Jean-Pascal Bassino*

 

 

SỰ CANH T�C L�A GẠO

TẠI NAM VIỆT NAM (1880-1954):

MỘT SỰ T�I LƯỢNG GI�

 

VỀ NĂNG SUẤT CỦA ĐẤT

 

TRONG QUAN ĐIỂM � CH�U

 

 

Ng� Bắc dịch

 

*****

 

Đại �:

 

Sự giải th�ch theo ước lệ về sự biến đổi n�ng nghiệp � Ch�u trong thế kỷ thứ 20 rằng hiệu năng của đất v� c�c tỷ số đất/lao động, cả hai vốn tương đối thấp l�c ban đầu, đ� gia tăng do kết quả của sự thay đổi kỹ thuật.� C�c dữ liệu cung ứng về một số quốc gia � Ch�u thường được giải th�ch như biểu thị cho một đường lối thay thế đất đại được m� tả như đường cong Ishikawa (Ishikawa-curve: kh�c tuy�n hay cung tuyến Ishikawa) (Ishiakawa 1981).� Tuy nhi�n, như t�c giả Van der Eng (2004) đ� tr�nh b�y, sự giải th�ch của Ishikawa nghi�ng về miền Đ�ng �, cung cấp sự m� tả thich đ�ng về kinh nghiệm của Nhật Bản, Đ�i Loan, v� H�n Quốc, nhưng kh�ng c� đề cập đến c�c nước Đ�ng Nam � lục địa.� T�c giả đưa ra bằng chứng cho thấy tỷ số đất/lao động thấp hơn nhiều tại Nhật Bản so với v�ng Đ�ng Nam � Lục Địa.

 

������ Mục đ�ch của b�i viết n�y l� để điều tra chuỗi số liệu thu hoach �m chỉ bởi c�c nguồn t�i li�u ch�nh thức hồi cuối thế kỷ thứ 19 v� bởi c�c dữ liệu vi ph�n (micro-data) được thu thập bởi ch�nh quyền thực d�n Ph�p, v� để đề nghị một sự t�i lượng gi� sản lượng th�c.� C�c kết quả cho thấy, tại miền nam Việt Nam, c�c điều kiện khởi thủy kh�ng chỉ được biểu trưng bởi c�c tỷ số đất/lao động cao, m� c�n bởi năng suất đất tương đối cao, v� từ đ�, tr�nh độ cao của năng suất lao động.� Do đ�, r� r�ng l� con đường biến đổi trong sự canh t�c l�a gạo của miền nam Việt Nam kh�c biệt r� rệt với sự th�ng hiểu tiếp thu được diễn đạt bởi �đường cong Ishakawa�.

 

***

 

DẪN NHẬP

 

������ Sự giải th�ch theo ước lệ về sự biến đổi n�ng nghiệp � Ch�u trong thế kỷ thứ 20 rằng hiệu năng của đất v� c�c tỷ số đất/lao động, cả hai vốn tương đối thấp l�c ban đầu, đ� gia tăng do kết quả của sự thay đổi kỹ thuật.� Như được vạch ra bởi t�c giả Van der Eng (2004), [dữ liệu về] xuất lượng, diện t�ch, v� nhập lượng lao động trong sự canh t�c l�a gạo cung ứng về một số nước � Ch�u, nhiều nhất l� Nhật Bản, H�nQuốc, Đ�i Loan, Trung Hoa, Ấn Độ, v� Phi Luật T�n, thường được giải th�ch như biểu lộ một tiến tr�nh � Ch�u về sự biến đổi để đi theo một con đường thay thế cho đất được m� tả như �cung tuyến Ishikawa� (�Ishikawa curve�) (Ishikawa 1981) 1.

 

������ Tuy nhi�n, như t�c giả Van der Eng (2004) đ� tr�nh b�y, sự giải th�ch của Ishikawa nghi�ng về miền Đ�ng �, cung cấp sự m� tả thich đ�ng về kinh nghiệm của Nhật Bản, Đ�i Loan, v� H�n Quốc, nhưng kh�ng c� đề cập đến c�c nước Đ�ng Nam � lục địa.� T�c giả đưa ra bằng chứng cho thấy tỷ số đất/lao động thấp hơn nhiều tại Nhật Bản so với Th�i Lan, Miến Điện, Nam Kỳ (Cochinchine: miền nam Việt Nam ng�y nay), v� Căm Bốt.� C�c nước hay c�c miền n�y, vốn c� một số thặng dư khả dĩ xuất cảng lớn lao trước Thế Chiến II, chiếm phần lớn số xuất cảng gạo tr�n thế giới trong thời kỳ đ�.� Mặc d� năng suất của đất tại c�c miền n�y thấp hơn kh� nhiều so với Nhật Bản, c�c số thu hoạch l�a gạo chỉ bằng một phần ba mức thu hoạch của Nhật Bản 2, năng suất lao động lại cao hơn khoảng 70% so với Nhật Bản nhờ ở c�c tỷ số đất/lao động thuận lợi (Van der Eng 2004, Bảng 3).

 

������ T�c giả Van der Eng lập luận một c�ch thuyết phục rằng c�c nước v�ng Đ�ng Nam � lục địa đ� c� một lợi thế tương đối trong sự canh t�c l�a gạo giải th�ch cho sự chế ngự của ch�ng tr�n thị trường l�a gạo thế giới trong suốt thời kỳ giữa c�c cuộc thế chiến.� Về mặt c�c tỷ số đất/lao động, khoảng c�ch giữa c�c nước n�y v� Nhật Bản được đ�c kết th�nh t�i liệu một c�ch ho�n hảo.Tuy nhi�n, cứu x�t đến sự ph�n nh�nh quan trọng trong c�c kết quả của �ng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về sự ph�t triển kinh tế của c�c nước � Ch�u kể từ cuối thế kỷ thứ 19, điều đ�ng l�m l� cần kiểm tra kỹ lưỡng sự khả t�n của c�c dữ liệu về sản lượng gạo v� c�c số thu hoạch gạo �m thị, v� mức độ to lớn của sự sai biệt tr�n năng suất đất giữa Nhật Bản v� c�c nước kh�c nhau của v�ng Đ�ng Nam � lục địa.� N�i c�ch kh�c, liệu c� ngoại lệ n�o hay kh�ng giữa c�c nước n�y đối với bức tranh của c�c số thu hoạch l�a gạo thấp k�m?

 

������ Trong trường hợp của miền nam Việt Nam, t�c giả Van der Eng dựa v�o xuất lượng v� c�c con số diện t�ch cho thời kỳ 1910-1954 được c�ng bố trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức, Ni�n Gi�m Thống K� Đ�ng Dương (Annuaire Statistique de l�Indochine) 3, v� Ni�n Gi�m Thống K� của Việt Nam (Annuaire Statistique du Vietnam) c� vẻ thấp một c�ch phi l� khi so s�nh với c�c số thu hoạch trung b�nh được ghi nhận hồi cuối thế kỷ thứ 19 v� cuối thập ni�n 1950.� Mục đ�ch của b�i viết n�y l� nhằm điều tra h�ng loạt số liệu thu hoạch được �m chỉ bởi c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức hồi cuối thế kỷ thứ 19 v� bởi c�c dữ liệu vi ph�n (micro-data) được thu thập bởi ch�nh quyền thuộc địa Ph�p,v� để đề nghị một sự t�i lượng gi� sản lượng th�c [paddy: hạt gao c�n nguy�n vỏ, chưa xay, ch� của người dịch]. 4� Kết quả cho thấy rằng, tại miền nam Việt Nam, c�c điều kiện khởi đầu kh�ng chỉ được biểu trưng bởi c�c tỷ số đất/lao động cao m� c�n bởi năng suất đất tương đối cao.� V� thế, r� r�ng l� lối đi của sự chuyển biến của miền nam Việt Nam trong sự canh t�c l�a gạo kh�c biệt một c�ch r� n�t với sự hiểu biết tiếp nhận được biểu thị bởi �cung tuyến Ishikawa�.

 

������ Th�c cho đến nay l� n�ng phẩm thu hoạch quan trọng nhất trong n�ng nghiệp của miền nam Việt Nam: n� chiếm tỷ lệ lớn nhất về trị gi� được cộng v�o lợi tức n�ng th�n v� n�ng nghiệp (v� dĩ nhi�n trong cả số ti�u thụ thực phẩm nữa).� N� cũng l� một trong số c�c n�ng phẩm gặt h�i thu c� c�c th�ng tin định lượng dồi d�o nhất.� Tuy nhi�n, c�c số thu hoạch trung b�nh được ước lượng bởi Nha Canh N�ng của Ch�nh Quyền Đ�ng Dương trong năm thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ 20 kh�ng ph� hợp với c�c dữ liệu vi m� được ghi ch�p trong c�ng thời kỳ.� Ngo�i sự ước lượng thấp sản lượng, xem ra diện t�ch đồng ruộng �trồng l�a cũng bị b�o c�o �t hơn [cho thời khoảng] trước thập ni�n 1950.� Một cuộc điều tra chi tiết về c�c kỹ thuật canh t�c v� c�c nguồn dữ liệu th� cần thiết hầu lượng định được tầm mức m� c�c chuỗi số liệu về �khối lượng sản xuất th�c cần phải được tu chỉnh theo hướng tăng l�n.

 

������ Một phần c�c dữ liệu chinh thức ở cấp tỉnh c� thể được sử dụng cho việc ước lượng c�c chuỗi số liệu trong thời gian đa được thu thập v� c�ng bố trong cuộc nghi�n cứu của Takada (2000) cho thời kỳ 1910-1945.� Tuy nhi�n, t�c giả đ� kh�ng c� nỗ lực để điều tra t�nh khả t�n của c�c dữ liệu n�y v� đ� kh�ng cứu x�t đến c�c nguồn t�o liệu ch�nh thức cho hồi cuối thế kỷ thứ 19.� T�c giả Giacometti (200a) đưa ra một sự duyệt x�t ph� ph�n c�c con số ch�nh thức được ấn h�nh trong thời kỳ giữa hai Thế Chiến bởi Nha Canh N�ng của Ch�nh Phủ Đ�ng Dương li�n quan đến việc trồng l�a gạo.� Trong khi đạt tới c�c kết luận tương tự như Giacometti li�n quan đến sự ước lượng qu� thấp về số diện t�ch canh t�c v� c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức, cuộc nghi�n cứu n�y đi xa hơn nhiều trong sự tu chỉnh theo chiếu hướng n�ng cao c�c con số về xuất lượng.

 

������ Phần c�n lại của b�i viết được chia th�nh năm phần.� Phần 1 đưa ra một số th�ng tin bối cảnh li�n quan đến c�c chủng loại l�a v� c�c kỹ thuật canh t�c.� Phần 2 cung cấp bằng chứng khi�n ta nghĩ rằng c�c chuỗi số liệu được b�o c�o trong ni�n gi�m thống kế ch�nh thức l� kh�ng thể chấp nhận được.� Phần 3 ph�c họa c�c dữ liệu vi m� được cung cấp tr�n sự canh t�c l�a gạo tại miền nam Việt Nam trước Thế Chiến II.� Phần 4 đề nghị c�c số ước lượng mới về sản lượng th�c, dựa tr�n sự t�i x�y dựng c�c số thu hoạch ở cấp tỉnh.� Phần 5 l� phần kết luận.

 

 

1. C�c Nhận X�t Sơ Khởi:

Sự Đa Dạng Của c�c Chủng Loại L�a Gạo v�

C�c Kỹ Thuật Canh T�c tại Việt Nam.

 

������ Mặc d� một số lượng c�c ấn phẩm ch�nh thức trước Thế Chiến II khiến ta nghĩ rằnnăng suất của đất tại Việt Nam th� thấp, c�c th�ng tin định t�nh (qualitive information) cung cấp về c�c kỹ thuật canh t�c cho thấy rằng, theo c�c ti�u chuẩn � Ch�u v� quốc tế v�o thời gian đ�, năng suất của đất thực sự l� cao.� Trước khi khảo s�t to�n bộ c�c dữ liệu định lượng (quantitative data) tr�n diện t�ch canh t�c v� sản lượng, điều đ�ng l�m l� cứu x�t đến c�c ph�n chủng v� kỹ thuật kh�c nhau của việc canh t�c l�a gạo tại Việt Nam, số thu hoạch tiềm năng của c�c chủng loại cổ truyền, c�c giai đoạn của sự canh t�c, v� tầm mức của việc trồng gặt hai v� ba m�a.

 

C�c Ph�n Chủng Hạt Giống v� Kỹ Thuật Kh�c Nhau

 

������ Bốn loại kh�c nhau của ph�n chủng hạt giống l�a gao (Oriza sativa lin.) đ� v� vẫn c�n được canh t�c tại Việt Nam, �p dụng c�c kỹ thuật kh�c nhau (Brenier 1914, Lecoq 2001):

 

������ - L�a (được tưới) nước (irrigated rice) canh t�c tại c�c c�nh đồng ướt để sản xuất ra th�c (paddy) sẽ được ti�u d�ng như cơm [steamed rice: gạo nấu với nước để bốc hơi th�nh cơm, ch� của người dịch](trong tiếng Việt gọi l� l�a tẻ) chiếm v�o khoảng 90% tổng số sản lượng trong suốt thời kỳ nghi�n cứu, c� lẽ với một chiếu hướng tăng cao.� Ngay trước thế kỷ thứ 19, việc dẫn nước tưới ti�u đ� l� một kỹ thuật canh t�c nổi bật, đặc biệt trong sắc d�n Việt.� Tại phần lớn khu vực, sự canh t�c dựa v�o việc cấy l�a (transplantation) (cấy một hay hai lần t�y thuộc v�o khu vực v� lực lượng lao động cung ứng).� Tuy nhi�n, tại ph�a nam của miền trung Việt Nam, vốn c� khi hậu tương đối kh� r�o, việc trồng trực tiếp vẫn hiện hữu, c� thể như một sự tiếp tục của kỹ thuật trồng trọt thời tiền-Việt Nam (c� nghĩa Ch�m).

 

������ - L�a nổi (trong tiếng Việt Nam) (floating rice) được canh t�c tại miền nam Việt Nam, tại khu vực gần bi�n giới Căm Bốt, đặc biệt tại tỉnh Ch�u Đốc.� C�c kỹ thuật canh t�c tương tự như c�c kỹ thuật được �p dụng tại Căm Bốt v� miền trung Th�i Lan.� C�c kỹ thuật l�a nổi được thực h�nh tại khu vực n�y bởi sắc d�n Khmers trước khi c� sự chiếm đ�ng v�ng n�y bởi chủng tộc Việt Nam.� C�c số thu hoạch c� khuynh hướng thấp hơn nhiều so với l�a nước.� Khu vực nằm dưới sự canh t�c l�a nổi đ� sụt giảm dần dần trong thế kỷ thứ 20 khi việc dẫn nước tưới ti�u trở n�n th�ng dụng hơn.

 

������ - L�a d�nh v�o nhau (Glutinous rice: Oryza sativa, var. glutinosa), giống như tại ch�nh nước L�o, l� chủng loại phổ th�ng nhất dọc theo bi�n giới L�o.� C�c chủng loại l�a dẻo c� nhựa d�nh v�o nhau, được gọi l� nếp trong tiếng Việt, cũng được trồng trọt bởi sắc d�n Việt d�ng để sản xuất rượu v� l�m c�c loại b�nh.� C�c chủng loại gạo nếp được trồng bởi chủng tộc Việt Nam thường đ�i hỏi sự dẫn nước tưới ti�u.

 

������ - L�a kh� (Dry rice: Oryza sativa var. Montana) trội bật trong c�c sắc d�n thiểu số tại c�c v�ng trung du (midlands) v� thượng du thuộc miền trung v� bắc Việt Nam.� Một số c�c chủng loại gạo kh� hiện hữu d�nh cho sự ti�u d�ng như cơm (steamed rice) hay gạo nếp, sự ti�u thụ kể t�n sau th� th�ng dụng nhất.� Cần phải ghi nhận rằng c�c d�n tộc �t người cũng thực h�nh sự canh t�c l�a dẫn nước tưới ti�u khi khả thi về mặt kinh tế, đặc biệt trong chủng tộc Th�i tại miền bắc Việt Nam, v� rất t�n thưởng kỹ thuật canh t�c n�y, ngay cả trước Thế Chiến II (Gourou 1940).� Mặc d� l�a kh� thường đi liền với lối canh t�c đốt rừng l�m rẫy, n� cũng c� thể được thực hiện tại c�c c�nh đồng kh� thường trực.� T�y v�o c�c điều kiện v� c�c kỹ thuật địa phương, năng suất của đất c� thể kh� cao trong c�ch canh t�c đốt rừng l�m rẫy nhưng, t�nh trung b�nh, c�c số thu hoạch thấp hơn c�ch dẫn nước tưới ti�u.

 

T�nh Đa Dạng Của C�c Chủng Loại V�

C�c Số Thu Hoạch Tiềm Năng Của L�a Gạo

 

������ Khi điều tra về t�nh khả t�n của c�c dữ liệu năng suất của đất được b�o c�o trong nửa đầu của thế kỷ thứ 20, ch�ng ta phải cứu x�t rằng c�c chủng loại c� số thu hoạch cao đ� được du nhập từ thập ni�n 1960 như một phần của Cuộc C�ch Mạng Xanh (Green Revolution).� Trước thời kỳ đ�, một số lượng cực kỳ lớn của c�c chủng loại địa phương cổ truyền đ� được trồng trọt, kể cả tại khu vực canh t�c l�a tương đối mới, được cư ngụ bởi sắc d�n Việt Nam tại ch�u thổ s�ng Hồng.� Mặc d� điều được tin tưởng rộng r�i rằng t�nh đa trạng trong c�c chủng loại gạo đi liền với c�c sự kh�c biệt trong c�c số thu hoạch, đ� kh�ng c� mối quan hệ nghi�m ngặt.� C�c cuộc nghi�n cứu tại chỗ diễn ra tại miền bắc Việt Nam bởi t�c giả Dumont (1935) khiến ta nghĩ rằng sự đa trạng l� kết quả của sự tuyển chọn đại tr� ở địa phương nhằm th�ch nghi với c�c điều kiện địa phương: đất đai, thời tiết trung b�nh, vũ lượng trong thời kỳ canh t�c, v� tần số của c�c thi�n tai (c�c cuộc hạn h�n, lụt, mưa nhiều, v� cả gi� lạnh tại miền bắc Việt Nam).

 

������ C�c chủng loại địa phương n�y kh�ng phải l� c�c chủng loại theo nghĩa nghi�m ngặt, tức, c�c hạt giống c� biệt với c�c đặc điểm di truyền giống nhau, m� đ�ng hơn c�c số lượng ổn định bao gồm c�c hạt giống kh�c nhau c� số thu hoạch c�ng c�c đặc điểm kh�c giống nhau.� C�c chủng loại địa phương được xem như rất th�ch hợp với c�c sự biến đổi h�ng năm trong suốt thời khoảng của m�a tương đối kh� v� với tổng số lượng v� sự ph�n bố độ mưa trong m�a ướt.� V� thế, ch�ng c� khả năng kh�ng cự hạn h�n, gi� băng, v�/hay lụt lội, sản xuất một số thu hoạch khi�m nhường trong c�c t�nh hưống kh�ng thuận lợi v� tr�nh được một sự tổn thất to�n diện tr�n số gặt h�i.� Sự đ�p ứng của c�c chủng loại địa phương đối với sự sử dụng ph�n b�n th� yếu đối với ph�n urea (nitrogen), nhưng kh� tốt đối với ph�n potash v� ac�t phosphoric.� Số thu hoạch tiềm năng của từng loại trong c�c chủng loại địa phương truyền thống về gạo tại Việt Nam được ước lượng như sau (Lecoq, 2001):

 

������ - V�o khoảng 2.5 đến 3.5 tấn th�c mỗi mẫu t�y (ha) đối với l�a nước.

������ - V�o khoảng 1.5 tấn th�c mỗi mẫu t�y (ha) đối với l�a nổi.

������ - V�o khoảng 1 tốn th�c mỗi mẫu t�y (ha) đối với l�a kh�.

 

������ Số thu hoạch tiềm năng cho c�c chủng loại mới được du nhập v�o thời khoảng sau giữa thập ni�n 1960 được xem l� gần 6 tấn mỗi mẫu t�y (hectare).

 

������ Khi sự dẫn nước tưới ti�u đ� l� kỹ thuật canh t�c ưu thắng, 3 tấn th�c mỗi mẫu t�y c� thể được xem như con số trung b�nh cho một m�a gặt đặc biệt tốt.� Điều hiển nhi�n l� mức độ n�y chỉ c� thể được nhận thấy ở k�ch thước của một khu vực nhỏ, v� chắc chắn kh�ng phải l� số trung b�nh cho to�n thể xứ sở, v� kh�ng đ�ng ngay cả đối với một v�ng hay một tỉnh.� Tin tức cung ứng khiến ta nghĩ rằng số thu hoạch thay đổi bất thường g�y ra bởi c�c thi�n tai, đặc biệt nạn hạn h�n v� b�o tố, l�n cao kh�c thường tại miền trung Việt Nam (Giacometti 2000b), �t hơn tại miền nam v� miền bắc Việt Nam.

 

������ C�c chủng loại gạo d�nh thường thu hoạch sản lượng thấp hơn mỗi mẫu t�y (trung b�nh khoảng 10% thấp hơn), nhưng c�c chủng loại n�y chỉ chiếm khoảng 4% diện t�ch tại miền bắc Việt Nam v� khoảng 2% diện t�ch tại miền nam Việt Nam hồi khoảng 1930 (Nguy�n 2000).� Tin tức cung ứng khiến ta nghĩ rằng gạo nếp đ�i hỏi một gi� cao hơn: gi� đơn vị gao nếp đ� v� vẫn cao hơn gạo kh�ng thuộc loại nếp.� Ch�nh v� thế, khoản sai biệt gi� cả b� trừ cho sản lượng thấp hơn về khối lượng v� c�n mang lại một trị gi� sản lượng cao hơn tr�n mỗi mẫu t�y.� Bởi sự sai biệt gi� cả kh�ng qu� lớn, đ�ng hơn l� sự t�i cấu tr�c c�c chuỗi số liệu theo thời gian về diện t�ch v� gi� đơn vị l�a nếp, điều thuận tiện v� dễ d�ng hơn để giả định số thu hoạch v� gi� cả cũng giống như đối với loại gạo kh�ng phải l� nếp.

 

C�c Thời Kỳ Canh T�c v� Gia Tăng Vụ M�a

������

������ Một sự phức tạp phải đối đầu khi sử dụng c�c dữ liệu thu hoạch l� sự trội bật của việc gặt hai m�a tại Việt Nam.� Dưới c�c điều kiện thuận lợi, một mảnh đất n�o đ� của ruộng l�a c� thể được gặt hai lần trong một năm.� Trong trường hợp đ�, số thu hoạch tr�n mỗi diện t�ch trồng trọt, tức sản lượng li�n quan đến to�n thể diện t�ch canh t�c, cao hơn số thu hoạch tr�n diện t�ch gặt h�i.� �t nhất kể từ cuối thế kỷ thứ 19, sự canh t�c l�a gạo bởi sắc d�n Việt Nam đ� được thực hiện qua nhiều thời kỳ kh�c nhau trong năm tại mọi v�ng của Việt Nam, t�y theo c�c điều kiện tự nhi�n ở địa phương v� sự ph�t triển của hạ tầng cơ sở dẫn nước tưới ti�u.� C�c thời kỳ kh�c nhau của sự canh t�c l�a gạo lu�n lu�n được m� tả theo c�ng một kiểu mẫu kể từ cuối thế kỷ thứ 19 (Thorel 1873; Brenier 1914; Henry 1932; Dumont 1935; Gourou 1936; Lecoq 2001; Nguyen 2001):

 

������ - Trong m�a l�a hạ-thu (l�a m�a trong tiếng Việt), hạt giống được gieo trong Th�ng Năm hay Th�ng S�u, c�c c�y l�a non được cấy trong Th�ng Bẩy, v� th�c được gặt trong Th�ng Ch�n tại miền trung Việt Nam, trong Th�ng Mười � Mười Một tại phần ph�a bắc của xứ sở, v� từ Th�ng Mười đến Th�ng Hai tại miền nam.� Vụ gặt n�y cũng được gọi l� �gạo Th�ng Mười�.� Theo truyền thống đ�y l� m�a l�a quan trọng nhất, đặc biệt tại miền nam Việt Nam.� Bởi sự canh t�c được tiến h�nh trong m�a mưa, n� kh�ng cần đ�i hỏi hệ thống tưới ti�u tinh vi khi c�c c�nh đồng l�a ở tr�n phần đất tương đối cao.� Tại phần thấp nhất của c�c đồng bằng, đặc biệt tại ch�u thổ Mekong của miền nam Việt Nam, sự canh t�c chỉ c� thể diễn ra được khi hạ tầng cơ sở của c�c con đề v� kinh đ�o ngăn cản được c�c trận ngập lụt.

 

������ - Trong m�a l�a đ�ng xu�n (l�a chi�m trong tiếng Việt), hạt giống được gieo trong Th�ng Mười Một, c�y l�a non được cấy trong Th�ng Mười Hai, v� th�c được gặt trong Th�ng Năm tại miền bắc Việt Nam v� trong Th�ng Tư tại miền Trung Việt Nam.� M�a gặt n�y cũng được gọi l� �gạo Th�ng Năm�.� Bởi sự canh t�c được tiến h�nh trong m�a kh�, sự dẫn nước tưới ti�u th� cần thiết tại c�c v�ng đất cao hơn của c�c đồng bằng.� Chỉ một tỷ lệ nhỏ c�c c�nh đồng l�a l� th�ch hợp với sự trồng trọt trong m�a đ�ng tại miền nam Việt Nam hồi trước thập ni�n 1960.

 

������ Tại phần lớn khu vực của v�ng đất thấp, tức c�c khu vực cư ngụ bởi chủng tộc Việt Nam �p dụng c�c kỹ thuật sản xuất d�ng nhiều sức lao động v�, một c�ch quan yếu, sự dẫn nước tưới ti�u, vẫn c� thể, về mặt kỹ thuật, đạt được hai m�a gặt tr�n c�ng một c�nh đồng l�a, một khi c� hạ tầng dẫn nước th�ch đ�ng.� Tuy nhi�n, c�c khu vực gặt hai m�a chỉ b�nh trướng dần dần trước Thế Chiến II, phần lớn tại miền bắc Việt Nam.� Một trong c�c nguy�n do ch�nh l� v� bi�n cương l�a gạo vẫn c�n được mở ngỏ, kể cả ở nửa phần ph�a bắc của xứ sở, v� ngay cả ở c�c khu vực duy�n hải của Ch�u Thổ s�ng Hồng.� Điều r� r�ng l� sự gặt hai m�a đ� gia tăng một c�ch mau lẹ trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930 l�n tới khoảng 40% c�c đồng l�a tại Ch�u Thổ s�ng Hồng v�o khoảng năm 1935 (Gourou 1936).� Việc gặt hai m�a đ� hiện hữu tại miền nam Việt Nam tại một số khu vực bao quanh S�ig�n, ngay từ thập ni�n 1880, bất kể sự phong ph� của đất đai chưa canh t�c th�ch hợp cho sự khai khẩn th�nh c�c đồng l�a tại c�c tỉnh chung quanh.� Diện t�ch đồng l�a đ� mở rộng một c�ch mau ch�ng tại miền nam Việt Nam cho đến cuối năm 1920 v� sau đ� trở đi, với một nhịp độ chậm hơn, nhưng bi�n cương đất đai vẫn c�n mở ngỏ cho tới thập ni�n 1970.� Việc gặt hai m�a chỉ b�nh trướng tại miền nam Việt Nam trong c�c thập ni�n sau c�ng của thế kỷ thứ 20.

 

������ Tại một số khu vực giới hạn, nơi m� c�c điều kiện tuyệt hảo của sự dẫn nước tưới v� tho�t nước chế ngự, việc gặt ba m�a được thực hiện.� Tại Ch�u Thổ s�ng Hồng, đ�y l� trường hợp xẩy ra ngay trước Thế Chiến II (�Gạo Ba Giăng�: �Three Moons Rice�, c� nghĩa, với một chu kỳ 3 th�ng).� Kỹ Thuật n�y đ� kh�ng được phổ biến trước thập ni�n 1990.� N� cũng đ� được du nhập v�o miền nam Việt Nam, trong c�ng thời kỳ.

 

 

2. Sự Khả Nghi Đối Với Một Phần C�c Dữ Liệu

Thời Thuộc Địa Li�n Quan Đến

C�c Số Thu Hoạch Th�c Tại Việt Nam

Hồi Đầu Thế Kỷ Thứ 20.

 

������ Phần lớn c�c số thu hoạch th�c �m chỉ bởi c�c dữ liệu về diện t�ch đồng l�a v� khối lượng sản xuất bởi c�c nh� chức tr�ch thuộc địa trong c�c b�o c�o ch�nh thức v� c�c ni�n gi�m thống k� hồi đầu thế kỷ thứ 20 th� thấp một c�ch đ�ng ngờ vực.� Một số sự sai biệt được nhận thấy trong số c�c dữ liệu ch�nh thức, mặc d� c�c con số thu hoạch �m chỉ nằm trong c�ng một mức độ.� C�c con số ch�nh thức thấp nhất cho c�c sự thu hoạch th�c l� v�o khoảng 1.2 đến 1.3 tấn tr�n mỗi mẫu t�y trong năm b�nh thường.� C�c con số cao nhất trong khoảng 1.3 đến 1.5 tấn.� C�c sự sai biệt n�y tượng trưng một vấn đề tương đối nhỏ đ� được ph�n t�ch v� giải th�ch kỹ lưỡng bởi t�c giả Giacometti (2000a).� C�c con số thấp nhất được sử dụng rộng r�i trong c�c cuộc nghi�n cứu lịch sử thảo luận về n�ng nghiệp v� một c�ch tổng qu�t hơn về sự thay đổi kinh tế tại Việt Nam thời thuộc địa, đặc biệt bởi c�c sử gia M�c-x�t (th� dụ, Murray 1980), như bằng chứng của sự đ�nh trệ kinh tế v�, x�t đến c�c khối lượng to lớn về gạo đ� xuất cảng, cho sự khai th�c thuộc địa.� Ngay việc chấp nhận c�c con số cao nhất sẽ �m chỉ rằng, v�o thời gian đ�, c�c số thu hoạch th�c thấp hơn một c�ch đ�ng kể tại Việt Nam hơn l� tại miền nam Trung Hoa, Đ�i Loan, H�n Quốc, Java, v� miền nam Ấn Độ.� Hơn nữa, nếu c�c con số n�y được chấp nhận, c�c số thu hoạch th�c tại Việt Nam sẽ chỉ cao hơn một ch�t so với Căm Bốt, Th�i Lan, v� ngay cả với L�o, l� điều đặc biệt kh� hiểu.

 

Sự sụt giảm kh�ng được giải th�ch

trong c�c số thu hoạch th�c tại miền nam Việt Nam

thời kỳ ban đầu của thế kỷ thứ 20.

 

������ Nhu cầu cho một sự t�i lượng định sản lượng th�c v� một sự tu chỉnh n�ng cao l�n rất nhiều so với số được đề nghị bởi Giacometti (2000a) trở n�n hiển nhi�n khi so s�nh c�c chuỗi số liệu ch�nh tbức cho miền nam Việt Nam được ấn h�nh tại c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức kh�c nhau giữa c�c năm 1878 v� 1972.� C�c nguồn t�i liệu ch�nh thức khiến ta nghĩ c� một sự sụt giảm mạnh mẽ trong c�c số thu hoạch v�o l�c bước sang thế kỷ thứ 20 cho miền nam Việt Nam, kh�ng c� vẻ bị quy tr�ch cho năng suất yếu tố (factor productivity) s�t giảm, m� đ�ng hơn, bởi c� một sự gi�n đoạn trong sự thu thập dữ liệu.� Một sự tăng cao đột nhi�n trong số thu hoạch gạo được nhận thấy ở cả Nam v� Bắc Việt Nam trong những năm tiếp theo sau sự độc lập v� ph�n chia đất nước v�o năm 1954, mặc d� tại Nam Việt Nam, sự du nhập c�c chủng loại thu hoạch cao đ� kh�ng xảy ra trước khoảng giữa thập ni�n 1960.� C� vẻ kh�ng c� sự giải th�ch khả dĩ n�o kh�c cho sự gia tăng n�y ngo�i một sự cải thiện mau ch�ng trong việc theo d�i sản lượng gạo bởi c�c ch�nh quyền địa phương hay, với nhiều x�c xuất hơn, trong sự chuyển giao tin tức l�n ch�nh quyền trung ương.� H�nh 1 cho ph�p c� một sự kiểm tra bằng mắt c�c dữ liệu thu hoạch trung b�nh cung ứng được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức v� một sự so s�nh với c�c số ước lượng của c�c số thu hoạch th�c cho c�ng miền địa phương đề nghị trong b�i viết n�y (Phần 4)

.

H�nh 1: So s�nh c�c số thu hoạch gạo ước lượng v�

được b�o c�o ch�nh thức tại miền nam Việt Nam trong giai đoạn 1870-1972

(tấn / tr�n mỗi mẫu t�y đất canh t�c)

 

 

--♦-- Số Thu Hoạch Th�c, tấn/mẫu t�y (số ước lượng)

 

--■-- Số Thu Hoạch Th�c, tấn/mẫu t�y (theo dữ liệu)

 

Figure 1 ở đ�y000000000000000000000000000000000

 

 

C�c nguồn: C�c Dữ Liệu Ch�nh Thức: �tat de la Cochinchine Franҫaise (1878-1908), Bulletin �conomique de l�Indochine (nhiều năm kh�c nhau), Annuaire Statistique de l�Indochine (1913-1946), Annuaire Statistique du Vietnam (1947-53), Vietnam Statistical Yearbook (1954-1972 [5?], Estimates: Xem Phần 4 để c� một sự tr�nh b�y về c�c phương thức ước lượng.

 

������ Sự giải th�ch nhiều phần x�c đ�ng nhất về c�c số thu hoạch th�c sụt giảm tại miền nam Việt Nam khoảng 1904 v� về sự gia tăng đột ngột từ năm 1958 trở đi như được ghi ch�p trong c�c ấn phẩm ch�nh thức nằm ở sự kiện rằng c�c con số n�y đ� được tạo ra xuy�n qua một tiến tr�nh thu thập dữ liệu bởi c�c nh� chức tr�ch Việt Nam tại địa phương v� sự bi�n tập rại cấp trung ương.� C�c nh� h�nh ch�nh thực d�n Ph�p hay biết r� về sự che dấu một phần đ�ng kể trong sản lượng bởi ch�nh quyền cấp tỉnh hay l�ng x� địa phương.� Cho tới khoảng 1904, phương ph�p ưu thắng l� sự ước lượng trực tiếp dưới sự gi�m s�t của c�c vi�n chức thực d�n Ph�p hiện diện tại c�c tỉnh kh�c nhau (l�m chủ tỉnh hay quận), v� sư thu thập dữ liệu dưới sự gi�m s�t trực tiếp của c�c nha sở thực d�n.� Sau khi c� sự thiết lập ch�nh quyền trung ương của Ch�nh Phủ Đ�ng Dương, với bộ chỉ huy đặt tại H� Nội, trong năm 1898, con số c�c nh� h�nh ch�nh c� ngạch trật cao nhất hiện diện tại c�c tỉnh miền nam Việt Nam đ� giảm xuống.� Sự ch� � của ch�nh quyền thuộc địa Ph�p đặt ti�u hướng v�o sự cải thiện việc theo d�i c�c dữ liệu ở bắc v� trung Việt Nam, nơi m� tin tức cung ứng bị xem l� rất đ�ng nghi ngờ.� Hậu quả, một mức bi�n tế của sự nhầm lẫn được chấp nhận, đối với miền nam Việt Nam, như một sự khiếm khuyết cần thiết.� Sự thu thập dữ liệu ng�y c�ng dựa nhiều v�o ch�nh quyền địa phương.� Bởi v� gạo cho đến giờ l� n�ng phẩm dễ d�ng nhất để đ�nh thuế, c�c c�ng chức địa phương, những kẻ thường c� li�n hệ chặt chẽ với c�c điền chủ, hay l� ch�nh c�c điền chủ, c� c�c động lực mạnh mẽ để b�o c�o thấp hơn sản lượng về gạo.

 

������ Một sự giải th�ch bổ t�c cho rằng xự thiết lập một ch�nh quyền trung ương ở H� Nội �m chỉ một sự chuyển giao c�c số thuế h�nh thu bởi c�c nh� chức tr�ch địa phương tại miền nam Việt Nam, v� cho đến thời điểm đ�, được sử dụng phần lớn trong miền n�y, [để đ�i thọ] cho c�ng chi tại miền trung v� miền bắc Việt Nam.� Ch�ng ta c� thể c�n nghi ngờ một sự thỏa thuận kh�ng ch�nh thức với tầng lớp tinh hoa địa phương thuộc giới điền chủ v� c�c nh� chức tr�ch Việt Nam địa phương, bởi khu�n khổ quản trị mới của Đ�ng Dương thuộc Ph�p �m chỉ một sự chuyển giao quy m� c�c t�i nguy�n thu thập được xuy�n qua thuế kh�a tại miền nam d�nh cho sự đầu tư tại miền bắc.� Số thu thuế trung b�nh tr�n mỗi đầu người đ� sẵn cao hơn nhiều tại miền nam, c� thể giải th�ch cho sự miễn cưỡng bởi giới tinh hoa v� ch�nh quyền địa phương khi phải thừa nhận một mức độ thực sự của sự trốn thuế, v� sản lượng gạo hiển nhi�n l� chỉ số khả hữu hay nhất cho mục đ�ch n�y.

 

3. C�c Dữ Liệu Vi Ph�n Cung Ứng Li�n Quan

Đến C�c Số Thu Hoạch Th�c

Trong Thời Kỳ 1900-1940

 

������ Tin tức định lượng chi tiết về c�c số thu hoạch th�c của c�c chủng loại gạo địa phương được canh t�c tại nhiều tỉnh kh�c nhau ở miền nam Việt Nam trong năm 1910 đ� được b�o c�o tại hội chợ triển l�m thuộc địa tổ chức tại Marseilles trong năm 1911.� C�c con số n�y kh�ng dựa tr�n việc kiểm tra bởi ch�nh quyền thực d�n m� tr�n sự khai b�o bởi c�c nh� chức tr�ch địa phương người Việt, c�c kẻ c� mọi l� do để kh�ng ph�ng đại mức độ của năng suất đất ruộng.� Loạt tin tức n�y cho thấy rằng số thu hoạch trung b�nh ở trong khoảng từ 1.5 đến 2 tấn mỗi mẫu t�y tại miền nam Việt Nam n�i chung.� Nhưng n� đ� đạt tới 2 đến 2.5 tấn mỗi mẫu t�y tại c�c tỉnh Cần Thơ, Sa Đ�c v� S�c Trăng, l� c�c tỉnh nằm trong số c�c địa phương sản xuất gạo ch�nh yếu v�o thời điểm đ� (Bảng 1: Table 1).

 

 

 

Bảng 1: Sự Ph�n Bố C�c Số Thu Hoạch Th�c Trung B�nh (tấn /mẫu t�y) cho 327 chủng loat hạt giống l�a gạo cổ truyền được canh t�c tại miền nam Việt nam khoảng 1910 (kh�ng kể gao nếp).

 

 

 

������ Đới với nhiều chủng loại, canh t�c tại c�c tỉnh S�c Trăng, Bạc Li�u, v� Sa Đ�c, số thu hoạch hơn 3 tấn mỗi mẫu t�y được b�o c�o, cao hơn số thu hoạch trung b�nh của c�c vụ tr�ng m�a nhất được ghi ch�p tại miền nam Việt Nam trong suốt thập ni�n 1960 v� đầu thập ni�n 1970, sau khi c� sự du nhập c�c kỹ thuật Cuộc C�ch Mạng Xanh (Green Revolution).� Cũng cần ghi nhận rằng c� nhiều trong c�c số

thu hoạch thấp nhất được nhận thấy tại tỉnh Ch�u Đốc, l� một khu vực của sự canh t�c l�a nổi, do đ� giải th�ch cho c�c số thu hoạch tương đối thấp, v� tại c�c tỉnh Thủ Dầu Một v� T�y Ninh, vốn kh�ng sản xuất bao nhi�u.

 

������ Sự sụt giảm trong c�c số thu hoạch l�a gạo tại miền nam Việt Nam v�o l�c bước sang thế kỷ thứ 20 c� thể được giải th�ch phần n�o bởi sự mở rộng việc canh t�c l�a gạo v� do đ� bởi c�c số thu hoạch thấp tại c�c c�nh đồng l�a mới khai khẩn.� Tuy nhi�n, sự giải th�ch n�y kh�ng th�ch hợp nhiều với c�c dữ liệu cung ứng ở cấp tỉnh.� V�o cuối thập ni�n 1920 v� cuối thập ni�n 1930, cũng như trong năm 1950, tại c�c tỉnh tương ứng với c�c c�nh đồng l�a cổ xưa nhất nơi việc trồng v� gặt hai m�a tương đối th�ng dụng �t nhất kể từ giữa thế kỷ thứ 19, c�c số thu hoạch l�a gạo được b�o c�o thấp hơn 1.5 tấn mỗi mẫu t�y.� Một �t ngoại lệ l� Cần Thơ với 1.59 trong năm 1928 v� 1.8 trong năm 1950, G� C�ng với 1.5 hồi cuối thập ni�n 1930, v� Sa Đ�c với 2.00 trong năm 1950 (Bulletin �conomique de l�Indochine, được tr�ch dẫn trong Takada 2000, 135). �Song, khả t�nh của sự ph� nhi�u s�t giảm ở v�ng đất bi�n tế kh�ng bị bị b�c bỏ ho�n to�n.� Để giải quyết vấn đề n�y, c�c dữ liệu về sản lượng th�c v� diện t�ch canh t�c được ước lượng tại cấp tỉnh.

 

Tin Tức Về C�c Số Thu Hoạch Th�c

Tại Miền Bắc v� Miền Trung Việt Nam

������

������ C�c mẫu của c�c chủng loại gạo canh t�c tại miền bắc Việt Nam cũng được trưng b�y tại hội chợ triển l�m thuộc địa năm 1911 (Bảng 2: Table 2).� Ở đ�y cũng vậy, c�c số thu hoạch th�c b�o c�o nằm trong khoảng từ 1.8 đến 2.2 tấn mỗi mẫu t�y, với số trung b�nh v�o khoảng 2 tấn.� Bởi c�c số thu hoạch th�c tương tự nhau cho gạo m�a đ�ng v� gạo m�a hạ, khoảng 2 tấn mỗi mẫu t�y cho mỗi m�a gặt, c�nh đồng ruộng th�ch hợp cho việc cấy v� gặt hai vụ m�a c� thể thu hoạch nhiều đến 4 t�n mỗi mẫu t�y mỗi năm.� Điều n�y ph� hợp với c�c số thu hoạch th�c đối với c�c chủng loại gạo nếp b�o c�o bởi c�c người Ph�p định cư tại Việt Nam khoảng năm 1912 (Bảng 3: Table 3).� Cần ghi nhận rằng c�c kỹ thuật �p dụng trong c�c đồn điền trồng l�a gạo vốn l� một phần trong c�c đặc nhượng đất đai d�nh cho c�c người Ph�p định cư tại Việt Nam gần như đồng nhất với c�c kỹ thuật được �p dụng bởi sắc d�n Việt ở c�c khu vực chung quanh.� Gạo được trồng trọt bởi c�c t� điền thuộc sắc d�n Việt.

 

������ C�c mức độ tương tự của năng suất đất ruộng được đạt tới, trong khoảng 1906 � 1910, tại tỉnh Thanh H�a (tại ph�a bắc của trung phần Việt Nam), ở trạm n�ng nghiệp Y�n Định [? Đ�nh, Đ�nh, Đỉnh, Đĩnh] (Bảng 4: Table 4).� C�c kỹ thuật canh t�c tại Thanh H�a tương tự như c�c kỹ thuật được thi h�nh tại Ch�u Thổ s�ng Hồng.� C�c số thu hoạch trung b�nh của c�c chủng loại hạt giống kh�c nhau cho thời kỳ 1906-1910 lần lượt l� 2.02, 1.66 v� 2.00 tấn mỗi mẫu t�y, với số trung b�nh tổng qu�t (unweighted average) l� 1.89 tấn.� Ngay khi cứu x�t rằng c�c số thu hoạch th�c trung b�nh th� �t hơn đ�i ch�t tại một trạm n�ng nghiệp so với c�c c�nh đồng ruộng b�nh thường, c�c dữ liệu n�y r� r�ng tr�i ngược với c�c con số ch�nh thức cho miền trung v� miền bắc Việt Nam.� Sự biến thi�n cao độ kh�ng mấy ngạc nhi�n, đặc biệt tại miền trung Việt Nam, bởi c� tần số của c�c thi�n tai (hạn h�n v� gi�ng tố g�y ra nạn lụt).� Ch�ng ta sẽ ước định sự biến thi�n thấp hơn tại Ch�u Thổ s�ng Hồng, với c�c con số của c�c vụ gặt khi mất m�a cao hơn nhiều.

 

������ Khi sử dụng tin tức n�y, ch�ng ta phải cứu x�t đến sự kiện rằng c�c con số n�y kh�ng phải l� c�c số thu hoạch mỗi năm m� l� tr�n mỗi vụ gặt.� Giả định rằng vụ gặt hai m�a chiếm 40% diện t�ch đồng ruộng, ch�ng ta c� được 2.5 tấn mỗi mẫu t�y, khoảng gần gấp đ�i con số được ghi lại trong c�c nguồn t�i liệu, tr�n số trung b�nh cho miền trung Việt Nam.� Tuy nhi�n, cứu x�t đến khả t�nh của c�c số thu hoạch thấp hơn b�n ngo�i trạm n�ng nghiệp cũng như tại c�c v�ng trung du ở miền bắc v� miền trung Việt Nam, hai sự điều chỉnh n�y sẽ phải b� trừ cho nhau.� Do đ�, ch�ng ta c� thể kết luận rằng số thu hoạch trung b�nh ở v�o khoảng 1.5 đến 2 tấn mỗi mẫu t�y v� mỗi năm � c� lẽ gần s�t hơn với số kể sau.

 

 

 

Bảng 2: C�c Số Thu Hoạch Th�c Của C�c Chủng Loại Kh�c Nhau Trong C�c Vụ Gặt L�a M�a H� V� M�a Đ�ng Tại bắc phần Việt Nam khoảng 1910

 

Nguồn: E. Baillaud, �Les riz indochinois � l�exposition de 1911 de l�Institut Colonial Marseillais�, BEI 1912, 96, c�c trang 424-425).� Mẫu c�c chủng loại cung cấp bởi Ph�ng Canh N�ng Bắc Kỳ v� Bắc An Nam (Trung Kỳ).

 

Ghi ch�: *: gạo nếp; ** gạo hạng tốt; ***: gạo miền n�i.

 

 

 

 

 

Sự Ước Lượng Thấp Diện T�ch Đồng L�a V� Diện T�ch Gặt H�i

Trong C�c B�o C�o Thời Thuộc Địa

 

������ Ngo�i sự ước lượng thấp c�c số thu hoạch, ch�ng ta phải cứu x�t đến sự ước lượng thấp diện t�ch canh t�c, tức diện t�ch c�c c�nh đồng l�a, v� �t quan trọng hơn đối với miền nam Việt Nam, sự ước lượng thấp việc gặt h�i hai m�a. 6� Nguồn gốc sai lạc đầu ti�n được giải th�ch bởi sự kiện rằng đồng l�a được đăng k� cho mục đ�ch thu thuế đất.� Bởi c�c c�nh đồng l�a mới tr�n đất vừa khai khẩn được miễn thuế đất, thường trong năm năm đầu ti�n của sự canh t�c, sự ước lượng thấp diện t�ch canh t�c l� điều kh�ng tr�nh khỏi, đặc biệt tại miền nam Việt Nam, nơi sự khai khẩn đất tiến h�nh với một nhịp điệu mau lẹ.� Tại miền bắc Việt Nam, sự khai khẩn đất tại c�c đầm lầy c� nước thủy triều tiếp tục cho đến giữa thế kỷ thứ 20 tại c�c khu duy�n hải của Ch�u Thổ s�ng Hồng c�ng như tại nhiều tỉnh ngoại vi của miền bắc Việt Nam, nơi c�c c�ng tr�nh hạ tầng cơ sở dẫn nước nhập điền cho ph�p sự mở rộng việc canh t�c l�a gạo trong suốt c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ 20.� Tại v�ng đất nội địa của miền trung Việt Nam thường bị chiếm ngụ bởi c�c sắc d�n thiểu số, sự x�y dựng c�c đường lộ cho ph�p sự di d�n của c�c người định cư thuộc sắc d�n Việt Nam trong suốt thập ni�n 1920.� Tại Việt Nam n�i chung, bi�n cương l�a gạo bị đ�ng lại trước thập ni�n 1970 tại c�c v�ng đất thấp, nhưng h�y c�n mở ngỏ ở ven bi�n trong thập ni�n 1990 tại c�c v�ng trung du v� thượng du.

 

 

Bảng 3: C�c Số Thu Hoạch Gạo Nếp Được Nhận Thấy Tại Một Đồn Điền Trồng L�a Của Ph�p Tại Bắc Kỳ

 

 

 

C�c Nguồn: �C�c Mẫu Chủng Loại Hạt Giống Được Gửi Đến Bởi �ng Louis Dubourg, thực d�n tại Hưng Y�n� (Bắc Kỳ), BEI 1912, 96, mai-juin, trang 424.

 

***

 

 

Bảng 4: C�c Số Thu Hoạch Gạo T�nh Theo Tấn Tr�n Mỗi Mẫu T�y Tại Trạm N�ng Nghiệp Y�n Đinh [?] (Tỉnh Thanh H�a, Trung Phần Việt Nam) Trong C�c Năm 1906-1910.

 

 

 

Nguồn: Brenier (1914, 148).

Ghi Ch�: C�c Dữ Liệu Được Ghi Ch�p Một C�ch X�c Thực Tr�n C�c C�nh Đồng L�a Từ 2 đến 9 Mẫu Tậy (a) Gạo Th�ng Năm [tức Gạo M�a Đ�ng]; (b) Gạo Th�ng Mười [tức Gạo M�a H�]; (c) Gạo Th�ng Mười, Với Một Chu Kỳ Ngắn Hơn (Gieo Hạt Trong Th�ng S�u).

 

***

 

 

 

Tại Sao Ch�nh Quyền Trung Ương Thực D�n

Lại C�ng Bố C�c Dữ Liệu Sản Lượng Th�c Bị Ước Lượng Thấp?

 

������ C�u trả lời đầu ti�n, đ� sẵn được đề cập trước đ�y, rằng ch�nh quyền trung ương thực d�n kh�ng thể n�o kiểm tra được sản lượng th�c gạo thực sự tại nhiều tỉnh kh�c nhau.� Một c�u trả lời khả hữu thứ nh� v� bổ t�c rằng mặc d� c�c nh� chức tr�ch c� nghi ngờ về sự ước lượng thấp, sự đồng thuận giữa người Ph�p v� c�c c�ng chức gốc Việt Nam rằng �p lực thuế tr�n c�c nh� trồng trọt đ� sẵn ở mức đủ cao, v� rằng ch�nh s�ch t�i ch�nh phải được nhắm v�o việc h�nh thu nhiều lợi tức hơn từ giới gi�u c�, đặc biệt từ giới mậu dịch gốc Trung Hoa.� Sự giải th�ch thứ ba rằng c�c c�ng chức người Ph�p trong ch�nh quyền thuộc địa v� c�c học giả nghi�n cứu về sự canh t�c l�a gạo tại Việt Nam trước Thế Chiến II (Henry 1931; Gourou 1936) dựa v�o hai phương ph�p bổ t�c dẫn đến c�ng c�c kết quả giống nhau v� n�u � kiến rằng c�c dữ liệu về sản lượng th� ph� hợp với c�c sự ước lượng� tr�n số ti�u thụ.� Sản lượng ph�t sinh từ c�c sự ước lượng diện t�ch canh t�c v� c�c số thu hoạch được đăng k� một c�ch ch�nh thức, với một sự tu chỉnh n�ng cao đ�ng kể về diện t�ch v� một sự tu chỉnh hạn chế về c�c số thu hoạch gạo (cao hơn chưa đến 10%).

 

������ C�c con số ti�u thụ của v�ng Ch�u Thổ s�ng Hồng, được t�nh to�n bởi Bournier (1925) v� Gourou (1936) dựa v�o c�c dữ liệu d�n số, số ti�u thụ gạo tr�n mỗi đầu người được nhận thấy trong nhiều cuộc khảo s�t vi m� kh�c nhau, sự sản xuất rượu nấu bằng gạo dựa tr�n c�c nguồn t�i liệu về t�i ch�nh, c�c số ước lượng về hạt giống cần thiết, v� c�c dữ liệu xuất cảng gạo. 7� C�c kết quả của c�c cuộc khảo s�t tại chỗ gần như đồng nhất với nhau: 268 kg th�c tr�n mỗi đầu người theo Bournier (1925) v� 277 theo Gourou (1936).� C�c kết quả n�y được dựa, trong trường hợp của t�c giả Bournier (1925), tr�n số ti�u thụ h�ng ng�y trung b�nh được xem tương đương với 0.948, 0.868 v� 0.454 kg th�c, lần lượt cho c�c người đ�n �ng, đ�n b�, v� trẻ em; Gourou (1936) đưa ra số đo lường tương đương 0.76 kg th�c trung b�nh mỗi ng�y, gần như bằng nhau. 8� Số ti�u thụ để chăn nu�i kh�c hơn số ti�u thụ bởi con người cũng được ước lượng cho năm 1925 v� được t�m thấy chiếm �t hơn 7% số ti�u thụ của con người tại miền bắc v� miền trung Việt Nam, v� l� 14% tại miền nam Việt Nam (Bảng 5: Table 5).

 

������ Khuyết điểm ch�nh yếu của phương ph�p n�y l�, nếu chuỗi số liệu d�n số c� được khi �p dụng một sự ph�ng chiếu trở l�i được chấp nhận 9, c�c con số ti�u thụ gạo thời tiền Thế Chiến II sẽ được r�t ra từ c�c dữ liệu d�n số vốn bị ước lượng thấp một c�ch đ�ng kể (Banens 2000).� Điều n�y c� thể giải th�ch cho sự thiếu nhất qu�n giữa c�c dữ liệu vi m� tr�n c�c số thu hoạch l�a gạo, hơi k�m hơn 2 tấn một ch�t, v� c�c số thu hoạch �m chỉ được tr�nh b�y trong c�c số ước lượng sản lượng ch�nh thức, v�o khoảng 1.4 tấn mỗi mẫu t�y.� Mặc d� 0.76 kg th�c mỗi ng�y c� vẻ cao bởi c�c ti�u chuẩn � Ch�u v� Đ�ng Nam �, điều cần phải cứu x�t rằng c�c lương thực thay thế khả hữu chẳng hạn như ng� (bắp) chỉ rẻ hơn đ�i ch�t. 10 �Bournier v� Gourou, đều hay biết r� về sự kiện rằng c�c ti�u chuẩn sinh hoạt th� thấp k�m, đặc biệt tại c�c khu vực n�ng th�n của trung v� bắc Việt Nam.� Sự tu chỉnh sản lượng gạo l�n cao để l�m cho c�c sự ước lượng ph� hợp với c�c số thu hoạch nhận thấy sẽ h�m chứa một số ti�u thụ th�c tr�n đầu người rất cao, d� cho sự ti�u thụ của con người hay để nu�i s�c vật, �m chỉ, tiếp đ�, sự ti�u thụ g� vịt v� trứng cao hơn nhiều.

 

������ Sự giải th�ch đưa ra trong c�c b�o c�o b�n ch�nh thức của ch�nh quyền thuộc địa, trong một nỗ lực để h�a giải c�c mẫu kh�c biệt của th�ng tin rằng, trung b�nh, c�c thi�n tai diễn ra gần như h�ng năm d� giảm bớt c�c số thu hoạch l�a gạo v�o khoảng 30% thấp hơn c�c số thu hoạch �b�nh thường�.� Do đ�, c�c số thu hoạch khoảng gần 2 tấn tr�n mỗi mẫu t�y, được nhận thấy tr�n c�c b�o c�o thực địa, l� c�c con số d�nh cho c�c vụ m�a bội thu (Henry 1928).� Điều n�y b�p m�o bức tranh được trưng b�y bởi c�c dữ liệu vi ph�n được b�o c�o hồi đầu thế kỷ thứ 20 cũng như c�c số thu hoạch th�c trung b�nh được �m chỉ v�o cuối thế kỷ thứ 19.� Ch�nh v� thế, c� vẻ kh�ng c� bất kỳ sự biện minh n�o cho sự tu chỉnh thấp xuống 30% như đề nghị của t�c giả Henry (1928).

 

������ C�c thể lệ ước lượng sử dụng cho việc t�i cấu tr�c diện t�ch đồng l�a v� c�c chuỗi khối lượng sản xuất thuộc v�o bốn giai đoạn.� Thứ nhất, c�c con số diện t�ch được tu sửa l�n cao tr�n căn bản tin tức về mức độ của sự ước lượng qu� thấp trong c�c dữ liệu ch�nh thức được sử dụng cho việc thu thuế đất (v� một s� th�ng tin về tầm mức ẩn lậu thuế bởi c�c điền chủ).

 

Bảng 5: Số Ti�u Thụ Gạo Để Chăn Nu�i Gia S�c Tại Việt Nam Trong năm 1925 (theo ngh�n tấn) (trong ngoặc: như một tỷ lệ b�ch ph�n của số ti�u thụ của con người) ����������

 

[Human consumption: Số ti�u thụ của con người; Animal feeding: nu�i gia s�c; Seeds: Giữ lại l�m hạt giống; Alcohol: Nấu rượu; Total: Tổng Cộng; Northern and Northern Central Vietnam: Bắc Phần Việt Nam v� bắc Trung Phần Việt Nam; Central (excluding Northern Central: Trung Phần (ngoại trừ bắc Trung Phần) Việt Nam; Southern: Nam Phần Việt Nam]

 

***

������ �

 

������ Thứ nh�, chuỗi số liệu h�ng năm của c�c số thu hoạch b�nh thường c� được t�i cấu tr�c.� C�c số thu hoạch b�nh thường nơi đ�y được định nghĩa như c�c số thu hoạch trung b�nh với sự cứu x�t đến t�c động ti�u cực của c�c thi�n tai v� ảnh hưởng t�ch cực tr�n c�c m�a gặt c� c�c điều kiện thời tiết thuận lợi.� Thứ ba, c�c chuỗi khối lượng sản xuất h�ng năm �b�nh thường� (hay ước định) kế đ� được r�t ra từ số diện t�ch v� c�c số thu hoạch �b�nh thường� đ� ước lượng.

 

������ Chuỗi số liệu h�ng năm về diện t�ch v� c�c số thu hoạch được ước lượng một c�ch ri�ng biệt cho mỗi tỉnh trong 20 tỉnh của miền nam Việt Nam cho thời khoảng 1880-1954.� Một thủ tục đặc biệt được thiết lập hầu lượng gi� tầm mức m� sự b�nh trướng bi�n cương l�a gạo đến v�ng đất bi�n tế đưa đến một sự s�t giảm trong c�c số thu hoạch trung b�nh của to�n miền.� Diện t�ch v� chuỗi số liệu trong thời gian thu hoạch ở cấp tỉnh khi đ� được kết hợp cho việc ước lượng sản lượng.

 

 

4. C�c Sự Ước Lượng Mới

Về Diện T�ch Đồng L�a V�

Về Khối Lượng Sản Xuất

Cho Miền Nam Việt Nam

 

 

Sự Ước Lượng Diện T�ch Đồng L�a

 

������ C�c dữ liệu về diện t�ch đồng l�a cấp tỉnh được cung cấp cho 43 năm định chuẩn [hay l�m chuẩn] (benchmark years) trong thời khoảng 1880 v� 1954 (1880, 1883, 1888, 1890-1898, 1900, 1902, 1906-1911, 1913, 1920-1924, 1926-1931, 1938, 1944-1947, v� 1950-1954. 11� Diện t�ch ruộng l�a tại mỗi tỉnh được r�t ra từ c�c chuỗi số liệu ch�nh thức. 12� Trong nhiều năm, tin tức được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức (tham chiếu H�nh 1) phải được xem l� kh�ng đ�ng tin cậy, hoặc bởi c�c con số �m chỉ một sự tăng trưởng cao qu� mức về diện t�ch (1880, 1883, 1888, v� 1906-1908) c� thể phản ảnh sự cải thiện mau ch�ng trong sụ kiểm tra bởi ch�nh quyền thuộc địa, hay bởi một sự sụt giảm kh�ng được giải th�ch được nhận thấy trong phần lớn c�c tỉnh, l� điều kh�ng ph� hợp với c�c dữ liệu xuất cảng (1892-1894, 1910-1913, 1927-1930, v� 1946-47).� Do đ�, tin tức được xem như đ�ng tin cậy nhất cho c�c năm 1890-1891, 1895-1898, 1900, 1902, 1909, 1913, 1920, 1926, 1931, 1938, 1944-47, 1950-1954.

 

������ Một sự kiểu ch�nh n�ng cao 10% được đề nghị cho c�c năm trước 1920.� Điều n�y được chứng minh bởi sự trước bạ qu� thấp diện t�ch ruộng l�a do hậu quả của sự miễn trừ c�c đồng ruộng mới kh�ng bị c�c sắc thuế đ�t đai trong năm năm. 13� Trung b�nh, diện t�ch mở rộng khoảng 10% cho mỗi thời khoảng 5 năm cho tới thập ni�n 1920.� Năm 1930 l� đỉnh lịch sử về diện t�ch tại hầu hết c�c tỉnh (trong thời khoảng 1880-1954).� V� l� do n�y, điều xem ra kh�ng cần thiết để tu chỉnh c�c dữ liệu diện t�ch l�n cao cho c�c năm định chuẩn tuyển chọn sau đ�.� Cũng vậy, kh�ng c� nhu cầu cho một sự kiểu ch�nh cho c�c năm 1920 v� 1926 bởi c�c dữ liệu ch�nh thức cho c�c năm n�y đ� sẵn được tu sửa l�n cao để c�ng bố trong tập Ni�n Gi�m Thống K� Của Đ�ng Dương (Annuaire Statistique de l�Indochine).

 

������ C�c dữ liệu thiếu s�t g�y ra bởi việc �p dụng ph�p nội suy trực tuyến (linear interpolation) giữa c�c dữ liệu năm định chuẩn, v� sự trở lui ngoại suy cho thời khoảng 1880-1889, giả định một tỷ số tăng trưởng bất biến về diện t�ch l� 2% mỗi năm tại tất cả c�c tỉnh.� Điều n�y tương đương một c�ch tổng qu�t với tỷ số tăng trưởng về diện t�ch trong thập ni�n 1890 tại miền nam Việt Nam.� H�nh 2 đưa ra một sự so s�nh tổng số diện t�ch ruộng l�a, dựa tr�n c�c sự ước lượng ở tầm mức của 20 tỉnh, với c�c chuỗi số liệu cho miền nam Việt Nam được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức.� C�c sự ước lượng mới kh�c biệt r� rệt với c�c chuỗi số liệu ch�nh thức trong suốt thập ni�n 1920.� Sự sụt giảm diện t�ch trong chuỗi số liệu ch�nh thức sau năm 1916 kh�ng ph� hợp với bằng chứng tường thuật v� c�c chuỗi số liệu xuất cảng.� Khi ph�p nội suy trực tuyến được �p dụng giữa c�c năm 1931 v� 1938 v� giữa 1938 v� 1944, c�c chuỗi số liệu ch�nh thức hơi cao hơn c�c số ước lượng trong nhiều năm.� Điều r� r�ng đ�ng mong ước hơn l� n�n chấp nhận một khảo hướng bảo thủ hầu kh�ng ước lượng th�i qu� ti�u chuẩn sinh hoạt trong suốt thập ni�n 1930.� Một sự cứu x�t bổ t�c rằng nhiều c�nh đồng l�a được ghi ch�p l� c� sản xuất, từ quan điểm thu thuế, thực sự bị bỏ kh�ng canh t�c bởi c� sự sụt giảm r� rệt trong c�c gi� th�c.

 

 

H�nh 2: Diện T�ch Ruộng L�a Tại Miền Nam Việt Nam, 1870-1970

 

--■-- Diện T�ch Ruộng L�a, mẫu t�y (ước lượng)

 

--♦-- Diện T�ch Ruộng L�a, mẫu t�y (dữ liệu ch�nh thức)

 

 

 

������ C�c con số ch�nh thức về sản lượng theo tỉnh được ghi ch�p trong 25 năm giữa 1880 v� 1954 (1880, 1883, 1892, 1897-1898, 1913, 1920-1924, 1926, 1928-1930, 1938, 1944-1947, 1950-1954; c�c dữ liệu cho năm 1938 thực sự l� c�c số trung b�nh cho c�c năm 1936 đến 1940.� Bởi c�c số diện t�ch ch�nh thức được b�o c�o cho to�n thể c�c năm n�y, c� thể t�nh được c�c số thu hoạch tr�n diện t�ch mặc nhi�n theo tỉnh cho 25 năm l�m chuẩn.

 

������ Ngo�i ra, một sự xếp loại c�c đồng l�a theo ba loại thuế t�i định được cung cấp cho c�c năm 1880, 1883, 1892, 1997 [?, phải l� 1897, ch� của người dịch] v� 1898 tại Quốc Gia Nam Kỳ Thuộc Ph�p (�tat de la Cochinchine Franϛaise (ECF), c�ng với c�c số thu hoạch trung b�nh cho miền nam Việt Nam như một tổng thể cho c�c năm n�y.� Đến một mức độ n�o đ�, sự sắp loại thuế t�i định n�y c� t�nh chất chuy�n đo�n v�, ở mức độ vi ph�n, n� c� lẽ t�y thuộc v�o năng lực thương nghị của mỗi điền chủ đối diện với ch�nh quyền địa phương.� Song, điều n�y đ� phản ảnh sự kh�c biệt đ�ng kể trong c�c gi� cả đất đai (ECF, c�c năm kh�c nhau) v� v� thế c� thể được nh�n, ở quy m� cấp tỉnh, như một chỉ số của sự kh�c biệt trong năng suất của đất.� Giả sử c�c số thu hoạch b�nh thường l� 2.6, 1.8 v� 1.5 tấn th�c mỗi mẫu t�y cho ba loại ruộng l�a. 14, v� kết hợp điều n�y với tin tức về diện t�ch ruộng l�a, c�c số thu hoạch trung b�nh v�o khoảng từ 2.12 đến 2.37 tấn mỗi mẫu t�y được r�t ra cho c�c năm n�y.� Số n�y ph� hợp với c�c số thu hoạch trung b�nh cho miền nam Việt Nam như một tổng thể được �m chỉ bởi khối lượng sản xuất được b�o c�o tại ECF cho thời kỳ n�y.� Bởi việc dựa v�o phần ph�n chia của ba loại thuế thu tr�n ruộng l�a tại mỗi tỉnh, c� thể t�nh ra c�c số thu hoạch trung b�nh tại những tỉnh kh�c nhau n�y trong 5 năm l�m chuẩn n�y.� Giả thiết rằng c�c con số n�y được lấy ra tr�n căn bản c�c tin tức chi tiết, c�c số thu hoạch n�y c� thể được nh�n l� đ�ng tin cậy hơn c�c số trung b�nh được t�nh to�n chỉ dựa tr�n tổng số diện t�ch v� tổng số sản lượng.

 

������ Như đ� ghi nhận về c�c dữ liệu ch�nh thức li�n quan đến miền nam Việt Nam như một tổng thể, c�c số thu hoạch mặc nhi�n th� thấp hơn trong thời khoảng giữa chiến tranh so với trong thập ni�n 1890.� Một phần sự sụt giảm trong c�c số thu hoạch c� thể l� x�c thực, ph�t sinh từ sự mổ rộng bi�n cương l�a gạo về ph�a t�y đặt dưới sự canh t�c v�ng đất c� độ ph� nhi�u thi�n nhi�n thấp hơn hay tọa lạc tại c�c khu vực phải g�nh chịu nhiều thi�n tai hơn (ch�nh yếu l� c�c trận lụt) v� sự ph� hoại của c�c động vật hoang dại ở địa phương (c�c con chuột, chim, heo rừng, v.v�).� Để lượng gi� ảnh hưởng của c�c điều kiện thi�n nhi�n, ch�ng ta c� thể dựa tr�n tin tức về c�c tỉnh tại đ� diện t�ch đ� kh�ng mấy tăng trưởng.� Đ�y l� những khu vực đ�ng d�n cư nhất c� c�c c�nh đồng ruộng cổ xưa nhất.� Tại c�c tỉnh n�y, ch�ng ta sẽ kỳ vọng rằng c�c số thu hoạch �b�nh thường� vẫn c�n tương đối ổn định sau năm 1900, mặc d� c�c số thu hoạch được b�o c�o trong c�c ấn phẩm ch�nh thức thấp hơn nhiều.� Tỉnh S�c Trăng được d�ng như một định chuẩn bởi v� n� l� một tỉnh tại đ� diện t�ch đ� gia tăng �t nhất sau năm 1900.� Theo c�c thống k� ch�nh thức, diện t�ch ruộng l�a tại tỉnh S�c Trăng đ� sẵn đạt tới 173,000 mẫu t�y trong năm 1913, gần với đỉnh cực đại thời tiền 1954 l� 200,000 (trong năm 1920).� Một con số 2.25 tấn mỗi mẫu t�y vẫn c�n được b�o c�o cho năm 1913 trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức (Brebier 1914), nhưng số trung b�nh của c�c dữ liệu cung ứng cho thời kỳ 1920-1954 l� 1.32 (t�nh to�n theo c�c dữ liệu cho 18 năm).� Sự kh�c biệt giữa số thu hoạch trung b�nh của thời kỳ 1920-1947 v� số trung b�nh cho thời kỳ 1880-1898 (1.32 đối với 2.00 tấn) l� 0.68 (�m chỉ một sự ước lượng thấp v�o khoảng 34% trong suốt thời kỳ 1920-1954).� Điều được giả định rằng con số n�y tương ứng với tầm mức của sự ước lượng thấp c�c số thu hoạch l�a gạo do bởi sự gi�n đoạn của việc kiểm tra bởi ch�nh quyền trung ương giữa c�c năm 1905 v� 1954, v� rằng sự việc c�ng diễn ra y như vậy một c�ch tổng qu�t ở tất cả c�c tỉnh.

 

������ C�c tỷ số tương tự được t�nh to�n cho tất cả c�c tỉnh kh�c.� Ch�ng cao hơn tỉnh S�c Trăng, ngoại trừ tại tỉnh Rạch Gi� c� tỷ lệ l� 0.31 (khiến ta nghĩ c� thể tại tỉnh n�y, đất mới khai khẩn c� độ ph� nhi�u tự nhi�n cao hơn c�c c�nh đồng xưa cũ).� Tổng qu�t, khoảng c�ch giữa tỷ số được nhận thấy cho S�c Trăng với tỷ số c� được cho c�c tỉnh kh�c th� nhỏ hơn đối với c�c tỉnh nơi m� c�c đồng l�a cổ xưa chiếm một phần lớn của diện t�ch canh t�c (th� dụ, tỷ số l� 0.44 tại G� C�ng).� Khoảng c�ch lớn hơn đối với c�c tỉnh nơi m� c�c khu rừng v� đầm lầy rộng lớn được khai khẩn cho sự canh t�c l�a gạo hồi cuối thế kỷ thứ 19 v� đầu thế kỷ thứ 20, (th� dụ, tỷ số l� 0.51 tại Bạc Li�u).� Sự kh�c biệt giữa tỷ số c� được cho một tỉnh giả định n�o đ� v� tỷ số cho tỉnh S�c Trăng cho thấy tỷ lệ b�ch ph�n của sự s�t giảm trong c�c số thu hoạch gạo c� thể quy cho sự mở rộng sự canh t�c l�a gạo tại c�c c�nh đồng ruộng mới c� độ ph� nhi�u tự nhiện k�m hơn (trong trường hợp của tỉnh Rạch Gi�, sự kh�c biệt ti�u cực c� thể được giải th�ch như h�m � rằng c�c c�nh đồng ruộng mới đ� c� một sự ph� nhi�u cao hơn c�c đồng ruộng cũ).� Đối với mỗi tỉnh, sự sai biệt trong tỷ số so với S�c Trăng được d�ng để tu chỉnh theo hướng n�ng cao c�c số thu hoạch được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức cho thời kỳ 1920-1954.� C�c số thu hoạch trung b�nh cho thời kỳ 1890-1898 được d�ng như một sự đại diện cho thời kỳ 1880-1898 v� c�c trị số c�n thiếu được nội suy.� C�c H�nh 3-1,H�nh 3-2, v� H�nh 3-3 cung cấp ba th� dụ của kết quả của sự tu chỉnh n�ng cao c�c số thu hoạch l�a gạo, tr�nh b�y c�c trường hợp của c�c tỉnh S�c Trăng, G� C�ng v� Bạc Li�u.

 

 

H�nh 3-1: C�c Số Thu Hoạch Gạo tại Tỉnh S�c Trăng, 1880-1954 (tấn/mẫu t�y)

 

--♦-- Số Thu Hoạch Của S�c Trăng, (tấn/mẫu t�y (theo dữ liệu).

 

--□-- Số Thu Hoạch Của S�c Trăng, (tấn/mẫu t�y (ước lượng).

 

 

 

Ghi Ch�: C�c dấu chấm được b�o c�o l�m dữ liệu cho c�c năm 1880, 1883, 1892, 1897 v� 1898 thực sự được dựa tr�n ph�p t�nh c�c số thu hoạch trung b�nh, sử dụng sự ph�n loại thuế t�i định tr�n c�c đồng l�a.

 

***

 

H�nh 3-2: C�c Số Thu Hoạch Gạo tại Tỉnh G� C�ng, 1880-1954 (tấn/mẫu t�y)

 

--♦-- Số Thu Hoạch Của G� C�ng, (tấn/mẫu t�y (theo dữ liệu).

 

--□-- Số Thu Hoạch Của G� C�ng, (tấn/mẫu t�y (ước lượng).

 

 

 

Ghi Ch�: Xem H�nh 3-1

 

***

 

 

H�nh 3-3: C�c Số Thu Hoạch Gạo tại Tỉnh Bạc Li�u, 1880-1954 (tấn/mẫu t�y)

 

--♦-- Số Thu Hoạch Của Bạc Li�u, (tấn/mẫu t�y (theo dữ liệu).

 

--□-- Số Thu Hoạch Của Bạc Li�u, (tấn/mẫu t�y (ước lượng).

 

 

/span>

 

Ghi Ch�: Xem H�nh 3-1

 

Ch� của Người Dịch: Trong nguy�n bản in lại đồ thị của tỉnh G� C�ng (H�nh 3-2) nơi H�nh 3-3.

Khi sưu tầm lại được, sẽ điều chỉnh cho đ�ng.]

 

***

 

 

Sự Uớc Lượng Khối Lượng Sản Xuất

C� Cứu X�t Đến C�c Biến Số H�ng Năm

G�y Ra Bởi C�c Thi�n Tai.

 

������ C�c chuỗi số liệu trong thời gian theo từng năm của c�c số thu hoạch b�nh thường được kết hợp với c�c trị gi� ước lượng của diện t�ch nhằm l�m ph�t sinh c�c chuỗi số liệu về khối lượng sản xuất th�c cho mỗi tỉnh.� Trong c�c năm 1920-1930, 1944-1947, v� 1950-1954, trong đ� sự biến thi�n h�ng năm của c�c số thu hoạch th�c được r�t ra từ c�c chuỗi số liệu nguy�n thủy, c�c số thu hoạch �m chỉ bởi c�c chuỗi số liệu diện t�ch v� sản lượng ch�nh thức được tu chỉnh theo hướng n�ng cao �p dụng một tỷ số c� biệt cho mỗi tỉnh.� Tuy nhi�n, với tất cả c�c năm kh�c, c�c số ước lượng sản lượng l� c�c mức trung b�nh cho c�c năm b�nh thường.

 

������ Để c� được chuỗi số liệu ti�u thụ khả t�n (r�t ra từ c�c con số về sản lượng v� c�c dữ liệu xuất cảng; xem chương 6 [?]), điều đ�ng l�m l� cần lượng gi� c�c sự biến thi�n h�ng năm trong c�c số thu hoạch bị g�nh chịu c�c thi�n tai.� Cứu x�t bản chất rời rạc của tin tức về c�c thi�n tai tại mỗi tỉnh, điều r� r�ng đ�ng qu� hơn l� n�n ước lượng c�c biến số h�ng năm trong sản lượng của miền nam Việt Nam như một tổng thể hơn l� ở cấp tỉnh.� C�c sự biến đổi h�ng năm trong c�c số xuất cảng l�a gạo từ miền nam Việt Nam (lưu � đến sự xuy�n qu� gạo từ Căm Bốt qua Sa�gon) cung cấp một chỉ dẫn của t�c động từ c�c thi�n tai tr�n c�c vụ gặt th�c.� Một sự giảm s�t trong tỷ số của khối lượng xuất cảng trong năm so với số trung b�nh của hai năm qua được d�ng như một chỉ số của sự xảy ra c�c thi�n tai. 15 Tỷ số n�y trồi sụt trong một khoảng từ 0.85 đến 1.15 với một trị số trung b�nh l� 1.01 trong suốt thời kỳ 1880-1940.� Con số n�y tương tự như sự biến thi�n được nhận thấy trong c�c năm trong đ� c�c số thu hoạch ch�nh thức được sử dụng.

������

C�c số ước lượng sản lượng mới cho thời kỳ 1880-1954 kế đ� được nối kết với chuỗi số liệu được cung ứng cho thời kỳ 1955-1972 tr�n phạm vi của Nam Việt Nam tương ứng với miền nam Việt Nam.� Trong ph�n khoảng 1955-1957, c�c số thu hoạch th�c được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức cũng ở mức thấp như c�c số đ� được b�o c�o từ 1913 đến 1954 trong c�c ni�n gi�m thống k� của Đ�ng Dương v� c�c b�o c�o thuộc địa kh�c (1.32, 1.33, v� 1.20 tấn mỗi mẫu t�y trong 1955, 1956, v� 1957, một c�ch lần lượt.� Tuy nhi�n giữa c�c năm 1958 v� 1972, mọi con số đều ở tr�n 2 tấn mỗi mẫu t�y (ngoại trừ trong năm 1966, khi trị số l� 1.95).� Số trung b�nh cho c�c sự ước lượng mới của c�c sự thu hoạch th�c cho c�c năm 1950 đến 1954, 2.24 tấn mỗi mẫu đất, gần nhất đồng nhất với số trung b�nh được b�o c�o trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức cho thời kỳ 1958-1965 (2.18 tấn mỗi mẫu t�y).� V� thế, điều r� r�ng an to�n để sử dụng c�ng sự điều chỉnh như cho thời kỳ 1950-1954 nhằm tu sửa theo hướng n�ng cao c�c số thu hoạch gạo cho thời kỳ 1955-1957.� C�c dữ liệu ch�nh thức về diện t�ch sau năm 1954 được sử dụng m� kh�ng [cần] c� sự tu chỉnh n�o.

 

������ C�c sự ước lượng về c�c chuỗi số diện t�ch v� thu hoạch th�c cứu x�t đến sự biến đổi ngắn hạn của c�c vụ gặt sau hết được kết hợp để t�nh to�n c�c chuỗi khối lượng sản xuất.� H�nh 4 so s�nh c�c chuỗi sản lượng mới n�y với c�c dữ liệu được c�ng bố trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức.� Điều cần phải được nhấn mạnh rằng mặc d� sự tu chỉnh theo hương n�ng cao sản lượng cho thời kỳ 1908-1940 thoạt ti�n c� vẻ th�i qu�, kết quả lại ph� hợp với sự kiện rằng miền nam Việt Nam đ� l� một trong ba nước � Ch�u ch�nh yếu xuất cảng gạo trước Thế Chiến II v� rằng c�c số xuất cảng gạo gần như ho�n to�n bị đ�nh chỉ sau năm 1945.

 

H�nh 4: Diện T�ch Ruộng L�a V� Khối Lượng Sản Xuất Tại Miền Nam Việt Nam 1880-1972

 

--♦-- Sản Lượng Gạo 1000 tấn (ước lượng);���� --■�Sản Lượng Gạo 1000 tấn (theo dữ liệu)

 

***

 

 

5. Kết Luận

 

������ C�c kết quả tr�nh b�y ở tr�n cho thấy rằng mức độ năng suất đất đ� đạt được tại miền nam Việt Nam trước Cuộc C�ch Mạng Xanh của thập ni�n 1960, mặc d� thấp hơn so với Nhật Bản, đ� cao hơn một c�ch đ�ng kể so với Miến Điện, Căm Bốt, Th�i Lan, v� ngay cả Java.� Miền nam Việt Nam v� thế xuất hiện như một ngoại lệ nổi bật đối với c�c điều kiện ti�n khởi �m chỉ bởi �cung tuyến Ishikawa�, khi cả tỷ số đất/người v� năng suất đ�t đai đều tương đối cao trước thời Thế Chiến II.

 

������ Sự tu chỉnh theo hướng n�ng cao c�c con số sản lượng gạo cho thời kỳ giữa chiến tranh v�o khoảng 100% kh�ng �m chỉ một sự tu chỉnh n�ng cao tương ứng trong số cung thực phẩm tr�n mỗi đầu người hay trong c�c ti�u chuẩn sinh hoạt của c�c nh�n c�ng n�ng nghiệp.� D�n số c�ng bị ước lượng thấp trước năm 1960, mặc d� ở mức độ �t hơn.� C�c sự ước lượng d�n số đề nghị bởi Banens (2000) cho thời kỳ giữa chiến tranh v�o khoảng 30% cao hơn c�c con số ch�nh thức được b�o c�o trong nhiều số kh�c nhau của tập Ni�n Gi�m Thống K� Đ�ng Dương (Annuaire Statistique de l�Indochine).� Cũng vậy, tin tức cung ứng khi�n ta nghĩ rằng tầm mức của sự ước lượng thấp sản lượng trong c�c nguồn số liệu ch�nh thức th� cao hơn đối với gạo, so với phần lớn số ngũ cốc thu hoạch kh�c.

 

������ Ngo�i ra, c�c con số về năng suất lao động trong sự canh t�c l�a gạo, c� thể lấy ra được từ tỷ số đất/người v� c�c số ước lượng về năng suất của đất, phải được d�ng một c�ch thận trọng khi t�m c�ch đo lường ti�u chuẩn sinh hoạt.� Bởi sự gặt hai m�a chỉ được thực hiện ở một phần rất nhỏ b� của c�c đồng ruộng, c�c cơ hội [cung c�p] việc l�m tương đối �t hiện diện trong m�a tr� trệ qua suốt thời kỳ kh� hạn của năm (v�o khoảng 6 th�ng).� Tại c�c v�ng của Đ�ng Nam � Lục Địa nơi m� mật độ d�n cư thấp v�o l�c khởi thủy, sự tăng trưởng d�n số hồi giữa thế kỷ thứ 20 đ� dẫn đến một sự sụt giảm trong tỷ số đất/người trước khi c� cuộc C�ch Mạng Xanh trong thập ni�n 1960, đặc biệt tại miền nam Việt Nam nơi m� diện t�ch đống l�a kh�ng gia tăng nhiều sau l�c khởi đầu của thập ni�n 1930 v�, trong thực tế, c�n sụt giảm tạm thời đến 50% trong Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương (1945-1954).

 

������ Sự du nhập c�c kỹ thuật C�ch Mạng Xanh, chẳng hạn như c�c chủng loại giống l�a c� số thu hoạch cao v� c�c ph�n b�n c�ng nghiệp, diễn ra trong thập ni�n 1960 tại miền nam Việt Nam, được g�n cho một sư gia tăng trong năng suất của đất.� Tuy nhi�n, về mặt năng suất đất, t�c động t�ch cực một phần bị b� trừ bởi sự sụt giảm của tỷ số đất/người nảy sinh từ sự gia tốc trong sự tăng trưởng d�n số.� Yếu tố quyết định dẫn đến một sư gia tăng về đất v� năng suất lao động trong suốt hai thập ni�n sau c�ng của thế kỷ thứ 20 l� sự l�n cao trong tỷ số người/đất gặt h�i nảy sinh từ sự đầu tư v�o c�c hạ tầng cơ sở dẫn nước tuới v� tho�t nước cho ph�p sự chuyển đổi sang việc gặt h�i hai m�a.

 

������ Tin tức định lượng c� được khi kết hợp c�c chuỗi số liệu về d�n số được ước lượng bởi Banens (2000) với diện t�ch đồng ruộng tu chỉnh v� chuỗi số liệu sản xuất l�a gạo cho miền nam Việt Nam được tr�nh b�y ở tr�n cho thấy, cho đến cuối thế kỷ thứ 20, con đường biến chuyển trong sự canh t�c l�a gạo đ� kh�ng đi theo �cung tuyến Ishikawa�.� Tỷ số đất/người ở trong chiều hướng đi xuống trong to�n thể thế kỷ thứ 20, đặc biệt sau thập ni�n 1930.� Điều n�y c� thể được nh�n l� nhất qu�n với giai đoạn khởi đầu của �cung tuyến Ishakawa�.� Tuy nhi�n, năng suất đất đ� kh�ng cải thiện mấy trước cuối thập ni�n 1980, v� c� lẽ c�n s�t giảm đ�i ch�t trước thập ni�n 1930 do kết quả của sự khai khẩn c�c v�ng đất bi�n tế.� C� vẻ rằng sự phổ biến c�c kỹ thuật C�ch Mạng Xanh, xảy ra trong thập ni�n 1960, đ� kh�ng khuyến dẫn nhiều hơn sự phục hồi lại c�c mức độ đ� được thấy v�o cuối thế kỷ thứ 19.

 

������ Thời kỳ của sự chuyển đổi sang việc gặt h�i gấp đ�i, điều m� trong hai thập ni�n cuối c�ng của thế kỷ thứ 20 cho ph�p một sự gia tăng đ�ng kể trong năng suất của đất, c� thể được giải th�ch như một sự khởi động thực sự của �cung tuyến Ishikawa� tại miền nam Việt Nam.� Nhưng n� đ� xảy ra từ một mức độ tương đối cao của năng suất đất.� C�c kết quả n�y khiến ta nghĩ rằng điều đ�ng cứu x�t rằng liệu c�c nước hay v�ng � Ch�u kh�c, chẳng hạn như Miến Điện, H�n Quốc, Th�i Lan, hay miền bắc Việt Nam, c� trải nghiệm qua c�ng một giai đoạn khởi thủy giống nhau của sự tr� trệ hay s�t giảm trong năng suất đất trong thế kỷ thứ 19 hay 20 �v�, như một hậu quả của sự gia tăng d�n số nhanh hơn sự tăng trưởng của sự khai khẩn đất, một sự s�t giảm trong tỷ số đất / lao động dẫn đến một sự suy giảm trong năng suất lao động hay kh�ng./- �

 

____

 

* College of Business and Economics (MMIB), Australian National University, 1098 Copland Building (24), Canberra ACT 0200, Australia

 

Email: jean-pascal.bassino@anu.edu.au

 

������ B�i viết n�y được soạn thảo trong kỳ lưu tr�, với tư c�ch Kh�ch Mời Nghi�n Cứu, tại Viện Ngi�n Cứu Kinh Tế (Institute of Economic Research, Đại Học Hitotsubashi University, Tokyo, với học bổng của Maison Franco Japonaise.� T�i xin c�m ơn Bộ Ngoại Giao Ph�p về sự gi�p đỡ t�i ch�nh, Viện Nghi�n Cứu Kinh Tế, Đại Học Hitotsubashi University, về sự đ�n tiếp, v� c�c �ng Ralph Paprzycki v� Pierre Van der Eng về c�c sự b�nh luận v� g�p � hữu dụng.

 

1. Hayami v� Ruttan (1985) đề nghị một sự giải th�ch về sự biến đổi n�ng nghiệp cứu x�t, như chọn lựa kh�c cho phương c�ch thay thế cho đất (a land-replacing path), một giải ph�p thay thế lao động (a labor-replacing).� T�c giả Van der Eng (2004, H�nh 4, trang 353) tr�nh b�y cặn kẽ một sự biểu thị bằng lược đồ cứu x�t đến c�c sự lựa chọn n�y, được đặt t�n l� �đường cong hay cung tuyến Ishikawa nối d�i�

 

2. C�c số thu hoạch l�a gạo trung b�nh trong thập ni�n 1930 (được t�nh theo gạo đ� s�t vỏ) chỉ l� 1.1 tấn tr�n một mẫu t�y (ha) tại Java, 0.9 tấn tại Miến Điện, Căm Bốt, Th�i Lan v� miền nam Việt Nam, v� 1.4 tấn tại Bắc Việt Nam, so với 2.7 tấn tr�n mỗi m�u t�y tại Nhật Bản (Van der Eng, 2004, Bảng 3, c�c trang 355-356).

 

3. C�c dữ liệu n�y c�ng được b�o c�o trong s�ch của Henry (1932), cho thập ni�n 1920.

 

4. Sự ước lượng của c�c chuỗi số liệu mới hay diện t�ch đồng trồng l�a v� khối lượng sản xuất th�c cho miền nam Việt Nam tr�nh b�y trong b�i viết n�y đ� được thực hiện như một phần của C�c Thống K� Lịch Sử � Ch�u (Asian Historical Statistics (ASHSTAT), Trung T�m Dự �n Tuyệt Hảo (Centre of Excellence Project) của Bộ Gi�o Dục Nhật Bản (Trưởng To�n l� Gi�o Sư Konosuke Odaka).

 

5. C�c ni�n gi�m thống k� của Nam Việt Nam cung cấp c�c dữ liệu về c�c số thu hoạch trung b�nh trong năm 1971 v� 1972 tại c�c khu vực tương ứng với phần Cochinchina (Nam Kỳ) trước đ�y (miền nam Việt nam).� C�c con số t�nh theo tấn tr�n mỗi mẫu t�y l� 1.96 v� 1.78 tấn cho c�c chủng loại hạt giống địa phương truyền thống đối chọi với 3.95 v� 3.67 tấn mỗi mẫu t�y cho c�c chủng loại thu hoạch cao (Ni�n Gi�m Thống K� Việt Nam 1972: 304-305).

 

6. T�c giả Giacomtti (2000a) thảo luận c�c vấn đề n�y v� đề nghị tu chỉnh n�ng cao con số ch�nh thức về diện t�ch l�n 30%, 25%, v� 10% lần lượt cho Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam) v� Nam Kỳ (Cochinchina).� Cuộc nghi�n cứu n�y sử dụng hầu hết c�c hệ số giống nhau trong việc ước lượng diện t�ch đồng ruộng, nhưng với một sự tu chỉnh n�ng cao hơn nhiều c�c số thu hoạch; xem b�n dưới để c� th�m chi tiết.

 

7. Xem Giacometti (2000a) để c� một sự thảo luận chi tiết hơn.

 

8. Bởi phần lớn gạo ti�u thụ tại c�c khu vực n�ng th�n của miền bắc Việt Nam được chế biến tại địa phương (đ�i khi bởi ch�nh người ti�u thụ, thường bởi c�c c�ng nh�n chuy�n nghiệp trong c�ng l�ng), c�c hệ số ho�n đổi th�c sang gạo n�u đ� x�t bỏ vỏ trấu l� gạo được nhận thấy khi sử dụng c�c kỹ thuật xay l�a cổ truyền.

 

9. Dựa tr�n Banens (2000), c� tu chỉnh đ�i ch�t.

 

10. Do c�c sự ưa chuộng về văn h�a, ng� (bắp), khoai lang, v� sắn (khoai m�) kh�ng được xem l� c�c lương thực được chấp nhận để thay thế cho gạo m� đ�ng hơn d�nh cho c�c m�n qu� vặt (snacks); chỉ những gia đ�nh th�n qu� ngh�o nhất của Ch�u Thổ s�ng Hồng mới kh�ng d�ng gạo l�m lương thực ch�nh yếu (Gourou 1936).� Điều cần phải được ghi nhận rằng kiến thức khoa học về chất liệu dinh dưỡng cho ph�p x�c định một c�ch hồi tố một căn bản l� luận cho c�c th�nh kiến phổ th�ng n�y: mặc d� đắt hơn khi t�nh theo kg, gạo thường rẻ hơn khoai lang khi t�nh theo đơn vị calorie.

 

11. C�c dữ liệu cho năm 1920 l� c�c số trung b�nh thực sự cho thời kỳ 1919-1922; c�c dữ liệu cho năm 1928 l� c�c số trung b�nh cho thời kỳ 1923-29; c�c dữ liệu cho năm 1931 l� c�c số trung b�nh cho thời kỳ 1925-1930; v� c�c dữ liệu cho năm 1938 l� c�c số trung b�nh cho thời kỳ 1936-1940.� Căn bản lập luận cho việc sử dụng c�c số trung b�nh của thời kỳ 1925-1930 cho năm 1931 l� v� số diện t�ch đồng ruộng kh�ng sụt giảm một c�ch tức thời v�o l�c b�ng ph�t Cuộc Suy Tho�i Thế Giới v� rằng một chiều hướng l�n cao được nhận thấy tại phần lớn c�c tỉnh giữa c�c năm 1926 v� 1930 trong dữ liệu được b�o c�o bởi Takada (2000).

 

12. Mặc d� việc gặt h�i hai lần số th�c l�a đ� hiện hữu tại một số khu vực quanh S�ig�n trước 1954 (v� ngay cả trong thế kỷ thứ 19), n� c� t�nh c�ch bi�n tế v� v� thế c� thể bị l�ng qu�n khi t�i cấu tr�c số diện t�ch nằm dưới sự canh t�c.

 

13) Nhiều phần l� c�c điền chủ c� khuynh hướng che dấu phần n�o số diện t�ch đồng l�a chịu thuế nhưng kh�a cạnh n�y của sự b�o c�o thấp diện t�ch canh t�c trong c�c nguồn t�i liệu ch�nh thức đ� kh�ng được cứu x�t đến.

 

14) Henry and DeVisme (1928-52).� Đ�y l� c�c con số cho c�c số thu hoạch b�nh thường kh�ng bị ảnh hưởng bởi t�c động của c�c thi�n tai, ph� hợp một c�ch tổng qu�t với sự đồng nhất giữa c�c nh� sinh vật học về ti�m năng của c�c chủng loại cỗ truyền.� C�c t�c giả cũng đề cập đến c�c số thu hoạch �b�nh thường� 2 tấn tr�n mỗi mẫu t�y cho l�a nổi, con số xem ra cực kỳ cao.

 

15) C�ng thức được �p dụng ở đ�y l� Yet = Ynt (Xt/avXt, Xt -1) + 1) / 2, trong đ� Yet l� số thu hoạch thực sự� được ước lượng trong năm t, Ynt l� số thu hoạch �b�nh thường� được ước lượng trong năm t, Xt l� số xuất cảng gạo trong năm t, v� av (Xt, Xt-1) l� số trung b�nh của số xuất cảng gạo trong c�c năm t v� t - 1.� Sự chứng minh cho sự cắt giảm bằng ph�n nửa mức độ của sự biến thi�n l� v� khoảng ph�n nửa sản lượng đ� được sử dụng l�m số cung nội địa.� Điều được giả định rằng sự trồi sụt mỗi năm trong sự ti�u thụ nội địa th� kh�ng đ�ng kể.

 

*****

 

THAM KHẢO

 

Baillaud, E. (1912).� �Les riz indochinois a l�exposition de 1911 de d�Institut Colonial Marseillais�, Bulletin �conomique de l�Indochine, c�c trang 424-425.

 

Banens, Maks (2000).� Vietnam�s Population Reconstruction, 1884-1954, trong s�ch bi�n tập bởi J-P. Bassino, J-D. Giacometti, v� K. Odaka, Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, Hitotsubashi University, c�c trang 1-40.

 

Bournier, G. (1925).� ��tude sur la consummation de riz en Indochine�, Bulletin Economique de l�Indochine, c�c trang 425-437.

 

Brenier, Henri (1914).� Essai d�Atlas Statistique de l�Indochine Franҫaise.� Hanoi: IDEO.

 

Dumont, Rene (1935).� La culture du riz dans le delta du Tonkin.� Paris: Soci�t� d��ditions Geographiques, Maritimes et Coloniales.

 

�tat du Vitnam [State of Vietnam], (1949-1953).� Annuaire Statistique du Vietnam, [Ni�n Gi�m Thống K� Về Đ�ng Dương], Hanoi.

 

Giacometti, Jean-Dominique (2001a).� �Sources and Estimations for Economic Rural History of Vietnam in the First Half of the 20th Century�, trong s�ch bi�n tập bởi J-P. Bassino, J-D. Giacometti, v� K. Odaka, Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, Hitotsubashi University, c�c trang 41-80.

 

Giacometti, Jean-Dominique (2001b).� �Bases for Estimations of Agriculture in Central Vietnam before 1954: The Examples of Thanh H�a and Nghệ An Provinces�, trong s�ch bi�n tập bởi J-P. Bassino, J-D. Giacometti, v� K. Odaka, Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, Hitotsubashi University, c�c trang 105-124.

 

Gourou, Pierre (1936).� Les Paysans du delta tonkinois: �tude de geographie humaine.� Paris: �ditions d�art de d�histoire.

 

Gourou, Pierre (1940).� L�utilisation du sol en Indochine franҫaise.� Paris: Centre d��tudes de politique �trang�re.

 

Gouvernement de la Cochinchine (1878-1908).� �tat de la Cochinchine franҫaise.� Saigon.

 

Gouvernement G�n�ral de l�Indochine (1913-1946).� Annuaire Statistique de l�Indochine [Ni�n Gi�m Thống K� Đ�ng Dương], Hanoi.

 

Hayami, Yujiro v� Vernon W. Ruttan (1985).� Agricultural Development in International Perspective.� Baltimore: John Hopkins University.

 

Henry, Yves (1932).� �conomie agricole de l�Indochine.� Hanoi: IDEO.

 

Henry, Yves v� Maurice DeVisme (1928).� Documents de d�mographie et rizculture en Indochine.� Hanoi: Gouvernement G�n�ral de l�Indochine.� Inspection g�n�rale de l�agriculture, de l��levage et des forets.

 

Ishikawa, Shigeru (1981).� Essays on Technology, Employment and Institutions: Comparative Asian Perspectives.� Tokyo: Kinokuniya.

 

Lecoq, Jean-Franҫois (2001).� Economic Liberalization in Vietnam and Rice Production Intensification: The Case of � M�n, Mekong Delta.� Luận �n Tiến Sĩ, INA Paris-Grignon (bằng tiếng Ph�p).

 

Murray, Martin J. (1980).� The Development of Capitalism in Colonial Indochina (1870-1940).� Berkeley: University of California Press.

 

Nguyền Xu�n Hi�n [?] (2001).� Glutinous-Rice-Eating Tradition in Vietnam and Elsewhere.� Bangkok: White Lotus.

 

Takada, Yoko (2000).� �Historical Agraian Economy of Cochinchina�, trong s�ch bi�n tập bởi J-P. Bassino, J-D. Giacometti, v� K. Odaka, Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, Hitotsubashi University, c�c trang 125-142.

 

Thorel, Clovis (2001).� 1893.� Agriculture and Ethnobotany of the Mekong Basin.� Bangkok: White Lotus (Phi�n dịch từ tiếng Ph�p; nguy�n bản được ấn h�nh c� nhan đề l� �Agriculture et horticulture de l�Indo-Chine�, c�c trang 335-491, trong quyển �Voyage d�Exploration en Indo-Chine�, vol. 2, 1893.� Librairie Hachette et Cie, Paris).

 

Van der Eng, Pierre (2004).� �Production Technology and Comparative Advantage in Rice Agriculture in South East Asia since 1870�.� Asian Economic Jornal, 18-4, 345-370.

 

 

Phụ Lục: được cung cấp dưới dạng điện tử theo lời y�u cầu): Diện T�ch Ruộng Trồng L�a Gạo, Sản Lượng L�a Gạo, v� D�n Số Nam Việt Nam (1880-1960).

_____

 

Nguồn: Jean-Pascal Bassino, Rice Cultivation in Southern Vietnam (1880-1954): A Re-evaluation of Land Productivy in Asian Perspective,

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

18.07.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011