JOHN KEAY

 

ỦY HỘI THĂM D� S�NG CỬU LONG, 1866-1868:

SỰ TRANH GI�NH GIỮA ANH � PH�P

TẠI Đ�NG NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

John Keay l� t�c giả của một số s�ch bao gồm c�c quyển sử k� ti�u chuẩn về Ấn Độ, C�ng Ty Đ�ng Ấn, sự th�m hiểm ph�a T�y Hi M� Lạp Sơn, v� v�ng Trung Đ�ng c�ng Đ�ng Nam � trong thế kỷ thứ 20.

 

B�i viết n�y l� bản khai triển của b�i n�i chuyện m� �ng tr�nh b�y tại Hội Nghi�n Cứu � Ch�u Sự Vụ của Ho�ng Gia (The Royal Society for Asian Affairs) h�m 23 th�ng Ba năm 2005 về Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long (The Mekong Exploration Commission) đề t�i của một trong c�c quyển s�ch gần đ�y nhất của �ng, Mad about the Mekong: Exploration and Empire in South East Asia.� T�c phẩm mới nhất của �ng l� quyển lịch sử về Con Đường Gia Vị (Spice Route).

 

 

Bản đồ ch�nh trị của v�ng lục địa Đ�ng Nam � xem ra rắc rối một c�ch kh�ng cần thiết với nhiều dặm đường bi�n giới quốc tế d�i hơn so với bất kỳ miền n�o kh�c c� diện t�ch tương đương ngoại trừ �u Ch�u (nơi m� giờ đ�y c�c bi�n giới c�n lại �t hơn) v� T�y Phi Ch�u.� C�c h�nh thể bị cắt x� của Miến Điện, Th�i Lan, L�o, Việt Nam v� Căm Bốt cũng kh�ng dựa nhiều v�o địa h�nh cụ th�.� C�c bi�n giới của ch�ng l� sản phẩm của lợi thế ch�nh trị khi được nhận thức trong bối cảnh cuộc tranh gi�nh giữa Anh v� Ph�p tại tiểu lục địa Đ�ng Nam � hồi cuối thế kỷ thứ 19.� C�c điều chẳng hạn như c�c t�nh chất thi�n nhi�n, thực tế về chủng tộc v� sự hợp l� kinh tế chỉ nhận được sự lưu t�m sơ s�i v�o thời điểm đ�.� Mỗi quyền lực đế quốc chỉ đơn thuần nhắm v�o việc từ khước đế quốc kia c�ng nhiều l�nh thổ c�ng tốt, với ước khoản quan trọng l�, trong khi đối với Ph�p một sự tiếp gi�p chung cuộc của c�c khu vực ảnh hưởng của đế quốc xem ra hợp l�, đối với Anh, đ� l� điều kh�ng thể tưởng tượng nổi.

�� �

Cuộc vật lộn gi�nh giựt Đ�ng Nam � n�y, một m�n tạp lục của sự �x�o nấu hổ lốn� ở Phi Ch�u v� �tr� chơi vĩ đại ở Trung �, được ch�m ng�i bởi một cuộc th�m hiểm c� biệt, �t ồn �o, nhưng nhiều t�nh c�ch giảng huấn � đề �n của hải qu�n Ph�p trong c�c năm 1866-68 được biết dưới danh xưng Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long (The Mekong Exploration Commission).� Bị khước từ [sự th�nh lập] một đế quốc ph�a đ�ng tại Ấn Độ bởi người Anh v� sau đ� tại Trung Hoa, một lần nữa bởi sự cạnh tranh ch�nh yếu của Anh Quốc, nước Ph�p dưới chế độ phi�u lưu đế quốc của Louis Napol�on trong năm 1858 đ� chiếm giữ hải cảng nhỏ ở S�ig�n khi đ� thuộc phần đất được gọi l� Nam Kỳ (Cochinchina).� Một số đất đai kề cận vươn tới đồng bằng s�ng Cửu Long kế đ� được chiếm giữ, v� trong năm 1862 một qui chế bảo hộ bấp b�nh đ� được mở rộng l�n ph�a thượng lưu cho đến Căm Bốt, khi đ� l� một vương quốc đang l�m nguy v� nhỏ b� hơn nước Căm Bốt ng�y nay rất nhiều; sự việc n�y vốn đ� sẵn trở th�nh một g�nh nặng qu�n sự v� t�i ch�nh; v� vấn đề triệt tho�i to�n bộ v� thế đ� được thảo luận một c�ch t�ch cực tại Paris.� Nhưng tại S�ig�n, việc n�y bị kh�ng cự.� C�c kẻ y�u nước hăng m�u như Trung �y Francis Garnier đ� th�c đẩy một l�n s�ng c�c sự ti�n đo�n lạc quan v� c�c đề nghị ng�ng cuồng, trong đ� nổi bật nhất l� � đồ mở một đường hải h�nh với nội địa Trung Hoa theo thủy lộ của con s�ng vĩ đại c� đồng bằng bao gồm ch�n cửa mở miệng đổ ra biển tại ngưỡng cửa của thuộc địa nhỏ b�.

 

S�ng Cửu Long sẽ mang lại một nh�n tố cho sự hịện diện của Ph�p tại một v�ng m� Garnier v� c�c đồng sự của anh ta đ� nhất mực gọi l� Indo-Chine (B�n Đảo Ấn-Hoa), một t�n mới đặt t�n kỳ để t�ch biệt Đ�ng Nam � khỏi c�c đấu trường đế quốc kh�c của Ấn Độ v� Trung Hoa trong khi vẫn mang lại cho n� một số uy danh n�o đ� của cả hai nước đ�.� Gi�ng s�ng c� thể mang lại cho S�ig�n những g� m� con s�ng Dương Tử đ� l�m cho Thượng Hải, hay những g� m� con s�ng Mississippi c� thể đ� l�m đem đến cho v�ng đất sở hữu trước đ�y bởi Ph�p tại New Orleans.� Như một xa lộ thương mại với c�c thị trường trong nội địa Trung Hoa, v� như một đường tải chuyển cho việc khai th�c c�c quặng mỏ v� l�m sản của c�c v�ng đất kẹt s�u b�n trong, n� sẽ cung cấp một lối x�m nhập v�o v�ng � Ch�u lục địa, như thế đền b� được cho c�c vốn liếng đ� chi cho thuộc địa đang sống vất vả tại S�ig�n v� truyền thừa cho nước Ph�p một tiềm năng th�nh lập một đế quốc phương đ�ng của ch�nh m�nh. �

 

�t kẻ lạc quan như Garnier trong mọi kh�a cạnh của vấn đề n�y, nhưng nhờ ở sự binh vực của Bộ Hải Qu�n tại Paris, đề nghị về s�ng Cửu Long đ� được chấp thuận, một c�ch miễn cưỡng v� kh�ng khoa trương.� Trong hai chiếc thuyền nhỏ b�, chạy bằng hơi nước c� vũ trang, với một số lượng qu� mức về rượu, bột m�, s�ng ống v� c�c h�ng h�a trao đổi, c�ng với tất cả c�c phụ t�ng cho một cuộc th�m hiểm khoa học quan trọng, Ủy Hội đ� rời bờ s�ng S�ig�n v� ngược l�n thượng nguồn để đi đến một v�ng xa lạ xanh um vĩ đại trong th�ng S�u năm 1866. (1)

 

 

Một Giang Lộ Đến Trung Hoa

 

Khi đ�, v� kể từ đ�, c�c sự kh�m ph� đ�ng kể của Ủy Hội c� l�c đ� t�m được một chỗ đứng trong lịch sử c�c cuộc th�m hiểm. (2)� S�u �ng chủ người Ph�p v� 20 kẻ t�y t�ng đ� đi th�m hiểm trong hai năm.� Họ li�n tục phải g�nh chịu bịnh sốt r�t, từng chập mắc bịnh kiết lỵ v� sưng độc v� đỉa cắn, v� sau c�ng bị rơi v�o cảnh t�ng quẩn.� Người cầm đầu của họ bị chết; c�c kẻ kh�c kh�ng bao giờ hồi phục.� Song họ l� những kẻ đầu ti�n � những người c�n sống s�t � vẽ lại gi�ng chảy của con s�ng d�i khoảng hơn 2,000 c�y số, đ� th�m hiểm c�c phụ lưu v� v�ng nội địa của n� c� lẽ v�o khoảng 5,000 c�y số kh�c, v� đ� x�m nhập v�o tỉnh V�n Nam của Trung Hoa bằng đường s�ng.� Ở đ�, cố gắng bọc quanh sườn một cuộc chiến tranh địa phương, họ đ� t�m ra c�c v�ng thượng nguồn chưa từng được th�m hiểm của con s�ng Dương Tử tại ph�a t�y tỉnh Tứ Xuy�n v� đi ngược trở xuống để ra tới bờ biển Trung Hoa.� Chủ Tịch Hội Nghi�n Cứu Địa L� Ho�ng Gia t�n dương Ủy Hội như �một trong c�c cuộc th�m hiểm th�nh c�ng v� đ�ng kể nhất của thế kỷ thứ mười chin,� Trung �y Garnier, kẻ đ� trờ th�nh người cầm đầu sau c�i chết của Chỉ Huy Trưởng E.-M. L. de G. Doudart de Lagr�e, đ� được trao tặng Huy Chương Của Chủ Nh�n Bảo Trợ Của Hội (Society�s Patron�s Medal) trong năm 1870; v� trong năm 1871, anh ta đ� nhận được từ Hội Nghị Địa L� Quốc Tế một giải thưởng đặc biệt m� chỉ c� một người kh�c nhận từng được giải n�y, Tiến Sĩ Livingston.� Trong thực tế, Garnier được xếp loại c�ng với Livingston như kẻ th�m hiểm vĩ đại nhất của đương thời.



H�nh 1: Đ�ng Nam � v� s�ng Cửu Long


H�nh 2: Chỉ Huy trưởng Doudart de Lagr�e (b�n tr�n) v� Trung �y Francis Garnier

 

 

��������� Tuy nhi�n, đ� c� �t sự ch� � hơn về c�c mục ti�u ch�nh trị của cuộc th�m hiểm v� c�c hậu quả s�u xa của n�. (3)� Garnier, một sĩ quan hải qu�n giống như phần lớn c�c đồng sự của anh ta, v� kẻ biện hộ ch�nh yếu cho c�ng cuộc mậu dịch bằng đường thủy với Trung Hoa cũng như l� người chịu tr�ch nhiệm về sự khảo s�t thủy văn (hay thủy đạo) của Ủy Hội, c� vẻ đ� trở n�n bị �m ảnh bởi ch�nh con s�ng.� Như anh ta đ� viết:

 

Về phần m�nh, t�i đ� g�n tầm quan trọng đặc biệt cho việc li�n tục truy t�m gi�ng chảy uốn kh�c v� kỳ quặc của n�.� Bởi v� ch�ng t�i tiến v�o c�c v�ng chưa bao giờ được đặt ch�n tới bởi một cuộc điều tra của �u Ch�u, mỗi kh�c uốn của gi�ng s�ng Cửu Long như khi được bổ t�c v�o bản đồ của t�i xem ra l� một sự kh�m ph� địa dư quan trọng.� Kh�ng g� c� thể l�m t�i xao l�ng khỏi sự quan t�m canh c�nh n�y� N� đ� x�m chiếm t�i như một chứng thi�n chấp [monomania: chỉ m� mệt một thứ, ch� của người dịch].� T�i trở n�n đi�n cuồng v� gi�ng s�ng Cửu Long. (4)

 

��������� Anh ta đ� giải th�ch sự thiếu ch�nh x�c trong c�c chỉ thị của họ như việc điều tra giản lược nhưng kh�ng chỉ hạn chế v�o tiềm năng thương mại của gi�ng s�ng m� c�n truy t�m đến nơi ph�t nguy�n được đồn đ�i của n� tại T�y Tạng.� Trong bản b�o c�o ch�nh thức của anh ta cũng như trong b�i tường thuật c� nh�n của m�nh, anh ta kh�ng đ� chịu nh�n nhận điều sớm r� r�ng trở n�n hiển nhi�n đối với c�c đồng sự của anh ta, c� nghĩa, mặc d� bao la v� cuồn cuộn, con s�ng Cửu Long trong thực tế th� v� vọng, thực ra��� sẽ g�y x�c động mạnh, để hải h�nh.

 

��������� V�o l�c đ� cuộc tranh luận b�ng nổ về nguồn gốc con s�ng White Nile tại miền Đ�ng Phi Ch�u; hai năm trước đ�, Burton v� Speke gần như đ� sắp đi đến mức đối chiến về Hồ Lake Victoria, v� từ đ� c�c nh� th�m hiểm Bakers đ� loan b�o sự kh�m ph� của họ về Hồ Lake Albert.� Garnier hay biết về điều n�y v� cảm k�ch giải thưởng địa dư gắn liền v�o việc truy tầm một con s�ng lớn theo suốt chiều d�i của n�.� Mặc d� t�c người nhỏ b�, anh ta đ� nung nấu một sự tự phụ qu� đ�ng của một nh� th�m hiểm ch�n ch�nh.� Nhưng anh ta cũng nhận ra rằng thừa nhận t�nh bất khả hải h�nh của con s�ng Cửu Long c� nghĩa lột bỏ khỏi cuộc viễn th�m mục đ�ch ch�nh của n�.� Vị Chỉ Huy Doudart de Lagr�e khi đ� sẽ trở n�n đ�ng khi muốn b�p chết to�n thể cuộc du khảo; v� nếu �ng ấy đ� kh�ng l�m như thế, nếu cuộc th�m hiểm tuy thế đ� vẫn được tiếp tục, t�nh kh� hay c�i cọ v� h�m danh lợi sẽ bị phơi b�y.� Huyền thoại về t�nh khả dĩ lưu th�ng của con s�ng Cửu Long v� thế sẽ phải được duy tr�, bất kể l� c� đủ mọi bằng c� đề n�i ngược lại.

 

��������� Trong diễn biến, bằng cớ đ� hiện ra trong v�o tuần lễ khi l�i thuyền trực tiếp đi từ S�ig�n.� Xuy�n qua đồng bằng, đo�n th�m hiểm đ� xả ga chạy đến Nam Vang, v� ở đ�, như thể nhằm tr� ho�n gi�y ph�t của sự thực, đ� quẹo ngang để xuy�n qua Biển Hồ, hay Tonle Sap của Căm Bốt, v� th�m hiểm c�c kỳ quan vĩ đại của khu vực đền đ�i Angkor.� Sự đổi hướng n�y, lần thứ nhất trong nhiều lần, đ� được tr�nh b�y như một cơ hội cho c�c th�nh vi�n của đo�n th�m hiểm tập l�m quen v� thử nghiệm c�c dụng cụ của họ.� Angkor Wat� [khu di t�ch đền đ�i Đế Thi�n Đế Th�ch, ch� của người dịch], mới chỉ được t�i kh�m ph� khoảng một thập ni�n trước đ� bởi Henri Moulot, đ� được đo lường v� ph�c họa; v� mặc d� n� tọa lạc tại tỉnh Siem Reap, khi đ� giống như tỉnh kế cận Battambang, c�n nằm dưới sự cai trị của Th�i Lan, c�c lời k�u gọi đ� được ph�ng ra đến cả giới học giả Ph�p h�y lưu � đến địa điểm n�y lẫn ch�nh quyền Ph�p h�y đ�i hỏi sự t�i nhập n� v�o Căm Bốt.� Ch�nh từ đ� cột mốc đầu ti�n của nhiều cột mốc ba m�u [chỉ quốc kỳ nước Ph�p, ch� của người dịch] đ� được cắm s�u xuống tr�n phần nội địa Đ�ng Nam �.� Ba mươi năm sau đ� sự �qui ho�n� về dưới quyền cai trị của Căm Bốt, v� như thế, dưới sự bảo hộ của Ph�p, �c�c tỉnh ngoại nhập� Siem Reap v� Battambang sẽ l�m nổi bật đường n�t trong sự chia cắt của thực d�n.�� �������

 

��������� Sau khi đ� ti�u mất v�i tuần trong cuộc du ngọan n�y, Ủy Hội đ� quay trở lại Nam Vang v� xuất h�nh lần thứ nh�.� Khoảng năm tấn lương thực v� dung cụ được chất l�n lại một chiếc t�u vũ trang duy nhất, v� v�o ng�y 7 th�ng Bẩy, mọi người đ� đứng nghi�m h� lớn khẩu hiệu �Vạn Tuế Ho�ng Đ� v� ch�o k�nh lần cuối. ��t gi�y ph�t sau đ� ch�ng t�i đ� l�i tầu đi một m�nh tr�n gi�ng s�ng bao la, � như Garinier viết. (3)

 

��������� Ba mươi s�u giờ sau đ�, họ đ� trở l�n tr�n bờ v� chất đồ l�n t�u một lần nữa.� Ngay b�n tr�n Krati�, với mưa đổ xuống, gi�ng s�ng d�ng cao v� triều s�ng chảy với tốc độ khoảng mười hải l�, họ đ� gặp phải cuồng lưu đầu ti�n.� Buồng m�y nhỏ của chiếc t�u vũ trang kh�ng c� nghĩa l� g� trước gi�ng nước chẩy xiết v� họ bị bắt buộc phải chuyển qua c�c thuyền độc mộc.� Đ�y l� c�c chiếc xuồng được biến chế để chở h�nh l� v� được giữ thăng bằng bởi việc buộc c�c s�n l�m bằng c�c b� tre dọc theo m�p thuyền.� C�c s�n n�y cũng cung cấp một lối đi lại tr�n đ� c�c người l�i thuyền c� thể ch�o chống con thuyền chống lại luồng nước lũ.� Họ đ� l�m như thế bằng việc đẩy thuyền bằng s�o, c�c chiếc s�o của họ được lắp th�m c�c m�c sắt để chống v�o c�c điểm tựa tr�n c�c khố� đ� v� c�y cối nh� ra mọi nơi trong cơn lũ dữ dội.� Hiển nhi�n đ� thấy rằng con s�ng Cửu Long th� th�ch hợp cho việc phi�u lưu th�c bạc hơn l� cho việc giao th�ng chở h�ng.

 


H�nh 3: Những người sống s�t của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long (Garnier ở giữa, De Carn� đ�ng trước b�n tr�i, Delaporte đ�ng trước b�n phải)


H�nh 4: Ch�o chống con xuồng độc mộc xuy�n qua khu rừng bị lụt

 

 

��������� Thực ra to�n thể � tưởng về một thủy lộ tới Trung Hoa đ� bị tranh luận như một �tin đồn dỡn chơi� (a canard, �tin vịt�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ngay từ l�c khởi đầu.� Vị Chỉ Huy Trưởng Doudart de Lagr�e, nguy�n thủy khi được mời bởi Đ� Đốc de Lagrandi�re để chỉ huy cuộc th�m hiểm, hiển nhi�n đ� phải bật cười; �v� cũng thế�, �ng đ� viết, �vị Đ� Đốc cũng đ� ph� l�n cười.� (6)� Sự khinh thị bất ngờ như thế tr�n một c�ng t�c ủy nhiệm nghi�m trọng v� nguy hiểm cho thấy cả hai người đều biết nhiều hơn điều m� họ thấy cần tiết lộ.� Doudart de Lagr�e mới chỉ trải qua ba năm tại Căm Bốt trong chức vụ Tr� Sứ Ph�p.� �ng ta đ� từng ngược gi�ng l�n tới Krat�� �t nhất một lần, v� �ng biết rằng c�c nh� t�m mỏ người Ph�p c�n đi xa hơn nữa.� �ng chắc hẳn phải thắc mắc s�u xa về sự vắng b�ng bất kỳ con thuyền bu�n b�n tr�n s�ng bởi bất kỳ c�ch n�o chạy xuống từ c�c xứ L�o b�n tr�n.� Một số trở ngại con đ�ng sợ hơn cả th�c nước ở Krati� được ức đo�n.

 

��������� Trở ngại đ� hiện thực qua h�nh d�ng của Th�c Nước Lớn mang t�n th�c Khon tại bi�n giới L�o � Căm Bốt ng�y nay.� Ở nơi đ�y, gi�ng s�ng gặp gỡ một bức tường đ� bị che phủ một c�ch rậm trạp bởi khu rừng chạy xuy�n ngay qua một đồng bằng hay bị lũ lụt d�i đến 16 c�y số.� B�n tr�n bức tường ngăn bằng đ�, nước đ� đọng lại tạo th�nh một v�ng hồ nước được gọi l� Siphandon (�Bốn Ngh�n Đảo�).� B�n dưới n�, h�ng trăm bậc thang nước tu�n đổ ầm ầm qua c�c răng cưa v� khe hở của bức tường đ� tạo th�nh một v�ng cung ngoạn mục nhưng hơi xa nhau của c�c con th�c.� Tiếng nước đổ đinh tai, ấn tượng th� thật sơ nguy�n.� Xa tắp cuối tầm nh�n, c�c nguồn phun nước treo tr�n v�m rừng cho thấy c�n c� nhiều th�c kh�c nữa.� Mặc d� hiếm khi n�o cao hơn 50 m�t, trong m�a mưa, Th�c Khon ph�ng ra lượng nước v� b�n nhiều hơn khối lượng của hai th�c Niagara v� Victoria cộng lại.� Ngay cả c�c chiếc xuồng cũng kh�ng thể k�o qua được vực nước xo�y n�y.� Ủy Hội đ� đổ bộ l�n phần cuối một h�n đảo v� l� bước n�o nề l�n đến đầu h�n đảo b�n tr�n Th�c, ở đ� lại xuống c�c thuyền độc mộc kh�c.

 

��������� Sự thực sau c�ng đ� khởi sự �p đảo ngay kẻ lạc quan nhất trong ch�ng t�i [c�u văn viết bởi Louis de Carn�, sĩ quan ch�nh trị của đo�n th�m hiểm]. C�c t�u chạy bằng hơi nước kh�ng bao giờ c� thể lướt đi tr�n s�ng Cửu Long như l� ch�ng đ� lướt tr�n s�ng Amazon hay s�ng Mississippi; v� S�ig�n kh�ng bao giờ c� thể được nối liền với c�c tỉnh ph�a t�y Trung Hoa bằng thủy lộ m�nh m�ng n�y �� Cho d� lộng lẫy đến đ�u, (con s�ng) xem ra chỉ l� một kiệt t�c chưa ho�n tất. (7)

 

��������� Song Garnier vẫn chưa bị khuất phục.� Bởi một sự tr�ng hợp lạ l�ng, thủy thủ cứng đầu nhất của đo�n th�m hiểm lại ho�n to�n kh�ng nh�n thấy quang cảnh ngoạn mục n�y.� Anh ta đ� ch�m v�o một cơn h�n m� v� sốt r�t một tuần lễ trước khi họ gặp con Th�c, được khi�ng tr�n một chiếc c�ng, v� đ� kh�ng hồi tỉnh m�i cho đến nhiều ng�y sau đ�.� Ngay d� kh� l�u sau n�y, anh ta quay trở lại để thanh s�t con Th�c, anh ta vẫn từ chối khh�ng chấp nhận thua cuộc.� Nơi n�o đ� trong v�ng hỗn tạp của đ� v� rừng, anh ta khẳng quyết, phải c� một k�nh rạch c� thể �t nhất l�m th�nh một thủy lộ th�ng thương được.� C� thể cần phải khai quang hay ph� bỏ, c� thể sẽ cần đến một v�i hệ thống trục quay (tời) (wiches) n�o đ�, hay c� thể một kinh đ�o với c�c cửa kh�a nước sẽ phải được x�y dựng dọc b�n h�ng [con s�ng].� Bất kể giải ph�p n�o � v� phải c� một giải ph�p � cũng sẽ đ�i hỏi đến t�i tr� của người Phap, v� như thế một sự hiện diện của người Ph�p.� Th�c Khon, cũng giống như khu đền đ�i Angkor, theo đ� đ� được đ�nh dấu cho một sự thụ đắc ban sơ; v� trong khi gi�ng s�ng tự n� c� thể kh�ng bao giờ gi�p g� được v�o sự lưu th�ng x� lan lười biếng như tr�n s�ng Mississippi, việc l�m chủ tuyến hải h�nh ở khu vực trung lưu của n� sẽ trở th�nh một vấn đề mang niềm tự h�o d�n tộc m�nh liệt.

 

 

Đi t�m một duy�n cớ tại L�o

 

Tại Bassac, ng�y nay được gọi l� Champassak, thuộc miền hạ L�o, cuộc th�m hiểm được đ�nh chỉ trong đ�i th�ng.� Cần phải c� sự phục hồi sức khỏe v� Bassac, một ng�i l�ng quyến rũ v�o l�c sau m�a mưa, đ�ng l� đ�ng được đề nghị như một địa điểm l� tưởng cho một dưỡng đường thực d�n, một v�ng Vichy kh�ng b�i tắm [Vichy sans bains, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] trong tương lai cho Đ�ng Dương.� N� cũng c�n l� nơi thuận lợi để kh�m ph� hai trong số c�c phụ lưu quan trọng của s�ng Cửu Long v� để lượng định về tiềm năng kho�ng sản của cao nguy�n Bolovens.� Cả mỏ v�ng v� mỏ bạc đều được x�c nhận.� Tốt hơn nữa, một to�n du khảo c�n kh�m ph� ra rằng sự mua b�n n� lệ vẫn đang hoạt động. ��������

 

��������� V�o cuối thế kỷ thứ 19 t�nh trạng n� lệ l� một sự lạm dụng nh�n quyền m� bất kỳ d�n tộc văn minh n�o đều cảm thấy m�nh c� quyền phế bỏ -- v� bằng v� lực nếu cần.� Đ�y l� duy�n cớ hay nhất trong mọi duy�n cớ cho �t nhất một sự can thiệp tạm thời.� Nỗi thống khổ của người n� lệ, c�c người thuộc c�c sắc tộc �t người sống rải r�c v�ng đồi n�i bi�n giới L�o-Việt, g�y bối rối cho nh�n vi�n đo�n th�m hiểm, đặc biệt cho de Carn� vốn l� kẻ c� sự quan t�m thực sự đến c�c bộ lạc kh�ng phải gốc L�o.� D� thế, �ng cảm thấy bị bắt buộc phải lưu � rằng, bị k�o với x�ch xiềng xuống ph�a hạ lưu, c�c kẻ bị bắt giữ bất hạnh sau đ� sẽ bị rao b�n c�ng khai tại c�c chợ ở Căm Bốt, một xứ sở vui mừng thụ hưởng sự bảo hộ của Ph�p.� Cho đến khi vết � nhục n�y c� thể được tẩy x�a đi, nước Ph�p kh� c� thể tỏ vẻ bất b�nh về mặt đạo đức để biện minh cho một sự tiến qu�n chống lại c�c kẻ bu�n b�n n� lệ tại v�ng đất L�o chưa được bảo hộ. (8)

 

Về mặt kỹ thuật c�c vương quốc L�o, khi đ� trải dọc theo hai b�n bờ s�ng xa m�i đến tận Miến Điện (nơi m� ch�ng được gọi đối với người Anh l� c�c bang quốc Shan), trong thực tế chưa bị bảo hộ.� Từ Vọng C�c, triều đ�nh Th�i, hay Xi�m La, đ� mở rộng quyền chủ tể của n� tr�n phần lớn c�c l�nh đia thuộc bang quốc n�y hồi đầu thế kỷ thứ 19.� Ch�nh đo�n th�m hiểm giờ đ�y đang du h�nh với sự cho ph�p của Th�i v� bằng ph� tổn của Th�i.� Điều n�y kh�ng ngăn cản Garnier v� c�c đồng sự của anh ta tuy�n bố rằng sự cai trị của Vọng C�c vừa bất hợp ph�p vừa mất nh�n t�m.� C�c �ng ho�ng người L�o, từ vị tộc trưởng ở Bassac cho đến nh� vua tại Luang Prabang, xa hơn tr�n thượng nguồn, đều được cố vấn rằng, một khi họ c� � muốn kh�ng cự lại c�c tham vọng của Th�i, họ c� thể tr�ng cậy nơi sự� cổ vũ v� hỗ trợ của người Ph�p.� Tại L�o, giống như tại Căm Bốt, người Th�i được ph�c họa như c�c kẻ x�m lược. �C�c sự x�m chiếm của họ v�o lưu vực s�ng Cửu Long kh�ng c� sự chấp thuận của quốc tế, theo Garnier, v� sau rốt chỉ với sự can thiệp của Ph�p mới c� thể đạt được sự triệt tho�i của họ.

 

��������� T�nh h�nh thực sự phức tạp hơn nhiều lời khẳng định n�y.� Vạn Tượng, thủ đ� của L�o, đ� từng bị lục so�t bởi người Th�i trong năm 1827-28 nhưng c� chịu trước đ� một sự tuy�n hứa trung th�nh b� mật với Ho�ng Đế An Nam tại Huế giống như l� đối với Vọng C�c.� Luang Prabang, mặt kh�c, vương quốc lớn nhất trong c�c vương quốc L�o c� thẩm quyền d�n trải hầu như khắp miền bắc L�o, đ�i khi c� triều cống Bắc Kinh v� ngay cả Miến Điện cũng như Vọng C�c.� Trong khi đ� một v�i mường (muangs) (c�c huyện lệ thuộc) cũng c� một quan hệ triều cống với Huế.� C�c mường kể sau n�y nhận được sự quan t�m đặc biệt của người Ph�p.� Dự liệu ng�y m� An Nam v� vị ho�ng đế của n� c� thể được bổ t�c v�o c�c tr�ch vụ của Ph�p tại Việt Nam, Ủy Hội đ� du th�m xa về ph�a đ�ng gi�ng s�ng Cửu Long nhằm t�m kiếm đ�ng bằng cớ hỗ trợ như thế của một vị thế ưu đẳng c� thể truyền thừa được.� Tr�n căn bản c�c sự khảo cứu n�y, 20 năm sau thẩm quyền của Vọng C�c sẽ bị tranh nghị dữ dội tại miền đ�ng nước L�o v� c�c lời tuy�n x�c mơ hồ của Huế, khi đ� nằm dưới sự bảo hộ của Ph�p, đ� được đưa ra một c�ch mạnh mẽ.

 

 

G�y rối tại Miến Điện

 

��������� Luang Prabang, với cung điện mạ v�ng v� v� số đền ch�a đ� l� nơi mang vẻ gần nhất của một thị trấn m� đo�n th�m hiểm đ� gặp tại Đ�ng Nam �.� Sau s�u th�ng phi�u lưu r�ng rợn giữa v� số c�c ghềnh th�c v� xo�y nước của con s�ng, họ đ� k�o c�c chiếc xuồng l�n một b�i gần cận v� sau đ�, tắm rửa, mặc đầy đủ nhung phẩm binh phục v� đeo gươm kiếm k�u l�ch c�ch.� Tuy thế, nghi thức ch�nh thức khi đến hội kiến của họ đ� kh�ng tạo được ấn tượng n�o nơi nh� vua L�o, người vẫn lạnh nhạt trước c�c sự khai m�o của người Ph�p.� C�c cố vấn của nh� vua c� khuyến c�o một ng� tắt sang Trung Hoa qua phụ lưu Ou của s�ng Cửu Long; đ� l� con đường được sử dụng bởi tất cả c�c nh� bu�n b�n tr�n đất liền v� vị Chỉ Huy Trưởng th�ch th� đ�n nhận n�.� Nhưng Garnier kh�ng đếm xỉa đến.� Gi�ng s�ng ch�nh, anh ta nhấn mạnh, vẫn c�n l� mục ti�u ưu ti�n của họ, bất kể đến t�nh chất hải h�nh của n�, c�c khe n�i v� cuồng lưu đ�ng sợ được cho biết nằm ph�a trước mặt, hay sự �tấn k�ch sắp đến của m�a gi� nồm thứ nhi của họ. (9)

 

 


H�nh 5: Thị trấn Luang Prabang năm 1867

 

 

��������� Vị Chỉ Huy Trưởng lui bước.� Một nh�n vật xa c�ch v� thiếu tự t�n, mang chứng vi�m thanh quản kinh ni�n bắt �ng phải n�i như th� thầm mọi l�c, Doudart de Lagr�e ng�y c�ng đứng ra b�n lề.� Hơn nữa, Garnier c� hậu � ri�ng của anh ta.� Nếu anh ta quả thực �đi�n cuồng v� gi�ng s�ng Cửu Long� một phần l� v� c�c luồng nước bất ngờ của n� đ� dẫn dắt họ kh�ng chỉ tiến l�n hướng bắc m� c�n rẽ sang t�y, đến c�c l�nh địa thuộc bang quốc Shan (a) của Miến Điện.� Ban ơn một c�ch rộng r�i nhất, con s�ng m� Garnier đ� sẵn tuy�n x�c như một bảo khoản độc quyền của Ph�p y cứ v�o dấu đ�ng mở đường của Ủy Hội tr�n n�, dẫn dắt họ kh�ng phải thẳng đến Trung Hoa m� c�n đan dệt luồng chảy của n� khắp v�ng, trải qua nhiều l�nh địa hơn bao giờ hết v� giờ đ�y ra dấu chỉ cho họ ngưỡng cửa của vương quốc Ava (b) của Miến Điện.

 

��������� Về mặt kỹ thuật, đo�n th�m hiểm kh�ng c� quyền x�m nhập v�o đất đai của c�c chư hầu của Miến Điện chẳng hạn như c�c l�nh địa thuộc bang Shan.� Lời thỉnh cầu l�n Ava xin c�c văn thư thừa nhận đ� gặp phải sự im lặng, v� người Anh, đ� thiết định từ l�u tại v�ng Hạ Miến (Lower Burma), vốn nh�n Ava như thuộc về v�ng ảnh hưởng độc quyền của m�nh.� Garnier đ� t�m c�ch trắc nghiệm điều n�y.� Anh ta nghi ngờ c�c lời tuy�n bố của Anh Quốc về l�ng trung th�nh của Ava v� anh ta kh�ng bị thuyết phục bởi c�c lời tuy�n bố của Ava về quyền chủ tể tr�n c�c l�nh địa thuộc bang Shan, v� nếu cuộc th�m hiểm đ� c� thể xu�i gi�ng theo n� m� kh�ng bị ngừng lại, luận cứ của anh ta sẽ được chứng minh.

 

��������� Tại Chieng Khong, nơi m� sau n�y được gọi l� khu Tam Gi�c V�ng (Golden Triangle), m�a mưa (theo gi� nồm) khởi ph�t v� Ủy Hội sau hết đ� rời khỏi đất Th�i.� Kh�ng c� bất kỳ loại tin tức n�o c� thể thu thập được về t�nh trạng con s�ng ph�a trước, cũng kh�ng dễ g� t�m được c�c người ch�o thuyền sẵn l�ng chuy�n chở họ v� thuyền của họ giờ đ�y c� h�nh l� được giảm bớt nhiều.� Chỉ sau một ng�y ch�o xuồng họ bị đẩy v�o b�n bờ Miến Điện v� được th�ng b�o rằng giờ đ�y họ phải lội bộ.� Garnier, kh�ng tin, đi trước kiểm tra.� Gi�ng s�ng thực sự kh�ng thể d�ng được cho t�u thuyền.� Nơi đ�y khởi đầu cuồng lưu Tang-ho [?] d�i cả 100 c�y số m� tr�n c�c tảng đ� đen sắc cạnh của n� gi�ng nước lũ d�ng cao xẻ n�t c�c c�y cối khổng lồ v� thổi tan c�c sườn đồi dốc khỏi chốn m� ch�ng đ� từng c� lần mọc ra.� Bất kể đến viễn ảnh c�c cuộc lội bộ d�i, ướt sũng, họ đ�nh phải từ bỏ gi�ng s�ng.� Họ sẽ nh�n thấy lại gi�ng s�ng nhưng sẽ kh�ng bao giờ l�i thuyền tr�n đ� nữa.� Trong những th�ng mưa m�a gi� nồm, ngay cả c�c chiếc xuồng độc mộc cũng kh�ng thể n�o tới được Trung hoa qua ngả s�ng Cửu Long.

 


H�nh 6: Doudart de Lagr�e trở về tr�n lưng voi từ một cuộc du ngoạn tr�n đất liền


 


H�nh 7: Một xuồng chạy đua được hạ xuống s�ng gần thị trấn Luang Prabang


 


H�nh 8: Trại của đo�n th�m hiểm tại đảo Khong b�n dưới Bassac

 

 

��������� Những tuần lễ kế đ� tr�n c�c ngọn đồi l�n xuống li�n tiếp nhau của của c�c bang quốc Shan đ� đưa đo�n th�m hiểm đến vận đen c�ng cực của n�.� Mưa kh�ng dứt, đường m�n b�n ngập đến đầu gối, v� sự chuyển vận, bất kể bằng xe b� k�o, lừa hay nh�n lực, t�nh gi� cắt cổ.� Ruợu của họ đ� kh� cạn từ l�u; c�c h�ng h�a trao đổi của họ cũng thế.� Tiền mặt dự trữ qu� thấp đến nỗi chăn m�ng để ngủ v� quần �o được đem đổi lấy thức ăn; họ đ� cố đi m� kh�ng c� giầy ống (boots), hoặc bước đi ch�n kh�ng hay được khi�ng bằng c�ng.� Louis Delaporte, họa sĩ của đo�n th�m hiểm, đ� bị đuối sức bởi c�c vết đỉa cắn l�m độc đến nỗi anh ta kh� đứng l�n được; Doudart de Lagr�e vốn đ� mắc bịnh gan sẽ giết chết mất �ng ta trong v�ng v�i th�ng; de Carn�, bị t�n ph� bởi chứng kiết lỵ cũng sẽ l�m �ng ta chết đi, tr�ng kh�ng kh�c g� một con ma r�u d�i; v� Garnier đ� trải qua c�c đợt b�o động của chứng mất tr� v� sốt r�t.� Tệ hại hơn nữa, c�c l�nh địa trong bang quốc Shan kh�ng c�ch chi l� c�c thực thể tự trị.� Mỗi l�nh địa đều c� vị Tr� Sứ Miến Điện l� kẻ đ� ki�n quyết t�m c�ch cầm giữ Ủy Hội l�m con tin trong khi chờ đợi c�c mệnh lệnh về sự sắp xếp cho họ hoặc l� từ Kengtung, thủ phủ bang quốc Shan, hay từ ch�nh kinh đ� Ava.� Canh bạc của Garnier đ� bị thua trắng.� Quyền chủ tể của Miến Điện được thừa nhận mọi nơi.� Trong thực tế, c�c l�nh địa trong bang quốc Shan đ� sẵn được biện hộ, v� bất kỳ một Đ�ng Dương thuộc Ph�p n�o trong tương lai sẽ bị ngừng lại tại đ�y tr�n s�ng Cửu Long � hay c�n c� thể trước điểm n�y, bởi hai l�nh địa của bang quốc Shan trải d�i dọc theo cả hai b�n bờ của con s�ng.

 

��������� Gần như tuyệt vọng, cuộc th�m hiểm đ� chỉ được cứu v�n nhờ giấy th�ng h�nh của Trung Hoa.� C�c giấy ph�p n�y đ� được cấp từ Triều Đ�nh tại Bắc Kinh v� được thu nhận bởi Garnier trong một chuyến trở về Nam Vang đầy nguy hiểm, sau khi tạm ngừng tại Bassac.� C�c giới chức thẩm quyền của V�n Nam từ đ� đ� được th�ng b�o h�y chờ đợi sự xuất hiện của �c�c quan chức ngoại quốc�; tại Trung Hoa, sự ủy nhiệm của họ được t�n trọng; c�c gi�o sĩ truyền đạo người Ph�p tại V�n Nam cũng đ� sẵn s�ng để trợ gi�p họ.� Khi đo�n th�m hiểm t�m đường đi tới bi�n giới Trung Hoa, gi� trị của sự thừa nhận n�y đ� gia tăng.� Chieng Hung (ng�y nay gọi l� Jinghong), l�nh địa cuối c�ng trong bang quốc Shan, c� cả một Tr� Sứ Miến Điện với một Tr� Sứ Trung Hoa.� Sự xuất tr�nh giấy tờ thừa nhận của Bắc Kinh cho Ủy Hội đ� tạo ra một sự n�n lặng im l�m v� lời hứa chuyển vận tức thời băng ngang qua bi�n giới.

 

 

S�ng Hồng v� hậu quả của Cuộc Th�m Hiểm, 1868-82

 

��������� Tiến v�o Trung Hoa kh�ng hề c� nghĩa kết th�c c�ng việc của Ủy Hội.� S�u th�ng đ�ng trước mặt của việc m� mẫm xuy�n qua tỉnh V�n Nam lạnh lẽo v� bị chiến tranh t�n ph� chỉ l�m trầm trọng th�m c�c chứng bịnh kh�c nhau của ho.� Vi�n Chỉ Huy Trưởng từ trần; v� một mưu toan bốc đồng để quay trở lại s�ng Cửu Long đ� khiến cho phần c�n lại của đo�n bị bắt giữ trong thời gian ngắn.� Điều được nghĩ sẽ l� sự kh�m ph� c� gi� trị đền b� nhất của t�an thể cuộc th�m hiểm đ� được t�m thấy với sự may mắn.� Đi ngang qua v�ng đất thượng du kh� cằn tr�n đường đến C�n Minh, thủ phủ của V�n Nam, con đường đột nhi�n ph�ng xuống một thung lũng s�u v� tr�n ngập �nh mặt trời xuy�n qua n� l� gi�ng chảy của con s�ng m� tiếng Trung Hoa gọi l� Yuen-jiang.� Nhờ sự dọ hỏi ki�n� nhẫn c�ng với một� �t sự phỏng đo�n, Ủy Hội đ� suy luận được rằng con s�ng Yuen-jiang n�y kh�ng thể l� con s�ng Dương Tử bởi n� đổ nước ra ở Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin).� V� thế n� phải l� đầu nguồn của con s�ng m� tiếng Việt gọi l� S�ng Hồng.� Hơn nữa, theo � kiến chung, từ ph�a tr�n bi�n giới Trung Hoa xuống cho đến H� Nội v� Hải Ph�ng tức cửa biển của n�, t�u b� th�ng thương được.� Trong thực tế, S�ng Hồng, chứ kh�ng phải s�ng Cửu Long, ch�nh l� thủy lộ t�m kiếm từ lầu để đến được Trung Hoa; H� Nội, chứ kh�ng phải S�ig�n, nắm giữ ch�a kh�a của lục địa.

 

��������� C�c hậu quả s�u xa sẽ tiếp diễn theo sau sự ph�t hiện n�y.� Trong thập ni�n 1870, sự quan t�m của Ph�p sẽ đột nhi�n chuyển từ Nam Kỳ ở ph�a nam Việt Nam l�n Đ�ng Kinh (Tonkin) ở ph�a bắc.� Dựa tr�n tin tức thu thập được từ Ủy Hội, (10) Jean Dupuis [tiếng Việt phi�n �m từ tiếng H�n đọc l� Đồ Phổ Nghĩa, ch� của người dịch] một nh� bu�n vũ kh� t�o tợn, mở đường bu�n b�n theo s�ng Hồng l�n đến Trung Hoa v�o năm 1872, v� sau đ� thu m�nh tại H� Nội, đ� bất chấp c�c mệnh lệnh của ph�a Việt Nam cấm kh�ng cho treo cờ Ph�p (�ng ta c� nhận được một số sự khuyến kh�ch ch�nh thức từ Paris), th�nh lập một đội qu�n ri�ng, v� trang bị cho một giang đo�n thứ nh�.

 

��������� Mượn cớ kiềm chế Dupuis nhưng nhằm một c�ch kh�ng ch�nh thức khai th�c cơ hội mở ngỏ n�y, trong năm 1873 một lực lượng viễn chinh nhỏ của Ph�p đ� được ph�i từ S�ig�n ra H� Nội bằng đường biển.� N� chỉ gồm 100 người, c� lẽ bởi v� đ�y l� qu�n số nhiều nhất m� một người mới ở cấp Trung �y c� thể được chỉ huy.� Giờ đ�y ở tuổi 32, nhưng vẫn c�n cứng đầu một c�ch đ�ng sợ, Francis Garnier đ� được trao cho điều m� anh ta giải th�ch l� to�n quyền h�nh động [carte blanche, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] để mở rộng bản đồ Đ�ng Dương của anh ta bằng c�ch vẽ th�m phần của Bắc Việt.

 

��������� Thoạt ti�n mọi việc diễn tiến tốt đẹp.� Th�nh H� Nội bị đ�nh chiếm v�, chỉ trong v�ng ba tuần lễ sau khi anh ta đến nơi, �Quan Lớn nước Ph�p� [Le Grand Mandarin de France, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], như Garnier giờ đ�y tự xưng, lấy l�m h�n hoan để loan b�o rằng �tỉnh H� Nội đ� ho�n to�n đuợc b�nh định � to�n thể ch�nh quyền nằm trong tay ch�ng ta � c�c nh�m thổ phỉ đ� bị đ�n �p � d�n ch�ng c� cảm t�nh�.� Thủy lộ s�ng Hồng l�n Trung Hoa được tuy�n bố mở cửa cho sự lưu th�ng; 400 người (c� nghĩa lực lượng của anh ta c�ng với người của Dupuis) đ� chiếm đ�ng một v�ng đất gồm �hai triệu linh hồn�. (11)

 

��������� Bất kể c�c sự ngờ vực s�u đậm tại Paris v� việc đe dọa phản đối của ho�ng đế An Nam, chiến t�ch kỳ lạ n�y nhiều phần đ� c� thể đứng vững.� Nhưng sự việc đ� kh�ng như thế, v� trong thực tế, đ� bị phủ nhận một c�ch m�nh liệt, hậu quả của việc Garnier đ� đẩy sự may mắn của anh ta hơi qu� xa.� Trong một cuộc truy k�ch v� l� một số kẻ tấn c�ng v� hiệu quả, anh ta đ� dẫn một đội qu�n ph�ng ra ngo�i tầm hỏa lực của th�nh H� Nội, đụng độ với nh�m tấn c�ng kh�c, bị cắt rời khỏi đội qu�n của anh ta, mắc kẹt tại một đường h�o, v� bị cắt đầu ở đ�.� C�c tin tức ch�m ng�i cho một cuộc tổng nổi dậy; c�c lực lượng Ph�p bị v�y h�m tại một �t cứ điểm ph�ng thủ; v� �hai triệu linh hồn�, c�n nhanh hơn cả khi họ bị chiếm đọat, đ� vuột khỏi �ch thực d�n.

 

��������� C�u chuyện tai họa như thế đ� chẳng l�m được g� để g�y thiện cảm đối với c�c cuộc phi�u lưu hoang đ�ng ở hải ngoại trong c�ng ch�ng Ph�p cũng như chẳng l�m tăng tư thế của phe thực d�n tại Paris.� Tiếng tăm của Garnier bị tổn hại một c�ch tuyệt vọng v� c�ng số phận với sự việc đ�, trong một thời khoảng, l� c�c sự kh�m ph� của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long.� Trong năm 1868, cuộc trở về chiến thắng của Ủy Hội, trước ti�n tại S�ig�n v� sau đ� tại Paris, đ� kh�ng diễn ra theo kế họach.� Một cuộc c�i v� ầm ỹ đ� xảy ra khi c�c đồng sự của anh ta đ� c�o gi�c Garnier về việc tuy�n nhận c�ng lao đ�ng ra phải thuộc về Doudart de Lagr�e; de Carn�, tr�n giường hấp hối, khi đ� đ� viết lại c�u chuyện về cuộc th�m hiểm kh�ng ho�n to�n ph� hợp với những g� được soạn thảo bởi Garnier; v� tất cả c�c sự việc n�y xẩy ra với một bối cảnh của t�nh trạng khẩn cấp của quốc gia khiến cho c�c th�nh quả của Ủy Hội, v� c�c điểm kh�c biệt của n�, ng�y c�ng trở n�n kh�ng quan trọng.� Khi chiến tranh với nước Phổ (Prussia) sau c�ng đ� nổ ra v�o năm 1870, ch�nh th�nh phố Paris đ� bị v�y h�m.� C�c người th�m hiểm như Garnier đ� tập hợp đ�ng theo bổn phận để ph�ng thủ đất mẹ, sau đ� đ� tham dự v�o c�c sự kh�ng biện thời hậu chiến.

 

 

Sự tranh gi�nh giữa Anh & Ph�p v� sự trở lại s�ng Cửu Long, 1883-93

 

Diền ra qu� gần với sự thất trận n�y tại �u Ch�u, cuộc đại bại ở H� Nội thực sự đ� khiến cho c�c tham vọng của Ph�p tại � Ch�u bị chậm lại một thập ni�n.� Một số sự th�m th�nh xa hơn c�c huyện của L�o b�n ph�a đ�ng s�ng Cửu Long dọc theo bi�n giới An Nam (v� c� thể l� v�ng đ� chịu triều cống An Nam) đ� được thực hiện hồi cuối thập kỷ 1870, nhưng phải đợi cho đến năm 1882-83, c�c hoạt động d� th�m mới được t�i lập một c�ch chu đ�o.� Một cuộc tiến bước thứ nh� v� nhiều quyết t�m hơn khi đ� đ� được thực hiện tại Bắc Việt; An Nam v� vị ho�ng đế của n� bị đặt dưới sự bảo hộ của nước Ph�p; v� c�c khuyến c�o của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long li�n quan đến c�c bang quốc của L�o lại được rũ bụi, t�i duyệt v� sau c�ng chấp thuận.

 

��������� Nhiều sự c�n nhắc đ� th�c đẩy sự phục hồi n�y đối với một ch�nh s�ch x�m tiến v� li�m sỉ.� Trong thập n�n 1870, phần lớn Bắc Việt bị chiếm đ�ng bởi c�c nh�m vũ trang thuộc đội qu�n kh�ng ch�nh quy Trung Hoa chạy trốn c�c sự trả th� của triều đ�nh nơi qu� hương của ch�ng � c�c đội qu�n được gọi l� Ho [?], Haw [t�n bộ lạc đọc theo �m Th�i ngữ, m� đa số qu�n của c�c nh�m n�y xuất th�n, xem th�m phụ ch� (c) của người dịch b�n dưới] hay �Cờ (Kỳ Qu�n)� (bởi ch�ng chiến đấu dưới cờ m�u đỏ, trắng hay đen).� Trong thực tế, Garnier đ� gặp phải hồi kết cục � nhục với một trong c�c nh�m như thế.� Mặc d� chiếu theo c�c điều khoản của sự r�t qu�n của Ph�p sau đ� khỏi Bắc Việt, S�ng Hồng được giả định sẽ được mở ngỏ cho sự mậu dịch, sự hiện diện của c�c băng đảng n�y đ� khiến cho con s�ng bị kh�p lại.� Một số c�ng t�c b�nh định tại Bắc Việt v� thế trở n�n cần thiết nếu muốn ph�t triển cuộc bu�n b�n t�m kiếm từ l�u với V�n Nam; song chẳng những kh�ng đ�nh dẹp c�c đội Kỳ (cờ) qu�n n�y, ho�ng đế An Nam tại Huế c�n khuyến kh�ch c�c sự cướp ph� của ch�ng v� đ� viện dẫn lời hứa trung th�nh cổ truyền với Bắc Kinh như l� một l� cớ để tr�nh n� c�c cam kết đ� được trao cho Ph�p.� V�o khoảng đầu thập ni�n 1880 nh�m kỳ qu�n Haw [Ho?] c�n lấn cả về hướng t�y lưu vực s�ng Cửu Long.� C�c bang quốc ở L�o cầu cứu thượng quốc của ch�ng tại Vọng C�c nhưng chỉ nhận được sự bảo vệ thất thường chẳng kh�c g� một nửa ngặn chặn, một nửa kia lại khi�u kh�ch đội kỳ qu�n Haw [Ho?].� R� r�ng l� t�nh h�nh ở L�o cũng đ� chin m�i cho sự can thiệp của Ph�p.� Như được dự liệu bởi Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long, c�c �ng ho�ng xứ L�o đ� cần đến một kẻ b�nh vực h�ng mạnh hơn.

 

��������� Đối với nh�m thực d�n giờ mới hồi sinh tại Ph�p (một li�n minh c�c quyền lợi sản xuất, tầng lớp gi�o sĩ muốn truyền đạo, v� c�c ch�nh kh�ch c� �c đế quốc), cũng như đối với những kẻ ở S�ig�n h�y c�n s�ng k�nh nhớ đến Garnier, tất cả điều n�y đủ cấu th�nh sự khi�u kh�ch.� Nhưng chất thuốc x�c t�c l�m ngứa ng�y th�m lại được cung cấp bởi người Anh.� Từ Miến Điện, họ cũng đang thăm d� khả t�nh của việc mở một h�nh lang mậu dịch v�o miền t�y Trung Hoa, trong trường hợp n�y, bằng ngả s�ng Irrawaddy v� một đoạn đường tr�n đất liền, hay c� thể l� bằng một đường hỏa xa, đi đến V�n Nam.� Sự xuất hiện của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long tại c�c l�nh địa thuộc bang quốc Shan đ� tạo ra sự khẩn cấp cho c�c kế hoạch n�y, v� họ đ� nhận được một số c�ng luận bất lợi từ sự hạ s�t trong năm 1875 �ng Augustus khi đang do th�m đường đi nước bước.� Nếu nước Ph�p kh�ng tiến h�nh mau ch�ng, sẽ c� mối nguy hiểm thực sự về việc nước n�y sẽ bị đ�nh phủ đầu cả ở c�c thị trường miền t�y Trung Hoa lẫn bị đ�nh ngay h�ng tại khoảng giữa lưu vực s�ng Cửu Long.� Kịch bản kinh ho�ng, được gợi ra trước ti�n bởi Garnier trong chuyến du h�nh ngược gi�ng của Ủy Hội hồi năm 1866-67, khi nh�n thấy l� cờ của Anh Quốc (Union Jack) phất phới tr�n th�nh phố Luang Prabang đ� trở lại �m ảnh c�c người �kế nhiệm anh ta.� �������������������������

 

��������� Miền Thượng Miến (Upper Burma), hay vương quốc Ava, h�y c�n ở dưới sự cai trị của Miến Điện v�o đầu thập ni�n 1880; nhưng thẩm quyền của Ava kh�ng ngừng bị ph� hoại bởi người Anh tại Rangoon (Ngưỡng Quang) rất gần như cung c�ch m� thẩm quyền của Huế bị triệt hạ bởi người Ph�p tại S�ig�n.� V�o năm 1883, khi với qu�n đội Ph�p t�i xuất hiện tại H� Nội, ho�ng đế An Nam sau rốt bị �p buộc phải chấp nhận chế độ bảo hộ của Ph�p, chuỗi ng�y chuy�n chế của Quốc Vương Thibaw tại Ava cũng đ� gần kề.� Ava bị chiếm đ�ng bởi người Anh năm 1885 v� vương quốc của vua Thibaw bị s�p nhập.� Việc ăn miếng trả miếng của Anh v� Phap vần tiếp tục � v� gọng k�m c�c đế quốc kh�p lại gần nhau hơn � khi trong năm kế tiếp, người Anh đ� đặt một đại diện tại Chieng Mai, miền bắc Th�i Lan, v� người Ph�p đ� bổ nhiệm một vi�n ph� l�nh sự đến Luang Prabang.

 

��������� Người được chọn cho nhiệm sở Luang Prabang l� Auguste Pavie.� Trước đ�y cư tr� tại Căm Bốt, từ đ� �ng ta nối d�i đường d�y điện t�n cho đến Vọng C�c, Pavie sống đơn giản, du h�nh một c�ch dung dị v�, mặc d� kh�ng nhiều học thức, đ� trở th�nh một nh�n vật thẩm quyền trong v�ng.� Garnier đ� từng l� một mẫu anh h�ng của �ng ta khi �ng đến S�ig�n trước ti�n.� Giống như Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long, �ng ta cũng ấp ủ giấc mơ Đ�ng Dương thuộc Ph�p (Indo-Chine Francaise) v� trong t�m năm kế tiếp, tại L�o v� sau đ� tại Vọng C�c, sẽ l�m được nhiều điều hơn bất kỳ ai kh�c hầu thực hiện giấc mơ đ�. (12)

 

��������� May mắn cũng đ�ng g�p một phần trong việc đ�.� Kh�ng l�u sau khi Pavie đến Luang Prabang, nh�m qu�n Cờ Ho [Haw] c� tr�n xuống v� lục so�t thị trấn khiến cho nh� vua của Luang Prabang c�ng nhiều thần d�n của �ng ta phải bỏ chạy xu�i về ph�a hạ lưu.� Pavie chạy c�ng với họ v� đ� c� thể cung cấp một số sự trợ gi�p khi c�c chiếc xuồng v� b� chất nặng của họ bị h�t v�o vực xo�y v� bị đ�nh tan th�nh mảnh nhỏ tr�n gi�ng nước lũ.� �ng ta c�ng chia xẻ qu�ng đời lưu vong ngắn ngủi với nh� vua v� khi qu�n Cờ Ho [Haw?] r�t lui, đ� trở lại như một vị cố vấn đ�ng tin cậy.� Luang Prabang vẫn nằm dưới quyền chủ tể của Th�i Lan nhưng từ đ� trở đi ng�y c�ng hướng đến Pavie v� nước Ph�p để bảo vệ cho n�.� Với sự che chở của nh� vua, Pavie v� c�c thuộc cấp của �ng ta đ� thực hiện một cuộc khảo s�t tường tận c�c bang quốc của L�o, thiết lập sự li�n lạc trực tiếp với c�c lực lượng Ph�p tại Bắc Việt, thăm d� mọi lối đi c� thể nghĩ được giữa s�ng Cửu Long với Việt Nam, v� vươn tới Trung Hoa về ph�a bắc v� bi�n giới Căm Bốt về ph�a nam.

 

��������� Ở phương nam, sự lưu � đặc biệt được d�nh cho Th�c Khon vĩ đại.� Pavie t�n đồng l� thuyết của Garnier cho rằng ch�ng phải c� thể lưu th�ng được.� C�c xuồng độc mộc trống kh�ng được n�i đ� tr�i qua c�c con th�c khi gi�ng s�ng gặp lũ lụt, v� trong năm 1890 ch�nh bản th�n Pavie đ� thực sự ch�o qua th�c trong một chiếc xuồng c� m�c treo v�o c�c sợi d�y k�o (cables).� Tin tức g�y ra sự s�i nổi tại S�ig�n.� Điều được nh�n như thể nếu con s�ng c� thể chưa d�ng được như một con đường mua b�n với Trung Hoa, �t nhất vẫn l� một động mạch ch�nh của Đ�ng Dương.� C�c cuộc thử nghiệm hơn nữa được th�c dục v� c�c hợp đồng được đặt để x�y dựng một đo�n t�u chạy bằng hơi nước tr�n s�ng Cửu Long.

 

��������� Xuy�n qua luồng nước chảy xiết b�n dưới Th�c Khon, một r�nh dưới đ�y s�ng được đ�nh dấu v� được khai quang một phần v�o cuối thập ni�n 1880.� Sau đ�, trong c�c năm 1891-92, với tiếng m�y nổ vang trời v� nồi đun nước gần như bị bể, một loạt t�u hơi nước cỡ nhỏ x�ng v�o chỗ �t dữ dằn nhất của con Th�c.� Tất cả đều đ� thất bại.� C�c t�u hơi nước đặc chế hiển nhi�n l� đ�p số, nhưng ch�ng phải rất l� đặc biệt, đ�ng ra, phải c� t�nh chất x�ch tay hay nhấc v� mang đi được (portable).� Cuối năm 1893, hai chiếc t�u như thế, loại thuyền một buồm nhỏ c� vũ trang, đ� tiến tới đ�y h�n đảo m� tại đ� Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long đ� từng c� lần đổ bộ l�n.� C�c chiếc thuyền buồm đ� được th�o rời ra ở đ�, chất l�n c�c g�ong quay (bogies) c� một đọan đường xe lửa ngằn được lập ra cho ch�ng, v� được k�o bằng tay l�n h�n đảo để r�p trở lại nơi gi�ng s�ng ph�a tr�n.� Đ� l� một loại th�nh c�ng, v� hai chiếc thuyền đ� chạy tốt tr�n đoạn giữa của gi�ng s�ng Cứu Long, l�m kinh hoảng người Anh khi một chiếc trong ch�ng vươn tới c�c l�nh đia của bang quốc Shan, v� được theo sau bởi một số t�u kh�c cho đến Th�c Khon.� Đoạn đường hỏa xa tr�n đảo, d�i tổng cộng bảy c�y số, sau hết c� được cấp cho một đầu m�y xe lửa (được k�o ngược gi�ng s�ng từ S�ig�n l�n) v� được mở rộng với một chiếc cầu bằng đ� nhỏ v� c� cần trục bốc dỡ ở cả hai đầu cầu.� L� đoạn đường xe lửa duy nhất từng được x�y dựng tại L�o, n� đ� tồn tại cho đến Thế Chiến Thứ Nh� trước khi bị triệt hủy bởi n�i rừng cũng như bởi qu�n Nhật Bản. (13)

 


H�nh 9: Một lối đi bị ngập lụt tại c�c l�nh địa thuộc bang quốc Shan


 


H�nh chụp 1: B�i đ�p t�u từ hồ
Tonle Sap tại Siem Reap gần khu đền Angkor


 


H�nh chụp 2: Papeng, một trong nhửng con th�c kh�ng thể hải h�nh được trong cụm Th�c Khon


 


H�nh chụp 3: Cầu trục từ đường hỏa xa đến thuyền b�n tr�n Th�c Khon


 


H�nh chụp 4: M�a kh�: s�ng Cửu Long tại Xieng Kok, v�ng N�i Đồi bang quốc Shan


 


H�nh chụp 5: �Ch�ng t�i tiến v�o rừng của Căm Bốt v� sẽ kh�ng ra khỏi n� cho đến khi � tới Trung Hoa� (de Carn�).� Phụ lưu Nam Ngum, gần Vạn Tượng

 

 

Hồi kết cuộc 1893-1907

 

��������� Tất cả hoạt động n�y quanh Th�c Khon, v� sự hiện diện đồng loạt của c�c ủy vi�n v� nh�n vi�n tuần cảnh của Pavie ở c�c nơi kh�c tr�n đất L�o, đ� mang lại c�c sự phản đối mạnh mẽ từ Vọng C�c.� Ph�p đ�p ứng bằng c�ch trả miếng, quy tr�ch Th�i về c�c cuộc đ�nh ph� của qu�n Cờ Ho [Haw?] v� tranh nghị về tất cả c�c thẩm quyền của Th�i ngay tr�n v�ng ph�a đ�ng s�ng Cửu Long, đặc biệt tại những v�ng đ� từng c� lần được giả định l� c� chịu hứa trung th�nh với Huế.� Nhưng v�o năm 1893 khi Pavie được chuyển tới Vọng C�c l�m sứ thần tr� sứ Ph�p, �ng ta c� thừa nhận một c�ch k�n đ�o rằng Ph�p chỉ c� �t sự tuy�n x�c tr�n L�o c�n kh�ng biện được sự kiểm s�t v� kh�ng c� điều g� m� Th�i Lan kh�ng thể đối đ�p được.� Một chiều hướng mạnh bạo hơn th� cần đến, v� để l�m điều n�y trong th�ng Tư năm 1893 Pavie một lần nữa b�y tỏ c�c sự bất b�nh của Ph�p v� bổ t�c lần đầu ti�n một sự tuy�n bố chủ quyền của Ph�p tr�n to�n thể v�ng ph�a đ�ng s�ng Cửu Long.� Theo đ�, �ng ta y�u cầu rằng mọi sự hiện diện của Th�i ở trong v�ng đ� phải bị triệt tho�i.

 

��������� C�c sự phản đối từ Vọng C�c đ� được dự đo�n, nhưng từ Lu�n Đ�n, đ� c� c�c sự lo sợ.� Nước Anh c� quyền lợi thương mại lớn nhất tại Th�i Lan cũng như c� sự hiện diện ngoại giao mạnh nhất tại đ�.� Từ cựu v� em ho�ng gia (b� Leonowens trong c�u chuyện nổi tiếng �The King and I) cho đến c�c nh�n vi�n địa ch�nh như James McCarthy (người m� c�ng tr�nh trắc địa xem ra l�m lu mờ c�c sự th�m hiểm của Pavie, chứ kh�ng chỉ gần bằng), nhiều người Anh trong một v�i năm đ� t�m được c�ng việc c� nhiều ảnh hưỏng tại Th�i Lan.� Nước Ph�p biết rằng Lu�n Đ�n đ� c� một quyền lợi vững mạnh tại xứ sở Th�i; v� một khi Lord Rosebery, bộ trưởng ngoại giao trong ch�nh phủ mới của Thủ Tướng Gladstone, nhận thức được đ�u l� quyền lợi bị va chạm, chắc chắn �ng ta sẽ phản kh�ng bằng c�c lời lẽ mạnh mẽ nhất.� Trong thực tế, kh�ng hiểu r� c�c ngụ � lấy s�ng Cửu Long l�m bi�n giới, đặc biệt đối với c�c l�nh đia thuộc bang quốc Shan ở ph�a bắc, v� giả định rằng một sự ph�n giới r� r�ng phải đ�ng mong đợi hơn một bi�n cương bị tranh chấp, �ng đ� kh�ng l�m g� cả.� Pavie đ� giải th�ch th�i độ n�y như một đ�n xanh [ph�t t�n hiệu đồng �].� Trong thh�ng Tư năm 1893 c�c to�n nhỏ l�nh Ph�p biệt ph�i di chuyển v�o L�o để chiếm đ�ng v�ng Th�c Khon v� đuổi c�c vi�n chức Th�i Lan ở c�c nơi kh�c. �Sự đổ m�u phần lớn được tr�nh khỏi, nhưng tại v�ng Th�c Khon, một cuộc phản c�ng của Th�i đ� l�m cho v�i người tử trận v� đưa đến sự bắt giữ một sĩ quan Ph�p.� Xa hơn về ph�a bắc một nh�n vi�n d�n sự Ph�p bị hạ s�t bởi một đội qu�n đồn tr� Th�i m� �ng ta hộ tống đến gi�ng s�ng.

 

��������� Những biến cố n�y đ� trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng trong th�ng Bảy năm 1893 vốn được gọi l� �vụ Paknam: Paknam affairs�.� Ph�p đ�i hỏi sự kiểu ch�nh v�, nhặt th�m một trang kh�c từ bản b�o c�o của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long, đ� bổ t�c v�o danh s�ch c�c sự khiếu nại của họ về sự chiếm đ�ng của Th�i tại c�c tỉnh cũ của Căm Bốt ở Battambang v� Siem Reap (gồm cả khu đền đ�i Angkor).� Trong khi đ�, Pavie, đương ở Vọng C�c, c� b�o c�o rằng qu�n đội Th�i được động vi�n; người Th�i khẩn thiết k�u gọi nước Anh h�y can thiệp nh�n danh nước Th�i; v� người Anh, trong khi th�c dục sự kiềm chế, đ� ph�i một v�i chiếc thuyền vũ trang đến Vọng C�c để t�i bảo đảm cho người Th�i v� để bảo vệ c�c kiều d�n Anh.� Viện dẫn quyền hỗ ứng tr�n gi�ng s�ng Chao Phraya tại Vọng C�c, Ph�p khi đ� ra lệnh cho hai chiếc thuyền vũ trang của m�nh đến Vọng C�c.� C� thể do một sự hiểu lầm, ch�ng bị bắn bởi c�c ph�o đội Th�i Lan tại Paknam (�cửa s�ng�) v� đ� phản ph�o.� Sự giao chiến chỉ xảy ra trong v�ng nửa tiếng đồng hồ nhưng c� 18 người bị giết chết, phần lớn l� người Th�i, v� một thương thuyền Ph�p bị hư hỏng. (14)

 

��������� C�c thuyền vũ trang Ph�p tiếp tục ngược gi�ng l�n đến Vọng C�c.� Pavie khi đ� đ� ấn định c�c y�u cầu của �ng ta như một tối hậu thư, v� khi c�c đ�i hỏi n�y kh�ng được đ�p ứng, �ng ta đ� tuy�n bố một cuộc phong tỏa con s�ng.� Bởi v� hải vận Anh quốc chiếm tới 90% ngoại thương của xứ sở n�y, cuộc phong tỏa xem ra được nhắm tới Lu�n Đ�n nhiều hơn l� Vọng C�c.� Rosebery đ� giải th�ch sự việc như thế; những b� nh�m thực d�n tại S�ig�n sẽ chỉ gỡ bỏ sự phong tỏa, �ng ức đo�n, để đổi lấy �một bi�n giới tiếp gi�p với Ấn Độ (c� nghĩa, với Miến Điện).�� V� Pavie c� thể đ� c� chủ định như thế, bởi sự thụ đắc Th�i Lan, phần thưởng qu� gi� nhất tại Đ�ng Nam � sẽ, như �ng ta đ� gọi, �l�m tr�n đầy � Đ�ng Dương thuộc Ph�p v� n�ng cấp n� l�n th�nh một v�ng c� thể so s�nh với Ấn Độ thuộc Anh.

 

��������� Nhưng tại Paris c�c sự cố vấn đứng đắn hơn đ� thắng thế.� Trước sự cương quyết của Anh, c�c sự bảo đảm cho chủ quyền Th�i Lan đ� sẵn được giao kết; một sự chạm tr�n với Anh Quốc về một v�ng đất qu� xa x�i v� th� nghịch l� điều kh�ng thể tưởng tượng được; v� tốn ph� cho cuộc đối đầu cũng như thế.� Pavie đ� đi qu� xa.� Tuy nhi�n, sự co r�t lại c� thể mang về c�c lợi lộc.� Theo hiệp ước Th�i-Ph�p th�ng T�m năm 1893, cuộc phong tỏa được gỡ bỏ để đ�nh đổi, tất cả mọi thẩm quyền của Th�i Lan b�n bờ ph�a đ�ng s�ng Cửu Long sẽ được từ bỏ, một khu vực rộng 25 c�y số b�n bờ ph�a t�y của n� trở th�nh khu phi qu�n sự h�a, hơn nữa, c�c tỉnh Battambang v� Siem Reap, v� một hải cảng của Th�i, Chantaburi, cũng được trao cho Ph�p l�m khoản bảo đảm.� Trong thực tế, Ph�p đ� chiếm được to�n thể phần ng�y nay l� l�nh thổ nước L�o, c�ng với tiềm năng thu nhập c�c khu bổ t�c kh�c nữa tại Căm Bốt v� tr�n bờ ph�a t�y s�ng Cửu Long.� Trong khi đ�, một cuộc khủng hoảng khuất lấp ở v�ng xa ph�a bắc, nơi m� ở một số l�nh địa thuộc bang quốc Shan, c�c đế quốc Ph�p v� Anh đ� lặng lẽ th�ng đồng với nhau, hứa hẹn l�m im tiếng bất kỳ sự phản đối n�o của Anh Quốc. (15)

 

��������� Tại Đ�ng Nam �, cũng như tại Trung �, ưu ti�n của Anh quốc l� n� tr�nh việc chia sẻ bi�n giới tr�n đất liền với một cường lực �u Ch�u kh�c.� T�y Tạng v� A Ph� H�n, c� c�c bi�n giới ph�a bắc vừa được t�i sắp xếp v� ph�n định, được d�ng như v�ng tr�i độn cần thiết giữa Ấn Độ v� nước Nga của Sa Ho�ng; Th�i Lan được giả định cung cấp một v�ng chế xung tương tự giữa Ấn Độ - Miến Điện v� Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Tuy thế, một c�ch trễ tr�ng, nước Anh đ� nhận ra rằng l�nh thổ Th�i Lan đ� kh�ng vươn xa l�n phia bắc như đuợc nghĩ.� Giữa n� v� Trung Hoa, nơi m� Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long đ� gần gặp phải cảnh khốn c�ng v� nơi m� một số l�nh địa của bang quốc Shan thực sự nằm cặp hai b�n gi�ng s�ng, c�c v�ng đất lệ thuộc Anh Quốc thừa hưởng từ Ava v� c�c v�ng đất lệ thuộc Ph�p giờ đ�y được x�c nhận dọc theo bờ ph�a đ�ng s�ng Cửu Long thực sự đ� phủ ch�m l�n nhau.

 

��������� Với quan điểm để sửa chữa t�nh trạng n�y, một v�ng tr�i độn nh�n tạo đ� được t�nh to�n.� Trong năm 1893 Chieng Hung (c�n viết l� Jinghong), l�nh địa ở mỏm cực đ�ng bắc của bang quốc Shan (nơi m� c�c giấy ph�p th�ng h�nh sang Trung Hoa của Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long đ� từng c� lần kh�u dậy sự k�nh sợ biết bao) đ� được nhường cho Trung Hoa; v� gi�p ngay ph�a nam của n�, một l�nh địa thuộc bang quốc Shan kh�c được cắt cho Th�i Lan.� C�ng nhau ch�ng đ� tạo th�nh điều m� người Ph�p chế diễu như miếng băng vệ sinh [le tampon, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Nhưng cả hai l�nh địa n�y đều nằm cặp hai b�n bờ s�ng Cửu Long v� trước khi l�nh địa kể sau c� thể được ph�n giới, một sự đối đầu kh� chịu đ� diễn ra.� Một đo�n Anh quốc, thượng cờ l�n tại Mong Sing b�n bờ ph�a đ�ng của con s�ng, đ� bị chống đối bởi một lực lượng Ph�p được ph�i đến để chiếm đ�ng c�ng địa điểm.� Hơn thế, b�n Ph�p đ� c� thể xuất tr�nh bằng cớ rằng gần đ�y nhất, trong năm 1892 Mong Sing c� ch�nh thức thừa nhận quyền chủ tể của Th�i Lan.� Nếu được thực hiện sớm hơn, v�ng đất n�y sẽ thuộc về Anh một c�ch �m thắm, nhưng kể từ khi tất cả l�nh thổ Th�i ph�a đ�ng s�ng Cửu Long mới được chấp nhận như thuộc nước Ph�p, Anh Quốc giờ đ�y l� kẻ đang x�m nhập tr�i ph�p.

 

��������� Vụ Mong Sing trong năm 1894 khuấy động dư luận quốc tế trong thời khoảng ngắn ngủi, mặc d� sự chạm tr�n tại v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long n�y kh� c� thể s�nh với cuộc khủng hoảng Fashoda sau n�y tr�n v�ng thượng lưu s�ng Nile.� Sự việc sau rốt được giải quyết bởi một hiệp ước Anh-Ph�p năm 1896 theo đ� Anh quốc r�t khỏi Mong Sing b�n ph�a bờ đ�ng con s�ng để đổi lấy c�c sự bảo đảm đanh th�p về chủ quyền v� sự độc lập của một nước Th�i Lan bao gồm to�n thể lưu vực Menam-Chao Phraya ph� nhi�u.� Điều n�y đ�p ứng c�c y�u cầu của Anh Quốc về một quốc gia được x�c định tr�n trường quốc tế c� thể ho�n th�nh vai tr� của n� vừa như một v�ng tr�i độn v� vừa như một thị trường, trong khi để cho Ph�p được tự do chiếm đoạt nhiều quận huyện ngoại bi�n hơn.

 

��������� Họ đ� l�m y như thế.� Rosebry đ� v� tiến tr�nh n�y với việc b�c từ chiếc hoa b�ch hợp (artichoke) lớp c�nh b�n ngo�i trong khi t�m nhụy của hoa vẫn c�n nằm ngo�i giới hạn.� Tại quy ước năm 1904 dải đất t�ch biệt rộng 25 c�y số b�n bờ ph�a t�y của s�ng Cửu Long được đổi lấy việc chuyển giao cho nước L�o thuộc Ph�p hai huyện b�n bờ ph�a t�y, một huyện l� một dải đất d�i đối diện với thị trấn Luang Prabang v� huyện kia ở Bassac, v�ng nước kho�ng giải tr� được dự ph�ng bởi Garnier, c�ng với nhiều đất đai hơn quanh v�ng Th�c Khon.� Việc n�y được tiếp nối trong năm 1907 bởi một hiệp định Ph�p-Th�i theo đ� Ph�p sau c�ng đ� ho�n trả lại cho Vọng C�c một địa điểm tại v�ng đ�ng nam Th�i Lan được gọi l� Kratt, hay Trat (trước đ� đ� được đổi cho Chantaburi).� Ngược lại, Th�i Lan sau hết từ bỏ sự nắm giữ giờ đ�y chỉ c�n yếu ớt tr�n những tỉnh Căm Bốt �bị cắt chia� l� Siem Reap v� Battambang.� Bốn mươi mốt năm sau khi Ủy Hội Thăm D� S�ng Cửu Long đ� x�c định khu đền đ�i Angkor như l� một địa điểm xứng đ�ng cho sự bảo hộ của Ph�p, n� đ� nhận được đ�ng điều đ� khi ch�ng được giao về cho sự cai trị của Căm Bốt.� Một c�ch tương hợp, nh� học giả, người bảo quản, v� nh� sưu tầm vĩ đại nhất về Angkor đương thời l� Louis Delaporte, kẻ đ� từng l� họa sĩ của Ủy Hội v� c� c�c h�nh vẽ về chuyến du h�nh của Ủy Hội được in v� sao chụp tr�i ph�p trong v� số c�c t�c phẩm, vẫn c�n l� một di sản gợi nhớ nhiều nhất � c�ng với tất cả c�c bi�n giới lạc lo�i kia trong v�ng Đ�ng Nam �./-�

 

 

___

 

 

CH� TH�CH:

 

1.  B�o c�o của Garnier (1873) l� b�o c�o ch�nh thức về cuộc th�m hiểm v� bao gồm một quyển d�nh ri�ng cho c�c bản đồ c�ng với một số h�nh ảnh được vẽ bởi Louis Delaporte.� Tập s�ch của Garnier (1885) l� bản kể chuyện được ấn h�nh sau khi chết (bao gồm c�c t�i liệu bổ t�c của Delaporte); phần lớn tập n�y đ� được đăng tải th�nh nhiều kỳ li�n tiếp trong tạp ch� Le Tour du Monde.� Quyển của De Carn� (1872) l� bản tường thuật duy nhất kh�c c� được.

2.  Th� dụ, Severin, Timothy, The Oriental Adventure, London, 1976.

3.  Một ngoại lệ đ�ng kể l� t�c phẩm của Osborne (2000).

4.  Garnier (1885); bản dịch, Bangkok 1996, quyển 2, trang 20.

5.  C�ng s�ch dẫn tr�n, quyển 1, trang 51.

6.  Được tr�ch dẫn trong Gomane (1994).

7.  De Carn� (1873); bản dịch, Bangkok 1995, trang 99.

8.  C�ng s�ch dẫn tr�n, trang 83.

9.  Garnier (1885); bản dịch, Bangkok 1996, quyển 1, c�c trang 305, 313.

10.   Dupuis đ� gặp Ủy Hội đang tr�n đường trở về tại H�n Khẩu (Hankow) tr�n s�ng Dương Tử v� đ� nhận được c�c tin tức về S�ng Hồng từ Tiến Sĩ Joubert, chuy�n vi�n địa chất của Ủy Hội.

11.   Về cuộc tiến qu�n đầu ti�n v�o Bắc Việt, xin xem đặc biệt t�c phẩm của Taboulet (1956).

12.   Về Pavie, xem c�c t�c phẩm nhiều bộ của ch�nh �ng ta, đặc biệt quyển Mission Pavie (1901) v� � La Conqu�te des Coeurs (1947).

13.   Một sự m� tả th� vị về việc di chuyển tr�n đoạn đường xe lửa ngắn n�y được t�m thấy trong t�c phẩm của Bassenne (1912, 1995).

14.   Cuộc đụng độ ở Paknam được quan s�t cặn kẽ v� được m� tả bởi Warington Smyth (1898).

15.   T�c phẩm của Tuck (1995) chứa đựng một sự tr�nh b�y tuyệt hảo về c�c cuộc thương thảo giữa Anh-Ph�p-Th�i Lan v� vụ Mong Sing.� Phần c�n lại của b�i viết n�y dựa kh� nhiều v�o t�c phẩm đ�.

 

 

S�CH THAM KHẢO

 

Bassenne, Marthe (1912) Au Laos et au Siam (Paris); bản dịch, In Laos and Siam (Bangkok, 1995)

Clifford, Hugh (1904) Further India: The Story of Exploration from the Earliest Times in Burma, Malaya, Siam and Indo-China (London).

De Carn�, Louis (1872) Voyage en Indo-Chine et dans l�Empire Chinois (Paris); bản dịch, Travels in Indo-China and the Chinese Empire (Bangkok, 1995).

Garnier, Francis et al (1873) Voyage d�Exploration en Indo-Chine effectu� pendant les ann�es 1866, 1867 et 1868, 4 vols. (Paris).

Garnier, Francis (1885) Voyage d�Exploration en Indo-Chine (Paris); bản dịch, trong 2 quyển (Bangkok, 1996).

Gomane, Jean-Pierre (1994) L�Exploration de M�kong: La Mission Ernest Doudart de Lagr�e � Francis Garnier (Paris).

Hall, D.G.E. (1981) A History of South East Asia (London).

Keay, John (2005) Mad About the Mekong: Exploration and Empire in South East Asia (London).

Osborne, Milton (1975) River Road to China: The Search for the Source of the Mekong, 1866-73 (London).

Osborne, Milton (2000) The Mekong: Turbulent Past, Uncertain Future (New York).

Pavie, Auguste (1901) Mission Pavie en Indo-Chine, 6 vols. (Paris).

Pavie, Auguste (1947) � La Conqu�te des Coeurs (Paris).

Taboulet, Georges (1956) La Geste Francaise en Indo-Chine (Paris).

Tuck, Patrick (1995) The French Wolf and the Siamese Lamb: The French Threat to Siamese Independence (Bangkok).

Warington Smyth (1898) Five Years in Siam (London).



-----

 

 

Nguồn: John Keay, The Mekong Exploration Commission, 1866-68: Anglo-French Rivalry in South East Asia, Asian Affairs, vol. XXXVI, no. III, November 2005, c�c trang 289-312.�

 

 

 

PHỤ CH� CỦA NG� BẮC:

 

(a) Bang quốc Shan (Shan State):

Thủ đ�:������� �� Taunggyi

V�ng:���������� �� Đ�ng trung bộl

Diện t�ch:�� 155,800 km�

D�n số:������� �� 4,702,000 (1999)

 

C�c sắc d�n:Shan, Bamar, Chinese, Anglo-Burmese, Kachin, Danu, Intha, Palaung, Pa-O, Indians

 

T�n gi�o:���� Buddhism, Christianity, Islam, Hinduism

Bản Đồ Bang Shan thuộc nước Miến Điện

Bang quốc Shan gi�p với Trung Hoa ở ph�a bắc, với L�o ở ph�a đ�ng v� với Th�i ở ph�a nam.� N� cũng gi�p ranh với 5 ph�n khu h�nh ch�nh của Miến Điện.� Phần lớn địa thế bang quốc Shan l� một cao nguy�n với đồi thấp, v� c�c ngọn n�i cao hơn ở ph�a bắc v� ph�a nam.

Bang quốc Shan, hiện nay l� một trong bảy bang nằm trong nước Miến Điện, được gọi theo t�n của sắc d�n Shan l� nh�m chủng tộc đa số tại bang quốc n�y.� D�n Shan (c�n gọi l� Tai trong Anh ngữ) c� ng�n ngữ v� phong tục giống như c�c sắc d�n Th�i v� L�o, phần lớn theo đạo Phật tập trung tại c�c v�ng đồng bằngv� sống bằng n�ng nghiệp.� Tại bang Shan cũng c� c�c sắc d�n kh�c như nguời Bamar. Karens, Trung Hoa v.v�� C�c v�ng đồi n�i được cư ngụ bởi nhiều sắc d�n kh�c nữa, đặc biệt l� sắc d�n Wa tại v�ng ph�a bắc v� dọc bi�n giới với Trung Hoa.

Người Shan cai trị phần lớn l�nh thổ Miến Điện từ thế kỷ thứ 13 đến đến kỷ thứ 16, như l� c�c triều đại cầm quyền tại c�c vương quốc Ava, Sagaing v� Pinya.� Đến thế kỷ thứ 19, sau nhiều thế kỷ suy t�n, bang quốc Shan bị chia cắt th�nh 30 l�nh địa nhỏ b�, phần lớn phải triều cống nh� vua Bamar.� Dưới chế độ thực d�n Anh, được thiết lập đầu ti�n v�o năm 1887, c�c l�nh địa thuộc bang quốc Shan được cai trị bởi c�c bang trưởng thế tập, truyền từ đời n�y sang đời kh�c (Saophas hay Chaofa) được phong kiến bởi Ho�ng Gia Anh.

Bang quốc Shan gồm những l�nh địa bị xem l� một phần của Khu Tam Gi�c V�ng, nổi tiếng tr�n thế giới về việc sản xuất nha phiến bất hợp ph�p. �Việc mua b�n thuốc phiện được kiểm so�t bởi c�c sứ qu�n địa phương, nu�i dưỡng c�c đội qu�n ri�ng l�n tới h�ng ng�n l�nh.

 

Cảnh th�n qu� Bắc Th�i (Nguồn:wikimedia.org)

 


Một l�ng miền Bắc bang San (Nguồn:wikimedia.org)

 

(b) Ava l� thủ đ� của Miến Điện từ năm 1364 đến 1841, ng�y nay thuộc ph�n khu h�nh ch�nh Mandalay, Miến Điện.

 

(c) Qu�n Cờ Đỏ v� Cờ Sọc tại Th�i v� L�o hay c�c cuộc chiến tranh với Kỳ Qu�n sắc d�n Haw:

 

C�c cuộc chiến tranh với sắc d�n Haw, như được phi�n �m trong tiếng Th�i, để chỉ c�c cuộc đ�nh nhau với c�c lực lượng b�n qu�n sự Trung Hoa x�m lấn v�o Bắc Việt v� Th�i Lan trong thời khoảng từ 1865 đến 1890.

 

Trong hậu b�n thế kỷ thứ 19, c�c nh�m qu�n Trung Hoa được biết l� c�c đội Kỳ (cờ) qu�n, thuộc c�c bộ lạc m� người Th�i gọi l� d�n Haw, v�ng nam tỉnh V�n Nam, đ� t�n ph� c�c khu vực rộng lớn miền bắc L�o.���

 

C�c đội qu�n Cờ Đen v� Cờ V�ng x�m nhập Bắc Kỳ trước ti�n từ năm 1865 v� thiết lập nhiều căn cứ ở v�ng đồng bằng s�ng Hồng.� C�c nh�m Kỳ qu�n n�y l� dư đảng của phong tr�o Th�i B�nh Thi�n Quốc ở Trung Hoa.

 

Trong hơn hai mươi năm kế đ�, qu�n Cờ Đen v� thủ lĩnh của n�, Lưu Vĩnh Ph�c đ� được hợp thức h�a v� nổi tiếng trong việc phục vụ cả triều đ�nh Việt Nam lẫn nh� Thanh, Trung Hoa, trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Ph�p tại Bắc Việt.� Tr�i lại qu�n Cờ V�ng dưới sự chỉ huy của Ho�ng S�ng Anh lại kh�ng nhận được bất kỳ sự hợp thức h�a n�o, v� bị truy l�ng bởi li�n qu�n Việt-Hoa v� qu�n Cờ Đen.� Trong năm 1875-76, sau khi Ho�ng S�ng Anh bị bắt giữ v� h�nh quyết bởi li�n qu�n Việt Hoa, dư đảng qu�n Cờ V�ng chạy sang ph�a t�y, v�ng thượng lưu của đồng bằng s�ng Đ�, từ đ� quấy ph� c�c thị trấn của li�n bang n�i tiếng Tầy (ng�y nay l� một phần của khu t�y bắc Việt Nam) v� v�ng đ�ng bắc l�o.

Xa hơn về ph�a t�y, khởi đầu v�o khoảng năm 1872, c�c nh�m nổi dậy bị nh� Thanh đ�nh bại tại V�n nam cũng bắt đầu tr�i giạt qua bi�n giới v�o đất l�o, khi đ� l� một nước lệ thuộc Th�i Lan.� Nổi bật trong c�c nh�m n�y l� qu�n Cờ Đỏ v� qu�n Cờ Sọc (Striped Flags), di chuyển xuống ph�a nam để chiếm đ�ng gần như to�n thể miền bắc nước L�o.� Qu�n Cờ Đỏ lục so�t Điện Bi�n Phủ trong năm 1873, v� qu�n Cờ Sọc kiểm so�t khu Phuan v� c�nh Đồng Chum trong c�ng năm đ�.

 

Để đối ph� với sự th�ch thức nghi�m trọng n�y, trong năm 1874, Chao Unkham, �ng ho�ng trị v� tại Luang Prabang v� vua Tự Đức của Việt Nam đ� ph�i li�n qu�n đi đ�nh dẹp c�c đội kỳ qu�n x�m nhập.� Thế nhưng li�n qu�n bị đ�nh duổi, v� Chao Ung, �ng ho�ng xứ Phuan bị giết chết.� Qu�n chiến thắng bộ tộc Haw tiến xuống ph�a nam, lục so�t Vạn Tượng, trong khi �ng ho�ng Chao Unkham của Luang Prabang lại y�u cầu khẩn cấp sự trợ gi�p từ quốc vương Th�i Lan, vua Chulalongkorn (Rama V).

 

Trong m�a xu�n 1875, lực lượng Xi�m La vượt qua s�ng Cửu Long tai Nong Khai.� Đo�n viễn chinh thứ nhất n�y của Th�i đ� chiếm được căn cứ ch�nh của qu�n Haw tại ChiangKham.� Cuộc viễn chinh đ� kh�ng đạt được mục ti�u ch�nh yếu của n�, bởi qu�n Haw n� tr�nh kh�ng giao tranh v� r�t về v�ng n�i đồi thuộc Phuan v� Huaphan. �Khi qu�n Xi�m r�t về v�o cuối năm đ�, qu�n Haw lại xuất hiện v� �t nhiều tự do cướp ph�.

 

T�m năm sau đ�, năm 1883, đối diện với sự đe dọa mới của qu�n Haw v�o Luang Prabang, �ng ho�ng Chao Unkham lần nừa cấu cứu Vọng C�c.� Cuộc viễn chinh lần thứ nh� của qu�n Th�i trong c�c năm 1884-85 cuối c�ng vẫn kh�ng th�nh c�ng.

 

Qu�n Haw tiếp tục cướp ph� cho m�i đến giữa thập ni�n 1890, một sự li�n kết �p lực của Th�i Lan v� Ph�p mới buộc ch�ng phải triệt tho�i về Trung Hoa./-

 

-----

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

                                                                                                                                                       

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o