họa của V� Đ�nh

 

 

Huỳnh Sanh Th�ng

 

SỬ K�

CỦA D�N GIAN

TẠI VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

 

 

Người dịch đ� l�m một c�ng việc đảo ngược với t�c giả: c� nghĩa ghi lại c�c th�nh ngữ bằng tiếng Việt đ� được tr�ch dẫn trong nguy�n t�c v� giữ phần dịch sang tiếng Anh của t�c giả, để độc giả tiện tham cứu v� sử dụng sau n�y. NB

 


***

 

 

���� Người d�n Việt Nam đ� trải qua nhiều biến cố g�y x�o trộn v� đổ vỡ nhiều hơn nhiều khu vực kh�c của thế giới.� Khi họ cố gắng x�y dựng một g�c nương n�u cho ch�nh họ tại Đồng Bằng S�ng Hồng, họ đ� phải vun x�n nơi đ� từ một m�i trường khắc nghiệt � một c�ng việc hệ trọng l� ngăn giữ c�c nạn lụt.� Để bảo vệ qu� hương của m�nh, họ đ� phải tranh đấu chống lại c�c đối thủ h�ng mạnh b�n ngo�i, đặc biệt l� Trung Hoa ở phương bắc v� Ch�m ở phương nam.� Ngo�i ra, họ c�n phải chiến đấu chống lại anh em của ch�nh họ nhưng biến th�nh kẻ th�, chứng kiến c�c cuộc tranh chấp k�o d�i giữa Ch�a Trịnh v� Ch�a Nguyễn, giữa cộng sản v� phe chống cộng sản.� Đ� chỉ l� điều tự nhi�n khi người d�n thường của Việt Nam, thường kh�ng đựoc đi học v� m� chữ nhưng được ban cho một tr� nhớ dai, đ� ph�t triển một � thức về những g� đ� xảy ra cho tổ ti�n của họ, những g� họ đ� ho�n th�nh, từng thời đại n�y đến thời đại kia.� Cảm thức m�nh liệt về qu� khứ đ�, như được phản chiếu trong nhiều truyền thống phổ th�ng, c� thể được gọi l� �sử k� b�nh d�n�, một bộ m�n cần phải được nghi�n cứu v� lượng gi� nếu ch�ng ta muốn hiểu biết s�u xa về ho�n cảnh x� hội v� đặc t�nh tinh thần của Việt Nam.� Trong thực tế, bởi v� n� đem lại c�c quan điểm của người n�ng d�n về c�c nh�n vật v� sự việc xảy ra từng c� lần ảnh hưởng đến đời sống của họ, sử k� b�nh d�n cung cấp c�c c�i nh�n thấu triệt c� t�nh chất kiểu ch�nh kh�ng thể được nh�n thấy ở bất kỳ chỗ n�o trong c�c khối lượng to lớn c�c sự kiện thu thập trong c�c ni�n gi�m hay bi�n ni�n sử ch�nh thức với c�c thi�n kiến của ch�ng. �Trong khi sử k� d�n gian thường l� một sự phong thần c�c anh h�ng văn h�a v� d�n tộc v� ch�nh v� thế biểu lộ nhu cầu của d�n ch�ng về đưc tin t�n gi�o trong cuộc đấu tranh sinh tồn của họ, n� c� thể chứa đựng nhiều h�n quặng của sự thực bị ch�n v�i dưới nhiều tầng lớp của sự tưởng tượng thơ mộng.� V�, bất luận khi n�i một c�ch cụ thể hay tổng qu�t, sử k� b�nh d�n c� được khả năng để nh�n thực tế bằng con mắt lạnh l�ng v�o cơ cấu thiết định của quyền lực v� ph�t biểu một c�ch bộc trực những điều m� �t học giả theo Khổng học lại từng c� can đảm �m chỉ đến trong c�c bản văn trước t�c.

 

���� Để cho c�ng bằng đối với c�c học giả Việt Nam viết bằng h�n tự, cần n�u ra rằng một số t�c giả trong họ đ� g�n tầm quan trọng cho c�c huyền thoại v� thần thoại d�n gian m� họ đ� thu thập với mục đ�ch đ�i khi được ph�t biểu nhằm x�c định l� lịch chủng tộc của l�nh thổ phương Nam của họ, tương phản với kẻ khổng lồ phương Bắc, Trung Hoa.� Trong thế kỷ thứ mười bốn, dưới c�c nh� cai trị triều Trần vốn l� c�c người đ� đẩy lui được v�i cuộc x�m lăng của qu�n M�ng Cổ, L� Tế Xuy�n đ� ghi ch�p một số chuyện kể về c�c vị vua, c�c anh h�ng, v� c�c vị thần Việt Nam trong tập Việt Điện U Linh Tập (A Book of Stories about Occult Powers in the Vietnamese Domain).� Cho đến cuối thế kỷ thứ mười lăm, dưới triều L� c� nh� s�ng lập đ� l�nh đạo một cuộc chiến tranh gian khổ để giải ph�ng xứ sở khỏi sự đ� hộ của nh� Minh, đ� xuất hiện một tuyển tập c�c chuyện d�n gian kh�c, quyển Lĩnh Nam Tr�ch Qu�i (Selected Tales of Extraordinary Beings in Lingnan), m� trong lời đề tựa được g�n l� của �ng, Vũ Quỳnh đ� n�u c�u hỏi về sự ph�n chia cứng rắn v� nghiệm ngặt theo truyền thống giữa sử [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] hay lịch sử ch�nh danh với truyện [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] hay huyền thoại v� thần thoại như sự hư cấu.� Bất kể c�c nỗ lực của �ng để rập khu�n quốc gia Việt Nam tập quyền theo m� thức t�n Khổng học của Trung Hoa, ch�nh vị ho�ng đế vĩ đại L� Th�nh T�ng đ� quan t�m s�u xa đến ng�n ngữ v� văn h�a bản xứ, v�, r� r�ng theo mệnh lệnh của �ng, sử quan Ng� Sĩ Li�n đ� phải lo toan việc thu thập c�c c�u chuyện từ thời cổ xưa được lưu truyền trong giới n�ng d�n, v� gồm ch�ng v�o sự b�nh luận của �ng khi �ng bi�n soạn bộ Đại Việt Sử K� To�n Thư (The Complete History of Đại Việt).

 

���� Tuy nhi�n cac văn bản bằng h�n tự chỉ đưa ra c�c mẩu chuyện d�n gian đ� được tuyển chọn kỹ lưỡng, nhằm ph�t huy c�c quyền lợi của tầng lớp cai trị hay, �t nhất, kh�ng bao giờ l�m tr�i với c�c quyền lợi như thế.� Lịch sử d�n gian Việt Nam phải được điều nghi�n bằng việc l�m s�ng tỏ phức thể của c�c sự tin tưởng v� s�ng b�i b�nh d�n tạo th�nh truyền thống truyền khẩu. �Th� dụ, c�c nh� x� hội học về t�n gi�o, sẽ quan s�t sự hiện hữu v� hoạt động của h�ng trăm c�c ng�i đền ch�a d�nh cho việc t�n thờ c�c nh�n vật huyền thoại hay thần thoại chẳng hạn như lạc Long Qu�n (Dragon Lord), cha đẻ ra vương quốc Việt Nam, Ph�-Đổng Thi�n Vương (Heavenly King of Ph�-Đổng), cậu b� ba tuổi chậm ph�t triển đ� trưởng th�nh qua đ�m để cứu vớt xứ sở chống trả qu�n chinh phục phương bắc, Thần N�i (Sơn Tinh) Tản Vi�n, người đ� d�nh thắng c�c cơn lụt d�ng l�n của kẻ th� ch�nh, Thần Nước (Thủy Tinh), v� nhiều nam nữ anh h�ng lịch sử như Hai B� Trưng, B� Triệu, Nguy�n So�i L� Thường Kiệt, Đại Tướng Trần Hưng Đạo, v.v�� Trừ khi bị ph� hủy hay ngăn cấm, c�c đền, ch�a như thế, li�n kết với sự thờ phượng v� nghi lễ cụ thể, sẽ l�m sống m�i c�c huyền thoại v� thần thoại đ� qua nhiều phi�n bản c� thể kh�c biệt từ nơi n�y sang nơi kh�c, nhưng lu�n lu�n giữ lại sự đ�ng g�p căn bản của mỗi vị thần linh hay anh h�ng cho ph�c lợi chung.� Song, sử k� b�nh d�n của Việt Nam, tr�n hết, đ� được g�i gh�m trong một chất liệu �t cụ thể, nhưng bền bỉ, hơn cả gồ hay đ�, v� chất liệu đ� ch�nh l� lời n�i.

 

���� Trong nước Việt nam cổ xưa, chữ được viết v� in, gắn liền với h�n tự, thuộc về giới thượng lưu v� c�ng b� nhỏ.� H�n tự đ� l� động cơ cho mọi h�nh thức diễn đạt ch�nh thức; khi một người n�o đ� muốn viết bằng tiếng bản xứ, người đ� phải d�ng chữ n�m (Southern characters),� văn tự phổ th�ng bao h�m một sự th�ng hiểu văn tự kiểu hội � (ideograms) của Hoa ngữ.� Khi việc in ấn c�n k�m ph�t triển v� sự ph�t h�nh c�n bị hạn chế nghi�m ngặt bởi c�c nh� cầm quyền, điều r� r�ng l� đại đa số người d�n Việt sống trong một thế giới kh�ng c� s�ch vở v� đ� dựa ch�nh yếu v�o tiếng n�i bản xứ để tạo lập, duy tr�, v� lưu truyền bất kỳ loại truyền thống n�o.

 

���� L�m thế n�o để ghi ch�p v� truyền đạt c�c sự kiện, c�c tư tưởng, v� c�c cảm nghĩ chỉ bằng lời n�i, khi kh�ng c� c�c phương tiện vật chất để bảo tồn --� đ� l� một sự th�ch đố.� Điều đ� đ� được giải quyết bằng sự lựa chọn h�nh th�i của c�ch n�i c� thể kh�ng cự hữu hiệu nhất chống lại sự xoi m�n của thời gian v� sự thay đổi, c�ch n�i c� thể đạt được một số mức độ của t�nh vĩnh cửu, v� h�nh th�i ph�t ng�n đ� l� thơ.� Thơ truyền thống Việt Nam đ� mang trong m�nh, một c�ch đ�ng ngưỡng mộ, sự ghi nhớ dễ d�ng v� th� vị bởi một sự kết hợp may mắn nhiều đặc t�nh; một tiết điệu, c� sẵn trong ng�n ngữ Việt Nam, t�n trợ cho hai �m tiết hay sự thay đổi thường lệ của c�c vần nhấn mạnh [vần trắc: stressed syllables] được đi trước bởi �m tiết kh�ng nhấn mạnh [vần bằng: unstressed]; sự cung ứng cả c�c cước vận (end rhymes) lẫn y�u vận (internal rhymes); v� sau hết, một sự h�a �m trong �m sắc (tones).� Ch�nh v� thế, th�c đẩy bởi nhu cầu, thơ đ� xuất hiện như một phương tiện hiển nhi�n cho bấy kỳ sự ph�t biểu n�o về sự kiện hay � kiến hoặc cảm nghĩ vốn khao kh�t sẽ tồn tại l�u hơn khoảnh khắc khi n� được thốt ra lần đầu.� Thể thơ đ� thấm nhập truyền thống truyền miệng tại Việt Nam được biểu hiệu bởi sự hiện diện của h�ng ng�n c�u tục ngữ (proverbs) hay c�ch ng�n (proverbial phrases) vốn phải được xem như c�c b�i thơ ngắn nhất. �H�y thử khảo s�t c�u n�i dưới đ�y, c� thễ dẫn ta ngược về thời qu� khứ xa xưa khi phụ nữ Việt Nam đ� đ�ng giữ một vai tr� quan trọng hơn nhiều so với vai tr� dưới chế độ phụ hệ (patriarchy) theo Khổng học: c�u �con dại c�i mang� (the child misbehaves, the mother bears the blames).� C�u c�ch ng�n chỉ gồm c� bốn từ, song n� lại chất chứa mọi đặc điểm của nhịp điệu, vần v� h�a �m ti�u biểu cho một b�i thơ đầy đủ.�

 

���� Để dễ nhớ v� truyền đạt trung thực bới lời n�i, thơ d�n gian Việt Nam đ� đạt tới một h�nh thức to�n thiện được gọi l� thơ lục b�t, hay hai c�u thơ �s�u-t�m� chữ. * N� được gọi như thế v� c�u đầu ti�n phải gồm s�u từ v� c�u thứ nh� phải gồm t�m từ.� Như một nhạc cụ đa năng kỳ diệu, n� đ� chu to�n mọi chức năng truyền th�ng � m� tả, trữ t�nh, v� kể chuyện � một c�ch tốt đẹp như nhau.� N� c� thể sử dụng một c�ch ri�ng rẽ để tr�nh b�y một sự kiện, ph�t biểu một � kiến, hay biểu lộ một cảm x�c trong mười bốn từ.� Hay n� c� thể được sử dụng như một vi�n gạch x�y dựng: c�c b�i thơ được l�m bởi từng cặp hai c�u thơ lục b�t nối liền nhau, từ c�c b�i thơ tứ tuyệt (quatrains) cho đến c�c t�c phẩm gồm h�ng ng�n c�u.� Trong khi c�c tục ngữ l�m theo thi vận v� c�c c�u c�ch ng�n hay c�c h�nh thức kh�c của thơ d�n gian chứa đựng nhiều sử k� b�nh d�n, kho t�ng cất giữ ch�nh yếu của n� l� một tuyển tập to lớn c�c c�u thơ lục b�t v� c�c b�i thơ lục b�t hay c�c phần của c�c b�i thơ đ�.� Tổng hợp lại, ch�ng vẽ l�n một bức tranh kh�ng phai mờ về x� hội được nhận thức dưới mắt nh�n của người n�ng d�n hay những người kh�c kh�ng phải l� th�nh vi�n của chế độ; ch�ng cung cấp c�c sự ph�n đo�n kh�ng bị kiểm duyệt m� người bị trị tuy�n ph�n tr�n kẻ cai trị.

 

���� Xuy�n qua thế kỷ thứ mười lăm, ho�ng triều Việt Nam xem ra được hưởng một uy t�n chưa hề xảy ra trong quần ch�ng nếu ch�ng ta duyệt x�t bằng chứng qua thi ca b�nh d�n.� Triều L� đ� được th�nh lập bởi một vị anh h�ng cứu nguy d�n tộc, v� truyền thuyết bằng miệng đầy dẫy c�c sự ghi nhớ c�ng ơn của c�c vua L�, đặc biệt về ch�nh vua L� Th�i Tổ hay L� lợi.� Trong suốt cuộc chiến tranh giải ph�ng, �ng được tuy�n xưng l� B�nh Định Vương (Pacifying King), người m� sự chiến thắng được mong chờ bởi d�n ch�ng qua c�u thờ sau đ�y: �Lạy Trời cho cả gi� l�n, / cho cờ vua B�nh Định bay tr�n kinh th�nh.� (Pray to Heaven that a high wind will rise, / and the Pacifying King�s flag will fly over the capital city).� Khi qu�n sĩ của vua đến Bồ Đề để ph�ng ra cuộc tấn c�ng tối hậu đ�nh v�o bộ chỉ huy qu�n Minh tại Đ�ng Quan (tức H� Nội ng�y nay), d�n ch�ng đ� h�t l�n rằng: �Nhong nhong ngựa �ng đ� về, / Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa �ng ăn.� (Ting-a-ting, the Lord�s horses have come back, Cut the grass of Bồ Đề and feed the Lord�s horses).� C�u thơ sau đ�y đề cập đến hai ng�i l�ng tại Thanh H�a, nơi �ng L� Lợi đ� khởi đầu chiến dịch chống lại qu�n Trung Hoa: �Ai l�n Bi�n Thương, Lam Sơn, / Nhớ L� Th�i Tổ chặn đường qu�n Minh.� (Whoever goes up to Bi�n Thượng and Lam Sơn, / Will remember that (there) L� Th�i Tổ barred the way to Ming troops).� Người d�n thường vẫn ngưỡng mộ h�nh động của một t�y tướng của L� Lợi, kẻ đ� hy sinh sinh mạng của m�nh để giải cứu cho người l�nh đạo khỏi bị bắt giữ bởi qu�n địch ngoại x�m.� Theo truyền thống d�n gian, vua L� Th�i Tổ sau n�y nhớ ơn [L� Lai] đ� ra sắc dụ rằng sự tưởng niệm c�i chết của L� Lai sẽ phải được cử h�nh một ng�y trước ng�y giỗ của �ng, xảy ra trong th�ng t�m �m lịch, v� thế đ� c� c�u n�i n�y: �Hăm mốt L� Lai, hăm hai L� Lợi.� (The twenty-first for L� Lai, the twenty second for Le Lợi). (a) N�i chung, d�n ch�ng c� khuynh hương gắn liền triều L� trong thời cực thịnh của n� ba9`ng sự h�a b�nh v� thịnh vượng, như đưo=.c biểu trưng bởi sự đ�ng con trong c�u thờ n�y: �Đời vua Th�i Tổ, Th�i T�ng, / Con bế con dắt con bồng con mang.� (In the times of King Th�i Tổ and king Th�i T�ng, there were children to be held, children to be carried, and children to be led by the hand) (b).� Ngay đến vua L� Thần T�ng, kẻ l�n ng�i dưới sự bảo trợ của Ch�a Trịnh T�ng v� c� ni�n hiệu trị v� l� Vĩnh Tộ, đ� được ghi nhớ một c�ch tr�u mến trong thơ d�n gian bởi v� năm 1619, năm vua l�n ng�i, đ� l� năm trong đ� d�n ch�ng được một m�a thu hoạch dồi d�o: �Đời vua Vĩnh Tộ l�n ng�i, / cơm nguội đầy nồi con trẻ chẳng ăn.� (When King Vĩnh Tộ mounted the throne, pots were so full of stale rice that children wouldn�t touch it). (c) ���

 

���� Vua L� Thần T�ng cho thấy một ngoại lệ hiếm c�, bởi sau thế kỷ thứ mười lăm, phần lớn c�c vua L� phải chịu một sự suy sụp mau lẹ trong l�ng y�u mến v� t�n k�nh của quần ch�ng.� Trong đầu thế kỷ thứ mười s�u, triều L� đ� sản sinh ra, một c�ch kh� nhất, c�c nh� cai trị kh�ng c� khả năng, v� tệ nhất, c�c bạo qu�n h�n �m, như Uy Mục c� biệt danh l� Vua Quỷ (King Devil), như Tương Dực bị g�n cho t�n l� Vua Lợn (King Pig).� Dưới đ�y l� h�nh ảnh cu/a d�n gian về c�c nh� vua như thế: �Vua L� băm s�u t�n v�ng,/ Thấy g�i đi đ�ng ng� ng� nom nom./ C� n�o �ng ả son son,/ vua đ�ng cũi h�m đem trảy về kinh. (King L� own thirty-six golden parasols./ When he sees girls in the streets, he stares and stares./ If any one of them happens to be young and lovely,/ the king locks her up in a cage and carries her back to the capital).

 

���� Thời kỳ n�y chứng kiến sự tấn cống của một hiện tượng sẽ trở th�nh đường n�t nổi bật của x� hội Việt Nam trước thế kỷ thứ hai mươi: c�c cuộc nổi dậy của n�ng d�n được l�nh đạo hay x�i dục bởi c�c c� nh�n nhiều tham vọng, c�c học giả bất m�n hay c�c th�nh vi�n thất sủng của ho�ng gia.� Cuộc tiếm ng�i ngắn ngủi của nh� Mạc v� hậu quả của n�, đặc biệt cuộc tranh gi�nh quyền lực giữa họ Trịnh v� họ Nguyễn, đ� biến nội chiến trở th�nh quy chuẩn (norm), th�nh một lối sống.� Th� dụ, mặc d� họ Trịnh đ� chiếm lại kinh đ� v� ch�nh thức chấm dứt sự trị v� của c�c kẻ tiếm ng�i trong năm 1592, c�c thuộc hạ trung th�nh với nh� Mạc đ� ẩn n�u tại th�nh tr� của họ tại Cao Bằng, để chống lại n� họ Trịnh đ� phải ph�i c�c cuộc viễn chinh qu�n sự trong hơn bảy mươi năm kế đ�.� Như một �m vang c�c lời ta th�n của d�n ch�ng, b�i thơ d�n gian n�y cho con c� sắm vai một người vợ chịu gian khổ từ l�u của một n�ng d�n-chiến sĩ sắp sửa t�ng qu�n đ�nh nhau với phe trung th�nh thuộc nh� Mạc: �Con c� lặn lội bờ s�ng./ G�nh gạo đưa chồng tiếng kh�c nỉ non. / N�ng về nu�i c�i c�ng con. / Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.� (The heron wades along the river. / She carries rice, seeing her husband off, and she weeps and wails. / Woman, go back home and care for mother and the children. / Let me trek my way up to the streams and hills of Cao Bằng.)

 

���� Khi họ chiến đấu chống lại nh� Mạc tiếm ng�i, cả c�c Ch�a Trịnh nơi đất Bắc lẫn c�c Ch�a Nguyễn nơi phương nam đều tuy�n thệ trung th�nh với vua L�.� Nhưng họ đ� khai th�c ch�nh nghĩa phục hồi nh� L� một c�ch sỗ s�ng v� đối xử với c�c người l�n ng�i vua L� một c�ch qu� ti tiện đến nỗi, chẳng sớm th� muộn, t�nh huyền nhiệm của nh� L� bị bắt buộc phải trải qua một sự lu mờ trong t�m tưởng người d�n.� Từ thời đại v� li�m sỉ n�y, văn học d�n gian c� lưu giữ lại một nh�n vật h�i hước được gọi Ch�a Chổm (Lord Chổm), một kẻ thường xuy�n nghiện rượu vay mượn tiền mọi nơi để mua rượu v� từ đ� đang mang lại trong ng�n ngữ Việt Nam c�u c�ch ng�n tỉ đối (simile) như sau: �nợ như Ch�a Chổm� (to be in debt like Lord Chổm).� �ng đ�ng vai ch�nh như một con s�u rượu v� tư lự trong b�i thơ lục b�t gồm bốn c�u như sau: �Vua Ng� băm s�u t�n v�ng. / Chết xuống �m phủ chẳng mang được g�. / Ch�a Chổm uống rượu t� t�. / Chết xuống �m phủ k�m g� vua Ng�?� (The king of China owns thirty six golden parasols. / When he dies and goes down to hell, he won�t take a thing with him. / Lord Chổm just nips and tipples liquor. / When he dies and goes down to hell, will he be in any way outclassed by the king of China?)� Ch�a Chổm kh�ng phải l� nh�n vật hư cấu trong sự tưởng tượng của quần ch�ng � �ng ta l� con người c� thực trở th�nh bất tử như một anh hề l�m ly mặc d� trong năm 1532 �ng đ� được tuy�n xưng l�m ho�ng đế bởi Ch�a Nguyễn Kim : như nh� vua L� Trang T�ng, �ng trở th�nh người đầu ti�n của một chuỗi vua bồ nh�n chẳng lấy g� l�m vinh dự, được lập l�n bởi hoặc họ Nguyễn hay họ Trịnh nhằm che phủ c�c tham vọng trơ trụi của họ bằng một v�i d�ng vẻ của tư c�ch ch�nh thống.

 

���� Nếu d�n ch�ng đ� r�t lại l�ng trung th�nh đối với nh� L� suy yếu, họ xem ra chẳng ưa g� việc chuyển l�ng truung h�nh đ� sang c�c nh� cai tri mới, những kẻ kh�ng mấy xứng đ�ng để hưởng điều đ�.� Tại Miền Bắc, nơi m� chế độ gia đ�nh trị v� nạn b� c�nh lan tr�n, c�c ch�a Trịnh đ� ban ph�t tước quận c�ng hay ��ng ho�ng� (prince) một c�ch bừa b�i cho th�n nh�n v� b� bạn họ, đến nỗi c�c c�u chuyện tiếu l�m chua ch�t đ� được đặt ra v� loan truyền, chẳng hạn như c�u chuyện sau đ�y: �Ỉa đồng một b�i bằng vạn đại qu�n c�ng� (He who drops a heap of dung in the fields is worth ten thousand generations of princes).� Đối với những người kh�c c� khả năng trả tiền c�c nh� cầm quyền họ Trịnh b�n nhiều loại tước vị qu� tộc linh tinh, với gi� kh� rẻ như lời đ�i c�u thơ n�y: �Mười quan th� được tước hầu. / Năm quan tước b� ai hầu k�m ai?� (For ten strings of coppers you get the title of marquis. / For five you get the title of count � who is to be outranked by anyone else?).� Trịnh S�m v� c�c th�nh vi�n trong gia đ�nh �ng, một c�ch đặc biệt, đ� chuốc v�o m�nh c�c mũi t�n của sự chống đối v� khinh miệt của quần ch�ng.� �ng c�ng chia sẻ với n�ng phi y�u qu� của �ng, Đặng Thị Huệ, một nhiệt t�nh trong việc x�y dựng c�c ch�a v� tu viện Phật Gi�o trong khi �ng lại �t th�nh t�m hơn trong việc biểu lộ l�ng từ bi của Phật Gi�o trong c�c ch�nh s�ch của �ng.� Đ�i c�u thơ sau đ�y xem ra đ� đưa ra một lời b�nh luận k�n đ�o cho khoảng c�ch biệt n�y: �D� x�y chin bấp ph� đồ, / chi bằng l�m ph�c cứu cho một người?� (Even if you build a nine stories of a stupa, / would it do as much good as to save one single life?). (d)� Em trai của Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu L�n, một kẻ cướp ph� ph�ng đ�ng v� đ� reo rắc kinh ho�ng trong d�n ch�ng đến nỗi anh ta c� biệt danh l� Cậu Trời (Uncle Heaven), như trong hai c�u thơ sau: �Ấy ai v� ph�c tr�n đời, / ra đường gặp phải Cậu Trời bắt đi.� (Oh, if any (girl) is unlucky enough in this world, / she will run into Uncle Heaven in the street and be carried off by him).� Sau khi c� sự từ trần của Trịnh S�m, con trai �ng l� Trịnh Căn l�n nối ng�i nhưng c�n qu� trẻ để cai trị -- thực quyền rơi v�o tay người vợ g�a của �ng, Đặng Thị Huệ, v� một trong c�c cận thần của �ng, Ho�ng Đ�nh Bảo, c�n được gọi l� Quận Huy.� Quan hệ của họ trở n�n qu� mật thiết đến nỗi l�m ph�t sinh c�c c�o gi�c về quan hệ t�nh dục v� lu�n được ph�t biểu trong hai c�u thờ sau đ�y: �Trăm quan c� mắt như mờ. / Để cho Huy quận v�o sờ Ch�nh-cung� (All palace officials have eyes, but they may as well be blind. / They let the Prince Huy come in and paw the Dowager).

 

���� Tại miền Nam, c�c Ch�a Nguyễn cũng chẳng kha hơn bao nhi�u đối với quần ch�ng.� Nguyễn Khải, cũng được biết l� �ng Ho�ng Đằng, muốn c� một ng�i đền thờ của ch�nh �ng được x�y cất tại Thanh H�a v� v�o khỏang năm 1800 đ� trưng tập nhiều n�ng d�n l�m c�ng dịch kh�ng lương.� Sự bất m�n của họ được thổ lộ trong đ�i c�u thơ n�y: �Cơm ăn mỗi bữa một lưng. / Bao giờ g�nh đ� �ng Đằng cho rồi?� (There�s less and less rice as you eat each day. / When will you ever be through with carrying rocks for Prince Đằng?).� Kể chung như một nh�m, c�c Ch�a Nguyễn bị tố c�o l� đ� lưu t�m về c�c lễ hội v� c�c cuộc tr�nh diễn nhiều hơn đến c�c nhu cầu của d�n ch�ng, về việc chi ti�u qu� nhiều cho kịch nghệ, th� dụ, như đ�i c�u thơ sau đ�y đ� l�n �n: �Ai ơi ngẫm lại m� coi. / Ngọc v�ng con h�t, t�i đ�i thằng d�n� (Oh, folks, just think it nover and see! / Actresses are (treated like) jade and gold, the little folk work and slave).

 

���� Ngay cả sau khi c�c Ch�a Nguyễn đ� chiến thắng trước mọi đối thủ, thống nhất đất nước v� th�nh lập triều đại ri�ng của m�nh, họ cũng kh�ng tr�nh khỏi sự chỉ tr�ch của d�n ch�ng.� Gia Long đ� ra lệnh ph� bỏ mọi cung điện v� đền thờ cũ gợi �ng nhớ lại c�c kẻ th� xa xưa v� cho x�y dựng c�c đ�i kỷ niệm mới d�nh cho ch�nh �ng -- �ng c� phần phải chia sẻ sự quở tr�ch trong c�u tục ngữ của d�n gian: �Ph� đền rồi lại l�m đền. / N�o ai cướp nước tranh quyền chi ai?� (He�s destroyed temples, the he builds them all over again. / Why does anyone have to fight for power and grab the country like that?).� Minh Mạng được ph�c họa như một nh� vua độc đo�n, v� cảm bởi v� trong năm 1828 v� 1838 �ng cấm việc mang v�y bởi phụ nữ v� đ� tạo ra sự kh� khăn to lớn trong số c�c người ngh�o kh�ng c� khả năng mua vải để may quần như quy định: �Th�ng t�m c� chiếu vua ra. / Cấm quần kh�ng đ�y người ta h�i h�ng. / Kh�ng đi th� chợ kh�ng đ�ng. / Đi th� phải lột quần chồng sao đang?� (In the eighth month the kings edict came out. / It forbade skirts and threw (woman) folk into a dither. / If you don�t go out, you will miss the market. / If you must go, how can you bring yourself to strip your husband of his trousers?).� Nhưng, trong tất cả c�c vị vua nh� Nguyễn, Tự Đức r� r�ng phải g�nh chịu mũi d�i của sự khinh miệt v� o�n hận của quần ch�ng.� �ng ra lệnh cho h�ng trăm binh sĩ v� n�ng d�n x�y dựng một lăng mới được đặt t�n l� Vạn Ni�n (Eternity), một c�ng tr�nh khiến nhiều người thiệt mạng v� trong năm 1866 đ� kh�ch động một cuộc nổi loạn nhưng nhanh ch�ng bị dẹp tan.� Đ�i c�u thơ sau đ�y m� tả c�u chuyện: �Vạn Ni�n l� vạn ni�n n�o? / Th�nh x�y xương l�nh, h�o đ�o m�u d�n.� (What kind of eternity is this Eternity? / Its walls are built of soldiers� bones, its moats are filled with the people�s blood.)� Nh� vua bị quy tr�ch c� nh�n về những sự kh� khăn m� đất nước đang trải qua.� �Từ ng�y Tự Đức l�n ng�i, / cơm chẳng đầy nồi, trẻ kh�c như ri. / Bao giờ Tự-Đức chết đi, / thi�n hạ b�nh th� lại dễ l�m ăn.� (Since the day Tự Đức mounted the throne, / not enough rice has filled the pot, children have cried like sparrows. / When Tự Đức drops dead, / the people will enjoy peace and find it easy again to make a living.)

 

���� Ch�nh trong suốt c�c thời kỳ xung đột t�n s�t dưới nh� Mạc v� sau nh� Mạc k�o d�i trong nhiều thế kỷ m� c�u c�ch ng�n nổi tiếng n�y c� lẽ đ� được đặt ra v� được loan truyền rộng r�i như một ch�n l� đương nhi�n: �Được l�m vua, thua l�m giặc.� (Win, and you become king; lose, and you become a bandit).� Khi c�c �ng vua bị tước bỏ nhiều sự oai nghi�m v� t�nh c�ch thi�ng li�ng của họ, ước muốn của người d�n cho một sự thay đổi, ngay d� một cuộc nổi dậy bằng bạo động, được ph�t biểu trong lời cầu nguyện giữa chừng đột nhi�n biến th�nh lời nguyền rủa của một kẻ nổi loạn: �Trời mưa cho l�a th�m b�ng, / cho nước th�m c�, cho s�ng th�m thuyền, / cho d� cho lọng g�y then, / cho v�ng cho c�ng một phen nhuộm b�n.� (May Heaven send rain so that rice plants will grow more ears, / so that the water will have more fish and the river more boats, / so that canopies and parasols will break their locks, / and palanquins and sedan-chairs will get stained with mud for once). �C�c v�ng, lọng nghi lễ l� c�c biểu tượng của quyền uy, chỉ được d�ng bởi vua v� c�c quan, nhưng được khi�ng cho họ sử dụng bởi c�c người d�n thấp k�m l� những kẻ b�nh thường sẽ trồng l�a, đ�nh c� hay ch�o thuyền.� Bằng vũ lực, một sinh vật thấp k�m nhất c� thể chiếm đoạt được địa vị cao nhất, như đ�i c�u thơ n�y �m chỉ trong một ẩn dụ sống động: �Con c�c nằm ng�c bờ ao. / Lăm le lại muốn đớp sao tr�n trời.� (Head cocked, the toad�s lying on the pond�s edge. / It threatens to snap at the star in the sky.) (e)

 

���� C�c sử quan v� nh� ch�p sử bi�n ni�n viết bằng h�n tự kh�ng thể phớt lờ mọi cuộc nổi dậy của n�ng d�n khi nhiều cuộc nổi dậy trong đ� đặt ra c�c sự đe dọa thực sự đến ngai v�ng hoặc c�n tiến h�nh một c�ch qu� mỹ m�n như cuộc khởi nghĩa được l�nh đạo bởi anh em nh� T�y Sơn.� Nhưng c�c cuộc nổi dậy như thế chỉ được thảo luận một c�ch tổng qu�t v� lu�n lu�n bị ph�n x�t một c�ch ti�u cực.� Để c� một c�i nh�n đối lập, ch�ng ta phải tra cứu mảnh vụn của c�u thơ hay, trong một số trường hợp, c�c b�i thơ d�i kể chuyện m� truyền thống truyền khẩu đ� cứu vớt ch�ng khỏi sự qu�n l�ng.� Bằng chứng như thế, d� mong manh đến đ�u, mang lại cho ch�ng ta ấn tượng kh�ng thể lầm lẫn rằng � kiến về ch�nh trị x� hội v� sự phản đối thường được thực hiện trong giới n�ng d�n xuy�n qua một loại thi ca b�nh d�n được gọi l� v�.� Thi ca của v� kh�ng tự x�c định nhiều bởi c�c h�nh thức m� n� kho�c l�n m�nh, bởi ch�ng thay đổi, nhưng mục đ�ch của n� nhằm thực hiện trong một x� hội kh�ng học thức c�c chức năng ch�nh yếu được thi h�nh ng�y nay bởi c�c nhật b�o v� c�c tạp ch� hay, ở một mức độ �t hơn, bởi hệ thống truyền thanh v� truyền h�nh: tường thuật v� b�nh luận x� hội (editorialize).� C�c người đặt v� kh�ng nhắm l�m c�c c�ng tr�nh của họ c� t�nh c�ch thi vị hay văn chương, nhưng l� l�m b�o, b�o miệng, trong đ� sự quan t�m về văn thể v� tu từ học đ� bị phủ định bởi nhu cầu của sự cấp b�ch v� việc đưa c�u chuyện ra ngo�i quần ch�ng khi n� c�n l� tin tức n�ng hổi.� Ch�nh v� thế, phạm vị lưu h�nh b�nh thường của ch�ng l� l�ng x� hay quận huyện � ch�ng loan tin về c�c sự tranh c�i hay c�c vụ tai tiếng ở địa phương, những trường hợp bất c�ng trắng trợn thực hiện bởi một số chỉ huy, quan huyện, hay địa chủ.� Để bi�n soạn c�c mẩu tin của họ, họ thường chọn c�c h�nh thức đơn giản, th� sơ của thi ca b�nh d�n: c�c c�u c� bốn hay năm từ với cước vận kh�ng theo quy ước.� Nhưng, đ�i khi họ nhắm đến mục ti�u cao hơn, muốn vươn đến khối th�nh giả s�u rộng hơn về một số biến cố ảnh hưởng đến một khu vực to lớn như một tỉnh hay ngay tr�n cả nước, trong trường hợp đ� họ sẽ chấp nhận thể thơ lục b�t.

 

���� Được bảo vệ bởi t�nh chất v� danh, c�c người đặt v� về lịch sử d�n gian dễ hướng đến sự tuy�n truyền chống ch�nh phủ.� Sự ca ngợi tưởng nhớ c�c vị vua trong qu� khứ c� thể được đặt c�u theo một c�ch thế n�o để vạch ra c�c khuyết điểm của c�c nh� cai trị hiện tại.� Nhưng điều nguy hiểm nhất của khuynh hướng của c�c người đặt v� l� hay vinh danh c�c cuộc nổi loạn c� thực v� c�c người nổi loạn, về những người m� ch�ng ta h�y c�n c� đủ c�c cặp hai c�u thơ lục b�t v� c�c b�i thơ� để ngờ vực rằng sử k� b�nh d�n thường chất chứa một đường hướng khuynh đảo như thế.� Th� dụ, một �t c�c c�u thơ lục b�t h�y c�n tồn tại đến nay, c� lẽ l� phần c�n s�t lại của một b�i thơ d�i hơn nhiều, m� tả hoạt động s�ng ch�i của kẻ nổi dậy gốc n�ng d�n, Phan B� V�nh, giữa c�c năm 1821 v� 1827, dưới thời vua Minh Mạng, l� kẻ thực sự cai trị c�c v�ng đất bao la của miền đ�ng nam Bắc Việt cho đến khi �ng bị bắt giữ v� h�nh quyết.� Đ�i c�u thơ n�y nối kết cuộc khởi nghĩa của �ng với sự xuất hiện của sao chổi m� theo sự tin tưởng của d�n ch�ng, nhất thiết b�o trước c�c sự thay đổi lớn lao trong thế giới: �Tr�n trời c� �ng sao tua. / Dưới l�ng Minh Gi�m c� vua Ba V�nh� (In heaven there is a fringed star. / Here below, in Minh Gi�m village, there is King Ba V�nh).� Nhưng sử k� d�n gian khiến ch�ng ta tin rằng nh�n vật l� tưởng v� được y�u mến nhất trong tất cả c�c người nổi dậy gốc n�ng d�n đ� l� một người chưa bao giờ được đề cập đến trong bất kỳ sử s�ch ch�nh thức n�o, một ch�ng thanh ni�n chỉ được biết đơn giản l� anh L�a.� Mặc d� kh�ng hiện diện đối với c�c sử gia chỉ dựa ho�n to�n tr�n c�c văn bản,� Miền Trung Việt Nam c� truyền b� một c�u chuyện d�n gian phong ph� về ch�ng ta, gồm trong một b�i v� d�i, h�an chỉnh, đến nỗi ch�ng ta phải kết luận rằng ch�ng ta c� hiện hữu thực, ngay d� ch�ng kh�ng c� đủ c�c đức t�nh được g�n cho ch�ng ta: anh chắc hẳn sinh sống v�o khoảng cuối thế kỷ thứ mười t�m tại một khu vực ở Quảng Ng�i, h�nh động giống như một hiệp sĩ Robin Hood, cướp của nh� gi�u v� trợ gi�p người ngh�o, l�nh đạo một nh�m bao gồm hai người lớn tuổi hơn, được gọi một c�ch triu mến l� Cha Hổ v� Ch� Nhẫn.

 

���� Sự kiện rằng tiếng bản xứ, được d�ng trong c�c b�i ca ngắn v� v� để thảo luận về những việc nằm ngo�i phạm tr� của học thuyết Khổng học ch�nh thống, c� thể triệt hạ v� ph� vỡ trật tự đ� được thiết lập kh�ng lọt qua mắt nh� cầm quyền.� C�u c�ch ng�n thường hay được tr�ch dẫn dưới đ�y t�m lược sự ngờ vực v� lo sợ của họ: �N�m-na l� cha m�ch qu�.�(The Southern vernacular is the father of villains and scroundrels).� Sự chỉ danh ch�nh thức cho c�c ấn phẩm c� t�nh c�ch khuynh đảo: �y�u ng�n y�u thư� (fiendish words and fiendish books), được nhắm v�o hoặc thơ d�n gian truyền khẩu hay thơ chữ n�m dươi h�nh thức viết hay in ấn.� C�c ấn phẩm như thế bị cấm đo�n, trấn �p hay hủy diệt.� C�c nh� cai trị như Trịnh Tạc v� Trịnh Cương đ� bị mang tiếng như c�c kẻ đốt s�ch trong nỗ lực của họ nhằm kiểm so�t sự sử dụng văn tự b�nh d�n để loan truyền c�c � tưởng c� thể l�m cho d�n ch�ng nghĩ đến c�c điều kh�ng thể nghĩ đến v� l�m đảo lộn nguy�n trạng.� Trong năm 1663, Ch�a Trịnh Tạc c� ra lệnh cho �ng Phạm C�ng Trứ thảo ra 47 điều gi�o huấn (commandments) chỉ r� cho d�n ch�ng phải ứng xử ra sao v� y�u cầu họ h�y n� tr�nh �t� thuyết dị đoan.� (crooked words and strange thoughts).

 

���� Mặc d� c�c nh� cai trị Việt Nam muốn ngăn chặn t� thuyết bằng c�ch t�n trợ h�n tự v� hy sinh ng�n ngữ bản xứ, tất cả họ đều đi đến việc nhận thấy sẽ kh�ng thể th�ng đạt một c�ch hữu hiệu với quảng đại quần ch�ng thất học nếu kh�ng hạ m�nh sử dụng tiếng n�i vốn được giả thiết l� �cha m�ch qu�.� (father of villains and scroundrels).� Ch�nh v� thế, trong năm 1780, khoảng một trăm năm sau khi 47 điều gi�o huấn của Trịnh Tạc được viết theo ng�n ngữ của Khổng Tử v� được ban bố, Ch�a Trịnh Doanh đ� giao cho �ng Nhữ Đ�nh Toản chuyển dịch ch�ng th�nh thể thơ lục b�t v� khiến ch�ng dễ được tiếp cận hơn đối với thường d�n.� Ch�nh c�c nh� cai trị triều Nguyễn đ� phải vứt bỏ theo chiều gi� sự thuần t�y về � thức hệ v� th�ch ứng với thế giới thực tế.� Vua Tự Đức, một người y�u th�ch thơ n�m, đến mức độ tự m�nh chuyển th�nh thơ theo tiếng bản xứ c�c ch�m ng�n v� huấn lệnh m� vua Minh Mạng đ� viết ra bằng h�n tự nhằm gi�o h�a c�c thần d�n của �ng.

 

���� Ch�nh chủ định của c�c người cầm quyền nhằm cạnh tranh chống lại c�c người đặt v� hay c�c sử gia b�nh d�n ngay trong l�nh địa của c�c người kể t�n sau đ� sản sinh ra hai quyển sử k� d�i của Việt Nam được viết bằng tiếng bản xứ v� trong phương tiện d�n gian tinh t�y đ�: thể thơ lục b�t.� C�c sử k� bằng thơ kh�c của đất nước c� thể đ� được bi�n soạn v� hy vọng sẽ được kh�m ph�.� Cho đến giờ, chỉ c� hai quyển loại n�y c�n hiện hữu: quyển Thi�n Nam Ngữ Lục: TNNL (Chronicles of Heaven�s South), được viết dưới thời Ch�a Trịnh, v� quyển Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca: ĐNQSDC (A Verse History of Đại Nam), được viết dưới thời nh� Nguyễn.

 

���� Việc thảo ra tập thơ thứ nh� được cổ x�y bởi c�c nh� cầm quyền nh� Nguyễn ở mức độ cao nhất l� một điều chắc chắn, được ghi trong sử s�ch.� Theo mệnh lệnh của vua Tự Đức, hai quan chức triều đ�nh, L� Ng� C�t v� Trương Ph�c H�o, đ� soạn ra bản thảo đầu ti�n trong năm 1860.� N� đ� được bi�n tập v� viết lại bởi một v�i t�c giả kh�c, nhưng sản phẩm sau c�ng xuất hiện khoảng năm 1865 v� đ� tồn tại dưới nhan đề ĐNQSDC, mang tr�n hết b�t t�ch của một t�c giả, �ng Phạm Đ�nh To�i.

 

���� Mặc d� t�c giả địch x�c của quyển TNNL vẫn chưa được x�c định, sự bảo trợ ch�nh thức của nh� Trịnh cho tập thơ c� thể được suy luận ra từ một số đầu mối trong văn bản.� T�c giả bắt đầu bằng việc loan b�o rằng �ng đ� viết lịch sử để tu�n h�nh nghi�m chỉnh c�c mệnh lệnh từ cấp tr�n.� �ng chỉ đưa ra c�c sự �m chỉ hời hợt nhất đến c�c th�nh quả của triều L�, nhưng kết th�c với một thi kh�c gọt dũa ca tụng điều được gọi l� sự trị v� của �Trịnh-L�, đặt ch�a đứng trước vua.� �ng cũng cho ch�ng ta hay rằng �ng đ� thi trượt c�c kỳ thi l�m quan, rằng gia đ�nh �ng lu�n lu�n nhận được sự ưu đ�i v� �n thưởng từ b�n tr�n, khiến ch�ng ta ức đo�n rằng �ng ta c� li�n hệ c�ch n�o đ� với họ Trịnh.� C�c học giả đ� suy đo�n rằng tập thơ phải được viết ra dưới thời ch�a Trịnh Căn, giữa c�c năm 1682 v� 1709.

 

���� Điều quan trọng nhất về sự tự bạch của t�c giả l� sự kiện rằng �ng đ� trải qua phần lớn cuộc sống của m�nh tại v�ng th�n qu�, c�ch xa kinh đ�, v� tập thơ của �ng phản ảnh s�u sắc căn bản đồng ruộng của �ng.� Trong khi �ng l� một học giả th�ng l�u c�c kinh điển Trung Hoa v� kh�ng phải l� kẻ qu� m�a dốt n�t, �ng c�n l�u mới giao kết với c�c cung c�ch văn minh, tinh tế của t�c giả ch�nh của quyển ĐNQSDC, �ng Phạm Đ�nh To�i, một quan chức trong triều.

 

���� Kh�ng c� g� ngạc nhi�n khi thấy tập thơ của Phạm Đ�nh To�i kh�ng đ�ng t�n thưởng như l� sử k� d�n gian cho bằng quyển TNNL.� �ng kh�ng bỏ qua c�c huyền thoại v� c�c thần thoại, nhưng �ng nh�n ch�ng với một sự thờ ơ chẳng kh�c g� một sự ho�i nghi hay kh�ng tin tưởng thẳng thừng.� �ng tu�n theo c�c sự giải th�ch ch�nh thống, ước lệ về c�c biến cố chẳng hạn như của khởi nghĩa của chị em b� Trưng, m� �ng đ� quy chiếu cho sự th� hận c� nh�n của b� Trưng Trắc đ�i với vi�n th�i th� Trung Hoa, T� Định, kẻ đ� bị cho rằng đ� hạ s�t chồng b�.� Như một kẻ tuy�n truyền cho triều Nguyễn, �ng đ� d�nh c�c từ ngữ khắc nghiệt nhất cho c�c anh em nh� T�y Sơn -- v� bởi �ng c�ng k�ch c�c người nổi dậy đ�, ong đ� phải ca ngợi sự can thiệp qu�n sự của Trung Hoa chống lại phe khởi nghĩa.� Văn phong của �ng l� văn phong của một qu�n tử theo Khổng học ngẫu nhi�n phải viết bằng một thứ văn tự b�nh d�n, n� tr�nh một c�ch qu� cẩn trọng bất kỳ � kiến n�o về sự th� tục hay thi�u đứng đắn: điều ai cũng hay biết l� khi duyệt x�t một bản văn trước đ�y viết bởi một người n�o kh�c, �ng đ� x�a bỏ sự đề cập đến đ�i v� đ�i l�ng th�ng của B� Triệu (e) v� thay v�o chỗ đ� một v�i s�o ngữ v� thưởng v� phạt.� Đ�i v� to khổng lồ của vị nữ tướng đ� mới đ�ng l� một phần của sử k� d�n gian, nhưng một học giả Khổng học kh� t�nh sẽ phải k�o tấm m�n để che đậy ch�ng đi.� N�i chung, ĐNQSDC c� thể được t�n thưởng đ�ng nhất như một t�c phẩm văn học, nổi bật bởi sự thanh nh� nhất qu�n trong lời thơ của n� v� một số tia l�e s�ng của vẻ đẹp ch�n thực.

 

���� Mặt kh�c, quyển TNNL tượng trưng cho sử k� b�nh d�n ho�n chỉnh nhất: lối kể chuyện phổ th�ng được �p dụng cho c�c cuộc phi�u lưu v� nh�n vật giả định hay c� thể chứng thực trong thực tế.� Trước ti�n, ch�ng ta lấy l�m ấn tượng, n�i ri�ng về k�ch thước của tập thơ kh�ng th�i: với 4,068 cặp đ�i c�u thơ hay 8,136 c�u, n� l� tập thơ lục b�t d�i nhất c�n tồn tại đến nay. D�i khoảng hơn bốn lần quyển ĐNQSDC, n� lại tr�nh b�y một thời khoảng lịch sử ngắn hơn nhiều, phần lớn li�n quan đế c�c biến cố từ thời Hồng B�ng cho đến khi kết th�c sự x�m chiếm của qu�n Minh.� V� thế, n� c� thể d�nh nhiều chỗ hơn cho mỗi c�u chuyện khi so với ĐNQSDC.� Lấy một th� dụ cụ thể, quyển ĐNQSDC d�nh cho huyền thoại Ph� Dổng Thi�n Vương v�o khỏang 20 c�u thơ � quyển TNNL đ� kể lại c�u chuyện một c�ch trọn vẹn với 254 c�u.

 

���� Bất kể một số thiếu s�t r�nh r�nh � th� dụ kh�ng đề cập g� đến L� Thường Kiệt � t�c giả quyển TNNL đ� sử dụng bộ Đại Việt Sử K� T�an Thư như nguồn t�i liệu ch�nh thức của �ng ta, nhưng đi xa hơn �ng Ng� Sĩ Li�n nhiều trong việc vay mượn từ văn học d�n gian khi �ng du nhập hơn hai mươi huyền thoại v� thần thoại v�o trong quyển sử k� của �ng.� Điều quan trọng hơn, �ng chấp nhận ho�n to�n v� kh�ng d� dặt t�n điều của c�c người n�ng d�n trong c�c c�u chuyện tưởng tượng đ� như l� c�c sự kiện lịch sử, nơi c�c sự nhiệm m�u như c�c sự can thiệp của thần linh để trợ gi�p họ trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, đặc biệt để chống lại c�c kẻ x�m lăng đến từ b�n ngo�i.� Như l� một sử gia binh d�n ch�n thực, �ng b�c bỏ � kiến ch�nh thức cho rằng hai b� Trưng đ� tự vẫn bởi việc trầm m�nh dưới nước sau khi bị thất trận trước M� Viện (Ma Yuan): kh�ng, cả hai b� đ� lựa chọn để bay l�n Trời v� trở th�nh c�c nữ thần sẽ l�m mưa cho d�n ch�ng.� C�c vị anh h�ng d�n tộc, trước ti�n v� sau c�ng, c�c người y�u nước v� vị lợi v� c�c vị cứu tinh của d�n ch�ng l� một nguy�n l� được chấp nhận trong lịch sử d�n gian.� Như thế, trong sự tương phản r� n�t với sử quan Phạm Đ�nhTo�i, sử gia v� danh của TNNL ghi rằng � muốn đ�nh đuổi qu�n ngoại x�m l� động lực đầu ti�n th�c đẩy b� Trưng Trắc nổi dậy, chứ kh�ng phải mong ước trả th� cho c�i chết của người chồng.� Từ l�c khởi đầu cho đến khi kết th�c, phản ảnh tinh thần d�n gian, tập thơ chứa chất một cảm gi�c m�nh liệt về c� t�nh chung trong c�c d�n bản xứ như �người răng đen� (folks with black teeth) đối lập với ngoại nh�n, những người x�m nhập từ phương bắc, những �thằng răng trắng� (fellows with white teeth).� Tại nước Việt Nam cổ truyền, nhuộm răng đen kh�ng phải chỉ l� một phong tục � n� l� một nghi lễ chủng tộc l�m cho người Việt Nam kh�c biệt với mọi ngoại nh�n kh�ng nhuộm răng, đặc biệt từ Trung Hoa.

 

���� Trước khi kết th�c cuộc thảo luận ngắn ngủi về tập trường thi, n�n bổ t�c rằng văn phong của n� ho�n to�n ph� hợp với truyền thống truyền khẩu.� C�c c�u thơ của n� thường th� sơ v� vụng về, nhưng n� tiết ra một sự th� vị v� chừng bởi ch�ng h�a nhập c�c đặc t�nh hấp dẫn nhất của c�ch diễn đạt b�nh d�n, sử dụng c�c tục ngữ v� c�ch ng�n nhiều sắc th�i, kh�ng bao giờ t�m c�ch n� tr�nh bằng lối n�i trại nhợt nhạt m� lu�n lu�n n�u ch�nh danh sự vật.� T�c giả cũng biểu lộ sự dửng dưng đối với c�c chuẩn mực Khổng học qua việc tr�ch dẫn nhiều biểu tượng v� điển t�ch văn học kh�ng phải từ Tứ Thư hay Ngũ Kinh m� lại từ c�c t�c phẩm kh�ng kinh điển, kh�ng qu� nghi�m t�c chẳng hạn như truyện Tam Quốc Ch� hay The Tso Chronicles [?].

 

���� Trong một thời khoảng, sự chinh phục của người Ph�p đ� mang lại sự th�c đẩy mới cho sử k� b�nh d�n.� Hồi cuối thế kỷ thứ mười chin v� đầu thế kỷ thứ hai mươi, với c�c �m mưu v� phong tr�o kh�ng Ph�p thật s�i động, đ� khuyến kh�ch sự soạn thảo c�c �ng thơ kể chuyện ca ngợi c�c h�nh vi của c�c người nổi dậy hiện đại hay t�i diễn c�c chiến c�ng của c�c anh h�ng cổ xưa để l�m c�c b�i học v� gương mẫu cho người d�n lại một lần nữa sống dưới sự cai trị của ngoại quốc.� Nhưng thể thơ lục b�t t�y thuộc v�o truyền thống truyền khẩu, v� khi truyền thống truyền khẩu chết đi với sự thừa nhận ch�nh thức chữ quốc ngữ hay văn tự Việt Nam viết theo mẫu tự la m�, sử k� d�n gian bằng thơ cũng mờ nhạt dần để rơi v�o qu�n l�ng.� Kh� ti�u biểu, t�c phẩm quan trọng đầu ti�n được in bằng chữ quốc ngữ v� ph�t h�nh khoảng năm 1925 h�a ra l� một mẫu chuyện trong sử k� d�n gian được tiểu thuyết h�a: chuy�n về Mai An Ti�m� l� người, theo truyền thuyết, du nhập tr�i dưa hấu v�o xứ sở.� Nhưng Nguyễn Trọng Thuật đ� viết t�c phẩm của �ng, Quả Dưa Đỏ (The Red Melon), bằng văn xu�i � một loại văn xu�i rỗng tuếch r�ng sức t�m c�ch dứt bỏ lối diễn đạt cũ bằng thơ trong văn chương bản xứ.

 

���� Tuy nhi�n, trong một kh�a cạnh về bản chất, quyển Quả Dưa Đỏ mang truyền thống của sử k� d�n gian.� N� kh�ng cố sức để m� tả v� giải th�ch một c�ch kh�ch quan những g� xảy ra, nhưng l� một nỗ lực c� chủ định muốn lấy qu� khứ phục vụ hiện tại, thỉnh cầu người chết gi�p đỡ người c�n sống.� Trong trường hợp n�y, Nguyễn Trọng Thuật đ� khai triển một sự tr�ng hợp huyền b� v� l�m th�nh một ngụ ng�n hiện đại từ c�u chuyện cũ về c�c con chim trắng từ phương t�y tha đến một h�n đảo hoang vu c�c hạt giống sẽ nẩy nở v� tăng trưởng v� kết tr�i với phần ruột m�u đỏ v� hạt m�u đen.� Người viết văn xu�i, vốn l� một kẻ cộng t�c với thực d�n Ph�p, đ� so s�nh một c�ch mặc thị c�c kết quả n�y với phụ nữ Việt Nam xinh đẹp, được ph�c họa theo truyền thống như l� c� �m� hồng răng đen� (rosy cheeks and black teeth).� Ch�nh từ đ�, �ng đ� th�c dục một c�ch k�n đ�o đồng b�o �ng h�y thủ lợi từ sự rủi ro của nền cai trị của Ph�p, học lấy c�i tốt đẹp nhất của nền văn minh Ph�p, v�, kh�ng bỏ qu�n c� t�nh chủng tộc của m�nh, tạo ra một sự tổng hợp Đ�ng v� T�y, một văn h�a h�i h�a hơn trước c�c đ�i hỏi của thế giới ng�y nay./-

 

 

-----

 

* Về một sự thảo luận đầy đủ hơn thể thơ lục b�t, xin đọc phần Giới Thiệu trong quyển The Heritage of Vietnamese Poetry, bi�n soạn v� th�ng dịch bởi H�ynh Sanh th�ng (Yale University Press: New Haven and London, 1979), c�c trang xxv-xlv.

 

 

Nguồn: Huỳnh Sanh Th�ng, Folk History in Vietnam, The Vietnam Forum � A Review of Vietnamese Culture, No. 5, Winter-Spring 1985, Yale Southeast Asia Studies, New Haven, CT., c�c trang 66-70.

 

 

 

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH:

 

 

����������� Tất cả c�c chi tiết dưới đ�y đều được tr�ch từ quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam qua ca dao tục ngữ c� nhan đề Việt Nam Phong Sử của Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại soạn thảo bằng chữ h�n, ho�n tất năm 1914, bản dịch của Tạ Quang Ph�t, do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Tr�ch Văn H�a xuất bản tại S�ig�n năm 1972.

(a) v� (b): Nguy�n bản gồm 6 c�u như sau (c�c trang 194-195):

 

Đời vua Th�i Tổ Th�i T�ng

����������� Con dắt con bế con bồng con mạng

����������� B� đen h�c lăn b� v�ng,

����������� Hai con h�c chắc (1) đ�m qu�ng xuống s�ng.

����������� Thằng b� chạy về bẩm �ng,

B� đen n� đ� xuống s�ng mất rồi.

�����������

(1)   Chắc, lẫn nhau (tiếng qu� miền Bắc), như đ�nh chắc l� đ�nh nhau.

 

Thơ phong sử n�y thuộc ph�.

 

� nghĩa thơ n�y chưa r�.

 

S�ch Quang Phong tạp của Vương V�ng-Ch�u ch�p: �Thơ n�y n�i về việc thời sự đời Vua L� Ch�a Trịnh.� Nhưng b� v�ng b� đen kh�ng thấy ch�p trong sử s�ch.� (B� v�ng b� đen xuất xứ ở Ngụy thư do T�o Thực l�m ra trong Bắc sử).

 

Lại tra cứu ở s�ch Nam Phong tập của Trần-Liễu-Am thấy c� c�u:

 

����������� Kỳ n�y l�a mọc đồng đồng,

Đổ mưa Th�i Tổ, Th�i T�ng rầm rầm.

 

được giải th�ch l� ng�y kỵ giỗ c�ng tế Vua L� Th�i Tổ v� L� Th�i T�ng th� trời mưa.

 

Theo phong tục ở Bắc kỳ mỗi khi đến ng�y 21, 22 th�ng chạp [?] th� trời mưa nhiều.� Nh�n d�n gọi đ� l� mưa Th�i Tổ, Th�i T�ng.

Ngạn ngữ c� c�u:

 

Hai mươi mốt L� Lai,

Hai mươi hai L� Lợi.

 

V� rằng đ� l� những ng�y kỵ giỗ của Vua L� Th�i Tổ v� L� Th�i T�ng [? phải l� L� Lai v� L� Th�i Tổ theo ngạn ngữ tr�n, ch� của người dịch].

 

Thường thường gặp trời mưa th� tr�u ngh� về trước, v� n� c� t�nh sợ mưa, th� thơ phong dao n�y giống như l� lời h�t của trẻ mục đồng, kh�ng c�n nghi ngờ nữa.� Hai chữ đời vua l� đọc sai ra trời mưa. [hết tr�ch]

 

Lời giải th�ch tr�n xem ra kh�ng r� nghĩa, nếu kh�ng muốn n�i c�n l�m rắc rối th�m, v� c� sự h�m hồ, lẫn lộn giữa c�c nh�m chữ như �Đời vua Th�i Tổ Th�i T�ng� với c�u �Đổ mưa Th�i Tổ Th�i T�ng rầm rầm�, hay giữa ngạn ngữ �Hai mươi mốt L� Lai, hai mươi hai L� Lợi� với ng�y kỵ giỗ của vua L� Th�i Tổ v� L� Th�i T�ng, v� giữa th�ng T�m (�m lịch) với th�ng Chạp (th�ng mười hai �m lịch) .Ngo�i ra hai c�u đầu v� bốn c�u sau r� r�ng thuộc về hai c�u chuyện kh�c nhau.�

 

B�i thơ cần phải được l� giải một c�ch hợp l� v� r� nghĩa hơn, mong thay.

 

(c): Trang 225:

�����������������������

Đời vua VĩnhTộ l�n ng�i,

����������� Cơm gạo đầy nồi, trẻ chẳng ăn cho.

 

Thơ phong sử n�y thuộc ph�.

 

Vĩnh Tộ l� ni�n hiệu vua L� Thần-T�ng (1620-1628).

 

Trong khoảng ni�n hiệu L� ca/nh Hưng (1740-1786) v� L� Chi�u Thống (1781-1788) c� lắm năm mất m�a đ�i kh�, nh�n d�n lưu-ly tứ t�n, cha con kh�ng thể nu�i nhau, anh em kh�ng thể dựa nhau, cho n�n họ nhớ lại những ng�y tr�ng m�a trong ni�n hiệu L� Vĩnh Tộ m� than thở kiếp sống của họ kh�ng gặp thời.

 

Đ�y cũng l� lời của quan chức than thở kh�ng được vua hậu đ�i bằng nh� cao cửa rộng với bữa cơm đầy đủ dồi d�o, như ở thi�n Quyền-dư thuộc phần Tần phong trong Thi kinh đấy chăng? [hết tr�ch].

 

Lời giải th�ch tr�n kh� thuyết phục được người đọc v� kh�ng c� g� chứng minh l� c�u phong dao đ� được đặt ra dưới thời c�c vua L� Cảnh Hưng v� L� Chi�u Thống, c�ch xa đời L� Vĩnh Tộ cả khoảng một thế kỷ rưỡi.� Cho d� c� xuất hiện trong thời khoảng n�y đi nữa, e rằng người b�nh d�n cũng chẳng thể nhớ r� việc được m�a v�o thời Vĩnh Tộ để so s�nh.

 

 

(d): C�c trang 238-239:

 

����������� Dầu x�y chin th�p ph� đồ,

����������� Chi bằng l�m ph�c cứu cho một người.

 

����������� Thơ phong sử n�y thuộc ph�.

����������� Ph� đồ, th�p của tăng đồ ở ch�a Phật.� Một người, chỉ Th�i Tử L� Duy Vĩ.

 

����������� Theo s�ch Ho�ng L� nhất thống ch�, Th�i tử nh� L� l� Duy Vĩ bị Ch�a Trịnh S�m vu c�o v� thắt cổ giết chết.

 

����������� Về sau hồn của Th�i tử L� Duy Vĩ rất linh thi�ng.� Ch�a Trịnh S�m nằm ở long s�ng thấy Th�i tử đứng đầu s�ng.� Ch�a Trịnh S�m ở trong phủ thấy Th�i Tử ở trong cửa phủ.� C� khi Ch�a Trịnh S�m đi ra ngo�i th� thấy Th�i tử ở b�n c�u hay ở tr�n th�nh.

 

����������� Ch�a Trịnh S�m lo h�ng trăm c�ch ếm trừ m� kh�ng ngăn dứt được.

 

����������� Một h�m Ch�a Trịnh S�m v� Đặng thị Huệ c�ng ngồi thuyền dạo chơi hồ T�y, thấy Th�i-tử hiện l�n ở mặt nước trước mũi thuyền.� Ch�a lấy sung bắn th� kh�ng thấy Th�i Tử đ�u nữa, một l�t lại thấy Th�i Tử hi�n ra nữa.

 

����������� Khi Đặng-thị-Huệ c� thai v� sinh ra Trịnh C�n, c� người bảo d�ng mạo của Trịnh C�n giống hệt như của Th�i Tử.

 

����������� Về sau Trịnh C�n đau, chỉ nhắm mắt gật đầu v� lắc đầu giống như trạng th�i của người bị thắt cổ vậy.

 

����������� Ch�a Trịnh S�m sai người đi cầu thầy ở khắp bốn phương chữa trị, mấy năm cũng kh�ng hiệu nghiệm.

 

����������� Ch�a Trịnh S�m b�n cầu đảo ở khắp đền ch�a linh hiển v� cho lập đ�n chay ở trong cung, ng�y đ�m đốt hương cầu khấn cũng kh�ng thấy bịnh của Trịnh C�n khỏi được.

 

����������� Cho n�n người ngo�i mới đặt lời h�t như thế.

 

����������� N�i ng�y nay phải ti�u v� số để đốt hương cầu khấn, dựng kh�ng buết bao th�p phật sao bằng l�c đầu cứu mạng cho một người bị giết oan?

 

����������� Đ� l� thương x�t Th�i-tử phải v� tội m� chết oan v� cũng l� l�m s�ng tỏ việc ch�a Trịnh đ� tạo nhiều �c nghiệt v�y.[hết tr�ch]

�����������

(e) C�c trang 76-78:

 

����������� Con c�c nằm n�p bờ ao

����������� Lăm le lại muốn hấp sao tr�n trời.

 

����������� Thơ phong sử n�y thuộc tỷ.

 

����������� Đỗ Th�ch l�c đầu l�m chức lại ở Đồng-quan, ban đ�m nằm tr�n cầu, chợt chi�m bao thấy sao băng rơi v�o miệng, tự cho l� điềm l�nh, mới �m thầm mưu toan ch� kh�c.

 

����������� Ni�n hiệu Th�i B�nh thứ 10 (979) đời vua Đinh Ti�n Ho�ng, Đỗ Th�ch l�m chức Chi-hậu nội nh�n ở trong cung, thừa l�c Vua sau buổi dạ yến say rượu nằm ở trong s�n, b�n giết vua v� Nam Việt vương Liễn.

 

����������� Tin th� vua ph�t ra, qu�n binh v�y bắt nghịch tặc rất gấp.� Đỗ Th�ch l�n nằm trốn ở m�ng xối trong cung, qua ba ng�y qu� kh�t nước, lại gặp l�c trời mưa, b�n đưa tay ra bụm nước uống.� Cung nữ tr�ng thấy c�o với Định Quốc c�ng Nguyễn Bặc.� Đỗ Th�ch bị bắt v� bị ch�m đầu, th�n thể bị xắt nhỏ từng miếng, người trong nước tranh nhau ăn.

 

����������� L�c ấy c� lời sấm rằng:

 

����������� Đỗ Th�ch th� Đinh Đinh.

����������� L� gia xuất Th�nh minh.

Cạnh đầu đa hoạnh� nhi.

Đạo tộ tuyệt nh�n h�nh.

 

nghĩa l�:

 

Đỗ Th�ch giết Đinh Ti�n H�ang v� Đinh Liễn.

 

Nh� họ L� (L� Ho�n) l�m Th�nh ch�a.

 

Nhiều đứa phản nghịch tranh nhau (� n�i c�c đại thần l� Đinh Điền, Nguyễn Bặc chống nhau với L� Ho�n).

 

Đường lộ kh�ng c� người đi. (� n�i nghe tin qu�n nh� Tống sắp tr�n sang x�m chiếm nước ta, nh�n d�n tản cư, đường x� vắng lặng).

 

Người ta tin đ� l� số trời đ� định.

 

����������� C�u phong dao n�y tr�ch hạng bầy t�i �m l�ng phản nghịch.� Con c�c chỉ Đỗ Th�ch.� Bờ ao chỉ c�i m�ng x�i trong cung.

 

����������� Sao sa v�o miệng l� việc ngẫu nhi�n.� Đỗ Th�ch lại nh�n đ� kh�ng đo�i đến danh phận m�nh, d�m l�m việc th� nghịch để cuối c�ng phải bị bắt.

 

����������� Chi-hậu Đỗ Th�ch cũng l� con ếch ở đ�y giếng nh�n trời bằng vung đấy th�i. [hết tr�ch]

 

(f) C�c trang 51-53: Phong dao về b� Triệu.

 

����������� Ru con con ngủ cho l�nh,

����������� Cho mẹ g�nh nước rửa b�nh con voi.

����������� Muốn coi l�n n�i m� coi,

����������� Coi b� quản tượng cỡi voi b�nh v�ng.

 

����������� Thơ phong sử n�y thuộc ph��

 

����������� � L�c nước Nam ta bị Bắc thuộc, c� B� Triệu, người l�ng Trung-sơn, huyện N�ng Cống, tỉnh Thanh H�a, m�nh cao 9 thước, v� th�ng 3 thước (?) tuổi 20 chưa lấy chồng, c� ch� lớn �.

 

����������� � Mọi người thấy B� c� t�i l�m tướng s�y, b�n lập B� l�m Ch�a v� xin cử sự ngay.

 

����������� B� liền dấy binh chống cự qu�n Ng�.� B� mặc �o v�ng ngồi ở đầu voi, thường buộc v� ra ph�a sau lưng v� d�ng lụa b� lại, uy phong lẫm liệt.� Qu�n sĩ gọi B� l� Nhụy Kiều tướng qu�n.� Người T�u Đ�ng Ng� gọi B� l� Lệ-hải B� vương�.

 

����������� Sau khi mất, B� hiển linh.� Vua Tiền L� Nam đế phong B� l�m Bật ch�nh Anh liệt h�ng t�i trinh nhất Phu nh�n.

 

����������� � nghĩa thơ phong dao n�y n�i về l�c b� Triệu dấy qu�n, người phần nhiều đều vui th�ch theo b�, đ�n �ng con trai th� phụng sự trong h�ng ngũ, đ�n b� con g�i th� l�m c�ng việc gi�p qu�n đội.� Lời h�t c� th� vị đượm vẻ vui tươi xua nhau l�m việc m� kh�ng c� l�ng o�n hận.� Do đ� c� thể nhận thấy l�c bấy giờ B� Triệu rất được l�ng người./-

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

���� ��

 

��

 

���� � ������