ngựaReo 2014



 

Jose Maceda

Tiến Sĩ �m Nhạc UCLA,

Nh� Soạn Nhạc Phi Luật T�n v� Nghi�n Cứu �m Nhạc D�n Tộc

 

�NG NAM �

VỚI BIỂN TRUNG HOA

NHƯ MỘT ĐỊA TRUNG HẢI KH�C

 

(Một Bối Cảnh Cho Sự Nhận Diện

C�c Sự Trao Đổi �m Nhạc Trong Miền)

 

Ng� Bắc dịch

 

 

*****

 

I. Đ�NG NAM � NHƯ MỘT NG� TƯ VĂN H�A

 

Đ�ng Nam � gồm cả Biển Trung Hoa như một �Địa Trung Hải�, một kh�i niệm của sử gia người Ph�p, Denys Lombard, một v�ng được đặc trưng bởi c�c sự trao đổi kinh tế v� văn h�a trải d�i từ Miền Nam Trung Hoa đến c�c trung t�m của Đ�ng Nam � hải đảo, đến Ấn Độ v� v�ng viễn T�y, đến Arabia v� ngay cả Rome.� Một cuộc du h�nh bằng đường biển tại miền n�y đ� được ho�n tất ngay trước khi c� sự kh�m ph� rằng tr�i đất th� h�nh tr�n.� Một số th� dụ của sự trao đổi n�y ph�t hiện một bối cảnh c� rất nhiều t�nh chất lịch sử l� c�c đường dẫn truyền cho c�c vấn đề li�n quan đến �m nhạc.

 

Điều r� r�ng rằng trong năm 166, một sứ giả La M� đ� đến Trung Hoa với c�c tặng phẩm � ng� voi, sừng tế gi�c, mai r�a � c� lẽ đ� thụ đắc tại một v�i bộ phận của Đ�ng Nam �.� Tại bờ biển T�y Bắc của đảo Java, một mẫu c�c đồ gốm chạm nổi, c� nguồn gốc la m�, v� c�c đồ gốm kh�c nhau c� xuất xứ la m� - ấn độ� c� ni�n kỳ trở l�i lại thế kỷ thứ nhất hay thứ nh�.� Một bức tượng nhỏ về Poseidon [một trong 12 vị thần trong thần thoại Hy Lạp, l� vị Thần của Biển cả, cũng l� kẻ đ� rung chuyển tr�i đất bằng những cuộc động đất, ch� của người dịch], một huy chương của Antonin of Pieux [tức Antonius Pius, ho�ng đế La M� từ 138 đến 161, xem ảnh chụp huy chương Antonius Pius, ch� của người dịch], một đ�n kiểu từ Alexandria [l� th�nh phố lớn nhất nằm ngay tr�n bờ biển Địa Trung Hải, ph�a bắc Ai C�p, được th�nh lập bởi Alexander the Great v�o khoảng năm 331 Trước C�ng Nguy�n, ch� của người dịch], v� c�c mảnh vỡ của c�c chiếc b�nh cổ đại được kh�m ph� tại miền nam Việt Nam, thung lũng s�ng Menam v� bờ biển ph�a t�y của b�n đảo M� Lai (Lombard: 25).

 


H�nh 1:
Huy Chương Antonius Pius0.Nguồn: Wikipedia

 

Trước c�c ảnh hưởng của Ấn Độ, Trung Hoa v� Hồi Gi�o, c�c văn h�a bản địa của Đ�ng Nam � được đặc trưng bởi c�ch thức lu�n canh, sự sử dụng trong gia đ�nh g�, lợn, tr�u nước, nhiều c�ch sử dụng kh�c nhau của tre; c�c ph�ng ngủ trước h�n th� c�ch biệt nhau; c�c đền đ�i x�y dựng bằng tảng đ� to lớn; nơi cư tr� chống bằng cột [nh� s�n]; nh� d�i (nh� r�ng); h�n th� thử th�ch; c�c m�n nợ m�u (tử th�); �tục săn người; c�c định chế l�nh đạo ch�nh trị yếu ớt; c�c nghi lễ thử nghiệm hay b�i to�n; c�c văn h�a trui r�n sắt.� V�o cuối thời kỳ T�n Thạch (Neolithic) từ khoảng 2000 đến 100 Trước C�ng Nguy�n, c�c t�c phẩm nghệ thuật bao gồm trụ đ� kỷ niệm dựng đứng (menhirs), mộ bằng đ� (dolmen), c�c ng�i mộ xếp th�nh h�ng với c�c phiến đ� lớn; c�c g� mai t�ng theo tầng bực thang; quan t�i bằng đ� thường c� khắc chữ hay đi�u khắc, v� c�c m�ng đựng đầu l�u.� Nhạc cụ nổi tiếng nhất của thời đồ đồng l� c�c trống đồng thuộc văn h�a Đ�ng Sơn, từ thế kỷ thứ tư đến thứ nhất Trước C�ng Nguy�n. (Encyclopaedia Britannica: 224; 232).

 

Ảnh hưởng của Ấn Độ từ 100 đến 1500 Sau C�ng Nguy�n được đ�nh dấu bằng sự phổ biến ng�n ngữ Sanskrit (Phạn ngữ), ảnh hưởng của c�c thi�n anh h�ng ca Mahabharata v� Ramayana v� sự thực h�nh Ấn Độ Gi�o v� Phật Gi�o.� Một danh s�ch về c�c địa điểm quan trọng nhất của văn h�a Ấn Độ cho thấy một biến thi�n của c�c trung t�m n�y, một kiểu kiến tr�c v� một c�ch sống tại Đ�ng Nam � hải đảo v� lục địa, kh�c biệt với c�c lề lối tại Ấn Độ. (Lombard 15-75; Encyclopaedia 224-253).

Chenla (Ch�n Lạp) thế kỷ thứ nhất đến thứ 9.

Funan (Ph� Nam) từ thế kỷ thứ 1 đến 9.

Champa (Ch�m) thế kỷ thứ 2 đến 15.

Palembang, từ thế kỷ thứ 7 đến 11.

Malaram, từ thế kỷ thứ 8 đến 9.

Triều đại Sailendra thế kỷ thứ 9.

Minangkabau như với Shri Vijaya.

Shri Vijaya từ thế kỷ thứ 9 đến 13.

Borobudur thế kỷ thứ 9.

Pagan thế kỷ thứ 9.

Prambanan từ năm 900 đến 930, thế kỷ thứ 10.

Angkor, từ thế kỷ thứ 12 đến 14.

Sukhothai từ thế kỷ thứ 13 đến 17.

Madjapahi, từ thế kỷ thứ 7 đến 14.

Ayutthaya từ thế kỷ thứ 13 đến 15.

 

C�c nguồn t�i liệu thư viện về thế kỷ thứ 9 n�i đến c�c ảnh hưởng của Hồi Gi�o ở v�ng Maharajas gi�u c� thuộc Shri Vijaya, về c�c trung t�m mậu dịch tại xứ Ch�m v� Quảng Ch�u với một cộng đ�ng� c�c người Musulman, t�n đồ Thi�n Ch�a, người Do Th�i v� người Mazdeens.� (Lombard c�c trang 26-27).� Giữa thế kỷ thứ 11 v� 15, c�c bia k� tiếng Ả Rập c� hiện diện tại Sumatra (Pasai); b�n đảo M� Lai (Patani, Pahang, Trengaganu, Pengkalan Kempas, Malaka); Java (Leran, Gresik, Trowulan, Troloyo); Borneo (Brunai) va Phi Luật T�n (Jolo). (c�ng nơi dẫn tr�n, trang 35).� Ảnh hưởng của Hồi Gi�o lan tr�n xa hơn nữa giữa c�c thế kỷ 16 v� 18 với v�i l�nh địa gi�u c� từ Aceh, đến Palembang, Batavia, Surabaya, Temale v� đến c�c vương quốc tại Xi�m La v� Căm Bốt (c�ng nơi dẫn tr�n, trang 48-62).

 

Nh� sư Trung Hoa đầu ti�n, Faxian (Ph�p Hiển) đ� sống 12 năm tại Ấn Độ v� 5 Th�ng tại Java trong c�c năm 412-413.� Người thứ nh�, một �ng ho�ng từ v�ng Kashmir, đ� sống v�i năm tại Java trước khi đi thuyền tới Trung Hoa trong năm 422.� C�c r�ng buộc thương mại giữa Trung Hoa v� Java đ� được thực hiện với 4 sứ bộ trong thế kỷ thứ 5, 3 sứ bộ trong thế kỷ thứ 7, 3 trong thế kỷ thứ 8, 7 trong thế kỷ thứ 9, với c�c sứ bộ kh�c trong c�c thế kỷ thứ 10, 11 v� 12 (c�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 18-19)� T�c động của Phật Gi�o tại Trung Hoa c� thể phần n�o được truy t�m xuy�n qua c�c nguồn t�i liệu n�y c�ng c�c nguồn tin tức lịch sử kh�c.

 

C�c văn bản tiếng H�n về thời kỳ n�y c� n�i đến giống d�n �Kunlun� [C�n Lu�n?] l� c�c d�n ch�ng hải h�ng thuộc Đ�ng Nam �, c�c kẻ đ� du h�nh tr�n c�c chiến thuyền to lớn po, padao, perahu [c�c thuyền buồm lớn cổ truyền tại Indonesia, M� Lai, Phi Luật T�n, xem H�nh 2, ch� của người dịch].� Ch�nh từ di sản h�ng hải cổ thời n�y m� c�c kỹ thuật hải h�nh Đ�ng � Trung Cổ đ� được ph�t triển.� Mặc d� tin tức n�y th� rất �t, đ� l� một sự chỉ dẫn về phương c�ch l�m sao �c�c kỹ thuật hải h�nh� của c�c chiếc thuyền chạy buồm bản xứ, po, padao, perahu từ Đ�ng Nam � được sử d�ng để tới Trung Hoa (c�ng nơi dẫn tr�n, trang 19).

 


H�nh 2
Thuyền Buồm Perahu đi từ Đ�ng Nam � đến Trung Hoa. Nguồn Wikipedia

 

Sự ch� � của Trung Hoa đến Đ�ng Nam � trở n�n tập trung hơn kể từ thời nh� Tống, tiếp diễn sang c�c thời nh� Nguy�n v� nh� Minh.� Sự can thiệp của Kublai Khan tại đảo Java năm 1293 với sự sử dụng một lực lượng tới 20,000 binh sĩ đưa đến sự nổi dậy của Majapahit, sự du nhập kỹ thuật Trung Hoa nổi bật trong việc đ�ng t�u, đ�c tiền v� một tiến tr�nh h�n h�a.� (Reid A., 1996) C�c cuộc x�m lăng từ� 1405 đến 1453 v�o Đ�ng Nam � bởi c�c to�n hải qu�n của Trịnh H�a đ� vươn tới T�ch Lan, Cochon, Calicut, Ormiz, Modagiscio v� Malindi (Lombard trang 32).� C�c b�i viết gần đ�y hơn n�i về: �Quanzhou: at the northern edge of a Southeast Asian �Mediterranean� (Tuyền Ch�u: Bờ M�p Ph�a Bắc của Một �Địa Trung Hải� tại Đ�ng Nam �) (Ptak 2001) v� về �C�c Dữ Liệu Khảo Cổ Học về Mậu Dịch Đường Biển Hai Chiều Giữa Quanzhou v� Satingpra, Nam Th�i Lan Trong C�c Thế Kỷ 10 đến 14� (Stargardt 2001).

 

II. �m Nhạc Austro-Asiatic (�c-�) v�

Autronesian (�c Ch�u Đa Đảo) tại Đ�ng Nam �

 

Những ng�n ngữ Đ�ng v� Đ�ng Nam � rất cổ xưa.� �Giả thuyết Austric nối kết c�c ng�n ngữ của c�c họ ng�n ngữ Austronesian v� Austroasiatic được đặt tr�n bằng chứng vững chắc v� rằng c� một x�c xuất về qu� qu�n của nh�nh Austric c� thể thuộc trung lưu thung lũng s�ng Dương Tử�. (Reid L, 1996: 87) �Ghi nhớ giả thuyết n�y trong đầu, c�c c�u hỏi ph�t sinh về phương c�ch v� thới điểm khi c�c ng�n ngữ ph�t �m của Trung Hoa xảy ra.� C�c vấn đề n�y sẽ l�m s�ng tỏ một mối quan hệ về thời gian của c�c nhạc cụ được sử dụng bởi c�c sắc d�n n�i c�c ng�n ngữ Austronesian v� Austro-Asiatic đến người n�i c�c ng�n ngữ ph�t �m tiếng H�n.� C� phải l� tại Đ�ng Nam �, sự sử dụng c�c nhạc cụ chẳng hạn như k�n ống thổi bằng mồm (mouth organ [như khẩu cầm]), c�c ống s�o v� c�c đ�n lục huyền bằng ống tre nứa (zithers) đi trước một sự sử dụng c�c nhạc cụ tương tự tại Trung Hoa? T�c giả Walter Kaudern (1927) n�u � kiến rằng đ�n lục huy�n cầm nửa ống tại đảo Sulawesi c� thể l� tổ ti�n của đ�n lục huyền cầm đặt tr�n s�n nh� loại chin Trung Hoa.� Một tiền th�n khả hữu của đ�n ống thổi bằng miệng của Trung Hoa, sheng, l� c�c đ�n ống của Th�i Lan, L�o v� Born�o, với c�c tập qu�n văn h�a v� c�c thể loại kh�c bit .� Phải t�m xem l� liệu một c�ch đo lường chiều d�i của c�c ống trong một đ�n ống thổi bằng mồm c� phải l� c�ch để biết n� l� c� t�nh c�ch địa phương hay ngoại quốc hay kh�ng.

 


H�nh 3
K�n thổi bằng miệng d�n tộc L�o, Th�i Lan. Mouth Organ, Lao, Thailand

 


H�nh 4
S�o Thổi Bằng Mũi, tại Đ�ng Nam � v� C�c Đảo Th�i B�nh Dương
Nose Flute, Southeast Asia and Pacific Islands

 


H�nh 5
Ban Nhạc Việt Nam Cổ Truyền Đ�n Nguyệt, Đ�n Nhị, Đ�n Tranh, Đ�n G�o, Đ�n Tạm Đ�n Lục Huyền cầm (zither) Việt Nam thường được gọi l� Đ�n Tranh. OrchestreAnnamite

 


H�nh 6
Sheng, Trung Hoa

 

Một sự sử dụng rộng r�i c�c mộc cầm bằng gỗ v� tre (bamboo and wooden xylophone) tại cả v�ng Đ�ng Nam � hải đảo [lẫn lục địa?, c� thể nguy�n bản đ� bỏ s�t nh�m từ n�y, cũng như đ� viết sai ch�nh tả nhiều chỗ trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� một dấu hiệu của một thời đại rất cổ xưa cũng được đại diện bởi c�c đ�n đ� (lithophone) được khai quật tại Việt Nam (Schaeffner1951).

 


H�nh 7
Xylophone Việt nam -� Đ�n T�rưng. Nguồn: www.pbase.com

 

A. C�c Nhạc Cụ Bằng Tre

 

Ngay từ c�c thời gian rất xa xưa, tre đ� được d�ng cho nhiều mục đ�ch như l�m nh� ở, l�m bẫy; th�ng (giỏ) đựng đồ, c�c vũ� kh�, v� như c�c kh� cụ cho việc săn bắn v� nấu nướ;ng.� C�c th� dụ về c�c nhạc cụ bằng tre như c�i, chu�ng (buzzers), kẹp (quả) lắc (clappers), c�c cọc đ�o lỗ [c� giăng d�y, để đ�nh tr�ng qu�n, người dịch ức đo�n] (dibbling poles), k�n (khẩu cầm) thổi bằng miệng (mouth harps), ống s�o h�nh l�ng đu�i chim (quill-shaped tubes), bộ phận để ch� s�t v�o d�y đ�n [?] (scrapers), trống g� rỗng ruột được cắt hở ra một b�n (slit drums), c�c ống tre dậm xuống nền đất hay đ� tạo ra �m thanh (stamping tubes), mộc cầm (xylophones), đ�n lục huyền cầm nhiều d�y (polycordal zithers), đ�n lục huyền cầm nửa ống (half-tube zithers), v� đ�n lục huyền cầm c� d�y đi từng cặp (paired string zithers), tất cả được t�m thấy tại Phi Luật T�n với c�c loại tương tự tại Indonesia v� miền Đ�ng Nam � lục địa (Maceda 1998).� Một sự sử dụng theo nghi lễ c�c nhạc cụ n�y bao gồm sự tham dự của ch�ng trong một loạt c�c lễ hội l�ng x� v� c�c hoạt động ban ng�y.� C�c nhạc cụ bằng tre nhiều nhất l� c�c nhạc cụ để g� m� kh�ng c� một �m vực (pitch) x�c định.

 


H�nh 8
Kẹp (quả) lắc, Clapper

 

 


H�nh 9
Vietnamese bamboo mouth harp, Khẩu cầm bằng tre cổ truyền của Việt Nam

 

 


H�nh 10
Ống S�o H�nh L�ng Đu�i Chim

 

 


H�nh 11
Trống Rạch Hở Bụng, Slit Drum

 

 


H�nh 12
Dậm Ống Tre, Stamping Tubes

 

 

C�c s�o bằng tre để lại một chứng từ về độ tuổi tương đối của ch�ng xuy�n qua c�c lỗ s�o của ch�ng.� C�c chiếc s�o sớm nhất c� thể l� những chiếc s�o kh�ng c� c�c lỗ khoan b�m ng�n tay được thổi từ một đầu của ống s�o.� Một th� dụ về một s�o như thế nằm tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở Manila hồi thập ni�n 1950.� Một th� dụ kh�c thuộc sắc d�n Tiboli of Mindanao [Phi Luật T�n], l� một chiếc s�o nhỏ (sloli) chỉ c� hai lỗ gần ph�a đầu dưới của chiếc s�o.� Tại đảo Hải Nam ngo�i khơi Trung Hoa, sắc d�n Yi sử dụng một chiếc s�o thổi bằng mũi với hai lỗ thổi, một tại trung t�m của mấu (đốt) ở một đầu của ống, v� lỗ kia tr�n mấu kia của đầu �ng b�n kia.� Chiếc s�o n�y chỉ c� một lỗ s�o dừng (chặn, nghỉ) được khoan b�n cạnh một lỗ thổi.� Nếu s�o được thổi ở đầu b�n kia lỗ s�o dừng, ng�n tay trỏ b�n phải bấm chặn lỗ b�n cạnh mũi của người thổi.� Nếu đầu kia của chiếc s�o được thổi, ng�n tay trỏ của người thổi bấm chặn lỗ ở đầu thấp hơn của chiếc s�o. (Zhu Zhuo-Jian 1990).� Đ�y l� c�c c�ch rất cổ xưa của một sự sắp đặt c�c lỗ s�o c� thể được so s�nh với c�c lỗ s�o của c�c chiếc s�o bằng xương tại Trung Hoa cổ thời cũng như với c�c chiếc s�o gần đ�y hơn trong mục về ��m giai: scales� b�n dưới (Madeca 1990).

 

C�c đ�n lục huyền cầm nhiền d�y c� thể c� đến bảy hay nhiều d�y hơn, được gắn tr�n mặt ống tre v� đuợc l�n d�y đ�n theo một �m giai ngũ cung. Cần c� một c�ng tr�nh nghi�n cứu tương lai để kh�m ph� hệ thống (kh�ng phải chỉ l� c�c số đo lường) của việc l�n d�y đ�n huyền cầm hầu so s�nh với c�c chiếc s�o.� Hệ thống sẽ chuy�n chở một l� thuyết, c� thể li�n hệ đến một sự ph�n chia c�c lỗ dừng tr�n c�c chiếc s�o.

 


H�nh 13
�S�o Th�ng Thường Tại Đ�ng Nam � =

 

 

B. C�c Trồng Đồng; C�c Chi�ng C� Cục U [ở giữa]

 


H�nh 14
Trống Đồng Đ�ng Sơn Việt Nam, 300 Trước C�ng Nguy�n � 200 Sau C�ng Nguy�n
nguồn: http://www.metmuseum.org/toah/works-of-art/2000.284.57

Trong số d�n Yi (L�-L�) ở tỉnh Quảng T�y tại Trung Hoa, một b�i tường thuật cuộc tr�nh diễn c�c trống đồng được m� tả như sau: �Thường họ d�ng một bộ hai chiếc.� Một trống lớn v� một trống nhỏ.� Trống lớn được x�c định như l� trống c�i (female); �m th�nh của n� th� thấp v� �m vang k�o d�i.� Trống nhỏ l� trống đực (male) với �m thanh r� r�ng v� cao độ, k�o d�i một thời gian kh� l�u.� �m thanh ở trung t�m c�c trống bằng với �m độ nốt nhạc C1 [trong b�t �m độ (octave), ch� của người dịch]� Khi được chơi c�ng nhau, ch�ng được nhắc l�n khỏi mặt đất, v� đầu của hai chiếc trống đối diện với nhau, với người đ�nh trống sử dụng một chiếc b�a đầu b�a bọc chất mềm nơi b�n tay phải để đ�nh v�o c�c trung t�m của hai c�i trống, v� b�n h�ng của chiếc trống lớn, một c�ch lần lượt.� Một chiếc gậy bằng tre cứng nơi tay tr�i đ�nh v�o h�ng (th�n) của chiếc trống nhỏ đ�i khi.� Bởi v� �m thanh của c�c chiếc trống tạo th�nh sự h�a �m của c�c nốt do, mi, sol, sự hợp t�c của c�c c�ng cụ đực v� c�i mang lại một �m thanh h�i h�a v� đầy kh� lực.� Điều rất hợp l� để c�c người d�n Yi n�i rằng �Kh�ng thể t�ch chiếc trống n�y ra khỏi chiếc trồng kia.� Bởi �m thanh của việc đ�nh v�o th�n trống kh�ng phải l� c�c nốt do, mi, sol, v� rằng n� gồm c�c c� đ�nh theo nhịp điệu, sự biến đổi nhịp điệu n�y rất phong ph��. (Minzu Yin Yue 1985-4: c�c trang 41-42).

 

Quyển s�ch của t�c giả Curl Sachs (1917: 11-14) về c�c nhạc cụ Miến Điện trưng b�y một bức h�nh hai người đ�n �ng tr�nh diễn tr�n hai trống đồng.� Một người đ�nh trống cầm một gậy được độn (padded stick) nơi tay phải, sẵn s�ng để đ�nh v�o trung t�m của c�c chiếc trống của m�nh, trong khi nơi b�n tay tr�i với c�c chiếc gậy nhỏ chực chờ đ�nh v�o gờ mặt trống của họ.� (Cooler,1979: frontispiece).� Sẽ c�n l� một c�ng t�c để kh�m ph� thời điểm thực sự m� c�c chiếc trống đồng với c�c k�ch thước v� h�nh dạng kh�c nhau xuất hiện tại Indonesia � tại Bali, Borneo, Java, Sumbawa v� C�c Đảo Sunda � xuy�n qua c�c tuyến đường mậu dịch được m� tả bởi t�c giả Lombard v� c�c sử gia kh�c, r� r�ng như c�c phẩm vật qu� gi� của sự trao đổi.� Tuy nhi�n, kh�ng c� một sự hiểu biết về c�ch thức m� c�c nhạc cụ nhập cảng n�y được chơi ra sao, c�c c�u hỏi c�n lại li�n quan đến sự sử dụng của ch�ng trong văn h�a.

 


H�nh 15
Chi�ng �ng Nam �,Gongs of Southeast Asia
Nguồn: http://shop.planetware.de/WebRoot/Store5/Shops/69858/MediaGallery/gongs/paiste-gongs.png

 

Tại v�ng Đ�ng Nam � hải đảo, c�c chiếc chi�ng treo với một cục bướu u c� một sự ph�n phối rộng r�i trong một v�i nh�m ngữ học tại Mindanao, Palawan, Mindoro, Kalimantan, Sarawak, Nias, Sumatra, Java v� Bali.� Điều kh�ng được biết l� nơi ch�nh x�c ch�ng được sinh ra.� Một nguồn gốc khả dĩ của c�c chiếc chi�ng với c�c gờ kh�ng qu� lớn l� c�c chi�ng c� bướu u tại Miền Trung Việt Nam v� tại Bắc Th�i Lan với c�c chiếc chi�ng c� h�nh dạng tương tự.� Tại c�c h�n đảo vừa đề cập đến, ch�ng bao gồm nhiều k�ch thước, với c�c chiều rộng biến đổi của c�c v�nh v� chiều cao của c�c cục bướu u.� C�c chiếc chi�ng tại Borneo, Mindanao, v� Palawan l� c�c d�n nhạc cụ kh�c biệt với nhũng chiếc chi�ng của Java v� Bali.� Ch�ng c� thể được đ�nh một m�nh hay với c�c chiếc chi�ng c�ng được treo l�n kh�c.� Trong d�n tộc Bagobo của đảo Mindanao, một nh�m c�c chiếc chi�ng treo l�n c� hai nhạc sĩ, một đ�nh với một nhịp điệu thay đổi giữa ba, bốn hay nhiều hơn c�c chiếc chi�ng, v� người kia đ�nh v�o chiếc chiếc lớn nhất với một �m giai thấp nhất trong một nhịp thường lệ bốn số đ�m, một sự lập lại c�ng nhip điệu ở c�ng �m vực (ostinato), một nhịp điệu đều đều (a drone).� C�c chi�ng treo c� rất nhiều hơn v� c� lẽ l�u đời hơn c�c chiếc chi�ng được đặt nằm th�nh từng d�y (kulintang, talempong, engkromong) với một phạm vi ph�n phối bị giới hạn hơn tại miền nam Mindanao, bắc Borneo,� v� Nam Sumatra. �

 


H�nh 16
Kulintang
Nguồn: Wikipedia

��

Trở lại với c�c trống đồng của v�ng Đ�ng Nam � lục địa, một cuộc tr�nh diễn c�ch thức đối chiếu c�c �m thanh ở cao độ được đ�nh bởi c�c que c� bọc nệm v�o trung t�m của mặt trống v� c�c �m thanh nhẹ được tạo ra bởi c�c gậy đ�nh v�o th�n hay v�nh miệng trống c� c�c sự tương đồng r� rệt với c�c chi�ng c� bướu u tại Phi Luật T�n.� Trong sắc d�n Palawan thuộc đảo Palawan, Phi Luật T�n, hai người đ�n �ng đối diện nhau chơi tr�n hai c�i chi�ng treo trước họ.� Mỗi nhạc c�ng cầm một chiếc gậy nơi tay phải để đ�nh v�o cục bướu u của chiếc chi�ng, trong khi tay tr�i cầm một gậy kh�c đ�nh v�o gờ mặt chi�ng.� Với sắc d�n Hanunoo tr�n đảo Mindoro, cũng với hai người tr�nh diễn, một người với một chiếc gậy bọc đệm đ�nh v�o c�c cục bướu u của hai c�i chi�ng đối diện nhau.� Hai người tr�nh diễn kh�c với gậy thon mỏng tại mỗi tay đ�nh v�o gờ viền của hai chi�ng.

 

Sự rất giống nhau n�y trong sự tr�nh diễn lập luận cho một sự chuyển giao khả hữu của c�c kỹ thuật n�y từ v�ng Đ�ng Nam � lục địa qua v�ng Đ�ng Nam � hải đảo xuy�n qua bất kỳ chế độ n�o v� tuyến đường mậu dịch n�o trong lịch sử.� H�nh dạng của một số trống đồng với với gờ viền khổ rộng th� gần giống với c�c chi�ng c� gờ viền rộng.� C� thể l� trong khi c�c kỹ thuật chế tạo c�c trồng đồng tại Đ�ng Nam � lục địa c� thể được �p dụng cho một sự sản xuất ra c�c chiếc chi�ng treo tại Đ�ng Nam �, sự bổ t�c th�m một khối nh� l�n ở giữa, một cục bướu, c� nguồn gốc tại Nusantara [tiếng Indonesian c� nghĩa Quần Đảo Indonesia, ch� của người dịch]..

 

 

C. C�c Chi�ng Phẳng Tại Miền Trung Việt Nam v�

Bắc Đảo Luzon

Sự sử dụng c�c chi�ng phẳng kh�ng c� một cục bướu u c� một di sản phong ph� tại cao nguy�n trung phần Việt Nam trong sắc d�n Ede, Segang, Bahnar, Jarai, Ge, Mnong, v� Mua Boloo v� tại Cordillera tr�n đảo Luzon, Phi Luật T�n giữa c�c sắc d�n Kaling, Isneg, Tuingguian, Kankaney, Ibaloi Karao, Bontok, v� Ifugao. �Kh�ng thể n�u ra với sự ch�nh x�c thời điểm m� c�c chiếc chi�ng n�y đ� băng ngang qua đại dương v� đến Luzon, nhưng điều r� r�ng l� c�c chi�ng Phi Luật th� li�n hệ với c�c chi�ng tại Miền Trung Việt Nam.� C�c nhạc cụ n�y c� thể l�u đời như c�c chế độ tại Ch�n Lạp, Ph� Nam v� xứ Ch�m, v�o khoảng từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 9, v� những kẻ c� những nền văn h�a m� c�c nhạc cụ n�y t�y thuộc chứ kh�ng phải l� c�c sản phẩm của c�c nền văn h�a Phật Gi�o, Hồi Gi�o, hay Trung Hoa c� ảnh hưởng tại xứ Ch�m sau n�y.� C�c chiếc chi�ng sẽ đến từ c�c d�n tộc miền n�i của xứ Ch�m chứ kh�ng phải tự bản th�n xứ Ch�m, nhưng sự chuyển giao sang đảo Luzon c� thể đ� diễn ra bất kỳ l�c n�o ngay trước khi Java đột k�ch v�o xứ Ch�m năm 774, khi đ� sẵn c� c�c tuyến đường h�ng hải nối liền duy�n hải Việt Nam n�y với Sumatra, b�n đảo M� Lai (Dharma 2000: 183-184).

 

Tại Miền Trung Việt Nam, c�c chi�ng được x�c nhận l� khan hay kenha trong sắc d�n Ed�; hay Rhad�, th� gần gụi về loại, t�n gọi v� �m thanh của gangsa trong sắc d�n Bontok, gangha trong sắc d�n Ifugao v� hansa trong sắc d�n Isneg tại Phi Luật T�n.� C�c k�ch thước v� c�c c�ch thức tr�nh diễn th� tương tự nhau.� Tại Việt Nam, c�c chi�ng được đ�nh bằng nắm tay v� b�a bọc đệm, trong khi tại Phi Luật T�n, ch�ng được chơi bằng c�c b�n tay v� c�c gậy gỗ.� Ở cả hai nơi, c�c chi�ng đi k�m với việc nhảy m�a xoay theo c�c v�ng h�nh tr�n được tổ chức trong c�c nghi lễ n�ng nghiệp tưởng niệm với sự hiến tế c�c con tr�u.

 


H�nh 17
Gangsa of the Cordillera, C�c chi�ng phẳng
Nguồn: http://umichaejoey.files.wordpress.com/2012/11/gangsa.jpg

 

C�c chi�ng phẳng tại Kalimantan v� Bali c� �t tầm quan trọng hơn c�c chi�ng tại Trung Phần Việt Nam v� Bắc đảo Luzon.

 

III. Cấu Tr�c Của �m Nhạc Triều Đ�nh

ở Đ�ng � v� Đ�ng Nam �:

Một Lằn Ranh Ph�n Chia �m Nhạc

Hai Nh�nh Austro-Asiatic v� Austronesian

tại Đ�ng Nam �

 

Một sự khảo s�t chi tiết c�c �m nhạc triều đ�nh của triều đại nh� Đường v� c�c cuộc đồng tấu �m nhạc triều đ�nh đương hữu tại Nhật Bản, Đại H�n, Th�i Lan, Kampuchea, Java v� Bali ph�t hiện một sự sử dụng chung c�c nhịp bốn ph�ch với chiều d�i của c�c bản nhạc chia chẵn cho bốn với c�c đoạn nghỉ �m nhạc quan trọng xuất hiện theo c�c tỷ lệ gấp bốn nốt nhạc.� C�c qu�ng giữa �m nhạc li�n tiếp cũng như c�c qu�ng giữa c�ch biệt bởi mỗi 4, 8, hay 16 số nốt đếm được, tạo th�nh một hệ cấp của tầm quan trọng với c�c qu�ng giữa xuất hiện mỗi 16 ph�ch quan trọng hơn c�c qu�ng giữa hiện ra mỗi số nốt đếm đến 8 v� 4.� C�c �m điệu (melodies) bao gồm bốn ph�ch li�n tiếp v� c�c �m tiết (phrases) của c�c qu�ng c�ch li�n tiếp mỗi bốn hay t�m số nốt đếm được tạo th�nh c�c c�u (statements) nhạc với một � nghĩa hợp l� được đặt tr�n c�c sự đối lập lưỡng cực (Maceda 2001).

 

C�c cuộc đồng diễn �m nhạc của c�c triều đ�nh nhỏ ở Đ�ng Nam �, nổi bật tại B�n Đảo M� Lai, kulintang [d�n chi�ng đặt nằm ngang] tại Mindanao, đồng diễn gondang [d�n gồm chi�ng v� trống, ch� của người dịch] tại Bắc Sumatra v� gamelan reyo[n]g tại Miền Trung Java � được đi k�m bởi c�c nhạc cụ g� với c�c nhịp g� hai hay bốn ph�ch, nhưng sự xếp đặt c�c qu�ng giữa �m nhạc kh�ng bị chi phối theo c�c tỷ lệ 4 nốt đ�m như c�c qu�ng giữa bị chi phối một c�ch nghi�m ngặt như thế trong �m nhạc triều đ�nh ch�nh yếu.� Điều r� r�ng l� cấu tr�c nhạc cụ v� �m nhạc của c�c sự đồng diễn triều đ�nh n�y �t bị ảnh hưởng hơn bởi một cấu tr�c to�n học, cổ điển của �m nhạc triều đ�nh ch�nh yếu tại � Ch�u.

 


H�nh 18
Gamelan of the Indonesia A gong collection in a Gamelan
ensemble of instruments
Nguồn: Indonesian Embassy Canberra

 

Trong thực tiễn, tất cả c�c nhạc cụ bằng tre nh�nh Austronesian sẽ ở ph�a b�n kia của lằn ranh ph�n c�ch.� Ch�ng sẽ kh�ng thuộc v�o một triết l� to�n học của c�c con số m� �m nhạc triều đ�nh � Ch�u t�y thuộc.

 

 

 

IV. C�c Nguồn Gốc Khả Hữu

của C�c Th�nh Tố �m Nhạc Đặc Th�

tại Đ�ng Nam �

 

A.� C�c �m Giai (Scales)

Một c�ch thức khoan c�c lỗ tr�n c�c s�o tại Phi Luật T�n, Kalimantan, West Java, Sulawesi, v� L�o nhắm v�o ph�n nửa chiều d�i của ống s�o tượng trưng qu�ng b�t �m độ (octave) với c�c lỗ theo sau để tạo ra c�c qu�ng ở c�c lỗ thứ năm, thứ tư v� thứ hai (Maceda 1990).� Kh�c với c�c th� dụ kh�c ở Flores [đảo ph�a đ�ng của đảo Java, Indonesia, ch� của người dịch] v� Nias [đảo ngo�i khơi bờ1 biển ph�a t�y của đảo Sumatra, Indonesia, ch� của người dịch] (Kunst 1939; 1942), căn bản b�t �m độ n�y kh�c biệt với hệ thống tuần ho�n �san-fen sun-i-fa� (chia l�m ba, lấy đi một) của sự sắp xếp c�c lỗ s�o tại Trung Hoa, hồi thế kỷ thứ 4 Trước C�ng Nguy�n.� Tại đ�y, hai phần ba ống s�o sẽ ph�t ra �m thanh qu�ng thứ năm của điệu nhạc nền tảng (huang-chung: ho�ng chung: chu�ng v�ng), �m thanh c� độ d�i nhất của ống s�o.� Gấp đ�i chiều d�i của chiều d�i hai phần ba n�y v� một lần nữa cắt n� ở hai phần ba sẽ tạo ra qu�ng thứ năm của qu�ng thứ năm đầu ti�n v� cứ như thế tiếp tục.

 

Căn bản b�t �m độ tại Đ�ng Nam � c� thể kh�ng c� t�nh chất bản địa trong v�ng v� c� thể đến từ Trung Đ�ng.� Nguy�n tắc ph�n chia sự x�y dựng �m giai đ� được thực h�nh tại Ai Cập khoảng 2000 Trước C�ng Nguy�n.� T�c giả Curt Sachs viết: �trong hai ống s�o Ai Cập từ một ng�i mộ của C�c Vương Quốc Trung T�m [?], một � c� c�c lỗ bấm ng�n tay tại mười phần, mười một phần, v� mười ba phần mười lăm của to�n thể chiều d�i của n� v� �ng kia, � tại t�m, ch�n v� mười phần mười hai�. (1943: 73-74).

 

B. C�c Tiết Điệu, Nhịp Bốn Ph�ch, T�nh Nhị Nguy�n,

Mối Tương Quan Lưỡng Cực Giữa C�c Qu�ng Giữa,

C�c D�ng Nhạc, C�c Nhạc Cụ v� C�c B�i H�t.

 

C�c tiết điệu hay nhiẹp điệu (rhythmic phrases) như l� căn bản của một sự bi�n soạn �m nhạc được minh họa bởi sự đồng diễn chi�ng ở Mindanao (kulintang); đặc biệt trong sắc d�n Magindanao, nơi ba tiết điệu với t�n gọi � duyug, sinulug, tidtu � r� r�ng được sử dụng nhiều hơn trong c�c nh�m đồng diễn kulintang kh�c trong khu vực.� R� r�ng kh�ng c� c�c sự đồng diễn �m nhạc kh�c trong miền c� �m nhạc được đặt căn bản tr�n c�c tiết điệu.� So s�nh với cấu tr�c nhịp bốn ph�ch trong �m nhạc triều đ�nh, c�c tiết điệu v� đặc biệt sự sử dụng ba tiết điệu kh�c biệt r� r�ng c� thời điểm tương đối gần đ�y hơn v� c� thể đến từ Trung Đ�ng.

 

C�c nhịp bốn ph�ch l� một cấu tr�c th�ng thường tại Đ�ng � v� Đ�ng Nam �.� �m nhạc của c�c chi�ng phẳng ở Luzon v� Việt Nam được đặt tr�n nhịp hai hay bốn ph�ch, nhưng nhiều nhạc cụ bằng tre kh�ng c� một ph�ch thường lệ.� Rất kh� để chứng thực rằng liệu nhịp bốn ph�ch l� c� t�nh c�ch bản đia đối với sắc d�n Nusantara (Quần Đảo Nam Dương) hay n� đến từ nơi n�o kh�c.

 

Trong văn h�a, t�nh nhị nguy�n (dualism) trong h�nh thức c�c sự đối chọi được phổ biến rộng r�i trong miền.� Ch�ng để chỉ phần thượng v� hạ lưu con s�ng, n�i cao v� lũng thấp, trời v� đất, c�c hướng đ�ng v� t�y, v� trong �m nhạc, c�c �m thanh �m dịu (damped) v� ch�i tai (undamped) của c�c chi�ng, c�c �m giai b�n �m (hemitonic) v� �m giai kh�ng c� b�n �m (anhemitonic), v� c�ch h�t một người xướng v� ban hợp xướng đ�p lại (leader-chorus singing).� T�nh nhị nguy�n th� kh�c với t�nh trạng lưỡng cực đối lập �(bipolarity) trong một sự sắp xếp c�c qu�ng �m nhạc được biểu lộ một c�ch đặc biệt trong �m nhạc triều đ�nh, nhưng kh�ng hiện diện một c�ch r� rệt trong �m nhạc nh�nh Austronesian.

 

Sự nhận x�t của Gi�o Sư Laurence Pickens li�n can một chủ đề trong �m nhạc gamelan ở Bali như mang một sự tương đồng mạnh mẽ với c�c th� dụ của Prince Tzayyu về �m nhạc nghi lễTrung Hoa sớm nhất mời đ�n một sự khảo s�t c�c �chủ đề� Bali v� Java kh�c giống như �m nhạc trong �m nhạc triều đ�nh thời v� trước nh� Đường. (1957: 168)

 

Ba nhạc cụ được nhập cảng từ Trung Đ�ng l� đ�n rebab [k�o vĩ như violon, ch� của người dịch] hai d�y, k�n bằng gỗ c� �m độ cao (oboe serunai), v� trống c� mặt trống d�i hơn th�n trống (frame drum rebana).� Sự nghi�n cứu đang tiếp diễn về ni�n đại của c�c ng�n ngữ nh�nh Austronesian đối với ni�n đại của c�c ng�n ngữ ph�t �m tiếng Hoa c� thể g�p phần l�m s�ng tỏ một mối quan hệ khả hữu trong thời gian nếu kh�ng phải trong nguồn gốc giữa đ�n mộc c�m (xylophones) bằng tre tại Đ�ng Nam � với c�c chu�ng bằng đ� (stone chimes) tại Trung Hoa.

 

C�c b�i h�t như c�c b�i thơ với một sự nhất thống n�o đ� trong số vần (syllables) mỗi c�u, được �p dụng theo c�c nh�nh ngữ học hay địa dư � Mindanao, Borneo, Sulawesi, Sumatra, Kampuchea, Trung Phần Việt Nam � sẽ phơi b�y một cấu tr�c c� thể được so s�nh với c�c c�u thơ của c�c ng�n ngữ �m điệu tại Trung Hoa.� Tại Phi Luật T�n, c� một khuynh hướng n�o đ� cho c�u c� bảy vần trong năm nh�m ng�n ngữ -- Kalinga, Palawan, Hanunoo, Magindanao, Iraya.� C�c thi�n anh h�ng ca l� h�nh thức b�i h�t kh�c với nhiều th� dụ tại Đ�ng Nam �, cả như thi ca hay như c�c chuyện kể kh�ng c� c�c chuỗi số học t�nh to�n.� C�c kết quả của một cuộc khảo s�t cấu tr�c b�i h�t của c�c nh�m ng�n ngữ tại Đ�ng Nam � hải đảo v� lục địa sẽ ph�t hiện c�ch thức c�c con số ảnh hưởng đến c�c sự biểu đạt �m nhạc ra sao.

 

V. Một Sự Phục Hưng �m Nhạc

Tại Đ�ng � Ch�u - Đ�ng Nam � Ch�u

 

Một sự nhận thức về c�c tương quan văn h�a giữa �u Ch�u v� � Ch�u được c�ng bố trong một loạt c�c b�i giảng được ấn h�nh bởi International Institute for Asian Studies.� T�c giả Hans Van Mierlo ph�t biểu: �Ng�y nay, nhiều người tin tưởng rằng thế kỷ thứ 21 sẽ l� Thời Đại Ho�ng Kim của � Ch�u � Ch�ng ta c�n c� v�i thập niện từ giờ n�y, đ� chứng kiến một chiều hướng gia tăng tiến đến sự li�n lập (interdependence) v� hội nhập.� C�c h�ng h�a, c�c dịch vụ, tư bản v� sự th�ng minh của con người đ� trở n�n lưu động cao độ; c�c sự truyền th�ng th� tức thời; thế giới tiếp tục thu nhỏ lại, l�m cho c�c sự tiếp x�c của con người trở n�n dễ d�ng một c�ch v� giới hạn hơn bao giờ hết; c�c sự di d�n trở n�n một hiện tượng� ồ ạt, to�n cầu v�, đ�i khi, g�y lo ngại� (1996: 8)

 

������ Trong một b�i viết kh�c, t�c giả Thommy Svenson n�i đến c�c giải ph�p � Ch�u thay thế cho c�c phương c�ch T�y Phương về sự tổ chức x� hội.� �C�c ti�u đề then chốt l� sự h�a hợp x� hội, việc x�y dựng sự đồng thuận, sự t�n tụy cho cộng đồng, t�nh bất khả x�m phạm của gia đ�nh, ch�nh phủ mạnh v� sự tăng trưởng kinh tế.� Nền d�n chủ T�y Phương bị nh�n như một h�nh thức kh�ng ho�n hảo về ch�nh quyền v� chủ nghĩa c� nh�n T�y Phương l� tai họa về mặt x� hội� � tưởng về quyền chủ tể tối cao của c� nh�n tr�n x� hội đang chỉ đường theo đ�ng hướng, nhưng c� một sự đồng thuận tổng qu�t rằng Phương T�y đ� đi qu� xa trong sự ủy quyền của n� cho c� nh�n � C�c nh� l�nh đạo � Ch�u nh�n sự t�i thẩm định hiện thời tại �u Ch�u về c�c giới hạn của nh� nước an sinh như một sự khẳng định cho sự kh�n ngoan của họ, đang di chuyển một c�ch chậm chạp�. (1996: 37-38).� Trong b�i viết nhan đề �C�c Kh�i Niệm về Khoa Học tại �u Ch�u v� � Ch�u: Concepts of Science in Europe and Asia�, t�c giả Frits Staal viết về Newton, ��ng đ� tin tưởng nơi c�c truyền thống thần b� được chuyển giao xuống trong một d�y chuyền li�n tục �quay trở l�i lại quan hệ b� mật nguy�n thủy tại Babylonia � Newton đ� cảm thấy ngay cả trong c�ng tr�nh s�ng tạo nhất của �ng về vật l� học, rằng �ng đang kh�i phục sự th�ng th�i cổ xưa �m� Pythagoras, Democritus, Soloman v� Mosses c�ng c�c người kh�c đ� sẵn sở đắc nhung dấu k�n trong ngụ ng�n v� biểu tượng�. (1993:11)

 

������ Trong khi thời phục sinh � Đại Lợi được gợi hứng bởi chủ nghĩa cổ điển tại Hy Lạp cổ đại, một sự �t�i sinh� tương ứng tại � Ch�u c� nguồn cội của n� kh�ng chỉ nơi sự hiện thực tư tưởng Hy Lạp đ� trong �thời gi�c ngộ� tại �u Ch�u hồi thế kỷ thứ 18, m� c�n trong c�c văn bản cổ đại của Trung Hoa v� Ấn Độ.

 

������ C�c hoạt động của khối ASEAN, Tổ Chức Unesco, the Asia Pacific Society for Ethnomusicology (Hội � Ch�u Th�i B�nh Dương Về �m Nhạc D�n Tộc), the Asian Composers Forum (Diễn D�n C�c Nh� Soạn Nhạc � Ch�u), the European Foundation for Chinese Music Research (Hiệp Hội �u Ch�u Nghi�n Cứu �m Nhạc Trung Hoa), the International Council for Traditional Music (Hội Đồng Quốc Tế Về �m Nhạc Truyền Thống) v� the International Society for Contemporary Music (Hội Quốc Tế Về �m Nhạc Đương Đại) cung cấp một sự đối thoại li�n tục giữa �m nhạc � Ch�u v� �u Ch�u.� Kể từ sau Thế Chiến II, một số lượng chưa từng thấy c�c sinh vi�n � Ch�u về �m nhạc �u Ch�u tại �u Ch�u v� Mỹ Ch�u, v� ngược lại, nột số lượng lớn lao c�c nh� �m nhạc học nghi�n cứu về �m nhạc của � Ch�u khai mở c�c đường hướng th�nh thang về c�ch thức hai triết l� �m nhạc c� thể gặp gỡ để tạo ra một �m nhạc của thế kỷ n�y [thế kỷ 20] .� C�c trường �m nhạc tại Nhật Bản, Trung Hoa v� Đ�i Loan đang đ�n ch�o c�c nh�m tr�nh diễn từ Đ�ng Nam � v� ngược lại.� Gamelan của Java hiện đang được tr�nh diễn tại nhiều nơi tr�n thế giới.

 

������ C�c nh� soạn nhạc �m nhạc T�y Phương đ� lu�n lu�n quan t�m đến �m nhạc của � Ch�u v� v�o cuối thế kỷ thứ 19, Claude Debussy đ� bị say đắm bởi tinh thần của gamelan của đảo Java. John Cage đ� muốn t�m hiểu triết l� của Dịch Kinh, Kinh S�ch về C�c Sự Thay Đổi, v� Edgard Varuse đ� toan t�nh loại bỏ �equal temperament: b�n �m bằng nhau� [ sự ph�n chia một b�t �m dộ th�nh 12 b�n �m bằng nhau, như khi l�n d�y một đ�n dương cầm, ch� của người dịch]� l� v� c� một v�i �m giai �kh�ng h�a điệu: untempered� tại � Ch�u.� C�c th�nh tố của một l� thuyết mới về �m nhạc đang từ từ xuất hiện với kh�i niệm hay triết l� kh�c về c�c con số, c�c tỷ lệ, v� một sự thưởng thức một � nghĩa văn h�a, x� hội của đời sống tại � Ch�u./- �



T�I LI�U THAM KHẢO


Cooler, Richard. 1979.� The Karen Bronze Drums: The Magic Pond.� Luận �n Tiến Sĩ.� Ithaca: Cornell University.

Dharma Po 2000.� �L�insulinde malaise et le Campa�, Bulletine de l��cole Franҫaise d�Extr�me-Orient, Vol. 87.

Kaudern, Walter 1927.� �Mucical Instruments in Cel�bes 3�, Ethnological Studies in Celebes, Guteborg: Elanders Boktryckeri Aktlebolag.

Kurst, Jeap 1939.� Music in Nias.� Leiden: Brill.

 

Kurst, Jeap 1942.� Music in Flores.� Leiden: Brill.

Lombard, Denys 1990.� Le Carrefour Javanais, II.� Les reseaux asiatiques, Chương I. D�antiques relais maritimes, c�c trang 16-75.� �dition de l�EHESS.

Maceda, Jose 1990.� �In search of a source of pentatonic hemitonic and anhemitonic scales in Southeast Asia�, Acta Musicologica 52/II, III, c�c trang 192-223.

Maceda, Jose 1998.� Gongs and Bamboos, A Panorama of Phillippine Music Instruments, Quezon City: University of the Phillippines Press.

Maceda, Jose 2001.� �The Structure of the Principal Court Musics of East and Southeast Asia�, Asian Music, c�c trang 143-178.

Mierlo, Hans Van.� �Europe and Asia, Toward a New Partnership�, Five Essays on the Asia-Europe Relationship.� Leiden, Amsterdam International Instute of Asian Studies, c�c trang 7-14.

Minzu Yin Yue, 1985/4, c�c trang 41-42.

Picken, Laurence 1957.� Ancient and Oriental Music.� London: Oxford University Press, trang 168.

Ptak, Roderick 2001.� �Quanzhou: At the Northern Edge of a Southeast Asian �Mediterranean�?, The Emporium of the World; Maririme Quanzhou, 1000-1400.� Leiden: Brill.

Reid Anthony 1996.� �Flows and seapages in the long-term Chinese Interaction with Southeast Asia�, Sojourners and Settlers, St. Leonards, NSW: Allen and Unqin, c�c trang 15-49.

Reid, Lawrence, 1996.� �The Current State of Linguistic Research on the Relatedness of the Language Families of East and Southeast Asia�, Indo-Pacific Prehistory, Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association, 14, Vol. 2, c�c trang 87-91.� Canberra: Australian National University.

Sachs, Curt 1917.� Die Musik-instrumente Birmas und Assams im K. Ethnographischen Museum. Munchen: Kuniglich Bayerichen Akademie der Wissenschafted.

Sachs, Curt 1943.� The Rise of Music in the Ancient World.� New York: Norton.

Schaeffner, Andre 1951.� �Une importante d�couverte arch�ologique: le lithophone de Ndut Ling Krak, Vietnam�, La Revue de Musicologie 33: 11-19.

Staal, Frits 1993.� �Concepts of Science in Europe and Asia�, Five Essays on the Asia-Europe Relationship.� Leiden, Amsterdam International Institute of Asian Studies, c�c trang 5-31.

Stargardt, Janice 2001.� �Behind the Shadows: Archaeological Data on the Two-way Sea-Trade between Quanzhou and Salingpra, South Thailand, 10th � 14th Century�, The Emporium of the World; Maritime Quanzhou, 100-1400. �Leiden: Brill, c�c trang 309-394.

Svensson, Thommy 1993.� �Cultural Rapprochement between Asia and Europe�, Five Essays on the Asia-Europe Relationship.� Leiden: Amsterdam International Institute of Asian Studies, c�c trang 9-61.

The New Encyclopadedia Britannica, 1973-74, Vol. 17.� Southeast Asian Cultures, c�c trang 22-275.

Zhu Zhuo-Jian 1990.� Th�ng tin c� nh�n.



Nguồn: Jose Maceda, Southeast �With The China Sea As Another Mediterranean (A Background for an identification of Musical Exchanges in the Region), www.music.ntnu.edu.tw/conference/abor/pdfile/2_1_1.pdf

 

C�c h�nh ảnh minh họa bổ t�c được sưu tầm tr�n mạng Internet. Do dịch giả sơ � n�n đ� để lạc nguồn. Th�nh thật c�o lỗi v� sẽ ghi ch� đ�ng nguồn, khi t�m lại được. (gio-o.com)

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

20.01.2014

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2014