J. THOMSON,

F. R. G. S.

[Fellow of the Royal Geographical Society:

Hội Vi�n Hội Địa Dư Hoang Gia Anh Quốc]

 

S�IG�N, L�C VỪA BỊ PH�P CHIẾM Đ�NG

KHOẢNG 1865-1875 *

 

Ng� Bắc dịch

 

***

 

 

Lời Người Dịch:

 

������ Để hiểu r� hơn nội dung của b�i dịch dưới đ�y, c� �t điều cần phải được n�i đến về l� lịch t�c giả v� thời điểm ấn h�nh quyển s�ch.

 

������ T�c giả, �ng John Thomson, sinh ng�y 14 Th�ng S�u, 1837 v� mất ng�y 7 Th�ng Mười, 1921, l� nhiếp ảnh gia, nh� địa dư học v� kẻ lữ h�nh ti�n phong gốc Scotland.� �ng đ� l� một trong c�c nhiếp ảnh gia đầu ti�n du h�nh sang v�ng Viễn Đ�ng.� �ng cũng được xem l� một trong c�c người đ� đặt nền m�ng cho ng�nh b�o ch� bằng h�nh ảnh (photojournalism) ng�y nay.

 

������ Được biết sau khi theo học gi�o dục phổ th�ng hồi đầu thập ni�n 1850, �ng đ� thực tập v� tốt nghiệp về ng�nh nhiếp ảnh năm 1858.� Năm 1861, �ng trở th�nh hội vi�n của Hội Nghệ Thuật Ho�ng Gia tại Scotland, nhưng v�o năm 1862, �ng đ� quyết định du h�nh sang Singapore để gia nhập c�ng với người anh của �ng, Wiiliam, người chế tạo đồng hồ v� nhiếp ảnh gia.

������ Trong Th�ng Tư 1862, Thomson đ� rời Edinburgh, nơi �ng sinh ra, sang Singapore, bắt đầu một giai đoạn mười năm du h�nh quanh v�ng Viễn Đ�ng, v� quyển s�ch� m� b�i dịch n�y được r�t ra l� th�nh quả của mười năm du h�nh n�y.� Theo c�c t�i liệu li�n hệ, t�c giả đ� gh� đến S�ig�n �t nhất hai lần.� Lần thứ nhất khoảng cuối năm 1865 đầu năm 1866, sau khi �ng đến chụp c�c bức ảnh sớm nhất về khu Đế Thi�n Đế Th�ch (Angkor Wat) tại Căm Bốt.� Lần thứ nh�, sau khi trở về Anh một năm, t�c giả đ� quay lại Singapore v�o Th�ng Bẩy, 1867, trước khi sang S�ig�n v� lưu tr� tại đ�y trong ba th�ng.� Trong năm 1866, khi trở về Anh Quốc, �ng được bầu l�m Hội Vi�n Hội Địa Dư Ho�ng Gia v� ấn h�nh t�c phẩm đầu ti�n của �ng, The Antiquities of Cambodia, v�o đầu năm 1867.� Cuối c�ng �ng đ� định cư tại Hồng K�ng v�o năm 1868.� Bốn năm sau đ� �ng đ� du h�nh v� chụp rất nhiều h�nh ảnh về Trung Hoa thời đ�.

������ �ng Thomson đ� quay về Anh năm 1872, đinh cư tại Bixton, London, v� ngo�i một chuyến du h�nh chụp h�nh tại đảo Cyprus năm 1878, �ng kh�ng bao giờ rời qu� hương lần n�o nữa.� Năm 1881, �ng được bổ nhiệm l�m nhiếp ảnh gia của Ho�ng Gia Anh Quốc bởi Nữ Ho�ng Victoria.� �ng bị chết bởi bệnh tim hồi Th�ng Mười 1921, ở tuổi 84.

 

����� �ng Thomson được xem l� một nhiếp ảnh gia th�nh c�ng trong nhiều l�nh vực: phong cảnh, ch�n dung, ảnh sinh hoạt đường phố, ảnh c�c kiến tr�c.� C�c ảnh chụp của �ng từ v�ng Viễn Đ�ng, trong sự đ�nh gi� của học thuật T�y phương, được xem đ� soi s�ng cho độc giả thời Nữ Ho�ng Victoria của Anh Quốc về l�nh thổ, d�n ch�ng. v� văn h�a của Trung Hoa v� Đ�ng Nam �.

 

������ Quyển s�ch chứa đựng phần được tr�ch dịch dưới đ�y với nhan đề The Straits of Malacca, Indochina, and China; or Ten Years� Travels, Adventures, and Residence Abroad được xuất bản tại New York, Hoa Kỳ v�o năm 1875, c� lẽ l� một trong c�c s�ch c� t�nh c�ch giới thiệu v� hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh đầu ti�n trong đ� c� viết về S�ig�n.� N�n nhớ, như ở phần tiểu sử n�u tr�n đ� ghi nhận, t�c giả đ� đến thăm S�ig�n trong c�c năm 1865-66, v� 1867, tức l� ngay sau khi người Ph�p vừa chiếm đ�ng Nam Kỳ, v� chỉ x�m chi�m Bắc v� Trung Kỳ 17 năm sau đ�.� Quyển s�ch c� lẽ ăn kh�ch n�n đ� được dịch sang Ph�p ngữ v� ấn h�nh bởi Nh� S�ch Librairie Hachette et Cie. tại Paris, hai năm sau tức v�o năm 1877, với nhan đề� Dix ans de voyages dans la Chine et l�Indo-Chine.

 

������ Bản văn tr�ch dịch đưa ra quan điểm của một người da trắng, v�o thời điểm vừa đạt được c�c thắng lợi trong việc x�m chiếm c�c thuộc địa tại v�ng Viễn Đ�ng, với một giọng điệu tư cao tự đại về c�ng cuộc khai h�a c�c d�n tộc � Ch�u m� họ xem như một sứ mệnh tự nhi�n của người da trắng, c�ng với số phận bị thống trị của c�c d�n tộc � Ch�u da v�ng, da n�u như một chuyện tất yếu đ�, đang v� sẽ xẩy ra.� Bản văn tr�ch dịch chứa dựng c�c sự nh�n x�t với đầy vẻ miệt thị, dĩ nhi�n với đầy đủ c�c th�nh kiến v� mặc cảm tự t�n, c�ng với c�c th�ng tin sai lạc.� T�c giả Thomson đ� m� tả người S�ig�n l�c bấy giờ như một sắc d�n rất sơ khai, như thời ăn l�ng ở lỗ, với h�nh ảnh người đ�n �ng v� c�c trẻ em trần truồng, cả ba th�ng cũng kh�ng tắm rửa nếu kh�ng bị bắt buộc, x� ph�ng kh�ng d�ng để tắm, m� đ�i khi c�n bị ăn lầm như thực phẩm, nh� cửa th� tồi t�n kh�ng thể tưởng tượng như một nơi cư tr�, ở khu d�n cư dọc bờ s�ng, hay dơ d�y như ở khu Chợ Qu�n.� D�n ch�ng th� lười biếng, chỉ l�m việc tối thiểu v� d�ng phần lớn th� giờ để h�t thuốc, nhai trầu, t�n gẫu, hay săn bắn.� Thậm ch� t�c giả c�n viết người d�n ở đ� c�n đi săn v� ăn thịt người!!! �Điều c�o gi�c n�y về sau được cải ch�nh bởi một số t�i liệu kh�c của T�y Phương, n�i rằng c�c kẻ ăn thịt người n�y ở về ph�a t�y của Nam Kỳ.� Biết bao nhiều điều ngộ nhận v� khinh miệt, nhưng c� thể nơi đ�y ch�ng ta c� được c�c cảm nghĩ thực sự của một kẻ thực d�n da trắng v�o l�c đ�.� Một ngoại lệ, v� c� lẽ l� sự tường thuật đầu ti�n về một cuộc gặp gỡ của một người da trắng với �ng Petrus Trương Vĩnh K�, với sự th�n phục của t�c giả về khả năng th�ng thạo nhiều ng�n ngữ của nh� b�c học họ Trương n�y.

Khi so s�nh với một bản văn được viết v�o năm 1879, tức khoảng 13 năm sau đ� của một nữ t�c giả kh�c, cũng l� người Anh, b� Isabella Bird, về cuộc thăm viếng ngắn ngủi của b� tại c�ng c�c khu vực S�ig�n, Chợ Lớn, Chợ Qu�n như thế.� Khi đ�, S��g�n đ� trở th�nh nơi chốn du lịch quen thuộc của kh�ch phương t�y.� Quang cảnh c�c nơi m� b� Isabella Bird đ�n thăm viếng v� m� tả xem ra kh�ng mấy thay đổi, lối sống người d�n kh�ng mấy kh� hơn, nh� cửa vẫn tồi t�n v� dơ bẩn, đ�n �ng vẫn chỉ đ�ng khố, trẻ em th� trần trưồng.� Tuy nhi�n, nữ t�c giả n�y đ� kh�ng bầy tỏ sự miệt thị nặng nề với người d�n Nam Kỳ, v� nhận định rằng người Ph�p đ� kh�ng th�nh c�ng trong việc quản trị thuộc địa. [Xin xem b�i dịch, Rong Chơi S�igon, của Isabella Bird, đ� đăng tải c�ng tr�n mạng Gi� O n�y]./-

 

*****

 

 

LỜI TỰA

 

---o---

 

������ C�c hồi tưởng đ�nh k�m về c�c cuộc du h�nh của t�i được nhắm đến c�c độc giả -- t�i tin hẳn phải c� nhiều � �l� những người c� một sự lưu � đến c�c v�ng xa x�i tr�n đ� h�nh tr�nh của t�i đ� trải qua, v� đến bộ phận to lớn của gia đ�nh nh�n loại cư tr� ở khu vực bao la của Trung Hoa � một bộ phận m�, xuy�n qua cơ quan t�u chạy bằng hơi nước v� điện t�n, ng�y c�ng được mang v�o mối quan hệ gần gũi hơn với ch�nh ch�ng ta.

 

������ T�i đ� gắng sức để truyền đạt đến độc giả một số sự chia sẻ trong niềm vui th� m� ch�nh t�i đ� kinh nghiệm trong c�c cuộc lang thang của t�i; nhưng c�ng l�c, t�i cũng lo lắng tới việc phản �nh đ�ng với sự chăm ch� của người đọc, sao cho c� thể đưa ra cho người đọc, nếu kh�ng phải một cảm tưởng l�c n�o cũng th�ch th�, th� �t nhất, cũng trung thực về Trung Hoa v� cư d�n của n�; v� về cư d�n, t�i đ� t�m ra họ kh�ng chỉ ở nh� tr�n mảnh đất bản xứ, m� ch�ng t�i c�n nh�n thấy họ tại ch�nh c�c phần thuộc địa chiếm hữu của ch�ng ta, v� tại c�c v�ng đất kh�c m� sự xuất cảnh đ� dẫn dắt họ đ�n đ�.

 

������ Kể từ chuỗi ng�y của nh� du h�nh vĩ đại gốc Venice [chỉ Marco Polo, ch� của người dịch], c� lẽ kh�ng thời đại n�o trong lịch sử của khu vực đ� của địa cầu lại c� sự quan t�m trọn vẹn nhiều hơn b�y giờ.� Cuối c�ng, �nh s�ng của văn minh trong thực tế dường như đ� h� rạng tại Phương Đ�ng xa x�i; với c�c tia nắng ban mai l�m s�ng rực vương quốc h�n đảo nhỏ b� Nhật Bản, v� đ� sẵn x�m nhập v�o v�ng ven biển của lục địa Trung GHoa vĩ đại, nơi m� sự u �m của nhiều thời đại vẫn c�n bao tr�m tr�n c�c th�nh phố, một đ�m m�y đen đ� tan đi tuy c�n chậm, v� miễn cưỡng nhường bước cho �nh s�ng ban ng�y giờ đ�y tr�n ngập bờ biển, nhưng c� lẽ sẽ sớm c� thể bị ph�n t�n v� ti�u tan trong c�c luồng sấm s�t của cuộc chiến tranh đang chực chờ b�ng nổ.

 

������ Xem ra chắc chắn Trung Hoa kh�ng thể nằm im m� kh�ng x�o trộn trong nguy�n trạng [in statu quo, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] được bao l�u nữa.� Ch�nh s�ch được t�n trọng s�u xa của n� về sự bất động v� ngưng trệ đ� mang đến c�c trận lụt, nạn đ�i, dịch bệnh, v� c�c cuộc nội chiến h�ng loạt li�n tiếp nhau; n� kh�ng thể nhận ch�m đ�m đ�ng cực nhọc xuống c�c mức độ s�u hơn nữa của sự thống khổ, hay ngăn chặn tiếng h� h�t của quần ch�ng than van về thực phẩm trong khi c�c d�ng s�ng chảy hỗn loạn tr�n c�c đồng bằng ph� nhi�u của họ v� c�c con đường đ� bị biến th�nh c�c thủy lộ.� Trong khi đ� c�c nh� l�nh đạo, với một sự ki�u h�nh m� qu�ng, đang trang bị cho một qu�n đội yếu k�m để chiến đấu kh�ng cho điều g� đ�ng bảo vệ cả, v� để chống Nhật Bản � �nước trong sự b�o chữa cho c�c quyền hạn của ch�nh m�nh, v� trong c�c quyền lợi của nh�n loại � đ� tr� đ�ng một đội qu�n nhỏ nhưng kỷ luật tr�n v�ng đất thực sự l� một phần hợp th�nh của l�nh thổ Trung Hoa.

 

������ Xin cho t�i bổ t�c v�o �t d�ng chữ n�y rằng, với quan niệm cung cấp kh�ng chỉ một quyển s�ch được đọc một c�ch th�ch th�, m� c�n đầy đủ tin tức đ�ng tin cậy, nơi phần sau của quyển s�ch n�y, t�i đ� lập lại v� khai triển rộng một số đoạn văn m� t�i đ� sẵn tr�nh b�y với thế giới trong quyển �C�c H�nh Ảnh Minh Họa Trung Hoa v� D�n Ch�ng Của N� (Illustrations of China and its People), c�c đoạn văn m� t�i nghĩ l� c� một số tầm quan trọng, song vẫn chưa vươn tới bộ phận đ�ng đảo c�c quảng đại độc giả trong t�c phẩm lớn hơn v� tốn k�m hơn của t�i.

 

J. T.

 

Brixton: Th�ng Mười Một, 1874. �������

 

 

*****

 

 

Chương VI

 

S�IG�N

 

Hải Cảng Của S�ig�n � Th�nh Phố � Cộng Đồng Ngoại Kiều Thường Tr� � Chợ Lớn, Khu Phố T�u � Cư Ngụ Tr�n S�ng � C�c Phong Tục của D�n Nam Kỳ - C�c Nh� Mậu Dịch Trung Hoa � L�ng D�n Nam Kỳ tại Chợ Qu�n � Thầy Ph�p � B�i Tha Ma � �ng Petrus K�

 

������ S�ig�n, tại Nam Kỳ thuộc Ph�p, được tiếp cận bởi một chi nh�nh của con s�ng Mekong vĩ đại, trong thực tế l�ng hẹp v� kh�c khuỷu, tuy thế c� thể lưu h�nh được đối với c�c chiếc t�u c� trọng tải nặng nhất.� Bản th�n thị trấn c� một bộ dạng vui tươi, hay �t nhất, đ� c� vẻ như thế trong thời gian t�i đến thăm viếng; nhưng n� c� một vẻ hơi lộn xộn.� Đối diện với khu định cư l� một bến cảng rộng r�i, gồm một d�n nổi n�ng t�u, v� một hải đội gồm c�c t�u bọc sắt, c�c t�u chạy bằng hơi nước của h�ng hải vận� �Messageries Maritimes�, v� c�c c�ng ty mậu dịch tư nh�n kh�c, ngo�i nhiều thuyền c�nh buồm vu�ng kh�c đang chờ đợi c�c chuyến chở gạo, sản phẩm ch�nh yếu của c�c c�nh đồng ph� sa bao la của miền nam Nam Kỳ.� Dọc theo c�c bờ s�ng l� một dẫy d�i c�c qu�n c� ph� thấp v� c�c văn phong ch�nh phủ hay thương mại, bao quanh bởi c�c l� cờ của c�c t�a l�nh sự kh�c nhau, trong khi cho đến nay, kiến tr�c hiển hiện nhất l� một kh�ch sạn đang trong tiến tr�nh x�y dựng, hứa hẹn sẽ trở th�nh một cơ ngơi rất oai vệ.

 

������ C�c con lộ san phẳng rộng r�i, được trồng hai b�n vệ đường c�c h�ng c�y, v� đ�m s�u h�ng dặm theo c�c đường thẳng tắp tuyệt vời khắp v�ng đất, l� một đường n�t hấp dẫn tại khu định cư; cũng cho thấy rằng Ch�nh Quyền kh�ng đ�nh mất thời gian v� kh�ng ngại tốn ph� trong việc chấp nhận c�c biện ph�p đ� g�p phần một c�ch cụ thể v�o t�nh trạng y tế v� hưởng dụng của cộng đồng.� Đối với ch�nh c�c tr� nh�n, họ đ� cung cấp cho c�c nơi cư ngụ của họ với nhiều tiện nghi v� sự xa xỉ của qu� nh�.� Tuy nhi�n, cho đến nay, như t�i c� thể ph�n đo�n, phần lớn thương mại S�ig�n nằm trong tay người Anh v� người Đức.� C�ng l�c, c� một số lượng lớn c�c ng�i nh� của Ph�p; song c�c thương nh�n Ph�p, một c�ch n�o đ�, c� vẻ như đ� thực hiện việc mua b�n của m�nh với một mức độ dễ d�i lịch sự v� nhẹ nh�ng nhưng c�n nhắc tao nh�, khiến c�ng việc kinh doanh của �ng ta th�nh ra một phương c�ch cung cấp một lối sống vui tươi thoải m�i, hơn l� một c�ng cụ m�, sau những ng�y cật lực l�m việc nh�m ch�n, những đ�m mất ngủ, v� cuộc tranh đấu li�n tục, sẽ gi�p �ng ta d�nh giựt được một sự sung t�c ra khỏi b�n tay của sự may rủi.� Điều đ�ng ch� � để ghi nhận xem ng�y giờ thường đ� được ph�n chia ra sao.� Khoảng năm giờ rưỡi hay s�u giờ s�ng, gia nh�n (người T�u) sẽ g� cửa.� �Tuan bangon adda copee!� �Thưa Ng�i, xin thức dậy, c� ph� đ� sẵn s�ng�, l� lời loan b�o m� anh ta thốt ra, bằng tiếng M� Lai [?], ng�n ngữ được n�i bởi người Trung Hoa ở Singapore.� Tỉnh ngủ bằng một cốc c� ph� � cũng n�i th�m, với hương vị Paris thứ thiệt -- v� với một đĩa tr�i c�y mới được h�i, vị thương nh�n sẽ bước, trong chiếc bajo [?, kh�ng r� nghĩa, c� thể chỉ tấm chăn hay t�i ngủ; trong tiếng l�ng của Anh ngữ, bajo c� nghĩa chỉ kẻ kỳ cục, ch� của người dịch] v� bộ pyjamas (đồ ngủ), xuống văn ph�ng ở tầng dưới lầu; ở đ�, sau khi ch�m lửa điếu x� g�, �ng ta sẽ ngồi xuống l�m việc cho đến khoảng ch�n giờ rưỡi.� Tắm rửa v� ho�n tất việc vệ sinh c� nh�n l� c�ng việc kế tiếp phải ho�n tất, v� sau việc n�y l� bữa ăn s�ng, với cơm, c� ry, v� v�n v�n; bữa ăn như thế, trong thực tế, với c�c m�n ăn thay đổi đ�i ch�t, l� bữa điểm t�m m� ch�ng t�i hay biết ở mọi nơi tại Phương Đ�ng.� Bữa ăn kết th�c, thời giờ được ti�u d�ng cho việc đọc s�ch b�o, ngủ ngh�, h�t thuốc hay nằm ườn người ra, cho đến khi kh� m�t buổi chiều trở về.� Khi đ� bữa ăn trưa (tiffin, tức luncheon, tiệc trưa) được dọn ra, v� sau bữa trưa, c�ng việc được t�i tục trong hai hay ba tiếng đồng hồ.� Kế đ� một số thời giờ được d�ng cho một cuộc đi dạo, nghe nhạc; cho một trận đ�nh bi-da, hay �t�ch m�nh tr�i giạt� (�cart�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch) v�o một c�u lạc bộ; hay nhấp nh�p một ly khổ ng�i (absinthe) tại một qu�n c� ph� ưa th�ch.� Sau bữa ăn tối, ban đ�m sẽ trải qua ở nh�, hay c� thể ở c�u lạc bộ hay một qu�n c� ph�, nơi m� c�c to�n đ�nh b�i được th�nh h�nh v� chơi m�i đến tận khuya.

 

������ Dĩ nhi�n, lối sống n�y được thay đổi bởi c�c buổi khi�u vũ tư nh�n, c�c bữa dạ tiệc, v� c�c buổi tiếp t�n ch�nh thức tại t�a nh� Ch�nh Phủ.� T�i nhớ c� gặp một hay hai người đại diện Trung Hoa tại một buổi khi�u vũ của Ch�nh Phủ, v� trong họ c� một kẻ chưa bao giờ hiện diện tại một cuộc hội họp như thế.� Một số kẻ đ� th�ng b�o cho người đ�n �ng n�y rằng buổi khi�u vũ được thực hiện với sự trang trọng lớn lao v� nghi lễ l� một phần trong tang lễ �u Ch�u của ch�ng ta, v� �ng ta đ� d� hỏi một c�ch nghi�m chỉnh rằng liệu �ng ta c� n�n xuất hiện trong y phục m�u trắng (v� c�ng thương tiếc) như một sự b�y tỏ t�nh cảm d�nh cho người chết đi hay kh�ng, cho đến khi �ng ta kh�m ph� rằng m�nh đ� l� một nạn nh�n của một tr� chơi khăm. �Nhưng c�c người Ph�p nhiều tưởng tượng đ�i khi ch�nh họ cũng trở th�nh nạn nh�n của sự đ�nh lừa.� Trong một dịp, tại một bữa ăn tối y�n tịnh được khoản đ�i bởi một thương nh�n người Ph�p, t�i nhận thấy c�c vị kh�ch kh�ng thể n�i về điều g� kh�c ngo�i c�i chết kh�ng hợp thời của một nh� thi�n nhi�n học tận tụy v� một kẻ du lịch nổi bật đ� đảm nhận chức vụ gi�m đốc �Vườn B�ch Thảo� (Jardin Botanique) tại S�ig�n.� Điều được thuật lại rằng người đ�n �ng k�m may mắn n�y đ� bị cướp v� hạ s�t bởi một nh�m d�n bản xứ tại một khu vực đồi n�i, nơi �ng ta đ� theo đuổi trong một số th�ng c�c cuộc nghi�n cứu thực vật của m�nh.� Bữa tiệc của ch�ng t�i thực sự l� một cuộc họp mặt buồn b�; vị th�nh tử đạo cho khoa học c�n trẻ được y�u mến v� k�nh trọng bởi mọi người quen biết �ng ta, v� những kẻ hiện diện đ�, thề sẽ tr�t mối hận mau ch�ng l�n đầu c�c kẻ s�t nh�n, một sổ kẻ trong họ -- như tin tức được đồn đại � đ� sẵn bị bắt giữ.� Triều s�ng cảm t�nh giờ đ�y l�n đến cao điểm, khi một bước ch�n nhẹ nh�ng được nghe thấy ở cầu thang � trong tho�ng chốc c�nh cửa được mở ra, v� nh� b�c học bị hạ s�t đ� lao v�o c�c v�ng tay của c�c người d�n đồng hương đang buồn b� của �ng.� Như sự việc xảy ra, �ng ta đ� mất tất cả của cải, nhưng một người bản xứ hảo � đ� cứu sống mạng �ng ta.

 

������ Chợ Lớn, khu vực bản xứ của S�ig�n, c�ch xa khu định cư �u Ch�u khoảng ba dặm.� Xin mời độc giả h�y c�ng t�i tham dự v�o một cuộc dạo chơi buổi s�ng v�o thị trấn nửa Trung Hoa, nửa Việt Nam n�y.� Đường đi của ch�ng ta dọc theo lối đi bộ của �Kinh Đ�o Lớn� (Grand Canal) � kh�ng c� g� to lớn ngo�i t�n gọi của n�, bởi c�c bờ s�ng bị tr�n lấp bởi cỏ dại rậm rạp, v� c�c triều nước n�ng cao th� đục những b�n, v� triều nước khi r�t thấp l� mặt b�n lầy.� Một đ�m c�c con ch� hoang chạy �o một c�ch đi�n cuồng băng ngang con lộ, v� xuy�n qua đ�m bụi bặm m� ch�ng l�m bay l�n, ch�ng ta c� thể nh�n thấy c�c h�nh d�ng của một đo�n c�c chiếc xe k�o Căm Bốt, một chiếc xe c� một cặp b� thiến đựợc xỏ bằng một sợi d�y xuy�n qua lỗ mũi của ch�ng v�o cỗ xe ngay ph�a trước.� Cả đo�n xe k�o được điều khiển bởi một đứa con trai b� nhỏ, bởi c�c nh� bu�n b�n h�y c�n ngủ v�i giữa đống ng� voi, da v� sừng th� vật, nhựa th�ng v� đằng ho�ng, l� những thứ được mang ra chợ để b�n. C�c b�nh xe k�u kẽo kẹt một c�ch kinh khiếp quanh c�c trục gỗ kh� khan của ch�ng, v� trong thực tế sẽ tạo ra một sản nghiệp của bất kỳ kể đầu cơ n�o c� đủ sự gan dạ để k�o ch�ng l�n xuống v�i khu vực l�n cận Lu�n Đ�n y�n tĩnh.� Ch�ng ta giờ đ�y tiến v�o trục lộ ch�nh của Chợ Lớn.� Từ đang xa l� cảnh s�t b�n ph�a tr�i, v� ở đ�y l� một h�ng d�i c�c phụ nữ đi ch�n đất, mang c�c rau tươi đến th�nh phố.� Y phục của họ tương tự như quần �o của c�c thiếu nữ n�ng d�n Trung Hoa, ngoại trừ c�c chiếc n�n, v� c�c chiếc n�n n�y tr�ng giống như c�c chiếc rổ khổng lồ đặt tr�n đầu của họ.� N�n loại n�y được l�m bằng c�c l� kh�, v� đo được hai bộ Anh (feet) tr�n đường k�nh, v� s�u s�u ph�n Anh (Inche).� Người đ�n �ng đội c�c chiếc n�n c�n to hơn nữa, c� h�nh n�n, v� phủ xuống hai b�n vai.� Những vật che đầu khổng lồ n�y được hất l�n tr�n gi�p cho người đội ch�ng nh�n được đường đi, v� l� một loại n�n rất th�ch hợp với đặc t�nh An Nam, bởi ch�ng mang lại vật che mưa, v� đ�y l� điều quan trọng nhất đối với một d�n tộc nghĩ rằng d�ng nước tinh khiết l� kẻ tử th� gh� gớm nhất.� Trong suốt một thời gian cư tr� ba th�ng tại Nam Kỳ, t�i kh�ng nhớ m�nh c� bao giờ nh�n thấy một d�n bản xứ tự m�nh tắm gội, trừ khi bị y�u cầu như thế, đến nỗi c� thể chụp h�nh được một sự tượng trưng kh� ăn ảnh từ khu�n mặt của người đ�; v� rồi ngay khi đ� hoạt động n�y cũng phải được tr�ng chừng một c�ch cẩn thận, bởi sự tắm gội được thực h�nh theo một c�ch sẽ để lại một đường viền bao quanh khu�n mặt, giống như một m�n đồ gốm, được phủ l�n để bảo vệ c�c đường n�t tr�nh khỏi bạo lực n�o kh�c.

 

������ Tuy nhi�n, ch�ng ta h�y tiến bước tiếp trong cuộc dạo chơi.� Kh�ng c� mưa trong nhiều th�ng, c�c h�ng r�o v� bụi c�y n�m ch�y với bụi bặm, nhưng đ� sống động trở lại với c�c m�u sắc biến đổi của c�y b�m b�m.� Kh�ng c� g� gợi sự ch� � đặc biệt để xem x�t tr�n đường phố v�o giờ ph�t sớm sủa n�y, cho đến khi ch�ng ta c�n c�ch xa thị trấn trong v�ng một dặm; v� rồi ch�ng ta đến �C�nh Đồng C�c Ng�i Mả�(Plaine des Tombeaux), một khu đất ch�n cất bao tr�m một diện t�ch khoảng hai mươi lăm dặm.� Khu đất n�y đ� được lựa chọn bởi c�c nh� l�nh đạo bản xứ h�ng trăm năm trước đ�y, như một chỗ y�n ngghỉ d�nh cho người chết, theo lời cố vấn của c�c nh� chi�m tinh của triều đ�nh.� Đường d�y điện t�n dọc theo con đường giờ đ�y n�i l�n một đời sống mới, v� một kỷ nguy�n mới trong lịch sử của xứ sở.� Chợ Lớn giờ đ�y trước mặt ch�ng ta; c�c cư d�n ch�nh yếu l� người Trung Hoa, v� c�c đặc t�nh Trung Hoa được nh�n thấy ở khắp mọi nơi, đầy đủ nơi c�c đền ch�a v� nh� ở, giống như trong hoạt động si�ng năng của người d�n.� Thị trấn đ� thức dậy nhiều giờ trước đ�y, v� tr�n c�c khu�n mặt ch�ng ta gặp gỡ đầy vẻ kinh doanh m� ch�ng ta chỉ nhận thấy được nơi người Trung Hoa.

 

������ Để c� thể nh�n thấy một v�i điều g� d� của người d�n Nam Kỳ, ch�ng ta phải đi về ph�a bờ s�ng, nới h�ng trăm chiếc thuyền tụ tập c�ng nhau, tạo th�nh một l�ng nổi bản xứ.� Nhiều thương nh�n Trung Hoa đ� sẵn bước xuống c�c chiếc thuyền, thảo luận về gạo m� ch�ng cất chứa, trong khi c�c người kh�c kết th�c c�c cuộc mặc cả, v� đang trả cho c�c người bản xứ bằng h�ng rổ đầy tiền bằng đồng.� Bước xa hơn một ch�t ch�ng ta tới khu cư ngụ tr�n d�ng s�ng.� C�n c� thể c� bất kỳ lối sinh hoạt n�o sơ khai hơn lối sống n�y nữa chăng?� C�c hang động m� c�c tổ ti�n người Anh của ch�ng ta tr� ngụ l� c�c l�u đ�i khi so s�nh với c�c nơi ở n�y, v� c�c nh� cửa b�n Hồ Thụy Sĩ sẽ l� c�c cung điện.� Ở đ�y, một gia đ�nh bẩy người c� thể được t�m thấy sinh sống trong một t�p lều đo được năm bộ nh�n với bẩy bộ Anh.� C�c sự sắp xếp vệ sinh th� đơn giản.� Kiến tr�c được dựng l�n tr�n một s�n cao hơn mặt nước v�i bộ Anh, nơi m� tất cả sự b�i tiết v� r�c rưởi được ph�p đổ tống xuống.� �Nh� tư bản, nếu �ng ta đề xuất để x�y cất một cư sở tr�n s�ng thuộc loại n�y � loại cung cấp mọi ưu thế cho một gia đ�nh đ�ng đảo theo đuổi một x� hội vui vẻ, một c�i nh�n khoảng kho�t tr�n con nước, c� nơi c�u c� tốt gần kề, kh�ng chịu g�nh nặng về thuế v� ti�n thu� đất, v� khoa trương một hệ thống tho�t nước thật đơn giản v� rẻ tiền � phải chi ra một tổng số l� hai đ� la rưỡi, hay mười hai h�o shilling [1 shilling = 1/20 Anh kim, ch� của người dịch], cho sự x�y dựng v� trang tr� c�ng tr�nh n�y.� Khi được x�y dựng xong, sở hữu chủ sẽ cho thu� n� theo một sự sang nhượng để sửa chữa.� Khi tham khảo bức h�nh [k�m theo trong b�i, ch� của người dịch] điều sẽ được nhận thấy rằng �gia trưởng� (paterfamilias) ngồi l�i lại một c�ch khi�m tốn đ�ng sau c�c đứa con của �ng ta.� V� buổi s�ng trời n�ng nực, trang phục duy nhất của �ng ta l� chiếc n�n h�nh ch�p, một biểu hiệu cho phẩm gi� bậc cha mẹ.� �ng ta, bởi đ� được khai h�a phần n�o, sẽ giở c�i vật trang điểm n�y khi ch�ng ta tiến tới gần, nhưng bởi điều n�y c� thể dẫn tới một cơn cảm lạnh nghi�m trọng v� một c�i chết kh�ng đ�ng l�c, t�i đ� y�u cầu �ng ta cứ đội chiếc n�n.� Trang phục tại khu l�n cận n�y l� một trong c�c mục khoản tốn k�m nhất trong sự dinh dưỡng một gia đ�nh, d� rằng c�c thứ quần �o kh�ng được biết đến đối với c�c trẻ em cho đến khi ch�ng được năm tuổi.� Đằng trước c�c t�p lều n�y, ch�ng ta c� thể nh�n thấy c�c chiếc xuồng, được kho�t từ c�c th�n c�y đặc gỗ, v� được d�ng cho c�c cuộc thăm viếng th�n hữu, tiếp thị hay đi c�u.� C�c cư d�n n�y, như t�i đ� sẵn n�i, kh�ng giữ sạch sẽ trong c�c th�i tục của họ.� Họ sống ở gần s�ng nước, nhưng t�i e rằng x� ph�ng sẽ l� một thị trường tồi trong họ, trừ khi họ đ�m ra th�ch ăn n�, điều đ�i khi xảy ra.� Họ chỉ l�m việc �t đến mức họ c� thể l�m, v� d�ng thời giờ nh�n hạ cho việc h�t thuốc, cho việc nhai trầu cau nhiều đến mức họ c� thể mua được, v� cho việc săn bắn; nhưng l� do săn bắn của họ l� một �đầu người: caput humanum� [?sic], v� mồi săn t� hon được ưa chuộng như một m�n ăn ngon v� c�ng.� Nơi đ�y, tại Chợ Lớn, người Trung Hoa l� sắc d�n � Ch�u chế ngự mậu dịch, v� trong thực tế đ�y l� điều xảy ra tại mọi quốc gia M� Lai v� Đ�ng Dương nơi m� họ đ� di d�n đến.� Họ được t�m thấy hầu như bất biến l� đ� kh�ng chỉ thực hiện một việc mậu dịch nhập cảng v� xuất cảng cho ri�ng trương mục của họ, m� c�n hoạt động như kẻ trung gian m�i giới giữa c�c thương nh�n ngoại quốc v� d�n bản xứ.� T�i c� l�m quen với một hay hai thương nh�n Trung Hoa tại Chợ Lớn, kẻ trước đ�y kh�ng l�u đ� đến xứ sở n�y như c�c c�ng nh�n l�m thu� từng ng�y th�ng thường, v� l� kẻ nhờ ở tiếng tăm năng động v� lương thiện đ� d�nh đạt cho m�nh sự ủng hộ v� t�n nhiệm của c�c nh� mậu dịch �u Ch�u tại S�ig�n.

 

������ Trong c�c ng�y tết năm mới Trung Hoa, t�i đ� được mời đến nh� một trong c�c thương nh�n n�y.� Địa điểm được x�y cất một nửa theo kiểu Trung Hoa, một nửa theo kiểu �u Ch�u.� Nh� kho ở mặt tiền đ� thay đổi kh�a cạnh th�ng thường của n�.� C�c chiếc b�n với khăn th�u đ� thay thế cho c�c kiện h�ng vải v� c�c t�i sản phẩm, v� được chất đầy với thức ăn thịnh soạn.� H�ng trăm danh thiếp m�u đỏ son, mỗi tấm c� khổ một tấm giấy sổ tay, v� được in với c�c danh t�nh bằng tiếng Trung Hoa, t� điểm cho c�c bức tường.� Tại một gian ph�ng rộng r�i ở tầng tr�n, một chiếc b�n được b�y ra với đồ d�ng �u Ch�u, rượu vang v� c�c thức ăn ngon.� Chủ nh�n tiếp đ�i ch�ng t�i xin lỗi về việc thiếu mất một số đĩa v� dao n�o đ� bằng c�ch n�i rằng c�c người bạn Nam Kỳ của �ng đ� xin được ph�p mang ch�ng đi mất như c�c vật kỳ lạ.� Một số c�c con ch�u của người H�n n�y định cư vĩnh viễn tại xứ sở, nhưng đa số quay về Trung Hoa, nơi, sau khi đ� tậu được một ng�i nh� nhỏ v� sự an to�n c� nh�n với bằng một phần trong số tiết kiệm của m�nh, họ sẽ về hưu hay sẽ tiếp tục kinh doanh với những g� c�n lại.

 

������ X� Chợ Qu�n nằm ở giữa đường Saig�n v� Chợ Lớn.� B�n phải của lối đi theo đ� n� vươn tới c� một h�ng r�o tre mọc rất tươi tiốt, v� b�n tay tr�i, tại giữa một c�nh đồng ruộng, một ao s�u nơi m� c�c con tr�u th�ch dầm b�n, tr�t l�n l�n da của ch�ng lớp b�n để ngăn cản c�c cuộc tấn c�ng của c�c con muỗi (moschettos).� Khi tiến tới Chợ Qu�n, kh�ng c� g� được nh�n thấy về l�ng mạc, ngoại trừ c�c c�y ăn tr�i mọc bao quanh c�c ng�i nh�; v� v�o l�c c� cuộc thăm viếng của t�i, c�c c�y cam v� bưởi (pumeloe, t�n khoa học l� Citrus decummana) đầy những tr�i, trĩu xuống tr�n c�c h�ng r�o với sức nặng của số thu hoạch của ch�ng.� Ng�i l�ng, đến mức m� t�i c� thể nhận ra, được tiến v�o xuy�n qua một lằn hẹp nằm giữa hai bức tường c�y xương rồng sắc nhọn; lối đi n�y dẫn tới một m� lộ của c�c lối đi kh�c, khiến t�i thắc mắc để biết con đường n�o sẽ dẫn t�m được Chợ Qu�n.� Nhưng t�i đ� đi xuy�n qua trung t�m của th�n ấp nhiều lần m� kh�ng hay biết về n�, bởi c�c ng�i nh� rải r�c đều bị che k�n bởi c�c h�ng r�o cao bằng c�y xương rồng hay tre.� C�c người bản xứ y�u th�ch sự k�n đ�o ri�ng tư; mọi gai nhọn tr�n c�c h�ng r�o bao quanh cư sở của họ l�, c� thể l� như vậy, một dấu hiệu rằng gia đ�nh nằm b�n trong tốt hơn muốn được để ri�ng m�nh.� Nếu ai đ� kh�ng bằng l�ng về điều n�y, chỉ cần mở cổng v�ng ngo�i, khi đ� một hay hai con ch� hoang tr�ng ốm yếu sẽ nhe răng nanh của ch�ng ra, v� cũng sẽ d�ng ch�ng.� C�c nh�m trẻ con trần truồng lăn v�o trong đ�m bụi tr�n c�c lằn đường, hay ngả người trong b�ng m�t h�t thuốc, l�m phồng l�n đ�i m� bụ bẫm của ch�ng với c�c cụm kh�i thuốc l� v� lại thở ch�ng ra ngo�i qua miệng v� lỗ mũi với một vẻ kho�i tr� m�nh liệt thường phải thuộc v�o những năm trưởng th�nh hơn.� C�c người đ�n �ng cũng vậy, ngồi xổm chắn cả lối đi, hay (bởi h�ng r�o kh�ng phải l� vật mời gọi để dựa lưng v�o) �nằm lăn ra tr�n đất để n�i chuyện, hay nếu kh�ng � bởi kh�ng c� �C�c Con Thi�n Nga�,� �C�c B� L�a M�, hay �C�c C�y Gỗ S�n Cao Ngất�, một trong c�c thứ m� l�c n�o xem ra như sẽ ở s�t ng�i nh� ch�ng ta gh� đến tr�n c�c đường lộ trong l�ng ở qu� nh� � họ sẽ quay về nơi cư ngụ của họ, đ�ng cổng b�n ngo�i lại, bước v�o h�ng hi�n, v�o chỗ ngồi, hay tr�n c�c phản d�i giải chiếu được trang bị với c�c chiếc gối bằng gỗ, v� sau đ�, trong một tư thế nằm duỗi d�i người ra, với tr�, thuốc l�, sam-shu [một loại rượu nấu bằng gạo của Trung Hoa, ch� của người dịch] v� trầu cau trong tầm với tay, tiếp tục đề t�i thảo luận, một sự quan t�m đ� cuốn h�t họ đến nay xuy�n qua những ng�y giờ hờ hững.

 

������ Giờ đ�y ch�ng ta h�y bước v�o một trong những cư sở n�y.� Hai người đ�n �ng ((bởi những g� t�i thuật lại t�i đ� thực sự chứng kiến), giờ đ�y đang vật v� với c�c nỗ lực đối thoại của họ, l� c�c điền chủ trong l�ng, v� t�i sản của họ được đo theo từng mẫu một.� Một cặp g�i nhỏ chưa tắm rửa c� khu�n mặt tươi vui đứng quạt cho c�c �ng chủ của ch�ng l� c�c n� lệ trong nh�.� B� chủ nh� ngồi h�t thuốc v� �m ấp đứa con của b� trong một g�c tối b�n trong ng�i nh�.� Bản th�n t�a nh� được x�y cất tốt, v� s�n nh� đứng tr�n c�c cột bằng gạch c�ch mặt đất chừng ba bộ Anh (feet).� Một khung trang tr� bằng gỗ chạm trỗ chống đỗ m�i nh� lợp ng�i, v� b�n trong nh� được ph�n chia th�nh c�c buồng l�m nơi ở đ�ng ho�ng cho gia đ�nh.� Ph�a đ�ng trước c� c�c h�ng hi�n ở mỗi b�n cửa ra v�o, v� b�n tr�n h�ng r�o mắt c�o l� một tấm bảng khắc t�n hay tước vị của gia chủ, trong khi được treo tr�n c�c cột cửa l� c�c c�u đối kh�c chứa c�u văn từ c�c kinh điển Trung Hoa.� �Nếu chủ nh�n l� một người gi�u c�, to�n thể mặt tiền ng�i nh� của �ng ta được chạm trỗ th�nh một t�c phẩm lồ lộ, cộng th�m m�u sơn v� thếp v�ng mang lại một kh�a cạnh oai nghi�m, v� được d�ng để thanh lọc c�c khiếm khuyết lọt v�o b�n trong, nơi gia đ�nh được giữ sống động bởi lo�i s�u bọ chấy rận li�n hoan trong b�ng tối v� bụi bậm. �B�u kh�ng kh� h�i h�m b�n trong ngăn cản người ta l�m một cuộc thanh tra k�o d�i.� Tuy nhi�n, ch�ng ta h�y để � đến sự sắp xếp độc đ�o của một khu� ph�ng nơi một người đ�n b� gi� được đặt ngồi tại một b�n kh�u v�, v� một người đ�n �ng lớn tuổi ngả m�nh tr�n một chiếc giường được bọc một c�ch ngay ngắn.� Một �t ghế do Trung Hoa chế tạo được sắp quanh căn buồng.� Tr�n một trong c�c chiếc ghế l� một nồi cơm chất đầy c�c tr�i cam, một b�t gạo, một cốc rượu sam-shu, v� một hay hai pho tượng cũ kỹ.� Tr�n một ghế kh�c cb�ng ta c� thể nh�n thấy c�c m�n đồ tạp nhạp của y�n ngựa, v� b�n tr�n đ� một tấm h�nh C�ng Gi�o La M� m�u đỏ v� v�ng.� B�n dưới ghế l� một t�i tr�i c�y v� nhiều n�ng cụ.� C�c bức h�nh Trung Hoa v� �u Ch�u được treo tr�n tường; v� một hay hai tấm gương, mang lại c�c đường n�t m�o m� xấu xi nhất của khu�n mặt con người, tạo th�nh c�c đồ trang tr� của căn nh� ở.

 

������ Giờ đ�y để c� một sự h�t thở kh�ng kh� trong l�nh, v� t�i sẽ dẫn qu� vị đi đến một khu vực kh�c của Chợ Qu�n, nơi c� một thầy ph�p cư ngụ.� Nh� �ng ta tọa lạc tại một phần ẩn khuất của ng�i l�ng, v� được bao quanh bởi một h�ng r�o xương rồng dầy đặc.� Chỉ c� một lối duy nhất theo đ� nơi ẩn n�u kỳ lạ n�y c� thế bị x�m nhập, v� tức l� bằng c�ch leo l�n một c�i c�y uốn v�ng qua h�ng r�o, sau đ� bước xuống một c�nh c�y v� nhảy từ đ� đến lối ra v�o của t�p lều.� Khi ch�ng ta bước v�o b�n trong, ch�ng ta nhận thấy vị b�c sĩ, nh� ti�n tri, nh� ảo thuật, đang c�i m�nh tr�n một quyển s�ch.� Tung t�e tr�n một chiếc b�n đ�nh b�i th� sơ trước mặt �ng l� c�c c�y l� qua ch�ng �ng ta điều chế một số c�c b�a ch� hiệu nghiệm của m�nh.� Một loại l� c�y thường được y�u cầu, v� l� một l� b�a y�u; v� loại n�y, khi được d�ng bởi một số kẻ s�i nổi nhưng u m� thất vọng, phải bị t�n th�nh bột, v� b�i v�o đầu một điếu thuốc l� m� �ng ta đưa cho một kẻ v� tư nhưng kh� bồng bột.� Khi một v�i l�n hơi kho�i lạc được thở qua lỗ mũi của b� ta, b� ấy xu�i l�ng trước kẻ tấn c�ng tr�i tim b�, v� bị khuất phục.� Tư thế xem x�t kỹ c�ng đảm tr�ch bởi nh� ảo thuật được thay đổi từng chập, v� con người thầy thuốc huyền b� sau c�ng nhắc nhở ch�ng ta rằng �ng ta kh�ng phải l� kẻ bất tử bởi việc với tay lấy một b�t sam-shu (rượu bản xứ) để giải kh�t.� Giờ đ�y �ng ngừng nghỉ để h�t một hơi từ điếu thuốc của �ng, hay chừng mắt đăm đăm nh�n v�o khoảng kh�ng, trong khi �ng nghĩ ngợi về những triệu chứng nguy hiểm nhất của bệnh nh�n sau c�ng của �ng, c�n nhắc xem liệu trong trường hợp bệnh nh�n kh�ng chống cự nổi bệnh tật của m�nh, hay sự chữa trị của vị thầy thuốc, c�c b� bạn của người chết sẽ c� thể thanh to�n to�n thể lệ ph� hay kh�ng.� Khi đ� c� thể �ng ta bị ngắt qu�ng bởi một bệnh nh�n đổ nh�o tr�n �ng với một đầu bị thương, hay tr�i tim bị thương, nạn nh�n một cuộc c�i v� hay kẻ đau khổ từ một t�nh y�u tuyệt vọng.� Nhưng ng�nh nghề nghiệp tr�n đ� �ng t�y thuộc ch�nh yếu để l�m đầy hộp tiền mặt của m�nh l� ph�p khu t� diệt ma, đ� t�m được nơi tr� n�u nơi tr�i tim của đồng b�o �ng.� Khi một người ngh�o khổ gặp kh� khăn với một �c quỷ, n� c� thể được tẩy trừ với gi� khoảng một đ� la; mặt kh�c, trong khi nếu bệnh nh�n l� một kẻ c� t�i sản, con quỷ chắc chắn sẽ được chứng minh l� ương ngạnh, v� cần c�c l� b�a trị gi� �t nhất mười s�u hay hai mươi đ� la để đưa đến sự trục xuất tối hậu con quỷ đ�.� Khi được mời đến b�n giường người bệnh, vị thầy thuốc bắt đầu sự chữa trị của m�nh bằng việc l�m chảy m�u � kh�ng phải từ người ốm, m� từ ch�nh �ng ta.� �ng ta trước ti�n cắm hai c�i xi�n nhỏ v�o m� của m�nh, với nến thắp s�ng ở c�c đầu que xi�n; sau đ� c�i xuống giường bệnh, �ng cất tiếng ca ngợi vị thần tốt l�nh, Ch�u-xuong [Ch�u-xương?, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� khẩn n�i sự trợ gi�p của vị thần.� Nếu ph�p trừ t� n�y thất bại, �ng gọi đến kẻ hầu tớ đảm nhận c�ng việc khổ nhọc, duỗi thẳng c�nh tay phải của ch�ng trai trẻ n�y ra, v� trong b�n tay ch�ng trai trẻ kế đ� được đặt cầm một c�i tượng, được giả định nhằm tạo ra sự chuyển động tự nhi�n của c�nh tay nối d�i.� Sau khoảng một tiếng đồng hồ đầu ti�n như thế, sự chuyển động tự nhi�n tự t�c động để với tay ra lấy b�t rượi sam-shu gần nhất d�nh cho vị thần của bức tượng l� kẻ, đ�i khi, c� một cơn kh�t dữ dội, đang tạo ra một c�ch kh� kỳ lạ, một loạt c�c sự chuyển động rắc rối v� tự nhi�n nơi ch�n tay của kẻ hầu tớ nắm giữ vị thần.� D�n bản xứ g�n cho tất cả sự việc n�y v�o một loại th�i mi�n (animal magnetism), kh�ng phải kh�ng được hay biết tại c�c phần kh�c của thế giới.� Nếu sự chữa trị n�u tr�n kh�ng th�nh c�ng, th�y thuốc, vị tu sĩ, nh� ph�p thuật được giả định sẽ nằm ngủ tr�n c�c cọc nhọn, bước đi tr�n lửa, uống chất nhựa đun s�i, v� ho�n tất một loạt ng�n nghề kh�c, trong đ� chất x�c t�c tinh thần duy nhất được nhận thấy l� rượu sam-shu.� Một nguồn lợi tức kh�c cho th�y lang băm huyền b� n�y ph�t sinh từ �C�nh Đồng Mả Người Chết� (Plaine des Tombeaux), hay �D�ng-t�p-tr�u� [tiếng Việt trong nguy�n bản, Đồng Tập Tr�u?, hay đồng Mả Lạng [?], ch� của người dịch], nơi h�ng chục ngh�n người d�n Nam Kỳ được ch�n cất.� �ng ta chỉ đơn giản tuy�n bố với một số gia đ�nh đau khổ rằng nguy�n do của sự sầu n�o của họ l� vị tr� kh�ng may mắn của thi h�i một người th�n thuộc đ� mất li�n quan đến vị thần rồng của đất đai; sau đ� �ng ta sẽ được thu� mướn bởi c�c người c�n sống đang đau đớn để di chuyển h�i cốt sang một thế đất may mắn hơn.

 

������ Người d�n Nam Kỳ, giống như người Trung Hoa, c� nhiều m� t�n dị đoan li�n quan đến sự ch�n cất người chết; một trong những m� t�n n�y giải th�ch cho hướng đồng nhất của c�c ng�i mộ tại D�ng Tập Tr�u [?], v� một m� t�n kh�c cho cấu tr�c tổng qu�t của ch�ng.� Giống như tại Trung Hoa, con rồng thường được nh�n thấy được chạm khắc tr�n ng�i mộ của họ.� Khi c�i chết xẩy ra trong một gia đ�nh, thầy ph�p n�y hay một thầy về c�c sự huyền b� về Phong Thủy (Feng-shui) được mời đến để gi�m s�t sự ch�n cất một người, c� thể l� nạn nh�n của t�i chữa bệnh lang băm của �ng ta; v�, như một vấn đề nghi�m trọng, �ng ta được kỳ vọng để đặt thi thể theo một c�ch sao cho linh hồn trong trạng th�i mới của n� sẽ trợ gi�p v�o c�c sự may mắn của gia đ�nh.� �ng ta do đ� tiến tới D�ng T�p Tr�u [?], với một c�i la b�n Trung Hoa trong một tay, v� một bức tượng ở tay kia.� Sự quan t�m đầu ti�n của �ng l� t�m vị tr� đầu rồng của khu đất, hầu �ng c� thể đặt định đầu của thi h�i tr�n đ�.� Sau đ�, �ng cẩn thận định phương hướng của d�ng nước chảy xuy�n qua b�i tha ma, sao cho thi h�i c� thể được đặt với đ�i ch�n hướng về nguồn nước.� Nếu đầu được đặt về ph�a nguồn nước, người ta tin rằng linh hồn sẽ �m�i m�i bị can dự v�o việc gắng sức t�m c�ch ngược d�ng, v� ch�nh v� thế, phải chịu đựng, do sự khinh xuất của c�c th�n nh�n c�n sống s�t, c�c sự d�y v� của một ngục t� đẫm nước vĩnh viễn.

 

������ Nh� qu� tộc Nam Kỳ, giống như nguy�n mẫu trong c�c d�n tộc kh�c v� thường gi�c ngộ hơn, n�i chung phơi b�y trong h�nh d�ng v� phong c�ch của m�nh c�c bằng chứng của một sự nu�i dưỡng thượng đẳng. �Khi thi�n nhi�n tỏ ra c�ng bằng, �ng ta cao hơn v� đứng thẳng hơn c�c mẫu người trung b�nh của đồng b�o �ng thuộc c�c d�ng tộc khi�m tốn hơn, trong l�c họ vượt trội �ng� ta v� hạn về sự ph�t triển bắp thịt.� �ng ta kh�ng hề đi l�m một ng�y trong cuộc đời của m�nh.� C�c b�n tay của �ng th� nhỏ nhắn, h�nh d�ng đẹp đẽ, v� mềm mại như b�n tay một phụ nữ, trong khi, như một dấu hiệu của sự v� dụng cực kỳ của ch�ng, c�c m�ng tay của ng�n thứ ba v� c�c ng�n tay nhỏ hơn được ph�p mọc d�i, hay được uốn nắn, cho tới khi ch�ng kh�ng kh�c g� c�c m�ng vuốt của một con diều h�u.� Một số h�nh vi của �ng ta cũng vậy, c� thể được so s�nh một c�ch th�ch hợp với c�c cử động của vua c�c lo�i chim.� Nếu �ng ta l� một quan chức ch�nh quyền, �ng ta thường nghi�m khắc trong sự đối xử với c�c thuộc cấp; bởi ch�nh �ng, c�ng với thượng cấp của �ng, l� những người chịu tr�ch nhiệm về t�c phong của họ.� Hậu quả của hệ thống n�y, c�c sự b�ng nổ tranh chấp d�ng tộc thuờng �t xẩy ta tại Nam Kỳ thuộc Ph�p hơn l� giữa c�c người Trung Hoa tại Singapore v� Penang.� Cuộc sống m� �ng ta tiến đến l� một cuộc sống biếng nh�c; tại nh�, �ng ta trườn người tr�n một chiếc giường hay chiếc ghế, bao quanh bởi nửa t� người hầu cận, một kẻ c� thể đi t�m bắt chấy rận trong m�i t�c tr�n đầu �ng ta, một kẻ kh�c hầu quạt cho �ng, trong khi kẻ thứ ba, canh chừng khu�n mặt kh�ng sinh kh� của �ng chủ, ti�n đo�n một ước muốn, mồi lửa một ống điếu hay điếu x� g�, v� lặng lẽ đặt n� v�o giữa đ�i m�i của �ng chủ.� Nếu c� một người bạn gh� thăm t�n chuyện gẫu, �ng ta nhai đầy miệng trầu cau v� seri [?, kh�ng r� nghĩa của từ ngữ n�y trong Anh ngữ, s�ri trong bản bằng tiếng Ph�p, ch� của người dịch], như một sự bắn tin lịch sự rằng bất kỳ g� đ� giống như một cuộc đối thoại sống động kh�ng được nghĩ đến, v� chỉ th�ch hợp cho chuyện tầm ph�o.� Người bạn sau đ� �được mời l�m như vậy; v� khi cả hai đều c� đủ cau để nhai, c�c tiếng lầm bầm nh�p nh�p, ph�t ra qua �m thanh của việc nhai trầu được trao đổi , chỉ c� thể được nghe thấy với c�c lỗ tai mở lớn của ch�nh họ.� Một ngoại lệ đ�ng kể đối với loại qu� tộc bản xứ n�u tr�n l� �ng Petruski [tức Trương Vĩnh K�, ch� của người dịch], một người Nam Kỳ theo đạo Thi�n Ch�a, đảm nhận chức vụ gi�o sư ng�n ngữ của ch�nh �ng tại trường Cao Đẳng Th�ng Dịch (Coll�ge des Interpr�tes) tại S�ig�n ���ng được gi�o dục tại một trường cao đẳng C�ng Gi�o La M� tại Penang, v� t�i sẽ kh�ng bao giờ qu�n được sự ngạc nhi�n của m�nh khi được giới thiệu với �ng lần đầu ti�n.� �ng ta n�i chuyện với t�i bằng Anh ngữ tuyệt hảo, chỉ với một �m điệu pha nhẹ tiếng Ph�p, trong khi với tiếng Ph�p, �ng c� thể đ�m thoại với c�ng sự tinh th�ng v� thoải m�i.� �ng cũng th�ng thạo kh�ng k�m, t�i tin như vậy, khi �ng n�i, hay viết bằng tiếng T�y Ban Nha, Bồ Đ�o Nha, hay � Đại Lợi; v� ch�nh do sự hiểu biết th�ng th�i c�c ng�n ngữ Phương Đ�ng m� �ng đ� c� được chức vụ xuất sắc m� �ng đảm tr�ch.� Trong một dịp t�i đ� đến thăm ph�ng nghi�n cứu của �ng, t�i đ� bắt gặp �ng đang dấn th�n v�o một c�ng tr�nh khiến �ng mất nhiều năm l�m việc � �Một Sự Ph�n T�ch Đối Chiếu C�c Ng�n Ngữ của Thế Giới�. ��ng bị v�y quanh bởi một sưu tập c�c quyển s�ch hiếm c� v� trị gi�, một số trong đ� �ng ta thu thập khi du h�nh tại �u Ch�u; một số kh�c � bằng tiếng Sanskrit, Pali, tiếng Xi�m La v� tiếng Trung Hoa � �ng đ� c� được từ nhiều nơi kh�c nhau của phương Đ�ng.� Trong buổi tối, một trong c�c gi�o sĩ ở Chợ Lớn đ� tham dự với ch�ng t�i, v� khi t�i ra về �ng đ� đối thoại với �ng Petruski trong một cuộc thảo luận về thần học bằng tiếng La Tinh.� �ng l� t�c giả của một số t�c phẩm; trong số đ�, quyển Văn Phạm Tiếng An Nam, c� t�nh c�ch khai mở bằng c�ch d�i t�m sự tương th�ch giữa c�c mẫu tự tượng trưng cổ xưa nhất với c�c từ ngữ của ng�n ngữ viết hiện đại của Việt Nam./- �������������

 

_____

Nguồn: J. Thomson, F. R. G. S., Chapter VI, The Straits of Malacca, Indochina, and China; or Ten Years� Travels, Adventures, and Residence Abroad, New York: Harper & Brothers, Publishers, Franklin Square, 1875, c�c trang 164-178.� Bản tiếng Ph�p c� nhan đề l� Dix Ans De Voyages Dans La Chine et L�Indo-Chine, xuất bản năm 1877, dầy 492 trang.

 

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

03/05/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2010