Hideo Murakami

 

�VIỆT NAM� V�

VẤN ĐỀ X�M LƯỢC CỦA TRUNG HOA

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam [b�i n�y được ấn h�nh hồi th�ng 9 năm 1966, khi c� sự tham chiến của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại Việt Nam, ch� của người dịch] kh�ng phải l� kh�ng tự nhi�n dẫn đến giả thiết rằng chủ nghĩa b�nh trướng của Trung Hoa đ� từng c� một lịch sử hoạt động l�u d�i trong v�ng đ�, v� kh�ng �t c�c t�c giả Hoa Kỳ, đặc biệt trong giới b�o ch�, đ� c�ng khai n�i l�n rằng thực sự ch�nh Trung Hoa mới l� đối tượng m� c�c lực lượng Hoa Kỳ đang nhắm đến, c�ng l�c dẫn chứng rằng trong h�ng trăm năm, ngay cả trong h�ng ng�n năm, Việt Nam đ� nằm dưới sự kiểm so�t của Trung Hoa, v� trong v� số dịp n� đ� bị x�m lăng bởi Trung Hoa, rằng sự x�m lược của Trung Hoa, tr�n căn bản lấn chiếm v�o Việt Nam, l� một sự kiện đ� được chứng minh v� kh�ng thể biện luận được.� Mặt kh�c, đ� c� một số �t c�c học giả nổi tiếng, lập luận ngược lại, rằng mặc d� chủ nghĩa đế quốc c� thể đ� ti�m nhiễm v�o một số triều đại Trung Hoa n�o đ�, trong thực tế, đặc điểm nổi bật trong sự b�nh trướng l�nh thổ của Trung Hoa đ� l� sự ưng thuận của họ để chấp nhận bất kỳ kẻ ngoại lai �man rợ� n�o học hỏi tiếng Trung Hoa v� chấp nhận phong tục Trung Hoa như những người Trung Hoa; hơn nữa, rằng ch�nh Trung Hoa được bao gồm bởi d�n ch�ng l� hậu duệ của �c�c người mọi rợ� được thu h�t v�o quốc gia Trung Hoa qua tiến tr�nh truyền b� văn h�a; rằng Trung Hoa, trong thực tế khi x�m lăng c�c quốc gia ngoại vi của họ trong nhiều dịp, thường đ� l�m như thế hầu như l� kh�ng phải kh�ng c� c�c sự k�ch động, chẳng hạn như c�c cuộc đảo ch�nh, hay mưu toan đảo ch�nh c�c triều đại th�n Trung Hoa hiện hữu, v.v�

 

Một sự m� tả đặc sắc quan hệ c� được giữa Trung Hoa v� c�c nước triều cống của n� được viết ra bởi sử gia Trung Hoa, Huang Ta Shou, trong t�c phẩm của �ng nhan đề Trung Quốc Hiện Đại Sử (Modern Chinese History: Chung-kuo Chin-tai Shih) xuất bản năm 1954 tại Đ�i Bắc.� Viết về quan hệ giữa Trung Hoa v� c�c nước triều cống ngoai bi�n, �ng Ho�ng n�i rằng c�c quốc gia như thế trong thời cổ đ� tạo th�nh một phần của thế giới l� tưởng Đai Đồng (Tatung: Univerversal Harmony) được dự kiến bởi c�c ho�ng đế.� C�c nước triều cống cũng được sỡ hữu, hồi gần đ�y hơn, với sự quan t�m về việc ph�ng vệ ngoại bi�n, như một v�ng tr�i độn cho phần trung t�m của Trung Hoa.� Tiếp tục, �ng n�i rằng đối với c�c quốc gia như thế * ��họ [Trung Hoa] chỉ mong muốn c�c sự triều cống theo định kỳ của ch�ng [c�c nước chư hầu, ch� của người dịch].� Li�n quan đến việc nội trị v� ngoại giao của ch�ng, ch�ng t�i [Trung Hoa] chỉ muốn kiểm tra.� Th�i độ của c�c nước triều cống đối với Trung Hoa vẫn chỉ l� triều cống v�o c�c thời khoảng định kỳ, v� trong dịp l�n ng�i của một t�n vương thỉnh cầu sự tấn phong, chứ kh�ng c�n phải l�m điều g� kh�c nữa.� Nếu xứ sở c� một cuộc nổi loạn nội bộ, n� vẫn phải y�u cầu nếu n� muốn nhận sự gi�p đỡ của c�c lực lượng Trung Hoa.� Th�i độ của Trung Hoa đối với c�c nước triều cống n�y được giải th�ch như th�i độ c� tr�ch nhiệm, chứ kh�ng phải c�c quyền hạn.� C�c quan hệ Trung Hoa-Nước triều cống th� ho�n to�n lỏng lẻo.� V� thế, v�o l�c c� sự tiến bước của c�c quốc gia T�y Phương với c�c chiến thuyền h�ng mạnh v� c�c đại b�c hữu hiệu, đ� c� sự hoang mang của c�c nước triều cống, điều c� thể đ� g�y ra một sự khởi đầu cho sự x�m lược.� Trung Hoa tự m�nh đ� kh�ng đủ sức mạnh để ph�ng vệ cho ch�nh n� �� (trang 14) (quyển trung).

 

Th�i độ của Trung Hoa đối với Việt Nam (được họ gọi l� An Nam) v�o l�c bước sang thế kỷ thứ 19 khi danh hiệu �Việt Nam� được đẽo gọt s�t gốc, gần nhất với bức tranh được đưa ra tr�n đ�y bởi �ng Huang.� Mục đ�ch của b�i viết n�y kh�ng đ�o s�u v�o ch�nh vấn đề sự x�m lược của Trung Hoa đối với một khu vực ngoại bi�n, tức Việt Nam, m� đ�ng hơn l� để phơi b�y c�c sự tế nhị trong mối quan hệ hiện diện giữa một b�n l� Việt Nam, v� b�n kia l� Trung Hoa, như khi c�c sự tế nhị n�y được ph�t hiện v� mang ra �nh s�ng, trong h�nh vi phong tước được ban cấp bởi Trung Hoa cho một nước phụ thuộc, v� vấn đề biện minh cho một sự tấn phong như thế chiếu theo c�c diễn biến sau đ�.� T�i liệu ch�nh yếu để đưa đến sự c�ng bố n�y l� c�c văn kiện của triều đ�nh nh� Thanh, được gồm trong bộ Đai Thanh Lịch Triều Thực Lực (Ta Ch�ing li-ch�ao shih-lu: The Actual Records of the Great Ch�ing Emperors).

 

Quốc hiệu Việt Nam được ban cấp c� � nghĩa g�?� Trước khi đi v�o ch�nh chủ đề n�y, c� lẽ n� kh�ng phải l� điều sai s�t để x�t xem c�c văn gia v� k� giả đ� giải th�ch từ ngữ hay danh hiệu Việt Nam như thế n�o.� C�c sự giải th�ch như thế bao gồm từ t�c giả W. Robert Moore đ� viết trong một số b�o trước đ�y của tạp ch� National Geographic Magazine, đến Bernard Fall, Edgard Snow, v� c�c t�c giả kh�c, trong nhiều thời điểm kh�c nhau kể từ l�c ban đầu của cuộc chiến tranh Ph�p Việt, cho đến ng�y nay, đ� giải th�ch từ ngữ Việt Nam theo nhiều c�ch chẳng hạn như �D�n Tộc ở phương Nam� (Moore), �Ph�a Nam nước Việt� (Fall), �Đất Phương Nam� (Ạ Laguerre), �Phương nam Xa X�i� (Snow), v.v�� Tạp Ch� Time Magazine (1), trong một số b�o hồi gần đ�y hơn đ� cố gắng để giải th�ch � nghĩa ch�nh x�c của từ ngữ n�y, như ph�t sinh từ hai từ Việt v� Nam, trong Hoa ngữ l� Yueh v� Nan, c� nghĩa �Vượt cho đến phương Nam�, khiến cho độc giả của b�i viết ch�nh (chủ đề của số b�o) c� cảm tưởng r� rệt rằng (c�c) người viết muốn từ ngữ được hiểu như chứa đựng một biểu tượng cho th�i độ x�m lấn của Trung Hoa đối với Việt Nam.

 

Trước ti�n ch�ng ta h�y khảo s�t nguy�n nghĩa của từ ngữ n�y, v� như một phương ph�p để l�m như thế, ch�ng ta trước ti�n h�y khảo s�t c�c cuộc nghi�n cứu của Ph�p về nguồn gốc danh hiệu Việt Nam.� Quyển �Histoire Modern Du Pays D�Annam� (xuất bản tại Paris, năm 1920) của Charles B. Maybon được tr�ch dẫn một c�ch rộng r�i bởi c�c t�c giả như L� Th�nh Kh�i, Joseph Buttinger (2) v.v� về điểm n�y.� Maybon c� viết, trong một cước ch�, tham chiếu đến một quyển s�ch được viết bởi t�c giả Le P. Cadi�re, �Mur de Dong-hoi� (Bức Tường Th�nh ở Đồng Hới), nơi trang 377:

 

�Quốc hiệu Việt Nam n�y đến từ t�n gọi phần đất lệ thuộc ch�a Nguyễn, được thiết lập từ năm 1558 (Việt Thường) v� t�n An Nam, l�nh vực của ch�a Trịnh tại Bắc Kỳ.� (a)

 

Maybon, trong quyển s�ch n�u tr�n, c�n tham chiếu th�m quyển Histoires des Relations de la Chine avec Annam của G. Beveria, trong phần tiếp tục của cước ch� của �ng v� c� viết:

 

�Nguyễn �nh đ� xin Ho�ng Đế đặt một quốc hiệu cho quốc gia m� �ng ta đ� thống nhất; v� thế, Ho�ng Đế đ� chọn c�ng bố một sắc dụ đổi t�n An Nam th�nh ra Việt Nam

 

Maybon viết tiếp:

 

�Theo c�c văn bản của An Nam, c�u chuyện c� phần kh�c.� Ch�nh Nguyễn �nh, trong lời thỉnh cầu xin tấn phong, đ� đề nghị đổi t�n vương quốc v� gọi l� Nam Việt (danh hiệu c�ng t�n vương quốc của Triệu Đ�, năm 207 trước C�ng Nguy�n).� Ch�ng ta giờ đ�y biết được, như một sự kiện thực tế, trong t�i liệu được phi�n dịch bởi �ng Beauvais, rằng Gia Long (b) đ� tự xưng l� vua nước Nam Việt.� Ho�ng Đế [Trung Hoa] kh�ng bằng l�ng v� v� thế Nguyễn �nh, theo C�c Sử S�ch(Historiographies: Đại NamTthực Lục) (3) đ� cho hay rằng nếu danh xưng thay đổi kh�ng được ph� chuẩn, �ng tự xem m�nh kh�ng phải l� chư hầu nữa.� H�nh vi thực tế c� vẻ kh�ng xảy ra như thế; Ho�ng Đế [Trung Hoa] đối diện với sự đe dọa n�y, đ� quyết định chọn t�n Việt Nam, thay cho Nam Việt, n�i rằng �từ Việt được đặt l�n tr�n, nhắc đến Việt Thường (c), sẽ l�m li�n tưởng � nghĩ về một sự tương quan giữa một v�ng đất lệ thuộc ch�a Nguyễn với vương quốc được th�nh lập bởi vua Gia-Long; l�m như thế, sẽ l�m rạng danh tổ ti�n của ng�i.� C� thể v� như thế, danh hiệu Việt Nam đ� được trao một c�ch long trọng cho vương quốc trong một cuộc lễ tại điện thế miếu thờ c�c tổ ti�n của ho�ng triều, v� vua Gia Long đ� tuy�n dụ: C�c tổ ti�n của ta đ� thu phục mọi đất đai của Việt Thường, đ� l� l� do tại sao ta d�ng chữ Việt để đặt t�n cho đất nước ��

Th�ng Hai, ng�y 17, năm thứ Ba (1804 sau C�ng Nguy�n).

 

C�c ch� th�ch của Maybon đ� được tr�ch dẫn s�u rộng bởi ch�ng được chứng thực trong bộ Thực Lục n�u tr�n, vốn được c�ng bố trong năm 1939.� Ngo�i ra, bộ Thực Lục cũng chiếu rọi th�m �nh s�ng v�o th�i độ của Trung Hoa đối với quốc gia mới thống nhất n�y, m� trong năm 1802, lần đầu ti�n trong lịch sử của n� đ� bao tr�m cả chiều d�i của b�n đảo, c� k�ch thước tương đương với diện t�ch n� c� ng�y nay.� Nhưng trước khi đi s�u v�o c�c t�i liệu của Thực Lục li�n quan đến vấn đề n�u tr�n, ch�ng ta h�y đề cập đến một số dữ liệu lịch sử để đem đến cho độc giả một �t n�t căn bản của c�c thời đại (5).

 

Trong năm 1787, Nguyễn Ph�c �nh, người sau n�y đ� tạo lập triều đại của c�c vua nh� Nguyễn v�o năm 1802, đ� được hứa hẹn một v�i loại trợ gi�p bởi Gi�m Mục Ph�p t�n Pigneau de B�haine, đổi lại một số đặc nhượng của Việt Nam.� Trong khi sau n�y �ng đ� kh�ng nhận được nhiều sự trợ gi�p như đ� được thỏa thuận nguy�n thủy bởi bản hiệp ước k� kết đ� kh�ng được ph� chuẩn bởi Ch�nh Phủ Ph�p, v� sự bận t�m của n� đối với c�c t�nh h�nh nội bộ của nước Ph�p thời tiền C�ch Mạng, d� thế, nhờ ở một sự trợ gi�p lớn lao của c�c l�nh đ�nh thu� người Ph�p với kiến thức s�u rộng hơn về khoa học qu�n sự, �ng đ� c� thể khuất phục được nh�m T�y Sơn (T�y Sơn, do ho�n cảnh, bao gồm ba anh em chống đối, trước ti�n đ� nổi dậy chống lại sự cai trị của ch�a Nguyễn tại Qui Nhơn năm 1773 v� v�o năm 1777 đ� tận diệt hết d�ng họ Nguyễn trừ một người duy nhất -- Nguyễn Ph�c �nh.� Mười năm sau đ�, họ đ� nắm được to�n thể đất nước.� Danh xưng T�y Sơn ph�t sinh từ ng�i l�ng m� họ sinh ra v� đ� được d�ng để ph�n biệt họ với c�c ch�a Nguyễn l� c�c kẻ đ� kiểm so�t nửa phần ph�a nam của xứ sở, c� c�ng họ [Nguyễn]).� Từ căn cứ địa của m�nh tại S�ig�n, Ph�c �nh đ� lập lại c�c cuộc tấn c�ng dẫn dắt �ng từ miền Nam ra miền Trung rồi đến miền Bắc.� Tr�n con đường tiến đến sự chiến thắng n�y, �ng đ� thu hồi lại v�ng đất c� thời được gọi l� Việt Thường, m� từ khoảng giữa thế kỷ thứ 16, đ� l� v�ng đất lệ� thuộc ch�a Nguyễn.� N� tọa lạc khoảng gần vĩ tuyến 17 v� nằm ph�a nam H� Nội (Đ�ng Kinh), khi đ� được xem l� An Nam đối với c�c nh� cai trị ở Trung Hoa (6).� Danh xưng Việt, nh�n đ�y xin n�i, đ� được sử dụng bởi nhiều triều đại kh�c nhau dưới một v�i h�nh thức trong danh xưng quốc gia của họ, th� dụ như Đại Việt, Đại Cồ Việt, v.v�� Từ điểm n�y, người ta bắt buộc phải đi đến sự kết luận rằng người Việt Nam đ� c� một ước muốn to lớn để duy tr� li�n tục danh hiệu Việt Quốc (trong Hoa ngữ l� Yueh Kuo) vốn đ� hiện hữu c� lẽ v�o khoảng ban sơ thời Đ�ng Chu.� Họ c� vẻ như c� li�n hệ về nguồn gốc tổ ti�n, mặc d� kh�ng phải l� nh�m duy nhất, với những d�n gốc Việt n�y vốn đ� bị đ�nh bại bởi nh� Chu, một sắc d�n kh�ng thuộc gốc Trung Hoa, v�o năm 334 trước C�ng Nguy�n.� Danh xưng Việt Thường để chỉ một khu vực hiện diện c� lẽ sau thời điểm n�y, nhưng được xem trong thần thoại Việt Nam như l� một trong 15 bộ (huyện) cấu th�nh vương quốc đầu ti�n cổ xưa của Văn Lang, được giả thiết đ� k�o d�i từ năm 2879 trước C�ng Nguy�n đến năm 258 trước C�ng Nguy�n.

 

Trong năm 1790, Nguyễn Văn Huệ, một người trong anh em T�y Sơn đ� cai trị miền Bắc với danh hiệu Quang Trung v� l� người đ� thực hiện một cuộc đ�nh bại g�y kinh ho�ng cho c�c lực lượng nh� Thanh tại H� Nội v�o năm trước đ� khi họ x�m lăng xứ sở để gi�p lập lại ng�i vị của vua L�, chỉ mới đổi th�nh danh hi�u Quang B�nh gần đ�, c� nghĩa H�a B�nh Ch�i S�ng (tiếp theo sau việc Ho�ng Đế nh� Thanh đ� bổ nhiệm, để phụ tr�ch việc ph�ng vệ bi�n giới, vi�n tướng nổi danh Ph�c Khang An, Tổng Đốc hai tỉnh V�n Nam v� Qu� Ch�u, thay thế cho vi�n cựu Tổng Đốc Lưỡng Quảng (Quảng T�y v� Quảng Đ�ng) bị nhục nh�, nguy�n l� kẻ đ� đi theo đo�n qu�n viễn chinh Trung Hoa thất trận sang x�m lăng Việt Nam), v� trong năm n�y, qua việc tiếp x�c với Trung Hoa, �ng đ� được tấn phong l� An Nam Quốc Vương.

 

Năm 1792, vua Quang B�nh thăng h�. �ng được kế ng�i bởi người con trai t�n Quang Toản, 16 tuổi.� C�ng năm n�y, Ph�c Khang An, Tổng Đốc [Lưỡng Quảng], đ� ph�i một điệp vi�n sang An Nam để b�o c�o về t�nh h�nh tại đ�. Điệp vi�n n�y đ� b�o c�o rằng đất nước �t nhiều trở n�n y�n ổn.

 

Trong năm 1793, trưởng nh�m qu�n T�y Phương trợ gi�p lực lượng của Nguyễn Ph�c �nh được ra lệnh bởi �ng n�y, quay về nước Ma Rốc v.v.. để mua vũ kh�.

 

Trong năm 1796, c�c nguồn t�i ch�nh của T�y Sơn dần dần trở n�n �t ỏi hơn đến nỗi bắt đầu từ thời điểm n�y, họ bị dẫn đến việc cướp b�c c�c t�u b� Trung Hoa dọc thời bờ biển, cũng như tại bờ biển của ch�nh n�.� Quang Toản nhiều phần đ� phải khuyến kh�ch hoạt động n�y để trợ gi�p v�o nguồn t�i ch�nh của m�nh.� C�c t�i liệu của Trung Hoa b�o c�o nhiều cuộc bắt giữ qu�n hải tặc đ� xảy ra trong thời kỳ ban đầu của triều đại nh� Thanh (1796-1820).

 

Quang Toản đ� được miễn tội th�ng đồng bởi nh� Thanh trong vụ bốn hải tặc bị bắt giữ c� mang c�c ấn t�n bằng đồng [m� T�y Sơn đ�] phong cho họ chức quan hải qu�n cao cấp, khi �ng ta tỏ � kh�ng hay biết đến vấn đề n�y. (d)

 

Trong năm 1799, Ph�c �nh chiếm đ�ng Huế từ tay phe T�y Sơn, v� tự xưng l�m vua.� (Quang Toản th� trị v� ở H� Nội).

 

Năm 1800, Ph�c �nh c� người nước Anh (c�c �người T�c Đỏ: Hồng Mao�) huấn luyện về hải chiến cho qu�n đội của �ng. �ng cho đ�ng s�u chiếc t�u lớn c�ng với khoảng 100 chiến thuyền nhỏ hơn, để chuẩn bị cho một chiến dịch bắc tiến quy m�.

 

Năm 1801, Quang Toản phản c�ng cố chiếm lại Huế từ tay Ph�c �nh nhưng gặp phải sự thất trận nặng nề khiến �ng phải triệt tho�i về H� Nội.

 

Năm 1802, trong th�ng Năm, Ph�c �nh cho x�y một lễ đ�i tại C�nh Đồng An-Ninh [?] v� cử h�nh lễ kế ng�i vua, đặt danh hiệu trị v� l� Gia Long (c� nghĩa sự Đăng Quang Tốt Đẹp: Beautiful Exaltance) (d).� Trong th�ng Bảy, H� Nội bị chiếm giữ bởi qu�n đội của Ph�c �nh v� Quang Toản bị trừng trị đến chết.� Nguyễn �nh tự xưng l� Ho�ng Đế Đai Nam Quốc (Great South) (7).� Trong th�ng T�m, ấn t�n ban chức cho Quang Toản v�o l�c tấn phong được t�m thấy trong dinh thự đổ n�t ở Huế đ� được giao trả cho Ho�ng Đế nh� Thanh xuy�n qua một sứ đo�n c�ng với ba hải tặc lẩn trốn, [được ph�i đi] từ Ph�c �nh.� Nh� vua đ� ph�i một sư giả trước đ� sang gặp Tổng Đốc Quảng Đ�ng v� Quảng T�y, v� một c�ch gi�n tiếp đến Sun Yu Ting, Tổng Đốc Quảng T�y, th�ng b�o rằng Ng�i đ� ho�n tất việc b�nh định xứ An Nam v� nay y�u cầu được ph�i một sứ đo�n để tiếp nhận sự tấn phong từ Ho�ng Đế Trung Hoa.� Trong th�ng Mười Hai, một sứ đo�n đ� được ph�i đi c�ng với cống vật l�n vua Gia Kh�nh (Chia Ch�ing) tại Bắc Kinh, c�ng với th�ng điệp ch�nh thức y�u cầu một sự tấn phong. (e)

 

Bộ Đại Thanh Lịch Triều Thực Lục bắt đầu ghi ch�p từ đ�y:

 

Th�ng Mười Hai, năm thứ 7, triều Gia Kh�nh (Ghi ch�: C�c nhật kỳ t�nh theo �m lịch): Truyền dụ cho c�c Thượng Thư Đại Hội Đồng về việc tiếp nhận một c�ch chậm trễ b�o c�o của Sun Yu Ting li�n quan đến thư thỉnh cầu tấn phong của Nguyễn Ph�c �nh. Ta, Ho�ng Đế [nh� Thanh] c� bổ khuyết bằng sự xem x�t kỹ lưỡng c�c chi tiết�� Điều m� �ng ấy thỉnh cầu l� được ban cho sự tấn phong với hai từ Nam Việt (trong Hoa ngữ l� Nan Yueh). Điều n�y nhất định l� kh�ng được.� Khu vực bao gồm bởi danh hiệu Nam Việt th� rất rộng.� Khi suy x�t về n�, trong lịch sử trước đ�y, v�ng đất bi�n giới của Quảng Đ�ng v� Quảng T�y ng�y nay nằm trong đ�.

Đ�m d�n man rợ gi�p bi�n giới của Nguyễn Ph�c �nh l� đ�m d�n man di nhỏ b�.� V�o l�c n�y, phần đất m� họ c� trong tay ho�n to�n thuộc đất An Nam.� Một lần nữa, họ đ� kh�ng vượt qu� phần đất cũ của Giao Chỉ. �ng ta hy vọng d�nh đạt được điều g�, một c�ch ho�n to�n đột nhi�n, khi đặt t�n nước l� Nam Việt hay chăng?� L�m sao m� ch�ng ta biết được rằng �ng ta kh�ng muốn dương oai với c�c d�n man di ngoại lai kh�c? *� V� thế ch�ng ta phải y�u cầu một sự thay đổi quốc hiệu.

 

Trước hết, ch�ng ta sẽ phải đưa ra một nỗ lực. Đương nhi�n, ch�ng ta phải bổ khuyết cho sự phơi b�y sai lầm của �ng ta. Đại Hội Đồng Nội C�c đ� sẵn nhận được lệnh để x�c định một chỉ dụ cảnh b�o tiếp sau; sắc dụ n�y, c�ng với th�ng điệp nguy�n thủy [xin tấn phong của Nguyễn Ph�c �nh, ch� của người dịch], sẽ được chuyển cho Sun Yu Ting, để ho�n trả [cho Nguyễn Ph�c �nh, ch� của người dịch].

 

�ng ta [Sun Yu Ting?] tu�n chỉ, sau khi được tiếp kiến bởi c�c thượng cấp của �ng ta.� C� thỉnh cầu xin ph�c đ�p ra sao? [Hai c�u tr�n trong bản Anh ngữ dịch kh�ng r� nghĩa, xin xem lại nguy�n bản bằng Hoa ngữ v� kiểu ch�nh cho đ�ng sau n�y, ch� của người dịch].� Ch�ng ta đ� thỉnh � từ Ngai V�ng để xem x�t v� giải quyết vấn đề.� Về lời thỉnh cầu của Nguyễn Ph�c �nh xin tấn phong quốc hiệu Nam Việt, điểu hiển nhi�n đ�ng d� hỏi �ng ta về c�c t�nh huống thực sự trong lời y�u cầu của �ng ta.� Trong mọi trường hợp, t�m tư của họ Nguyễn vẫn c�n kh� d� x�t được.� Về vấn đề c�c bi�n giới tr�n đất liền v� hải phận thuộc miền Quảng Đ�ng / Quảng T�y, tất cả đều phải được chỉ thị mật của c�c quan chức địa phương để cảnh gi�c ph�ng thủ.� Kh�ng phải l� điều tốt nếu phạm phải lỗi, ngay d� chỉ l� lỗi nhẹ, trong sự chậm trễ v� lơ l�.� Ch�ng ta nơi đ�y sắp sửa loan b�o mọi điều bằng sự tuy�n dụ.

 

Trong đề mục kế tiếp về Việt Nam c� nhật kỳ trong năm thứ 8, triều Gia Kh�nh, M�a h�, th�ng 4 (Ghi ch�: ni�n hiệu thứ 8 triều Gia Kh�nh tức năm 1803 sau C�ng Nguy�n), ch�ng ta thấy c� ghi:

 

Truyền dụ c�c Thượng Thư Đại Hội Đồng.� Sun Yu T�ing c� b�o c�o về việc nhận được thư của Nguyễn Ph�c �nh y�u cầu sự ph� chuẩn của Triền Đ�nh chấp thuận ban cho �ng ta như � muốn. �ng ta đ� đọc văn thư ni�m k�n v� b�o c�o một c�ch kỹ lưỡng về sắc dụ cảnh gi�c trong dịp trước đ�y được gửi cho Nguyễn Ph�c �nh, c� tham chiếu � kiến của Sun Yu T�ing.� N� vẫn chưa được điều trần tại Triều Đ�nh.� V� thế, trong dịp n�y, một lần nữa, �ng ta �n cần tấu tr�nh nh�n danh vị Quốc Vương {chỉ Nguyễn Ph�c �nh, ch� của người dịch] l�n Ho�ng Đế lời thỉnh cầu xin được tấn phong danh hiệu Nam Việt.

 

Ta, Ho�ng Đế {Trung Hoa], x�t thấy lời lẽ của bức thư trong c�c đoạn b�y tỏ t�nh cảm, mang vẻ b�nh tĩnh v� khi�m nhường.� N� tỏ vẻ cực kỳ t�n k�nh v� phục t�ng.� Theo những g� được ph�t biểu, xứ sở đ� khởi thủy l� đất đai của Việt Thường.� Giờ đ�y n� gồm cả sự kiểm so�t đất An Nam. Điều đ�ng mong ước rằng t�n cổ An Nam được d�ng từ l�u đời v� được duy tr� qua nhiều thế hệ kh�ng n�n bị bỏ qu�n.� Lại nữa, hiển nhi�n điều n�y c� li�n quan đến sự ch�n thực.

 

Ch�nh Sun Yu T�ing đ� cảnh gi�c với người l�nh đạo xứ sở n�i tr�n v� đ� th�ng tri �ng ta rằng trong dịp trước đ�y, do việc xin đến b�y tỏ lời thỉnh cầu tấn phong quốc hiệu, danh xưng y�u cầu v� � nghĩa của từ ngữ đ� kh�ng được th�ch ứng. �ng ta đ� kh�ng d�m thảo một tờ biểu l�n Ho�ng Đế.� L� thư mới tới giờ đ�y c� viết một c�ch chi tiết về sự th�nh lập xứ sở từ l�c khởi thủy cho đến hồi kết th�c, v� xin ban phong cho một l�nh địa mới.� Dựa tr�n c�c t�nh huống x�c thực, �ng ta đ� lập xong c�c b�o c�o tr�nh l�n Ho�ng Đế. �ng ta đ� c� được sự ph�c đ�p của Triều Đ�nh.� Quốc Vương của xứ sở đ� trước đ�y c� giao nạp bằng chứng về c�c c�ng việc hải h�nh của quốc gia.� Một c�ch k�nh cẩn, Nh� Vua đ� th�ng b�o cho ch�ng ta hay về sự từ trần của Nguyễn Quang Toản, ấn t�n sắc thư ban cấp trước đ�y, c�ng với c�c hải tắc trốn tr�nh, đ� bị bắt tr�i v� giao nạp.

 

Một c�ch th�nh thực v� t�n k�nh, Quốc Vương đ� xin được tấn phong.� X�t đến sự th�nh thực của Quốc Vương, điều thỉnh cầu theo đ�y rằng sự tấn phong tại bi�n giới sẽ được ban cấp.� Một c�ch khi�m nhường, Quốc Vương đ� đệ tr�nh quốc thư v� vật phẩm triều cống.� Quốc thư đ� được h�n hoan tiếp nhận một c�ch đặc biệt.

 

Về lời thỉnh cầu danh xưng Nam Việt cho xứ sở, đất nước đ� đ� sở hữu trước ti�n l�nh thổ cũ của Việt Thường.� Sau n�y, n� tiến tới việc sở đắc to�n thể đất đai của An Nam.� Ho�ng Đế �n cần ban cấp sự tấn phong quốc gia được chỉ định bằng hai từ Việt Nam.� Từ Việt được đặt l�n ph�a trước, biểu trưng cho bi�n cương của c�c thế hệ trước đ�y; từ Nam sẽ được đặt b�n dưới để chỉ l�nh địa c� bi�n giới mới được chuẩn nh�n.� Hơn nữa, tọa lạc ph�a nam của Trăm Việt (Hoa ngữ ghi B�ch Yuehs), n� sẽ kh�ng g�y ra sự nhầm lẫn với v�ng đất cũ được gọi l� Nam Việt.� Sự c�ng bố quốc hiệu n�y đ� sẵn được ch�nh thức h�a. � nghĩa của quốc hiệu sẽ mang lại điềm tốt cho n�.� N� sẽ nhận được �n sủng trường cửu của Ho�ng Triều!

 

Hiện thời, ch�ng đ� sẵn ra lệnh cho c�c sứ giả [Việt Nam] đến thăm Kinh Đ� để thỉnh cầu sự tấn phong v� ấn t�n sắc dụ vốn đ� sẵn được chấp thuận của Triều Đ�nh.� Từ giờ trở đi với hai từ n�y, ch�ng ta sẽ gọi t�n xứ sở đ�.� Xứ sở đ� sẽ nhận được (8) danh hiệu th�ch hợp n�y.� H�y chuẩn bị h�ng ngũ cho sự tấn phong.� Sự việc mỹ m�n đến mức sự vinh quang của n� sẽ kh�ng bị thay đổi nữa.

 

Sun Yu T�ing sẽ tiếp nhận sắc dụ từ Ho�ng Đế.� Một mặt, �ng sẽ th�ng b�o cho Nguyễn Ph�c �nh, v� mặt kh�c, �ng sẽ chỉ định c�c quan chức để th�p t�ng sứ giả của xứ sở đ� một c�ch nghi�m trang c�ng với th�ng điệp v� cống vật khi quay l�n kinh đ�.� C� lời nhắc nhủ về thời tiết.� M�a n�ng đang dần dần tiến tới.� C� thể triển ho�n chuyến du h�nh t�y theo sức khỏe.� Ch�ng t�i sẽ sắp xếp để đến kinh đ� v�o cuối th�ng Bẩy.� V�o l�c đ�, Ho�ng Đế sẽ tiếp ph�i đo�n tại một khu nghỉ m�t v�ng n�i để tr�nh sự n�ng bức.� Ch�nh v�o thời điểm đ�, sứ đo�n Kazakhs sẽ đến v� sẽ được Ho�ng Đế tiếp kiến.� Lại nữa, ch�ng ta sẽ xem hai ph�i đo�n n�y như một nh�m v� sẽ mở một buổi tiệc tiếp đ�n.� Ngo�i ra, h�y cho sứ giả nước đ� hay, li�n quan đến sự khởi h�nh từ Quảng T�y, l� cần b�o c�o l�n Ho�ng Đế, trước hết, ng�y khởi h�nh của chuyến du h�nh n�y.� Ch�ng ta ở đ�y sắp c� chỉ dụ tuy�n c�o về việc n�y.

 

Sau hết, v�o th�ng 6 năm Gia Kh�nh thứ 8 (tức năm 1803):

 

Thay đổi danh hiệu An Nam th�nh Việt Nam.� Tấn phong Nguyễn Ph�c �nh l�m Quốc Vương.� Truyền dụ Nội C�c (Đại B� Thư Đo�n) Trước dụ n�y, thư thỉnh cầu của Nguyễn Ph�c �nh, người l�nh đạo xứ N�ng nại (9) [Nung-nai trong nguy�n văn, chỉ v�ng Đồng Nai tức Nam Kỳ, ch� của người dịch] đ� được tấu tr�nh c�ng với to�n thể nội vụ về c�c trận đ�nh tại An Nam.� Ngo�i ra, thư cũng đề cập đến sự h�nh quyết để trả th� cho tổ ti�n của �ng ta.� Một c�ch k�nh cẩn, �ng đ� ph�i c�c sứ giả mang tr�nh v� trả lại ấn t�n đ� được ban cấp trước đ�y v� bị vứt bỏ của Nguyễn Quang Toản, c�ng với c�c qu�n cướp biển trốn chạy bị bắt tr�i v� giao nạp.� Một c�ch k�nh trọng v� nghi�m trang, �ng ta xin ban một chỉ dụ.

 

Ta, Ho�ng Đế [Trung Hoa] x�t thấy cuộc du h�nh qua đại dương biểu thị cho l�ng th�nh thật, đặc biệt chấp nhận cống phẩm th�ch hợp n�y.� Điều vốn đ� r� r�ng l� ch�ng ta c� chấp thuận ban ra sắc dụ triều đ�nh.

 

Người An Nam t�n Nguyễn Quang Toản đ� nhận l�nh h�nh phạt bị lật đổ v� ti�u trừ.� V� Nguyễn Ph�c �nh một c�ch k�nh sợ, đ� đồng � sẽ v�ng lời, hứa hết sức m�nh để thi h�nh việc n�y. �ng ta trước hết đ� đưa ra sự loan b�o ở trong cũnh như ngo�i nước.� Biểu tượng kế nhiệm của thẩm quyền ủy th�c đ� được tiếp nhận từ vị nguy�n thủ của xứ sở n�i tr�n về một lời thỉnh cầu xin tấn phong cho một l�nh địa mới.� �ng đ� giải th�ch một c�ch r� r�ng về xứ sở n�i tr�n, c� đề cập đến phần l�nh thổ của Việt Thường vốn đ� được sở đắc trước đ�y.� B�y giờ đất n�y đ� s�p nhập An Nam v� kh�ng muốn qu�n danh xưng được bảo tồn qua nhiều thế hệ.� Nước n�y th�nh thực khẩn cầu xin t�n Nam Việt để đặt cho xứ sở.� Sau khi đ� được duyệt qua bởi c�c quan chức v�ng bi�n cương [tức Tổng Đốc, v.v�] việc n�y đ� được đệ tr�nh l�n để ngự l�m. Phi�n Họp của Hội Đồng [c�c Thượng Thư của Đại B� Thư Đo�n] đ� b�c bỏ việc sử dụng t�n Nam Việt để gọi quốc gia đ�, với c�c v�ng đất chạy dọc theo bi�n cương vẫn chưa được thỏa thuận.� Hội Đồng đặc biệt ghi nhớ rằng họ [Việt Nam] đ� đến g� cổng ở cửa ải, xin sang thần phục.� Một c�ch k�nh cẩn, họ đ� tr�nh tấu với sự th�nh t�m. (g)

 

Ta đ� sắc dụ sự sử dụng hai chữ Việt Nam.� Từ Việt được đặt l�n trước để chỉ bi�n cương của c�c thế hệ trước đ�y.� Từ Nam được đặt ở sau biểu lộ l�nh thổ c� bi�n giới mới được chuẩn nhận.

 

Lại nữa, Ta đ� ra lệnh cho Tổng Đốc Quảng T�y Sun Yu T�ing một mặt th�ng b�o bằng văn bản cho Nguyễn Ph�c �nh, v� mặt kh�c, chỉ định c�c vi�n chức th�p t�ng ph�i đo�n đệ tr�nh quốc thư v� cống phẩm của sứ giả tr�n đường lai kinh.� Ho�ng Đế đ� ra lệnh tr� ho�n cuộc du h�nh, ch�nh v� muốn b�y tỏ t�nh cảm nh�n từ d� xa x�i.

 

Nh�n� đ�y một lần nữa, dựa tr�n b�o c�o của Sun Yu T�ing, ch�ng ta đ� chỉ dụ Nguyễn Ph�c �nh tiếp nh�n danh hiệu Việt Nam đ� được triều đ�nh ban phong đầy �n nghĩa.� C�c sứ giả Việt Nam đ� từng b�y tỏ l�ng biết ơn s�u xa.� C�c từ ngữ đầy x�c động như vui sướng v� h�n hoan được thốt ra từ l�ng th�nh thực.� � Sứ giả n�i tr�n đ� sẵn khởi sự cuộc du h�nh l�n phương bắc, được phỏng chừng, v�o khoảng mười ng�y cuối c�ng [tức hạ tuần, ch� c�a người dịch] th�ng Bẩy, �ng ta sẽ đến được kinh đ�.�� Với c�c từ ngữ như thế n�y, v.v� [c�u n�y trong bản dịch sang tiếng Anh kh�ng r� nghĩa, xin đối kiểm lại với nguy�n bản khi c� thể, ch� của người dịch]

 

Ho�ng Đế c�n bổ sung th�m l�ng ưu �i cho sự việc n�y.� Ng�i đ� ra lệnh rằng lễ tấn phong cho quốc vương nước Việt Nam sẽ được cử h�nh.

 

Rằng những g� được sở đắc bởi một c� nh�n phải được c�ng bố một c�ch rộng r�i trong sắc chỉ tấn phong Quốc Vương của nước đ� v� trong c�c văn kiện kh�c.� H�y th�ng b�o cho c�c Nha M�n (c�c văn ph�ng trong triều) khiến cho sự việc được nhận thức như một th� dụ điển h�nh đ� ấn định.� H�y chuẩn bị trước cho việc n�y.� Ngo�i ra, việc n�y cũng sẽ phải được tr�nh b�y bởi Nha M�n của Kh�m Thi�n Gi�m [Hội Đồng Khảo S�t Thi�n Văn] v�o l�c c� sự ph�n phối rộng r�i ni�n lịch.� Ch�ng ta sẽ tiến tới việc sửa đổi danh hiệu An Nam th�nh ra Việt Nam.� Mọi người c� thể tu�n h�nh ni�n lịch trong trường kỳ cho c�c dịp tấn phong tương lai.��

 

� H�y c�ng bố sự bổ nhiệm �n S�t tỉnh Quảng T�y, Ch�i Shih Lin; ch�ng ta sắp sửa ban ph�t ấn t�n tấn phong mới. �ng ta sẽ th�p t�ng c�ng sứ giả, đ� sang đệ tr�nh quốc thư v� cống phẩm, sắp đến để vượt qua bi�n giới.� H�y tiến h�nh việc loan b�o sắc dụ của Triều Đ�nh.� Ta sắc dụ rằng vị quốc vương của nước đ� h�y nh�n nhận l�ng ưu �i bền vững của ch�ng ta. Điều đ� đ� được duy tr� trong nhiều thế hệ; n� kh�ng thể thay đổi.� Nay kh�m dụ.�

 

Bản văn tr�n đ� được phi�n dịch v� bao gồm to�n thể, để mang lại một sự tr�nh b�y s�ng tỏ nhất c� thể c� được về bản chất tế nhị của c�c mối quan hệ hiện hữu v�o thời điểm c� sự tấn phong cho Việt Nam bởi Trung Hoa.� Điều r� r�ng từ bản văn ở tr�n rằng phần của �ng Cadi�re được tr�ch dẫn bởi �ng Maybon trong đoạn văn được trưng ở b�n tr�n, danh từ Việt Nam ph�t sinh từ c�c chữ Việt Thường v� An Nam, theo thứ tự đ�, c� nghĩa, theo chiều từ nam ra bắc, khi ch�ng ta lưu � đến c�c chữ �biểu thị bi�n cương mới được chuẩn cấp� m� danh từ An Nam đứng tượng trưng.� Hơn nữa, với c�ch d�ng chữ như thế c� một nh�m từ bổ t�c, điều tr�n c� thể h�m � �chỉ [chiều hướng của] l�nh địa [phong kiến] c� bi�n giới mới được ban cấp.�� Như thế để đem lại trọng lượng cho ngụ � thuần t�y về chiều hướng của từ ngữ n�y, Nam, c�u văn kế tiếp ph�t biểu rằng n� (Việt Nam) kh�ng thể bị nhầm lẫn với Nam Việt, tọa lạc ở ph�a nam của B�ch Việt.� Nhưng một lần nữa, điều đ� cũng ch�nh x�c khi nh�n một c�ch tổng quan to�n bộ c�c đoạn văn đ�ng trước đoạn n�y rằng An Nam ở phương bắc lại được đặt ph�a sau, c� nghĩa, sự thụ đắc �mới,� v� từ đ� theo sự �m chỉ, c�c nh�m chữ n�u tr�n c� thể đ� đề cập đến n�, cho d� chỉ c� t�nh c�ch gi�n tiếp.� C� một sự ph�ng kho�ng nơi đ�y trong sự giải th�ch đoạn văn n�u tr�n.� C� thể, n� đ� cố � mang vẻ mơ hồ như thế, sao cho kh�ng x�c phạm Việt Nam một c�ch thẳng thừng.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, nếu c�ch giải th�ch trước được chấp nh�n, �Việt Nam� hay �Ph�a nam d�n Việt� như một sự giải th�ch cho danh hiệu Việt Nam sẽ kh�ng th�ch hợp bởi nơi đ�, từ �Nam� kh�ng c� � nghĩa đặc t�nh của từ Nam trong danh hiệu �An Nam� (trong Anh ngữ, �Pacify the South�).� Kh�ng cần phải n�i, điều n�y cũng đ�ng với trường hợp chữ �Nam� trong Đại Nam (Great South), danh hiệu mới chỉ được đặt ra hồi gần đ� bởi Nguyễn Ph�c �nh cho l�nh địa ri�ng của �ng, nếu danh hiệu Việt Nam cũng tương đồng với n�.

 

Tuy nhi�n, cần phải ghi nhớ rằng Ph�c �nh đ� rất mong muốn thay đổi danh hiệu An Nam m� với n� xứ sở của �ng đ� được li�n kết trong hơn một ng�n năm trong c�c t�i liệu ch�nh thức của Trung Hoa.� Bởi thế, n�i rằng Việt Nam tượng trưng cho Việt Thường v� An Nam c� lẽ kh�ng đ�ng đối với ph�a Việt Nam.� Xem ra kh�ng c� chỗ n�o trong c�c t�i liệu của Việt Nam (12) dưới triều Nguyễn lại c� bất kỳ sự đề cập rằng đ�y l� hai th�nh tố m� Nguyễn �nh đ� c� trong đầu khi ban h�nh danh hiệu n�y, vốn mới chỉ được sắc dụ như thế hồi gần đ� bởi Ho�ng Đế Trung Hoa, tr�n c�c thần d�n của �ng ta trong cuộc lễ t�n phong thực sự được cử h�nh tại H� Nội với sự hiện diện của �n S�t tỉnh Quảng T�y, �ng Lin, v�o đầu năm 1804.� Tuy nhi�n, sau c�ng Quốc Vương, bề ngo�i, đ� thừa nhận quốc hiệu Việt Nam.

 

Điều n�y đưa đến một c�u hỏi nảy sinh trong đầu.� Từ những t�i liệu tr�n, r� r�ng l� Nguyễn �nh đ� nỗ lực vận động để vương quốc của �ng được xưng danh l� Nam Việt, một t�n tương tự như t�n của vương quốc đ� được th�nh lập v�o năm 207 trước C�ng Nguy�n, v� thường được thừa nhận l� xứ sở tiền th�n đầu ti�n được chứng minh trong lịch sử của Việt Nam.� Vương quốc n�y bao gồm c�c tỉnh Quảng Đ�ng v� Quảng T�y ng�y nay tại Trung Hoa cũng như c�c phần tại Bắc Việt Nam.� Ch�nh v� thế, điều c� thể n�i rằng tr�n căn bản của Thực Lục n�u tr�n, trong giai đoạn giữa th�ng Mười Hai 1802 v� th�ng S�u 1803 (�m Lịch) khi m� quyết định chung cuộc về việc đặt t�n đ� được đạt tới, Nguyễn �nh đ� thực hiện nhiều sự vận động mạnh mẽ để danh hiệu Nam Việt được chấp thuận, như �ng Beauvais đọc thấy trong Sử Ch�nh Thức (Historiographies) hay Đại Nam Thực Lục, được tr�ch dẫn tr�n đ�y từ quyển s�ch của Maybon cũng đ� chứng thực.

 

Tại sao việc n�y xảy ra như thế?� Theo t�i liệu ch�nh thức của Trung Hoa n�u tr�n, Nguyễn �nh th�ng b�o cho Ho�ng Đế Trung Hoa xuy�n qua Sun Yu T�ing hồi th�ng Tư năm 1803 rằng �ng ta một lần nữa muốn quốc hiệu Nam Việt; sự việc n�y, bất kể đến sự cảnh b�o của họ Sun v� sau một thời khoảng d�i (n� đ�i hỏi �t hơn 30 ng�y kh� nhiều để thực hiện một chuyến du h�nh hỏa tốc giữa Bắc Kinh v� H� Nội, như l� mọi vấn đề tấn phong vốn thường được sắp xếp bởi nh� Thanh).� Hơn nữa, nhiều phần l� �ng ta kh�ng thể c� c�c tham vọng khủng bố đối với Trung Hoa, trừ khi, dĩ nhi�n, ch�ng ta vẫn c�n chưa được hay biết về một số sự thỏa thuận b� mật c� thể c� giữa �ng v� c�c l�nh đ�nh thu� người Ph�p đ� từng trợ gi�p �ng, về vấn đề n�y. Đ�ng hơn, c�u trả lời xem ra c� thể được t�m thấy nơi tư tưởng của Trung Hoa v�o l�c đ� li�n quan đến B�ch Việt trước đ�y, hay c�c sắc d�n Việt, một nh�m d�n tộc trong đ� Nam Việt l� một nh�m m� sự hiện diện tại Trung Hoa đ� được ghi ch�p từ thời Chiến Quốc sau khi nh� Chu đ�nh bại Việt Quốc.� Họ sinh sống ở c�c khu vực ngoại vi ph�a nam v� đ�ng nam Trung Hoa, �vượt qu� c�c rặng n�i� (từ Việt hay Yueh c� lẽ c� nguồn gốc nơi đ�y, mang � nghĩa �d�n cư ở qu� b�n kia� hay �vượt qua b�n kia�, v� c� nguồn gốc li�n hệ đến Việt Quốc (Yueh Kuo) (g).� C�c khu vực n�y tạo th�nh c�c giới hạn của ranh giới tiến xuống ph�a nam của khu vực văn h�a Trung Hoa khiến cho c�c sắc d�n Việt đ� được đối xử, với d�ng thời gian tr�i qua, v� sau khi sự chuyển nhập v�o văn minh H�n tộc đ� tiến triển đủ mức, như một d�n tộc được đồng h�a, được gọi đ�ng hơn l� �c�c kẻ nội di (man di ở trong) �, chứ kh�ng như �c�c kẻ ngoại di �[wai-i, Hoa ngữ trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (�c�c kẻ man di ngoại quốc�), một đặc ngữ bản xứ d�nh để chỉ c�c người ngoại quốc.*� Ngược lại, �mọi người b�n ngo�i B�ch Việt đều bị xem l� kẻ man rợ.� (11)� Khi Nguyễn �nh y�u cầu danh hiệu Nam Việt l�m quốc hiệu cho vương quốc mới được th�nh lập của �ng, v� thế, trong mọi khả t�nh, �ng đ� quan t�m rằng với t�n �Nam Việt�, n� sẽ chứa đựng � nghĩa quan trọng bao tr�m của việc nằm trong v�ng văn h�a Trung Hoa ngo�i ngụ � �m chỉ vương quốc cổ xưa.� Ch�nh v� thế, lời y�u cầu của �ng được ph�t biểu một c�ch mạnh mẽ để b�y tỏ trong ch�nh danh hiệu m� xứ sở của �ng mặc d� độc lập nhưng được gồm trong khu vực ảnh hưởng của người H�n, một đề nghị khả dĩ dễ chấp nhận hơn cả bởi �ng vốn đ� tự m�nh đặt t�n l� �Đại Nam� (Great South) cho đất nước của �ng trước khi c� việc cầu phong n�y.

 

Mặt kh�c, c�c vi�n chức Trung Hoa, như được nhận thấy ở tr�n, đ� chống đối ngay ch�nh sự sử dụng danh hiệu Nam Việt, bởi v� về mặt lịch sử, n� ngụ � rằng vương quốc độc lập cổ xưa được th�nh lập bởi Triệu Đ� (hay Ch�ao T�o trong Hoa ngữ) ch�nh �ng ta l� một người Trung Hoa (người tỉnh Hồ Bắc), l� kẻ, với sự trợ gi�p của người Việt Nam đ� th�nh lập ra xứ sở n�y vốn đ� l� một đất nước duy nhất của giống B�ch Việt đ� d�nh được độc lập từ Trung Hoa.� Về mặt văn h�a, tuy thế, n� vẫn c� rất nhiều phần nằm trong khu vực ảnh hưởng của H�n tộc.� Vương quốc n�y được th�nh lập v�o thời khoảng c� sự tan r� của Đế Quốc nh� Tần của Tần Thủy Ho�ng Đế.� Sau một sự hiện diện v�o khoảng một trăm năm, n� bị đ�nh tan bởi người H�n Hoa� nhưng chỉ sau khi đ� c� c�c nỗ lực lập lại nhiều lần bắt n� chấp nhận quy chế chư hầu bị thất bại v� một cuộc khởi nghĩa đ� xảy ra tại kinh đ� của họ nay l� nơi gọi l� th�nh phố Quảng Ch�u, khi một vi�n chức cao cấp người Việt Nam [chỉ Lữ Gia, ch� của người dịch] trong triều đ�nh nổi loạn c�ng với người anh em v� quan của �ng, v� giết chết người mẹ gốc Trung Hoa [chỉ C� Thị, ch� của người dịch] của Quốc Vương Nam Việt, v� sứ giả Trung Hoa.(12) (h).� Ch�nh từ nhật kỳ n�y, năm 111 trước C�ng Nguy�n, m� �một ng�n năm độ hộ của người T�u� được n�i đến rất nhiều ng�y nay đ� khởi đầu.� Một c�ch ngẫu nhi�n, ch�nh l� v�o dịp c� một sự sụp đổ lớn lao kh�c của nền cai trị của c�c triều đại Trung Hoa, thời kỳ Ngũ Triều (Five Dynasties), m� Việt Nam đ� một lần nữa, c� thể d�nh lại sự độc lập của họ.� Tuy nhi�n, danh xưng An Nam, được d�ng từ thế kỷ thứ 7 sau C�ng Nguy�n, v� l� một trong s�u trung t�m b�nh định được thiết lập bởi nh� Đường bao quanh ngoại vi của đế quốc của họ, đ� được giữ nguy�n bởi c�c ho�ng đế Trung Hoa m�i cho đến năm 1803, khi, như được ghi nhận nơi tr�n theo bộ sử Thực Lục, n� được ch�nh thức đổi th�nh Việt Nam (Yueh Nan).

 

Nỗi lo sợ m� Trung Hoa đ� c� khi được đệ tr�nh lời y�u cầu nguy�n thủy cho sự tấn phong danh xưng Nam Việt v� thế trở n�n dễ hiểu.� D� sao đi nữa, Nguyễn Văn Huệ của nh� T�y Sơn đ� thực hiện một cuộc đả bại kinh ho�ng tr�n c�c lực lượng Trung Hoa c� qu�n số �t nhất h�ng trăm ng�n người kh�ng l�u trước đ� v�o dịp Tết năm 1789, khi họ, ph�a Trung Hoa, cố gắng kh�i phục ng�i vua cho c�c nh� l�nh đạo triều L� tại An Nam (13).� V� nỗi lo sợ đ� đ�nh v�o t�m họ bởi qu�n hải tặc v� c�c chiếc thuyền cướp biển ho�nh h�nh ở c�c khu vực duy�n hải v� t�u thuyền Trung Hoa v�o thời điểm n�y.� Nhưng s�u xa nhất, thời trị v� của vua Gia Kh�nh nh� Thanh, như được chứng kiến c�c sự x�o trộn nội bộ gia tăng hơn bao giờ hết, v� sẵn vượt qu� cực đỉnh ph�t triển của n� v� đang hồi đi xuống; ch�nh v� thế, n� mang đầy sự sợ h�i, �t nhất về bất kỳ sự x�m lấn l�nh thổ của n�, được giả định l� trung t�m của thế giới.� Ch�nh v� thế, ch�ng ta c� thể xem sự từ chối của Ho�ng Đế Trung Hoa việc chấp thuận danh xưng Nam Việt như một chỉ dấu của nỗi lo sợ của �ng rằng người Việt Nam c� thể đang mưu toan x�m lấn v�o khu vực nay đ� được Trung-Hoa-h�a của giống B�ch Việt cũ.� �Việt Nam� đặt ra một bi�n giới ph�a bắc, một khu vực được gọi l� tr�i độn tr�n bất kỳ một sự b�nh trướng n�o về phương nam.

 

Tuy nhi�n, đ� n�i nhiều về vấn đề n�y, ch�ng ta phải cứu x�t đến một yếu tố c� thể đ�ng giữ, mặc d� trong một cung c�ch ti�u cực, một phần quan trọng hơn cả trong sự chấp nhận danh xưng Việt Nam bởi Nguyễn �nh v� người Việt Nam.� Yếu tố n�y nằm trong l�nh vực ngữ học. Đặc t�nh của ng�n ngữ n�i của tiếng Việt, v� Quốc Ngữ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], (Ng�n Ngữ D�n Tộc) đ� kh�ng được ch�nh thức h�a th�nh tiếng n�i quốc gia m�i cho đến thế kỷ thứ 17 hay 18, với sự gi�p đỡ của c�c người �u Ch�u, l� đặt từ bổ (sửa) nghĩa đứng đ�ng sau danh từ m� n� l�m thay đổi nghĩa.� Th� dụ, từ ngữ Trung Hoa chỉ khu vực ph�a nam, �Nan fang: Nam phương�, được sắp xếp với hai chữ mang nghĩa �ph�a nam� v� �khu vực, phương�, theo thứ tự đ�].� Nhưng người Việt Nam n�i trong c�ch của họ l� �Phương nam�, với việc đặt chữ �khu vực, phương� đứng trước chữ �Nam.� �� nghĩa của từ, đối với họ tuy thế, giống như � nghĩa n� c� trong Hoa ngữ.� Tương tự, mặc d� Hoa ngữ cho danh xưng Việt Nam được sắp xếp theo thứ tự đ�, � nghĩa của chữ (theo một c�ch mặc thị) đối với một người Việt Nam �suy tưởng� bằng Việt ngữ lại l� Nam Việt (14).� Nguyễn Ph�c �nh, bị cản trở trong c�c nỗ lực để c� danh xưng Nam Việt được thừa nhận trong t�i liệu Trung Hoa, sau hết đ� tiếp nhận quốc hiệu �Việt Nam� c� thể đ� l� luận c�ng l�c rằng �trong suy nghĩ của t�i, n� mang � nghĩa l� Nam Việt, trong bất kỳ trường hợp n�o.�

 

Để kết luận, người ta, sau khi duyệt x�t sự việc n�u tr�n, kh�ng thể l�m g� kh�c hơn l� việc bị đ�nh động bởi sự căng thẳng nội tại nảy sinh từ việc ban cấp v� tiếp nhận danh xưng v�o l�c tấn phong.� Dĩ nhi�n, ch�ng ta kh�ng thể n�i về điều n�y với một sự đoan chắc.� Tuy nhi�n, với việc giả dụ rằng những g� được n�i về đặc t�nh của ng�n ngữ Việt ở tr�n l� đ�ng, ch�ng ta c� thể ph�t biểu nhiều về sự việc n�y.� Danh xưng Việt Nam c� thể được ph�n t�ch v� giải th�ch như một quan hệ biện chứng (dialectical relation) giữa Trung Hoa v� Việt Nam.� Từ quan điểm của Trung Hoa, n� l� Yeuh Nan hay Yeuh ph�a Nam, c� nghĩa, ph�a Nam của [đất, d�n] Việt (South of Viet), v� từ đ� mang � nghĩa ở b�n ngo�i khu vực văn minh của Trung Hoa, như trong thực tế m� ph�a Trung Hoa đ� cảm nhận v�o thời điểm đ�.� Rằng điều n�y c� thể mang h�m � rằng danh xưng n�y đ� được t�ch ra khỏi � nghĩa trước đ�y.� Tuy nhi�n, nếu Việt Nam tượng trưng cho Việt Thường � An Nam (hay Đại Nam), khi đ�, ph�a Trung Hoa, v� t�nh hay kh�ng, đ� chỉ định danh xưng n�y theo thứ tự của sự thụ đắc của d�ng họ Nguyễn, c� nghĩa, Việt Thường đ� được thu hồi trước ti�n bới Nguyễn �nh, sau đ� l� An Nam trong to�n thể của n�, như được ghi ch�p r� r�ng ngay trong c�c t�i liệu của Trung Hoa.� Thứ tự của sự thụ đắc n�y l� một thứ tự đi từ nam ra bắc.� Ph�a Trung Hoa, sửng sốt bởi đề nghị danh xưng Nam Việt nguy�n thủy được đưa ra bởi ph�a Việt Nam, v� hiển nhi�n ở v�o một vị thế qu� yếu để đ�i hỏi một số danh xưng, chẳng hạn, �t g�y tranh luận kh�c,� đ� quyết định về danh xưng n�y bởi n� c� vẻ gắn liền với � tưởng của họ về một quốc gia lệ thuộc, m� gần đ�y đ� trở n�n qu� h�ng mạnh đ�nh bại được li�n qu�n hai tỉnh Quảng Đ�ng v� Quảng T�y của họ; song vẫn đến đập �.� cổng, xin thần phục.�� N� chỉ y�u cầu thay đổi vị tr� của chữ �Nam�ra khỏi vị tr� nguy�n thủy trong đề nghị của Việt Nam.

 

Nh�n từ một ph�a kh�c trong � nghĩa biện chứng n�y, từ quan điểm của Việt Nam, c� thể đ� l� một th�i độ khứng chịu � muốn của một cường lực cao hơn, một quyền lực m� họ đ� ngưỡng nh�n như một m� h�nh văn h�a.� Nhiều phần đ�y l� ước muốn được đồng nhất về văn h�a với người H�n đ� th�c đẩy Nguyễn �nh y�u cầu, v� trong thực tế, đ�i hỏi danh xưng Nam Việt, v� thất bại trong việc đ�i hỏi đ� để cuối c�ng ưng chịu quốc hiệu Việt Nam bởi c� vẻ đối với người Việt Nam danh xưng n�y vẫn h�m �, bất kể c� sự biến nghĩa n�o của n�, Nam Việt, trong bất kỳ trường hợp n�o, do t�nh đặc th� trong ng�n ngữ của họ.

 

D� hiểu một c�ch rộng r�i đến đ�u trong ng�n ngữ hay lịch sử, danh xưng n�y cũng kh�ng thể được giải th�ch, như một số người đ� l�m, như �vượt qu� về ph�a Nam�, trừ khi kẻ đ� tự nhận m�nh l� kẻ bất nhất.� Nếu ch�ng ta n�i đến việc �vượt qua�, điều cần phải nhận thức rằng trong bối cảnh thực tế của thời gian v� biến cố năm 1803 khi danh xưng được cứu x�t, c� nỗi lo sợ từ ph�a Trung Hoa rằng một sự ngụ � �việc vượt qu� từ phương nam� l�n phương bắc c� thể được chứa đựng trong danh xưng Nam Việt như được đề nghị bởi ph�a Việt Nam đ� th�c đẩy họ b�c bỏ quốc hiệu đ�.� Thay v�o đ�, họ đ� �p lực cho một danh xưng với thứ tự đảo ngược, tức một t�n gọi thỏa hiệp, Việt Nam, sẽ thiết lập c�ng một l�c một bi�n giới ph�a nam (Trung Hoa), c� nghĩa, một v�ng tr�i độn (chế xung), để kh�ng bị vượt qua bởi sự b�nh trướng từ phương nam.� Tuy nhi�n, trong sự vội v� của họ để đặt ra danh xưng n�y, người Trung Hoa c� thể kh�ng hay biết rằng, như ch�ng ta đ� nhận thấy ở tr�n, ngay trong sự sắp xếp n�y, �Việt Nam� [chữ Việt trong nguy�n bản, để nhấn mạnh � nghĩa trong tiếng Việt, ch� của người dịch] (chứ kh�ng phải l� Yueh Nam) [hiểu theo Hoa ngữ, ch� của người dịch], danh xưng đại diện cho Việt Thường � An Nam, một c�ch nghịch l�, lại mang � nghĩa �vượt l�n phương bắc.�� Khi đ�, ch�ng ta nhận thấy rằng c�ng danh xưng �m chỉ người Việt Nam bị trục xuất lại đang bắn một mũi t�n v�o l�nh thổ Trung Hoa.� Ch�nh v� thế, danh xưng Việt Nam chất chứa trong n� sự căng thẳng biện chứng.�

 

C�c danh xưng c� � nghĩa trọng đại đối với người � Ch�u, v� đặc biệt c�ng đ�ng với một nước như Việt Nam c� truyền thống Khổng học l�u d�i.� V� như thế, điều mỉa mai v� c�ng l�c l� bi kịch trong thực tế (đối với người Việt Nam cũng như người Hoa Kỳ hiện diện nơi đ� ng�y nay) rằng tiếp theo sự việc tr�n, ch�nh một quyền lực T�y Phương chịu tr�ch nhiệm nhiều nhất trong việc đặt Nguyễn �nh l�n cầm quyền (một c�ch li�n đới, Triều Nguyễn n�y đ� kết liễu với �ng ho�ng Bảo Đại), nước Ph�p, nước vừa mới trải qua cuộc C�ch Mạng năm 1789 v� đ� đem lại cho từ ngữ c�ch mạng h�m � v� sự quyến rũ hiện tại của n� đến mọi nơi (kể cả một cuộc c�ch mạng tại Việt Nam sau Thế Chiến II chống lại họ), đ� t�i diễn về mặt lịch sử một nước �Việt Nam� bởi việc thiết lập trước ti�n một căn cứ ở miền nam l� S�ig�n v�o giữa thế kỷ thứ 19 v� �đ� vượt tiến� l�n miền bắc, cho đến khi binh sĩ của n� c� mặt ở ngay tại bi�n giới c�c tỉnh Quảng Đ�ng v� Quảng T�y trước khi thế kỷ đ� chấm dứt.� Trung Hoa vốn đ� sẵn qu� suy yếu, như t�c giả Huang Ta-Shou đ� n�i nơi phần đầu của b�i viết n�y, để đ�p ứng lời y�u cầu xin trợ gi�p từ c�c quốc vương Việt Nam.� Ch�nh v� thế, chiếu theo những diễn biến xảy ra sau việc đặt t�n cho Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ khi m� chủ nghĩa thực d�n Ph�p ho�nh h�nh, người ta phải kết luận rằng sau rốt, li�n quan đến việc danh xưng Yeuh Nan được d�ng thay cho Nam Việt (Nan Yueh), nỗi lo sợ của Trung Hoa được chứng minh một c�ch hiển hiện l� đ�ng v� c� gi� trị (15) (i).� Tuy nhi�n, sự chứng minh n�y kh�ng c� nghĩa l�m giảm nhẹ sự kiện rằng �Việt Nam�, n�i đến c�ng, l� một danh xưng thỏa hiệp, v� như n� diễn ra, l� giải ph�p biện chứng cho vấn đề.

 

T�c giả xin cảm tạ những người sau đ�y về sự trợ gi�p qu� gi� của họ gi�p cho t�c giả ho�n tất được b�i khảo cứu ngắn n�y:

 

1. B� Julia Hsia của East-West Center, tại Honolulu, Hawaii, đ� trợ gi�p t�c giả trong việc phi�n dịch một phần tập Tung Hua-lu [Đ�ng Hoa lục?], phần sau đ� đ� gi�p t�c giả phi�n dịch c�c đoạn văn trong Đại Thanh Lịch Triều Thực Lục, v�

 

2. Tiến sĩ Hilary Conroy của Đại Học University of Pennsylvania hiện đang thực hiện một cuộc nghi�n cứu th�m s�u tại Trung T�m East-West center, Honolulu, trong việc đọc bản thảo nguy�n thủy v� đưa ra c�c � kiến qu� b�u trong việc sắp xếp b�i viết n�y.

 

Trong khi tri �n s�u xa hai nh�n vật n�y của Trung t�m East-West Center, điều n�y hiển nhi�n kh�ng x� miễn cho t�c giả bất kỳ sự khiển tr�ch n�o ph�t sinh từ bất kỳ sự khiếm khuyết n�o trong văn bản chung cuộc, bất luận về h�nh thức hay nội dung hay trong phạm vi n�o kh�c.� T�c giả chấp nhận ho�n to�n tr�ch nhiệm về c�c lỗi lầm n�y.

 

Hideo Murarami

__

 

CH� TH�CH:

 

Những đoạn theo sau được phi�n dịch từ Hoa ngữ bởi t�c giả.

1. Sự giải th�ch của Edgar Snow lấy từ t�c phẩm của �ng ta, The Other Side of the River, ấn h�nh năm 1962.� Của Bernard Fall l� từ quyển The Two Viet Nam, ấn h�nh năm 1963.� Của Moore từ số b�o Th�ng Mười. B�i b�o tr�n Tạp Ch� The Time Magazine xuất hiện trong số đề ng�y 16 th�ng Bảy, 1965, tr�nh b�y về Chủ tịch Bắc Việt nam, Hồ Ch� Minh.� Dấu hiệu sớm sủa của sự gia tăng c�ch giải th�ch n�y gồm: b�i của Andre Lageurre về Đ�ng Dương thuộc Ph�p nơi một trong c�c số b�o ban đầu của tờ Life Magazine, nơi cột b�o của t�c giả.� �Yueh South� bởi Edwin Reischauer trong quyển East Asia � The Great Tradition, xuất bản lần đầu ti�n năm 1956 v� trong năm 1960, v.v..

Một trong những l� do ch�nh yếu để viết b�i n�y l� đi t�m sự giải th�ch ch�nh x�c của danh xưng, như được ph�n biệt tr�n mặt chữ nghĩa kh�ng th�i.� T�i lấy l�m ngạc nhi�n bởi sự kiện rằng sau h�ng tỉ mỹ kim đ� được chi ti�u trong c�c nỗ lực qu�n sự tại Việt Nam, Hoa Kỳ, kẻ phải hiểu r� song xem ra vẫn chưa hiểu � nghĩa của t�n gọi của quốc gia Việt Nam.

2. L� Th�nh Kh�i, Le Viet Nam, Histoire et Civilisation, Paris, 1955.

Joseph Buttinger, The Smaller Dragon, A Political History of Viet Nam, New York, 1955.

3. Đ�y l� nhan đề bằng tiếng Ph�p cho quyển Đại Nam Thực Lục, xin xem ch� th�ch số 10.

 

Phi�n dịch từ Ph�p ngữ bởi t�c giả.

4. Đại Thanh Lịch Triều Thực Lục (Ta Ch�ing li-ch�ao shih-lu) l� bộ nguồn t�i liệu ch�nh yếu của triều đại nh� Thanh.� Trước khi c� sự ấn h�nh của n� hồi năm 1939 bởi Ch�nh Phủ M�n Ch�u, bộ Tung Hua-lu [(Đ�ng Hoa lục?) của Wang Hsien Ch�ien thường được xem l� nguồn t�i liệu kh�ng thể thiếu được về nh� Thanh. Đến mức độ li�n quan đến c�c t�i liệu ghi ch�p c� biệt được ghi nhận trong b�i viết n�y, c�c sự ch� giải của Thực Lục v� Tung Hua th� giống nhau, ngoại trừ một �t sự kh�c biệt nhỏ về chữ nghĩa, r� r�ng nhất l� sự sử dụng c�c chữ �I see: Ta nay nhận thấy� thay cho nh�m chữ �at the present time: ở, v�o l�c n�y,� trong đoạn thứ nh� của trang 9 của bản dịch.

5. Dữ liệu về ni�n lịch n�y th� kh�ng đồng nhất trong c�c nguồn t�i liệu kh�c nhau, ch�nh yếu trong đ� c� quyển được đề cập b�n tr�n, Chung Kuo Chin-tai Shih của Huang Ta-Shou, được ấn h�nh tại Đ�i Bắc trong năm 1954, v� quyển Trung-Ph�p Chiến Tranh (Chung Fa Chan Chang) được bi�n soạn bởi Hội Sử Học Trung Hoa (Trung Hoa Cộng sản) v� được ấn h�nh bởi nh� xuất bản Shanghai People�s Publishing House trong năm 1955.

6.Gia tộc họ Trịnh đ� trở n�n thắng thế tại miền Bắc v�o c�ng khoảng thời gian đ�, c� nghĩa, v�o cuối thế kỷ thứ 16, sau n�y dẫn đến một sự đối đầu nổi tiếng giữa hai gia tộc n�y nhằm d�nh quyền chủ tể trong to�n thể quốc gia, kế đ� đưa đến một t�nh trạng suy sụp c�ng cực với sự xuất hiện của cuộc Khởi Nghĩa T�y Sơn.

Về danh xưng cổ xưa Việt Thường, n� được đề cập đến trong quyển Chu Shu Chi Nien (T�i Liệu Ghi Tr�n S�ch Bằng Tre: Bamboo Book Records), như l� kẻ đ� đến Trung Hoa từ phương nam năm 1106 trước C�ng Nguy�n để d�ng cống phẩm l�n Chou King Cheng; v� một c�ch gi�n tiếp đến Chu C�ng (Duke of Chou), nhưng sự việc n�y giờ đ�y được nghĩ l� một sự t� điểm của c�c học giả Khổng học sau n�y nhằm t�n dương c�ng đức của Chu C�ng.� Tr�n căn bản của c�c t�i liệu l�u về sau n�y trong thời nh� Đường, khu vực n�u ra trong c�u hỏi được tin l� tọa lạc ph�a nam tỉnh Thanh H�a v� th�nh phố Vinh, c� nghĩa trong khu vực l�n cận ngay tr�n vĩ tuyến thứ 17. (Xin xem phụ ch� (c) của người dịch b�n dưới.)

7. Quốc hiệu n�y, giống như c�c danh xưng kh�c trước n� chẳng hạn như Đại Việt, Đại Cồ Việt v.v.. chưa bao giờ được ch�nh thức thừa nhận trong c�c sử bi�n ni�n của Trung Hoa.

Xin xem ch� th�ch nơi trang 13 nguy�n bản [tức ch� th�ch số 3, ch� của người dịch].

 

8.Từ ngữ m� Ho�ng Đế d�ng ở đ�y cho việc �Tiếp nhận� cũng c� ngụ � của việc � khứng chịu� hay �chịu đựng� v� được d�ng theo � nghĩa �nhận l�nh� trong c�u �Ho�ng Đế nhận l�nh Thi�n Mệnh.�� C� một dấu hiệu nơi đ�y về việc Trung Hoa �p đặt danh xưng tr�n ph�a Việt Nam, mặc d� c�c đoạn văn kh�c c� n�i l� ph�a Việt Nam �tri �n s�u xa.�

9. Danh xưng quốc gia n�y xuất hiện thường xuy�n trong c�c sử s�ch của nh� Thanh c� nhật kỳ trước c�c thời điểm n�y, v� l� danh xưng được truyền từ thời c� sự trổi dậy của ch�a Nguyễn tại ph�a nam đất nước, trong v�ng S�ig�n [tiếng Việt l� v�ng Đồng Nai, ch� của người dịch].� Trong những dịp liệt k� như thế, c�c đối thủ như Quang Trung v� Quang Toản được ghi ch�p l� ch�a An Nam.

 

Phi�n dịch từ Hoa ngữ bởi t�c giả.

10. Kh�ng c� nguồn t�i liệu của Việt Nam viết bằng Hoa ngữ li�n quan đến thời kỳ n�y được cung cấp cho t�c giả.� Bộ Đại Nam Thực Lục [ Liệt Truyện, Tiền Bi�n v.v..?] [trong nguy�n bản ghi Historiographies, ch� của người dịch] l� bản dịch một phần của bộ Đại Nam Thực Lục (Actual Records of the Great Nam).� Bộ Thực Lục [ph�t �m l� Shih-lu trong Hoa ngữ, nhưng kh�ng n�n nhầm với bộ Thực Lục của nh� Thanh, c� c�ng nhan đề) l� nguồn t�i liệu ch�nh về triều đại nh� Nguyễn n�y.� Tuy nhi�n, phần li�n hệ được tr�ch dẫn từ quyển s�ch của Maybon, xuất hiện ở trang 13 nguy�n bản.

Từ ngữ n�y, tuy thế, như được d�ng nơi đ�y trong Shih-lu kh�ng nhất thiết để chỉ một c�ch c� biệt người Ph�p hay người T�y Phương.� Trong thực tế, sử liệu kh�ng cho thấy l� Ho�ng Đế c� hay biết g� về sự trợ gi�p của người Ph�p cho Nguyễn �nh v�o thời điểm n�y.

11. Th� dụ, xem tiểu sử Sun Yu T�ing ghi trong quyển Ch�ing Shih lieh-ch�uan (Thanh Sử Liệt Truyện), ấn h�nh trong năm 1962 tại Đ�i Bắc.� Lời ph�t biểu n�y xuất hiện trong bản văn.� N� cũng cho thấy một c�ch r� rệt rằng �ng Sun n�y c� ảnh hưởng trong đề nghi danh xưng Việt Nam.

12. Sự tường thuật nổi tiếng về Nam Việt (Nan Yueh) của Tư M� Thi�n (S�su Ma Ch�ien) xuất hiện nơi thi�n 113, bộ Sử K� (Shih Chi) của �ng ta, dưới mục Tiểu Sử c�c Nh�n Vật của Nam Việt, từ đ� c�u chuyện n�y đ� được tr�ch thuật (Được ch� giải bởi Kamataro Takikawa) [tức thi�n thứ 113, phần Liệt Truyện, nhan đề Nam Việt �y Đ� tức Triệu Đ�, trong quyển Sử K� của Tư M� Thi�n, ch� của người dịch].

13. �đương kim Bộ Trưởng Quốc Ph�ng của Bắc Việt, v� l� kẻ chiến thắng tại Điện V� Nguy�n Gi�p Bi�n Phủ, c� tuy�n bố rằng đ�y l� một trong bốn chiến thắng tr�n chiến trường quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam, trong quyển s�ch hồi gần đ�y của �ng, Điện Bi�n Phủ.

14. C�c học giả Nhật Bản Matsumoto Nobuhiro, Sugimoto Naojiro, v� Sakai Yoshiki (học giả n�u t�n đầu ti�n l� một thẩm quyền được thừa nhận về ng�n ngữ v�ng Đ�ng Nam �) tất cả đều ghi nhận điều n�y trong c�c quyển Sekai Rekishi Jiren v� Asia Rekishi Jiren (lần lượt l� Tự Điển Lịch Sử Thế Giới v� Tự Điển Lịch Sử � Ch�u) được ấn h�nh bởi nh� xuất bản Heibonasha, Tokyo, 1960.�� (trong c�c b�i viết ri�ng rẽ c� nhan đề �Việt Nam� v� �Nguyễn Ph�c �nh.�

15. C�c h�nh động của Trung Hoa sau năm 1805 khi danh xưng Việt Nam xuất hiện đầu ti�n trong c�c t�i liệu của họ cho thấy tầm mức lo sợ sự x�m lấn bởi c�c lực lượng ngoại quốc.� Khi Ph�p nắm quyền kiểm so�t tại Việt Nam, t�i liệu ch�nh thức của Trung Hoa c�n quay ngược về sự sử dụng t�n gọi An Nam, một danh xưng m� một c�ch mỉa mai cũng được giữ lại bởi người Ph�p để chỉ khu vực miền Trung của họ (v�ng đất bảo hộ).� Phải chờ m�i đến khi người Ph�p bị trục xuất, danh xưng Việt Nam mới được ch�nh thức sử dụng trở lại.����

 

 

-------------------------------------

 

 

PHỤ CH� CỦA NG� BẮC:

 

a.� Nguy�n văn đọan tr�ch dẫn từ t�c giả L�opold Cadi�re giải th�ch quốc hiệu Việt Nam trong quyển Notions d�Histoire d�Annam của hai t�c giả Charles B. Maybon v� Henri Russier, do nh� in Imprimerie d�Extr�me-Orient xuất bản tại H� Nội v� Hải Ph�ng năm 1911, trang 112, như sau (đ�y c� lẽ l� quyển sử song ngữ Ph�p Việt đầu ti�n, do hai �ng B�i Đ�nh T� v� Đỗ Thận dịch sang tiếng Việt):

�Quyền h�nh T�y-sơn đến trận đ�nh Nhật-lệ l� hết.� Chẳng c�ch bao l�u th� dức Nguyễn �nh ở Huế ra lấy Bắc-kỳ.� Ng�i lại đi qua th�nh lũy Đồng-hới, đến c�c c�nh đồng Nghệ-anl� chỗ, một trăm rưởi năm về trước, những tướng của Hiền Vương đ� được thịnh danh; ng�i đi qua An-trường [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] l� chỗ ng�y trước qu�n Nam-kỳ chẳng bao giờ ra được đến đấy, v� đến ng�y 23 th�ng s�u (l� ng�y 22 th�ng 7 năm 1802) th� ng�i v�o th�nh H�-nội.� Nguyễn Quang Tỏan bị bắt v� bỏ cũi đem nộp ng�i.� Ng�i đ� nhất thống được cả c�c tỉnh n�i tiếng an-nam, vừa Bắc-kỳ vừa Nam-kỳ, ng�i b�n xưng Việt-nam [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] H�ang Đế, nghĩa l� cả Việt-thường [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] l� chỗ phong ấp của c�a Nguyễn từ năm 1558, với cả An-nam [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], l� địa hạt của ch�a Trịnh; đức Nguyễn �nh lấy ni�n hiệu l� Gia long.� Thế l� Nguyễn đ� đ�nh dẹp được tiệt hẳn cả những kẻ th� nghịch đ� mấy đời nay.� (Dịch theo b�i của �ng Cadi�re)

 

 

b. Về danh từ Việt Thường: Xin xem ch� th�ch số 6 của t�c giả ghi tr�n

Việc triều đ�nh nh� Thanh d�ng danh hiệu Việt Thường ở đ�y dể giải th�ch như một phần nguy�n thủy trong quốc hiệu Việt Nam r� r�ng c� sự cưỡng l� v� c�c l� do kể sau:

1.       Danh xưng Việt Thường đ� xuất hiện đầu ti�n (?) trong bộ Sử K� của Tư M� Thi�n (?), như dịch giả Mạc Bảo Thần Nhượng Tống đ� ghi lại trong bản dịch quyển Đại Việt Sử K� T�an Thư, phần Ngoại Kỷ, từ thời Hồng B�ng đến Ng� Sứ Qu�n, do Ng� Sĩ Li�n v� c�c Sử Thần nh� L� bi�n sọan, (T�n Việt xuất bản năm 1944, Đại Nam t�i bản tại hải ngoại, kh�ng ghi năm th�ng t�i bản), nơi trang 49:

�T�n m�o, năm thứ s�u đời Th�nh Vương nh� Chu, ph�a Nam đất Giao Chỉ c� họ Việt Thường d�ng người th�ng ng�n ba lần m� tới, d�ng chim trĩ trắng.� Chu C�ng n�i: �Ơn đức kh�ng đến, qu�n tử kh�ng hưởng lễ của họ.� Ch�nh lệnh kh�ng tới, qu�n tử kh�ng coi họ l� bề t�i.�� Người th�ng ng�n đ�p: Những người mồi da, v�ng t�c ở nước t�i n�i rằng: �Trời kh�ng gi� dữ, mưa dầm; bể kh�ng nổi s�ng ba năm rồi � � giả Trung Quốc c� th�nh nh�n chăng? V� thế n�n đến chầu.�� Chu c�ng d�ng c�ng l�n T�ng Miếu.� Sứ giả lạc mất đường về.� Chu-c�ng ban cho năm cỗ xe liền nhau, đều l�m theo ph�p chỉ nam � Sứ giả cưỡi xe, qua ven biển Ph� Nam, L�m-Ấp, đầy năm m� về tới nước m�nh.� (Sử K� của Tư M� Thi�n)

C�u chuyện n�y về rất mơ hồ, v� nhiều sử gia c�n cho l� sự bịa đặt sau n�y để t�n dương vua Chu chứ kh�ng c� thực.� Vị tr� của v�ng đất n�y cũng kh�ng thể x�c định được căn cứ v�o c�u chuyện kể tr�n, bởi Ph� Nam đ� l� mỏm cực nam của l�nh thổ Việt Nam b�y giờ.

2.       C�ng s�ch dẫn tr�n, nơi trang 41, dịch giả Mạc Bảo Thần Nhượng Tống c� ghi lại một chuyện kh�c về Việt Thường c�ng với lời b�n như sau:

S�ch Th�ng-ch� của Trịnh Tiều c� ch�p: �Về đời Đạo-đường, phương Nam c� họ Việt Thường, d�ng người th�ng ng�n hai lần đến chầu d�ng r�a thần chừng ngh�n tuổi, vu�ng hơn ba thước, lưng c� chữ theo lối chữ khoa đẩu (n�t chữ như h�nh n�ng-nọc), ch�p từ khi mở ra Trời, Đất trở về sau.� Vua Nghi�u sai sao lấy, gọi l� lịch r�a.�� Theo v�o truyện ấy, s�ch sử �Cương Mục Tiền Bi�n� của Kim L� Tường lại bịa th�m truyện đ� l� v�o năm Mậu Th�n, năm thứ năm đời vua Nghi�u!� Sử thần đời Tự Đức lại nhặt lại m� ch�p v�o bộ �Kh�m Định Việt Sử� để l�m việc đầu ti�n m� nước ta giao thiệp với T�u.� Kỳ thực th� ta chỉ n�n coi đ� l� một truyện m� Trịnh Tiều nặn ra bằng tr� tưởng tượng!

3.       C�ng s�ch dẫn tr�n, nơi c�c trang 47 v� 48, dịch giả Mạc Bảo Thần Nhượng Tống c� phụ ch� như sau:

�Mười lăm bộ, theo s�ch Dư-Địa ch� của Nguyễn Tr�i (An-nam vũ cống), do Nguyễn thi�n T�ng chua, th� Sơn Nam (H�-nội, Nam-định, Hưng-y�n ng�y nay l� bộ Giao Chỉ xưa; Sơn T�y l� hai bộ: Ch�u-di�n, Ph�c-lộc xưa; Kinh-bắc (Bắc-ninh) l� bộ Vũ Ninh xưa; Thuận-h�a (từ Hải-lăng thuộc Quảng Trị đến Điện B�n thuộc Quảng nam) l� bộ Việt-thường xưa; An-bang (Quảng-y�n) l� bộ Ninh-hải xưa; Hải-dương l� bộ Dương-tuyền xưa; Lạng-sơn l� bộ Lục-hải xưa; Th�i-nguy�n, Cao-bằng l� đất trong ng�ai bộ Vũ-định xưa; Nghệ-an l� bộ H�ai-hoan xưa; Thanh-h�a l� bộ Cửu-ch�n xưa; Hưng-h�a, Tuy�n-quang l� bộ T�n-hưng xưa; c�n hai bộ B�nh-văn, Cửu-đức th� khuyết.� Nay x�t s�ch Tấn Ch�: quận Cửu-đức đời Ng� đặt ra, tức tỉnh H� Tĩnh ng�y nay.� Hồ T�n sử cũ chua tức l� nước Chi�m-th�nh, tức tỉnh B�nh-định ng�y nay (Kh�m Định Việt Sử, cu�n đầu).

Kẻ dịch [Mạc Bảo thần Nhượng Tống] x�t: c�c t�n của mười lăm bộ chẳng qua cũng l� thần thoại!� Nếu ch�ng ta c�ng nhận c� vua H�ng Vương, c� nước Văn Lang, c� những t�n Quan-lang, Bố-ch�nh, Mệ-n�ng, th� đ� l� một quốc gia của d�n Mường, hay �t ra cũng do giống Mường l� giống cầm quyền thống trị.� Vậy l� giống Mường th� l� giống c� ri�ng văn tự ng�n ngữ.� Sao t�n c�c bộ lại đặt t�an chữ T�u l� một thứ chữ ngoại quốc m� khi c� việc bang giao, phải d�ng th�ng ng�n hai lần mới hiểu nổi?� C� một ch�t l� do g� chăng?�

4. Danh từ v� c�u chuyện về sứ giả Việt Thường sang triều cống Trung Hoa được ghi lại trong đoạn đầu ti�n, mở đầu cho quyển An Nam Ch� Lược của L� Tắc, viết v�o khoảng cuối thế kỷ thứ 13, v� tiến b�n thế kỷ thứ 14, vốn được xem l� quyển sử đầu ti�n về Việt Nam viết bởi một người Việt Nam tuy theo sử quan của Trung Hoa, do đ� c� lẽ đ� được tr�ch dẫn nhiều nhất trong c�c sử s�ch viết bằng H�n tự khi n�i về Việt Nam.� Đọan văn mở đầu quyển An Nam Ch� Lược viết như sau:

�Từ xưa nước An Nam th�ng giao với Trung Quốc, thời vua Chuy�n H�c, ph�a bắc đi tới U lăng, ph�a nam đi tới Giao Chỉ.� Vua Đế Nghi�u sai Hy H�a qua ở đất Nam giao, vua Thuấn sai Vũ qua nam y�n vỗ Giao Chỉ.� Qua đời Chu Th�nh Vương (1115-1079 trước C�ng Nguy�n) họ Việt Thường qua chin lần th�ng ng�n, tới cống hiến m� n�i rằng: �Trời kh�ng c� gi� b�o, kh�ng mưa dầm, ngo�i biển kh�ng nổi s�ng dữ đ� ba năm nay, c� lẽ ở Trung Quốc c� đấng th�nh nh�n trị v�, sao chẳng tới chẩu�� L�c bấy giờ, Chu C�ng đặt b�i ca, đ�nh đ�n thuật chuyện họ Việt Thường tới chầu: �� hi ta ta! Phi Đ�n chi lực, Văn Vương chi đức,� nghĩa l�; �i �i! vui thay, cảnh tượng th�i b�nh kh�ng phải nhờ sức của Đ�n (t�n của Chu C�ng), m� l� nhờ đức của vua Văn Vương.�� Nước Việt Thường, tức đất Cửu Ch�n, ở ph�a nam Giao Chỉ.� (bản dich của Ủy Ban Phi�n Dịch Sử Liệu Việt nam, Viện Đại Học Huế, năm 1961, trang 23)

Tuy rằng v�ng đất n�y về sau c� thuộc về l�nh thổ nước Việt, v� ngay cả khi c�u chuyện về sứ giả Việt Thường sang triều cống nh� Chu l� c� thực, sắc d�n ở Việt Thường v� c�u chuyện n�y cũng kh�ng hề c� một sự tương quan n�o với lịch sử v� d�n tộc Việt Nam.�

5. C�ng s�ch dẫn tr�n, dịch giả Mạc bảo Thần Nhượng Tống đ� dịch v� b�nh giải đọan mở đầu quyển Đại Nam Sử K� T�an Thư, phần Ngoại Kỷ, trong đ� c� nhắc đến Việt-thường, như sau:

CUỐN THỨ NHẤT

Triều-liệt Đại-phu, Tu-nghiệp trường Quốc-tử-gi�m, Ki�m Tu-sọan trong Sử-qu�n, t�i, Ng� Sĩ Li�n ch�p:

X�t ra: đời H�ang đế dựng ra mu�n nước (1) lấy nước Giao-chỉ ta l� ở c�i T�y Nam, xa ở ngo�i B�ch Việt [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] (2).� Vua Nghi�u sai họ Hy ở Nam-giao (3) định đất Giao-chỉ ở phương Nam.� Vua Đại Vũ chia chin ch�u, th� B�ch Việt l� đất ch�u Dương.� Giao-chỉ thuộc v�o đấy (4).� Đời Th�nh-Chu mới xưng họ Việt-thường [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� T�n Việt bắt đầu từ đời ấy.

Lời b�n của kẻ dịch [Mạc Bảo Thần Nhượng Tống]:

Theo như lời t�c giả, tập Ngoại-kỷ về triều họ Hồng-b�ng v� triều vua Thục l� do m�nh mới th�m v�o.� Th�m bằng c�ch n�o? T�c giả đ� bảo ta: �Tham b�c với Bắc-sử, D� sư, với c�c s�ch Truyện, Ch�; c�ng với c�c điều được nghe, được thấy, được truyền dạy ��

N�i một c�ch kh�c, trong c�c sử cũ của ta kh�ng hề c� ch�p chuyện họ Hồng B�ng c�ng vua Thục.� Hai chuyện đ� l� tự Ng� Sĩ Li�n chắp nối �đầu cua, tai ếch� m� chế tạo n�n!

Đ�ng ph�n n�n l� những chỗ �tham b�c� kia, họ Ng� kh�ng chỉ r� gốc nguồn, để ch�ng ta phải mất c�ng t�m kiếm!

C�c sử thần về đời Tự-đức, trong khi l�m bộ Kh�m Định Việt Sử đ� gi�p ch�ng ta rất nhiều trong cuộc t�m kiếm ấy.� Th� đ�y: �.

Ở đọan dưới, dịch giả Mạc Bảo Thần Nhượng Tống c� c�m ơn Sử Thần Ng� Sĩ Li�n về việc �nhận ngầm d�n Mường l� ch�nh giống Vi�t-Nam .. Sao thế? Bởi v� L� Lợi, Th�i Tổ nh� L�, ch�nh l� một người Mường � Nếu kh�ng l� người Mường, sao c� kế thế l�m phụ đạo động Lam-sơn?� Miền, tới nay [1944?, ch� của người dịch] cũng vẫn c�n l� một miền Mường thuần t�y!� Ấy l� c�c duy�n cớ khiến nh� viết sử của ch�ng ta đặt họ Hồng B�ng l�n đầu Ngoại-kỷ�

C�c sử s�ch sau n�y hầu như đ�u chỉ tr�ch dẫn từ c�c t�i liệu n�u tr�n khi n�i về Việt Thường, v� nếu x�t như thế, việc li�n kết giống d�n Việt Nam với giống d�n ở Việt thường l� kh�ng c� căn cứ th�ch đ�ng.� Từ Việt trong quốc hiệu Việt Nam nếu đ� chỉ giống d�n Việt th� giống d�n n�y r� r�ng kh�ng lien hệ g� với giống d�n ở đất Việt Thường trước đ�y.

6. Việc nh� Nguyễn giải th�ch quốc hiệu Việt Nam sau n�y bao gồm Việt Thường l� nương theo c�ch giải th�ch của triều đ�nh nh� Thanh một c�ch đầy gượng �p, chứ trong � định xin tấn phong quốc hiệu Nam Việt, kh�ng thấy c� t�i liệu n�o n�u ra � niệm n�o li�n hệ đến danh từ Việt Thường, theo như t�c giả Hideo Murakami cua b�i nghi�n cứu được dịch ra tr�n đ�y.

 

c. Về việc T�y Sơn xử dụng c�c hải tặc Trung Hoa n�y, sử liệu c� ghi ch�p như sau:

Trong quyển Notions d�Histoire d�Annam của Charles B. Maybon v� Henri Russier d� tr�ch dẫn ở tr�n, trang 124 c� ghi:

THI�N THỨ HAI MƯƠI BỐN

N�I VỀ ĐỨC H�ANG-ĐẾ NGUYỄN �NH (b�i nối)

VỀ VIỆC NƯỚC NAM GIAO THIỆP VỚI NGOẠI QUỐC

Một l�: Về việc giao thiệp với T�u���������������������������������������������������������������������������������������������������

Như ở tr�n đ� c� n�i, T�y-sơn đ� dủ [sai ch�nh tả, phải l� rủ, ch� của người dịch] những giặc kh�ch, l� qu�n đi ăn cướp ngo�i bể Đại Thanh, dụ về với m�nh, rồi th� giao thuyền b� cho ch�ng n�, cấp bằng cho ch�ng n�, v� bảo ch�ng n� đi ăn cướp ng�ai bờ bể gi�p tỉnh Ph�c Kiến [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], tỉnh Quảng Đ�ng [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], tỉng Giang T� [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], v� tỉnh T�ch [?] Giang [c� k�m chữ H�n, c� lẽ phải l� Triết Giang, ch� của người dịch].� C�c tỉnh ấy c� sớ t�u với vua T�u rằng: trong những t�n giặc đ� bắt được, c� mấy đứa hiện tang c� bằng của Nguyễn-văn-Huệ cấp cho.� Vua T�u b�n hỏi Nguyễn văn Huệ th� Nguyễn văn Huệ giả nhời rằng: những việc ấy l� việc c�c quan dưới đ� l�m gi�u, y kh�ng được biết. Khi đức Gia Long lấy được Huế (năm 1801), th� ng�i gặp may lắm, v� ng�i c� bắt được nhiều qu�n giặc c� cả tướng t�n l� Mạc Ph� Quan [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], ma T�y-sơn đ� phong cho l�m h�ang th�n.� Đức Gia Long đem nộp cả sang vua T�u.

 

d. Về ni�n hiệu Gia Long:

T�c giả Nguyễn C�ng Hoan, trong quyển Nhớ v� Ghi về H� Nội, Nh� xuất bản Trẻ, Saigon, 2004, c� viết nơi trang 43-44 như sau:

�Sở dĩ m�nh ngạc nhi�n về chữ long n�y, v� m�nh thấy trong gia phả nh� ta c� ch�p sự trạng tổ thứ 12, l� cụ Nguyễn Gia C�t.� Cụ đi sứ cầu phong cho Gia Long.� Vua nh� Thanh thấy hai chữ Gia Long th� bẻ: Sao d�m lấy t�n hai vua C�n Long v� Gia Kh�nh để đặt hiệu?� Vốn Cụ nhanh tr� v� hoạt b�t, n�n đ�p: �Kh�ng phải thế.� Nguy�n nước t�i gồm nam tự Gia Định, bắc ch� Thăng Long, cho n�n vua nước t�i đặt hiệu l� Gia Long.

Trong gia phả kh�ng ch�p l� vua Tầu bắt đổi chữ long l� rồng ra long l� thịnh vượng, hay tự Gia Long đổi (v� đ� l� việc của triều đ�nh, kh�ng thuộc phạm vi gia phả), nhưng r� r�ng l� hiệu Gia Long, m�nh vẫn thấy viết long l� thịnh vượng, chứ kh�ng phải chữ long l� rồng như chữ viết t�n th�nh Thăng Long.� Chắc mấy �ng viết sử Thăng Long kh�ng biết việc n�y.�

Theo sử liệu, �ng Nguyễn Gia C�t l� một trong hai ph� sứ của ch�nh sứ L� Quang Định, tức sứ đ�an thứ nh� sau sứ đ�an đầu ti�n do Trịnh Ho�i Đức l�m ch�nh sứ sang T�u xin ca6`u phong cho vua Gia Long.

 

e. Về c�c sứ đ�an nh� Nguyễn sang T�u xin cầu phong năm 1802, c�c sử s�ch ghi ch�p như sau:

1. T�c giả Nguyễn Đ�nh Đầu, trong b�i viết nhan đề Gia Long Với Quốc Hiệu Việt Nam, nơi c�c trang 293-296, quyển Những Vấn Đề Lịch Sử về triều đại cuối c�ng ở Việt Nam, Nhiều T�c Giả, Trung T�m Bảo Tồn Di T�ch Cố Đ� Hu� v� Tạp Ch� Xua & Nay ấn h�nh tại Huế, 2002, c� tr�ch dẫn ch�nh yếu từ Bộ Đại Nam Thực Lục Ch�nh Bi�n về c�c sứ đ�an cầu phong do vua Gia Long ph�i đi như sau:

- Th�ng 5 năm T�n Dậu (1801), Nguyễn �nh th�u phục kinh th�nh Ph� Xu�n.

- Th�ng 5 năm Nh�m Tuất (1802), Nguyễn �nh cho lập đ�n �tế c�o trời đất về việc đặt ni�n hiệu� l� Gia Long� Vua t�i c�ng �b�n việc th�ng sứ với nước Thanh.�� � Gia Long b�n �lấy Trịnh Ho�i Đức l�m Thượng Thư Bộ hộ sung ch�nh sứ sang nước Thanh, Ng� Nhơn Tĩnh l�m Tham tri Bộ Binh, H�ang Ngọc Ẩn [c�c t�i liệu kh�c ghi l� Uẩn, ch� của người dịch] l�m hữu Tham Tri Bộ H�nh c�ng sung chức ph� sứ, đem quốc thư v� phẩm vật, lại đem cả ấn s�ch đ� bắt được do người Thanh phong cho T�y Sơn, c�ng bọn giặc biển Tề Ng�i l� Mạc Quang [c�c t�i liệu kh�c ghi l� Quan, ch� của người dịch] Ph�, Lương Văn Cảnh, Phan Văn T�i, cỡi hai thuyền Bạch Yến v� H�ang Hạc, vượt biển đến cửa Hồ M�n, tỉnh Quảng Đ�ng để nộp.� Tổng Đốc Gi�c La C�t Kh�nh đem việc ấy chuyển đạt.� Vua Thanh vốn gh�t T�y Sơn v� đạo (1), lại chi�u nạp bọn Mạc Quang Ph� cho cướp b�c ở ngo�i biển, đ� l�u ngăn trở đường biển, đến nay được b�o tin, rất vui l�ng.� Hạ lệnh cho Quảng Đ�ng nhận lấy bọn Quang Ph� � đem giết, m� lưu bọn Ho�i Đức ở lại tỉnh th�nh, cung cấp rất hậu.�

- Ng�y Canh Dần (c�ng năm th�ng), Gia Long đem qu�n ra bắc.

- Ng�y canh Th�n (20-7-1802), Gia Long v�o th�nh Thăng Long.� �t l�u sau, Gia Long �cho rằng T�y Sơn đ� bị diệt, sai gửi thư sang tổng đốc Lưỡng Quảng hỏi về việc bang giao n�n l�m thế n�o; sai Thi�m sự Lại bộ l� L� Ch�nh Lộ, Thi�m sự Binh bộ l� Trần minh Nghĩa đợi mệnh ở (ải) Nam Quan.� Lại cho rằng nước nh� mới dựng, muốn tiếp sứ nh� Thanh ở cửa ải, để l�m lễ tuy�n phong cho đỡ phiền ph�, đem việc ấy hỏi Ng� Th� Nhậm v� Phan Huy �ch, họ đều n�i việc như thế từ trước chưa nghe bao giờ.� B�n th�i.�

- Th�ng 10 năm Nh�m Tuất (1802), Gia Long sai Thượng Thư Bộ Binh l� L� Quang Định � sung Ch�nh Sứ sang nước Thanh, thi�m sự bộ Lại l� L� Ch�nh Lộ v� Đ�ng c�c học sĩ Nguyễn Gia C�t sung gi�p ất Ph� Sứ.� Trước đ�, khi đ� lấy lại Bắc th�nh, Gia Long gởi thư cho Tổng Đốc Lưỡng Quảng đem việc ấy chuyển đạt l�n vua Thanh, vua Thanh sai phục thư n�i nước ta đ� vỗ y�n được t�an c�i An nam, th� n�n l�m biểu sai sứ xin phong.� C�n sứ bộ trước l� bọn Trịnh Ho�i Đức th� cho chuyển đến Quảng T�y, đợi sứ bộ xin phong đến th� đều tiến tới Y�n kinh đợi l�nh.� Bọn Ch�nh Lộ đem việc t�u l�n.� Gia Long ra lệnh cho bọn Quang Định đem quốc thư v� phẩm vật (�) đi xin phong v� xin đổi quốc hiệu l� Nam Việt � [v� trong] ph�c thư của vua Thanh cũng chỉ nhắc lại danh hiệu [từ xưa l�] An Nam m� th�i.� Nay Gia Long xin đổi quốc hiệu l�m Nam Việt, biện giải l� �C�c đời trước mở mang c�i vi�m bang, mỗi ng�y một rộng, bao gồm cả c�c nước Việt Thường, Ch�n Lạp, dựng quốc hiệu l� Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm (kể từ trước 1600 Nguyễn H�ang v�o cai quản Thuận H�a).� Nay đ� qu�t sạch miền Nam, vỗ y�n bờ c�i Việt, n�n xin kh�i phục lại hiệu cũ để ch�nh danh.� [ N�n lưu � rằng điểm ch�nh n�u ra l� muốn kh�i phục lại danh hiệu đ� c� từ trước l� Nam Việt, chứ kh�ng phải biện giải về hai th�nh tố Việt Thường v� An Nam như sau n�y được ��p đặt� bởi Thanh triều, chua cua người dịch]

- L�c đầu, vua Thanh kh�ng chịu, � muốn vẫn giữ danh xưng An Nam, �cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đ�ng T�y Việt n�n kh�ng thuận.�� Gia Long phải �hai ba lần phục thư để biện giải, lại n�i nếu vua Thanh kh�ng cho th� kh�ng chịu phong.�� Vua Thanh sợ mất l�ng nước ta, mới d�ng chữ Việt Nam để đặt t�n nước, gửi thư sang n�i: �Khi trước mới c� Việt Thường đ� xưng Nam Việt, nay lại được t�an c�i An Nam, theo t�n m� x�t thực th� n�n t�m cả đất đai mở mang trước sau, đặt cho n�n tốt, định lấy chữ Việt m�o ở tr�n để tỏ rằng nước ta nh�n đất cũ m� nối được tiếng thơm đời trước, lấy chữ Nam đặt ở dưới để tỏ rằng nước ta bờ c�i Nam giao m� chịu mệnh mới, t�n xưng ch�nh đại, chữ nghĩa tốt l�nh, m� đối với t�n gọi cũ của Lưỡng Việt ở nội địa (Trung Quốc) lại ph�n biệt hẳn.�� Sau c�ng, Gia Long chấp thuận t�n nước Việt Nam.

- Cuối năm 1803, bọn L� Quang Định, Trịnh H�ai Đức mới tự nước Thanh trở về, v� vấn đề` tranh biện giữa c�c quốc hiệu An Nam, Nam Việt, v� Việt Nam l�m mất nhiều th� giờ chờ đợi tại Y�n Kinh.

- Th�ng Gi�ng năm Gi�p Tỵ (1804) Gia Long ra Thăng Long để nhận phong l� Việt Nam quốc vương �. Từ đ� Trung Quốc gọi nước ta l� Việt Nam �Tuy nhi�n, đối nội cũng như đối ngoại (kh�ng kể Trung Quốc) ta vẫn tự xưng l� Đại Việt, Đại Nam Việt, hay Đại Việt Nam.

- Năm Mậu Tuất (1838), ng�y 3 th�ng 2, Minh Mệnh ban chiếu đổi t�n nước ta l� Đại Nam hay Đại Việt Nam � ������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������ ��

2. Quyển Gia Định Th�nh Th�ng Ch�, của Trịnh Ho�i Đức, Nha Văn H�a, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Tr�ch Văn H�a xuất bản tại S�ig�n, 1972, do Tu trai Nguyễn Tạo dịch, nơi b�i giới thiệu về Văn Chương v� Sự Nghiệp của Trịnh Ho�i Đức Ti�n Sinh của T� Nam Nguyễn-Đ�nh-Diệm, c�c trang VIII -IX, v� XII, �Tập Thượng, Quyển I v� II, c� ghi:

�� Năm 1802, vua Gia Long h�an th�nh c�ng cuộc thống nhất th� �ng được thăng chức Thượng Thư bộ Hộ, rồi lại sung chức ch�nh sứ cầm đầu sứ bộ, mang quốc thư v� lễ vật c�ng những sắc ấn tịch thu của T�y-sơn, nh�n tiện �p giải cả bọn giặc bể Trung-quốc trước kia l�m tay sai cho T�y-sơn như: Đ�ng-hải-Vương Mạc quan Ph�, thống l�nh Lương-văn-Canh, Ph�n-văn-T�i sang trao Tuần Phủ Quảng-đ�ng.� Th�ng 4 năm sau, 1803, lại khởi h�nh từ Quảng Đ�ng.� Th�ng 8 đến Nhiệt-h� v�o yết kiến vua Nh�n-t�n, nh� Thanh để xin sắc phong cho họ Nguyễn.� Thanh-đế rất h�i l�ng, liền hạ lệnh cho �n s�t Quảng-t�y Trai-bố-S�m phụng sắc theo �ng để trở về kinh th�nh Thăng-long.� M�a xu�n năm sau 1804, cử h�nh lễ tuyển phong, �ng giữ tr�ch nhiệm th�ng dịch; lễ tuyển phong h�an th�nh, �ng lại hộ gi� vua Gia-long trở về Thuận-h�a, v� giữ chức Thượng-thư bộ Hộ như cũ �.

�ng c� hai con trai: 1) Quan l�m đến chức Lang-trung; 2) Cẩn lấy C�ng-ch�a l�m đến chức Đ� �y.��

Theo t�c giả Trần Văn Gi�p, trong quyển T�m Hiểu Kho S�ch H�n N�m, Nguồn Tư Liệu Văn Học Sử Học Việt Nam, Tập II, Nh� Xuất Bản Khoa Học X� Hội, H� Nội, 1990, trang 150, trong b�i tự của Cấn Trai thi tập, t�c giả Trịnh H�ai Đức �kể r� gốc t�ch v� l� lịch m�nh v� một số sự việc c� li�n quan đến lịch sử, như việc sứ bộ đầu ti�n của triều Nguyễn Gia Long sang triều Thanh �

�3. Quyển Việt-Hoa Th�ng Sứ Sử Lược của S�ng Bằng Bế L�ng Ngọan bi�n sọan, V�n Hạc L� Văn H�e san nhuận, Quốc Học Thư X� xuất bản tại H� Nộị năm 1943, nơi trang 48 c� ghi như sau:

�Năm T�n Dậu (1801) vua Gia Long l�n ng�i đổi t�n nước l� Việt Nam [Năm 1802, Nguyễn �nh mới lấy ni�n hiệu l� Gia Long, v� tự xưng t�n nước l� Đại Nam hay Nam Việt th� đ�ng hơn, ch� của người dịch] cũng sai sứ bộ gồm c� Thượng thư Trịnh H�ai Đức sung chức ch�nh sứ, Binh bộ tham-tri Ng� Nh�n Tĩnh, H�nh bộ tham tri H�ang Ngọc Uẩn sang Thanh Triều đệ quốc thư, phẩm vật v� đem nộp cả ấn s�ch của Trung Quốc phong vương cho vua T�y Sơn.

Năm gi�p t� (1804) nh� vua được �n s�t sứ Quảng t�y l� Tề bố-S�m Kh�m mạng vua Thanh nh�n T�ng (1796-1820) sang phong l�m Việt-nam quốc vương.� Lễ thụ phong cử h�nh rất long trọng ở Bắc-th�nh (H� Nội)�

 

f. Về tờ sớ xin cầu phong, quyển Notions d�Histoire d�Annam của hai �ng Charles B. Maybon v� Henri Russier, nơi c�c trang 124-125 c� ghi như sau:

� �Khi đ� lấy đượcc H� Nội rồi, th� sai sứ sang bắc Kinh, ch�nh sứ t�n l� Trịnh Ho�i Đức [c� k�m chữ H�n, ch� của ngư�i dịch] l� người đ� sọan ra s�ch Gia Định Th�nh Th�ng Ch�.� Ng�i t�u sang vua T�u để vua T�u biết rằng ng�i đ� đ�nh dẹp được cả nước Nam, v� xin vua T�u cho ph�p ng�i từ đ�y giở đi được sai sứ sang Bắc Kinh.� Sớ rằng:

�Thần, gục đầu xuống đất, tr�ng mong rằng H�ang Đế dủ (sai ch�nh tả, phải l� rủ, ch� của người dịch) l�ng tốt m� thương s�t đến, thần l� một nước chư hầu nhỏ của Đại Quốc, chỉ ước ao l�m thế n�o m� thấm được một ch�t ơn của H�ang đế ban cho.� Khi thần d�ng b�i sớ n�y sang H�ang-đế, th� mặt quay vế hướng Bắc, bụng thần tưởng nghĩ đến H�ang Đế, v� kh�i hương th� thơm bay ng�o ngạt.�

Vua Gia Kh�nh hạ chỉ cho quan �n tỉnh Quảng T�y sang phong vương cho đức Nguyễn �nh, v� ban cho ng�i một c�i ấn bằng bạc mạ v�ng, ở tr�n c� một con k� đ�.� Vua T�u hạ chỉ đặt t�n nước Nam l� Việt Nam.

Năm 1803, lại c� chỉ dụ T�u định rằng: nước Việt Nam cứ hai năm lại phải mang đồ sang cống một lần, v� cứ bốn năm lại phải sang trầu [sai ch�nh tả, phải l� chầu, ch� của người dịch] một lần.� Cũng một tờ chiếu ấy vua T�u định rằng đồ cống phải c� ng� voi, sừng t� g�ac, the lụa, cau v.v�

Cả đời đức Gia Long, ng�i vẫn cống hiến tử tế, m� c�c vua nối ng�i ng�i cũng theo như vậy, cho n�n nước Việt Nam v� nước T�u khi bấy giờ vẫn giao thiệp với nhau chẳng c� điều g� l�m ngăn trở sốt cả.�

 

g. Tức l� nước Việt của Việt Vương C�u Tiễn, với c�u chuyện về người đẹp lừng danh T�y Thi trong lịch sử Trung Hoa.

 

h. Về Triệu Đ� v� nước Nam Việt, quyển Notions d�Histoire d�Annam của hai t�c giả Charles B. Maybon v� Henri Russier, nơi trang 13-14 c� ghi như sau:

 

�Triệu Đ� [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] đặt t�n nước Nam Việt [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] v� đ�ng kẻ chợ ở Phi�n ngu [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], thuộc về phủ Quảng Ch�u [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] l� ch�nh chỗ gọi l� Canton v� l� tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Đ�ng [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] b�y giờ�

� Vua Triệu Đ� băng năm 137, thọ được 121 tuổi [?] v� trị v� được 71 năm.� Vua Triệu Đ� ch�nh l� một �ng vua đ� c� danh tiếng lớn m� cai trị nước Nam.� Song d�ng vua người đ� dựng n�n kh�ng kể được l� d�ng d�i người An-nam.

Vua nối ng�i �ng Triệu Đ� l� ch�u cả người, t�n gọi l� Hồ [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� �ng n�y trị v� được cả thẩy l� 12 năm (137-125) v� hiệu l� Triệu Văn Vương [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].

� Để tỏ rằng m�nh c� l�ng bi�t ơn Thi�n Tử [chỉ vua T�u], vua Văn Vương khi ấy muốn ngự sang cho đến Đế kinh, song c�c quan can lắm, th� người chỉ sai một �ng con t�n l� Anh Tề [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] đi th�i.

C�ch mười năm sau th� triều đ�nh rước �ng n�y về Nam Việt để nối ng�i cho cha vừa mới mất.� �ng n�y trị v� 12 năm: hiệu người l� Triệu Minh Vương [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� Trong khi người c�n ở như nước T�u, th� người c� lấy một người đ�n b� Tầu t�n l� C� [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], v� sinh hạ được một người con giai, đặt t�n l� H�ng [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� Đến khi l�n ng�i vua, th� t�n người vợ ấy l�n l�m H�ang hậu, v� lập người H�ng l�m Th�i Tử (năm 112).

Đến năm sau (năm 113), Triệu Minh Vương thăng h�, th� người H�ng nối ng�i.� B� mẹ người H�ng, trước khi lấy Anh Tề, th� đ� c� t�nh ri�ng mấy một �ng quan to Tầu, t�n l� Thiếu Qui [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� L�c bấy giờ lại ch�nh l� �ng quan T�u ấy m� Thi�n Tử chọn v� sai sang sứ, để vời vua mới về thụ phong.� H�ang th�i hậu khi ấy lại giao th�ng lại mấy Thiếu Qu�.

Đương l�c ấy, quan Th�i-ph� Lữ Gia [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] l� người quan d�n đang chuộng lắm.� Người kh�ng thuận để Việt Nam nội thuộc nước Tầu.� Đồng l�ng mấy những người muốn cho nước được tự lập, người mới mưu giết vua, giết b� H�ang th�i hậu, giết những quan sứ vua Tầu, v� t�n Kiến Đức [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], l� con vua Triệu Minh Vương mấy một b� phi người bản quốc.� Liền ngay năm ấy, quan tướng nươc Tầu t�n l� Lộ B�c Đức [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] đem qu�n tr�n sang Nam Việt, v� v�y ngay kẻ chợ.� Quan qu�n đ�ng kẻ chợ đều đầu h�ng, c�n vua th� phải chốn [sai ch�nh tả, phải l� trốn, ch� của người dịch] mấy Lữ Gia.� Song cẳng bao l�u, hai người điều bị bắt v� bị giết cả ��

 

i. Nỗi lo sợ của Trung Hoa đ� trở th�nh sự thực qua sự kiện ti�u biểu nhất l� việc chiếc ấn h�nh vu�ng, mỗi cạnh d�i 11 ph�n, bằng bạc mạ v�ng, nặng 5 kg 900, với nuốm h�nh lạc đ� của nh� Thanh ban cho vua Gia Long, khắc s�u chữ Việt Nam Quốc Vương chi ấn bằng cả chữ h�n cũng như kiểu chữ trine của M�n Thanh đ� bị Ph�p bắt trie6`u đ�nh ta đun chảy ở Huế khi k� Hiệp Địnhbảo hộ Patenotre, ng�y 6 th�ng 6 năm 1884.

V�i nhận x�t về th�i độ ngọai giao của vua Gia Long với nh� Thanh:

 

Bất kể đến c�c lời lẽ khi�m cung v� nghi thức b�y tỏ sự t�n k�nh, vua Gia Long đ� l�m cho nh� Thanh sửng sốt khi xin trở lại quốc hiệu Nam Việt, với sự nghi ngờ rằng ph�a Việt Nam c� tham vọng đ�i lại đất đai của c�c tỉnh Quảng Đ�ng v� Quảng T�y v� ch�nh Thanh Triều đ� b�y tỏ c�ng khai sự e ngại n�y, c�ng ra lệnh cho c�c quan lại đia phương của họ phải cảnh gi�c canh ph�ng bi�n giới.� T�m tư vua Gia Long ra sao l� điều m� vua nh� Thanh muốn biết, như lời một sắc dụ đ� ghi.� Ch�ng ta c� thể đưa ra một số yếu tố chung quanh vấn đề n�y để suy ngẫm:

1. Vua Gia Long khi đ� đứng đầu một nước Việt Nam thống nhất, với l�nh thổ mở rộng hơn bao giờ hết, sau gần ba trăm năm chia cắt v� chiến tranh, v� ở v�o tột đỉnh của quyền lực qu�n sự sau khi đ�nh bại nh� T�y Sơn.� Dưới thời Gia Long, Việt Nam đ� c� một hạm đội mạnh nhất Đ�ng Nam � v� Thanh Triều hầu như chưa c� một lực lượng hải qu�n n�o cả.� C�ng l�c đ� thế lực ch�nh trị n�i trị của nh� Thanh đang bắt đầu đi xuống.

2. Mới 10 năm trước đ� (1792), vua C�n Long nh� Thanh đ� đồng � cắt tỉnh Quảng T�y cho vua Quang Trung để chọn đất l�m kinh đ�.

3. C�c sứ thần ngoại giao của vua Gia Long như Trịnh Ho�i Đức, gốc ở Ph�c Kiến, Ng� Nh�n Tĩnh, gốc ở Quảng Đ�ng, đều l� những người theo nh� Minh chống lại nh� Thanh v� sang Việt Nam tỵ nạn.

4. Vua Gia Long đ� kh�ng ngần ngại tỏ r� th�i độ cứng rắn khi n�i l� nếu nh� Thanh kh�ng cấp nhận lời y�u cầu đổi qquốc hiệu của �ng th� ph�a Việt Nam sẽ kh�ng chịu thụ phong.

 

Một sự đối chiếu v� nghi�n cứu kỹ lưỡng hai bộ Thực Lục của Việt Nam v� Thanh triều về vấn đề thay đổi quốc hiệu Việt Nam hy vọng sẽ gi�p soi s�ng được �t nhiều kh�a cạnh lịch sử l� th� của giai đọan n�y./-

 

 

-------

 

Nguồn: Hideo Murarami, �VIET NAM� AND THE QUESTION OF CHINESE AGGRESSION, Journal of Southeast Asian Histories, Vol. 7, no. 2, September 1966, c�c trang 11-26.������������

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o ����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �

� 2007 gio-o

����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �����������

����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �����������

��

����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �����������

��������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �����������

���������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� �����������