gửi về Paris để xin ph� chuẩn.� Aubaret cũng quay trở về Paris.� Khi tin tức lọt về S�ig�n, n� đ� tạo ra một sự n�o động.� Lagrandi�re v� Doudart de Lagr�e, kh�ng được tham khảo v� ngay cả kh�ng được th�ng tin trước, lấy l�m giận dữ.� Đối với họ, sự bảo hộ của Ph�p l� một sự đ� rồi: fait accompli, v� sự thu hồi chung cuộc �c�c tỉnh đ� mất� l� một điều chắc chắn.(42)� Họ kh�ng thấy c� sự cần thiết về một hiệp ước bất cứ loại gi với Xi�m La cả.

 

���� V�o đầu năm 1866, Doudart de Lagr�e đ� thảo một b�o c�o về Bộ Hải Qu�n,(43) trong đ� �ng đ� đưa ra một sự ph�c họa lịch sử c�c sự thay đổi về l�nh thổ, tr�i với dự �n của Aubaret v� để ph�c đ�p văn thư của Montrey Sorivong nguy�n đ� được đọc trong buổi lễ đăng quang của Norodom (xem c�c ch� th�ch số 20 v� 21 ở tr�n).� L�nh thổ tranh chấp rơi v�o một v�i nh�m, mỗi nh�m c� một lịch sử kh�c nhau: (1) Battambang v� Angkor đ� được ban cấp khoảng năm 1795 l�m l�nh địa của một vị thượng thư Căm Bốt t�n l� Ben, kẻ sau đ� chạy theo Xi�m La.� N� đ� được cai trị như một th�i ấp bởi gia tộc �ng Ben, theo luật lệ v� phong tục Căm Bốt, v� lu�n lu�n được giải quyết một c�ch hầu như chuy�n độc bởi người Căm Bốt; (2) C�c tỉnh Mlu Prey, Tonl� Repu, Stung Treng v� Basak, miền đ�ng bắc Căm Bốt, đ� bị chinh phục bởi người Xi�m La do hậu quả của sự phản kh�ng của c�c tổng đốc của ch�ng, trong thời khoảng 1810-15.� V�ng n�y l� chiếc n�i của d�n tộc Khmer v� được cư tr� bởi người Căm Bốt, với một d�n tộc bản xứ đ�ng kể l� sắc d�n Kha (gi�ng Indonesian), tr�n v�ng n�i đồi, v� với số d�n L�o kh� lớn, mới tr�n xuống từ phương bắc hồi gần đ�.� (3) Pursat v� Kompong Svai l� c�i gi� đ�i của Xi�m La cho việc lập lại ng�i vua cho Norodom sau khi người anh em t�n Votha đ� đ�nh đuổi Norodom ra khỏi nước trong thời khoảng 1861-62.� Kompong Svai nằm phia đ�ng tỉnh Angkor, thuộc miền bắc Biển Hồ.� Pursat nằm ph�a đ�ng tỉnh Battambang, thuộc ph�a nam, gần với Oudong.� Ch�ng được cai quản xuy�n qua hai tỉnh đ�, v� v� thế, l� c�c điểm phản b�c đối với Điều IV bản hiệp ước Aubaret (thừa nhận c�c ranh giới �như ch�ng hiện hữu v�o ng�y k� kết�) bởi c�c vi�n chức Ph�p tại Đ�ng Dương l� c�c kẻ am hiểu t�nh h�nh. (44)

 

���� � nghĩa nh�m chữ �miền L�o thuộc Xi�m La (L�o-Xi�m): Siamese Laos� trong hiệp ước Aubaret th� kh� hiểu.� Vương quốc L�o cổ xưa tại Lan Chang (1353-1707) đ� bị chia cắt, v�o năm 1707, th�nh Luang Prabang v� Vientian (Vạn Tượng).� Xi�m La đ� chinh phục Vạn Tượng trong c�c năm 1827-32 v� đ� di tản phần lớn cư d�n ở ph�a đ�ng gi�ng s�ng về giam giữ b�n bờ ph�a t�y, giờ đ�y được gọi l� v�ng L�o-Xi�m, hay về v�ng thung lũng s�ng M�nam, v�ng gần như kh�ng c� người cư ngụ ngoại trừ sắc d�n Kha sống tr�n đồi n�i.� Kh�ng v�ng n�o trong l�nh thổ n�y lại c� bao giờ được cư tr� bởi người Xi�m La, v� chỉ c� v�ng t�y nam của n� l� được s�p nhập th�nh một phần của Xi�m La, hay được đặt dưới luật lệ hay ch�nh quyền Xi�m La. (45)� Sự đề cập đến Chieng-Mai như v�ng L�o-Xi�m, như Thomson (46) cho biết l� Aubaret đ� l�m trong khi thương thảo, biểu lộ sự nhầm lẫn trong đầu �c của họ trong chủ điểm n�y, bởi Chieng Mai đ� l� kinh đ� của vương quốc sắc d�n Yun cổ xưa tại Lan-na, v�ng đất kh�ng kề cận v�, do đ�, kh�ng phải l� miền �L�o-Xi�m� được bao tr�m bởi hiệp ước.� Trong thực tế, Lan-na l� v�ng duy nhất thuộc Xi�m La chưa bao giờ nằm dưới sự cai trị của Khmer v� người Căm Bốt cũng chưa từng bao giờ đưa ra bất kỳ sự tuy�n nhận n�o.� Mặc d� người Xi�m gọi, hay quen gọi, v�ng n�y l� T�y L�o, v� gọi c�c cư d�n l� người L�o, sắc d�n Yun kh�ng phải l� người L�o ch�nh t�ng, đ�ng hơn pha lẫn nhiều với c�c sắc d�n Lawa, Karen v� Mon vốn l� sắc d�n đ� c� một vương quốc tại đ� � t�n gọi l� Haripunjai (47) � từ l�u trước khi l�nh thổ bị chiếm đ�ng v� chinh phục, trước ti�n bởi sắc d�n Tai [t�n giống d�n bằng Anh ngữ, trong d� gồm c�c d�n tộc Th�i, T�y, N�ng, Choang v.v�, c� khu vực sinh sống trải từ miền nam nước Trung Hoa xuống tới c�c nước Th�i lan, Miến Điện, L�o v� Bắc Việt, ch� của người dịch] từ v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long v� sau n�y bởi người L�o ch�nh t�ng. (48)

 

���� Bộ Ngoại Giao Ph�p đ� nhận được bản hiệp ước Aubaret v� tờ b�o c�o của Doudart de Lagr�e v� đ� nghe c�c lập luận của cả đ�i b�n.� Mặc d� Aubaret đ� biện hộ cho sự sử dụng từ ngữ �miền L�o thuộc Xi�m (L�o-Xi�m), Bộ Ngoại Giao Ph�p đ� b�c bỏ bản hiệp ước (Bernard cho biết ch�nh yếu l� v� n� đ� kh�ng hiểu nh�m chữ �L�o thuộc Xi�m La� l� g�) (49) v� đ� chỉ thị Aubaret t�i lập c�c sự thương thảo.� Aubaret trở lại Vọng C�c hồi th�ng S�u năm 1866 v� một lần nữa đặt vấn đề với Kralahome v� người anh em của �ng ta; nhưng phe th�n Anh Quốc, trong đ� phải kể đến B�c Sĩ Bradley, đ� rất t�ch cực chống lại Ph�p v� đ� dựng l�n một sự chống đối đ�ng kể đối với Aubaret.� Lợi dụng t�nh trạng n�y, ch�nh phủ Xi�m La đ� y�u cầu rằng c�c cuộc điều đ�nh phải được chuyển về Paris. (50) Montrey Sorivong c� hay biết tại Paris về sự bất đồng � kiến trong triều đ�nh Ph�p v� đ� dạy cho người Xi�m La chơi tr� ch�nh trị của ch�nh người Ph�p.

 

���� Như ch�ng ta nhận thấy, Xi�m La kh�ng bị cưỡng b�ch từ bỏ mật ước với Căm Bốt.� Đ�ng hơn, Aubaret đ� đến nơi đ� đ�ng theo c�c � muốn ri�ng của �ng v� để thỏa m�n phe đối lập tại Paris, v�, sau khi đến, �ng nhận thấy �ng phải đạt được sự hủy bỏ một hiệp ước (m� hiệu lực c�n l� một việc đ�ng nghi ngờ) với gi� trả rất cao của việc hậu thuẫn cho sự tuy�n x�c của Xi�m La kh�ng chỉ đối với c�c tỉnh Battambang v� Angkor v� c�c tỉnh v�ng đ�ng bắc, c�ng miền L�o thuộc Xi�m La� (đối với tất cả v�ng đất n�y, sự tuy�n x�c của Xi�m La rất đuối l�), m� c�n vươn đến cả Pursat v� Kompong Svai (v�ng khi đ� l� một phần kết hợp của Căm Bốt v� chưa bao giờ được tuy�n nhận bởi Xi�m La).� Hiệp ước Aubaret ng�y 14 th�ng Tư năm 1865 đ� thi�n vị Xi�m La qu� mức đến nỗi Bộ Ngoại Giao Ph�p đ� kh�ng đệ tr�nh n� để xin ph� chuẩn.� B�c Sĩ Bradley, kẻ được giả định l� đ� đưa ra một sự ghi nhận tr�n tờ b�o của �ng v�o l�c sự việc xảy ra, c� thể được thứ lỗi về việc nghĩ rằng chiếc t�u Mitraille đến để �cưỡng b�ch� ch�nh phủ Xi�m La phải bỏ rơi hiệp ước Căm Bốt, nhưng Landon, kẻ viết 76 năm sau, phải hay biết rằng n� đ� kh�ng �bắt buộc� ch�nh phủ Xi�m La phải l�m điều g� đ�, bởi hiệp ước Aubaret chưa bao giờ được ph� chuẩn.� Hiệp ước theo đ� Xi�m La hủy bỏ mật ước của n� với Căm Bốt đ� được, theo lời y�u cầu của Xi�m La, thương thảo v� k� kết tại Paris.� Gi� trả cho Xi�m La về việc từ bỏ hiệp ước th� thấp hơn nhiều so với gi� đề nghị trong bản hiệp ước Aubaret, như c� thể nhận thấy khi so s�nh hai t�i liệu, nhưng vẫn c�n qu� cao một c�ch lố bịch.

 

 

HIỆP ƯỚC NG�Y 15 TH�NG BẨY NĂM 1867

 

���� Sau một số cuộc thương thảo, một hiệp ước mới đ� được k� kết tại Paris v�o ng�y 15 th�ng Bẩy, năm 1867, bởi Hầu Tước Marquis L�onel de Moustier, Bộ Trưởng Ngoại giao Ph�p v� hai đại sứ Xi�m La. (51) Xi�m La nh�n nhận sự Bảo Hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt v� hủy bỏ mật ước của n� k� ng�y 1 th�ng Mười Hai năm 1863.� Ph�p nh�n nhận chủ quyền của Xi�m La đối với Battambang v� Angkor, bỏ đi mục dễ bị dị nghị trong Điều IV bản hiệp ước Aubaret v� chỉ đơn giản dự liệu việc ph�n ranh ch�ng cũng như ranh giới của �c�c tỉnh kh�c của Xi�m La kề cận với Căm Bốt như ch�ng được nh�n nhận trong thời đại ch�ng ta.�� Xi�m La từ khước mọi cống phẩm, hay c�c dấu hiệu kh�c của t�nh trạng chư hầu của Căm Bốt, v� khoản mơ hồ trong hiệp ước Aubaret về sự tự do v� nền độc lập của Căm Bốt (trong thực tế hủy bỏ Chế Độ Bảo Hộ Ph�p) bị gạch bỏ.� Ph�p bảo đảm sự t�n trọng của Căm Bốt đối với hiệp ước.� C� một số điều khỏan kh�ng t�m thấy trong bản hiệp ước Aubaret.� S�ng Cửu Long, v� tất cả mọi phụ lưu của n� trong l�nh thổ Xi�m La được mở ngỏ cho sự hải h�nh của c�c t�u thuyền của Ph�p.� Tự do lưu th�ng v� mậu dịch sẽ c� t�nh chất hỗ tương.� Người Căm Bốt tại Xi�m La sẽ phải chịu thẩm quyền t�i ph�n của xứ sở đ�, v� ngược lại.� Hiệp ước n�y như thế, �t thuận lợi hơn cho Xi�m La so với hiệp ước Aubaret, vốn hủy bỏ Chế Độ Bảo Hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt (v� c�ng một l�c lại x�c định n�) v� tuy�n bố Căm Bốt th� tự do v� độc lập (trong khi c�ng l�c x�c định sự lệ thuộc của n� với cả Ph�p v� Xi�m la).

 

���� Đ�ng thế, bản hiệp ước ng�y 15 th�ng Bẩy năm 1867 l� một sự thỏa thuận man tr�, v� Aubaret c� lẽ phải chịu tr�ch nhiệm ch�nh yếu cho sự phản bội của n�; bởi c�c phần c� thể bị dị nghị xuất hiện trước ti�n trong bản hiệp ước ng�y 14 th�ng Tư, năm 1865, được điều đ�nh bởi �ng ta, v� được thừa nhận sau đ� bởi hiệp ước ng�y 15 th�ng Bẩy năm 1867, v� chỉ một m�nh �ng ta trong to�n thể c�c vi�n chức Ph�p nổi bật tại Đ�ng Dương l� biện hộ cho ch�ng.� Nhưng sự bội bạc kh�ng phải l� sự chiếm đoạt Xi�m La bởi nước Ph�p, như Landon v� c�c t�c giả kh�c cố l�m ch�ng ta tin theo, m� l� sự th�ng đồng cướp b�c bởi Ph�p v� Xi�m La tr�n Căm Bốt [đ�ng ra c� nghĩa tr�n Việt Nam, bởi Căm Bốt đ� được s�p nhập hẳn v�o Việt Nam bởi vua Minh Mạng, khoảng 30 năm trước khi c� sự x�m lăng của Ph�p v�o Nam Kỳ, ch� của người dịch, (xem th�m c�c b�i dịch kh�c về Căm Bốt hay Trấn T�y đ� đăng tải)].� Ngay cả Norodom, kẻ trong năm 1862 đ� đồng � giao c�c tỉnh n�y v� c�c v�ng đất kh�c cho Xi�m La để đổi lấy sự trợ gi�p của Xi�m La nhằm bảo vệ �ng chống lại nước Ph�p, giờ đ�y đ� phản đối sự điều đ�nh phản ph�c theo đ� Xi�m La c� nhận được một bằng kh�an được bảo đảm đối với phần l�nh thổ ho�n to�n thuộc về Căm Bốt tức hai tỉnh Battambang v� Angkor, nhằm đền đ�p cho sự thừa nhận của Xi�m La đối với Chế Độ Bảo Hộ của Ph�p tr�n phần đất c�n lại của Căm Bốt (52), một sự bảo hộ đ� được �p dụng trọn vẹn trong hơn ba năm m� kh�ng c� sự thừa nhận của Xi�m La.� Căm Bốt, chứ kh�ng phải Xi�m La, đ� l� nạn nh�n của bản hiệp ước ng�y 15 th�ng Bẩy năm 1867. ��Xi�m La đ� l� kẻ đắc lợi ch�nh yếu./- [C�c kết luận n�y bị dị nghị bởi c�c nh� nghi�n cứu hiện đai, chẳng hạn như Dennis Duncanson, trong b�i viết nhan đề �Cambodia � an elusive nationahood�, ấn h�nh trong năm 2001, ch� của người dịch]/-

 

 

___

 

 

CH� TH�CH:

 

1.       Charles Meyniard, Le second empire en Indo-Chine (Paris, 1881), c�c trang 353-447; Prosper Cultru, Histoire de la Cochinchine francaise des origins � 1883 (Paris, 1910), c�c trang 55-56; R. Stanley Thomson (Far Eastern quarterly, 4 [August 1945], 313-18) c� viết một b�i tường thuật đầy đủ về c�c cuộc thương thảo bất th�nh của Montigny với Căm Bốt.

2.       Henri Galos, �L�exp�dition de Cochin Chine et la politique francaise dans l�Extr�me-Orient,� Revue des deux mondes (March 1, 1864), 179-80; Albert Septans, Les commencements de l�Indochine francaise (Paris, 1887), trang 147.

3.       Septans, đ� dẫn tr�n, trang 181; Paulin Vial, Les premi�res ann�es de la Cochinchine, colonie francaise (Paris, 1878), quyển 1, trang 240.

4.       Septans, đ� dẫn tr�n, c�c trang 155-56.

5.       Antoine Br�bion, Dictionnaire de bio-bibliographie g�n�rale ancienne et moderne de l�Indochine francaise (Paris, 1935).

6.       Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, trang 188.

7.       Đồng đ� la được t�nh tương đương với 72 phần trăm của một lượng (Điều 8).

8.       Lucien de Reinach, Receuil des trait�s conclus par la France en Extr�me-Orient (Paris, 1902), quyển 1, c�c trang 94-98; Alfred Schreiner, Abr�g� de l�histoire d�Annam (Saigon, 1906), c�c trang 441-46.

9.       Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 191-214.

10.   Cultru, đ� dẫn tr�n, c�c trang 91-92; Schreiner, đ� dẫn tr�n, c�c trang 261-64.

11.   Septans, đ� dẫn tr�n, trang 182.

12.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, trang 255.

13.   Điều n�y được thể hiện bỏi hiệp ước m� �ng thảo ra, l� sự thừa nhận đầu ti�n của Ph�p đối với sự tuy�n x�c của Xi�m La tr�n c�c tỉnh Battambang v� Angkor.� Thomson (đ� dẫn tr�n, trang 335) n�i rằng Aubart được ủy nhiệm gắng hết sức để xoa dịu Xi�m La.

14.   Vial, đ� dẫn tr�n, c�c trang 291-94; tờ Le courier de Saigon ng�y June 10, 1864 c� một b�i tường thuật d�i về sự tiếp đ�n n�y.

15.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 255-60; Cultru, đ� dẫn tr�n, trang 85.

16.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, trang 282.

17.   H. Abel [Rieunier], La question de Cochinchine au point de vue des interest francaise (Paris, 1864).

18.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, trang 356.

19.   Thomson (đ� dẫn tr�n, trang 338) n�i rằng Aubaret đ� đề nghị lễ đăng quang hỗn hợp.

20.   A. de Villemereuil, Explorations et missions de Doudart de Lagr�e: extraits de sus [?] manuscripts (Paris, 1883).� Lagr�e (c�c trang 443-49) nhấn mạnh rằng Xi�m La c� sự tuy�n x�c kh�ng ch�nh đ�ng tr�n Battambang v� Angkor hay bất kỳ phần l�nh thổ n�o kh�c m� n� đ� chiếm đoạt từ Căm Bốt v� đ� tr�ch dẫn mật ước c�ng c�c h�nh vi kh�c như c�c nỗ lực để biến c�c sự tuy�n x�c của họ th�nh sự đ� rồi: faits accomplis.� Cultru (đ� dẫn tr�n, trang 110), quảng diễn một lời ph�n n�n của Lagrandi�re, nghi ngờ Aubaret mong muốn Paris từ bỏ to�n bộ Căm Bốt, như �ng ta muốn đối với c�c tỉnh của An Nam.

21.   Villemereuil, đ� dẫn tr�n, c�c trang 112-14.� Thomson (đ� dẫn tr�n, trang 340) n�i, m� kh�ng x�c định [nguồn tin] thẩm quyền cho lời ph�t biểu của �ng, rằng �b�i diễn văn m� sứ giả Xi�m La [�ng n�y đọc một văn bản] dễ d�ng được chấp nhận đối với Ph�p bởi n� kh�ng n�u l�n c�c sự phản b�c g�y bất tiện n�o.�� Doudart de Lagr�e, kẻ hiện diện ở đ�, n�i rằng điều đ� l�m ngạc nhi�n người Ph�p, v� b�i diễn văn bằng tiếng Xi�m La, họ kh�ng hiểu g� cả.� Sau n�y, Lagr�e c� viết một văn thư d�i (hiển nhi�n l� một b�o c�o l�n thượng cấp của �ng) đề ng�y 8 th�ng Một, năm 1866 (xem trang 135 [trong nguy�n bản] dưới đ�y).� Cả hai văn thư tr�n đ� được tr�nh b�y chi tiết trong t�c phẩm của Villemereuil (c�c trang 112-14, 443-49).� Một c�ch r� r�ng, văn thư d�i của Lagr�e (xem ch� th�ch số 20), chứa đựng một sự phủ nhận c�ng khai v� quả quyết gần như mọi điểm trong b�i diễn văn d�i của Montrey Sovirong, l� một sự b�c bỏ to�n bộ sự m� tả của t�c giả Thomson.� Henri Froidevaux, �Les origins du protectorat francais du Cambodge,� Bulletin mensuel du comit� de l�Asie francaise (1906), 109, tr�ch dẫn Vial (quyển 1, c�c trang 273-74) v� b�o Courrier de Saigon, s� ra ng�y 25 th�ng S�u, 1864, c� th�ng t�n vi�n hiện diện ở đ�, n�i rằng b�i diễn văn th� ho�n to�n bất ngờ, v� rằng kh�ng người Ph�p n�o c� mặt hiểu được ng�n ngữ hay tầm quan trọng của n�.

22.   Fernan Bernard, � l��cole des diplomats: la perte et le retour d�Angkor (Paris, 1933), c�c trang 44-45; Thomson, Far Eastern quarterly, 5 (Nov. 1945), c�c trang 28-31.� Bản hiệp ước được ghi lại trong t�c phẩm của Villemereuil, đ� dẫn tr�n, c�c trang 95-101.

23.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 260-61; Adh�mard Leclere, L�histoire de Cambodge (Paris, 1913), trang 454, c� n�i: �Niềm tin của mọi d�n tộc Đ�ng Dương, trong thực tế, l� Ph�p sẽ kh�ng giữ v�ng đất đ� chinh phục của n� v� c�c đại biểu Xi�m La kh�ng bao giờ ngừng lập lại điều n�y ở mọi �m độ với Nh� Vua Căm Bốt.�� Theo Thomson (đ� dẫn tr�n, trang 30), Chasseloup-Laubat �đ� đổ lỗi v� c� cuộc thương thảo về việc ho�n trả c�c tỉnh đ� chinh phục được [của An Nam] cho hiệp ước n�y.�

24.   Bản hiệp ước của Aubaret năm 1865 với Xi�m La c� � nghĩa trong thực tế một sự bảo hộ hỗn hợp.� Theo Cultru (trang 110), Lagrandi�re trong thực tế tố c�o Aubaret về việc bỏ rơi Battambang v� Angkor cho Xi�m La tại Paris, điều m� �ng ta đ� l�m sau n�y trong bản hiệp ước của �ng.

25.   R. Stanley Thomson, �Siam and France 1863-1870�, Far Eastern quarterly, 5 (November 1945), c�c trang 28-31.

26.   Như được n�u ra bởi Thomson (đ� dẫn tr�n, c�c trang 28-29, c�c cước ch�) thư từ trao đổi giữa Aubaret v� Kralahome được chấm dứt với điện văn của Aubaret gửi về Paris h�m 5 th�ng Mười năm 1864.� N� đ� kh�ng được t�i lập cho m�i đến ng�y 10 th�ng Tư năm 1865 (Thomson, đ� dẫn tr�n, trang 31, ch� th�ch số 20), một ng�y sau khi chiến hạm Mitraille đến Vọng C�c.� (Theo Tiến Sĩ Bradley chiếc t�u đến Vọng C�c h�m 9 th�ng Tư.� Xem G.H. Fetus, bi�n tập, Abstract of the Journal of Dr. Dan Beach Bradley [Cleveland, 1936], trang 244).� Chiếc thuyền vũ trang nhỏ n�y hiển nhi�n được đặt dưới sử khiển dụng của Aubaret cho c�c mục đ�ch sau: bởi n� c�n ngược gi�ng l�n từ S�ig�n, c�ng với chiếc t�u chở thư Entrecasteaux, trong khi Aubaret trao cho c�c Quốc Vương Xi�m La sắc phong huy chương Danh Dự Bội Tinh (Legion of Honor) v�o ng�y 29 th�ng S�u, 1865, v� nh�n dịp đ�, đ� chuy�n chở em trai của Norodom, t�n l� Sisowath, về S�ig�n (Septans, đ� dẫn tr�n, trang 189; Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 2, c�c trang 18-20).� T�u n�y đ� quay trở lại v� chở Aubaret đến S�ig�n h�m 10 th�ng Ch�n, 1865, khi �ng khởi h�nh về �u Ch�u (Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 2, trang 29). [Đọan n�y trong nguy�n bản viết lủng củng, kh�ng r�nh mạch n�n kh�ng r� nghĩa, xin đọc lại t�i liệu gốc nếu cần, ch� của người dịch].

27.   Bernard, đ� dẫn tr�n, trang 50.

28.   Kenneth F. Landon, �Thailand�s quarrel with France in perspective�, Far Eastern quarterly, 1 (November 1941); John L. Christian, �Thailand renascent�, Public affairs (June 1941), c�c trang 185-97.

29.   Bernard, đ� dẫn tr�n, c�c trang 44-50.

30.   Xem ch� th�ch số 22 v� văn bản li�n hệ.

31.   Septans, đ� dẫn tr�n, trang 88.� Leclere (trang 454) n�i v�o ng�y 2 th�ng Ba năm 1863, Norodom đ� đề nghị giao c�c tỉnh n�y cho Mongkut để l�m vừa l�ng Quốc Vương Xi�m La v� xin h�y để y�n cho Norodom được tự do điều đ�nh với Ph�p.

32.   Landon, đ� dẫn tr�n, trang 31.

33.   C�ng nơi dẫn tr�n; v� Landon, �Thailand�s struggle for national security,� Far Eastern quarterly, 4 (November 1944), trang 13.

34.   Như được ghi nhận nơi trang 127 (nguy�n bản) b�n tr�n, Aubaret đ� đến Vọng C�c tr�n chiếc t�u chở thư t�n Entrecasteaux, đ�i khi được gọi l� t�u c� vũ trang (Septans, đ� dẫn tr�n, trang 189) v�o ng�y 14 th�ng Tư, năm 1864.� Theo Đại �y Sauve, Montigny đ� ph�n n�n rằng nước Ph�p bị s�t giảm uy t�n của n� bởi việc gửi bản hiệp ước của �ng ta đến Vọng C�c để ph� chuẩn tr�n một thương thuyền th�ng thường, trong khi lần lượt c�c hiệp ước của Anh v� Hoa Kỳ trong c�c năm 1855 v� 1856 đ� đến với nghi thức trang trọng tr�n c�c chiến thuyền (Capt. Sauve, Les relations de la France et du Siam, 1680-1907 [Paris, n.d.], trang 37.)

35.   Vial, đ� dẫn tr�n, quyển 1, trang 183, kẻ đ� phục vụ tại Đ�ng Dương c�ng thời gian đ�, n�i rằng trong năm 1862, vi�n L�nh Sự Ph�p tại Vọng C�c tự cảm thấy nhỏ nhoi trước tầm quan trọng của L�nh Sự Anh đến nỗi �ng ta thường sinh sống tại Singapore hay tại �u Ch�u.� Aubaret c� vẻ đ� d�ng S�ig�n như một địa điểm đứng giữa, trong khi chia sẻ phần lớn sự lưu t�m của �ng cho Huế v� Vọng C�c.

36.   Tờ Journal của Bradley, trang 244; Thomson, đ� dẫn tr�n, trang 31, ch� th�ch số 22, tr�ch dẫn L�nh Sự Anh Quốc, �ng Knox, l� c� soạn một b�o c�o tương tự gửi về London.� Trong năm 1941, khi kh�ng dựa v�o một tr�ch dẫn c� thẩm quyền n�o kh�c hơn sự ghi nhận tr�n, t�c giả Landon lập lại: �V�o ng�y 9 th�ng Tư, năm 1865, chiến thuyền Mistraille (Sic) của Ph�p xuất hiện tại Vọng C�c v� cưỡng b�ch ch�nh phủ Xi�m La phải từ bỏ hiệp ước của n� với Căm Bốt v�o ng�y 14 th�ng Tư� (chữ in nghi�ng của t�c giả; Landon, Far Eastern Quarterly, November 1941, trang 31).

37.   Tờ tạp ch� Journal của Bradley, trang 244.

38.   B� Anna H. Leonowens, The English governess at the Siam court (Boston, 1870), c�c trang 258. 259.

39.   K.P. Landon, Far Eastern quarterly, November 1941, c�c trang 41-42; Margaret Landon, Anna and the King of Siam (New York, 1944), c�c trang 260-65; 324-26; 370-74.

40.   Thomson, đ� dẫn tr�n, trang 34.

41.   J. Moura, Le Royaume de Cambodge (Paris, 1881), quyển 2, trang 147; Leclere, đ� dẫn tr�n, trang 454; Schreiner, đ� dẫn tr�n, trang 257.� Cũng xem trang 126 [nguy�n bản] của b�i viết n�y.

42.   Lagr�e trong Villemereuil, đ� dẫn tr�n, c�c trang 443-49; Thomson, đ� dẫn tr�n, trang 33; Moura, đ� dẫn tr�n, quyển 2, trang 167.

43.   Villemereuil, đ� dẫn tr�n, c�c trang 443-49; Sauve, đ� dẫn tr�n, trang 49.

44.   Lagr�e k�u gọi sự lưu t�m đến điều n�y v� đ� đưa ra một sự tr�nh l�y chống lại n� tr�n văn thư của �ng (Villemereuil, đ� dẫn tr�n, c�c trang 443-49; cũng xem, Bernard, đ� dẫn tr�n, c�c trang 44-52.

45.   Lawrence Palmer Briggs, �The treaty of March 23, 1907 between France and Siam and the return of Battambang and Angkor to Cambodia�, Far Esatern quarterly, 5, (August, 1946), c�c trang 440-43.

46.   Thomson, đ� dẫn tr�n, trang 33.

47.   Lawrence Palmer Briggs, �Dvaravati, the most ancient kingdom of Siam�, Journal of the American Oriental society, 65, (April-June, 1945), c�c trang 104-05.

48.   Sự định cư tr�n b�n đảo Đ�ng Dương bởi nhiều chi nh�nh kh�c nhau trong sắc d�n Tai chưa hề được thảo luận s�u rộng hay thấu đ�o.� T�c giả ước vọng sẽ d�nh một b�i viết ri�ng về đề t�i n�y trong tương lai gần.

49.   Bernard, đ� dẫn tr�n, trang 52; Thomson, đ� dẫn tr�n, c�c trang 32-34.

50.   Bernard, đ� dẫn tr�n, c�c trang 50-52; Thomson, đ� dẫn tr�n, c�c trang 34-38.

51.   Reinach, đ� dẫn tr�n, quyển 1, c�c trang 31-32.

52.   Bernard, đ� dẫn tr�n, trang 61; Leclere, đ� dẫn tr�n, trang 459. ���

 

 

---

 

Nguồn: Lawrence Palmer Briggs, Aubaret and The Treaty of July 15, 1867 between France and Siam, The Far Eastern Quarterly, Vol. VI, February 1947, No. 2, c�c trang 122 � 138. �

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

                                                                                                                                                       

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

��