John K. Whitmore

University of Michigan

 

T�N GI�O V� NGHI LỄ

TẠI C�C TRIỀU Đ�NH

CỦA ĐẠI VIỆT

 

 

Ng� Bắc dịch

 

DẪN NHẬP

 

 

������ Xem t�n gi�o đơn giản như sự tương t�c của thi�n nhi�n v� si�u nhi�n, khi đ� đ�u l� vị tr� của quốc gia trong mối tương quan n�y? Nghi lễ đứng ở điểm mấu chốt trong vị thế t�n gi�o của quốc gia, tụ hội lại với nhau c�c th�nh tố vật thể của t�n gi�o, hệ thống t�n ngưỡng của giới tinh hoa quốc gia, v� vũ trụ như họ nhận thức về n�.

������ Sự giao tiếp của nh� nước v� t�n gi�o tại c�c v�ng đất của Đ�ng Nam � đ� chứng kiến sự tổng hợp của vũ trụ v� t�n gi�o (vũ trụ vĩ m�: macrocosmos) v� vũ trụ vi m� (microcosmos) quay trở về một trạng th�i ph�n đ�i trước đ�y) trong đ� cấu tr�c ch�nh trị của quốc gia ăn khớp với cấu tr�c được nhận thức về vũ trụ.� Điểm m� tại đ� hai cấu tr�c n�y nối liền nhau l� nghi thức được cử h�nh bởi nh� cai trị v� c�c chuy�n vi�n nghi lễ của nh� cai trị v� c� nghĩa đại diện cho vũ trụ tại địa phương.� N�i theo chữ nghĩa của Geertz (Geertz, 1980), điều n�y tạo ra �Nh� Nước S�n Khấu� v� �Trung tTm Mẫu Mực� (Exemplary Center)�, nhưng nghi thức n�y kh�ng phải chỉ c� t�nh chất tr�nh diễn kh�ng th�i, n� l� kiến tr�c của to�n thể, t�nh nhất thể của sự s�ng tạo, cho d� được địa phương h�a.

������ Trong thời đại tổ chức của v�ng, từ thế kỷ thứ ch�n đến mười bốn, nghi lễ như thế c� khuynh hướng sẽ được cử h�nh trong, tr�n, hay quanh c�c đ�i tưởng niệm vĩ đại v� đ� l� điểm then chốt của sự tương t�c giữa nh� nước v� t�n gi�o, ngay d� khi kinh tế của cộng đồng t�n gi�o c� trợ lực v�o việc ổn định h�a ch�nh thể.� N� tạo th�nh c�i d� ch�m b�n tr�n v� kết buộc lại với nhau nhiều đia phương rải r�c của mạn-đ�-la [mandala: nguy�n nghĩa trong tiếng Phạn chỉ v�ng tr�n, c� nơi dịch l� lu�n vi�n cụ t�c, l� �sự tượng trưng được sắp đặt c� hệ thống cho vũ trụ, biểu trưng ch�nh yếu bởi một cấu h�nh đồng t�m của c�c h�nh thể h�nh học, mỗi h�nh thể n�y chứa đựng một h�nh ảnh của một vị thần hay một điều g� biểu trưng cho một vị thần, ch� của người dịch].� Trong thời ban sơ hiện đại, với ch�nh thể được quản trị một c�ch chặt chẽ hơn, ti�u điểm nhiều phần sẽ l� c�c kinh s�ch v� một � thức hệ lan truyền trong x� hội đ� chế ngự sự giao tiếp nh� nước/t�n gi�o (Lieberman, 2003). �Song nghi lễ triều đ�nh vẫn tiếp tục trong nỗ lực của n� nhắm v�o sự kết hợp v� biểu lộ vũ trụ.� Trong thời hiện đại, dường như nghi thức v� lễ lạc vẫn c�n cần thiết, tuy nhi�n đ� được cắt rời khỏi c�c chủ đề vũ trụ.� Hiện c� một ước muốn li�n tục cho một �nhất thể: oneness�:, nhưng giờ đ�y ch�nh d�n tộc chủ nghĩa đ� được sử dụng về mặt ch�nh trị để gi�nh đạt sự thống nhất. (Day 2002).

������ Quay trở lại nghi thức thời tiền hiện đại, đ�u l� sự li�n quan của lễ lạc như thế với tin ngưỡng, hoặc của ho�ng triều hay c� nh�n?� Điều sẽ r� r�ng rằng mối quan hệ vũ trụ của nghi thức đ� kh�ng nhất thiết đ�i hỏi sự tin tưởng của mọi người trong vương quốc phải �m chầm lấy n�.� Sự tham gia cụ thể hơn l� niềm tin t�n gi�o c� nha6n dường như đ� được y�u cầu như một sự phục t�ng trước ng�i vua v� sự li�n kết của n� với vũ trụ.� Kế đ�, liệu điều n�y c� thay đổi qua thời gian v� kh�ng gian hay kh�ng?

������ T�i sẽ khảo s�t mệnh đề n�y trong c�c t�nh huống nghi lễ v� t�n gi�o của c�c triều đại kh�c nhau của Đại Việt (bắc Việt Nam, từ thế kỷ thứ 11 đến 18) (Whitmore, 2008).� Những g� ch�ng ta nh�n thấy, t�i tin tưởng, đ� kh�ng phải l� một hệ thống t�n ngưỡng chế ngự duy nhất v� nghi lễ đi k�m của n� vốn đặt ti�u điểm nơi c�c triều đ�nh ho�ng gia.� Đ�ng hơn n� l� sự t�ch lũy li�n tục (mượn c�ch n�i của Keith Taylor [2004]) của một loạt c�c th�nh phần của c�c hệ thống t�n ngưỡng kh�c nhau, từ địa phương đến kinh đ�, đ� từng được định h�nh v� t�i định h�nh t�y theo c�c c� nh�n v� t�nh huống c� biệt (c� nghĩa, con người, kh�ng gian v� thời gian).� Trong khi một v�i th�nh phần biến mất, sự t�ch lũy c�c nh�n tố kh�c vẫn tiếp tục xuy�n qua c�c thế kỷ.� Một số thời khoảng n�o đ� đ� chứng kiến nỗ lực để �thanh lọc� c�c th�nh phần kh�c biệt, nhưng c�c nỗ lực như thế chưa bao giờ khống chế ho�n to�n quang cảnh Việt Nam, v� sự t�ch lũy c�c th�nh phần kh�c biệt đ� tiếp diễn tại x� hội địa phương.� Trong khi sự t�ch lũy n�y tiến h�nh, tại c�c l�ng x� v� trong số nh�n vi�n triều đ�nh, đ�n �ng v� đ�n b�, nghi lễ quốc gia được cử h�nh bởi c�c chuy�n vien t�n gi�o của c�c triều đ�nh ho�ng gia đ� duy tr� vị tr� của mỗi triều đại trong cả vũ trụ lẫn vương quốc.� Trong khoảng gần 500 năm, từ thế kỷ thứ 10 đến 15, nghi thức n�y chủ yếu c� t�nh chất Ấn Độ tự nguy�n thủy (Phật Gi�o), trong khi cho 500 năm kế tiếp, từ thế kỷ nthứ 15 đ�n 20, n� c� tinh chất Trung Hoa (Khổng học).� Song điều n�y đon giản h�a t�nh trạng của Đại Việt.� Ch�ng ta h�y đi xuy�n qua c�c triều đại, mỗi triều đại điều h�nh từ một căn bản kh�c nhau v� với khu�n mẫu t�n gi�o của ri�ng n�.

 

NH� L�

������ Sự th�nh lập Đại Việt đ� diễn ra trong khoảng một trăm năm, từ thập ni�n 960 đến thập ni�n 1060, khi sự cạnh tranh giữa c�c địa phương kh�c biệt trong v� ngo�i ch�u thổ s�ng Hồng đ� dẫn đến vị trị chế ngự mạn-đ�-la (đ�n trường tụ hội tha6`n linh tượng trưng cho vũ trụ, ch� của người dịch) của gia tộc họ L� tại trung t�m ch�u thổ (Whitmore 2006a).� Thoạt ti�n, c�c sự thờ c�ng thần linh của c�c đia phương đ� c�ng hiện hữu với Phật Gi�o của c�c ng�i ch�a.� Khi L� C�ng Uẩn (Th�i-tổ, trị v� từ 1009-28) dời kinh đ� về lại địa điểm hiện thời của H� Nội (Thăng Long) một ngh�n năm trước đ�y, �ng đ� l�m như thế bằng việc gia nhập v�o sự th�nh lập Phật gi�o của v�ng ch�u thổ trung t�m.� Dần dần, xuy�n qua thờI trị v� của �ng v� thời của con trai v� ch�u �ng (Th�i-t�ng, trị v� 1028-54, v� Th�nh-t�ng, trị v� 1054-72), ch�nh thể nh� L� đ� ph�t triển một khu�n mẫu nghi thức đ� tự x�c định bản th�n trong khu�n khổ của mạn đ�-la, cả về mặt kh�ng gian lẫn vũ trụ (Taylor 1976).

������ Trong sự tiến triển từ địa phương trung t�m trở th�nh quyền lực khống chế, ba nh� vua triều L� n�y đ� t�i x�c định vị thế tinh thần v� nghi thức của họ (Taylor 1996).� Th�i tổ khởi sự sự kết hợp c�c sự thờ c�ng địa phương với c�c ng�i ch�a Phật Gi�o khi �ng li�n kết cả hai với ng�i vua.� Th�i-t�ng đ� ph�t triển cộng đồng c�c ng�i ch�a Phật gi�o nhiều hơn nữa, x�y dựng Ch�a Một Cột (Single Pillar Pagoda) khi �ng nối kết c�c sự thờ c�ng thần linh chặt chẽ hơn với sự kiểm so�t ch�nh trị dưới h�nh thức cắt m�u tuy�n thệ trung th�nh.� Th�nh-t�ng đ� mang vị thế nghi thức của ngai v�ng l�n một mức độ mới khi �ng thiết lập sự thờ phượng cua/ ho�ng triều đối với Đế Th�ch (Indra, Vua của C�c Vị Thần) v� Phan [Phạm|?] Vương (Brahma) trong thập ni�n 1050.� C�ng l�c �ng đ� x�y dụng điều c� thể xem l� đền thờ trung t�m của Đại Việt, Th�p B�o Thi�n [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (B�o c�o l�n �ng Trời), tại Thăng Long.

������ Ch�nh v� thế, giữa c�c sự thờ c�ng thần linh của c�c địa phương v� nhiều ch�a chiền của cộng đồng Phật Gi�o, c�c vị vua L� đầu ti�n n�y đ� x�y dựng một khu�n mẫu nghi thức mang lại cho họ sự chế ngự tinh thần tr�n c�c địa phương của mạn-đ�-la va biến Ngai Vua th�nh ti�u điểm của sự li�n hệ Đất/Trời.� Hệ thống t�n ngưỡng n�y vốn tạo th�nh căn bản cho sự thờ c�ng của ho�ng triều n�y l� một Phật Gi�o Đại Thừa được tu h�nh bởi c�c cộng đồng c�c nh� sư k�u gọi một sự giản dị của đồi sống v� một sự nh�n nhận t�nh v� thường của đời sống (Nguyễn 1997).

������ Khu�n mẫu của tư tưởng ho�ng triều n�y c� thể được nh�n thấy trong t�c phẩm cuối thế kỷ thứ mười một, B�o Cực Truyện (Declaring the Ineffable) (Taylor 1986).� Trong năm c�u chuyện từ t�c phẩm n�y sẽ được nhận thấy trong t�c phẩm thế kỷ thứ mười bốn, Việt Điện U Linh Tập, ch�ng ta nh�n thấy một hỗn hợp phức tạp của c�c nh�n vật thẩm quyển c� t�nh chất trung hoa trước đ�, c�c vị thần linh của c�c địa phương, v� c�c nh� sư Phật Gi�o, một sự pha trộn quyến rũ của sự t�ch lũy cả ngh�n năm trước tr�n quang cảnh địa phương.� Một loạt c�c ph�i tư tưởng Phật Gi�o (Tịnh Độ, Thiền v.v�) đ� hiện hữu trong v� số ng�i đền của đất nước.� Đ� c� một sự l�i k�o giữa sự nhận thức t�n gi�o của triều đ�nh v� sự nhận định của c� nh�n muốn t�m kiếm sự giải tho�t tinh thần, như được minh họa một c�ch r� r�ng biết bao trong c�c b�i thơ của Đo�n Văn Kh�m (thập ni�n 1080 đến 1100) (Taylor 1992).� Cũng c� hiện diện c�c nh� nho [tiếng Việt, c�ng �m H�n ru, trong nguy�n bản, �ch� của người dịch] l� c�c học giả chuy�n vi�n về c�c kinh s�ch cổ điển, được nghĩ gồm cả s�ch về nghi lễ (Taylor 2002).

������ �C�c bia k� của th� kỷ thứ mười hai cho thấy mối tương li�n của c�c luồng tư tưởng kh�c biệt n�y v� ng�i vua (�pigraphie 1998), v�o l�c n�y tục cắt m�u ăn thề của ho�ng gia, c�c sự thờ c�ng thần linh, v� Đế Th�ch (Indra) vẫn tiếp tục.� C�c bia n�y c� khuynh hướng ph�t sinh từ c�c ch�a Phật Gi�o v� do đ� phản ảnh hệ thống tin ngưỡng n�y.� Một bia k� ho�ng triều năm 1121 (#5) bởi vua L� Nh�n T�ng (trị v� từ 1072-1127) mang nặng tinh chất Phật Gi�o.� C�c bia k� đền ch�a cấp v�ng, như bia k� bởi L� Thường Kiệt ở hướng nam (khoảng năm 1100) (#11), đ� nối kết bản th�n ch�ng với kinh đ� trong khung cảnh Phật Gi�o, như bia k� năm 1107 của gia đ�nh họ H� ở ph�a bắc đ� l�m như thế (#12).� Song c�c bia k� n�y cũng c� tham chiếu đến c�c t�c phẩm cổ điển của Trung Hoa v�, trong bia k� tang lễ năm 1159 về vị thượng thư ch�nh yếu Đỗ Anh Vũ (#19; Taylor 1995; 2002), ch�ng ta sẽ chỉ thấy c�c sự �m chỉ cổ điển như thế v� kh�ng c� sự đề cập n�o đến Phật Gi�o. C�c sự m� tả của Trung Hoa từ thập ni�n 1170 cũng kh�ng thảo luận g� về Phật Gi�o tại Đại Việt, mặc d� ch�ng c� thể được s�ng lọc ra khỏi bản chất thực sự của chế độ qu�n chủ Vệt Nam bởi chinh s�ch ngoại giao kiểu Trung Hoa của ph�a Việt Nam (Whitmore 1986).� Tuy thế, Phật Gi�o vẫn c�n tồn tại trong khung cảnh t�n gi�o bao qu�t của nh� nước tại Đại Việt, v� nghi lễ ho�ng gia về sự tuy�n thệ, c�c thần linh, v� Đế Th�ch đ� kết buộc c�c địa phương lại với nhau trong khu�n khổ mạn-đ�-la v� vương quốc với vũ trụ.

 

NH� TRẦN

������ Khi triều đại nh� L� đang th�nh lập vương quốc Phật Gi�o của n� tại phần trung lưu của cha6u thổ s�ng Hồng, sự thịnh vượng gia tăng của Đại Việt, tạo ra sự ph�t triển kinh tế v� d�n số của v�ng duy�n hải ph�a đ�ng hạ lưu ch�u thổ (Whitmore 2006a; 2008).� X�m nhập v�o v�ng đất thưa d�n n�y l� c�c di d�n nhập cảnh từ bờ biển đ�ng nam của Trung Hoa đổ xuống, trong số đ� c� gia tộc nh� Chen (tiếng Việt l� họ Trần), kẻ đ� trở th�nh một quyền lực hải qu�n địa phương.� Kiểm so�t v�ng duy�n hải hồi đầu thế kỷ thứ mười ba, họ Trần đ� tranh chấp với quyền lực nh� L� ở thượng lưu, đ� k�t h�n với ho�ng gia, v� đ� chiếm đoạt ng�i vua ở Thăng Long.� Kh�ng di chuyển kinh đ� về căn cứ của họ gần bờ biển, ho�ng gia mới đ� duy tr� ho�ng triều với nghi lễ tuy�n thệ của n� v� sự thờ c�ng Đế Th�ch trong khung cảnh Phật Gi�o bao qu�t của v�ng trung ch�u thổ.

������ Song, trong khi sự s�ng b�i ho�ng triều n�y vẫn tiếp tục xuy�n qua c�c thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn tại v�ng hạt nh�n sự cai trị của Đại Việt, trong khi cộng đồng Phật gi�o nội địa vẫn c�n mạnh, v� trong khi nhiều sự thờ c�ng thần linh địa phương vẫn duy tr� ảnh hưởng của ch�ng, triều đại mới từ v�ng duy�n hải đ� c� tiếp cận với c�c trường ph�i tư tưởng tại Trung Hoa.� Đặc biệt, hai chiều hướng mới đ� xuất hiện, một Phật Gi�o, v� hướng kia c� t�nh chất cổ điển (tức �Khổng học�).� Hai trường ph�i tư tưởng n�y đ� song h�nh với nhau, chiều hướng tr�n trong gia đ�nh ho�ng tộc, chiều hướng thứ nh� trong ch�nh quyền n�i chung, được gắn liền v�o c�c t�y t�ng của giới qu� tộc, xuy�n suốt thế kỷ thứ mười ba.� Trong thế kỷ tiếp theo, mỗi một trong hai chiều hướng n�y sẽ cung cấp một c�u trả lời khả hữu trước cuộc khủng hoảng gia tăng của thời đại.

������ Gia tộc ho�ng triều họ Trần đ� c� c�c sự quan hệ c� nh�n mạnh mẽ với ph�i Chan (tiếng Việt l� Thiền) Phật Gi�o (Nguyễn 1997); Wolters 1988].� Nh� vua đầu ti�n Trần Th�i T�ng (trị v� 1225-77) như một nh� vua trẻ được đặt l�n ngai vua bởi người b�c [hay ch�] đ� ước ao thiết tha một cuộc sống phật tử tại một ng�i ch�a.� Dần d�, xuy�n qua thế kỷ thứ mười ba, một th�nh vi�n của ho�ng tộc trở th�nh kẻ s�ng k�nh Phật Gi�o, Tuệ Trung, đ� ph�t triển tư tưởng Thiền tại Đại Việt, ch� t�m về sự hợp nhất của thời gian v� kh�ng gian, v� sự truyền đạo từ sư phụ cho đệ tử.� Song c�c nh� l�nh đạo họ Trần đ� kh�ng xem tư tưởng Phật Gi�o gạt bỏ sự kh�n ngoan của �C�c Minh Qu�n: the Sages� �(c� nghĩa, c� nh� cai trị thời cổ đại).� Đ� c� một cảm gi�c mạnh mẽ rằng hai hệ thống t�n ngưỡng bổ t�c cho nhau.� Đồng thời, nh� vua đ� mang c�c nh� học giả kinh s�ch cổ điển v�o c�c chức vụ h�nh ch�nh ở cả kinh đ� lẫn v�ng n�ng th�n lần đầu ti�n.� Một trong c�c ho�ng tử nh� Trần, �ch Tắc đ� th�nh lập trường ph�i đầu ti�n của tư tưởng cổ điển tại Đại Việt.

������ C�c cuộc x�m lăng của M�ng Cổ trong thập ni�n 1280 đ� củng cố cho thẩm quyền của c�c �ng ho�ng nh� Trần trong việc cai quản vương quốc.� C�c cuộc x�m lăng n�y cũng đ� c� một t�c động trực tiếp tr�n nh� nước v� t�n gi�o trong c�c người Việt Nam.� Điều n�y đ� dẫn dắt Đại Việt v� xứ Ch�m, c�c đối thủ l�u d�i, li�n kết c�c nỗ lực của họ để đ�nh thắng qu�n M�ng Cổ.� Kết quả, vua nh� Trần, mo6t. Nh�n-t�ng �nhiệt t�nh theo Thiền Phật Gi�o (trị v� 1279-1308), đ� viếng thăm xứ Ch�m v� c�c ng�i đền Phật Gi�o [sic] của n�.� Quay về nước, nh� vua Việt Nam đ� trở th�nh vị tổ sư đầu ti�n của Ph�i Thiền Tr�c L�m (Bamboo Grove) mới, d�nh l�u s�u xa với giới qu� tộc.� Hai vị vua kế tiếp, con v� ch�u vua Nh�n-t�ng (Anh-t�ng, trị v� 1293-1320; Minh-t�ng, trị v� 1314-1357), đ� thực h�nh tư tưởng Thiền của ph�i n�y v� đ� ph�t triển n� v�o một ph�i ch�nh thống li�n hợp cho to�n thể vương quốc.� Xuy�n qua một ba đầu ti�n của thế kỷ thứ mười bốn, c�c nh� vua n�y đ� t�m c�ch để đối ph� lại c�c �p lực v� sự căng thẳng kinh tế-x� hội gia tăng trong vương quốc bằng việc l�i k�o c�c luồng kh�c biệt của t�n ngưỡng địa phương (thờ thần linh v� Phật Gi�o) lần đầu ti�n v�o một khu�n mẫu thống nhất về tư tưởng.� Thị kiến của vua Minh-t�ng về ph�p th�n (dharmabody) của vương quốc đ� hỗn hợp thời gian (qu� khứ, hiện tại, tương lai) v� kh�ng gian (c�c địa phương) trong Phật t�nh của tất cả (Wolters 1988). Ng�i vua, cộng đồng Phật Gi�o, v� vương quốc đ� được phục vụ v� bảo vệ bởi c�c sự thờ c�ng thần linh địa phương, như được tr�nh b�y trong quyển Việt Điện U Linh Tập (Secret Powers of Viet) năm 1329 (Taylor 1986b).� Dự kiến kết hợp n�y khi đ� đ� được ghi th�nh văn bản trong tập Thiền Uyển Tập Anh (Eminent Monks of the Thiền Community) trong năm 1337 (Nguyễn 1997).� Tại l�i cốt của hoạt động triều đ�nh n�y, vẫn c�n c� sự s�ng b�i ho�ng gia về tục ăn thề v� thờ Đế Th�ch v� � nghĩa đặc biệt của Th�p B�o Thi�n.� Trong một số phương c�ch n�o đ�, nỗ lực kết hợp n�y v�o một thời khoảng c� �p lực đặc biệt giống như nỗ lực của vua Jayavarman VII tại Angkor hồi cuối thế kỷ thứ mười hai.

������ Song v�o cuối thập ni�n 1330, vua Minh-t�ng bắt đầu nhận thức rằng nỗ lực Phật Gi�o n�y đ� kh�ng ho�n th�nh được mục đ�ch kết hợp của n� (Whitmore 1996).� Cho đến giữa thế kỷ thứ mười bốn, khủng hoảng x� hội gia tăng khắp v�ng n�ng th�n, v� nh� vua đ� thay đổi đường hướng.� T�ch rời khỏi Thiền Phật Gi�o, Minh-t�ng đ� hướng đến cộng đồng ph�t triển của c�c học gỉa về kinh điển v�ng duy�n hải.� �ng đ� mang vị th�y v� học giả nổi tiếng Chu Văn An từ trường ph�i thịnh h�nh của �ng An về kinh đ� (Wolters 1996).� Trong phần tư thế kỷ kế tiếp, kể cả thời gian của lại của thời trị v� của vua Minh-t�ng, �ng An đ� đặt định giọng điệu tr� thức của Thăng Long.� Lời giảng dạy của �ng dường như đ� chấp nhận tư tưởng triều đại nh� Đường của H�n Dũ v� đ� nhấn mạnh đến c�c niềm tin cổ điển của Trung Hoa, thời cổ đại của n� (Bol 2008).� Ti�u điểm nhắm v�o thời cổ đại n�y để mang lại c�c c�u trả lời cho thời hiện tại kh� khăn đi ngược với cảm gi�c vượt thời gian của Thiền về ph�p th�n.� Khi trường ph�i tư tưởng trung hoa n�y đ� ph�t triển từ thế hệ đầu ti�n cho đến thế hệ m�n sinh của Chu Văn An, cũng đ� c� sự thay đổi từ thời cổ đại Trung Hoa th�nh định thức về một thời cổ đại tại Đại Việt, được gọi l� Văn Lang.� C�c học giả n�y đ� th�c giuc, cả sự chấp nhận đường hướng cổ thời của c�c Minh Qu�n [Phục Hồi Cổ Đại, tiếng Việt l� phục cổ, �m H�n l� fu gu] lẫn lập luận chống lại sự can dự của Phật Gi�o v�o nh� nước.

������ Khi c�c kh� khăn x� hội s�u sắc hơn tại v�ng n�ng th�n, c�c học giả n�y lần đầu ti�n đ� l�m ra c�c b�i thơ về thời đại x�o động khi họ tiếp tục c�c nỗ lực của m�nh để ảnh hưở:ng đến triều đ�nh v� giới qu� tộc (Wolters 1986; Whitmore 1987).� Phật Gi�o, trong một c�ch chưa được giải th�ch, bắt đầu mờ nhạt trong sự quy định ch�nh s�ch tại Thăng Long, ngay d� nghi thức ho�ng gia về tuy�n thệ v� thờ Đế Th�ch c�n tiếp tục với mọi biểu hiệu ngo�i mặt.

 

NH� HỒ

������ Một điểm trọng yếu của sự thay đổi đ� xảy ra với sự vươn l�n trong sức mạnh của xứ Ch�m ở ph�a nam v� sự chiếm cứ của xứ Ch�m tại kinh th�nh Thăng Long trong năm 1371 (Whitmore 2009b).� Trong một phần ba sau c�ng của thế kỷ thứ mười bốn, ch�nh thể v� x� hội của Đại Việt đ� trải qua một cuộc khủng hoảng lớn lao khi c�c căn bệnh x� hội được kết hợp với c�c cuộc x�m nhập thường trực bởi xứ Ch�m.� Qu�n ph�ng thủ Việt Nam đ� c� �t sự th�nh c�ng trong việc ngăn chặn c�c đội qu�n x�m lăng, v� nền văn minh v�ng đất thấp đ� chứng kiến một sự biến thể quan trọng trong nền tảng huyền thoại của n�.� Quyền lực rơi v�o tay của vi�n thương thư ch�nh yếu, L� Qu� Ly, cũng l� một hậu duệ của Trung Hoa, nhưng từ ph�a nam của Đại Việt (tỉnh Thanh H�a) (Whitmore 1985).

������ Khi Qu� Ly đ� sống s�t qua c�c tai họa qu�n sự v� đ� ph�t triển sự kiểm so�t tr�n ho�ng triều, �ng bắt đầu chấp nhận hệ thống t�n ngưỡng mới của c�c học giả (Whitmore 1996).� Như được nhận thấy trong quyển ni�n sử (Đại) Việt Sử Lược (Brief History of Đại Việt), cũng như trong c�c c�u chuyện huyền b� được t�ch lũy trong quyển Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i (Strange Tales from South of the Passes), thời cổ đại Việt Nam với mười t�m vua H�ng đ� trở th�nh huyền thoại nền tảng của đất nước trong những năm n�y.� C�c quyển s�ch n�y đ� nối kết Văn Lang với triều đại nh� Chu b�n Trung Hoa v� nh�n vật h�nh động nguồn cội của n�, Chu C�ng.� Trong thập ni�n 1390, Qu� Ly đ� th�c đẩy loại tư tưởng cổ điển n�y v� đ� thiết lập một sự s�ng b�i tập trung quanh Chu C�ng, với Khổng tử b�n cạnh như vị thầy ch�nh yếu.

������ Trường ph�i tư tưởng cổ điển n�y của Việt Nam thế kỷ thứ mười bốn đ� vươn l�n đỉnh của n� khi Qu� Ly (trị v� 1400-07) gi�nh lấy ng�i vua cho gia đ�nh của ri�ng �ng, giờ đ�y c� danh xưng Nh� Hồ, v� đ� gắng sức để t�i h�nh th�nh đất nước trong một khu�n khổ cổ điển (Whitmore 1985).� Đại Việt đ� trở th�nh Đại Ngu (�m H�n l� Da Yu), một sự �m chỉ đến c�c nguồn gốc của văn minh Trung Hoa, v� nh� vua mới đ� mong muốn theo gương c�c Minh Qu�n (Sage Rulers) của thời kỳ nguy�n thủy đ�, đặc biệt vua Thuấn (Shun).� Trong tiến tr�nh, Qu� Ly đ� ho�n to�n thay đổi nghi lễ ho�ng triều, mang n� th�ch hợp với hệ thống t�n ngưỡng mới của triều đại nh� Minh đương thời.� Phật Gi�o đ� kh�ng dự phần v�o lễ nghi của �ng, v� c�c khu�n mẫu thời L�-Trần về cắt m�u ăn thề v� thờ Đế Th�ch đi đến chỗ kết th�c.� Nghi thức mới l� lễ tế Thi�n của nh� Minh hiện đại tại Đ�n Nam Giao (Southern Suburbs) (�m H�n l� Nan-qiao).� Nghi thức n�y gia đ�nh họ Hồ đ� cử h�nh tại một đ�n thờ ở ph�a nam kinh đ� mới của họ l� T�y Đ� ở Thanh H�a (Western Capital), đối với Đ�ng Đ� (Eastern Capital) tức Thăng Long).

������ Thời đầu của thập ni�n 1400 ch�nh v� thế đ� đ�nh dấu đỉnh điểm của sự biến đổi từ nghi lễ Phật Gi�o v� hệ thống t�n ngưỡng của thời kỳ tổ chức tại Đại Việt sang c�c bước khởi đầu của nghi thức v� hệ thống t�n ngưỡng t�n cổ điển, sẽ c� � nghĩa rất nhiều cho bốn thế kỷ c�n lại của Đại Việt.� Trong cả hệ thống t�n ngưỡng l�n nghi thức, � niệm về Thi�n (�m H�n l� Tian) đ� thay cho nh� nước.� Trước đ�y, Thi�n l� l�nh địa của c�c vị thần nam nữ với Đế Th�ch như vị vua của c�c thần tại đỉnh ngọn n�i Meru, v� sự thờ c�ng của ho�ng triều đ� tưởng niệm v� nối kết nh� vua trần thế với vị vua tr�n trời.� Giờ đ�y nh� cai trị Việt Nam chấp nhận quan điểm của c�c học giả về một �ng Trời trừu tượng hơn, bao gồm vũ trụ v� thi�n nhi�n, v� tại lễ đ�n Nam Giao, nh� cai trị đ� trở th�nh sợi d�y nối kết giữa �ng Trời trừu tượng n�y với lo�i người.� Động th�i của �ng v� phương c�ch m� �ng v� ch�nh quyền của �ng ảnh hưởng x� hội quanh �ng sẽ t�c động l�n phương c�ch m� �ng Trời đối đ�i với lo�i người.� Trong tiến tr�nh, nh� nước, đ�ng hơn l� bản th�n nh� vua, trở n�n thiết yếu hơn nhiều cho mối quan hệ giữa thi�n nhi�n v� si�u nhi�n.

 

NH� L� / NH� MẠC

������ Cuộc đ�nh bại của triều đại nh� Minh tr�n gia tộc họ Hồ v� sự chiếm đ�ng hai thập ni�n (1407-27) của n� tại Đại Việt l�m gi�n đoạn sự ph�t triển t�n gi�o của ho�ng triều tại Thăng Long (Whitmore 1985).� C�c lực lượng Việt Nam kế đ� đ� đ�nh bại nh� Minh v� nắm giữ quyền lực để trở th�nh triều đại mới, l�nh đạo bởi L� Lợi (Th�i-t�ng [sic, Th�i t�?], trị v� 1428-33), kẻ được sinh ra từ v�ng n�i non t�y nam xa x�i (Ungar 1983).� Ho�ng triều v� giới qu� tộc mới đ� tượng trưng cho một sự đứt đoạn với c�c triều đ�nh nh� L� v� nh� Trần trước đ�y thuộc ch�u thổ s�ng Hồng.� Triều đ�nh nh� L� mới đ� mang truyền thống v�ng n�i non về cắt m�u ăn thề v� pha trộn n� với lời thề trung th�nh từ nhiều thế kỷ trước đ�y.� Mặt kh�c, đ� kh�ng c� sự thờ c�ng ho�ng triều xuất hiện.� Khi c�c lời cầu mưa li�n quan đến c�c ch�a Phật Gui�o, một khoảng trống � thức hệ xu�t hiện.� Trong một cuộc tranh luận giữa c�c vi�n chức cao cấp lớn tuổi hơn, nặng truyền thống hơn (đặc biệt Nguyễn Tr�i) với c�c vi�n chức trẻ tuổi hơn chắc chắn đ� được gi�o dục tại c�c trường học mới của thời Minh thuộc, sự ưa th�ch của ph�i trẻ tr�n khu�n mẫu nh� Minh hiện đại về �m nhạc v� nghi thức đ� khởi sự xuất hiện một c�ch từ từ tại triều đ�nh nh� L� tại Thăng Long trong thập ni�n 1430 (Whitmore 2006).

������ Sự biến thể của nh� nước tại Đại Việt từ loại mạn-đ�-la địa phương của c�c thế kỷ trước đ�y sang nh� nước thư lại trung hoa của nh� Minh đương đại đ� xảy ra trong thập ni�n 1460, cầm đầu bởi nh� vua trẻ tuổi bất ngờ, vua Th�nh-t�ng (trị v� 1460-97) (Whitmore 2006c).� Một trong c�c bước tiến đầu ti�n trong sự biến thể n�y l� sự t�i thiết lập lễ tế Thi�n tại đ�n Nam Giao được chủ lễ bởi ho�ng đế.� Nghi thức n�y l� trung t�m cho c�c hoạt động của nh� nước như được hướng dẫn bởi c�c quan chức-nho học giờ đ�y được tuyển dụng qua c�c cuộc khảo th� mới kiểu Trung Hoa ba năm một lần.� Đồng thời, nh� nước đ� binh vực cho c�c gi� trị li�n hệ đến nh� Nho (�m H�n l� ru) tại Trung Hoa (Khổng học) v� ch�nh v� thế đ� t�m c�ch thanh lọc c�c tập qu�n địa phương.� C�ng l�c, c�c nh� qu� tộc v� c�c mệnh phụ tại triều đ�nh vẫn tiếp tục theo đuổi đạo Phật, v� người d�n l�ng vẫn theo đuổi Phật Gi�o v� c�c sự thờ c�ng địa phương của họ.

������ M� h�nh Hồng Đức kiểu Trung Hoa được thiết lập bởi vua Th�nh-t�ng (n�n hiệu của thời trị v� thứ nh� của �ng) t�y thuộc v�o việc triều đ�nh (nh� vua v� giới qu� tộc) c� chấp nhận c�c gi� trị của nh� học giả v� sử dụng ch�ng để quản trị nh� nước v� cử h�nh nghi thức cần thiết.� Phần ba đầu ti�n của thế kỷ thứ mười s�u chứng kiến sự tranh gi�nh giữa c�c gia tộc qu� tộc, đặc biệt họ Trịnh v� họ Nguyễn, đ� ph� hủy m� h�nh n�y c�ng lễ nghi đi k�m của n�.� Triều đại mới Nh� Mạc (1528-92) thay thế nh� L� r� r�ng đ� t�i lập m� h�nh của vua Th�nh-t�ng v� c�ng với n� nghi thức lỗi cốt của đ�n Nam Giao (Whitmore 1995; 2006b).� Kh�ng may, c�c t�i liệu về thời kỳ n�y th� �t ỏi.� Ch�ng ta hay biết rằng tại c�c l�ng x�, c�c học giả c� bi�n soạn c�c văn bản cho bia k� Phật Gi�o v� tổ chức c�c nh�m tu van [tiếng Việt trong nguy�n bản, kh�ng bỏ dấu, người dịch suy đo�n l� �tư văn� [?] dựa tr�n phần dịch nghĩa sang tiếng Anh của t�c giả: �This Culture of Ours�] để n�ng cao c�c gi� trị cổ điển. (Nguyễn 2002; Woodside 2002).

 

NH� TRỊNH / NH� NGUYỄN

����� Suốt thế kỷ thứ mười s�u, hai gia đ�nh qu� tộc, họ Nguyễn v� gia tộc họ Trịnh, đ� ủng hộ vua L� bại trận phục ng�i từ v�ng n�i non t�y nam của tỉnh Thanh H�a.� Sau s�u mươi năm họ đ� c� thể đ�nh đuổi họ Mạc ra khỏi Thăng Long, trước khi tranh gi�nh lẫn nhau. (Taylor, 1987; 1993).� Họ Trịnh đ� thắng v� chế ngự vua L�, vua L� trị v� trong khi họ Trịnh cai trị Đại Việt tại miền bắc.� Họ Nguyễn thua trận tr� n�u tại căn cứ của họ ở bi�n giới ph�a nam v� đ� khởi sự ph�t triển một l�nh địa mới, mở rộng từ đ�.� Từ 1600, cả hai chế độ qu� tộc được l�nh đạo bởi hai vị ch�a [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], đ� quay trở lại c�c khu�n mẫu t�n ngưỡng trước đ�y. (Cooke 1998; Dror & Taylor 2006).� Với bản chất qu�n sự, họ dựa v�o l�ng trung th�nh v� lời thề trung th�nh, trong khu�n mẫu thờ c�ng thần linh v� Phật Gi�o bao qu�t hơn, để r�ng buộc chặt chẽ c�c người theo họ.� Th�p B�o Thi�n ở Thăng Long (Whitmore 1994) v� Ch�a Thi�n Mụ ( Heavenly Mother Temple) (Huế) xem ra l� c�c ti�u điểm cho hai hệ thống t�n ngưỡng.� C�c t�n ngưỡng v� nghi thức của c�c chế độ học thuật trước kia đ� mờ nhạt nhiều về � nghĩa.

������ Nửa sau của thế kỷ thứ mười bảy đ� mang lại c�c sự thay đổi lớn lao cho c�c hệ thống t�n ngưỡng n�y ở cả hai miền, khi mỗi miền đ�p ứng với c�c t�nh huống biến đổi đặc biệt của ch�ng.� Đối với họ Trịnh ở phương bắc, t�nh trạng n�y l� sự thất bại của họ kh�ng đ�nh bại được họ Nguyễn v� thống nhất ho�n to�n Đại Việt.� Đối với họ Nguyễn tại miền nam, t�nh trạng n�y l� sự b�nh trướng của cộng đồng x� hội người Việt v� Trung Hoa (Minh hương) xuy�n qua đất đai cũ của xứ Ch�m (thuộc miền trung Việt Nam ng�y nay) tiến v�o l�nh thổ Khmer ở ch�u thổ s�ng Cửu Long.� Sự lựa chọn đưa ra bởi mỗi miền được li�n kết với phần đất của Trung Hoa m� mỗi miền đ� đ� c� sự tiếp x�c rộng r�i: đối với miền bắc, l� Bắc Kinh v� nội địa Trung Hoa; với miền nam, l� duy�n hải đ�ng nam Trung Hoa v� biển Nam Hoa [South China Sea, gọi theo t�n đặt bởi Trung Hoa, người Việt gọi l� biển đ�ng, ch� của người dịch].

������ Trong c�c thập ni�n 1650 v� 1660, ch�a Trịnh Tạc, trong nỗ lực của �ng để tăng cường v� t�i thống nhất Đại Việt, đ� mang c�c học giả trở lại c�c vai tr� quan trọng trong ch�nh quyền.� (Taylor 1987) Hai thế kỷ sau triều L� Th�nh-t�ng, ch�nh quyền đ� quay trở về một chế độ thư lại kiểu trung hoa v� c�c gi� trị Khổng học của giới văn nh�n.� Với m� thức n�y, đ�n Nam Giao để tế Thi�n v� kh�i niệm về ho�ng đế như ti�u điểm nghi thức giữa Trời v� Đất đ� t�i xuất hiện.� Song giờ đ�y vị ho�ng đế lại kh�ng cai trị, v� v� thế r� r�ng l� c�c ch�a Trịnh đ� c� khuynh hướng giảm bớt vai tr� của ho�ng đế trong c�c việc nghi lễ.� (Whitmore 2006b) Tuy thế, c�c gi� trị Khổng học đ� được truyền b� s�u đậm hơn nữa trong x� hội miền bắc, ngay d� niềm tin c� nh�n nơi Phật Gi�o, s�ng b�i C�c Th�nh Mẫu, v� đạo Thi�n Ch�a mới c� ph�t triển.� (Taylor 2002; Dror 2007; Tran 2005) Trong khi họ Trịnh vẫn kh�ng thể đ�nh bại họ Nguyễn v� thống nhất đất nước, miền bắc đ� thịnh vượng dưới hệ thống quản trị mới, v� nh�m quần thần nho học ở đ� đ� th�nh c�ng cả tr�n đất nước ch�nh họ lẫn trong c�c sứ bộ sang triều đ�nh nh� Thanh tại Bắc Kinh (Kelley 2005).� Dần dần, sự hiện diện của nh� nho tại cả triều đ�nh lẫn c�c l�ng x� đ� b�n rễ s�u hơn sự hiện diện của hệ thống gi� trị v� c�c nghi lễ của họ trong x� hội Việt Nam.

������ Đối với họ Nguyễn ở phương nam, vấn đề l� cần ph�t triển một hệ thống t�n ngưỡng c� thể bao h�m x� hội ng�y c�ng hỗn chủng hơn của họ.� Khi tầm mức của l�nh địa của họ mở rộng s�u hơn về ph�a nam trong cuộc Nam Tiến [ti�ng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], c�c ch�a Nguyễn tại Ph� Xu�n (Huế) đ� h�nh động để mở rộng v� tăng cường thẩm quyền v� t�nh ch�nh đ�ng của họ tr�n c�c địa phương, cũ v� mnới.� Để l�m như thế, họ đ� đặt quan hệ với mạng lưới h�ng hải đang ph�t triển nối kết Quảng Ch�u tại duy�n hải đ�ng nam Trung Hoa, Nagasaki tại Nhật Bản, v� Hội An tại miền trung Việt Nam, kh�ng chỉ về mặt thương mại m� c�n cả về mặt t�n gi�o (Wheeler 2008).� Mời đ�n c�c nh� sư Phật Gi�o Thiền Trung Hoa du h�nh trong mang lưới n�y, đặc biệt [Th�ch] Đại S�n (Da Shan) ở Quảng Ch�u, c�c vị ch�a Nguyễn trong thập ni�n 1690 đ� để bản th�n v� giới qu� tộc của họ quy y v�o h�nh thức thẩm quyền n�y của Phật Gi�o.� H�nh vi n�y cho ph�p c�c ch�a Nguyễn thiết lập một hệ thống t�n ngưỡng đồng nhất hơn b�n tr�n sự pha trộn [m�lange, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] hiện hữu của Phật Gi�o địa phương v� c�c t�n ngưỡng thờ thần linh.� Nỗ lực đ� được tăng cường bởi số lượng gia tăng của c�c cộng đồng người Minh hương (gốc Trung Hoa) v� c�c đền ch�a của họ (Mazu, Guandi (Quan Đế), Guanyin (Quan �m) đ� được dựng l�n trong sự b�nh trướng l�nh địa phương nam.

������ Suốt cho đến giữa thế kỷ thứ mười t�m, hai đ�ng c� khuynh hướng đi theo c�ng một chiều hướng, mặc d� mỗi miền với biến thể địa phương ri�ng của n�.� Tại miền bắc, chế độ vua L�/ch�a Trịnh, bất kể nhiều căng thẳng giữa hai gia đ�nh, vẫn tiếp tục hệ thống thư lại Khổng học trung hoa được thiết lập trong thế kỷ trước (Whitmore 1999).� Ti�u điểm nghi thức của n� vẫn l� lễ tế Thi�n tại đ�n Nam Giao, v� hệ thống t�n ngưỡng ch�nh thức của n� nơi c�c Kinh Điển v� c�c cuộc khảo th�.� Hai d�ng họ nho học quan trọng, Phan Huy v� Ng� Th�, xuất hiện v� kết h�n với nhau.� Họ đ� đ� sinh sản ra một số lượng c�c người tham gia quan trọng trong c�c đại biến cố của nửa sau của thế kỷ. �Một học giả kh�c, L� Qu� Đ�n (1726-1784), đ� xuất hiện như nh� tr� thức lớn trong thời đại của �ng.� C�c văn nh�n như thế đ� tham gia v�o c�c sứ bộ v� c�c nghi thức của c�c sự trao đổi ngoại giao của Đại Việt với triều đ�nh nh� Thanh tại Trung Hoa (Kelley 2005).� Họ đ� thu h�i đực nhiều trong c�c cuộc thăm viếng của họ đến Bắc Kinh v� c�c cuộc trao đổi của họ ở đ� với giới văn nh�n kh�c của Đ�ng � Ch�u, gồm cả người Trung Hoa v� H�n Quốc.� Điều n�y đ� xảy ra ngay d� Phật Gi�o v� C�ng Gi�o La M� vẫn tiếp tục mạnh mẽ tại triều đ�nh v� v�ng th�n qu� (Dror 2002), v� c�c nh� nho như Ng� Th� Nhậm đ� viết về c�c đề t�i Phật Gi�o cũng như Khổng học (Woodside 2002).

������ C�ng l�c, tại miền nam, c�c sự li�n kết của l�nh địa họ Nguyễn với c�c hải cảng Đ�ng Nam Trung Hoa đ� mang x� hội Việt Nam địa phương đến sự tiếp x�c gia tăng với c�c nh� nho Trung Hoa di d�n (Zottoli 1999).� Trạm trung chuyển ở H� Ti�n xa x�i nơi ph�a t�y nam, kề cận với vương quốc Khmer, đ� trở th�nh một trung t�m thương mại cũng như học thuật khi gia tộc họ Mạc [�m h�n l� Mok] gốc Quảng Đ�ng ở đ� đ� dần d� gia nhập với chế độ của ch�a Nguyễn để chống lại Th�i Lan.� C�c học giả hậu duệ người Trung Hoa kh�c đ� xuất hiện trong x� hội Việt-Hoa lớn mạnh tại Gia Định, bao quanh S�ig�n, ngay b�n tr�n ch�u thổ s�ng Cửu Long.� Trong thập ni�n 1740, ch�a Nguyễn Ph�c Kho�t (trị v� 1738-65) đ� h�n h�a triều đ�nh của �ng tại Ph� Xu�n (Huế), thay đổi y phục quan chức v� cấu tr�c h�nh ch�nh, khi �ng tuy�n c�o triều đ�nh n�y ngang h�ng v� độc lập với triều đ�nh của vua L�/ch�a Trịnh tại miền bắc.� Điều trở th�nh một trường ph�i miền nam về ch�nh quyền v� tư tương kiểu trung hoa, ch�nh yếu được ph�t huy bởi c�c nh� nho gốc Minh hương, sẽ định h�nh một c�ch mạnh mẽ chiều hướng của người tuy�n nhận l� ch�a Nguyễn trong c�c cuộc chiến tranh với T�y Sơn, Nguyễn Ph�c �nh, v�o cuối thế kỷ thứ mười t�m v� trong chế độ của �ng tại nước Việt Nam mới t�i thống nhất v�o đầu thế kỷ thứ mười ch�n (với tư c�ch Ho�ng Đế Gia Long, trị v� 1802-1819).

������ C�c trường ph�i bắc v� nam của tư tưởng v� h�nh động Khổng học Việt Nam đ� tụ hội c�ng nhau trong phần tư đầu ti�n của thế kỷ thứ mười ch�n khi Nguyễn �nh đ� c� thể t�i chinh phục miền nam từ phe T�y Sơn v� v� chiếm miền bắc từ tay T�y Sơn để th�nh lập triều đ�i của ch�nh �ng (1802-1945) (Dutton 2006).� Bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trường ph�i miền nam v� c�c học giả Minh hương của n�, c�c nh� cai trị họ Nguyễn đ� h�nh động để thiết lập một vương quốc kiểu nh� Thanh đương đại, khi họ chuyển kinh đ� v� trung t�m nghi lễ từ Thăng Long (H� Nội ng�y nay) tại miền bắc về căn cứ trung ương của ch�nh họ tại Huế (Woodside 1971/1988).� C�c th� dụ hay nhất của điều n�y l� sự x�y dựng kinh đ� mới ở Huế theo mẫu của Bắc Kinh (kể cả địa điểm của đ�n Nam Giao để tế Thi�n) v� bộ luật mới dựa gần như ho�n to�n tr�n bộ luật nh� Thanh.� Khi vi�n chức miền bắc Phan Huy Ch� (1782-1840), hậu duệ của cả hai d�ng tộc nho gi�o Phan Huy v� Ng� Th�, bi�n soạn v� đệ tr�nh bản t�m tắt quan trọng của �ng về kiến thức văn chương của Đại Việt cũ, kể cả c�c nghi lễ của n�, triều đ�nh nh� Nguyễn chỉ để � sơ s�i đ�n n�.� Trong khi ng�y c�ng định hướng theo Khổng học nhiều hơn dưới thời cai trị của vị vua thứ nh�, Ho�ng Đế Minh Mạng (trị v� 1820-1840), v� nhấn mạnh đến nghi lễ tại đ�n Nam Giao, Việt Nam đ� chứng kiến Phật Gi�o vẫn tiếp tục l� một th�nh tố mạnh mẽ trong c�c t�n ngưỡng của giới qu� tộc, đặc biệt c�c phụ nữ (Cooke 1997).

 

C�C TƯ TƯỞNG VỀ NH� NƯỚC V� T�N GI�O

TẠI ĐẠI VIỆT

������ Những g� ch�ng ta nh�n thấy trong tương quan giữa t�n gi�o v� nh� nước xuy�n qua t�m thế kỷ của Đại Việt, với kinh đ� của n� tại Thăng Long, đ� l� một khu�n mẫu biến h�a thay đổi khi bản th�n c�c triều đại thay đổi.� Sự t�ch lũy li�n tục c�c khảo hướng tiến tới si�u nhi�n giữa c�c phần tử của x� hội Việt Nam c� nghĩa c�c khả t�nh kh�c biệt của sự lựa chọn, kh�ng chỉ giữa điều ch�ng ta gọi l� �Phật Gi�o� v� �Khổng Gi�o�, m� c�n trong khu�n khổ của mỗi một l�nh vực rộng r�i n�y của t�n ngưỡng.� C�c sự tiếp x�c với b�n ngo�i đ� mang lại c�c khả t�nh mới về t�n ngưỡng đến người Việt Nam v� c�c biến thể mới của c�c hệ thống t�n ngưỡng quy định cho c�c ho�ng triều.� Nghi lễ ở v�o vị tr� mấu chốt của quyền lực v� t�n ngưỡng, của con người v� vũ trụ, v� dường như đ� c� một quan hệ biến đổi với c�c hệ thống t�n ngưỡng của giới qu� tộc v� c� nh�n.� C�c nỗ lực để vừa thể hiện sự kết hợp quyền lực ch�nh trị v� sức mạnh vũ trụ, vừa cung cấp �diễn trường� cho quần ch�ng, h�a nhập khi nhiều khi �t hơn với � thức hệ của giới tinh hoa.� B�i học ch�nh về t�n gi�o v� nh� nước tại Đại Việt r� r�ng đ� l� bản chất thay đổi của n� khi c�c ho�ng triều t�m c�ch thiết lập c�c chế độ ch�nh trị của họ trong c�c phường c�ch đ� kết hợp vũ trụ v� nh�n d�n để tao ra t�nh trạng tốt đẹp hơn của vương quốc.

������ Kh�ng c� l�c n�o trước thế kỷ thứ hai mươi lại c� xuất hiện ở đ� bất kỳ trật tự t�n gi�o định chế hay cấu tr�c n�o c� thể hoặc thay thế hay chống lại (cấu kết hay đụng độ) ch�nh quyền.� C�c định chế c� nh�n, v� số đền ch�a, miễu thờ, hay c�c học x�, đ� hiện diện v� tương t�c với c�c ch�nh quyền địa phương v� trung ương theo c�c c�ch kh�c nhau.� Điều cần nghi�m chỉnh nghi�n cứu l� truyền thống kinh tế của c�c cộng đồng t�n gi�o (như đ� c� cho Miến Điện; Aung-Thwin 1985).� Khởi đầu trong c�c thế kỷ thứ mười v� mười một v� cho đến thế kỷ thứ mười t�m (Trần 2004), ch�ng ta cần ước lượng phương thức m� c�c c�c đền ch�a đ� ph�t triển về mặt kinh tế như thế n�o v� sự ph�t triển của ch�ng đ� tương t�c với nh� nước ra sao.� Trong nhiều thế kỷ, bất kể khu�n mẫu � thức hệ thay đổi của c�c ho�ng triều biến chuyển, c�c đền ch�a n�y tiếp tục nhận được c�c sự tặng dữ thuộc nhiều loại kh�c nhau, kể cả đất đai v� sản phẩm của n�.� Sự bảo tr� c�c đền ch�a đ� diễn ra như thế n�o? Những loại nh�n lực n�o đ� gắn liền với ch�ng?� Đ�y l� những c�u hỏi vẫn c�n cần được khảo s�t.

������ C�u hỏi c�n lại: Đ�u l� c�c quan hệ hiện hữu giữa c�c sự s�ng b�i của ho�ng gia, c�c � thức hệ của c�c giới qu� tộc, v� c�c t�n ngưỡng c� nh�n v� quần ch�ng?� Khởi thủy, như c�c nơi kh�c trong thời kỳ tổ chức của Đ�ng Nam �, sự t�n s�ng ho�ng gia nh� L� tục uống m�u ăn thề v� thờ Đế Th�ch c� nghĩa mở rộng c�i d� che chở của n� l�n tr�n c�c ch�a Phật Gi�o v� c�c địa phương với sự thớ c�ng thần linh của ch�ng.� Nh� Trần hậu duệ Trung Hoa đ� duy tr� sự s�ng b�i ho�ng gia nh� L� ngay d� n� c� mang lại c�c trường ph�i về Thiền v� về tư tưởng cổ điển.� Sau rốt, c�c vị vua nh� Trần, được tiếp nối bởi nh� Hồ, đ� cố gắng �p dụng c�c trường ph�i tư tưởng n�y để chữa trị c�c bệnh tật của vương quốc.� Nh� Hồ, được tiếp nối bởi nh� L� v� nh� Mạc, đ� lụa chọn hệ thống Khổng học trung hoa v� đ�n tế thi�n Nam Giao.� Song, nơi nh� L� v� nh� Trần c� tư tửởng nho gia [tiếng Việt trong nguy�nbản, ch� của người dịch] hiện hữu b�n cạnh Phật Gi�o ưu thắng, nh� L� v� nh� Mạc đ� c� Phật Gi�o (v� sau n�y C�ng Gi�o La M�) cũng ph�t triển trong phạm vi c� nh�n.� Tại cấp l�ng x�, xuy�n qua tất cả c�c thế kỷ n�y, c�c sự s�ng b�i địa phương v� đền ch�a tiếp tục ph�t triển trong c�c t�nh trạng năng động của ch�ng, bị ảnh hưởng �t nhiều bởi c�c hệ thống t�n ngưỡng thay đổi của c�c triều đ�nh, c�c giới qu� tộc thay đổi, v� c�c loại văn nh�n kh�c nhau.

������ Một phần, khu�n mẫu t�n gi�o, nghi lễ, v� ho�ng triều tại Đại Việt ph� hợp với khu�n mẫu của Đ�ng Nam � n�i chung (Lieberman 2003).� Xảy ra trước ti�n l� khu�n mẫu thời kỳ tổ chức của c�c ch�nh thể Phật Gi�o Ấn Độ được tưởng nhớ với c�c sự s�ng b�i ho�ng triều mang � nghĩa che chở v� bao gồm h�ng loạt t�n gi�o của v� số địa phương.� C�c ch�nh thể n�y đặt cơ sở tại c�c phần trung lưu của c�c thung lũng của ch�ng.� Kế đ�, với l�n s�ng mậu dịch � Ch�u của thế kỷ thứ mười một đến thế kỷ thứ mười bốn, c�c lực lượng duy�n hải (từ ph�a đ�ng, V�n Đồn tại Đại Việt, Thị Nại tại xứ Ch�m, về ph�a t�y, Ayudhya, Pegu, cũng như Majapahit tr�n đảo Java) đ� dẫn đến c�c sự thay đổi trong quyền lực v� sự gia nhập của c�c khu�n mẫu t�n gi�o mới khắp v�ng.� Với sự tan vỡ của c�c ch�nh thể thời kỳ tổ chức v� tầm quan trọng gia tăng của mậu dịch quốc tế, khu�n mẫu mới của c�c t�n gi�o dựa tr�n kinh s�ch (Phật Gi�o Tiểu Thừa, Hồi Gi�o, Khổng học, v� sau c�ng C�ng Gi�o La M�) với c�c bộ luật phổ th�ng nghi�m ngặt hơn về đạo đức được truyền b� khắp Đ�ng Nam � với c�c hậu quả k�o d�i đến ngay nay.� Trong kỷ nguy�n hi�n đại ban sơ n�y, một giới văn nh�n thế tục gia tăng đ� h�nh động để mang �t�nh khả dĩ đọc được: legibility� (ghi ch�p c�c t�i nguy�n nh�n sự v� vật chất) v� năng lực quản trị gia tăng đối với c�c vương quốc của họ.� Điều n�y bao gồm c�c bộ luật v� c�c bi�n ni�n sử k� với c�c nội dung t�n gi�o của ch�ng để quy định v� x�c định c�c vương quốc li�n quan của c�c chinh thể n�y (Whitmore 2009a).

������ Một c�ch đ�ng ch� �, vương quốc ph�a nam của Việt Nam (sẽ trở th�nh triều đại nh� Ngutyễn) trong thế kỷ thứ mười t�m đ� c� sự lựa chọn của n� giữa hai hệ thống t�n ngưỡng, Phật Giao Đại Thừa (Mahayana Buddhist) (Thiền) v� Khổng học.� Dần dần, Khổng học đ� trở n�n hệ thống được ưa th�ch hơn, khi Nguyễn �nh, tức ho�ng đế Gia Long tương lai, đ� đặt sang một b�n khả t�nh Phật Gi�o (cũng như C�ng Gi�o La M�) để đặt ti�u điểm tr�n m� h�nh nghi lễ v� h�nh ch�nh của nh� Thanh đương đại.� Tổng qu�t, ch�ng ta cần khảo s�t nhiều hơn nữa c�c sự phức tạp của c�c quan hệ giữa niềm tin t�n gi�o v� sự h�nh đạo giữa c�c c� nh�n ở mọi tr�nh độ với niềm tin v� sự h�nh đạo của triều đ�nh v� nh� nước./-�

___

THƯ TỊCH

Aung-Thwin, Michael A., Pagan: The Origins of Modern Burma (Honolulu, HI: Hawaii University Press, 1985).

Bol, P. K., Neo-Confucianism in History (Cambridge, MA: Harvard University Asia Center, 2008).

Cooke, N., �The Myth of the Restoration: Đ�ng Trong Influences in the Spiritual Life of the Early Nguyễn Dynasty (1802-47), trong quyển The Last Stand of Asian Autonomies, bi�n tập bởi A. Reid (Houndmills, Hampshire: Macmillan, 1997), c�c trang 269-95.

Cooke, N., �Regionalism and the Nature of Nguyễn Rule in Seventeenth Đ�ng Trong (Cochinchina)�, Journal of Southeast Asian Studies (JSEAS), 29, 1 (1998), c�c trang 122-61.

Day, T., Fluid Iron, State Formation in Southeast Asia (Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 2002).

Dror, O., bi�n tập, Opusculum de Sectis apud Sinensis et Tonkinensis: A Small Treatise on the Sects among the Chinese and the Tonkinese, A Study of Religion in China and Northern Vietnam in the Eighteenth Century (Ithaca, NY: Southeast Asia Program, Cornell University, 2002).

Dror O., Cult, Culture, and Authority, Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History (Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 2007).

Dror O., & K. W. Taylor, đồng bi�n tập, Views of Seventeenth Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin (Ithaca, NY: Southeast Asia Program, Cornell University, 2006).

Dutton, G.� The T�y Sơn Uprising, Society and Rebellion in Eighteenth Century Vietnam (Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 2006).

�pigraphie en Chinois du Vietnam, Vol. I (Paris: �cole Franҫaise d�Extr�me Orient, 1998)..

Geertz, C., Negara, The Theater State in Nineteenth Century Bali (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1980).

Kelley, L., Beyond the Bronze Pillars, Envoy Poetry and the Sino-Vietnamese Relationship (Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 2005).

Lieberman, V. B., Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c.800-1830, Vol. I (Cambridge: Cambridge University Press, 2003).

Nguyễn, Cường Tự, Zen in Medieval Vietnam, A Study and Translation of the Thiền Uyển Tập Anh (Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 1997).

Nguyễn, Nam, �Being Confucian in Sixteenth Century Vietnam: Reading Stele Inscriptions� from the Mac Dynasty�, trong quyển Confucianism in Vietnam (Ho Chi Minh City: Vietnam National University � Hochiminh City Publishing House, 2002), c�c trang 139-57.

Taylor, K. W., �The Rise of Đại Việt and the Establishment of Thăng Long�, trong quyển Explorations in Early Southeast Asian History, đồng bi�n tập bởi K. R. Hall & J. K. Whitmore (Ann Arbor, MI: Center for South and Southeast Asian Studies, University of Michigan, 1976), c�c trang 149-91.

Taylor, K. W., �Authority and Legitimacy in 11th Century Vietnam�, trong quyển Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, đồng bi�n tập bởi D. G. Marr & A. C. Milner (Singapore: Institute for Southeast Asian Studies, 1986a), c�c trang 139-76.

Taylor, K. W., �Notes on the Việt Điện U Linh Tập� trong tạp ch� Vietnam Forum (VNF), 8 (1986b), c�c trang 26-59.

Taylor, K. W., �The Literati Revival in Seventeenth Cnetury Vietnam�, JSEAS, 18, 1 (1987), c�c trang 1-23.

Taylor, K. W., �The Poems of Đo�n Văn Khảm�, Crossroads, 7, 2 (1992), c�c trang 39-53.

Taylor, K. W., �Nguyễn Ho�ng and the Beginning of Vietnam�s Southward Expansion�, trong quyển Southeast Asia in the Early Modern Era, Trade, Power, and Belief, bi�n tập bởi A. Reid (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1993), c�c trang 42-65.

Taylor, K. W., �Voices Within and Without: Tales From Stone and Paper About Đỗ Anh Vũ�, trong quyển Essays Into Vietnamese Pasts, đồng bi�n tập bởi K. W. Taylor & J. K. Whitmore (Ithaca, NY: Southeast Asia Program, Cornell University, 1995), c�c trang 59-80.

Taylor, K. W., �Vietnamese Confucian Narratives�, trong quyển Rethinking Confucianism, Past and Present in China, Japan, Korea and Vietnam, bi�n tập bởi B. A. Elman v� c�c t�c giả kh�c (Los Angeles, CA: UCLA, 2002), c�c trang 337-69.

Taylor, K. W., Seminar on Vietnam, University of Michigan, 2/2004.

Trần, N.T., �Vietnamese Women at the Crossroads: Gender and Society in Early Modern Đại Việt�, Luận �n Tiến Sĩ (UCLA, 2004).

Trần, N. T., �Les Amantes de la Croix: An Early Modern Vietnamese Sisterhood�, trong quyển Vietnam au Feminin, đồng bi�n tập bởi G. Bousquet & N. Taylor (Paris: Indes Savantes, 2005), c�c trang 51-66.

Ungar, E. S., �Vietnamese Leadership and Order: Đại Việt under the L� (1428-59), Luận �n Tiến Sĩ (Cornell University, 1983.

Wheeler C., �Missionary Buddhism in a Post-Ancient World: Monks, Merchants, and Colonial Expansion in Seventeenth Century Cochinchina (Vietnam)�, trong quyển Secondary Cities and Urban Networking in the Indian Ocean Realm, ca. 1400-1800, bi�n tập bởi K.R. Hall (Lanham, MD: Rowman & Littlefield, 2008), c�c trang 205-31.

Whitmore, J. K., Vietnam, Hồ Qu� Ly, and the Ming, 1371-1421 (New Haven, CT: Yale, Center for International & Area Studies, 1985.

Whitmore, J. K., ��Elephants Can Actually Swim�: Contemporary Chinese Views of Late L� Đại Việt�, trong quyển Southeast Asia from the 9th to the 14th Centuries (1986), c�c trang 117-37 [đ� dịch v� đăng tải tr�n Gi�-O].

Whitmore, J. K., �From Classical Learning to Confucian belief in Vietnam�, VNF, 9 (1987), c�c trang 49-65 [đ� dịch v� đăng tải tr�n Gi�-O].

Whitmore, J. K., �Cartography in Vietnam�, trong quyển History of Cartography, quyển II, phần 2, đồng bi�n tập bởi J. B. Harley & D. Woodward (Chicago, IL: University of Chicago Press, 1994), c�c trang 478-508.

Whitmore, J. K., �Chung-Hung and Cheng-T�ung in Texts of and on Sixteenth Century Vietnam�, trong quyển Essays Into Vietnamese Pasts (1995), c�c trang 116-36.

Whitmore, J. K., �Chu Văn An and the Rise of �Antiquity� in Fourteenth Century Đại Việt�, Vietnam Review (VNR), 1 (1996), c�c trang 50-61.

Whitmore, J. K., �Literati Culture and Integration in Đại Việt, c. 1430-1840�, trong quyển Beyond Binary Histories, Re-Imagining Eurasia to c. 1830, bi�n tập bởi V. B. Lieberman (Ann Arbor, MI: University� of Michigan Press, 1999), c�c trang 221-43.

Whitmore, J. K., �The Rise of the Coast: Trade, State, and Culture in Early Đại Việt�, JSEAS, 37, 1 (2006a), c�c trang 103-22 [đ� dịch v� đăng tải tr�n Gi�-O].

Whitmore, J. K., �The Fate of Ming Ritual Music in Đại Việt: Changing Regimes, Changing Music?�, �Musicking Ming China�, Ann Arbor, MI, 5/2006b.

Whitmore, J. K., �The Thirteenth Province: Internal Administration and External Expansion in Fifteenth Century Đại Việt�, �Asian Expansions�, Singapore, 5/2006c.

Whitmore, J. K., �Secondary Capitals of Đại Việt: Shifting Elite Power Bases�, trong quyển Secondary Cities and Urban Networking in the Indian Ocean Realm, ca. 1400-1800 (2008), c�c trang 155-75.

Whitmore, J. K., �Paperwork: The Rise of the New Literati and Ministerial Power and the Effort toward Legibility in Đại Việt�, trong quyển Southeast Asia in the Fifteenth Century: the Ming Factor, bi�n tập bởi G. Wade & L. Sun (Singapore: National &University of Singapore Press, 2009a), c�c trang 104-125.

Whitmore, J. K., �The Last Great King of� Classical Southeast Asia: �Chế Bồng Ng� and Fourteenth Century Champa�, trong quyển The Cham of Vietnam: History, Society, and Art, bi�n tập bởi B. Lockhart (Singapore: National University of Singapoire Press, 2009b), c�c trang 158-204.

Wolters, O. W., �Possibilities for a Reading of the 1293-1357 Period in the Vietnamese Annals�, trong quyển Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries (1986), c�c trang 369-410.

Wolters, O. W., �Minh-t�n�s Poetry of Light, Sight, and Country�, trong s�ch của O. W. Wolters, Two Essays on Fourteenth Century Đại Việt (New haven, CT: Center for International & Area Studies, Yale University, 1988), c�c trang 54-164.

Wolters, O. W., �Chu Văn An: An Exemplary Retirement�, VNR, 1 (1996), c�c trang 62-96.

Woodside, A. B., Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1971/1988).

Woodside, A. B., �Classical Primordialism and the Historical Agendas of Vietnamese Confucianism�, trong quyển Rethinking Confucianism (2002), c�c trang 116-43.

Zottoli, Brian, �Roots of Nineteenth Century Vietnamese Confucianism: Scholarship and Statesmanship under the Gia Long Emperor�, Midwest Conference on Asian Affairs, East Lansing, MI, 9/99./-

�_____

Nguồn: John K. Whitmore, Religion and Ritual in the Royal Courts of Đại Việt, Asia Research Institute Working Paper Series No. 128, National University of Singapore, Th�ng Mười Hai 2009, c�c trang 7-19.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

18.11.2013

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2013