Jean Michaud

Department of South East Asian Studies

University of Hull, United Kingdom

 

 

TỪ T�Y NAM TRUNG HOA

 

XUỐNG MIỀN THƯỢNG Đ�NG DƯƠNG:

 

TỔNG QUAN VỀ C�C CUỘC DI CƯ

 

CỦA NGƯỜI HMONG (M�O)

 

 

Ng� Bắc dịch

 

*****

 

Lời Người Dịch:

 

������ Ngo�i Bản Đồ C�c Nh�m Chủng Tộc, Ng�n Ngừ, v� T�n Gi�o của Đ�ng Dương ấn h�nh năm 1970 (kh�ng ghi nh� xuất bản) m� người dịch phụ đ�nh dưới đ�y, độc giả c� thể tham khảo một loạt c�c bản đồ chủng tộc của miền Thượng Du Bắc Việt, đặc biệt c� nhiều bản đồ của tỉnh L�o Cai, do ch�nh t�c giả, Gi�o Sư Jean Michaud c�ng hai vị Gi�o Sư kh�c l� Tiến Sĩ Sarah Turner, Mc Gill University, Canada v� Tiến Sĩ Yann Roche, Universit� du Qu�bec � Montr�al, Canada, sưu tập v� thực hiện, được c�ng bố tại website nhan đề Mapping Ethnic Diversity in Highland Northern Vietnam, ở địa chỉ:

 

http://www.geog.mcgill.ca/faculty/turner/vietnam.html

 

 

Bản Đồ C�c Nh�m Chủng Tộc, Ng�n Ngữ, v� T�n Gi�o của Đ�ng Dương, 1970 (về c�c nh�m t�n gi�o, bản đồ chỉ x�c định c�c nơi c� đ�ng t�n đồ C�ng Gi�o, H�o Hảo, v� Cao Đ�i, kh�ng thấy c� đ�nh dấu c�c khu vực tập trung t�n đồ Phật Gi�o tại Việt Nam, v� thế kh�ng r� c� thể hiểu ngược lại rằng c�c v�ng c�n lại kh�ng ghi nhận g� cả l� c�c nơi c� đ�ng t�n đồ Phật Gi�o hay kh�ng?, ch� của người dịch).

 

Bản Đồ Ethnolinguistic Groups, Indochina 1970, http://www.lib.utexas.edu

 

*****

 

Đại �:

 

������ Từ miền nam Trung Hoa xuy�n qua n�i non Việt Nam, L�o, v� sau c�ng theo hướng nam xuống m�i tận lưu vực s�ng Chao Phraya của Th�i Lan, c�c nh�m du canh (swiddeners) người Hmong được thấy di cư hồi cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20.� V�o l�c n�o, v� dưới những t�nh huống n�o m� c�c th�nh phần đ�ng đảo của ph�n chủng của sắc d�n Miao (người M�o) n�y từ Qu� Ch�u v� c�c v�ng ngoại vi của Qu� Ch�u, đ� di chuyển c�c khu định cư của họ xuống phần ph�a nam của Khối N�i Trọng T�m Đ�ng Nam � (Massif of Southeast Asia) lục địa? Họ l� ai? Lịch sử của họ ra sao trước khi c� c�c cuộc di cư n�y? B�i viết n�y sử dụng bằng chứng ban đầu để soi s�ng v�o c�c nguy�n do ch�nh của h�nh tr�nh tiến v�o c�c rặng n�i của B�n Đảo Đ�ng Dương.

 

***

 

������ Trong nhiều thế kỷ, ngay cả nhiều ngh�n năm trong một số trường hợp n�o đ�, nhiều cuộc di cư của con người đ� xảy ra tại B�n Đảo.� Đa số c�c nh�m d�n Mon v� Miến Điện đ� dần dần định cư tại Miến Điện, y như người Th�i tại Th�i Lan, người L�o tại nước L�o, v� người Kinh ở Việt Nam.� Khi định cư như thế, c�c nh�m d�n h�ng mạnh hơn n�y đ� đẩy c�c kẻ định cư thời cổ như c�c kẻ c�n s�t lại của d�n bản xứ đầu ti�n, hay người Proto hoặc Deutero-Malays sau n�y, hầu hết trong họ l� th�nh vi�n của ngữ tộc Austro-Asiatic, đi xa hơn hay l�n cao hơn tại Khối N�i Trọng T�m Đ�ng Nam � lục địa.� Tại điểm n�y, điều hữu �ch để ghi nhớ rằng tất cả c�c kẻ định cư v�ng cao nguy�n ban sơ n�y, một c�ch ch�nh x�c, bởi sự đến nơi sớm hơn của họ, đ� tạo th�nh c�c x� hội ho�n to�n klh�c biệt với người Hmong, nh�m d�n m� ch�ng ta sẽ thảo luận nơi đ�y.

 

������ Trong hơn thế kỷ cho đến nay, v� kể từ khi c� sự thiết lập của c�c bi�n giới quốc gia hiện đại tại B�n Đảo, chỉ c� c�c cuộc di cư t� hon, hầu như rải r�c từ miền nam Trung Hoa l� c�n tiếp tục diễn ra.� C�c x� hội vi m� của c�c kẻ du canh, đi theo phần lớn c�c con đường tr�n đỉnh n�i cao, đ� đến Việt Nam, L�o, Th�i Lan v� Miến Điện để thiết lập c�c khu định cư �t nhiều c� t�nh c�ch thường trực hơn tại c�c phần đất cao hơn của Khối N�i Trọng T�m, c�ch xa c�c x� hội b�nh nguy�n m� họ hầu như kh�ng c� chung c�c đặc t�nh văn h�a.

 

������ C�c x� hội n�y, phải nh�n nhận, cũng c� c�c sự kh�c biệt văn h�a lớn lao giữa ch�ng với nhau, đặc biệt trong l�nh vực ngữ học, t�n gi�o, v� tổ chức x� hội.� Trong số n�y, Hmong c� lẽ l� c�c di d�n cận đại nhất tại B�n Đảo.� Thực sư, họ đ� đến trong hai thế kỷ vừa qua, xuy�n qua nhiều cuộc di cư diễn ra v� một số c�c l� do.� Như một th� dụ về sự li�n hệ lịch sử li�n tục giữa c�c người d�n từ cả hai b�n của bi�n giới ph�n c�ch Trung Hoa với c�c l�n bang ph�a nam của n� � cả trước khi phe Cộng Sản chiếm lĩnh v�ng đất từ 1945, trong suốt c�c thập ni�n của nh� nước x� hội chủ nghĩa, v� vẫn c�n kể từ khi c� sự mềm mỏng hơn của n� trong c�c năm gần đ�y � t�i muốn tr�nh b�y một sự t�i duyệt c�c nguy�n do v� c�c h�nh thức đ� được �p dụng bởi chu kỳ di cư đặc biệt n�y.

 

 

NGƯỜI M�O TẠI TRUNG HOA

 

������ Ch�ng ta biết xuy�n qua c�c chỉ dẫn về ngữ học rằng lịch sử cổ thời của d�n Hmong c� li�n hệ mật thiết với lịch sử của sắc d�n M�o (Miao) hiện nay tại v�ng t�y nam Trung Hoa, mặc d� n� ho�n to�n l� một c�u chuyện kh�c để giả định rằng lịch sử xưa hơn của người Hmong cũng c� li�n hệ với lịch sử của người �M�o� trong lịch sử như họ xuất hiện trong c�c văn bản Trung Hoa cổ thời.� Danh xưng �Miao� (M�o) trong H�n tự trong một thời gian l�u d�i mang � ngh�a rộng r�i về chủng tộc v� để chỉ nhiều nh�m phi-H�n.� C�c nh�m n�y bao gồm c�c d�n tộc �t người kh�c được xem l� c�c nh�m b�n lề đối với Kẻ Văn Minh, tức người H�n.� C�c t�c giả Mor�chand (1968: 69) v� Lombard Salmon (1972: 111) đ� ghi nhận nhiều danh xưng li�n hệ.� C�c văn bản Trung Hoa thường ph�n biệt giữa shu Miao [thục Mi�u?], hay người M�o đ� thuần h�a (cooked Miao), với sheng Miao [sinh Mi�u?], hay người M�o c�n sống sượng, th� lỗ (raw Miao), giữa người M�o đ� bị khuất phục v� người M�o độc lập (c�ng nơi dẫn tr�n: trang 117).

 

������ Khi thảo luận về c�c sự tiếp x�c đầu ti�n với người T�y Phương (đặc biệt kể từ thế kỷ thứ 15) v� sản phẩm theo sau của c�c b�o c�o v� nhận x�t kh�c nhau bằng c�c ng�n ngữ T�y Phương về c�c d�n tộc �t người tr�n cao nguy�n trong v�ng, kh�ng c� c�c kết luận x�c quyết n�o c� thể được đưa ra để chứng thực căn cước thực của nh�m được gọi l� người M�o (Miao) bởi c�c văn gia T�y Phương sớm nhất.� Để đạt được c�c kết luận như thế, ch�ng ta sẽ cần c� nhiều chỉ dẫn về ngữ học hơn, hay, �t nhất, c�c ph�c họa đ�ng tin cậy.� C�ng việc như thế sẽ đ�i hỏi sự cộng t�c của c�c sử gia v� c�c nh� d�n tộc học v� vẫn c�n phải chờ đợi để được thực hiện.� Tuy nhi�n, ng�y nay kh�ng c� sự ngờ vực rằng từ ngữ Miao (M�o) như n� được d�ng tại Trung Hoa v� b�n ngo�i để chỉ một tập hợp c� biệt mặc d� đ�ng đảo c�c nh�m d�n tộc, tất cả đều c�ng một ngữ tộc m� từ đ� người Hmong của B�n Đảo Đ�ng Dương bắt nguồn v� c� li�n hệ mật thiết.� Kể từ 1953, từ ngữ �Miao� trong H�n tự �p dụng cho to�n thể d�n số từ nh�m d�n tộc M�o (Miao zu: Mi�u tộc) it người.� Theo c�c nh� ngữ học Trung Hoa, nh�m n�y bao gồm bốn ph�n nh�m li�n hệ về mặt ngữ học v� văn h�a � mặc d� c�c ng�n ngữ của họ kh�ng được th�ng hiểu một c�ch hỗ tương � được gọi l� người Hmong, Hmu, Qoxiong, v� Hmau (ghi nhớ rằng c�c sự k� �m từ ti�ng H�n biến đổi từ t�c giả n�y sang t�c giả kia).

 

������ Về nguồn gốc địa dư ch�nh x�c của người M�o, vẫn c�n nhiều sự ức đo�n hơn l� quả quyết.� Nhiều văn bản tiếng H�n từ thời triều đại truyền thuyết thứ nhất, nh� Hạ (Xia) (2207-1766 Trước C�ng Nguy�n) v� triều đại lịch sử nh� Chu (1121-256 Trước C�ng Nguy�n) đề cập đến c�c cuộc xung đột vũ trang với một số người �M�o tại nhiều ph�n vực ch�nh yếu ở Qu� Ch�u ng�y nay (Savina 1924: 115-170).� T�c giả Lin (1940) c� n�i đến c�ng hiện tượng trong triều đại nh� H�n đầu ti�n (đặc biệt 140-87 Trước C�ng Nguy�n) v� trong thời Ngũ Triều Đại (Five Dynasties) (907-960 Sau C�ng Nguy�n).� Trong nhiều thế kỷ, văn tự biểu � trong tiếng H�n cho từ ngữ �Miao� biến mất khỏi c�c văn bản lịch sử.� N� dường như chỉ được phục hồi dưới triều đại nh� Tống (960-1279 Sau C�ng Nguy�n), v� ch�nh trong thời nh� Minh, sau khi nh� Nguy�n đ� th�nh c�ng trong việc chiếm lĩnh Khối N�i Trọng T�m, từ ngữ n�y [Miao] đ� được đề cập một c�ch th�ng thường (Lombard-Salmon 1972: 111; Jenks 1985: 39).� Tuy nhi�n, trong c�c bản văn đ�, vẫn c�n sự hỗn độn về căn cước ch�nh x�c của c�c người m� từ ngữ Miao chỉ định, v� ch�ng ta phải vẫn cẩn thận về gi� trị lịch sử của c�c sự li�n kết ban đầu n�y.

 

������ Giữa c�c thế kỷ thứ 17 v� 18, Trung Hoa đ� trải qua một sự gia tăng d�n số quan trọng từ một trăm triệu l�n hơn ba trăm triệu người.� Với sự trợ lực của ng� (bắp) nhập cảng từ Mỹ Ch�u bởi người T�y Ban Nha, vốn kh�ng đ�i hỏi đất đai ph� nhi�u hay sự dẫn nước tưới ti�u, đa số d�n H�n tại c�c b�nh nguy�n đ� c� thể đối ph� với �p lực d�n số bằng việc tr�o l�n cao hơn tại c�c rặng n�i v� cao nguy�n k�m mầu mỡ hơn của Khối N�i Trọng T�m v� định cư ở c�c nơi m� trước đ�, chỉ c� người D�n Miền N�i (Montagnard)

sinh sống (Cooper 1976: 30-31).� C�ng với việc đ�nh thuế qu� đ�ng, �cuộc x�m lăng� n�y đ� cấu th�nh một trong c�c nguy�n do quan trọng của sự xung đột, với c�c d�n tộc �t người tr�n cao nguy�n cố gắng giữ lại sự tiếp cận với đất đai chống lại ch�nh quyền tập trung h�a của người H�n v� c�c nh� cai trị cấp miền.� Một số d�n tộc �t người đ�p ứng bằng c�ch chỉ việc di cư l�n cao hơn ở c�c rặng n�i của Qu� Ch�u, Tứ Xuy�n, v� V�n Nam.� C�c kẻ kh�c cầm vũ kh� chống lại.� Một số nhỏ rời bỏ Đế Quốc Trung Hoa để t�m nơi ẩn n�u tại c�c rặng n�i trống trải, xa hơn về ph�a Nam nơi m� sau n�y được s�p nhập v�o nhiều Quốc Gia hiện thời của B�n Đảo.� �Trong c�c chiến dịch quan trọng của c�c cuộc nổi dậy v�o c�c năm 1698, 1732, 1794 v� 1855, người M�o ph�n t�n theo mọi chiều hướng, ph�t khởi c�c cuộc chuyển động di d�n của thời kỳ hiện đại (Wiens 1954: 90) 3

 

������ Điều chắn chắn rằng một số người M�o đ� ho�n to�n bị đồng h�a v�o khối đa số người H�n.� Trong số c�c kẻ vẫn c�n độc lập, một mức độ n�o đ� của sự h�n h�a xảy ra t�y v�o cường độ của c�c sự tiếp x�c v� mức độ của sự đề kh�ng văn h�a.� T�c giả Geđes b�nh luận:

 

C�c nh�m người M�o tại Trung Hoa ng�y nay c� thể hiện mức độ tiệm tiến của c�c sự tương đồng với người Trung Hoa về mặt kinh tế, v� ở một mức độ thấp hơn, trong th�i tục văn h�a.� Nhưng ngay cả trong c�c trường hợp c� sự tương đồng nhiều nhất, vẫn c� cảm thức mạnh mẽ về căn cước c�ch biệt được tăng cường đặc biệt bởi kh�ng c� sự kết h�n hợp chủng. (1976: 11)

 

������ Trong c�c thế kỷ đ� của sự tiếp x�c với người H�n, điều c� vẻ x�c thực rằng �t nhất một số nh�m người M�o đ� thực h�nh việc canh t�c tại một chỗ nhất định (Handricourt 1974).� Trong thế kỷ thứ 17, c�c nh� quan s�t tại Trung Hoa b�o c�o c� tr�ng thấy một số khu định cư thường trực, ngay cả c�c th�nh phố, được cư tr� bởi những kẻ c� thể đ� bị đồng h�a với người M�o.� C� c�c c�u chuyện về c�c �ng ho�ng địa phương, sự kh�ng cự về mặt l�nh thổ đối với người H�n, v� c�c sự kh�c biệt về văn h�a với khối người đa số ở v�ng đất thấp.� Tuy nhi�n, c� thể một lần nữa rằng từ ngữ �Miao� đ� được d�ng trong � nghĩa di truyền trước đ�y v� để chỉ một số c�c d�n tộc �t người phi H�n của miền Nam.� C�c nh�m phi-H�n kh�c vẫn c�n hiện hữu tại Miền Nam Trung Hoa vốn đ� định cư ở đ� trong nhiều thế kỷ, r� rệt nhất l� tại V�n Nam (tham khảo Chiao & Tapp 1989: Phần 4).� Một số trong c�c nh�m n�y thể hiện một số n�t tương đồng nổi bật với c�c ph�n nh�m Miao nhưng một cuộc khảo s�t nghi�m chỉnh c�c nghi lễ t�n gi�o v� c�c đặc điểm ngữ học của ch�ng, th� dụ,� mau ch�ng ph�t lộ căn cước phi-M�o.

 

 

C�C SỰ PHẢN KH�NG V�

C�C CUỘC NỔI DẬY

TẠI MIỀN NAM TRUNG HOA

 

������ Qua nhiều thế kỷ, người H�n, M�ng Cổ, v� M�n Ch�u đ� ph�i c�c chiến đo�n đến c�c cao nguy�n bi�n cương ph�a nam.� C�c cuộc viễn chinh n�y thường được gửi đi để b�nh định, cưỡng b�ch sự lệ thuộc, tống tiền hay thu thuế, hoặc chỉ để trấn �p c�c sắc d�n ngoan cố.� Sự kh�ng cự địa phương thường xảy ra v� c�c cuộc phản kh�ng th� nhiều.

 

������ Một trong c�c cuộc nổi đậy được ghi ch�p đầu ti�n của thế kỷ thứ 19 xảy ra v�o năm 1818 khi người Hồi Gi�o chống đối m�nh liệt c�c đội qu�n của Bắc Kinh tại miền Nam.� Tuy nhi�n, phải đợi đến sau năm 1850, v� Cuộc Nổi Dậy Th�i B�nh Thi�n Quốc (1850-1872), được ủng hộ bởi một � thức hệ cứu thế phần n�o vay mượn từ Cơ Đốc gi�o, c�c binh sĩ của đế triều mới thực sự bị đ�nh bại v� hầu hết c�c th�nh phố lớn tại miền Nam đều bị khuất phục bởi qu�n nổi dậy.� Năm 1854, trong c�ng thời kỳ của sự x�o trộn ch�nh trị v� x� hội dữ dội, một cuộc nổi loạn quan trọng kh�c đ� b�ng nổ, bị gọi t�n sai l� của người M�o v� tập trung tại v�ng đ�ng nam Qu� Ch�u (Jenks 1994).� Qu�n nổi loạn, cố thủ tại v�ng n�i non �của họ�, tấn c�ng qu�n M�n Ch�u đồn tr�, c�c quan lại, c�c thương nh�n v� c�c địa chủ Trung Hoa, v� tự li�n minh với C�c Hội K�n (Secret Societies), đặc biệt với tổ chức của Bạch Li�n [Gi�o] (White Lotus).� Khi đ�,

 

Cuộc Nổi Dậy của người theo Hồi Gi�o (1855-1873) khởi sự như một cuộc tranh chấp về c�c đặc nhượng khai th�c hầm mỏ giữa người Hoa theo đạo Hồi v� người H�n Hoa tại V�n Nam.� N� đ� diễn gần như đồng thời với c�c cuộc nổi dậy kh�c đ� b�ng nổ khi thẩm quyền trung ương của [Triều Đ�nh] M�n Ch�u suy sụp, th� dụ, phong tr�o Th�i B�nh Thi�n Quốc, v� c�c cuộc nổi dậy của người M�o.� (Maxwell Hill 1983: 125)

 

������ Cuộc khởi dậy của người theo đạo Hồi (được gọi l� Panthai hay Hui) tại t�y nam đ� kho�c c�c tầm mức quan trọng đến độ trong v�ng v�i năm, n� dẫn dắt qu�n nổi dậy tuy�n c�o một L�nh Địa Hồi Gi�o (Sultanate) độc lập tại Đại L� (V�n Nam).� Qu�n nổi đậy được cung cấp vũ kh� bởi người Anh xuy�n qua Miến Điện, trong khi vi�n kh�m sai triều đ�nh tại V�n Nam v� Qu� Ch�u nhận được kh� giới của m�nh từ người Ph�p xuy�n qua Thượng Hải v�, sau n�y, Hải Ph�ng.

 

������ V� thế ch�ng ta c� thể nh�n thấy rằng trong loạt c�c yếu tố g�p phần v�o sự đối đầu giữa Nh� Nước H�n [? chỉ Trung Hoa, mặc d� khi đ� người M�n Ch�u thống trị Trung Hoa, ch� của người dịch] với c�c d�n tộc �t người tại Khối N�i Trọng T�m v�o cuối thế kỷ thứ 19, đ� c� sự hiện diện của c�c nước thực d�n �u Ch�u tại ph�a Nam của Khối N�i Trọng T�m.� Từ đầu thập ni�n 1860, người Ph�p v� người Anh đang tranh đua để t�m v� sở đắc một lối tiến v�o miền Nam Trung Hoa c�ng c�c thị trường v� c�c t�i nguy�n b�o bở của n�.� Trong c�ng thời kỳ đ�, c�c hiệp ước cho ph�p c�c nh� truyền gi�o đạo Thi�n Ch�a tiến v�o nội địa Trung Hoa, v� bảo đảm sự an to�n cho cả c�c nh� truyền gi�o lẫn c�c kẻ cải đạo (từ 1723 đến 1844 c�c hoạt động của Thi�n Ch�a Gi�o l� phi ph�p).� Tuy nhi�n, triều đ�nh M�n Ch�u chỉ chấp nhận tối thiểu sự x�m nhập t�n gi�o v� thương mại n�y từ ph�a nam bởi c�c ngoại bang v� lấy l�m bực tức nặng nề rằng c�c d�n tộc �t người tr�n l�nh thổ của ch�nh n� được m�c nối bằng c�ch n�y hay c�ch kia với biến chuyển đ�.� Về mặt chiến lược, Bắc Kinh kh�ng c� lựa chọn n�o kh�c ngo�i việc gia tăng sự hiện diện h�nh ch�nh v� qu�n sự của n� tại v�ng bi�n cương ph�a nam: một sự đụng độ kh�ng thể tr�nh khỏi.� Sau v�i thập ni�n giao tranh, c�c tổn thất tổng qu�t về vật chất v� nh�n mạng thật khổng lồ.

 

������ Biến động n�y ảnh hưởng đến to�n thể Miền Nam Trung Hoa.� Với một số nạn chết đ�i v� bệnh dịch truyền nhiễm trong v�ng trong phần lớn hậu b�n thế kỷ thứ 19, n� đ� g�p phần đ�ng kể trong việc đẩy một số D�n Miền N�i (Montagnard) thuộc nhiều nguồn gốc kh�c nhau đi t�m kiếm c�c cơ hội tốt đẹp hơn, xa hơn về ph�a nam v�o B�n Đảo Đ�ng Dương.� Trong số c�c kẻ di chuyển c� c�c th�nh vi�n của d�n tộc �t người Mien, Lahu, Akha, v� người Trung Hoa theo Hồi Gi�o từ V�n Nam, v� một số đ�ng người Hmong, một ph�n chủng của sắc d�n M�o (De Beauclair 1960).

 

NGƯỜI HMONG TẠI B�N ĐẢO

 

������ �Sự di chuyển đ� dẫn người M�o vượt qu� c�c bi�n giới của Trung Hoa l� một bước tiếp nối của một tiến tr�nh xảy ra trong phạm vi Trung Họa (Geddes 1976: 25-26).� C�c đợt li�n tiếp g�p phần v�o việc đặt định c�c con số gia tăng người M�o/Hmong tại nhiều tỉnh miền nam Trung Hoa cũng như tại c�c phần d�n cư thưa thớt của Khối N�i Trọng T�m Đ�ng Nam � được chia sẻ ng�y nay bởi Miến Điện, Th�i Lan, L�o v� Việt Nam.

 

������ Nếu ch�ng ta tin tưởng c�c con số được cung ứng về d�n số người M�o tại Trung Hoa v� người Hmong tại Đ�ng Dương, ch�ng ta phải kết luận rằng chỉ c� một phần nhỏ của nh�m nguy�n thủy đ� muốn hay c� thể đi xuống ph�a nam.� T�c giả Jean Mottin nhận x�t rằng �Trong sắc d�n M�o n�i chung, ch�ng ta nhận thấy chỉ c� độc người Hmong tại c�c nước kh�c [ngo�i Trung Hoa]� [ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ( �Parmi les Miao en g�n�ral, ce sont seulement les Hmong que nous trouvons dans les autres pays [que la Chine]�) (1980: 37).� T�c giả Mottin ước lượng rằng 85% người M�o đ� kh�ng rời khỏi Trung Hoa.� Hậu thuẫn cho nhận x�t n�y l� mật độ giảm dần của người M�o/Hmong khi người ta rời khỏi Qu� Ch�u v� di chuyện xuống miền trung Th�i Lan xuy�n qua miền bắc Việt Nam v� L�o (Michaud & Culas 1997: Bảng 1 v� Bảng 2).

 

������ Đợt đến đầu ti�n của người Hmong tại Đ�ng Dương đ�i khi được n�i c� ni�n đại trở l�i bốn thế kỷ (th� dụ, trong s�ch của Bigot 1938 hay Geddes 1976: 27), đặc biệt tại Bắc Kỳ (Tonkin) trong những trường hợp cổ xưa nhất.� Nhưng kh�ng c� c�c nh�n chứng hay t�i liệu viết n�o từ miền bắc Đ�ng Dương x�c nhận sự hiện diện của họ trước cuối thế kỷ thứ 18.� Trong thực tế, đ� c� sự nhầm lẫn k�o d�i bởi từ ngữ M�n-M�o [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] được d�ng tại Miền Bắc Bắc Kỳ.� Danh từ M�n thường để chỉ ri�ng nh�m sắc tộc Yao (Dao) tại khu vực đ� trong khi danh từ M�o chỉ �p dụng cho người Hmong, hai nh�m kh�c biệt mặc d� c� li�n hệ về mặt ngữ học.� T�c giả Bonifacy (1904a: 825; 1904b: 4) ghi nhận một c�ch x�c đ�ng rằng một số nh�m người Yao đ� sẵn định cư tại thung lũng thượng lưu s�ng L� (Rivi�re Claire) ở Miền Bắc Bắc Kỳ hồi đầu thế kỷ thứ 18.

 

������ Ch�nh trong nửa sau của thế kỷ thứ 19 m� c�c số lượng đ�ng đảo c�c người định cư Hmong di cư từ Tứ Xuy�n, Qu� Ch�u v� V�n Nam, đ� x�m nhập v�o B�n Đảo v� tiến xa xuống ph�a nam đến tận vĩ tuyến thứ 17 gần v�ng Tak tại Th�i Lan, một c�ch đại cương, đi theo một tuyến đường c� hướng Đ�ng Bắc/T�y Nam từ Bắc Kỳ.� Linh Mục Savina, thuộc Hội C�c Ph�i Bộ Truyền Gi�o �[?] hải ngoại của Paris, một trong c�c học giả đầu ti�n về người Hmong, lưu � rằng hồi đầu thế kỷ thứ 20, v�o l�c �ng đang nghi�n cứu về người Hmong tại Bắc Kỳ, �Người M�o [Hmong] tại Bắc Kỳ đều c� nguồn gốc từ V�n Nam, v� những người ở L�o đều c� nguồn gốc từ Bắc Kỳ.� C�c kẻ sau c�ng n�y lu�n lu�n giữ bước tiến của họ về ph�a nam, v� ng�y nay họ đ� vươn tới tận vĩ tuyến thứ 20, tr�n rặng n�i [Trương Sơn của] An Nam�: �Les Miao [Hmong] du Tonkin sont tous originaires du Yun-Nam, et ceux du Laos sont originaires du Tonkin.� Ces derniers pousuivent toujours leur marche vers du sud, et ils ont atteint aujourd�hui le 20e parall�le , sur la chaine annamitique. (1924: VIII) [tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Ngo�i trừ khi chạy trốn ồ ạt khỏi c�c nguy hiểm c� biệt tại Trung Hoa, c�c sự di cư n�y mang h�nh thức c�c gia đ�nh ti�n phong họp nhau lại để c�ng khai quang rừng v� trồng l�a kh�, ng� v� thường cả thuốc phiện.� Khi c�c vấn đề nghi lễ t�n gi�o v� x� hội xuất hiện, hay khi đất đai kh�ng c� năng lực chống đỡ c�c vụ thu hoạch tốt nữa, thường chỉ sau �t năm, nh�m địa phương giải t�n v� c�c gia đ�nh c� thể đi t�m c�c gia đ�nh kh�c đi theo họ v� khai quang c�c mảnh rừng mới, c�n trống.

 

������ C�c t�i liệu phương T�y khả t�n đầu ti�n x�c nhận một sự hiện diện của người Hmong tại B�n Đảo Đ�ng Dương l� từ 1860 khi nhiều ngh�n người �linh� Hei Miao: Hắc Mi�u: m�o Đen (Black Miao) được nh�n thấy tiến v�o Bắc Việt Nam từ V�n Nam.� Người An Nam M�t nhớ lại v� kể cho t�c giả Bonifacy (1904b: 8) về sự bạo động của c�c cuộc đụng độ với c�c người định cư l�u hơn tại thung lũng thượng lưu s�ng L�.� Sau đ� tại L�o, c�c cư d�n tỉnh Xieng Khouang nh�n thấy c�c người Hoa theo đạo Hồi Gi�o � thuộc c�c c�nh Qu�n Cờ Đen, Cờ V�ng, Cờ Trắng v� Cờ Đỏ -- đ�nh nhau tr�n đường xuy�n qua c�c rặng n�i để trốn chạy qu�n H�n từ phương bắc.� C�ng với c�c binh sĩ nổi loạn n�y l� nhiều nh�m sắc tộc Mi�n N�i kh�c nhau, kể cả một số người Hmong.� Trong số người Hmong, nhiều kẻ đ� lựa chọn để định cư tại cao nguy�n ph� nhi�u n�y v� v�o đầu thế kỷ thứ 20, c�c con số kiểm k� d�n số của Ph�p cho thấy c� nhiều ngh�n người trong họ sinh sống quanh Xieng Khouang.

 

������ T�c giả Yang (1975: 7) đ� ước lượng rằng c�c người Hmong đầu ti�n đ� di chuyển v�o L�o trong khoảng 1810-20.� Tuy nhi�n, �ng đ� sử dụng c�c tin tức truyền khẩu thu thập được trong thập ni�n 1970 tại c�c l�ng Hmong v� c�c sự ước đo�n n�y thay đổi đ�ng kể t�y thuộc v�o c�c người cung cấp tin tức.� Người Hmong kh�ng quan t�m đến c�c sự ước đo�n thời gian ch�nh x�c.� Một sự biến đổi như thế c� thể được nhận thấy trong một b�o c�o từ d�ng tộc Lyfoung tại L�o.� Cha của l�nh tụ Hmong nổi tiếng ở L�o, Touby Lyfoung, được n�i đ� đến Nong Het (tỉnh Xi�ng Khouang) năm 1875 khi �ng đo�n tụ với người c� l� kẻ đ� từng sinh sống ở đ� �trong nhiều năm�.� Một kẻ cung cấp tin tức kh�c l� l�nh tụ theo truyền thống người Th�i Trắng (White Tai) tại Bắc Kỳ, �ng Đ�o Văn Tr�, kẻ đ� tuy�n bố trong năm 1903 rằng �ng c� chứng kiến sự th�ng h�nh của người Hmong xuy�n qua l�nh địa của �ng tr�n đường sang L�o:

 

������ �Đến năm 1848, khi t�i 15 tuổi, t�i nhớ c� nh�n thấy xứ sở của m�nh bị tr�n ngập bởi người M�o (tức Qu�n Cờ Trắng) đ�n từ Tứ Xuy�n (Trung Hoa).� Họ l�m x�o trộn sư, b�nh y�n của xứ sở, nhưng ngừoi cha đ�ng k�nh của t�i, �ng Đ�o văn Sinh hay Cầm Sinh đ� chấm dứt t�nh trạng đ� bằng việc thỏa thuận với họ v� cho ph�p họ quyền tự do để tự định cư tại nơi m� họ muốn ở tr�n c�c cao nguy�n trong v�ng [của Sip Song Chau Tai (?)�: Vers 1848, alors que j�avais 15 ans, je me rappelle avoir vu mon pays envahi par les M�os (dits Pavillions Blancs) venant du Setchuen (Chine).� Ils troubl�rent la tranquilit� du pays; mais mon honorable p�re Đ�o Văn Sinh ou Cầm Sinh finit par s�entendre avec eux et leur donner la libert� de s��tablir �u ils le voulaient sur les hauts plateaux de la region [of Sip Song Chau Tai [?]].� (Raquez & Cam 1904: 257)[tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].

 

������ Tại Xi�m La, sự hiện diện của c�c khu định cư Hmong đ� kh�ng được ghi th�nh văn kiện trước c�c năm cuối c�ng của thế kỷ thứ 19.� Một nh� địa dư học Anh Quốc c� viết rằng �ng đ� nh�n thấy trong năm 1880 tại tỉnh Nan Province: �C� h�ng ngh�n người xuất cảnh từ Sip Sawng Panna [V�n Nam, Trung Hoa], v� Khamus từ Luang Prabang, v� một d�n số gia tăng trong người M�o v� Yao� (McCarthy 1895: 71).� Một nguồn tin kh�c n�u � kiến rằng sự đến nơi của người Hmong tại Miền Bắc Xi�m La c� ni�n đại từ 1885 (Geddes 1976: 29).� Sau đ� sự ph�n t�n của họ tại v�ng đ� được x�c nhận tại c�c miền Phitsanulok v� Lomsak bởi t�c giả Robbins (1928), kẻ đ� nh�n thấy hai khu định cư như thế ở c�c ngọn n�i đ� trong Th�ng Một 1928.� Trong năm 1829, c�c khu định cư người Hmong cũng được nh�n thấy ở v�ng Tak, 300 c�y số t�y bắc Bangkok (Credner 1935: 289, trong Crooker 1986).� Trong năm 1992, c� nh�n t�i c� thu thập tin tức từ nhiều người gi� l�o Hmong tại một khu định cư ở khu vực Chiang Dao (tỉnh Chiang Mai) l� c�c kẻ đ� tuy�n bố rằng cha của họ đ� sẵn ở trong v�ng 85 năm về trước, đ�nh dấu sự đến nơi của họ l�i lại m�i đến năm 1908.

 

������ T�c giả Jacques Lemoine (1972: 18) đ� vạch ra rằng c� một sư tương đồng ngữ học rất gần nhau giữa hai thổ ngữ Hmong được n�i tại Th�i Lan (Hmong Trắng v� Lục) � địa điểm xa nhất từ nguồn gốc nguy�n thủy trong cuộc di cư của người Hmong ở Qu� Ch�u � với tiếng Tch�ouan Ts�ien Tien, một thổ ngữ Trung Hoa miền nam.� Gần đ�y hơn, t�c giả Ratliff (1992) ghi lại chi tiết c�c sự tương đồng giữa ng�n ngữ Hmong v� c�c ng�n ngữ Trung Hoa hiện đại v� cổ thời tại V�n Nam.� Ch�nh nhờ đ�, trong khi khảo s�t sự lan tỏa về mặt địa dư của c�c ng�n ngữ Hmong trong v�ng, điều c� thể nh�n thấy rằng giữa miền nguồn gốc người M�o/Hmong tại Qu� Ch�u v� nơi vươn đến cuối c�ng tại Miền Trung Th�i Lan, c�c con đường di cư đi ngang qua Miền Đ�ng V�n Nam, Bắc Việt Nam, Bắc L�o, v� sau đ�, cao nguy�n Th�i Lan. 4

 

 

C�C ĐỘNG CƠ TH�C ĐẨY KH�C ĐỂ DI CƯ

 

������ Ch�ng ta nh�n thấy rằng c�c nguy�n nh�n ch�nh trị đ� l� một chất x�c t�c ch�nh yếu cho sự di cư xuống phương nam.� C�c thế kỷ thứ 19 v� 20 l� một thời khoảng x�o trộn tại Trung Hoa v� Đ�ng Nam �.� Tuy nhi�n, khi ghi nhận rằng �� nếu một l�nh thổ mới xuất hiện trước mặt [người M�o], sự di cư của họ được x�c tiến t�y theo c�c tiềm năng của n� (Geddes 1976: 29), Geddes nhấn mạnh rằng c�c yếu tố l�i k�o cũng l� một động lực ch�nh yếu cho người Hmong tiến v�o B�n Đảo.� Về mặt n�y, trường hợp người Hmong tại Th�i Lan được soi s�ng đặc biệt.� Nh�m n�y đến từ L�o nơi được tin rằng kh�ng mối nguy hiểm cụ thể n�o đe dọa họ, �t nhất kh�ng lớn đủ để giải th�ch việc họ di chuyển cho đến nay v�o l�nh thổ Xi�m La.� C�c nguy�n nh�n tổng qu�t cho sự di cư c� biệt n�y l� đất đai nhiều hứa hẹn v� thưa d�n sắp sửa được t�m thấy trong sự truy l�ng c�c khu đất hoang mới để l�m rẫy (swiddens).

 

������ Đi�u xem ra cũng quan hệ để đề cập một yếu tố kh�c đ� g�p phần v�o sự di cư của người Hmong, mặc d� yếu tố n�y hiếm khi được n�i đến trong c�c cuộc nghi�n cứu lịch sử về c�c d�n tộc �t người trong v�ng.� Yếu tố n�y li�n hệ trực tiếp đến việc trồng v� b�n thuốc phiện, một hoạt động đ� đ�i hỏi một phần đ�ng kể năng lực của nh�m v� sự sản xuất nặng về nh�n lực cho m�i đến thời gần đ�y.� Ch�ng ta h�y khảo s�t trước ti�n c�c căn nguy�n của vấn đề.� Bởi c� sự tiếp thị c�c khối lượng to lớn về thuốc phiện tại Trung Hoa, trước ti�n bởi người Bồ Đ�o Nha trong thế kỷ thứ 18 v� sau đ� bởi người Anh v� người Ph�p l� c�c nước sẵn l�ng n�ng cao c�c lợi nhuận để hỗ trợ nỗ lực thực d�n ở địa phương, một mức độ cao của sự ti�u thụ thuốc phiện đ� được vươn tới tại Trung Hoa trong thế kỷ thứ 19 (15 triệu người Trung Hoa nghiện thuốc phiện trong năm 1870 theo t�c giả McCoy 1989: 63).� Chiều hướng n�y được kh�ch lệ một c�ch đ�ng kể v� được duy tr� một c�ch kh�o l�o bởi người Anh l� c�c kẻ c� thể trồng c�c c�y nha phiến tại Bengal v� sau đ� đem ph�n phối xuy�n qua mạng lưới của C�ng Ty Đ�ng Ấn Độ đ� được ph�t triển khắp � Ch�u trong c�c thế kỷ thứ 18 v� 19 (McCoy 1989: 60).� Ngay từ đầu thế kỷ thứ 18, c�c nh� l�nh đạo Trung Hoa đ� lo �u về ng�nh mậu dịch gia tăng n�y v� sự mất m�t khổng lồ về lợi tức m� sự nhập cảng ri�ng h�ng ngh�n tấn thuốc phiện nguy�n liệu bao h�m.� Dần d�, do bởi phần vốn liếng đặt cọc cao đến thế, c�c đối thủ ch�nh đ� tiến đến việc đụng độ trong diễn biến được gọi l� C�c Cuộc Chiến Tranh Nha Phiến (1838-1842 v� 1856-1858).� Theo sau Hiệp Ước Nam Kinh năm 1842, Trung Hoa bị buộc phải cho ph�p c�c người �u Ch�u v� Mỹ được thiết lập c�c cơ sở mậu dịch tại một số vị tr� tr�n bờ biển Trung Hoa v� bu�n b�n gần như tự do với thị trường Trung Hoa khổng lồ.� Giải ph�p c�n lại để người Trung Hoa cạnh tranh được với c�c kẻ x�m nhập khi đ� l� th�c đẩy v� hỗ trợ sự sản xuất thuốc phiện trong phạm vi l�nh thổ của ch�nh họ, điều m� c�c nh� chức tr�ch trung ương đ� mau ch�ng t�m c�ch thực hiện.� C�c d�n số sinh sống tại c�c khu vực th�ch hợp cho sự sản xuất n�y, căn bản l� c�c v�ng n�i v� cao nguy�n ở ph�a nam, khi đ� bị �p lực để trồng c�c c�y nha phiến v� sản xuất nguy�n li�u thuốc phiện sẽ được b�n cho c�c nh�n vi�n ch�nh phủ, để được điều chế v� đem b�n tr�n thị trường trong nước.� Một c�ch mỉa mai, nhiều người trong số c�c nh� sản xuất n�y cũng bị th�c đẩy v�o c�ng hoạt động bởi người Ph�p v� người Anh, c�c kẻ đ� c� thể vươn tới c�c phần ph�a nam của Khối N�i Trọng T�m xuy�n qua c�c thung lũng dẫn l�n hướng bắc từ Miến Điện v� Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� C�c d�n tộc �t người v�ng cao nguy�n tại miền nam Trung Hoa khi đ� bị kẹt trong cuộc cạnh tranh dữ dội của c�c thế lực nằm b�n ngo�i kinh nghiệm, sự hiểu biết ch�nh trị v� c�c khả năng qu�n sự của họ.� Tại địa phương, hiểu được tiềm năng b�o bở của ng�nh bu�n b�n mới n�y v� nhận thấy được sự cạnh tranh giữa Trung Hoa v� c�c nước �u Ch�u, người Hmong c� gắng thu lợi nhiều nhất v� mau ch�ng bước xuống con đường dẫn đến chiến tranh kinh tế với chinh quyền Trung Hoa.� C�c cuộc phản kh�ng v� nổi dậy bạo động l�m rung chuyển miền nam của xứ sở trong hậu b�n thế kỷ thứ 19 v� c�c l�n s�ng di cư tiếp nối khi đ� c� thể được nối kết, �t nhất phần n�o, v�o � ch� mạnh mẽ để giữ sự kiểm so�t tr�n việc sản xuất v� rao b�n thuốc phiện.

 

������ Hơn nữa, c�c cuộc nghi�n cứu lịch sử v� d�n tộc học gần đ�y đ� soi s�ng rằng một yếu tố quan trọng trong quyết định di cư v� sự lựa chọn v�ng đất để ti�n phong l� mối quan hệ đặc biệt giữa người Hmong v� nh�m d�n lữ h�nh người Hoa theo đạo Hồi Gi�o, nh�m d�n Haw (Hui: Hồi).� Nguy�n thủy từ V�n Nam, d�n Haw trong thời gian d�i l� c�c nh� cung cấp duy nhất muối v� kim loại cho người Hmong cũng như một số ti�u thụ phẩm.� C�c m�n h�ng n�y được trao đổi để lấy c�c c�y thuốc v� dược liệu Trung Hoa.� Mối quan hệ truyền thống n�y tiến tới việc bao gồm sản phẩm sinh lợi nhất, thuốc phiện, ch�nh v� thế, đ� c� thể t�m thấy một đường lối dễ d�ng b�n ngo�i c�c l�ng x�.� Mậu dịch lưu động, l� điều rất �t được biết đến, đi theo c�c tuyến đường cổ điển trong nhiều thế kỷ đ� nối liền c�c th�nh phố thuộc v�ng s�u xa của Trung Hoa như C�n Minh, Đại L�, Jinghong, v� Th�nh Đ�, với c�c trạm mậu dịch đường biển v� c�c thủ đ� như Moulmein, Ayutthaya v� Bangkok, cũng như Vinh v� H� Nội tại bắc phần Việt Nam.� Ba mươi năm trước tại L�o, cũng như tại Việt Nam, người Hmong lớn tuổi vẫn c�n nhớ về c�c cuộc du h�nh của họ với nh�m d�n lữ h�nh Haw v�o cuối thế kỷ thứ 19, kh� thường xuy�n với tư c�ch c�c người chăm s�c cho c�c con ngựa v� con lừa chất đầy vải v�c, muối v� thuốc phiện.� Một số người cho hay rằng họ đ� th�m hiểm c�c v�ng đất trống v� ph� nhi�u mới như cao nguy�n Trấn Ninh tại L�o v� v�ng n�i ph�a bắc tỉnh Nan ở Th�i Lan.� Ch�nh v� thế đ� c� c�c khả t�nh cung cấp cho c�c kẻ muốn di chuyển, v� sự di cư của người Hmong về hướng t�y nam kh�ng phải đ� được thực hiện một c�ch m� qu�ng.� Một sự kết hợp của đất rừng khả ứng v� ph� nhi�u với một sự gần gủi với một lộ tr�nh lữ h�nh của người Haw th� th�ch hợp một c�ch to�n hảo cho cả việc chạy tho�t khỏi cơn phẫn nộ của người H�n hay chỉ để t�m kiếm sự may mắn ở nơi xa x�i hơn.

 

 

SỰ QUAN T�M CỦA GIỚI HỌC GIẢ

 

VỀ NGƯỜI M�O/HMONG

 

(CHO TỚI THẬP NI�N 1970)

 

������ Chỉ c� c�c nh� truyền đạo Thi�n Ch�a v� �t nh� th�m hiểm Anh v� Ph�p, khi t�m kiếm c�c đường lối để x�m nhập v�o nội địa Trung Hoa, l� đ� c� thể đến thăm viếng người M�o/Hmong tại Trung Hoa.� Tại Đ�ng Nam � đại lục, ngay từ cuối thế kỷ thứ 19, người Hmong đ� l� đề t�i của sự ch� � r� rệt từ c�c binh sĩ, c�c nh� truyền gi�o, c�c nh� h�nh ch�nh, c�c nh� th�m hiểm, v� sau n�y, c�c nh� nghi�n cứu gốc �u Ch�u.� Sự ch� � r� rệt n�y về ph�a người T�y Phương đối với c�c x� hội Người Miền N�i trong v�ng, ph� hợp với c�c bước tiến đầu ti�n của nh�n chủng học v� d�n tộc học như c�c ng�nh học thuật khoa học v� nhất thiết đ� phục vụ cho mối bận t�m với sự hấp dẫn hương xa.

 

������ C�c quyển s�ch, c�c b�i viết, v� c�c b�t k� viết về D�n Miền N�i th� nhiều từ thời ban sơ của thế kỷ thứ 20.� C�c nh� quan s�t T�y Phương khi đ� nhận ra được n�t đặc th� về ng�n ngữ v� văn h�a mong manh của c�c d�n tộc �t người n�y được gắn v�o c�c kh�ng gian x� hội rộng lớn hơn, chẳng hạn như tại Việt Nam v� Trung Hoa.� Trong trường hợp người M�o/Hmong, c�c cuộc nghi�n cứu đầu ti�n về c�c phong tục v� ng�n ngữ đ� được ấn h�nh trong c�c thập ni�n 1870 (Edkins 1870), 1880 (Broumton 1881) v� 1890 (Lef�vre-Pontalis 1892).� Đ�y l� những bước tiền đầu ti�n của khoa d�n tộc học tổng qu�t v� sự thu thập c� hệ thống c�c dữ liệu về văn h�a Hmong, trong khi sự nghi�n cứu v� ph�n t�ch sự tổ chức x� hội, t�n gi�o v� huyền thoại học đ� phải chờ đợi m�i đến thập ni�n 1960 trước khi khởi sự b�ng nổ thực sự.

 

������ Sau Thế Chiến Thứ Nh� sự quan t�m quốc tế về người Hmong ở Đ�ng Nam � đ� bắt đầu ph�t khởi, v� sự nghi�n cứu tại hiện trường đ� được thực hiện tr�n một quy m� ng�y c�ng lớn rộng, ch�nh yếu tại L�o v� Th�i Lan v�, trong c�c t�nh huống kh�c lạ, tại miền bắc Việt Nam cho đến năm 1954.� Bắc Kỳ, dưới ảnh hưởng của Việt Minh, t�ch rời khỏi Đ�ng Dương thuộc Ph�p v� tuy�n bố Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a l� một nước độc lập hồi năm 1945, đ�ng cửa với phần lớn c�c nh� quan s�t sau hội nghị Geneva năm 1954.� Trung Hoa, sau sự xuất hiện của chế độ Cộng Sản năm 1949, đ� phản ứng tương tự đối với T�y Phương.� Mặt kh�c, Th�i Lan ch�o đ�n r� r�ng �sự trợ gi�p� của Thế Giới Thứ Nhất v� c�c nh� nghi�n cứu của n�.� Trong thời kỳ n�y, L�o vẫn c�n bị giằng co giữa c�c l� tưởng của chế độ qu�n chủ v� chủ nghĩa cộng sản trong nhiều năm, v� phần lớn l�nh thổ của n� đ� kh�ng an to�n cho c�c học giả T�y Phương.� Với C�c Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương, giữa c�c năm 1946 v� 1975, v� cuộc xung đột Trung Hoa � Việt Nam năm 1979, điều trở n�n r� r�ng rằng c�c diễn biến quốc tế đ� t�c động đến c�c tr� d�n rừng r� tại c�c n�i non của họ, buộc họ phải chọn phe v�, t�y thuộc v�o kẻ chiến thắng cuộc đấu tranh d�n tộc, phải chịu đựng c�c hậu quả nếu họ lựa chọn sai.

 

������ Trong thập ni�n 1960, nhiều nh� nghi�n cứuT�y phương nhận thấy m�nh quan t�m đến việc t�m hiểu đặc biệt c�c d�n tộc �t người tr�n cao nguy�n.� Nhiều định chế T�y Phương đ� cung cấp cho c�c nh� nghi�n cứu n�y sự yểm trợ t�i ch�nh đ�ng kể mặc d� phải n�i, kh�ng phải l�c n�o cũng với c�c � định thuần khiết nhất (xem Wakin 1992).� Ch�nh v�o thời cuối của thập ni�n 1960, c�c t�c giả Lebar, Hickey v� Musgrave, với sự trợ gi�p của Hanks and Smalley trong số c�c tổ chức, đ� c�ng bố c�ng tr�nh đồ sộ nhan đề Ethnic Groups of Mainland of Southeast Asia (1964) được ấn h�nh bởi American Human Relations Area Files v� Peter Kunstadter, được trợ gi�p nổi bật nhất bởi Moerman, Mandorff, Hickey, Geddes v� Barney, đ� bi�n tập bộ hai quyển kh�ng k�m phần đồ sộ, nhan đề Southeast Asian Tribes, Minorities and Nations (1967) được ấn h�nh bởi Princeton University Press.� Ngo�i c�c nh� nghi�n cứu n�y vốn quan t�m đến to�n v�ng như một tổng thể, c� thể bổ t�c c�c học giả kh�c điều tra một c�ch c� biệt v�o một miền đặc biệt, như Mor�chand (1968), Lemoine (1972), Yang (1975), Bertrais (1977) v� Mottin (1978) tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p trước đ�y, hay Keen (1966), Binney (1968), Walker (1970) v� Dessaint (1971) tại Th�i Lan.

 

������ Sau nhiều năm tự c� lập v� từ chối kh�ng cho c�c học giả ngoại quốc quyền để đi đến n�i đồi của họ -- trong khi Th�i Lan vẫn mở rộng cửa gần như kh�ng c� hạn chế n�o cả -- Việt Nam v� L�o hiện giờ đang tiến v�o thời đại hậu x� hội chủ nghĩa v� tỏ ra sẵn l�ng hơn để khởi sự cuộc nghi�n cứu hợp t�c với người ngoại quốc về Người D�n Miền N�i.� Cơ hội n�y phải được nắm lấy.� N� c� nghĩa một cơ may độc nhất sau rốt, để điều tra tại hiện trường lịch sử d�n tộc của người Hmong v� của mọi x� hội D�n Miền N�i tại phần đất n�y của Khối N�i Trọng T�m.� Với nhịp hiện tại của sự canh t�n h�a v� h�a nhập văn h�a của người d�n cao nguy�n theo c�c đường n�t của d�n đồng bằng, với tiến tr�nh định cư h�a cưỡng b�ch xảy ra trong c�c thập kỷ qua, c�ng t�c n�y trở n�n khẩn cấp nếu ch�ng ta muốn thu thập những g� c�n lại trong truyền thống của c�c người di d�n muộn m�ng, sống s�t dai dẳng v� c�ng l�c, dễ bị x�m hại một c�ch cực đoan, từ bi�n cương Trung Hoa./-� ��������

 

 

_____

 

CH� TH�CH:

 

1. B�i viết n�y nguy�n thủy được tr�nh b�y trong hội nghị thường ni�n của Hội Nghi�n Cứu Đ�ng Nam � (Association for South-East Asian Studies) tại Vương Quốc Thống Nhất Anh, ở trường School of Oriental and African Studies thuộc Đại Học University of London, hồi Th�ng Tư 1996.

 

2. Bất kể sự nối kết lịch sử v� phần nhiều kh�ng biện minh được của từ ngữ trong tiếng Ph�p, �montagnard: d�n miền n�i� với c�c nh�m d�n thiểu số v�ng cao nguy�n rất c� biệt tại Trung Phần Việt Nam, từ ngữ tự chọn để c� nghĩa nguy�n thủy ở đ�y l� �d�n miền n�i�, m� kh�ng c� � kiến ri�ng tư n�o kh�c.

 

3. Cũng xem sự ph�n t�ch lịch sử của c�c cuộc nổi dậy n�y trong s�ch của Lombard-Slamon (1972: IV).

 

4. Lemoine (1972: 18) v� Michaud (1994: Phần 4) đều c� gặp người Hmong n�i rằng họ đến từ Miến Điện tại tỉnh Chiang Mai, Th�i Lan; Young (1962: 37) cũng đề cập đến c�ng sự kiện n�y.� Bernatzik (1970) đề cập trong năm 1947 về một cuộc kiểm k� d�n số 1931 cho hay c� 830 người Hmong khi đ� sinh sống tr�n l�nh thổ Miến Điện.� Tuy nhi�n, c�c số th�ng k� về người Hmong tại Miến Điện ng�y nay kh�ng được cung cấp.

 

-----

 

T�I LIỆU THAM KHẢO:

 

Badie, M. Lt-Col. (1924) Les Races du Haut-Tonkin de Phong-Tho � Lang Son.� Paris, Ancienne Maison Challemel.

 

Bernatzik Hugo Adolf (1970) Akha and Miao: Problems of Apllied Ethnography in Further India.� New Haven, phi�n dịch H. R. A. F. Press, 2 quyển [ấn bản nguy�n thủy 1947, Akha und Meau, Innsbruck, Wargnerische Universitats-Buchdruckerei]

 

Bertrais, Yves (1977) Le Mariage traditionnel chez les Hmong blancs du Laos et de la Thailande.� Chiang Mai.

 

Bigo, A. (1938) Ethnologie sommaire de l�Indochine franҫaise.� L�Indochine franҫaise (Hanoi), November.

 

Binney, George A. (1968) The Social and Economic Organisation de Two White Meo [Hmong] Communities in Northern Thailand.� Luận �n Tiến Sĩ chưa được ấn h�nh, Wildlife Management Institute, Washington D. C., Advanced Research Projects Agency (Department of Defense).

 

Bonifacy, August Louis-M, Lt-Col (1904a) Les groups ethniques de la Rivi�re Claire, Revue Indo-Chinoise, (30 June): 813-828.

 

Bonifacy, August Louis-M, Lt-Col (1904b) Les groups ethniques de la Rivi�re Claire, Revue Indo-Chinoise, (15 July): 1-16.

 

Broumton, C. (1881) A Visit to the Miao-Tze tribes of South China, London: Proceedings of the Royal Geographic Society.� No. 3

 

Chiao Chien and Tapp, Nicholas (1989) Ethnicity and Ethnic Groups in China.� Hong Kong, The Chinese University of Hong Kong, (Special issue on the New Asia Academic Bulletin Vol. VIII)

 

Cooper, Robert G. (1976) Resource Scarcity and the Hmong Response: A Study of Settlement and Economy in Northern Thailand.� Luận �n Tiến Sĩ, University of Hull.

 

Crooker, Richard A. (1986) Opium Production in Northern Thai: A Geographical Perspective.� Luận �n Tiến Sĩ chưa ấn h�nh, Geography, University of California, Riverside.

 

De Beauclair, Inez (1960) A Miao Tribe of Southeast Kweichow and its cultural configuration.� Bulletin of the Institute of Ethnology, Acamedia Sinica No. 10, c�c trang 127-205.

 

Dessaint, William Y., Dessaint, Alain Y. (1982) Economic Systems and Ethnic Relations in Northern Thailand: 72-85, trong s�ch bi�n tập bởi A. R. Walker, Studies of Ethnic Minority Peoples, Contributions to Southeast Asian Ethnography No. 1.

 

Edkins, J. (1870) The Miao Tsi Tribes: Their history, The Chinese Recorder and Missionary Journal 3: 33-36, 74-76.

 

Geddes, William Robert (1976) Migrants of the Mountains: The Cultural Ecology of the Blue Miao (Hmong Njua) of Thailand.� Oxford: The Claredon Press.

 

Haudricourt, Andr� Georges (1974) Le nom du champ sur brulis et le nom de rizi�re irrigu�e, �tudes Rurales, 53-56: 467-471.

 

Jenks, Robert Darrah (1994) Insurgency and Social Disorder in Guizhou.� The �Miao� Rebellion 1854-1873.� University of Hawai�i Press.

 

Jenks, Robert Darrah (1985).� The �Miao� Rebellion 1854-1872: Insurgency and Social Disorder in Kweichow during the Taiping Era.� Luận �n Tiến Sĩ kh�ng ấn h�nh.� Harvard University.

 

Keen, F. G. B. (1966) The Meo of North-West Thailand: A Problem of Integration.� Luận �n Cao Học chưa được ấn h�nh.� Victoria University of Wellington (N. Z.)

 

Kunstadter, Peter, bi�n tập, (1967) Southeast Asian tribes: Minorities and Nations.� Princeton, New Jersey, Princeton University press, một bộ gồm 2 quyển.

 

Lebar, F. M., Hickley, G. H. & Musgrave, J. K. (đồng bi�n tập) (1964) Ethnic Groups of Mainland Southeast Asia.� New Haven: Yale University Press, H. R. A. F.

 

Lef�vre-Pontalis, Pierre (1892) Notes sur quelques pupoplations du nord de l�Indo-Chine.� Journal Asiatique 8: 237-269.

 

Lemoine, Jacques (1972) Un Village Hmong Vert du Haut Laos.� Milieu Techniques et organization sociale, Paris, �d. Du C. N. R. S.

 

Lin, Yueh-Hwa (1940) The Miao-Man Peoples of Kweichow.� Luận �n Tiến Sĩ chưa được ấn h�nh,� Anthropology, Harvard University.

 

Lombard-Salmon, Claudine (1972) Un exemple d� acculturation chinoise: la provine du Guizhou au XVIII� si�cle.� Publication de l��cole Franҫaise d�Extr�me-Orient Vol. LXXXIV.

 

Lunet de Lajonqui�re, �mile Cdt. (1906) Ethnographie du Tonkin Septentrional.� Hanoi-Paris, E. Leroux.

 

Maxwell Hill, Ann (1983) The Yunnanese [Haw]: Overland Chinese in Northern Thailand, trong s�ch đồng bi�n tập bởi McKinnon J. v� Bruksasri W., Highlanders of Thailand.� Kuala Lumpur, Oxford University Press, c�c trang 123-134.

 

McCarthy, James (1895). An Englishman�s Siamese Journal 1899-1893.� Report of a Survey of Siam, ấn h�nh v� danh tại London, 1895, lưu h�nh ri�ng tư [in lại bởi Siam Media International Books (kh�ng ghi nhật kỳ xuất bản)].

 

McCoy, A. W., với sự cộng t�c của Read, C. B. v� Adam III, L. P. (1989) The Politics of Heroin in Southeast Asia.� Singapore, Harper Torchbooks.

 

Michaud, Jean (1994) R�sistance and Flexibilit�.� Le changement social et le tourisme dans un village hmong de Thailande.� Luận �n Tiến Sĩ chưa được ấn h�nh về Nh�n Chủng Học (Anthropology) Universit� de montreal (Canada).

 

Michaud, Jean & Culas, Christian (1997) Les Hmong de la peninsule Indochinoise.� Histoire et migrations.� Les Cahiers des Sciences humaines � ORSTOM 3 (juillet-aout)

 

Mor�chand, Guy (1968) Le chamanisme des Hmong, Bulletin de l��cole Franҫaise d�Extr�me-Orient, 54 (XII): 53-294.

 

Mottin, Jean (1978) El�ments de grammaire Hmong Blanc.� Bangkok, Don Bosco Press.

 

Mottin, Jean (1980) History of the Hmong.� Bangkok, Odeon Store.

 

Panikkar, K. M.� (1957) L�Asie et la domination occidentale du XVe si�cle � nos jours.� Paris, Seuil (phi�n dịch từ tiếng Anh bởi P & E. Bolo, 1953).

 

Raquez, A. & Cam (bi�n tập bởi) (1904) M�moires de Đ�o Văn Tr�, Revue Indochinoise.� (31 aout), No. 4: 256-275.

 

Ratliff, Martha (1992) Meaningful Tone: A Study of Tonal Morphology in Compounds, Form Classes, and Expressive Phrases in White Hmong.� Center for Southeast Asian Studies, Monograph Series on Southeast Asia,Special Report No. 27, Northern Illinois University.

 

Robbins, L. J. (1928)� Hill Routes between Pitsanuloke and Lomsak, Journal of the Siam Society.� 22 (2): 81-94.

 

Savina, Franҫois Marie (1924) Histoire des Miao.� Hong Kong, Ipm. Des Missions �trang�res.

 

Schurmann, Franz & Orville, Schell (đồng bi�n tập) (1972) Imperial China.� Harmondsworth (U. K.), Penguin Books.

 

Teng, Ssu Yu (1971) The Taiping Rebellion and the Western Powers: A Comprehensive Survey.� Taipei, Rainbow-Bridge.

 

Wakin Eric (1992) Anthropology Goes to War.� Professional Ethics and Counterinsurgency in Thailand.� Madison (USA): University of Wisconsin, Center for Southeast Asian Studies, Monograph no. 7.

 

Walker, Anthony R.� (1970) Lahu Nyi (Red Lahu) Village Society and Economy in North Thailand.� Bộ gồm 2 quyển.� Chiang Mai, Tribal Research Centre.

 

Wiens, Herold (1954) China�s march into the tropics.� Emden (Conn.): Shoe String Press.

 

Yang, Dao (1975) Les Hmong du Laos face au d�veloppement.� Vientiane, Siao Savath.

 

Young, O. Gordon (1962) The Hill Tribes of Nortrhern Thailand.� Bangkok, The Siam Society.

 

Zhao, Yuchi v� c�c t�c giả kh�c (1985) Clothing and Ornements of China�s Miao People.� Beijing, Nationality Press.�

 

 

 

T�c giả, Ti�n Sĩ Jean Michaud, l� Ph� Gi�m Đốc, Ban Đ�ng Nam � Học, Đại Học University of Hull, Hull, HU6 7RX, United Kingdom.� E-mail: J.Michaud@seas.hull.ac.uk

 

Nguồn: Jean Michaud, From Southwest China into Upper Indochina: an Overview of Hmong (Miao) Migrations, Asia Pacific Viewpoint, Vol. 38,� No. 2, August 1997, c�c trang 119-130.

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

05.12.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011