John S. Guy

Tiến Sĩ, Phụ T� Quản Thủ, Ph�ng Ấn Độ, Bảo T�ng Viện Victoria and Albert Museum, London

 

ĐỒ GỐM VIỆT NAM V�

CĂN CƯỚC VĂN H�A:

BẰNG CHỨNG TỪ C�C NH� L� V� NH� TRẦN

 

Ng� Bắc dịch

***

Dẫn Nhập

       C�c đồ gốm men b�ng của Việt Nam tượng trưng cho sự biểu lộ tinh tế v� bền bỉ nhất của nghệ thuật đồ gốm tại Đ�ng Nam �, song ch�ng c� lẽ �t được am tường nhất trong số c�c truyền thống đ�.  Sự thiếu s�t việc điều nghi�n ph� ph�n về t�nh chất đặc biệt của đồ gốm Việt Nam l� kết quả của một khuynh hướng nh�n ch�ng, c�ng với c�c kh�a cạnh kh�c của sự biểu hiện văn h�a Việt Nam, như l� một �chủ nghĩa địa phương kỳ lạ� (curious provincialism), 1 một sự phản ảnh mờ nhạt của văn h�a Trung Hoa. Lịch sử đồ gốm Việt Nam, n�i một c�ch tổng qu�t, song h�nh với sự tiến h�a của đồ gốm Trung Hoa từ thời nh� H�n trở đi, về mặt h�nh d�ng v� thể điệu.  Tuy nhi�n, điều cũng đ�ng l� nh� l�m đồ gốm Việt Nam đ� đem lại sự biểu lộ c�c th�nh tố của căn cước văn h�a mang bản chất Việt Nam.  Sự kiện n�y được nhận thấy trong sự vận dụng độc đ�o c�c h�nh d�ng đồ gốm v�, đ�ng kể hơn, trong sự ph�t triển danh biểu trang tr� nhằm hội nhập c�c chủ đề v� phần tử họa tiết kh�ng c� trong truyền thống Trung Hoa.  Hơn nữa, nhiều đề t�i vay mượn được t�i giải th�ch với một sự tự t�n v� tinh tế thường tạo ra c�c kết quả thấm nhuần với một sự vẻ tươi m�t v� năng lực kh�ng hề c� trong nguy�n bản Trung Hoa.  Trong b�i nghi�n cứu n�y t�i muốn khảo s�t danh biểu trang tr� của họa kiểu đồ gồm trong thời nh� L� v� nh� Trần, v� để lập luận rằng sự lựa chọn v� giải th�ch c�c chủ đề được nhận thấy tr�n c�c sản phẩm đồ gốm của thời kỳ n�y cấu th�nh c�c sự ph�t biểu c� � thức về căn cước văn h�a Việt Nam.

       Sự tiến h�a của đồ gốm men b�ng tại Việt Nam phản ảnh c�c y�u cầu biến đổi của x� hội Việt Nam qua thời gian.  C�c sản phẩm sớm nhất được sản xuất để đ�p ứng với c�c nhu cầu của c�c th�nh phần H�n h�a của x� hội Việt Nam xuất hiện trong thời chiếm đ�ng của nh� H�n v�o c�c thế kỷ thứ 1 v� 2 sau C�ng Nguy�n.  C�c chiếc b�nh (chậu, bồn) n�y, được khai quật từ c�c ng�i mộ bằng đất nung thời nh� H�n, tương tự như c�c đồ vật mai t�ng của Trung Hoa thời nh� H�n.  Bằng chứng đương thời chỉ cho thấy v�ng ch�u thổ s�ng Hồng v� tỉnh Thanh H�a, ngay s�t ph�a nam, l� c�c miền ch�nh yếu cho sự sản xuất ban đầu c�c đồ gốm tại Việt Nam.  V�o khoảng giữa thế kỷ thứ 3 sau C�ng Nguy�n, ch�u thổ s�ng Hồng đ� sẵn hỗ trợ cho khối đ�ng đảo d�n cư của Bắc Phần, một khu�n mẫu c�n k�o d�i đến ng�y nay. 2 Một khoảng trống hiện diện trong bằng chứng đồ gốm từ sự sụp đổ của sự kiểm so�t trực tiếp của nh� H�n trong thế kỷ thứ 3 sau C�ng Nguy�n cho m�i đến l�c khởi đầu thế kỷ thứ 10.  Mặc d� bằng chứng khảo cổ c�n thiếu s�t cho đến nay, một số sự ph�t triển quan trọng trong đời sống văn h�a của miền bắc Việt Nam cho thấy rằng sự sản xuất đồ gốm địa phương đ� được duy tr�.  Nhu cầu ch�nh yếu cho c�c sản phẩm đồ gốm men b�ng c� lẽ ph�t sinh từ c�c chương tr�nh x�y dựng s�u rộng đề xướng bởi c�c nh� l�nh đạo để phục vụ cộng đồng tu viện Phật Gi�o c� ảnh hưởng ng�y c�ng gia tăng.  Sự x�y cất c�c ng�i đền, c�c tu viện v� c�c ng�i ch�a l�m ph�t sinh ra một nhu cầu về m�i ng�i v� gạch tr�ng men.  Dưới c�c triều đại nh� L� v� nh� Trần theo d�n tộc chủ nghĩa, c�c sản phẩm d�nh cho sự sử dụng nội địa đ� mang một tầm quan trọng mới, với sự tiến triển của một lối giải th�ch ri�ng biệt của Việt Nam về c�c thể điệu trang tr� bằng sắt (iron-decorated) v� đơn sắc (monochrome: một mầu) của Trung Hoa.  Từ đầu thế kỷ thứ 14, Việt Nam tiến v�o c�ng cuộc mậu dịch đồ gốm quốc tế, sản xuất một thể loại trang tr� bằng sắt c� viết chữ đẹp v� c�c sản phẩm men trắng v� xanh da trời nổi tiếng được t�m thấy tại nhiều địa điểm rải r�c từ Nhật Bản sang tới Trung Đ�ng.

       Trong c�c thế kỷ trước khi c� sự thống nhất của Trung Hoa dưới c�c triều đại nh� T�y v� nh� Đường, Việt Nam đ� duy tr� một sự độc lập cao độ khỏi sự kiểm so�t tập trung h�a của Trung Hoa.  Nh� T�y đ� x�m lăng Việt Nam trong năm 602, v� với sự thiết lập của nh� Đường, Trung Hoa khẳng quyết một mức độ ảnh hưởng chưa từng c� v�o c�ng việc của Việt Nam, đ� diễn ra li�n tục trong ba thế kỷ kế tiếp.  Trong năm 679 miền bắc Việt Nam bị tuy�n gọi l� V�ng Bảo Hộ An Nam (�Miền Nam Đ� Được B�nh Định: Pacified South) bởi triều đ�nh nh� Đường v� vẫn c�n nằm dưới sự kiểm so�t trực tiếp của Trung Hoa m�i cho đến l�c kết th�c thế kỷ thứ 9.

       Cuộc kh�ng chiến chống lại sự kiểm so�t ch�nh trị v� H�n h�a văn h�a vẫn c�n l� một chủ đề thường trực của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ n�y.  Trong khi c�c sự ph�n kỳ văn h�a được coi trọng s�u xa v� được nhấn mạnh một c�ch c�ng khai, một mối quan t�m kh�ng muốn mang vẻ �man rợ� (barbarian), tự n� l� một kh�i niệm của Trung Hoa, đ� thiết chế c�c sự khẳng định của Việt Nam về một căn cước văn h�a c� bản chất Đ�ng Nam �. 3 Ch�nh trong khung cảnh n�y m� kh�i niệm địa phương h�a của t�c giả Wolters đ� cung cấp một kh� cụ hữu �ch cho việc giải th�ch � nghĩa đương đại của sự trang tr� đồ gốm.  T�c giả Wolters nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc x�c định v� giải th�ch c�c th�nh tố bản địa, cũng như c�c th�nh tố m�, nếu ngoại nhập từ nguy�n thủy, đ� được �bản địa h�a�.  T�ch biệt c�c th�nh tố đ� cho ph�p ch�ng ta ph�n biệt c�c đồ gốm Việt Nam ra khỏi c�c kiểu mẫu Trung Hoa c� nghĩa tiến tới gần hơn việc x�c định t�nh chất địa phương của ch�ng.  Kế đ�, bởi việc sử dụng bằng chứng lịch sử, văn chương v� khảo cổ tổng qu�t hơn, ch�ng ta c� thể khởi sự việc giải th�ch tầm quan trọng v� � nghĩa của c�c đồ vật n�y trong x� hội Việt Nam.

 

Thời Phục Hưng Của Việt Nam:

C�c Triều Đại Nh� L� V� Nh� Trần

       C�c cuộc đấu tranh của thế kỷ thứ 10 chứng kiến sự xuất hiện của Việt Nam như một vương quốc độc lập, đ� kh�ng cự c�c mưu toan li�n tiếp bởi c�c nh� l�nh đạo Nam H�n tại Quảng Đ�ng, trong năm 931 v� 938, v� nh� Bắc Tống trong năm 980 muốn t�i khẳng định sự kiểm so�t của Trung Hoa. 4  Trong năm 1009 gia tộc họ L� d�nh được sự ủng hộ của quần ch�ng v� đ� thiết chế triều đại d�n tộc vĩ đại đầu ti�n dưới đ� c�c gi� trị văn h�a Việt Nam được t�i khẳng quyết một c�ch mạnh mẽ.  Một loạt đ�ng kể c�c đồ gốm men b�ng đặc biệt đ� được sản xuất trong thời kỳ n�y.  C�c sản phầm hồi đầu nh� L� được ti�u biểu bởi sự trang tr� vẽ tay v� khắc chạm với một họa kiểu m�u n�u tr�n nền trắng.  Sưu tập lớn nhất của c�c sản phẩm n�y được lưu giữ tại Bảo T�ng Lịch Sử H� Nội, Bảo T�ng Viện Mus�es Royaux, Brussels, v� Bảo T�ng Viện Mus�e Guimet, Paris. 5 Ch�ng l� c�c chiếc b�nh (chậu, bồn) bằng đ� men b�ng, thường c� k�ch thước to lớn, được trang tr� với c�c họa kiểu tỉ mỉ, điển h�nh được b�i tr� theo một loạt c�c giải nằm ngang hay c�c sọc thẳng đứng (H�nh 1 v� 2).  Chiếc b�nh (chậu, bồn) được tr�ng men b�ng, trong suốt v� họa tiết được khắc s�u tr�n mặt, lột bỏ lớp men theo c�ch m�i �scraffitto� [? c� lẽ do sắp chữ sai, phải l� sgraffitto l� c�ch trang tr� tr�n đồ gốm bằng c�ch cạo hay khắc xuy�n qua lớp men b�ng để l�m bật nền gốm tương phản, ch� của người dịch].  C�c chủ đề sau đ� được sơn bằng một nước men b�ng m�u n�u.  C�c chỗ khắc nơi m� men trong v� n�u bổ t�c kh�ng chạm tới vẫn c�n chưa bị phủ men, phơi b�y th�n gốm m�u trắng-x�m nhạt.  Đ�i khi, kiểu l�m n�y được đảo ngược, phơi b�y họa tiết kh�ng được phủ men tr�n nền phủ men b�ng m�u n�u. (H�nh 2)

       Kỹ thuật c� thể tiến triển từ kinh nghiệm của người l�m đồ gốm Việt Nam trong việc chạm nổi đồ gốm vốn được �p dụng theo cổ truyền đối với gạch trang tr� v� sản xuất ng�i, th� dụ như được nhận thấy nơi c�c sản phẩm của Jizhou [? b�n Trung Hoa, c� thể l� Jiaozhou, tức Giao Ch�u, ch� của người dịch].  Kinh đ� tại Thăng Long (H� Nội), bắt đầu trong năm 1010 với sự th�nh lập triều đại nh� L�, hẳn phải được trang tr� tr�n ngập với c�c loại ng�i như thế.  C�c cuộc khai quật tại H� Nội hồi đầu thế kỷ [thứ 20, ch� của người dịch] n�y đ� ph�t hiện c�c vi�n gạch với c�c mẫu chạm trỗ, ch�nh yếu l� c�c h�nh tr�n v� h�nh thoi, v� c�c vi�n ng�i, đa số l� ng�i m�i nh� c� th�n ống tr�n, chạm trỗ với c�c chủ đề về hoa, c�c con rồng v� c�c con chim phượng.  Ng�i hay đ� l�t phẳng hay đắp nổi cũng được t�m thấy, được trang tr� với men trong hay nhiều m�u. 6  Động năng để vẽ ra một họa tiết với lưỡi cắt của một dụng cụ bằng tre thay v� với một b�t vẽ nhiều phần ph�t sinh từ kinh nghiệm n�y.  Sự vận dụng kh�o l�o b�t vẽ Trung Hoa c� thể được ước định bị giới hạn v�o giới văn nh�n tr� thức v� thư lại v� vẫn chưa th�nh một kinh nghiệm th�ng thường của c�c nghệ nh�n ng�nh đồ gốm.

       C�c sản phẩm khắc m�u trắng v� n�u tr�nh b�y một danh mục hạn chế của c�c h�nh th�i, phổ th�ng nhất l� một lư (hay vạc) h�nh ống, cao, c� v�ng cổ lư với c�nh hoa sen đắp nổi b�n dưới viền miệng lư, v� một l�ng lư thấp, rộng với đường viền lăn v�ng v� một đế phẳng.  C�c h�nh hoa nhỏ đắp nổi l� một đặc t�nh thường lệ v� tr�ng giống như c�c sự trang tr� được thấy tr�n c�c th� dụ thời Bắc Tống thế kỷ thứ 10. 7 C�c đường cong uốn kh�c vẽ hoa v� l� tỉ mỉ chế ngự c�c họa kiểu.  C�c họa kiểu chẳng hạn như m�y v� c�nh thảo mộc uốn kh�c biểu lộ một sự tương quan trực tiếp nhất với sự trang tr� ng�i v� gạch Việt Nam (H�nh 3).  Một chiếc b�nh c� nắp đậy thu thập được bởi C. Huet tại Đại La (H� Nội) được trang tr� với hoa v� l� sen trong một loạt c�c khu�n (khung) thẳng đứng (H�nh 1).  Lớp men th� mỏng v� b�ng.  Ống m�ng h�nh đầu th� vật xuất hiện tr�n gờ m�i, v� được c�n bằng bởi tượng đắp theo h�nh con vẹt, một loại chim được ưa th�ch của v�ng đất nhiệt đới của Việt Nam v� l� một vật xa xỉ rất được ao ước tại Trung Hoa thời nh� Đường.  Sự phổ th�ng của chủ đề kể sau được nhận thấy tr�n một con dao bằng v�ng được khai quật tại địa điểm đặt cung điện của nh� L� tại H� Nội theo h�nh dạng con vẹt. 8

       C�c con chim đu�i d�i xuất hiện như một đối tượng được ưa chuộng, v� c� thể l� con c�ng bản xứ của Việt Nam (H�nh 4).  C�c con chim như thế c� nhiều tại Việt Nam, ph�n đo�n theo c�c sự đề cập thường xuy�n đến ch�ng trong văn chương thời Đường li�n quan đến c�c v�ng đất phương nam.  Đu�i của c�c con chim như thế được ghi ch�p như một phần trong cống phẩm h�ng năm được gửi từ v�ng đất đ� hộ của nh� Đường ở An Nam đến triều đ�nh tại Tr�ng An.  Đối với c�c quan chức nh� Đường phục vụ tại An Nam, tiếng k�u ch�i tai của con c�ng l� một sự nhắc nhở cho sự lưu đ�y của họ: �Con Chim Việt lay chuyển giấc mơ của bạn về qu� nh�. 9 Nhưng đối với nh� ngoại giao Việt Nam thế kỷ thứ 13 được ph�i l�n ph�a bắc sang Trung Hoa, con c�ng được gợi l�n như một ẩn dụ cho Việt Nam nơi m� �ng mong mỏi quay về:

       Bạn đang đi theo c�c con ngỗng băng qua c�c đ�o xuy�n n�i

       Để gi�p mặt với tuyết miền bắc.

       Nhưng tr�i tim bạn l� h�nh d�ng của con chim Việt

       Mong ng�ng quay về c�nh nam. 10

       Nh� thơ đang sử dụng một c�ch � thức thi ph�p ho�i niệm tương tự từ thi ca Trung Hoa v� đảo ngược chức năng biểu trưng của h�nh ảnh con c�ng để diễn tả c�c t�m cảm.  Đối với người Việt Nam mới độc lập, c�c con chim với m�u sắc huy ho�ng của Việt Nam c� thể được khi�u dẫn để biểu tượng h�a t�nh độc đ�o của đất nước của họ.  Sự m� tả c�c con chim như thế giữa c�nh l� thể điệu h�a đ�  mang lại một đặc t�nh sống động v� địa phương ri�ng biệt cho c�c đồ gốm n�y.  Chủ đề chim đu�i d�i tuy thế l� một chủ đề cổ xưa, được t�m thấy tr�n c�c trống đồng ban sơ thường c� của chủng tộc Việt.  Sự m� tả của n� cũng c� thể nhằm v�o việc khi�u dẫn t�nh cổ xưa của d�n tộc v� văn h�a Việt Nam, v� từ đ�, t�nh bền bỉ v� dẻo dai của Việt Nam. 

C�c đề t�i phi-Trung Hoa kh�c cũng xuất hiện trong danh mục trang tr� cho đồ gồm Việt Nam từ thế kỷ thứ 11, chẳng hạn nhu con voi.  C�c con voi vẫn từng rong ruổi trong c�c khu rừng Việt Nam trong thi�n ni�n kỷ đầu ti�n v� ng� của ch�ng được gửi thường lệ sang Trung Hoa như một cống vật xuất sắc.  C�c con voi được thuần phục v� tiến v�o huyền thoại b�nh d�n như một sinh vật th�ng th�i c� khả năng ph�n biệt được sự thật với sự giả dối.  Một c�u chuyện c� c�c gốc rễ từ thời nh� Đường kể lại một con voi đứng g�c c�c ngọn đồi của An Nam chỉ cho ph�p c�c kh�ch du h�nh lương thiện đi qua trong sự an to�n.  Con voi được mi�u tả tr�n chiếc b�nh thời nh� L� (H�nh 5) mang y�n cương của một con vật đ� thuần phục, mặc d� kh�ng được trang tr� một c�ch huy ho�ng như c�c con voi được chứng kiến bởi một nh� ngoại giao Trung Hoa trong sứ đo�n sang Việt Nam:

C�c v�ng đeo cổ bằng v�ng c�  mạng che đầu ch�ng,

C�c tấm khăn th�u phủ xuống từ th�n h�nh ch�ng � 11

C� lẽ điều đ�ng lưu � nhất trong mọi điều l� h�nh d�ng chiến sĩ với một t�nh chất Đ�ng Nam � đặc sắc.  Một chiếc b�nh chứa đồ tại Bảo T�ng Lịch Sử ở H� Nội (H�nh 6) được trang tr� với hai chiến sĩ, cầm gi�o v� khi�n che, trong c�c vị thế sống động nhắc nhớ đến c�c h�nh thể nhảy m�a tế lễ được t�m thấy tại v�ng Đ�ng Nam � lục địa.  C�c chiến sĩ mang quần �o ngắn, với c�c kiểu mẫu uốn kh�c như rồng rắn nơi bắp đ�i, c� lẽ l� h�nh x�m vẽ m� c�c lời b�nh luận của Trung Hoa n�i tới.  Tục x�m vẽ đ� được x�c định từ l�u bởi người Trung Hoa như một trong c�c t�nh chất chủng tộc để ph�n biệt của c�c thị tộc �B�ch Việt�, trải d�i từ ph�a nam Chiết Giang đ�n V�n Nam v� xuống tận miền bắc Việt Nam. 12 T�c giả Chou Ch�u-fei (Chu Khứ Phi), nơi phần ghi ch�p trong quyển Ling Wai Tai Ta (Lĩnh Ngoại Đại Đ�p) năm 1178 đề cập tới Vệt Nam, nhận x�t rằng �h�nh vẽ tr�n th�n thể của họ tr�ng giống như c�c họa kiểu tr�n trống đồng�. 13 C�c chiếc khi�n chắn của chiến sĩ được trang tr� với họa kiểu h�nh rồng, l� c�c vị thần nước trong văn h�a Việt.  Sự biểu thị t�nh chất kh� ng�y thơ c�c h�nh d�ng n�y n�u � kiến rằng ch�ng c� thể tượng trưng cho c�c d�n bộ lạc Việt Nam phi-H�n h�a l� những kẻ �kể từ cổ xưa � đ� được ghi nhận nhờ h�nh x�m vẽ v� t�c cắt ngắn của họ�. 14 Với sự xuất hiện của họ trong sự trang tr� đồ gốm Việt Nam ch�ng ta cảm nhận một sự khẳng định mạnh mẽ c�c sự quan t�m văn h�a bản xứ v� căn cước chủng tộc.

Một loại thứ nh� của đồ gốm thịnh h�nh trong c�c thế kỷ thứ 11 v� 12 (nh� L�) l� đồ đ� trắng với sự trang tr� l�m theo mẫu c�nh hoa sen.  Nh�m n�y được tượng trưng bởi c�c chiếc đĩa bẹt, đ�i khi với một ch�n đế, c�c chiếc b�t c� cấu h�nh c�nh hoa sen, c�c cốc c� ch�n, v� c�c chiếc b�nh c� nắp đậy (H�nh 7 v� 8).  Trong khi c�c m� h�nh Trung Hoa đ�ch x�c thường kh�ng thấy, nhiều th�nh phần họa kiểu trong c�c sản phẩm n�y c� thể được x�c định nơi c�c đồ d�ng nh� Bắc Tống trong c�c thế kỷ thứ 11 v� 12. 15 C�c đồ gốm n�y c� thể tượng trưng c�c sản phẩm được sản xuất tại Đ�ng Kinh (Bắc Việt) cho sự sử dụng của giới tinh hoa Việt Nam địa phương l� c�c người, xuy�n qua c�c quan hệ �triều cống� với mẫu quốc Trung Hoa, c� thể hấp thụ thị hiếu của triều đ�nh nh� Tống d�nh cho h�ng gốm m�u trắng.  Sự thịnh h�nh chủ đề c�nh hoa sen c� thể phản ảnh sức mạnh của sự h�nh đạo Phật Gi�o tại triều đ�nh nh� L� ở Thăng Long (H� Nội).  Th� dụ, một nh�m c�c hộp đựng kinh [Phật] bằng sa thạch tr�ng men trắng của nh� Tống Trung Hoa, được chế tạo một c�ch c�ng khai d�nh cho thị trường Nhật Bản, ti�u biểu cho sự li�n kết giữa chủ đề hoa sen v� đạo Phật. 16

Một c�i t� c� ch�n đế h�nh c�nh hoa sen nở (H�nh 7), được thu thập tại miền bắc Việt Nam, c� một n�t sinh động của h�nh thể l�m li�n tưởng đến c�c nguy�n mẫu bằng kim loại.  C�c nền văn h�a chịu ảnh hưởng của Ấn Độ tại v�ng Đ�ng Nam � lục địa, bao gồm d�n Ch�m theo Ấn Độ Gi�o tại miền trung Việt Nam, xuất sắc với c�c chiếc b�nh (chậu, bồn) bằng v�ng v� bạc sử dụng đến chủ đề c�nh hoa sen nở.  Trong năm 1044 v� một lần nữa trong năm 1069, Việt Nam đ� thực hiện c�c cuộc đột k�ch bằng đường biển đ�nh v�o xứ Ch�m v� lục so�t kinh đ� của người Ch�m tại Vijaya, chắc chắn bao gồm trong chiến lợi phẩm của họ c�c sản phẩm bằng v�ng nhờ đ� c�c thợ thủ c�ng của Ch�m được ngưỡng mộ một c�ch lớn lao.  C�c h�nh thể tương tự xuất hiện trong đồ gốm Khmer đương đại v� c�n k�o d�i cho đến cả ng�y nay trong việc chế t�c đồ v�ng v� bạc ở v�ng Đ�ng Nam � lục địa, đặc biệt với c�c b�nh đựng v�i.  Đồ kim loại của Ch�m, bắt nguồn từ Ấn Độ, c� thể đ� g�p phần v�o h�nh thể của c�c đồ gốm Việt Nam n�y, c�ng với nguồn cảm hứng từ đồ gốm của Trung Hoa thời nh� Tống.  Trong cung c�ch n�y, c�c th�nh phần văn h�a được hấp thụ bởi Việt Nam từ c�c bi�n giới ph�a nam của n� v� xa hơn nữa đ� cung cấp ở một số mức độ sự đối c�n với văn h�a Trung Hoa với b�ng che m� Việt Nam đ� cố vươn l�n.  C�c nỗ lực c� � thức được thực hiện trong c�c thời nh� L� tiến tới sự tự t�c về văn h�a v� để bảo tồn c�c th�nh tố về tiếng n�i, y phục v� c�c phong tục kh�c hầu bảo đảm rằng chủng tộc v� căn cước văn h�a Việt đ� được duy tr�. 17

Khay bẹt với hai đường viền c�nh hoa sen v� một ch�n đế thấp, thắt eo nhỏ lại (H�nh 8) tượng trưng, trong một � nghĩa, một sự giải quyết của Việt Nam về hai lựa chọn trang tr� tranh chấp nhau n�y, c�c th�nh tố chịu ảnh hưởng Ấn Độ bền bỉ k�o d�i trong văn h�a Đ�ng Nam � lục địa, v� th�nh tố Trung Hoa thấm nhập.  C�c cơ hội cho sự lưu th�ng c�c sản phẩm v� tư tưởng giữa Việt Nam v� c�c l�ng giềng của n� ở phương bắc v� phương nam th� đ�ng cứu x�t đến.  Họa kiểu theo mẫu c�nh hoa sen, được quen biết trong c�c truyền thống chế tạo đồ kim loại của Ch�m, cũng l� một h�nh thể được t�i dụng trong đồ gốm nh� Tống, với c�c nguồn gốc c� thể truy t�m ở đồ kim loại nh� Đường với nguồn cảm hứng tối hậu của Sassanian [chỉ đồ thủy tinh được sản xuất từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 7 sau C�ng Nguy�n tại Đế Quốc Sassanian, tức v�ng Bắc Iraq, xứ Iran v� v�ng Trung � ng�y nay, ch� của người dịch] hay Soghdian [tức v�ng Uzbekistan v� Tajikistan ng�y nay với c�c th�nh phố ch�nh như Samarkand, Panjakent, Fergana, ch� của người dịch] được chuyển tiếp xuy�n qua Con Đường Tơ Lụa Trung � Ch�u. 18  Hoa kiểu c�nh sen xuy�n v� khắc ở mặt trong li�n hệ với truyền thống Cizhou [?] của Bắc Tống được r�t ra một c�ch trực tiếp nhất từ đồ kim loại nh� Tống.  Phả hệ c� thể được truy t�m xuy�n qua c�c sản phẩm kiểu Cizhou [?] thế kỷ thứ 11 đến c�c chiếc b�nh (chậu, bồn) bằng v�ng v� bạc thế kỷ 7-8 được khai quật tại kinh đ� nh� Đường tại Tr�ng An.  T�c giả O. Janse đ� khai quật được một khay c�nh hoa sen thuộc loại n�y từ một ng�i mộ ở Thanh H�a c�ng với c�c chiếc b�t kiểu thời nh� Tống. 19

Một sự ph�t triển Việt Nam đặc biệt để đ�p ứng với một nhu cầu địa phương l� b�nh đựng v�i được d�ng để trữ v�i vỏ s� xay nhỏ được d�ng để pha chế c�ng với l� trầu.  C�c b�nh v�i c� h�nh d�ng b� gối ngồi xổm (squat form) với một lỗ hỗng ở vai b�nh, đ�i khi c� một ch�n đế, v� với một quai �giỏ� ng�y c�ng được trang tr� tỉ mỉ hơn.  C�c th� dụ sớm nhất, c�c b�nh b� gối ngồi xổm đơn giản, với c�c vết t�ch của v�i vẫn c�n hiển hiện, đ� được khai quật từ c�c khung cảnh thế kỷ 10-12.  20 B�nh đựng v�i, trong khi vẫn giữ lại t�nh c�ch đơn lẻ của n�, phản ảnh mối bận t�m về thể điệu biến đổi, hiển hiện r� rệt trong luồng ch�nh của sự sản xuất đồ gốm Việt Nam.  Một th� dụ được sưu tập bởi C. Huet tại Thanh H�a, c� ni�n đại khoảng thế kỷ thứ 13 (H�nh 9), được trang tr� bởi một h�ng đ�i (k�p) của c�c kiểu mẫu răng cưa chồng l�n nhau, họa kiểu được gọi l� �tr�i dứa� (pineapple) được nhận thấy nơi c�c sản phẩm của Yaozhou [?] v� Ding [?] của Jingdezhen (Cảnh Đức Trấn). 21  Tay cầm biến h�a th�nh một h�nh thể giống như d�y leo c�y nho kết cấu một c�ch kỳ diệu, c�c tua xoắn của n� vươn tới vai của b�nh nơi ch�ng trở n�n c�c hạt cau c�ch điệu.  Ch�nh hạt cau trộn lẫn với v�i tạo th�nh th�nh tố thực chất của miếng trầu được nhai bởi người d�n Đ�ng Nam �.  L� Tắc, một văn gia Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ 14, ghi ch�p rằng việc mời trầu c�c người kh�ch đến thăm đ� tạo th�nh một phần bản chất của l�ng hiếu kh�ch của người Việt, y như phong tục tại c�c nơi kh�c ở Đ�ng Nam �.

C�c đồ gốm đơn sắc tr�ng men b�ng trong thời nh� Trần, nổi bật l� c�c đồ tr�ng men b�ng với m�u trắng, xanh lục, v� m�u n�u, điển h�nh để trơn hay với c�c chủ đề c�nh hoa sen hay c�c loại hoa kh�c được đắp hay nhận ch�m ở mặt b�n trong.  C�c phế phẩm của l� nung được b�o c�o đến từ cả tỉnh Thanh H�a lẫn v�ng l�n cận H� Nội.  C�c men b�ng loại m�u ngọc b�ch (celadon) tương đối hiếm trong số sản phẩm đơn sắc của Việt Nam.  H�nh 10 biểu thị một chiếc b�t với một họa kiểu thảo mộc uốn kh�c được chạm khắc l�m nhớ lại c�c sản phẩm trang tr� m�u n�u được sơn vẽ thời trước đ�y.  N� c� một men b�ng rạn m�u ngọc b�ch v� một đ�y l�m xi�n g�c.  Một cốc vại c� th�nh đứng (beaker) trong h�nh thức một c�i b�t bố th� Phật Gi�o ph� b�y men b�ng trắng kem điển h�nh tr�n th�n b�t bằng sa thạch m�u v�ng sẫm v� một lớp tr�ng sắt m�u n�u-t�m được sơn tr�n ch�n b�t.  Một loại men b�ng bằng đồng m�u xanh tr�i t�o đặc sắc cũng xuất hiện, đặc biệt được ưa chuộng tr�n c�c ch�n nhỏ v� c�c chiếc lọ b�nh.  C�c sản phẩm đơn sắc Việt Nam kh�c biệt nhất xuất hiện trong số c�c sản phẩm phủ men b�ng m�u trắng, v� nổi bật nhờ sự thuần khiết về h�nh dạng, c� nhiều n�t tương đồng với sản phẩm một m�u thời nh� Tống.

 

Việc Mua B�n Đồ Gốm Thủa Ban Đầu

       Thế kỷ thứ 14 đ�nh dấu một đường r�nh ph�n chia trong sự ph�t triển c�c đồ gốm Việt Nam, sự chuyển tiếp từ sản xuất nội địa sang sự tham gia v�o c�ng việc mậu dịch đồ gốm quốc tế.  Sự thay đổi n�y được đ�nh dấu bởi sự ph�t triển của sự trang tr� được sơn vẽ dưới lớp men b�ng, khởi thủy trong m�u sắt được nung th�nh m�u n�u-đen.  Bằng cớ khả dĩ l�m dữ liệu sớm nhất của đồ gốm Việt Nam như một sản phẩm mậu dịch quốc tế l� một mảnh của một c�i b�t thuộc loại n�y, được sơn băng m�u đen sắt dưới lớp men b�ng với một huy chương x�e ra hoa c�c ở mặt b�n trong v� một lớp tr�ng sắt m�u chocolat (n�u kẹo chocolat) tr�n đ�y (H�nh 11).  N� được khai quật tại khu lận c�n của Kanzeon-ji, Dazaifu, tỉnh Fukuoka, đảo Kyushu, Nhật Bản, c�ng với một bảng bằng gỗ khắc bằng mực T�u với một ni�n đại tương ứng với năm 1330 sau C�ng Nguy�n. 23 Sự kh�m ph� n�y đ� x�c định một c�ch an to�n sự sản xuất đồ sa thạch trang tr� bằng sắt dưới lớp men b�ng, muộn lắm l� v�o đầu thế kỷ thứ 14.  C�c l� nung đảm tr�ch c�c sản phẩm n�y vẫn chưa được x�c minh một c�ch chắc chắn.  Di t�ch của c�c l� nung được chấm định tại một số địa điểm tại Thanh H�a, H� Nội v� H� Nam Ninh, 24 nhưng ch�ng ta đang chờ đợi tin tức ch�nh x�c tr�n việc x�c minh c�c loại sản phẩm li�n kết với mỗi v�ng.  C�c mảnh vụn của c�c đồ sa thạch trang tr� bằng sắt tương tự với loại xuất cảng ban đầu được b�o c�o tim thấy ở B�t Tr�ng thuộc ngoại � H� Nội. 25

       Thứ hạng của sản phẩm n�y r� r�ng l� c�c đồ gốm mậu dịch của Việt Nam nổi bật nhất trong thế kỷ thứ 14.  N� được đặc trưng bởi một loại bột mịn m�u trắng x�m gi�p cho người trang tr� vẽ thẳng v�o th�n gốm m� kh�ng phải trộn bột cho đều m�u tr�n mảnh gỗ mỏng trước ti�n.  To�n thể bề mặt sau đ� được phủ bằng một lớp men trong, m� bởi sự thiếu tinh khiết của kho�ng chất, c� khuynh hướng bị nung th�nh m�u v�ng nhạt hay bị nhuốm m�u hơi xanh lục.  N�t rạn nhỏ của men b�ng thường xảy ra.  Sự trang tr� n�y được hạn chế v�o c�c m�n h�ng c� k�ch cỡ nhỏ: c�c c�i b�t, đĩa n�ng, nhỏ để đựng nước chấm (saucers), đĩa tr�n để thức ăn (plates), c�c cốc vại th�nh đứng (beakers), c�c chiếc b�nh v� c�c c�i lọ hay chai. 26 Kiểu trang tr� c� thể được m� tả l� sơ s�i v� c� viết chữ, chủ đề trung t�m điển h�nh l� một c�nh hoa bung ra được vẽ một c�ch lỏng lẻo, bao quanh bởi một v�ng tr�n đơn hay đ�i v� với một giải v�ng tr�n cổ điển nhận s�u tr�n đường viền (H�nh 12).  Liệu c�c sản phẩm n�y đ� được ph�t triển một c�ch c�ng khai d�nh cho sự xuất cảng hay kh�ng th� kh�ng r�.  Sưu tập của C. Huet bao gồm một phế phẩm [waster, tức đồ l�m sai, bị bỏ, ch� của người dịch] của l� nung được cho biết từ Đại La (H� Nội), dưới h�nh thức một chồng b�t với chủ đề hoa bung ra được vẽ bằng m�u xanh da trời nằm dưới men b�ng.

       Sự xuất hiện của sự trang tr� dưới lớp men b�ng trong đồ gốm Việt Nam phải được nh�n dưới �nh s�ng của sự ph�t triển tại Trung Hoa.  Việc vẽ dưới men b�ng bằng m�u n�u sắt v� xanh đồng đ� được �p dụng một c�ch th�nh c�ng trong sự trang tr� c�c sản phẩm của Changsha (Trường Sa) [thủ phủ của tỉnh Hồ Nam b�n Trung Hoa, ch� của người dịch] muộn lắm l� trong thế kỷ thứ 9, như được thấy tại c�c b�nh đựng nước được khai quật tại Ningbo (Ninh Ba) thuộc tỉnh Chiết Giang hồi năm 1973, l� c�c sản phẩm hầu như chắn chắn được d�nh cho sự xuất cảng, 27 v� kỹ thuật mau ch�ng lan truyền đến c�c l� nung của Quảng Đ�ng.  C�c th� dụ về sản phẩm của Trường Sa đ� được t�m ra từ đảo Java [thuộc Nam Dương ng�y nay, ch� của người dịch] cho đến Ba Tư dọc theo c�c hải lộ lớn. 28  C�c l� nung ở v�ng phụ cận của Quảng Ch�u v� Quanzhou [? Tuyền Ch�u] đề r� r�ng đ� sản xuất ra c�c đồ gốm được trang tr� bằng sắt dưới lớp men b�ng d�nh cho thị trường xuất cảng. 29 Sự lưu th�ng thương mại thường trực giữa c�c hải cảng n�y v� c�c hải cảng của Bắc Việt sẽ tạo sự dễ d�ng cho việc sẵn s�ng chuyển giao c�c kỹ thuật như thế.  D� thế, bất kể c�c sự tương đồng về kỹ thuật, kh�ng c� nguy�n mẫu thể điệu cụ thể n�o cho sản phẩm được trang tr� bằng sắt ri�ng biệt của Việt Nam đ� được x�c định, khiến li�n tưởng mạnh mẽ đến s�ng kiến của Việt Nam trong kiểu thiết kế đồ gồm n�y.

 

Đồ Gốm M�u Xanh Da Trời v� Trắng của Việt Nam

       Trong nửa sau của thế kỷ thứ 14, m�u xanh thẫm như chất cobalt đ� bắt đầu được sử dụng trong sự trang tr� đồ gốm, b�o hiệu một kỷ nguy�n mới trong đồ gốm Việt Nam.  Khởi thủy m�u xanh cobalt đi theo thiết kế tương tự với sản phẩm trang tr� bằng sắt.  Đ�i khi hai m�u được d�ng phối hợp với nhau.  Nguồn gốc của cobalt kh�ng được hay biết nhưng c� thể ức đ�an rằng n� đ� đến từ c�c nh� nhập cảng Trung Đ�ng hoạt động tại Quảng Ch�u hay c� thể c�n trực tiếp từ c�c thương thuyền Hồi Gi�o tr�n đường đến miền nam Trung Hoa.  C�c nguồn bản địa Trung Hoa, chẳng hạn như c�c nguồn được kh�m ph� tại V�n Nam, mới chỉ bắt đầu cung cấp cho Cảnh Đức Trấn sau năm 1426.  Sau đ� Việt Nam c� thể đ� khai th�c nguồn nguy�n liệu n�y, s�ng Hồng cung cấp một chiếc cầu thi�n nhi�n giữa V�n Nam v� Bắc Việt.

Sự kiện rằng c�c sản phẩm trang tr� m�u xanh cobalt b�n dưới men b�ng của Việt Nam được sản xuất trong thế kỷ thứ 14 đ� được x�c định từ c�c nguồn mậu dịch.  Một mảnh vỡ của một c�i b�t, được trang tr� bằng m�u xanh cobalt dưới lớp men b�ng với ch�m hoa sơ s�i bung ra ở mặt trong v� một đ�y sơn nước �o m�u n�u, được t�m thấy năm 1980 tại Nakijin Gusuku,  thuộc Ryukyus, đảo Okinawa, Nhật Bản.  Hoạt động mậu dịch được ghi ch�p từ Ryukyus với Việt Nam từ năm 1363.  Vị tr� t�a l�u đ�i từ đ� mảnh vỡ n�y được khai quật đ� bị ph� hủy trong năm 1416, cung cấp một ni�n đại sau c�ng v�o đầu thế kỷ thứ 15.  Kiểu vẽ li�n hệ một c�ch trực tiếp với c�c sản phẩm được trang tr� m�u n�u sắt m� ch�ng ta hay biết đ� được sản xuất khoảng gần một thế kỷ trước đ�, v� th� dụ n�y, với sự chắc chắn hợp l�, c� thể được quy cho nửa sau của thế kỷ thứ 14.

            Một biến cố trọng đại trong c�c quan hệ Trung Hoa � Việt Nam c� thể đ� g�y ra một l�n s�ng mới của c�c ảnh hưởng của Trung Hoa được nhận thấy trong đồ gốm Việt Nam thế kỷ thứ 15 l� sự x�m lăng của qu�n đội nh� Minh triều Yunglo (Vĩnh Lạc) sang chiếm đ�ng Việt Nam từ 1407 đến 1427.  Về mặt văn h�a, sự chiếm đ�ng đ� c� một hậu quả t�n ph�, khi c�c kẻ chiếm đ�ng, tuy�n bố một ch�nh s�ch t�ch cực H�n h�a, đ� mưu t�nh chuyển biến Việt Nam th�nh một tỉnh của Trung Hoa.  C�c thư viện v� văn khố được n�i l� đ� bị chuyển về Trung Hoa v� được giả định đ� bị ti�u hủy.  C�c đền đ�i gắn liền với c�c th�nh quả của c�c triều đại nh� L� v� nh� Trần bị ph� hủy trong một mưu toan nhằm x�a bỏ c�c th�nh quả v� căn cước của nền văn h�a Việt Nam.  Việt Nam đ� kh�ng cự một c�ch hữu hiệu c�c mưu toan của Trung Hoa nhằm t�i thiết lập sự kiểm so�t ch�nh trị thường trực.  Tuy nhi�n, sự kh�ng cự lại sự thẩm nhập văn h�a tế nhị hơn v�o x� hội Việt Nam bởi c�c gi� trị, � niệm v� t�n ngưỡng Trung Hoa c� �t hiệu quả hơn.  Bằng chứng của ảnh hưởng văn h�a n�y, bị o�n gh�t như xảy ra đối với c�c bộ phận trong giới tr� thức Việt Nam, được chứng tỏ trong nhiều kh�a cạnh của sự biểu lộ văn h�a v� x� hội Việt Nam.  Sự mạo hiểm th�nh c�ng của Việt Nam v�o sự chế tạo v� xuất cảng đồ gốm mậu dịch c� phẩm chất, trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm Trung Hoa, được t� điểm bởi mối quan hệ n�y.

       Sự sản xuất mở rộng của sản phẩm m�u xanh da trời v� m�u trắng chịu ảnh hưởng bởi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 15 c� thể được giải th�ch bằng sự tiếp cận với thị trường.  Thời kỳ 1436 đến 1465 được đ�nh dấu bởi sự ngăn chặn t�ch cực c�ng cuộc mậu dịch hải ngoại bởi triều đ�nh Trung Hoa.  C� thể rằng c�c thương nh�n Trung Hoa tại Bắc Việt hay c�c nh� kinh doanh tại miền nam Trung Hoa với c�c sự li�n kết chặt chẽ với Bắc Việt đ� t�ch cực cổ vũ cho sự sản xuất c�c đồ gốm mậu dịch Việt Nam trong c�c thời kỳ mậu dịch Trung Hoa bị ngăn cấm.  C�c sản phẩm như thế sẽ sẵn s�ng được b�n cho c�c thị trường Trung Hoa trước đ�y nếu được trang tr� theo thể điệu Trung Hoa (H�nh 13 v� H�nh 14).

       Danh mục c�c h�nh dạng đồ gốm v� c�c chủ đề thiết kế được sử dụng trong sự trang tr� của ch�ng ph�t lộ một chiều hướng mới trong đồ gốm Việt Nam, t�ch rời khỏi c�c sự ph�t biểu bị địa phương h�a tiến tới một sự th�ch nghi gia tăng với c�c m� thức v� quy ước Trung Hoa.  Một sự biến đổi trong th�i độ xuất hiện, t�ch rời khỏi một ước mong, hay nhu cầu, để đưa ra c�c sự ph�t biểu c�ng khai của căn cước văn h�a hướng tới một nỗ lực c� � thức nhằm sử dụng ng�n ngữ trang tr� của nghệ nh�n đồ gốm Trung Hoa hầu gi�nh lợi thế thương mại.  C�c l� nung Việt Nam đ� lao v�o sự sản xuất thương mại v� sự xuất cảng c�c sản phẩm tr�ng men b�ng từ thế kỷ thứ 14, trong sự cạnh tranh trực tiếp với Trung Hoa l� c�c kẻ theo truyền thống khống chế thị tường đồ gốm mậu dịch b�o bở tại Đ�ng Nam � v� xa hơn nữa. 30

       Tuy nhi�n, ch�nh đồ gốm của c�c triều đại nh� L� v� nh� Trần, ngay trước kỷ nguy�n sản xuất mậu dịch, ph�t lộ c�c lời ph�t biểu mạnh mẽ nhất về căn cước văn h�a của Việt Nam.  Sự kiện rằng điều n�y phải l� như thế kh�ng c� g� lấy l�m ngạc nhi�n, bởi kỷ nguy�n n�y trong truyền thống được gắn liền với một sự phục hưng của văn h�a Việt Nam.  Việt Nam thời nh� L� đ� t�i thiết định nền độc lập v� triều đại nh� Trần đ� kh�ng cự một c�ch hữu hiệu c�c mưu toan x�m lăng li�n tiếp bởi c�c nh� cai trị triều Nguy�n [Trung Hoa].  Cuộc chiếm đ�ng ngắn ngủi nhưng t�n ph� hồi đầu nh� Minh đ� x�a bỏ nhiều th�nh quả của thời nh� L� v� nh� Trần v� ng�y nay bằng chứng đồ gốm tồn tại cung cấp một trong �t ngả đường của c�i nh�n thấu triệt v�o căn cước văn h�a Việt Nam trong thời kỳ n�y./-          

      

_____

CH� TH�CH

1. M. Goloubew �La Province du Thanh H�a et sa ceramique�, Revue des Arts Asiatiques, Vol. VII, No. 2 (1931-32), trang 115.

2. J Holmgren, Chinese Colonization of Northern Vietnam: Administrative Geography and Political Developments in the Tongking Delta, First to Sixth Centuries A. D., Canberra, Australian National University Press, 1980, trang 7.

3. Xem A. B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Cambridge, Harvard University Press, 1971 để c� một cuộc thảo luận c�c t�nh trạng mơ hồ về th�i độ trong sự nhận thức của Việt Nam đối với sự hiện diện của Trung Hoa, v� O. W. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives, Singapore, Institute of Southeast Asian Studies, 1982, c�c trang 73-82.

4. Xem K. Gardiner, �Vietnam and Southern Han�, Phần I v� II trong tập Papers on Far Eastern History 23 (1981), c�c trang 64-110, v� 28 (1983), c�c trang 23-48. [tức chuy�n san Asian Studies Review của Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi, ch� của người dịch].

5. T�i muốn b�y tỏ sự biết ơn đến B� Janine Schotsmans, Quản Thủ Vi�n, Bảo T�ng Viện Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels, về việc b� đ� tử tế cung cấp c�c ảnh chụp đồ gốm từ sưu tập Cl�ment Huet Collection, v� Gi�o Sư Trần Quốc Vượng, về c�c ảnh chụp đồ gốm từ Bảo T�ng Lịch Sử H� Nội.

6. Trần Quốc Vượng v� Nguyễn Vĩnh Long, Hanoi, From the Origins to the 19th century, H� Nội, Vietnamese Studies no. 48, 1977, c�c trang 23 v� 31.

7. So s�nh, M. Tregear, Song Ceramics, London, Thames & Hudson, 1981, trang 11.

8. Trần Quốc Vượng, đ� dẫn tr�n, trang 24.

9. Xem E. H. Schafer, The Vermillion Bird, T�ang Images of the South, Berkeley, University of California, 1967, trang 237.  T�c phẩm n�y cung cấp một sự khi�u gợi phong ph� v� gi�u tưởng tượng trong sự nhận thức của Trung Hoa về Việt Nam, phần lớn dựa tr�n thi ca nh� Đường v� c�c nguồn t�i liệu văn chương kh�c.

10. O. W. Wolters, đ� dẫn tr�n, trang 78.

11. E. Schafer, đ� dẫn tr�n, trang 236.

12. Tục x�m, vẽ m�nh như thế được thực h�nh s�u rộng trong số c�c người d�n của v�ng Đ�ng Nam � lục địa, xem J. S. Guy, Palm-leaf and Paper: Illustrated Manuscripts of India and Southeast Asia, Melbourne, National Gallery of Victoria, 1982, trang 62.

13. Chou Ch�u-fei, Ling Wai Tai Ta (1178), ấn bản Shanghai, 1935-7, trang 18.  Được tr�ch dẫn trong J. K. Whitmore, trong c�ng tuyển tập n�y.

14. E. Schafer, đ� dẫn tr�n, trang 53.

15. So s�nh Y. Mino, Freedom of Clay and Brush through Seven Centuries in Northern China: Tz�u-chou Type Wares, 960-1600 A.D., Indianapolis Museum of Arts, 1980.

16. So s�nh, S. Hayashiya v� H. Trubner, Chinese Ceramics from Japanese Collections: T�ang through Ming Dynasty, New York, Asia Society, 1977, trang b11.

17. K. Taylor, �A Brief Summary of Vietnamese History�, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, Singapore, 1982, trang 15.

18. Xem W. Willetts, �Bridges: Internal and External Formal Relationships in Vietnamese Ceramics of the 11th � 16th Centuries�, trong Southeast Asian Ceramic Society, đ� dẫn tr�n, trang 10.

19. O. R. Janse, Archaeological Research in Indochina, 3 tập, Boston, Harvard University Press, 1947-51, Bruges, St. Catherine Press, 1958, Vol. 3, c�c h�nh 80-82.

20. C. Huet, �Les pots a chaux les pipes a eau�, Bulletin des Musees� Royaux d�Art et d�Histoire 4 (1941), trang 75.

21. So s�nh Southeast Asian Ceramic Society, Song Ceramics, Singapore, 1983, h�nh 99.

22. O. W. Wolters, �Assertions of cultural well-being in 14th century Vietnam�, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 2 (1979), trang 443.

23. T�i biết ơn s�u xa �ng Meitoku Kamei của Bảo T�ng Kyushu Historical Museum về việc cung cấp cho t�i th�ng tin n�y v� c�c ảnh chụp c�c kh�m ph� mới đ�y về đồ gốm Việt Nam tại Nhật Bản.

24. Được b�o c�o gần đ�y bởi Trần Kh�nh Chương, Viện Mỹ Thuật [Institute of Fine Arts], H� Nội, trong một b�i viết chưa ấn h�nh.

25. Th�ng tin c� nh�n từ Gi�o Sư Phạm Huy Th�ng, Gi�m Đốc Viện Khảo Cổ, H� Nội, Th�ng Mười 1981.

26. So s�nh Southeast Adian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, c�c bảng chụp  72-80, 83.

27. Australian Art Exhibitions Corporation, The Chinese Exhibition, Melbourne, 1976, trang 213.

28. Xem J. S. Guy, Oriental Trade Ceramics in Southeast Asia Ninth to Sixteenth Centuries, Kuala Lumpur, Oxford University Press, đang in.

29. So sanh P. Hughes-Stanton v� Rose Kerr, Kiln Sites of Ancient China, London, Oriental Ceramic Society, 1981, c�c bảng chụp 167, 213.

30. Muốn biết về sự ph�n phối đồ gấm mậu dịch Việt Nam, xem J. Guy, �Vietnamese Trade Ceramics�, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, c�c trang 28-35.

 

C�C H�NH CHỤP


H�nh 1
: B�nh c� nắp đậy trang tr� bằng men b�ng trong v� m�u n�u.� Cao 22.2cm.� Thế kỷ 10-12.�
Xuất xứ Đại La.� Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


H�nh 2
: B�nh đựng, trang tr� với tr�ng hoa c�c chạm khắc tr�n nền men b�ng m�u n�u. Thế kỷ 10-12.� Bảo T�ng Lịch Sử, H� Nội.

 


H�nh 3
: Mảnh vỡ của một c�i b�nh với men b�ng trong m�u n�u.� Cao 22cm.� Thế kỷ 10-12.
� Xuất xứ: Đại La.� Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


H�nh 4
: B�nh đựng c� nắp đậy, trang tr� với h�nh chim v� c�nh l� chạm khắc với men b�ng trong tr�n nền men b�ng trong v� m�u n�u. Thế kỷ 10-12.
� Bảo T�ng Lịch Sử, H� Nội.

 


H�nh 5
: Con voi.� Chi tiết ph�ng lớn từ một chiếc b�nh trang tr� với men b�ng trong v� m�u n�u.� Thế kỷ 10-12.� Bảo T�ng Lịch Sử, H� Nội.

 


H�nh 6
: B�nh đựng trang tr� với men b�ng trong v� m�u n�u.� Thế kỷ 10-12.� Bảo T�ng Lịch Sử, H� Nội.

 


H�nh 7
: Ly (cốc) c� ch�n theo h�nh hoa sen.� Sa thạch men b�ng. Thế kỷ 11-12.� Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels.

 


H�nh 8
: Đĩa với trang tr� chạm khắc v� chạm nổi c�nh hoa sen.� Men b�ng trong v� n�u sắt.� Đường k�nh 9cm.� Thế kỷ 11-12.
� Xuất xứ: H� Nội.� Sưu tập tư nh�n.� Singapore.

 


H�nh 9
: B�nh đựng v�i.� Sa thạch men b�ng.� Cao 18cm.� Khoảng thế kỷ 13.� Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


H�nh 10
: B�t với men m�u ngọc b�ch (celadon).� Đường k�nh 13.5cm.� Thế kỷ 12-13.� Xuất xứ: Thanh H�a.
� Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


H�nh 11
: C�c mảnh vỡ của một c�i b�t trang tr� với m�u đen dưới lớp men b�ng, khai quật tại Dazaifu, Kyushu, Japan.� Thế kỷ 14.
Kyushu Historical Museum, Dazaifu, Fukuoka.

 


H�nh 12
: Đĩa với trang tr� m�u n�u nằm dưới lớp men b�ng.� Đường k�nh 27.5cm.� Thế kỷ 14.� Sưu tập tư nh�n.� �c Đại Lợi.

 


H�nh 13:
Đĩa trang tr� bằng m�u thi�n thanh dưới lớp men b�ng với h�nh vẽ hai con c�.� Thế kỷ 15.� Sưu tập của �ng F. W. Bodor, Sydney.

 


H�nh 14
: Chai trang tr� bằng m�u xanh da trời dưới lớp men b�ng.� Cao 54cm.
� Sản phẩm Việt Nam c� ghi ni�n đại sớm nhất, với một sự bi�n ch� tương ứng năm 1450.� Cao 54cm.
� Bảo T�ng Topkapu Sarayi Museum, Istanbul [Thổ Nhĩ Kỳ].

-----

Nguồn: John S. Guy, Vietnamese Ceramics and Cultural Identity: Evidence from the Ly and Trần Dynasties, trong s�ch bi�n tập bởi David G. Marr v� A. C. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, Research School of Pacific Studies, Australian National University v� Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1986, c�c trang 255-269.

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

29/08/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2010