L�nh Sự Lawrence P. Briggs,

S�ig�n, Nam Kỳ (Cochin China)

 

Phần Bổ T�c

B�O C�O THƯƠNG MẠI

B�O C�O MẬU DỊCH V� L�NH SỰ H�NG NG�Y

ẤN H�NH BỞI

PH�NG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ V� QUỐC NỘI

BỘ THƯƠNG MẠI HOA KỲ,

WASHINGTON, D. C.

 

Ấn Phẩm Thường Ni�n���������������� Số 54a����������������� 25 Th�ng Bảy� 1917

*****

(kỳ 2)

kỳ 1

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời Người Dịch

������ Dưới đ�y l� bản dịch ba Phần Bổ T�c C�c B�o C�o Thương Mại của L�nh Sự Hoa Kỳ tại S�ig�n được ấn h�nh bởi Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, trong c�c năm 1915, 1917 v� 1918.� Ba văn bản n�y mang lại c�c con số thống k� ch�nh x�c v� hữu �ch, phản ảnh c�c l�nh vực hoạt động kinh tế v� ngoại thương ch�nh yếu của Việt Nam gần 100 năm trước đ�y, trong thời Thế Chiến I 1914-1918.

������ Hai bản văn năm 1915 v� 1917 được soạn thảo bởi Lawrence Palmer Briggs, L�nh Sự của Hoa Kỳ tại S�ig�n trong thời gian đ�, v� bản văn năm 1918 được soạn thảo bởi Horace Remillard, người kế nhiệm l�m L�nh Sự Hoa Kỳ tại S�ig�n từ năm 1917 đến 1919.� Tiểu sử ngắn gọn về hai t�c giả n�y được ghi lại trước b�i viết li�n hệ.

 

*****

Đ�NG DƯƠNG THUỘC PH�P

Soạn Thảo Bởi L�nh Sự Lawrence P. Briggs, S�ig�n, Nam Kỳ (Cochin China)

 

Lawrence Palmer Briggs sinh tại Manton, Michigan, ng�y 17 Th�ng Mười, 1880, tốt nghiệp University of Michigan (Cử Nh�n), 1905, University of Chicago (Cao Học), 1908; hiệu trưởng c�c trường c�ng lập tại Grand Marais v� St. Ignace, Michigan, 1900-1903; giảng vi�n m�n lịch sử v� ch�nh quyền tại Muskegon, Michigan, 1905-6, v� Seattle, Washington, 1908-1910; phụ gi�o (teaching fellow), University of California, 1910-11, v� l� một phụ gi�o của trường n�y tại �u Ch�u, 1911-12; giảng vi�n tại Pennsylvania State College, 1912-14; được bổ nhiệm, sau kỳ khảo hạch (19 Th�ng Một, 1914), l�m L�nh Sự tại S�ig�n từ ng�y 27 Th�ng Tư, 1914 [ND].

***

 

 

*****

Năm 1916 đ� l� một năm kh� tốt trong thương mại của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� C�c số thu hoạch đều tốt đẹp, đặc biệt số thu hoạch gạo của S�ig�n; nhưng c�c nh� xuất cảng gặp trở ngại bởi thiếu trọng tải, v� một số lượng lớn lao của sản phẩm bị bỏ lại v�o l�c cuối năm.� Trị gi� quan thuế của cảc h�ng xuất cảng lẫn nhập cảng nhiều hơn năm 1915 ch�t �t, ch�nh yếu l� do sự định gi� cao hơn, bởi c� sự nghi ngờ kh�ng biết l� liệu c�c khối lượng c� lớn hơn năm 1916 hay kh�ng.� Tuy nhi�n, sự gia tăng chuy�n đo�n n�y trong trị gi� quan thuế l� một sự tr�nh b�y kh� ch�nh x�c về sự gia tăng gi� cả trong c�c mặt h�ng nhập cảng lẫn xuất cảng; nhưng kh�ng c� mấy x�c suất rằng c�c cư d�n d� nhận được thật nhiều tiền bạc v� h�ng h�a trả cho sức lao động v� c�c sản phẩm của họ như trong v�i năm trước đ�y.

 

C�c Sự Ph�n Chia Khu Vực Kinh Tế

Trong khi cứu x�t thương mại v� c�c ng�nh nghề của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, điều thiết yếu cần ghi nhận ba khu vực ph�n chia kinh tế.� (1) V�ng đất quy kết về S�ig�n, ngoại trừ c�c ngư trường của bờ biển v� c�c hồ nước nội địa, gần như c� t�nh chất thuần t�y n�ng nghi�p � một trong c�c v�ng l�a gạo vĩ đại của thế giới.� Mặc d� ph�n hạt n�y chứa chưa đến một phần ba tổng số d�n ch�ng, n� đảm đương khoảng 70 phần trăm thương mại của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Phần lớn mậu dịch của Căm Bốt được thực hiện xuy�n qua Saig�n bằng c�c thủy lộ nội địa, mặc d� một luồng lưu th�ng ngoại quốc nhỏ b�, c� lẽ chiếm 1 phần trăm tổng số của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, l� bằng c�c t�u biển chạy bằng hơi nước đi ngược d�ng Mekong l�n tới Pnompenh.� (2) V�ng quy kết về Hải Ph�ng được d�nh cho n�ng nghiệp, hầm mỏ, v� chế tạo.� Gạo l� số xuất cảng ch�nh yếu, nhưng trong năm 1916, lần đầu ti�n, trị gi� sản lượng kho�ng sản lớn hơn trị gi� c�c sản phẩm n�ng nghiệp.� Ph�n hạt n�y chứa chấp khoảng ph�n nửa d�n số Đ�ng Dương thuộc Ph�p v� thực hiện từ 25 đến 30 phần trăm ngoại thương của n�.� (3) Trung Kỳ An Nam, c� Đ� Nẵng (Tourane) l� hải cảng ch�nh của n�, chủ yếu l� n�ng nghiệp, nhưng kh�c với phần c�n lại của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, n� kh�ng phải l� v�ng trồng l�a gạo to lớn.� Số xuất cảng ch�nh của n� � quế, đường, v� tr� � kh�ng phải được chuy�n chở trong khối lượng lớn từ c�c ph�n hạt kh�c.� Khoảng 3 phần trăm ngoại thương của Đ�ng Dương thuộc Ph�p được ghi nhận cho v�ng n�y.

 

C�c Phương Tiện Thủy Vận �

C�c Sự Cải Thiện Hải Cảng v� Kinh Đ�o.

������ Hai c�ng ty t�u chạy bằng hơi nước của Ph�p � Messageries Maritimes va Chargeurs R�unis � duy tr� c�c dịch vụ thường lệ đến Đ�ng Dương thuộc Ph�p; t�u b� qua lại �t thường xuy�n hơn trong năm 1916.� Tất cả c�c t�u hơi nước chở h�nh kh�ch của h�ng Messageries Maritimes giờ đ�y gh� bến Đ� Nẵng v� Hải Ph�ng.� C�ng Ty Messageries Fluviales de la Cochinchine đ� từ bỏ dịch vụ chuy�n chở h�ng h�a v� thư t�n sang Bangkok, v� khế ước đ� được trao cho C�ng Ty Messageries Fluviales du Tonkin.� [Xem b�o c�o được ấn h�nh trong bộ Commerce Reports (C�c B�o C�o Thương Mại) ng�y 16 Th�ng Năm, 1916.]

 

B�ch Chương Quảng C�o C�ng Ty Messageries Maritimes

������

Kh�ng c� c�c sự cải thiện hải cảng quan trọng được tiến h�nh trong năm.� Tại S�ig�n, việc nối d�i c�c bến cảng của Kh�nh Hội đến Kinh Canal of Derivation [Kinh Tẻ?] được tiếp tục một c�ch chậm chạp, nhưng nhiều sự cải thiện được chấp thuận trong m�a h� 1916 lại chỉ được khởi sự một c�ch hiếm hoi. [Xem C�c B�o C�o Thương Mại ng�y 14 Th�ng Bảy 1916.] Tại Qui Nhơn, Đ� Nẵng, v� Hải Ph�ng, đ� c� khối lượng nạo v�t th�ng thường dưới sự chỉ huy của Nha C�ng Ch�nh.

������ Trong năm 1916, C�ng ty La Soci�t� des Dragages d�Extr�me-Orient đ� tiếp tục nạo v�t c�c kinh đ�o tại Nam Kỳ (Cochin China), nhưng ở c�c nơi kh�c, chỉ c� �t diều được thực hiện để cải thiện c�c thủy lộ nội địa.� Khế ước của c�ng ty n�y m�n hạn v�o ng�y 1 Th�ng Một, 1918, v� một chương tr�nh mới đ� sẵn được dự ph�ng cho thời khoảng 1918-1930.� [Xem phần bổ t�c C�c B�o C�o Thương Mại số 54a, ấn h�nh ng�y 16 Th�ng Mười, 1916, v� C�c B�o C�o Thương Mại ng�y 27 Th�ng Tư, 1917.]

 

 

C�ng T�c X�y Dựng �

C�c Xa Lộ Mới Được Ho�n Tất

������ �t c� c�ng t�c x�y dựng đường hỏa xa tiếp diễn trong năm 1916 l� v� gi� cả vật liệu l�n cao v� kh�ng c� sự gi�m s�t của người �u Ch�u; ph�n nửa nền đường của khoảng trống giữa Vinh v� Đ�ng H�, ph�a bắc Trung Kỳ (An Nam) được ho�n tất.� Trong việc x�y dựng đường bộ, nhiều c�ng t�c hơn đ� được ho�n tất, mặc d� kh�ng c� c�ng t�c quan trọng n�o được khởi sự trong năm.� Sự tiến bộ được thực hiện tr�n đường nối S�ig�n-Pnompenh tại Căm Bốt, v� giờ đ�y c� thể đi bằng xe hơi từ S�ig�n đến Banam [?] tr�n s�ng Mekong v� bằng c�ch lấy thuyền nhỏ đến Pnompenh để cắt ngắn chuyến đi được v�i tiếng đồng hồ.� Sự x�y cất xa lộ quanh c�c hồ Căm Bốt v� tại v�ng phụ cận của c�c ng�i đền ở Angkor vẫn tiếp tục, nhưng c�c phế t�ch tuyệt diệu n�y vẫn chưa tiếp cận được từ Pnompenh bằng xe hơi.� Tại Nam Kỳ, giờ c� c�c đường lộ tốt từ Bi�n H�a đến B� Rịa v� Vũng T�u (Cap St. Jacques), cả hai đều nối trực tiếp v� xuy�n qua v�ng trồng cao su ngang Xu�n Lộc.� Tại Trung Kỳ, sự ch� � được nhắm tới việc cải thiện Đường C�i Quan (Mandarin Road) dọc theo bờ biển v� c�c con đường dẫn tới khu an dưỡng sức khỏe đ� được dự ph�ng tại Đ� Lạt, tr�n cao nguy�n L�m Vi�n (Langbian).

 

Bưu Thiếp Phong Cảnh Đ� Lạt�

 

������ Tại Bắc Kỳ, Nha C�ng Ch�nh đ� tham gia v�o sự x�y dựng v� sửa chữa c�c con đ� tại v�ng ch�u thổ, sự cải thiện Đường C�i Quan từ H� Nội đến ranh giới Trung Kỳ, v� sự x�y dựng c�c đường lộ tại v�ng mỏ thiếc v� tungsten ở Cao Bằng gần bi�n giới Trung Hoa.� Một đường xe hơi tốt được ho�n tất từ trạm xe hỏa ở Đồng Đăng, b�n tr�n Lạng Sơn, đến Cao Bằng (Đường Thuộc Địa Số 1).� Xa lộ kh�c được dự ph�ng v�o v�ng n�y � H� Nội đến Cao Bằng qua Th�i Nguy�n v� Bắc Kạn (Đường Thuộc Địa Số 2) � hiện đang được x�y dựng.

 

C�c Số Thu Hoạch L�a Gạo Kỷ Lục

Tại Nam Kỳ v� Căm Bốt

������ Kh� để đưa ra một sự ph�t biểu tổng qu�t li�n quan đến sự thu hoạch l�a gạo của Đ�ng Dương thuộc Ph�p bởi gần như kh�ng c� th�ng n�o trong năm m� kh�ng c� việc gặt h�i ngũ cốc tại một v�i nơi trong v�ng n�y.� Tuy nhi�n, về mặt xuất cảng, chỉ c� hai v�ng cần phải cứu x�t � Nam Kỳ v� Căm Bốt, v� Bắc Kỳ.

 

Quảng C�o Gạo Đ�ng Dương��

 

������ Tại Nam Kỳ v� Căm Bốt số thu hoạch l�a gạo lớn lao đ� được gặt h�i từ Th�ng Mười Hai đến Th�ng Ba.� Số thu hoạch 1915-1916 k�m hơn số thu hoạch năm 1914-1915 gần 20 phần trăm.� Số thu hoạch 1916-1917, vừa gặt h�i xong, c� lẽ sẽ đặt ra một kỷ lục mới, tối thiểu nhiều hơn 10 phần trăm số thu hoạch năm 1914-1915, vốn đ� vượt qua mọi số thu hoạch trước đ�.� Tổng số sản lượng của Nam Kỳ v� Căm Bốt l�n tới gần 3,000,000 triệu tấn thập ph�n.

������ Bắc Kỳ c� hai vụ thu hoạch mỗi năm.� Vụ thứ nhất v� �t hơn được gặt h�i trong Th�ng Năm v� Th�ng S�u; vụ thứ nh� trong Th�ng Mười Một v� Mười Hai.� Vụ đầu năm 1916 th� rất �t bởi c� sự chậm trễ của �crachin: mưa ph�n, mưa bụi� hay mưa xu�n.� Vụ m�a thu hoạch trong Th�ng Mười Một, 1916, được n�i phần n�o lớn hơn c�ng vụ của năm 1915, nhưng �t hơn số thu hoạch bất thường của năm 1914.

������ Số thu hoạch l�a gạo của Trung Kỳ v� An Nam hiếm khi nhiều hơn mức vừa đủ cho sự ti�u d�ng bản địa.

 

Sụt Giảm Trong Sản Lượng Ng� v� Sắn.

������ Ng� (bắp) l� n�ng phẩm chịu ảnh huởng nhiều nhất từ c�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao do chiến tranh �u Ch�u.� Trong khoảng 10 năm qua hay l�u hơn, ng� đứng thứ nh� sau gạo tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p.trong suốt thời kỳ 1906-1915, số thu hoạch h�ng năm tại v�ng đất n�y trung b�nh khoảng 100,000 tấn.� C�c điều kiện đều kh� thuận lợi cho việc trồng ng�, bởi n� c� thể được trồng tại bất kỳ nơi đ�u v�o bất kỳ m�a n�o ngoại trừ những v�ng hay thời khoảng cực kỳ kh� khan hay ẩm ướt.� Mặc d� mẫu quốc cung cấp một thị trường tuyệt hảo, thể t�ch cồng kềnh v� trị gi� thấp k�m của mặt h�ng n�y khiến n� bị ảnh hưởng ngay từ đợt gia tăng đầu ti�n trong c�c gi� biểu chuy�n chở; v� sản lượng sụt giảm từ khoảng 120,000 tấn trong năm 1914 xuống c�n 85,000 tấn trong năm 1915 v� 60,000 tấn trong năm 1916, nhiều phần sẽ kh�ng gia tăng một khi c�c gi� biểu chuy�n chở vẫn c�n qu� cao.

������ Sự sụt giảm trầm trọng nhất tại Bắc Kỳ, nơi trong thực tế tất cả số ng� sản xuất để xuất cảng đ� gia tăng cho đến năm 1913, l�c m� Nam Kỳ chiếm mất vị tr� h�ng đầu; kể từ đ� hơn ph�n nửa c�c chuyến h�ng đ� xuất ph�t từ S�ig�n.� Hơn 80 phần trăm số thu hoạch năm 1916� được tăng trưởng tại Nam Kỳ v� Căm Bốt.� Sự kh� r�o của m�a m�ng đ� l�m gia tăng ngo�i c�c kh� khăn kh�c cho c�c nh� trồng trọt Bắc Kỳ.

������ Sản lượng của sắn, l�n tới khoảng 150 tấn trong năm 1914, giảm xuống c�n độ 60 tấn trong năm 1915 v� trong thực tế đ� biến mất ngoại trừ cho sự ti�u thụ địa phương; phần lớn sản lượng sắn đến từ Bắc Kỳ v� Trung Kỳ.

 

Số Thu Hoạch B�ng Vải, Hạt Ti�u v� C�i Dừa Kh�.

������ B�ng vải, hạt ti�u, v� c�i dừa kh� l� c�c n�ng phẩm quan trọng kế đ� của Nam Kỳ v� Căm Bốt; một số b�ng vải cũng được sản xuất tại miền bắc Trung Kỳ.� Chiến tranh đ� ảnh hưởng nghi�m trọng đến sự trồng trọt c�c sản phẩm n�y.� Hạt ti�u v� c�i dừa kh� được tiếp thị tại Ph�p v� b�ng vải Căm Bốt được chở sang Nhật Bản.� C�c gi� biểu chuy�n chở đ� cản trở sự xuất cảng v� c�c gi� cả bị xuống thấp.

������ Vụ thu hoạch b�ng vải Căm Bốt được h�i trong Th�ng Ba, 1916, l�n tới khoảng 4,000 tấn thập ph�n, so với 10,000 tấn trong năm 1915, v� 12,000 tấn trong năm 1914.� Vụ m�a thu h�i trong Th�ng Ba 1917, được ước lượng bằng với số thu hoạch của vụ đ� trong năm 1916.� Ngo�i ra, số lượng n�u tr�n c� thể được bổ t�c mỗi năm khoảng 1,000 tấn từ v�ng Thanh H�a thuộc miền bắc Trung Kỳ v� khoảng 200 tấn từ miền nam Trung Kỳ v� miền Đ�ng Nam Kỳ.� [Xem b�o c�o về sản lượng b�ng vải tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p được ấn h�nh trong C�c B�o C�o Thương Mại ng�y 16 Th�ng Tư, 1917.]

������ Sản lượng hạt ti�u bị giảm s�t bởi nạn hạn h�n bất thường của hai m�a qua.� Vụ m�a thu hoạch trong Th�ng Ba, 1916 �t hơn 3,000 tấn, so với 3,600 tấn trong năm 1915 v� hơn 4,000 tấn cho năm 1914.� Số thu hoạch năm 1917 được ước lượng l� 4,000 tấn.� Một sắc lệnh h�m 17 Th�ng Hai, 1916, cắt giảm xuống c�n 1,600 tấn từ Căm Bốt v� 400 tấn từ Nam Kỳ khối lượng h�ng năm của hạt ti�u được nhập v�o nước Ph�p được hưởng ph�n nửa thuế quan, trong c�c năm 1916, 1917, v� 1918.� C�c con số của ba năm trước đ� l� 2,000 tấn cho Căm Bốt v� 500 tấn cho Nam Kỳ.

������ Sản lượng c�i dừa kh� đang sụt giảm.� Marseille, nguy�n l� thị trường của thế giới về sự rao b�n c�i dừa kh� cũng như l� một trung t�m quan trọng của sự chế tạo x� ph�ng, bị x�o trộn bởi chiến tranh v� sản lượng của c�c nh� m�y x�-ph�ng bị sụt giảm bởi c� sự động vi�n nh�n c�ng của ch�ng.� C�y dừa tăng trưởng tr�n đầy tại mọi phần của bờ biển v� ch�u thổ của Đ�ng Dương ph�a nam miền trung Trung Kỳ, nhưng sự sản xuất c�i dừa kh� trong thực tế được hạn chế v�o c�c tỉnh Mỹ Tho v� Bến Tre tại v�ng hạ lưu s�ng Mekong thuộc Nam Kỳ.� Sản lượng cho c�c năm 1914, 1915v� 1916 lần lượt v�o khoảng 8,500, 7,500, v� 4,500 tấn; cho năm 1917 c� lẽ sẽ kh�ng nhiều hơn năm 1916.� Việc trồng c�y dừa kh�ng được mở rộng v� dừa được ti�u thụ bởi d�n bản xứ hay được chế biến th�nh dầu dừa.

 

Quảng C�o Sản Phẩm X� Ph�ng

 

C�c Sự Xuất Cảng Quế, Đường, v� Tr�.

������ Quế, đường, v� tr� l� c�c n�ng phẩm xuất cảng ch�nh của Trung Kỳ; nhưng, ngoại trừ một số �t tr� của Bắc Kỳ, c�c sản phẩm n�y đ� kh�ng được xuất cảng từ bất kỳ phần đất n�o kh�c của Đ�ng Dương.� Phần lớn quế, đến từ v�ng t�y nam của Hội An (Faifo), thuộc miền trung Trung Kỳ, được mua bởi c�c thương nh�n Trung Hoa tại Hội An v� được chở bằng t�u từ Đ� Nẵng sang Trung Hoa.� Một số quế từ Thanh H�a, miền bắc Trung Kỳ, được xuất cảng mỗi năm từ Hải Ph�ng.� Trước đ�y c�c khu rừng đ� sản xuất ra phần lớn sản phẩm n�y, nhưng đồn điền quế đang gia tăng tầm quan trọng.� Năm qua đ� l� một năm tốt đẹp trong mậu dịch quế, nhưng c�c dấu hiệu cho năm 1917 kh�ng mấy hứa hẹn.

������ Mặc d� đường được sản xuất tại mọi phần của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, n� chỉ được xuất cảng từ miền trung Trung Kỳ.� Khối lượng đang gia tăng mỗi năm, nhưng cần c� c�c phương ph�p hữu hiệu hơn của sự trồng trọt v� chế biến.� Xứ sở th�ch nghi một c�ch tốt đẹp cho việc trồng c�y m�a v� đường sẽ phải l� một mặt h�ng xuất cảng h�ng đầu từ mọi miền của thuộc địa n�y.� Sản lượng cho năm 1916 th� lớn hơn một c�ch đ�ng kể so với sản lượng của năm trước v� c� mọi chỉ dấu rằng số thu hoạch m�a năm 1917 sẽ lớn lao.� [Xem C�c B�o C�o Thương Mai ng�y 12 Th�ng Tư, 1917.]

������ Phần lớn tr� bản xứ đến từ miền trung Trung Kỳ v� Bắc Kỳ, nhưng hầu hết số xuất cảng lại được chế biến gần Đ� Nẵng.� Hiện c� v�i đồn điền của người �u Ch�u tại v�ng phụ cận n�y v� một hay hai đồn điền tại Bắc Kỳ.� Sự trồng tr� dần dần được mở rộng v� c� sự ch� � hơn đến phẩm chất.� Một trận b�o trong Th�ng Ch�n 1915, đ� g�y tổn hại cho c�c đồn điền ở Đ� Nẵng v� ảnh hưởng nghi�m trọng đến số thu hoạch của năm 1916, nếu kh�ng n� sẽ l� số thu hoạch lớn nhất được ghi nhận.� Sản lượng cho c�c năm 1914, 1915, v� 1916 lần lượt v�o khoảng 700, 1,100 v� 1,600 tấn.� Như trong trường hợp của quế, trị gi� xuất cảng gia tăng trong năm 1916 l� v� c� một sự thay đổi của trị gi� quan thuế.� Sản lượng năm 1917 c� lẽ sẽ vượt qu� sản lượng của năm 1916.

 

Sự Quảng Canh C� Ph� v� Cao Su.

������ C� ph� v� cao su, c�c sản phẩm đồn điền ch�nh của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, trước đ�y bị giới hạn v�o Bắc Kỳ v� miền bắc Trung Kỳ; nhưng gần đ�y, c�c đồn điền cao su của Nam Kỳ đ� bắt đầu trồng c� ph� tr�n một quy m� lớn hơn c�c đồn điền c� ph� cỡ nhỏ của miền bắc v� trong �t năm, Nam Kỳ c� lẽ sẽ qua mặt Bắc Kỳ về sản lượng c� ph�.� Số thu hoạch năm 1916 của Bắc Kỳ v� miền bắc Trung Kỳ phải g�nh chịu sự kh� hạn v� v�o khoảng c�ng sản lượng của năm 1915, vốn độ 530 tấn.� Số thu hoạch của Nam Kỳ l�n tới khoảng 25 tấn trong năm 1916 so với 5 tấn trong năm 1915.� Miền trung Trung Kỳ sản xuất khoảng 10 tấn h�ng năm.

������ C�c đồn điền cao su của Nam Kỳ thụ hưởng một m�a kh� tốt trong năm 1916, nhưng phần n�o phải g�nh chịu nạn hạn h�n v�o l�c đầu năm.� Số lượng sản xuất trong năm 1916 đ� kh�ng đạt tới số gia tăng ước lượng l� 100 phần trăm sản lượng của năm trước; nhưng sự cải thiện về phẩm chất v� sự gia tăng gi� cả gi�p cho lợi nhuận lớn hơn hai lần so với năm 1915.� C�c điều kiện thời tiết trong năm 1917 cho đến nay thuận lợi hơn v� sản phẩm được ước định �t nhất sẽ gấp đ�i sản lượng của năm 1916.� Cao su hoang dại, trước đ�y thu lượm được với sự phong ph� đ�ng kể từ c�c khu rừng của Bắc Kỳ v� L�o, kh�ng c�n l� một sản phẩm xuất cảng h�ng đầu.� [Xem b�o c�o về cao su đồn điền v� hoang dại tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p, được ấn h�nh trong C�c B�o C�o Thương Mại ng�y 6 Th�ng S�u, 1917.]

 

C�c Sản Phẩm Quan Trọng

Về Dầu Thực Vật.

������ Phần lớn c�c đồn điền dầu sơn m�i tại Bắc Kỳ nằm ở v�ng phụ cận của Ph� Thọ, giữa s�ng Hồng v� s�ng Thương (Clear River) b�n tr�n Việt Tr�.� Sản lượng cho c�c năm 1913, 1914, v� 1915 lần lượt qu�ng 600, 800, v� 1,600 tấn.� Mặc d� con số ch�nh x�c kh�ng được cung ứng, điều được hay biết rằng số thu hoạch đ� giảm s�t lớn lao trong năm qua.� Phần lớn sản phẩm n�y được xuất cảng sang Nhật Bản.

������ V�ng chung quanh Lạng Sơn gần bi�n giới Trung Hoa tại miền đ�ng bắc Bắc Kỳ, với Tỉnh Trung Hoa kề cận, được n�i l� trung t�m ch�nh yếu của sự sản xuất c�nh hồi h�nh sao hay badian [t�n gọi c�nh hồi tại Ấn Độ v� Pakistan, ch� của người dịch] của thế giới, được chở sang Ph�p v� từ đ� được t�i xuất cảng hay sử dụng trong sự chế tạo rượu khổ ng�i (absinthe), rượu hồi hương (anisette), v� một số hỗn hợp dược liệu n�o đ�.� Điều được nghĩ rằng ng�nh n�y sẽ bị ảnh hưởng nghi�m trọng bởi lệnh cấm chế tạo v� mua b�n rượu khổ ng�i, nhưng c�c sự sử dụng kh�c được t�m thấy cho dầu thực vật.

������ Thầu dầu hay dầu xổ (castor), lạc (đậu phọng) v� dừa l� c�c sản phẩm quan trọng của quản hạt n�y.� Gi� cao của dầu hỏa v� dầu nhờn (nhớt) đ� k�ch th�ch sự chế tạo dầu thầu dầu v� dầu lạc tại Bắc Kỳ v� Trung Kỳ.� Dầu dừa c� nhiều sự sử dụng, từ nấu ăn đến việc chế tạo x� ph�ng v� dầu chải t�c của d�n bản xứ.� Bồng Sơn, tại nam trung phần Trung Kỳ, đ� l� trung t�m chế tạo của n�, nhưng trong năm qua gi� hạ của c�i dừa kh� khiến cho nhiều d�n bản xứ tại Mỹ Tho, Bến Tre, v� c�c nơi kk�c tại Nam Kỳ biến đổi sản phẩm đ� th�nh dầu dừa.

 

Sự Ph�t Triển Của Ng�nh Chăn Nu�i Gia S�c �

L� Mổ Mới

������ Chăn nu�i s�c vật, như một c�ng việc phụ của n�ng nghiệp, đ�ng c� sự ch� � nhiều hơn những g� n� nhận được tại quản hạt n�y v� đang c� c�c dấu hiệu của sự quan t�m gia tăng.� Đ�ng Dương thuộc Ph�p tọa lạc một c�ch thuận lợi để cung cấp cho ba thị trường lớn của Phương Đ�ng � Phi Luật T�n, Hồng K�ng v� Singapore.� Số xuất cảng heo thiến (hogs) từ S�ig�n sang Singapore trong năm năm qua trung b�nh khoảng 40,000 con mỗi năm; b� v� tr�u nước (carabao) được gửi từ Pnompenh sang Phi Luật T�n trong năm 1914 v� 1915 lần lượt l�n đến con số 4,154 v� 5,200 con.

������ Điều được ước lượng hiện c� tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p 3,200,000 b� v� tr�u nước v� 2,700,000 heo thịt, v� rằng dưới c�c điều kiện hi�n nay, tỷ số xuất cảng hiện thời c� thể được duy tr� hay ngay cả gia tăng.� Cho đến nay, việc chăn nu�i s�c vật l� một c�ng việc bản xứ; nhưng sự tăng trưởng của c�c đồn điền cao su v� c� ph� của người �u Ch�u đang đ�i hỏi c�c đ�n đ�ng đảo s�c vật tốt giống hơn.� Một số b� Ấn Độ đ� được du nhập v�o Nam Kỳ, v� Ch�nh Quyền hồi gần đ�y đ� thiết lập một trạm chăn nu�i tại một n�ng trại thử nghiệm tại ph�a nam trung phần Trung Kỳ nhắm v�o sự sản xuất c�c s�c vật mang lại thực phẩm v� sữa tốt hơn.� Tr�u nước l� con vật k�o l� tưởng cho loại đất ướt, nhưng thịt của n� th� dai.� B� bản xứ th� nhỏ v� chỉ mang lại �t sữa hay kh�ng c� sữa.

������ Một sự ph�t triển đ�ng ch� � kh�c trong năm 1916 l� sự thiết lập tại Bến Thủy v� Vinh miền bắc Trung Kỳ một l� s�t sinh lớn v� nh� m�y đ�ng lạnh với dịch vụ chở bằng t�u hơi nước thường xuy�n đến Hồng K�ng v� Manila.� C�ng ty n�y dự tr� chi ti�u khoảng $125,000 cho c�c cơ sở sẽ mang lại một năng suất 250 tấn thịt.� Một chủ t�u người Ph�p tại Hồng K�ng đ� tr� liệu d�nh cho dịch vụ n�y một chiếc t�u nhỏ, chiếc Cavanba, với khoang chở h�ng h�a cho 125 tấn thịt đ�ng lạnh.� Đ�y sẽ l� nỗ lực đầu ti�n của Đ�ng Dương để mổ c�c s�c vật cung cấp thực phẩm m� từ l�u đ� được chở sang Manila, Hồng K�ng v� Singapore.

 

Da Sống, Lụa, v� C�

Bị Ảnh Hưởng Bởi Chiến Tranh.

������ Mậu dịch da sống c� lẽ đ� g�nh chịu ảnh hưởng từ c�c gi� biểu chuy�n chở g�y ra bởi chiến tranh �u Ch�u nhiều hơn bất kỳ sản phẩm n�o kh�c của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Sự sụt giảm ghi nhận trong b�o c�o năm vừa qua c�n lớn hơn nữa trong năm 1916.� Gần như tất cả c�c nh� xuất cảng �u Ch�u đều đ� ngưng giao dịch về da sống, v� thế chỉ c� h�ng da thuộc v� một �t h�ng của Trung Hoa l� c� mặt tr�n thị trường.

Mậu dịch h�ng lụa cũng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh v� bởi c�c trận lụt tại Bắc Kỳ trong năm 1915.� Sản lượng ổ k�n tằm tại Bắc Kỳ �t hơn b�nh thường một c�ch đ�ng kể, nhưng tại Trung Kỳ lại nhiều hơn b�nh thường một ch�t.

C� v� c�c sản phẩm của c� cấu th�nh, sau gạo, sản phẩm quan trọng nhất của Đ�ng Dương.� Ng�nh n�y, ho�n to�n bị kiểm so�t bởi người Trung Hoa, gặp trở ngại trong năm 1916 bởi c�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao v� thiếu số trọng tải.

 

C�c Nh� M�y Xay L�a,

C�c Nh� M�y Cất Rượu v� Sản Xuất Thức Uống

Hoạt Động T�ch Cực.

������ C�c nh� m�y xay l�a bận rộn trong năm 1916.� 10 nh� m�y xay l�a tại Chợ Lớn, gần S�ig�n, đều hoạt động v� v� sản xuất 1,250,000 tấn gạo, gia tăng 15 phần trăm so với sản lượng của năm 1915 v� gần bằng với sản lượng của năm 1914.� Ba nh� m�y xay l�a nhỏ tại Hải Ph�ng �t b�n rộn hơn, bởi số thu hoạch �t hơn v� c� nhiều hoạt động hơn của c�c nh� m�y cất rượu từ gạo.� Sản lượng của ch�ng chỉ v�o khoảng 100,000 tấn trong năm 1916, so với 200,000 tấn trong năm 1915.� Một số lượng gia tăng thường trực c�c nh� m�y xay gạo tại nhiều nơi kh�c nhau của Nam Kỳ ch� x�t l�a cho sự ti�u thụ địa phương.

������ V�o l�c khởi đầu của năm 1917, c�c triển vọng th� tốt cho ng�nh xay gạo của Chợ Lớn.� Trị gi� v�o khoảng $400,000 đến $500,000 đồng l�a c�n lại của năm vừa qua, v� của vụ thu hoạch được gặt h�i khi đ� trị gi� v�o khoảng $1,400,000 sẽ được cung ứng cho sự xuất cảng.� C�c nh� m�y xay l�a th� t�ch cực v� gi� cả th� tốt.� Sự xuất cảng gạo từ S�ig�n trong hai th�ng đầu ti�n của năm 1917 nhiều hơn 20 phần trăm so với thời khoảng tương ứng của năm 1915.� C�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao v� việc thiếu trọng tải sẽ sớm được cảm nhận, v� trong Th�ng Ba hơn một nửa c�c nh� m�y xay gạo của Chợ Lớn bị đ�ng cửa v� số c�n lại hoạt động ch�nh yếu cho trương mục của Ch�nh Quyền.� Gi� gạo chở bằng t�u giảm từ $3.50 đồng mỗi tạ 60.7 k�-l� v�o ng�y 1 Th�ng Một, 1917 xuống c�n $2.75 đồng mỗi tạ v�o ng�y 1 Th�ng Ba, v� c�c sự vận tải thực sự bị đ�nh chỉ bởi thiếu chỗ chở h�ng.

������ Bốn nh� m�y lớn của C�ng Ty Cất Rượu Của Ph�p Tại Đ�ng Dương (La Soci�t� Fran�aise des Distilleries de l�Indochine) hoạt động ng�y đ�m trong thực tế to�n thể năm qua để cung cấp rượu cho c�c xưởng đạn dược của mẫu quốc.� Với c�c nh� m�y lớn hơn chở h�ng của ch�ng sang Ph�p, c�c nh� m�y cất rượu nhỏ hơn rất bận rộn để cung cấp cho mậu dịch địa phương.� Tổng số sản lượng của c�c nh� m�y cất rượu của Đ�ng Dương l�n tới gần 2,000,000 gallons [1 gallon = 3,78 lit tại Mỹ, ch� của người dịch] rượu nguy�n chất, trị gi� khoảng $8,000,000, gia tăng 100 phần trăm so với c�c số kỷ lục của năm 1915.

C�c nh� m�y sản xuất thức uống của Chợ Lớn v� H� Nội thụ hưởng một năm rất tốt đẹp.� Sự cạnh tranh của �u Ch�u thực tế đ� bị ngừng lại, v� c�c thương nghiệp địa phương chia nhau thị trường Đ�ng Dương thuộc Ph�p.

 

C�c Nh� M�y Dệt � Sản Xuất B�ng Vải

Hoạt Động Bận Rộn.

������ Ng�nh dệt của Đ�ng Dương thuộc Ph�p bao gồm sự chế tạo sợi v� vải bằng b�ng v� lụa c�ng sự sản xuất thảm v� vật liệu l�m thảm.� Ba nh� m�y se b�ng vải của C�ng Ty B�ng Vải Bắc Kỳ (La Soci�t� Cotonni�re du Tonkin) đ� bận rộn suốt năm để cung cấp cho nhu cầu địa phương v� cung cấp len cho xưởng dệt quần �o của c�ng c�ng ty tại Nam Định, hoạt động theo khế ước của ch�nh phủ.� Trị gi� sản phẩm năm 1916 của c�c nh� m�y n�y lớn hơn một c�ch đ�ng kể so với sản lượng của năm 1915, vốn đ� qua mặt tất cả c�c năm trước đ�.

 

Usine de Nam Dinh vue du Boulevard Armand Rousseau � Photo non dat�e (D�but 1900?)

Nh� m�y Nam Định, nh�n từ Đại Lộ Armand Rousseau, kh�ng ghi ng�y (Đầu 1900?)

������ Ng�nh lụa kh�ng được may mắn như thế.� Sự thiệt hại của c�c nh� m�y d�u tằm v� k�n tơ bởi c�c trận lut năm 1915 v� việc mất thị trường �u Ch�u về tơ sống đ� ảnh hưởng nghi�m trọng đến c�c nh� m�y se lụa Bắc Kỳ. �C�c xưởng sản xuất h�ng lụa của Nam Định v� Quy Nhơn đ� bất động, hầu như suốt năm.

������ Sự chế tạo thảm Bắc Kỳ đ� sụt giảm trong v�i năm gần đ�y.� Tại phần đất Bảo Hộ n�y cũng như tại Nam Kỳ, phần lớn hơn của sản phẩm của lau sậy được xuất cảng như vật liệu l�m thảm hay như c�c chất sợi (fibers).

Da Thuộc, Giấy, v� C�c Chế Tạo Phẩm Kh�c.

������ Gi� thấp của da sống đ� trợ lực cho c�c nh� m�y thuộc da của Trung Hoa tại Hải Ph�ng v� Chợ Lớn v� phần lớn c�c sản phẩm của ch�ng được xuất cảng từ Hải Ph�ng v� Saig�n l� c�c chuyến h�ng da đ� thuộc hay nấu đến Trung Hoa.� Nh� m�y của C�ng Ty Da Thuộc Đ�ng Dương (La Soci�t� des Tanneries de l�Indochine) tại H� Nội, giờ đ�y được mở rộng với sự bổ t�c một xưởng đ�ng giầy v� giầy cao cổ, đ� gia tăng lớn lao sản lượng của n� trong năm 1916.

������ M�y nh� giấy tại Đ�p Cầu cung cấp cho thị trường địa phương.� Nh� m�y bột giấy tại Việt Tr� vẫn c�n bất động.

������ C�c xưởng x� ph�ng v� dầu thực vật tại Hải Ph�ng v� S�ig�n đ� c� một năm ph�t đạt nhờ sự gỡ bỏ sự cạnh tranh của �u Ch�u khỏi thị trường x� ph�ng, gi� thấp của c�i dừa kh�, v� số cầu gia tăng về dầu thực vật.

������ Sản lượng của c�c xưởng albumen (ph�i nhũ) tại Huế v� Qui Nhơn phần n�o �t hơn sản lượng của năm 1915 bởi việc mất thị trường, gi� biểu chuy�n chở l�n cao v� thiếu trọng tải.

������ Ba nh� m�y di�m của Bắc Kỳ v� miền bắc Trung Kỳ, trong thực tế, chiếm giữ mậu dịch địa phương, đ� c� một năm tốt đẹp thường lệ của ch�ng trong năm 1916.� [Xem C�c B�o C�o Thương Mại, ng�y 17 Th�ng T�m, 1916.]� C�c nh� m�y cưa v� c�c xưởng l�m đồ gỗ bị trở ngại đ�i ch�t bởi c�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao v� thiếu c�ng việc x�y cất trong nước.� Sản lượng của nh� m�y gỗ teak gần S�ig�n phần n�o nhiều hơn sản lượng của năm 1915, vốn đ� l� một năm ph� kỷ lục.� Mặt kh�c, xưởng cưa gỗ lớn gần Pnompenh gần như bất động, ch�nh yếu bởi c�c sự sửa chữa v� sự động vi�n v�o qu�n đội c�c nh�n vi�n điều h�nh gốc �u Ch�u.

������ [Muốn c� một cuộc khảo s�t s�u rộng hơn về c�c ng�nh kỹ nghệ của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, xem phần Bổ T�c C�c B�o C�o Thương Mại, Số 54a, ấn h�nh h�m 16 Th�ng Mười, 1916.]

 

B�ch Chương Quảng C�o Di�m

 

Kho�ng Sản Gia Tăng

B�ch Chương Quảng C�o Than Đ� Đ�ng Dương

 

Sản lượng hầm mỏ năm 1916 th� lớn hơn sản lượng của năm trước.� Bắc Kỳ l� khu hầm mỏ của Đ�ng Dương thuộc Ph�p, v� trong năm 1916 kho�ng sản đ� giữ vị tr� h�ng đầu trong số xuất cảng từ Hải Ph�ng.� Than đ� l� kho�ng sản ch�nh yếu của Đ�ng Dương v� sản lượng năm 1916 l� 800,000 tấn, gia tăng hơn 200,000 tấn so với năm 1915.� Một số lượng lớn lao bất thường được ti�u thụ tại Bắc Kỳ v� tại c�c phần kh�c của thuộc địa.� Sản lượng kẽm nhiều hơn năm 1915 từ 10 đến 15 phần trăm; chất antimony [kho�ng chất kim loại m�u x�m, được d�ng trong c�c hợp kim v� dược phẩm, k� hiệu h�a học l� Sb, ch� của người dịch], nhiều hơn từ 20 đến 30 phần trăm; thiếc v� wolfram [t�n gọi kh�c của chất tungsten, d�ng l�m tim b�ng đ�n điện, ch� của người dịch] hơi �t hơn; Một mỏ nhỏ, Bồng Mi�u, tại miền trung Trung Kỳ, sản xuất h�ng năm trị gi� từ $50,000 đến $100,000 v�ng v� bạc.

������ [Về ng�nh hầm mỏ của Đ�ng Dương, xem c�c b�o c�o được ấn h�nh trong C�c B�o C�o Thương Mại về c�c mỏ kẽm tại Bắc Kỳ, ng�y 30 Th�ng Ch�n, 1916; sự sản xuất v�ng v� bạc tại Trung Kỳ, 28 Th�ng Chin, 1916; thiếc v� chất wolfram tại Bắc Kỳ, 12 Th�ng Mười Hai, 1916; v� c�c mỏ than đ� của Bắc Kỳ, 14 Th�ng Tư, 1917.]

 

Ngoại Thương

������ Ngoại thương của Đ�ng Dương thuộc Ph�p th� b�nh thường trong năm 1916.� Mặc d� c�c thống k� ch�nh x�c kh�ng được cung ứng, c� lẽ số xuất cảng vẫn giữ c�ng khối lượng, nhưng đ� gia tăng khoảng $1,000,000 trong trị gi� quan thuế, tạo th�nh một trị gi� kỷ lục hơn $57,000,000 .� Trị gi� quan thuế c�c h�ng nhập cảng c� thể nhiều hơn trị gi� của năm 1915 khoảng $3,500,000, nhưng �t hơn năm 1914 một c�ch đ�ng kể.� Một sự ước lượng d� dặt trị gi� h�ng nhập cảng của năm 1916 l� $34,600,000, so với $31,284,000 cho năm 1915, v� $40,675,000 cho năm 1914.

������ C�c số xuất cảng từ S�ig�n đ� gia tăng gần $3,000,000 so với năm 1915, nhưng phần n�o k�m hơn năm 1913 v� 1914.� Sự gia tăng n�y nhiều phần l� v� trị gi� tăng cao của c�c sự xuất cảng gạo, mặc d� c�c chuyến chỏ b�ng vải v� cao su c� gia tăng một c�ch mạnh mẽ.� C�, da sống, hạt ti�u, c�i dừa kh�, v� c�c h�ng xuất cảng kh�c từ S�ig�n cho thấy một sự s�t giảm r� rệt so với năm trước.

������ Trị gi� gia tăng c�c h�ng xuất cảng từ S�ig�n đ� gần như bị b� trừ bởi một sự s�t giảm gần $2,500,000 tại Hải Ph�ng.� Gạo kh�ng th�i cho thấy một sự sụt giảm kh�ng đủ để bao h�m ngạch số n�y; c�c sản phẩm kh�c, đặc biệt l� ng�, cũng sụt giảm.� Ngược lại, số xuất cảng c�c kho�ng sản, xi măng, vải cuộn, v� rượu trắng đ� gia tăng một c�ch đ�ng kể.

������ Trị gi� c�c h�ng xuất cảng từ Đ� Nẵng gia tăng khoảng $600,000, l� con số lớn nhất chưa từng ghi nhận được tại hải cảng đ�.� Số gia tăng gần như ho�n to�n nằm nơi quế v� đường, c�c mặt h�ng cho sự ti�u thụ v� xuất cảng sang Trung Hoa, v� ch�nh yếu do sự thay đổi trong trị gi� quan thuế.� C�c số xuất cảng từ Pnompenh khoảng giống như c�c số xuất cảng của năm 1915.

 

C�c Số Xuất Cảng Gạo Duy Tr� Mức Độ Cao �

Ng� V� Sắn Bị Sụt Giảm.

������ Trị gi� của gạo v� th�c chở đi từ tất cả c�c hải cảng của Đ�ng Dương thuộc Ph�p trong năm 1916 l� $36,000,000, tương đương với tổng số của năm 1915, v� k�m hơn năm 1914 khoảng $700,000.� Tuy nhi�n, trị gi� n�y vượt xa mức trung b�nh v� lớn hơn trị gi� của bất kỳ năm trước n�o cho tới 1914.� S�ig�n sẽ c� trị gi� khoảng $55,000,000 số gạo khả cung cho c�c sự xuất cảng trong năm 1917, v� Bắc Kỳ cung ứng �t nhất $6,000,000, nhưng c�c kh� khăn vận tải đang can thiệp một c�ch nghi�m trọng cho c�c chuyến chở h�ng.

������ C�c số xuất cảng ng� từ Đ�ng Dương đ� sụt giảm trong trị gi� từ $2,300,000 trong năm 1914 xuống c�n $1,460,000 trong năm 1915, v� c�n khoảng $900,000 trong năm 1916.� Sự sụt giảm ch�nh yếu từ Hải Ph�ng, nơi sự suy giảm l� từ $1,350,000 trong năm 1914 v� gần $600,000 trong năm 1915 xuống �t hơn $100,000 trong năm 1916.� C�c số xuất cảng [ng�] từ Đ� Nẵng đ� sụt giảm từ $232,600 trong năm 1914 xuống $114,000 năm 1915 v� c�n khoảng $60,000 trong năm 1916.� C�c số xuất cảng từ Saig�n cho ba năm n�y lần lượt l� $716,500, $648,000, v� khoảng $757,000.

������ Số xuất cảng sắn từ Đ� Nẵng sang Ph�p, c� trị gi� l�n tới khoảng $120,000 trong năm 1914 v� $24,000 trong năm 1915, tụt xuống c�n khoảng $2,000 năm 1916.� C�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao v� sự tr� ho�n l�u d�i đ� g�y ra một sự tạm đ�nh chỉ mậu dịch n�y.

������ Đường, xuất cảng từ Đ� Nẵng, trước đ�y bị kiểm so�t bởi người Trung Hoa, v� được chở tới Hồng K�ng v� Trung Hoa.� Trong năm 1916, trị gi� khoảng $235,000 đường Trung Kỳ đ� được gửi sang Ph�p.� Trị gi� xuất cảng đường trong c�c năm 1914, 1915, v� 1916 lần lượt l� $153,400, $250,000, v� khoảng $475,000.

 

C�c Số Xuất Cảng Cao Su,

Tr�, C� Ph� v� Hạt Ti�u.

������ Số xuất cảng cao su, tr�, v� c� ph� cho thấy một sự ph�t triển dần dần c�c đồn điền của v�ng đất n�y.� C�c chuyến h�ng cao su đồn điền đ� gia tăng từ $152,000 trong năm 1914 l�n $310,000 tnăm 1915 v� khoảng $650,000 năm 1916, trong thực tế tất cả đều xuất từ S�ig�n.

������ Trị gi� số xuất cảng tr�, t�nh tr�n c�c con số, l� $165,000 năm 1914, $325,000 năm 1915, v� khoảng $360,000 năm 1916.� Sự gia tăng trong trị gi� quan thuế trong năm qua c� t�nh chất t�i định, số lượng cho thấy một sự sụt giảm nhẹ.

������ C�c thống k� về sự xuất cảng c� ph� trong năm 1916 chưa được cung ứng; c�c con số của năm 1914 v� 1915 lần lượt l� $94,000 v� $140,000.� C�c con số năm 1916 c� lẽ sẽ lớn hơn một ch�t so với con số của năm 1915.� Gần như tất cả c� ph� đều được xuất cảng từ Hải Ph�ng, nhưng trong năm vừa qua, một số được chở t�u từ Saig�n.

������ C�c số xuất cảng hạt ti�u của Căm Bốt từ S�ig�n l� $564,000 trong năm 1914, $749,000 năm 1915, v� khoảng $560,000 năm 1916.

 

Sự Suy Giảm Tổng Qu�t Trong L�m Sản

������ Đ� c� một sự suy giảm tổng qu�t trong c�c chuyến chở sản phẩm l�m nghiệp v� c�c đồn bản xứ, đặc biệt sơn (c�nh kiến đỏ), nhựa c�y, v� cao su hoang dại, vốn được xuất cảng bởi c�c nh� bu�n �u Ch�u.� C�c nguy�n do l� v� thị trường �u Ch�u x�o trộn v� c�c hoạt động sụt giảm của c�c nh� xuất cảng �u Ch�u tại Đ�ng Dương.

������ Quế, bạch đậu khấu (cardamom), v� cunao [? củ n�u], được xuất cảng bởi người Trung Hoa, chỉ bị ảnh hưởng bởi t�nh h�nh �u Ch�u một c�ch gi�n tiếp xuy�n qua c�c gi� biểu chuy�n chở tăng cao, c�c sự tr� ho�n, v� thiếu c�c cơ sở hải vận.� Mậu dịch quế ph�t triển, mặc d� sự ph�t đạt bất thường của n� trong năm 1916 c� phần bề ngo�i nhiều hơn thực chất.� C�c số xuất cảng quế hoang dại v� đồn điền đang s�t giảm.

������ Hạt bạch đấu khấu từ c�c khu rừng của Căm Bốt, L�o, v� thượng du Bắc Kỳ được chở sang Trung Hoa, nơi ch�ng được sử dụng cho mục đ�ch y khoa.� Trị gi� xuất cảng của sản vật n�y l� $101,363 trong năm 1914 v� $190,700 năm 1915.� C�c con số kh�ng được cung ứng cho năm 1916, nhưng ch�ng sẽ kh�ng kh�c biệt lớn lao so với c�c con số của năm trước.� Phần lớn hạt bạch đậu khấu được xuất đi từ S�ig�n, v� từ 25 đến 40 phần trăm từ Hải Ph�ng.

������ Củ n�u [?], từ Bắc Kỳ v� V�n Nam, l� chất nhuộm m�u được d�ng cho quần �o m�u n�u đậm được mặc bởi d�n bản xứ tại khu vực ch�u thổ Bắc Kỳ v� được chuy�n chở bởi người Trung Hoa đến Hồng K�ng, từ đ� n� được chuyển tới c�c nh� m�y sản xuất lụa của Quảng Ch�u (Canton).� C�c số xuất cảng l� $154,600 trong năm 1914 v� $143,000 trong năm 1915; c�c con số cho năm 1916 chưa được cung ứng, nhưng sẽ kh�ng biến đổi mấy so với c�c năm trước.

������ C�i dừa kh� một phần tự nhi�n v� một phần l� một sản phẩm do trồng trọt lệ thuộc v�o một thị trường �u Ch�u.� Trị gi� xuất cảng cho c�c năm 1914, 1915, v� 1916 lần lượt l� $487,100, $455,000, v� khoảng $350,000. Việc mất thị trường, c�c gi� biểu chuy�n chở l�n cao, v� thiếu trọng tải vận chuyển l� nguy�n do cho sự suy giảm n�y.

������ Số xuất cảng giảm s�t về cao su hoang dại, nhựa c�y, v� sơn trong �t năm qua th� r� rệt trong thương mại của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� C�c con số cho cao su hoang dại l� $175,700 năm 1912, $107,655 năm 1913, $11,764 năm 1914, $5,711 năm 1915, v� thực sự l� số kh�ng năm 1916.� Sản lượng chất benzoin, hay nhựa Benjamin, sụt giảm từ 134 tấn, trị gi� $40,000 năm 1913 xuống c�n 16 tấn, trị gi� $5,000 năm 1914; kể từ đ� l� số 0.� Sơn v� b�t (que) sơn (stick lac), số xuất cảng l�n tới hơn $200,000 năm 1908, tụt từ 807 tấn, trị gi� $125,000 năm 1913, xuống 235 tấn, trị gi� $35,000, trong năm 1914 v� 100 tấn, trị gi� $15,000 năm 1915.

������ Dầu sơn m�i được sản xuất tại c�c đồn điền bản xứ ở Bắc Kỳ, nơi c�y sơn được trồng v� lấy nhựa gần như c�ng cung c�ch đối với cao su đồn điền tại Nam Kỳ.� Trong 10 năm qua, số xuất cảng trung b�nh từ 400 đến 500 tấn, trị gi� từ $60,000 đến $90,000; trong năm 1915, l� 1,518 tấn, trị gi� $264,000; trong năm 1916, nhiều hơn 300 tấn một ch�t, trị gi� $55,000.

������ C�c l�m sản kh�c xuất cảng từ Đ�ng Dương l� gỗ l�m nh�, ch�nh yếu l� gỗ teak, từ S�ig�n, trị gi� từ $125,000 đến $150,000 mỗi năm; c�c sản phẩm bằng gỗ, c� khoảng c�ng trị gi�; m�y, $100,000, v� một số lượng �t hơn về tre, được chở từ Hải Ph�ng v� Đ� Nẵng; v� c�c vị thuốc y khoa, $120,000.

 

Dầu Thực Vật B�nh Thường �

Hạt M� (Vừng) Cho Thấy Gia Tăng.

������ Số xuất cảng badian, hay dầu c�nh hồi, trong thập ni�n qua n�i chung từ 40 tấn đến 100 tấn về khối lượng v� từ $90,000 đến $215,000 về trị gi�.� Trong năm 1913, đ� c� một sự tăng trọng l�n 230 tấn, trị gi� gần $500,000.� C�c số xuất cảng cho c�c năm 1914, 1915, v� 1916 lần lượt l� 48, 74, v� qu�ng 50 tấn, trị gi� $113,800, $158,450, v� độ $125,000.

������ Bởi c� nhu cầu địa phương gia tăng về dầu thầu dầu v� dầu lạc (đậu phọng) trong hai năm vừa qua, c�c số xuất cảng đ� sụt giảm.� Trong c�c năm 1912, 1913, 1914, v� 1915, Hải Ph�ng đ� xuất cảng 394, 593, 900, v� 499 tấn dầu thầu dầu, trị gi� $39,000, $59,000, $87,000, v� $47,000.� C�c chuyến h�ng cho năm 1916 c� lẽ sẽ kh�ng vượt qu� c�c con số năm 1915.� Một số lượng nhỏ hạt dầu thầu dầu (castor beans) được chở đi từ Đ� Nẵng.� Số xuất cảng dầu lạc, phần lớn từ Qui Nhơn, trong khoảng từ $20,000 đến $40,000; kể từ 1914, n� gần con số thấp hơn.� Trị gi� đậu phọng từ $15,000 đến $30,000 đ� được xuất cảng mỗi năm từ Hải Ph�ng, Qui Nhơn, v� S�ig�n.�

������ Đ� c� một sự gia tăng thường trực trong số xuất cảng hạt vừng (m�) � 860 tấn, $43,000, trong năm 1912; 1,200 tấn, $60,200, năm 1913; 1,600 tấn, $79,500, năm 1914; v� 3,020 tấn, $150,700, năm 1915, với một sự ước lượng gia tăng cho năm 1916.� Sản phẩm n�y được xuất đi từ Hải Ph�ng v� c�c hải cảng kh�c của Đ�ng Dương.

 

C�c Số Xuất Cảng Giảm S�t Về Gia S�c Sống,

C�c S�c Sản, v� C�.

������ Số xuất cảng da sống v� da thuộc giảm từ khoảng $2,140,000 năm 1915 xuống khoảng $1,350,000 năm 1916, số thấp nhất kể từ 1908.� Sự giảm sụt ch�nh yếu từ S�ig�n, từ $1,441,500 xuống c�n $819,500; giảm 30 phần trăm tại Hải Ph�ng v� �t hơn từ Đ� Nẵng.

������ C�c gi� biểu chuy�n chở tăng cao v� thiếu chồ d�nh cho h�ng h�a khiến cho c�c chuyến h�ng chở lợn thịt từ Hồng K�ng đến Singapore giảm từ $319,000 năm 1915 xuống $261,000 năm 1916; nhưng từ Đ� Nẵng, c�c chuyến h�ng đ� gia tăng từ $4,300 l�n $42,000, v� c�c chuyến h�ng mỡ động vật từ �t hơn $600 l�n gần $20,000.� Số xuất cảng b� v� tr�u nước từ Pnompenh sang Phi Luật T�n, vốn v�o khoảng $200,000 năm 1915, c� lẽ đ� giảm sụt đ�i ch�t trong năm 1916 v� thiếu trọng tải vận chuyển.

������ Sự sụt giảm trong c�c số xuất cảng c�, từ gần $3,500,000 xuống �t hơn $3,000,000, l� do t�nh trạng chiến tranh.� C� v� c�c sản phẩm từ c� được xuất từ S�ig�n v� c�c hải cảng kh�c.� Số xuất cảng vỏ (mu) r�a từ S�ig�n l�n đến $248,750 năm 1915 v� khoảng tương đương với c�c con số n�y trong năm 1916.

 

Vải Cuộn Gia Tăng � Lụa v� Chiếu C�i S�t Giảm.

������ C�c chuyến h�ng vải cuộn, hay len, đ� gia tăng từ �t hơn $700,000 trong năm 1915 l�n gần $1,000,000 năm 1916.� Phần lớn số n�y được chở sang V�n Nam.� Một số được nhập cảng v�o Hải Ph�ng v� được t�i xuất cảng, nhưng phần lớn được sản xuất tại c�c nh� m�y b�ng vải tại Bắc Kỳ.

������ C�c số xuất cảng lụa sống v� c�c sản phẩm từ lụa sụt giảm từ $378,250 năm 1915 xuống khoảng $200,000 năm 1916; tại Hải Ph�ng, từ $225,000 xuống khoảng $36,000.� C�c chuyến h�ng từ Đ� Nẵng v� Qui Nhơn đ� gia tăng từ $115,400 l�n $136,550.� Sản lượng nhiễu lụa v� lụa mộc (pongee) của nh� m�y Qui Nhơn đ� tăng từ $10,400 l�n $64,000.

������ Số xuất cảng thảm v� chiếu rơm của Bắc Kỳ, trước đ�y từ $300,000 đến $450,000, đ� giảm xuống qu�ng $100,000.

 

Khối Lượng Lớn Hơn C�c Kho�ng Sản

������ Năm 1916 thuận lợi cho ng�nh khai mỏ của Bắc Kỳ.� Bất kể một sự ti�u thụ địa phương gia tăng, số xuất cảng than đ� c� lẽ ngang bằng với c�c con số năm 1915 � độ $1,850,000.� Than đ� hiện giờ chiếm h�ng thứ ba trị gi� h�ng xuất cảng từ Đ�ng Dương, đ� qua mặt ng� trong năm 1914 v� da so6ng� c�ng da thuo6.c trong năm 1915.

������ Trị gi� số xuất cảng kẽm từ $463,000 năm 1914 v� $836,500 năm 1915 l�n khoảng $1,000,000 năm 1916.� Kẽm đang gia tăng tầm quan trọng trong số xuất cảng từ l�nh địa n�y.� Trong năm 1916, phần lớn kẽm xuất sang Nhật Bản.� Qu�ng 12,125 tấn đ� được xuất sang Hoa Kỳ.

������ C�c số xuất cảng xi-măng, l�n đến $174,000 năm 1914 v� $614,000 năm 1915, c� lẽ đ� vượt qu� $750,000 năm 1916.

������ Kh� để ước lượng trị gi� quặng thiếc v� tungsten được chở đi từ S�ig�n.� C�c con số quan thuế đưa ra số lượng xuất cảng c�c năm 1914, 1915, v� 1916 lần lượt l� 216, 397, v� 331 tấn.� Ngay d� c�c con số n�y l� x�c thực, trị gi� xuất cảng kh�ng thể t�nh to�n một c�ch ch�nh x�c bởi phẩm chất biến đổi của quặng.� Trị gi� quan thuế của quặng n�y được định l� 600 Phật lăng một tấn � rất thấp so với gi� hiện tại của kim loại n�y.� C� lẽ $175,000 sẽ l� một số ước lượng hợp l� của trị gi� thị trường trong năm 1916.

������ Khối lượng chấ antimony đ� xuất cảng trong năm 1916 l� 785 tấn, so với 630 tấn trong năm 1915 v� 883 tấn năm 1914.� Trị gi� quan thuế năm 1916 v�o khoảng $30,000.

������ Muối, c�ng quặng v�ng v� bạc được xuất cảng từ Đ� Nẵng.� Trị gi� c�c chuyến h�ng muối sụt giảm từ $93,460 năm 1915 xuống c�n $59,393 năm 1916.� Số xuất cảng quặng v�ng v� bạc h�ng năm l�n tới qu�ng từ $50,000 đến $100,000.

 

C�c Số Nhập Cảng H�ng Dệt � B�ng Sống.

������ C�c số thống k� nhập cảng duy nhất cho năm 1916 đ� xuất hiện cho một số mặt h�ng n�o đ� trong ba qu� đầu ti�n của năm.� C�c con số n�y cho thấy một sự gia tăng r� rệt trong trị gi� c�c tấm h�ng dệt v� c�c cuộn vải hay len.� C�c tấm h�ng vải đứng đầu c�c h�ng nhập cảng kh�c của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Trong c�c năm 1913, 1914, v� 1915, trị gi� của ch�ng lần lượt l� $7,083,000, $5,359,000, v� $3,142,800.� Tổng số năm 1916 sẽ v�o khoảng c�c con số của năm 1913.� Một sự thay đổi trong c�c trị gi� quan thuế của h�ng b�ng vải l� nguy�n do cho phần lớn sự gia tăng n�y, nhưng khối lượng c�c số nhập cảng n�y của năm 1916 th� nhiều hơn năm 1915 v� �t nhất c� lẽ bằng với năm 1914.� Số h�ng thời trước chiến tranh đ� b�n hết v� doanh nghiệp đang bắt đầu tự th�ch nghi với t�nh trạng mới. Phần lớn h�ng b�ng vải c� nguồn gốc từ Anh Quốc.� Lần đầu ti�n trong nhiều năm, một số lượng nhỏ sản phẩm của Mỹ đ� xuất hiện tại thị trường n�y trong năm 1916.

������ H�ng lụa thường đứng h�ng thứ nh� sau h�ng b�ng vải trong c�c số nhập cảng của l�nh địa n�y; trong suốt ba năm qua, trị gi� của ch�ng kh�ng thay đổi nhiều từ $2,400,000 v� gần ngạch số n�y cho năm 1916.� Phần lớn trong ch�ng l� c�c tấm h�ng lụa c� nguy�n gốc của Trung Hoa.

����� Số nhập cảng len cuộn l�n tới $900,000 trong năm 1913, $1,136,000 năm 1914, v� $1,482,800 năm 1915.� Trong năm 1916, trị gi� v�o khoảng trị gi� năm 1915, nhưng khối lượng �t hơn.� Sản phẩm n�y ch�nh yếu đến từ Pondicherry, v� một số được t�i xuất cảng sang V�n Nam.

������ Một sự gia tăng g�y ngạc nhi�n nhất l� số nhập cảng b�ng sống, vốn c� trị gi� giảm từ $895,000 năm 1913 xuống c�n $715,000 năm 1914 v� $490,000 năm 1915; tổng số năm 1916 l� gần $1,700,000.� Sự gia tăng n�y một phần l� v� c� sự thay đổi trong trị gi� quan thuế, tăng gần 100 phần trăm, nhưng khối lượng bằng khoảng khối lượng của năm 1913.� B�ng vải ch�nh yếu nhập từ Ấn Dộ v� được d�ng bởi c�c nh� m�y b�ng vải tại Bắc Kỳ.

 

Bao (Bị, T�i) Đay v� V�ng L�

Phản Ảnh Sự Thịnh Vượng �

Thị Trường Độc Quyền Thuốc Phiện

������ Sự nhập cảng c�c bao (bị. t�i) đay v� v�ng l� l� một thước đo sự thịnh vượng bản địa của Đ�ng Dương.� Một c�ch tổng qu�t, sự nhập cảng c�c bao đay thay đổi theo sự xuất cảng gạo; c�c số xuất cảng mạnh mẽ của hai năm qua v� triển vọng một số thu hoạch tốt trong vụ m�a 1916-1917 đ� dẫn đến một sự gia tăng lớn lao trong năm 1915.� C�c số nhập cảng c�c bao đay trong c�c năm 1913, 1914, v� 1915 lần lượt l� $2,140,000, $3,200,000, v� $1,673,000; c�c con số năm 1916 tương đương với c�c con số của năm 1914.� Phần lớn c�c bao đay n�y, từ Calcutta, được nhập v�o Saig�n.

������ V�ng l� được nhập cảng từ Hồng K�ng v� Trung Hoa v� được chế tạo th�nh nhiều mặt h�ng trang sức kh�c nhau, l� h�nh thức ch�nh yếu trong t�i sản c� nh�n của d�n bản xứ, v� ngạch số nhập cảng l� một chỉ số về m�i lực địa phương trong năm.� C�c bi�n nhận cho c�c năm 1913, 1914, v� 1915 lần lượt l� $1,637,500, $1,360,000, v� $1,205,000; trong năm 1916, v�o khoảng $1,300,000.

������ Sự nhập cảng, điều chế, v� rao b�n thuốc phiện l� một độc quyền của Ch�nh Quyền.� Khối lượng nhận được biến đổi lớn lao; trong c�c năm thuận lợi, n�i chung v�o khoảng $1,300,000.� C�c con số cho năm 1916 chưa được cung ứng.

 

Dầu Hỏa, Giấy, Đồ Sứ, v� Đồ Thủy Tinh.

������ Trị gi� quan thuế của dầu hỏa được n�ng cao khoảng 150 phần trăm trong năm qua v� trị gi� số nhập cảng sản phẩm n�y bằng $1,205,000, $1,050,000, v� $1,000,000 lần lượt trong c�c năm 1913, 1914, v� 1915, đ� l�n tới $1,800,000 trong năm 1916.� Số nhập cảng thực sự sản phẩm n�y �t hơn nhiều trong v�i năm [trước đ�y].

������ Mậu dịch giấy ph� b�y một sự gia tăng nhỏ trong cả trị gi� lẫn số lượng.� Trị gi� v�o qu�ng $1,700,000 trong năm 1916, so với $1,600,000 năm 1915, $1,500,000 trong năm 1914 v� $1,709,000 năm 1913.� [Về loại giấy nhập cảng, xem b�o c�o về mậu dịch giấy v� sản phẩm từ giấy tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p trong C�c B�o C�o Thương Mại ng�y 11 Th�ng T�m, 1916.]

������ Đồ sứ v� đồ gốm nhập cảng, trị gi� gần $1,600,000 năm 1913, v� $1,200,000 cho c�c năm 1914 v� 1915, c� lẽ sẽ �t hơn $1,000,000 trong năm 1916, bao gồm phần lớn c�c đồ sứ c� trang tr� của Trung Hoa v� Nhật Bản.

������ Đồ thủy tinh c�c loại, kể cả c�c chai lọ v� đ�n nhiệt quang (incandescent) đ� hạ xuống $226,000 năm 1915, lại tăng trong năm 1916 tới khoảng $460,000, tương đương với c�c con số của c�c năm 1913 v� 1914.� Tuy nhi�n, sự gia tăng nhiều phần l� do sự gia tăng t�i định trong c�c trị gi� quan thuế của c�c mặt h�ng n�y.

 

C�c Số Nhập Cảng Sắt v�

Th�p B�nh Thường Trở Lại �

Đồ Kim Kh� Nặng v� M�y M�c.

������ Trị gia tăng cao của c�c sản phẩm sắt v� th�p nhập cảng trong năm 1916 một phần l� v� c� sự thay đổi t�i định trong c�c gi� trị quan thuế, nhưng ch�nh yếu l� do c�c sự điều chỉnh với t�nh h�nh mới.� C�c số nhập cảng của c�c sản phẩm n�y đột nhi�n ngưng lại v�o l�c khởi đầu chiến tranh.� Đ� c� sự ngần ngại v� kh� khăn trong việc thiết lập c�c quan hệ mậu dịch mới, v� c�c sự tr� ho�n bất thường trong việc cung cấp theo c�c lệnh mua h�ng đ� đặt.� Gần như tất cả số nhập cảng sắt v� th�p năm 1915 bao gồm số h�ng c� trong tay tại c�c hải cảng l�n cận ở Singapore v� Hồng K�ng, nhưng c�c đơn mua h�ng năm 1915 đ� bắt đầu nhập bến trong năm 1916 v� hiện giờ l� một mậu dịch ổn định, được hạn chế v�o c�c nhu cầu tuyệt đối của thị trường, theo c�c điều kiện mới về gi� cả v� c�c điều khoản giao dịch.

������ Mậu dịch đồ nặng bằng kim kh� của Đ�ng Dương l�n tới khoảng $1,724,000 năm 1913, $1,640,000 năm 1914, $930,000 năm 1915, v� c� lẽ $1,400,000 năm 1916.� Tương tự, số nhập cảng m�y m�c, trung b�nh khoảng $900,000 năm 1913 v� 1914, v� đ� giảm xuống �t hơn $400,000 trong năm 1915, lại tăng tới qu�ng $1,000,000 năm 1916.� C�c số nhập cảng sắt v� th�p l� $1,038,000 năm 1913, $633,000 năm 1914, $505,600 năm 1915, v� độ $1,000,000 năm 1916.� Phần lớn đồ kim kh� nặng v� sắt v� th�p c� nguồn gốc Mỹ, được nhập cảng qua ngả Hồng K�ng.

 

Số Nhập Cảng Sụt Giảm về Rượu Vang,

Thuốc L�, v� Thực Phẩm.

 

Quảng C�o Thuốc L�

������ Số ti�u thụ rượu vang (rượu nho), thuốc l�, x� g�, v� thuốc l� điếu đ� sụt giảm do hậu quả của nền kinh tế chiến tranh v� thuộc địa �u Ch�u bị cắt giảm.� Sự kh� khăn trong việc tiếp nhận đồ tiếp liệu từ �u Ch�u v� hoạt động gia tăng của c�c nh� m�y sản xuất thức uống v� c�c cơ xưởng thuốc l� địa phương đ� hạn chế sự nhập cảng c�c mặt h�ng n�y.� Trị gi� rượu vang v� rượu mạnh nhập cảng l� $1,400,000 năm 1913, $1,030,000 năm 1914, $830,000 năm 1915, v� qu�ng $650,000 năm 1916; thuốc l� mọi loại nhập cảng, $800,000 năm 1913, $1,000,000 năm 1914, $660,000 năm 1915, v� độ $650,000 năm 1916.

������ Tuy nhi�n, d�n bản xứ sẽ kh�ng từ bỏ c�c xa xỉ phẩm của m�nh bởi c�c t�nh trạnh x�o trộn tại �u Ch�u.� Th�i quen vững chắc nhất của người đ� l� nhai �trầu�, bao gồm một miếng hạt cau, cuốn trong l� trầu, tẩm ướt bằng chất v�i mịn, v� pha m�u đỏ son.� Mặc d� c�y cau được trồng khắp miền nam Đ�ng Dương, nhu cầu th� qu� lớn đến nỗi hạt cau được nhập cảng với số lượng lớn lao từ Singapore, trị gi� tới $876,000 năm 1913, $641,500 năm 1914, $658,500 năm 1915, v� hơn $1,000,000 năm 1916.

������ Như một quy luật, c�c số nhập cảng thực phẩm đ� sụt giảm với d�n số �u Ch�u �t đi, nhưng bột m�, hạ từ $950,000 năm 1913 xuống c�n $673,000 năm 1914 v� $456,000 năm 1915, lại tăng l�n c� lẽ tới $550,000 trong năm 1916.� C�c số nhập cảng về đường, kẹo, v� si-r� (sirup), tới khoảng $1,219,000 năm 1913 v� trung b�nh độ $900,000 trong c�c năm 1914 v� 1915, đ� s�t giảm xuống �t hơn $700,000 năm 1916.� Kh�ng cứu x�t đến c�c con số ho�n to�n bất thường l� $1,164,000 năm 1913, c�c số nhập cảng tr� đ� sụt giảm dần dần từ $576,300 năm 1914, xuống c�n $470,000 năm 1915 v� $425,000 năm 1916.� Gần như tất cả bột m� nhập cảng đến từ Hoa Kỳ, phần lớn đường nhập từ Java, v� tr� từ Trung Hoa.

 

B�ch Chương Quảng C�o Rượu, H� Nội

Mậu Dịch Với Hoa Kỳ.

������ C�c số nhập cảng trực tiếp từ Hoa Kỳ đến Đ�ng Dương thuộc Ph�p n�i chung bao gồm ch�nh y�u dầu hỏa, nhưng một số lượng lớn lao c�c sản phẩm Mỹ nhập v�o c�c thuộc địa n�y xuy�n qua Hồng K�ng, Singapore, Manila, v� c�c hải cảng của Ph�p.� Trong số sản phẩm Mỹ được nhập cảng trong năm 1916, c� �t nhất trị gi� $1,000,000 c�c sản phẩm sắt v� th�p, $800,000 trị gi� c�c sản phẩm dầu hỏa, $500,000 trị gi� bột m�, $100,000 trị gi� b�o đ�ng th�nh kiện, v� $50,000 trị gi� xe hơi v� đồ phụ t�ng.� C�c sản phẩm Mỳ kh�c được b�n tại l�nh địa n�y l� c�c m�y may, m�y đ�nh chữ, c�c dụng cụ n�ng nghiệp, c�c đồ l�m bếp, đồ hộp, v� vật liệu lợp m�i nh�.

������ C�c số xuất cảng khai b�o từ S�ig�n sang Hoa Kỳ năm 1916 c� trị gi� l� $704,731.� Tổng số n�y được tạo th�nh ch�nh yếu l� từ 12,125 tấn thập ph�n quặng kẽm, $702,038, được chở từ hải cảng Hải Ph�ng; 7,825 tấn kho�ng sản n�y, trị gi� $453,068, được chuyển giao từ năm 1915, nhưng kh�ng được lập h�a đơn m�i cho đến năm 1916.� C�c mặt h�ng kh�c l� 4,990 c�n Anh (pounds) l�ng vịt, $814, v� 205 s�c vật, $1,879.� Kh�ng c� c�c chuyến h�ng được lập h�a đơn sang Hoa kỳ trong năm 1915.

������ Mặt h�ng ch�nh xuất cảng sang Phi Luật T�n trong hai năm vừa qua l� gạo � 1,796,442 tạ (1 picul = 140 c�n Anh), trị gi� $3,198,228 trong năm 1915, v� 2,019,387 tạ, trị gi� $4,574,198 trong năm 1916.� Đ� c� c�c chuyến h�ng nhỏ chở huyết thanh khử tr�ng (antiseptic serum), tr�u b�, rượu champagne, đồ kh�, c�m gạo, v� c�c sản vật kh�c./-

�_____

Nguồn: Lawrence P. Briggs, Consul Saigon, Cochin China, Supplement to Commerce Reports, Daily Consular and Trade Reports, Issued by The Bureau of Foreign and Domestic Commerce, Department of Commerce, Washington, D. C., Annual Series, No. 54a, July 25, 1917, 15 trang.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

31.08.2015

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2015