HUGH CLIFFORD, C.M.G.

 

 

CHƯƠNG VI

 

NH�N VẬT FRANCIS GARNIER

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

Dưới đ�y l� bản dịch Chương VI trong quyển Further India, Being The Story of Exploration From The Earliest Times in Burma, Malaya, Siam and Indo-China, ấn ph�t bởi C�ng Ty xuất bản Frederick A. Stokes Company tai New York, năm 1904.� T�c giả, Hugh Clifford, từng l� Tr� Sứ Anh Quốc tại Perak, v� l� một nh� th�m hiểm đ� vẽ bản đồ đầu ti�n v�ng Trengganu, thuộc M� Lai ng�y nay.�

 

 

***

 

 

���� Trong những chương trước, sự hiểu biết thụ đắc được bởi người �u Ch�u về c�c v�ng đất miền đ�ng nam � Ch�u đ� được d�i t�m kể từ thửa ban đầu xa xưa nhất, tại h�n đảo Chryse (đảo V�ng) tưởng tượng, cho đến khoảng thế kỷ thứ mười bẩy, c�c bờ biển của to�n thể b�n đảo Đ�ng Dương rộng lớn đ� trở n�n quen thuộc đối với c�c nh� đia dư v� thương nh�n phương T�y.� Tương tự ch�ng ta đ� theo d�i sự tăng trưởng kiến thức về phần đất n�y của thế giới, v� những diến biến đ� g�p phần v�o sự tăng trưởng đ�, cho đến thế kỷ thứ mười ch�n, sự lan truyền ảnh hưởng của �u Ch�u tại Miến Điện, M� Lai, v� tại Nam Kỳ c�ng Căm Bốt đ� mở tung c�c c�nh cửa cho việc điều tra v� gi�p cho sự th�m hiểm khoa học v�ng Nội Địa (Hinterlands) th�nh một điều khả thi.� Địa h�nh khảo s�t giờ đ�y nằm trong tay, v� trong số tất cả c�c người đ� tham dự trong đ� v� đ� th�nh c�ng trong việc để lại t�n tưổi của họ một c�ch hiển h�ch tr�n bản đồ c�c v�ng đất đ�, Francis Garnier, người Ph�p, sĩ quan hải qu�n, nh� h�nh ch�nh thuộc địa, nh� th�m hiểm, một người vẽ địa đồ, người c� học thức v� kẻ mơ mộng c�c giấc mơ, c� lẽ l� nh�n vật đ�ng lưu � nhất.

 

���� Kh�ng c� phần n�o trong chương tr�nh hiện nay của t�i nhằm thử viết một tiểu sử về Francis Garnier; quan t�m của ch�ng ta l� về th�nh quả chứ kh�ng phải về t�nh t�nh của anh ta.� Song để c� thể đạt được một sự t�n thưởng ch�n thực về th�nh quả, ch�ng ta phải hiểu biết đ�i ch�t về t�nh kh� của anh ta.� Điểm then chốt sẽ được t�m thấy nơi dự tưởng x�y đắp mạnh mẽ của con người đ�, nơi khả năng của anh ta để hoạch định v� để tổ chức, trong năng lực kh�ng biết mệt mỏi của anh ta, về tinh thần cũng như thể chất, với một k�ch thước to lớn n�o đ� trong quan điểm v� nhiệt t�nh kh�ng t�n lụi, v� bởi thế, trong vẻ cao đẹp đ�ng k�nh của tinh thần.� Garnier sinh ra tại Saint-Etienne năm 1839, nhưng �ng đ� lớn l�n tại Montpellier kề cận biển cả, m� từ thuở ấu thơ đ� g�y ra trong anh ta một sự say đắm bao la.� Anh theo học tại trường cao đẳng hải qu�n tại Brest, nơi m� �ng đ� thi đậu ở thừ mười một trong số một trăm ứng vi�n tr�ng tuyển, v� từ đ� anh đ� phục vụ ch�nh quy theo đ�ng hạn định sau khi đ� đạt được điểm xuất sắc trong c�c kỳ thi [ra trường].� Ngay trước khi c� chuyến hải h�nh đầu ti�n với tư c�ch một sĩ quan hải qu�n, ch�ng ta c� được tia nh�n l�e s�ng đầu ti�n, v� theo t�i nghĩ, quan trọng nhất về nh�n vật Francis Garnier.� N� đ� đến từ một số l� thư chắc chắn mang n�t trẻ con, gửi cho một người bạn v� mặc d� c�c � kiến của anh ta c� phần n�o đụng chạm đến l�ng tự trọng d�n tộc của ch�ng ta, ch�ng c� thể dựng l�n h�nh ảnh của một thanh ni�n Ph�p thuộc loại xuất sắc nhất ở độ tuổi th�nh ni�n.� C� c�c sự th� lỗ v� phi l� trong mọi h�ng chữ.� C�c sự kiện v� sự tưởng tượng được chấp nhận qua tay lần nữa m� kh�ng c� sự điều tra hay khảo s�t, kh�ng c� thử nghiệm hay bằng cớ.� Y�u nước một c�ch nhiệt t�nh, Garnier bị nh�n nơi đ�y như l� nạn nh�n của l�ng th� gh�t vốn lu�n lu�n l� v�ng ven bi�n của t�nh y�u, v� sự phi l� trắng trợn của c�c lời luận tội l�m bộc lộ l� anh ta đ� ph�ng đại qu� lố nhằm khơi động bất kỳ điều g� ngoại trừ sự th�ch th�.� Tuy nhi�n, c�c bức thư của Garnier, được viết ở tuổi hai mươi, c� t�nh c�ch gi�o huấn.� Ch�ng biểu lộ t�n điều của l�ng o�n gh�t nước Anh (Anglophobia) trong đ�, đ�y l� điều đ�ng sợ, qu� nhiều thanh ni�n Ph�p đ� được dạy dỗ, v� mặc d� đ� c� cơ may để t�c giả c�c bức thư đ� sau n�y trong cuộc sống thu lượm đủ kinh nghiệm nhờ đ� điều chỉnh c�c cảm tưởng trước đ�y của m�nh, điều đ�ng buồn l� nhiều người kh�c, đ� thấm nhuần c�ng c�c � kiến như thế hồi trẻ, kh�ng bao giờ c� ho�n cảnh hay cơ hội để t�i duyệt v� sửa đổi ch�ng.� Sự bất thiện cảm cố hữu v� phi l� của một thiếu ni�n học sinh Anh Quốc b�nh thuờng đối với người Ph�p th� [cũng] mạnh mẽ, kh�ng thể phủ nhận được, nhưng n� l� một loại cảm t�nh ho�n t�an kh�c biệt với sự th� hận c� thể được nhận thấy nơi đ�y, khởi hứng cho c�c � kiến của Francis Garnier; v� một người Anh b�nh thường trong thời đại của ch�ng ta sẽ gạt bỏ c�c th�nh kiến như thế khi đứng tuổi c�ng với c�c sự việc kh�c của thủa c�n l� đứa trẻ.� Sự độc �c bừng s�i của l�ng th� hận dữ dội được biểu lộ trong c�c sự tr�ch dẫn kể sau kh�ng c� chỗ đứng trong ch�nh ch�ng ta, v� ri�ng sự kiện rằng ch�ng ta c� khuynh hướng cười khinh c�c sự đi�n cuồng như thế chắc chắn chỉ đổ th�m dầu v�o ngọn lửa.� Ch�nh sự lạnh l�ng gần như khinh thị của người Anh trước sự bất th�n thiện trong đ� m�nh l� đối tượng, v� sự v� khả năng trong việc đ�p lại bằng c�ng cảm t�nh như thế, đ� g�p phần lớn v�o t�nh trạng kh�ng được ưa chuộng của người Anh ở hải ngoại.

 

���� Nhưng sự đả k�ch của Garnier, bất kể đến l�ng th� hận rồ dại đối với nước Anh, bất kể t�nh chất trẻ con của n�, bất kể sự đi�n cuồng của n�, lại mang c�c dấu hiệu của c�c t�nh chất kh�c đ�ng qu� hơn.� Nơi đ�y c� sự nhiệt th�nh, c� sự lac quan, sự tự-tin vĩ đại, tham vọng bao la nu�i nấng tuổi trẻ v� sự thiếu kinh nghiệm, v� tr�n hết ch�ng ta nh�n Garnier trong t�nh chất đ� l�m anh ta trở n�n vĩ đại, như một người mơ tưởng c�c giấc mộng song l� một kẻ quyết t�m h�nh động để biến tưởng kiến của anh ta th�nh một h�nh th�i cụ thể.� Mục ti�u của anh ta kh�ng g� kh�c hơn l� sự ph� hủy trọn vẹn nước Anh, v� anh ta đ� hy vọng, để đạt được mục ti�u đ�, th�nh lập một li�n đo�n t�nh nguyện sẽ mang đến một sự triệt ti�u thiết tha mong ước.

 

���� �T�i n�i với bạn, � anh ta viết cho �ng Joseph Perre, một người suốt đời của anh ta, �rằng nếu c� c�c nh� sản xuất c� đủ tấm l�ng v� sự th�ng minh để hiến d�ng năng lực của m�nh l�m kiệt quệ một nước Anh Phản Thệ (Protestant England), -- những kẻ hiểu được r� r�ng c�c quyền lợi của nền văn minh v� của nước Ph�p để thu nhỏ nền thương mại v� ảnh hưởng của Anh Quốc, -- cũng sẽ c� những người trẻ c� đủ sự dũng cảm, năng lực, v� � ch� để l�m việc cho một mục ti�u c�n kh� khăn hơn thế.� Qu� l� tưởng ư, bạn sẽ cho l� như thế chăng?� Nhưng kh�ng phải l� điều bất khả đối với họ; v� mục ti�u n�y l� lật đổ n� [nước Anh, ch� của người dịch] một c�ch to�n diện v� x�a t�n n� ra khỏi h�ng ngũ c�c d�n tộc. �

 

���� �Điều m� t�m hồn trẻ trung v� hăng h�i c� kh�ng phải, trong những giờ ph�t kh�t khao c�i đẹp v� sự vĩ đại, l� việc động l�ng với một v�i tư tưởng cao qu�, với một số mục ti�u cao si�u v� bao la hay sao?� Điều m� thanh ni�n, kẻ trong sự c� độc của t�m hồn m�nh, đ� kh�ng mo ước c�c phương c�ch theo đ� anh ta c� thể đạt được vương miện thuần khiết v� rực rỡ của sự vinh quang, bao quanh đ�i l�ng m�y của c�c nh� b�c �i đ� trải qua đời sống trong tăm tối của c�c c�ng việc nhọc nhằn nhất nhằm cải thiện số phận của lo�i người hay sao?� Nhưng kh�ng bao l�u sự đảo đi�n của thế giới v� c�c quyền lợi �ch kỷ chi phối thế giới sẽ x�a tan đi sự sinh động của c�c ấn tượng n�y, l�m cho ch�ng t�n phai đi, khiến cho ch�ng bị l�ng qu�n, v� như thế, trở th�nh hiện tựợng, như được gọi, một kẻ thấy rằng m�nh mất đi c�c ảo tưởng v� c�c giấc mơ của tuổi trẻ.

 

���� �Những người t�i n�i với bạn kh�ng phải như thế.� � tưởng l�i cuốn họ l� � tưởng về nền văn minh n�i chung v� về sự t�i tạo lo�i người tại một số xứ sở n�o đ� n�i ri�ng.

 


Bản Đồ Further India 1840

 

 

�Nh�n xem nước Ph�p, nước trọng t�i của �u Ch�u, �p dụng ảnh hưởng của n� chỉ để nhằm cho hạnh ph�c v� cho sự cải thiện tinh thần của c�c d�n tộc.� H�y nh�n sự tỏa rộng của n� ra khắp mọi nơi, nơi m� c�c c�nh tay của n� thọc tới, c�c ph�c lợi v� nền văn� minh, b�nh định mọi sự rối loạn, h�a giải mọi mối bất h�a, khiến cho c�c d�n tộc hải ngoại lu�n lắng nghe giọng n�i nghi�m trang của n� khi sự việc trở n�n cần thiết để c�c người kh�c phải t�n trọng c�c quyền hạn của c�c người bị ngộ nhận.

 

���� �Giờ đ�y h�y nh�n nước Anh l�m kinh ngạc thế kỷ thứ mười chin bởi ảnh hưởng v� sự b�nh trướng của n�.� H�y đến Ấn Độ, thăm viếng xứ sở n�y đ� bị t�n ph� v� bần c�ng h�a bởi c�c sự cướp b�c của C�ng Ty Anh Quốc.� H�y nh�n c�c v�ng đất bị bỏ hoang, c�c kinh đ�o kh� cạn, người d�n bản xứ bị đối xử t�n nhẫn bởi một gong c�m l�m mất phẩm gi�, tước đoạt hầu hết mọi quyền hạn của thổ d�n v� c�ng d�n, v� tự vấn m�nh kh�ng hiểu đ�y c� phải l� xứ sở cổ xưa vốn từng l� trung t�m của nền văn minh � Ch�u, đ� nổi tiếng v� sự thịnh vượng, sự m�u mỡ v� v� uy thế của người d�n của n�.� Đ�y c� phải l� phần đất m� một d�n tộc văn minh phải đ�a bỡn đối với một sắc d�n bị đ�nh bại? �Nước Anh c� ho�n th�nh bổn phận m� ch�nh sự chinh phục đ� đặt l�n tr�n n� hay chưa?� H�y đi đến mọi nọi kh�c trong khắp c�c Thuộc Địa cũa Anh, v� bạn sẽ chỉ t�m thấy sự thống khổ, tuyệt vọng v� lao động cưỡng b�ch được thiết kế nhằm thỏa m�n một mẫu quốc tham lam v� độ.� H�y khảo s�t lịch sử hiện đại.� Ai l� kẻ kh�ng gờm tởm khi m� Nghị Viện ở Lu�n Đ�n tuy�n chiến với Trung Hoa bởi v� vị Ho�ng Đế của n� ngăn cấm thần d�n kh�ng được sử dụng nha phiến l� chất đang giết hại họ, h�nh vi được quyết định bởi sắc dụ l�m giảm thiểu một cuộc bu�n b�n trong đ� Anh Quốc giữ độc quyền v� c� lợi nhuận.� C� t�m hồn lương thiện n�o kh�ng lấy l�m phẫn nộ khi, lợi dụng trong một cung c�ch h�n mạt ưu thế về vũ khi, Anh Quốc đ� cưỡng �p H�ang Đế Trung Hoa phải thu hồi sắc dụ của m�nh, v� như thế chấp thuận việc đầu độc ba trăm triệu con người?� Nhưng vấn đề n�y đ� l�m g� cho Lu�n Đ�n?� N� c� được th�m �t triệu đồng.� T�i kh�ng n�i g� với bạn về vai tr� m� Nội C�c Anh đ� thủ v� hiện đ�ng tại � Đại Lợi, c�ng c�c sự sỉ nhục m� Ng�i Lord Palmerston [t�n thật l� Henry John Temple, 1784-1865, Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh, 1830-1851, hai lần l�m Thủ Tướng, 1855 đến 1865, nổi tiếng đối xử một c�ch cứng rắn với c�c ch�nh phủ ngoại quoc, được xem l� cha đẻ của ch�nh s�ch ngoại giao bằng thuyền vũ trang (gunboat diplomacy), vũ kh� ch�nh của việc b�nh trướng thuộc địa, ch� của người dịch] đ� kh�ng tiếc lời d�nh cho một người lớn tuổi t�c bạc!� Mọi sự bất c�ng trong ch�nh s�ch của Anh Quốc d�nh cho c�c kẻ kh�c đ� bị tố c�o một c�ch h�ng hồn bởi �ng de Montalembert tại Ph�p v� �ng Brownson tại Hợp Ch�ng Quốc, v� t�i giới thiệu họ với bạn [để t�m đọc].

 

���� �V� đ�y l� kết luận m� c�c thanh ni�n t�i đ� đề cập với bạn vừa đạt tới sau một cuộc khảo s�t về một t�nh trạng m� t�i chẳng thể n�o ph�c họa được cho bạn: đ�y ch�nh l� một xứ sở như thế, một bức tranh đ�ng gh� tởm của sự rối loạn v� sự v� lu�n l�, một cảnh tượng của mọi sự thống khổ, diễn trường của mọi tội �c g�y ra v� l�m hạ phẩm gi� nh�n loại, một xứ sở ph� hơi thở h�i thối l�n tr�n thế giới, một xứ sở m� Ch�nh Quyền B� Đạo Xảo Quyệt (Machiavellian Government) của n� mang đầy sự dối tr� v� h�n mạt trong ch�nh s�ch của n�, đ� l� nước Anh, n�i t�m v�o một từ, một l� nấu hỗn hợp bỉ ổi trong đ� sinh mạng của con người bị b�c lột để l�m lợi cho một thiểu số, trong đ�, để l�m gi�u cho hai triệu người cấu th�nh lớp qu� tộc v� Ch�nh Quyền Anh Quốc, một trăm năm mươi triệu con người đang v� m�i m�i phải đổ mồ hồi v� m�u của họ, để chỉ đối lấy sự thống khổ, niềm tuyệt vọng, v� sự h�i thối cho chiếc giường nằm nghỉ của họ, sống v� chết như c�c th� vật � rằng xứ sở n�y, t�i nghĩ, hiện phơi b�y ngay trong ch�nh thế kỷ thứ mười chin n�y sự triệt giảm nh�n phẩm tr�n một tầm mức qu� bao la, phải bị đặt dưới sự ngăn cấm của c�c d�n tộc sao cho một sự lạm dụng vũ lực kỳ qu�i như thể sẽ phải bị đ�nh chỉ.

 

���� �Những người thanh ni�n n�y đ� tự nhủ rằng �u Ch�u sẽ kh�ng bao giờ h�a b�nh hay an vui khi m� một con qu�i vật như thế vẫn c�n m�y động trong lồng ngực của n� v� ph� ra tr�n n� nọc độc, v� họ tự hiến th�n m�nh cho một nhiệm vụ, từ tốn, ki�n nhẫn, nhưng t�ch cực, nhiệm vụ lật đổ nước Anh!� Để tạo một sự l�i cuốn đối với c�c chủng tộc chưa được biết đến hay đối với sự phẫn nộ của lo�i người, đối với những kẻ kh�ng c� cứu c�nh r� rệt trong quan điểm, đối với những người m� năng lực cần một sự k�ch th�ch, họ hy vọng sẽ th�nh c�ng.� Chỉ c� một thủy thủ � � một sự tiếp cận ng�y thơ v� trẻ trung đầy th� vị với nhiệm vụ n�y! �� l� c� thể th�ng hiểu triệt để mọi cơ may th�nh c�ng của kế hoạch m� họ đ� sẵn s�ng để khởi sự thực hiện.

 

���� �C� thể ch�ng ta sẽ thất bại; nhưng ch�ng ta sẽ chết trong sự gắng sức, v� rằng điều m� một d�n tộc kh�ng d�m thử ho�n th�nh, �t nhất, ch�ng t�i sẽ c� sự vinh quang của việc đ� d�m thử th�ch.� Trời ơi! [Mon Dieu!, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] T�i biết ngay từ c�i nh�n đầu ti�n, c�ng việc t�o bạo n�y c� vẻ đi�n rồ.� Nước Anh, bạn sẽ n�i, l� một Pho Tượng Khổng Lồ (Colossus).� Đồng �, nhưng ch�n bức tượng bị rửa n�t.� Lắc n� v� n� sẽ sụp đổ.� Nước Anh đang bị nguyễn rủa khắp nơi, v� trong thời đại ch�ng ta c�ng luận tạo n�n v� đ�nh đổ c�c đế quốc.� Khi m� Tell [c� lẽ để chỉ William Tell, anh h�ng trong truyền thuyết muốn gi�nh độc lập cho Thụy Sĩ hồi đầu thế kỷ thứ 14, ch� của người dịch] v� hai chiến hữu của anh ta thề thốt trong b�ng tối l� sẽ mang lại sự tự do cho xứ sở của họ, toan t�nh n�y kh�ng mang vẻ đi�n rồ hay sao? Ch�ng ta, ch�ng ta mong muốn v�n hồi sự tự do cho thế giới, v� thế giới s� ở ph�a ch�ng ta, bởi n� đang r�n siết v� than thở dưới sự kiềm chế đau đớn, c�c sự x�m chiếm thường trực, m� c�i ổ của qu�n hải tặc v� thổ phỉ n�y, trở n�n h�ng mạnh, đang �p đặt tr�n thế giới v� tấn c�ng trong mọi dịp.�

 

 

Francis Garnier

 

���� Kh�ng thể tưởng tượng một bức thư như thế sẽ được viết từ ng�i b�t của một đứa trẻ Anh Quốc, v� sự tự h�o của d�n ở đảo của ch�ng ta quyến rũ ch�ng ta đến sự �m chỉ rằng một điều g� đ� giống như một tiềm thức của sự thua k�m chịu tr�ch nhiệm cho việc n�y v� cho c�c sự đả k�ch tương tự kh�c.� C� một sự ghi nhận gần như hoảng loạn trong việc t�i diễn tiếng k�n th�c qu�n Delenda est Carthage� Phải Ti�u Diệt Th�nh Carthage của ch�nh kh�ch Cato trẻ tuổi n�y [Delenda est Carthago: th�nh ngữ bằng tiếng La Tinh, được cho l� của ch�nh kh�ch La M� Cổ Thời l� Nguy�n L�o Cato (Cato The Elder). Trong c�ch d�ng hiện đại để chỉ chiến tranh to�n diện nhằm hủy diệt một đối tượng, ở đ�y muốn v� với Francis Garnier c�n trẻ tuổi v� lớn tiếng k�u gọi ti�u diệt Anh Quốc, ch� của người dịch] nhưng đ�ng sau sự kho�c l�c đ� xuất hiện một con người c� tư tưởng v� nhiệt t�nh, một con người c� thể suy tưởng c�c � đồ lớn lao, một kẻ kh�ng thối ch� v� c�c kh� khăn, v� ngay cả bởi điều bất khả, v� một kẻ, kh�ng h�i l�ng với việc mơ mộng, th�ch c� h�nh động tức thời, năng động v� quyết liệt.� Đ�y l� một Francis Garnier, v�o l�c trưởng th�nh chin chắn hơn, khi m� c�c sự đi�n rồ tự cao tự đại của tuổi trẻ đ� được gạt sang một b�n, v� c�c quyền lực v� quan điểm của an h ta đ� được thử th�ch qua kinh nghiệm đ� tạo th�nh c�ng tr�nh rực rỡ cho nước Ph�p v� cho khoa học tại C�c V�ng N�i Đia (Hinterlands) của Đ�ng Dương.� Điều đ�ng lấy l�m thỏa m�n, v� c� thể quy chiếu cho t�nh kh�ch quan v� tư, c�c năng lực quan s�t v� lương tri của Garnier, khi ở v�o một nhật kỳ sau n�y anh ta đến thăm viếng Ấn Độ, nước m� trong thời ni�n thiếu, thật đ�ng thương đến nỗi anh ta đ� phải viết một b�i, anh ta đ� gạt sang một b�n c�c th�nh kiến dự tưởng v� đ� viết như sau cho ch�nh quyền người Anh tại Hindustan.

 

���� �Nhờ ở thi�n t�i của Dupleix [tức Joseph Francois Dupleix, to�n quyền� khu Cơ Sở Ph�p (French Establishment) tại Ấn Độ hồi thế kỷ thứ 18, ch� củ người dịch], nước Ph�p đ� c� thể mơ ước về một thời kỳ gi�nh được quyền chủ tể tr�n t�an thể b�n đảo bao la v� gi�u c� n�y.� Nhưng một d�n tộc bền gan hơn v� may mắn hơn đ� thu gặt được những g� m� họ gieo trồng.� Anh Quốc sau hết đ� th�nh c�ng trong việc tạo lập từ Mũi Cape Comorin [c�n gọi l� Thị Trấn Kanyakumari, thuộc miền Nam Ấn Độ, ch� của người dịch] cho đến rặng Hy M� lạp Sơn một đế quốc thịnh đạt gồm hai trăm tri�u người.� Được dạy dỗ bởi những b�i học kh� khăn của kinh nghiệm đắt gi�, nước Anh đ� khởi sự một c�ch nghi�m chỉnh việc h�a giải nh�nh gi� l�o hơn trong chủng tộc của ch�ng ta với nh�nh �u Ch�u non trẻ hơn của n�.� C�c sự bận t�m thuần t�y về thương mại đ� nhường chỗ cho c�c suy tư về một sự tr�nh b�y cao cả hơn.� Sự chinh phục tinh thần đ� thay thế cho vật chất, tiến bước với ngọn đuốc khoa học trong tay, đang nỗ lực ph� tan c�c th�nh kiến, ti�u trừ c�c sự ngộ nhận, v� mời mọc kẻ thất trận hưởng thụ mọi lợi thế của một nền văn minh quảng đại.� Người ta chỉ c� thể ngưỡng mộ to�n bộ [ensemble, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] c�c cuộc nghi�n cứu v� c�c h�nh vi t� điểm cho c�c nỗ lực của ch�nh s�ch thực d�n của Anh Quốc.� C�c cuộc chinh phục ch�nh v� thế đ� được chứng minh l� một ph�c lợi cho kẻ đ� khuất phục trước họ v� cho to�n thể nh�n loại.� Ch�ng l� loại chinh phục duy nhất m� thời đại ch�ng ta thực mắt tr�ng thấy.�

 

���� Trong đọan văn n�y ch�ng ta lại bắt gặp nhi�t t�nh, l�ng y�u mến điều tốt lu�n lu�n l� n�t nổi bật của Francis Garnier, v� đối với những kẻ trong ch�ng ta hiểu biết về phương Đ�ng, phải nh�n nhận rằng một lần nữa sự suy tưởng m�nh liệt của anh ta v� khuynh hướng đắm� m�nh trong c�c sự mơ mộng khiến anh ta đ�nh gi� người d�n ch�ng ta [Anh Quốc] một c�ch n�o đ� cao hơn, như trước đ�y anh ta đ� đ�nh gi� họ một c�ch n�o đ� thấp hơn, gi� trị thường lệ.� Nếu nhiệm vụ ch�nh của Anh Quốc l� h�a giải c�c d�n tộc ở phương Đ�ng với c�c d�n tộc ở phương T�y, c�u hỏi c� thể được n�u l�n l� liệu n� c� ho�n th�nh được điều g� nhiều hơn một sự thất bại quảng đại v� huy ho�ng.� Tuy nhi�n, ch�ng ta cũng kh�ng ưa th�ch Francis Garnier k�m đi ch�t n�o, bởi khi �ng biến cải th�nh một kẻ ngưỡng mộ Anh Quốc, bản chất bốc đồng v� n�ng nảy đ� đem anh ta c�ch n�o đ� đi qu� c�c sự kiện dung tục v� đ� dẫn anh ta đến một số sự thậm xưng.� Ch�ng ta cũng kh�ng thể tr�nh khỏi việc bị mơn trớn khi ở một nhật kỳ sau n�y ch�ng ta t�m thấy kẻ trước đ�y th� gh�t nước Anh, kẻ c� h�ng ng�n bằng cớ chứng tỏ anh ta l� một đứa con �i quốc, trung th�nh v� đ�ng y�u của nước Ph�p, đ� kết h�n với một người vợ Anh Quốc, v� một lần nữa trong sự chua ch�t của t�m hồn, vang vọng một c�ch v� thức cảm t�nh của một Voltaire vĩ đại, �Thật l� một điều bất hạnh biết bao khi t�i kh�ng được sinh ra như một người Anh! Với họ t�i hẳn tức thời l� một kẻ c� quyền uy v� được t�n k�nh!� Tuy nhi�n như điều bất hạnh sẽ phải �m ấp lấy m�nh, t�i kh�ng thể quyết đ�an rằng t�i kh�ng c�n l� một người Ph�p nữa!�

 

���� Đ� l� c�u chuyện về con người c� c�c cuộc th�m hiểm ở b�n đảo Đ�ng Dương m� ch�ng ta sẽ khảo s�t giờ đ�y, nhưng trước khi bước qua phần n�y của chủ đề, ch�ng ta phải truy t�m c�ng ngắn gọn c�ng tốt lịch sử về sự li�n hệ của anh ta với c�c v�ng đất m� với n� t�n tuổi anh ta, bởi định mệnh, sẽ được nối kết một c�ch mật thiết biết bao.

 

���� V�o ng�y 9 th�ng Một, năm 1860, Garnier, khi đ� đang t�nh nguyện phục vụ trong cuộc viễn chinh hải qu�n sắp sửa trương buồm sang Trung Hoa, đ� rời Toulon l�n con t�u Duperr�, v� trong chuyến hải h�nh ra khơi đ� mang lại một điểm đặc sắc phơi b�y l�ng can đảm to lớn hơn b�nh thường.� V�o l�c 11 giờ đ�m ng�y 30 th�ng Năm, khi chiếc thuyền đang chạy ở tốc độ khoảng năm hải l� một giờ, v� trời đ�m th� tối đen, tiếng k�u cứu vang l�n cho hay rằng một người đ� rớt xuống biển từ s�n t�u.� Garnier tức thời ph�ng m�nh xuống biển, nắm lấy chiếc phao được n�m theo anh, d�ng phao để bơi đến thủy thủ đang bị chết đuối, v� đ� th�nh c�ng trong việc d�u đỡ người thủy thu/ cho đến khi một chiếc thuyền được hạ xuống từ chiếc t�u đ� may mắn gặp được anh ta v� người m� anh ta đ� cứu vớt.� H�nh vi thuộc loại n�y, được gợi hứng kh�ng phải từ cảm nghĩ d�ng hiến hay t�nh cảm c� nh�n cho người đang gặp hiểm nguy khủng khiếp, kh�ng ph�t sinh từ sự hăng m�u nơi b�i chiến, kh�ng thu h�t sự kh�ch lệ n�o từ sự t�n thưởng của kh�n giả, chứng tỏ sự sở đắc một quyết t�m, một l�ng can đảm vững chắc v� v� vị kỷ, [c�c t�nh chất] như thế chỉ được t�m thấy nơi c�c con người rất đặc biệt, v� mọi người sẽ đều đồng � rằng Garnier thật xứng đ�ng nhận sự thăng thưởng l�n cấp thiếu �y vốn đ� tức thời được trao cho anh như phần thưởng cho sự dũng cảm.� Đ�y l� cơ hội đầu ti�n của việc c�ng nhận c�ng trạng của anh ta, v� anh đ� nắm lấy n� trong một cung c�ch cao qu�.� Ph� Đ� Đốc Charnier tức thời tuyển anh v�o Bộ Tham Mưu của �ng, trong cương vị đ� anh ta đ� phục vụ trong suốt cuộc chiến tranh với Trung Hoa.

 

���� Trong th�ng Mười, 1860, hiệp ước h�a b�nh được k� kết tại Bắc Kinh, v� Ch�nh Phủ Ph�p sau hết đ� c� thể hướng sự ch� � của n� đến S�ig�n.� Địa điểm n�y đ� từng bị chiếm giữ bởi một li�n qu�n viễn chinh Ph�p � T�y Ban Nha hồi th�ng Hai năm 1859, cũng như đ� chiếm được hải cảng Đ� Nẵng (Turon), nhưng v� kh�ng c� đủ lực lượng đặt dưới sự điều động của c�c giới chức thẩm quyền trong cuộc chiến tranh với Trung Hoa, địa điểm sau đ� bị bỏ rơi hồi th�ng Ba năm 1860, v� sự triệt tho�i tức thời khơi dậy nơi d�n bản xứ Nam Kỳ niềm hy vọng rằng họ c� thể th�nh c�ng trong việc đ�nh đuổi người Ph�p.� Ho�ng Đế [Việt Nam] đ� ban bố một tuy�n c�o trong đ� �ng c� n�i:

 

���� �H�y xem ch�ng đ� rời đi, c�c kẻ tham lam v� độc �c n�y kh�ng c� cảm nghĩ n�o ngo�i sự xấu xa, kh�ng c� mục đ�ch n�o ngo�i lợi lộc đ� tiện!� Ch�ng đ� rời đi, c�c qu�n hải tặc n�y ăn thịt người, v� đ� may quần �o ch�ng bằng da của c�c người m� ch�ng đ� ăn thịt!� Bị đ�nh đuổi bởi qu�n sĩ dũng cảm của ch�ng ta, ch�ng đ� phải trốn chạy trong nhục nh�!�

 

���� Được kh�ch lệ như thế, c�c lực lượng của qu�n Nam Kỳ đ� bao v�y S�ig�n, bằng qu�n số �p đảo, th�nh phố S�ig�n khi đ� chỉ được tr� đ�ng bởi 800 qu�n, trong đ� một phần tư l� l�nh của T�y Ban Nha, với sự trợ lực của hai t�u hộ tống nhỏ (corvets) v� bốn t�u chuyển thư.� Trong th�ng Bẩy hai cuộc tấn c�ng v�o buổi tối đ� được thực hiện, nhưng lực lượng nhỏ hơn đ� đẩy lui ch�ng với sự hạ s�t đ�ng kể, v� sau cuộc t�n s�t đ�, mặc d� S�ig�n bị bao v�y một c�ch chặt chẽ, kh�ng nỗ lực c� t�nh c�ch quyết t�m n�o để chiếm lại n�.� Sự v� hiệu năng bẩm sinh của người Đ�ng Phương, hơn l� năng lực của c�c sắc d�n da trắng, đ� đưa đến sự chinh phục phương Đ�ng bởi khối T�y, đ� dẫn đến, như vẫn thường xảy ra như thế, sự tr� ho�n trong khi mọi việc đều t�y thuộc v�o việc kh�ng hoang ph� thời gian, v�o c�c cuộc thao diễn kh�ng mục đ�ch khi m� cơ may duy nhất để th�nh c�ng l� cần ph�t động một trận đ�nh quyết liệt.� Trong c�c th�ng m� lực lượng nhỏ hơn, ho�n to�n bị c� lập, v� kh�ng c� một viễn ảnh được trợ gi�p tức thời n�o, nằm chịu đựng b�n trong S�ig�n, số phận của Nam Kỳ đ� được định đoạt.� D�n ch�ng của n� đ� c� cơ hội của họ, m� c�c t�nh huống tổng gộp mang lại sự thuận lợi hiếm c�, v� thất bại trong việc nắm cơ may tương tự của sự th�nh c�ng sẽ kh�ng bao giờ lập lại một lần nữa.

 

���� Trong th�ng Hai năm 1861, Đ� Đốc Charnier, với Bộ Tham Mưu trong đ� Francis Garnier vẫn đang phục vụ, đ� tới S�ig�n với một lực lượng lớn gồm cả 230 qu�n T�y Ban Nha v� một đo�n qu�n ngươ� bản xứ theo đạo Thi�n Ch�a được tuyển mộ tại Đ� Nẵng.� Cuộc bao v�y được giải tỏa trong một cung c�ch chiến thắng, hơn một ng�n địch qu�n bị hạ s�t trong một cuộc giao chiến trong đ� Ph�p chỉ c� mười mạng bi giết v� 213 người bị thương, v� trong đ� Garnier đ� c� may mắn để l�m m�nh nổi bật l�n trong mắt nh�n của vi�n Đ� Đốc.� Anh ta hiện diện sau đ� trong việc đ�nh chiếm Mỹ Tho, v� đ� cảm thấy thỏa m�n được nh�n thấy c�ng việc thực sự của cuộc chin h phục đ� ho�n tất trước khi anh ta trở về Ph�p c�ng với Charnier trong th�ng Mười sau đ�.

 

���� Tại Ph�p anh ta cắm đầu v�o việc học, ch�nh yếu về c�c m�n lịch sử, địa l� v� khoa học, v� cho một nhiệm kỳ buồn tẻ của c�c c�ng việc thường lệ.� C�c kinh nghiệm mới đ�y chỉ l�m k�ch th�ch kh�t khao phi�u lưu; sự quyến rũ của phương Đ�ng đ� l�m say m� anh ta; sự huyền b� của những v�ng đất tr�n đ� chưa c� người da trắng n�o đặt ch�n tới từ thời khai thi�n lập địa nung nấu sự tưởng tượng của anh ta; l�ng ước muốn du h�nh g�y bức x�c trong anh ta, th�i th�c anh ta kh�n ngu�i.� Phản ứng của sự bất động cưỡng h�nh m� anh ta giờ đ�y bị bắt buộc tu�n h�nh l�m anh ta cảm thấy kh� chịu, c� vẻ l� sự hụt hẫng s�u thẳm nhất, sau c�c kinh nghiệm của những ng�y gian lao m� anh ta lấy l�m hứng th�.� �T�i đang ở v�ng Lower Brittany,� anh ta viết cho người bạn t�n Perre, �bận rộn cho việc huấn luyện c�c xạ thủ hải qu�n bẩy giờ mỗi ng�y, một nhiệm vụ ph�t triển sự th�ng minh của một người rất �t v� c�ng kh� l�m thỏa m�n t�m hồn người ta!�� Qu� buồn nản về cuộc sống m� giờ đ�y anh ta đang sống đến nỗi anh ta ph�t biểu, theo một cung c�ch trung thực của người Ph�p, về sự xuống thấp chung cuộc �số phận� của anh ta, v� c� vẻ c�n nghĩ đến việc rời khỏi binh chủng hải qu�n.

 

���� Tuy nhi�n, vi�n sĩ quan trẻ, đ� sẵn tạo được ảnh hưởng v� khi cuộc chinh phục Nam Kỳ được ho�n tất, v� bản Hiệp Ước th�ng S�u năm 1862 đ� được k� kết giữa Ph�p v� Triều Đ�nh Hu�, Garnier đ� được nhớ đến, v� nay được bổ nhiệm l�m thanh tra Bản Xứ Sự Vụ tại thuộc địa mới.� Theo bản Hiệp Ước n�y, c�c tỉnh Bi�n H�a, Gia Định (S�ig�n), Định Tường (Mỹ Tho) v� đảo C�n Sơn (Kondor) được nhường lại cho Ph�p; sự tự do h�nh đạo Thi�n Ch�a bởi mọi người muốn thừa nhận n� được ch�nh thức cho ph�p; c�c t�u chiến của Ph�p đưọc cấp quyền tiếp cận với s�ng Cửu Long, v� c�c thương gia Ph�p được cấp quyền mua b�n dọc bờ s�ng của n�.� Một khỏan bồi thường bốn triệu đ� la cũng được trả bởi Ho�ng Đế An Nam.

 

���� Garnier đến S�ig�n năm 1863, v� mặc d� anh h�y c�n l� một thanh ni�n ở tuổi hai mươi bốn, anh ta được bổ nhiệm phụ tr�ch v�ng Chợ Lớn (Cholen), một v�ng ngoại � của S�ig�n, Chức vụ của anh ta giờ đ�y ch�ng ta n�n gọi l� chức vụ của Quận Trưởng, mặc d� anh ta thiếu nh�n vi�n hơn cả c�c ch�nh quyền thiếu cấp số của ch�ng ta, v� c� vẻ đ� tổng gộp trong con người ri�ng của anh ta, c�c nhiệm vụ của nủa t� văn ph�ng.� Anh ta ch� trọng đặc biệt đến c�c c�ng tr�nh về c�ng ch�nh, v� sự cai trị của anh ta tr�n thị trấn nhỏ được ti�u biểu bởi năng lực, sự nhiệt th�nh v� sự tưởng tượng thể hiện tr�n mọi việc m� anh ta đảm nhận.� Anh ta sớm nhận thức rằng xứ sở nhường cho Ph�p kh�ng c� c�c bi�n giới thi�n nhi�n, v� rằng một sự b�nh trướng l�nh thổ l� một nhu cầu khẩn thiết cho c�c quyền lợi của t�n thuộc địa.� Quan điểm n�y anh ta đ� ph�t biểu nhiều lần trong cả c�c văn bản ri�ng tư hay ch�nh thức, v� mặc d� [đ� c�] một sứ đo�n An Nam sang Paris năm 1863 song kh�ng th�nh c�ng trong việc thuyết phục Ph�p từ bỏ c�c v�ng đất chinh phục của n�, Đ� Đốc de la Grandi�re, Thống Đốc Nam Kỳ, vẫn t�m c�ch trong năm 1867 để c� được cho ph�p s�p nhập cả Vĩnh Long, Sa Đ�c, Ch�u Đốc v� H� Ti�n.

 

���� Ch�nh trong l�c ở tại Chợ Lớn m� tư tưởng th�m hiểm cặn kẽ v�ng đất S�u Xa (Hinterland) của Đ�ng Dương lần đầu ti�n tự xuất hiện trước Francis Garnier như một dự �n x�c định.� Nước Ph�p giờ đ�y đ� thiết lập quyền chủ tể của n� tr�n đồng bằng s�ng Cửu Long � �Con S�ng Cả Của Mọi Con S�ng: Captain of all the Rivers�, như Linschoten đ� gọi n� � v� đối với Garnier, con người với sự tưởng tượng mạnh mẽ, gi�ng nước vĩ đại đ� chảy ra từ tr�i tim của tr�i đất, từ nơi n�o đ� kh�ng ai biết ch�nh x�c, đ� l� t�c nh�n n�u l�n một c�u đố phi thường.� Sự m� hoặc của V�ng Đất Chưa Biết Đến (Unknown), đối với những người m� n� kh�ng c� quyền lực bắt phải kinh sợ hay l�m thối ch�, c� lẽ l� một sức mạnh lớn hơn điều g� kh�c, v� với bản chất của Garnier n� c�n l�i cuốn nhiều hơn một sức sinh động b�nh thường.� L� một kẻ mơ tưởng c�c uớc mộng, anh ta nh�n thấy c�c dự kiến về một đế quốc gi�nh được cho nước Ph�p c� thể ngang bằng, nếu kh�ng n�i l� vượt qu�, đế quốc m� Clive [tức Robert Clive, hay Clive of India,� 1725-1774, c�ng với Warren Hastings l� c�c người Anh c� c�ng nhiều nhất trong việc tạo lập thuộc địa Ấn thuộc Anh.� Clive đ� tranh chấp với Dupleix, to�n quyền Ph�p về v�ng đất ph� nhi�u miền nam Ấn Độ, ch� của ngườ dịch] đ� thu đoạt được từ sự kiểm so�t của Dupleix; l� một ch�nh kh�ch c� khuynh hướng nghi�ng về việc khai triển c�c t�i nguy�n của c�c thuộc địa m� Ph�p đ� chinh phục xong, anh ta nghĩ c�ch t�m kiếm tại c�c v�ng thượng lưu của s�ng Cửu Long một con đường bu�n b�n hẳn sẽ l�m chuyển hướng c�ng cuộc thương mại của Đế Quốc Trung Hoa từ c�c hải cảng ven biển của ch�nh n� sang c�c hải cảng của Đ�ng Dương thuộc Ph�p; l� một con người của khoa học y�u mến kiến thức để mở rộng hiểu biết, anh ta khao kh�t để học hỏi c�c b� mật ẩn dấu thật th�m s�u kể từ thủa ban sơ bởi v�ng hoang dại chưa dấu ch�n người đ�.�� C�c văn thư ch�nh thức của anh ta bao gồm c�c đề nghị sớm nhất về cuộc th�m hiểm v�ng thung lũng s�ng Cửu Long, v� vấn đề đ� kh�ch động c�c sự lưu t�m của c�c giới chức thẩm quyền tại Ph�p v� tại địa phương.� Phải chờ m�i đến ng�y 1 th�ng S�u, 1866, c�c sự xướng xuất của �ng mới được chuyển th�nh h�nh động, v� khi đ� anh ta bị xem c�n l� thiếu th�m ni�n về tuổi t�c v� c�ng t�c để được ủy th�c l�m vị chỉ huy ch�nh cho cuộc th�m hiểm m� sự ph�t khởi c� được l� nhờ ở sự năng động v� dự kiến nhiều mộng tưởng của anh ta.

 

 


Doudart de Lagr�e

 

 

���� Sự l�nh đạo đo�n được giao ph� cho �ng Doudart de Lagr�e, một vị chi huy t�u chiến (post- captain) thuộc hải qu�n Ph�p, người khi đ� đang nắm giữ chức vụ quan trọng m� ch�ng ta phải gọi l� �Ph�i Vi�n Ch�nh Trị: Political Agent� tại Triều Đ�nh của Norodom, Vua xứ Căm Bốt, một chế độ bảo hộ tr�n xứ sở đ� được tuy�n c�o bởi nước Ph�p phần lớn như l� kết quả của ảnh hưởng m� ph�i vi�n của n� đ� thụ tạo được.� Garnier giữ vị tr� thứ� nh� trong hệ thống chỉ huy, v� anh ta được giao ph� c�c c�ng việc về địa dư, thi�n văn v� thời tiết của cuộc th�m hiểm.� Anh ta nhận được chỉ thị cần x�c định c�c vị tr� ch�nh x�c của mọi địa điểm quan trọng, thực hiện c�c cuộc thăm d� v� chứng thực t�nh khả dĩ hải h�nh của c�c gi�ng s�ng, ghi nhận c�c phương ti�n lưu th�ng được sử dụng bởi c�c bộ lạc bản xứ kh�c nhau, v� so s�nh c�c lợi điểm được đưa ra bởi đường s�ng v� c�c đường đất kề cận.� C�c th�nh vi�n kh�c của đo�n th�m hiểm l� �ng Thorel, một sĩ qu�n qu�n y hải qu�n, nh� thực vật học của đo�n; �ng Louis Delaporte, một thiếu �y hải qu�n, l� một họa sĩ sắc sảo; �ng Eugene Joubert, một sĩ quan qu�n y kh�c, một nh� địa chất học; v� �ng Louis de Carn�, một sĩ quan biệt ph�i sang Bộ Ngoại Giao, kẻ được lựa chọn l� nhờ c� quan hệ với To�n Quyền Đ�ng Dương.� De Lagr�e cũng mang theo một trung sĩ thủy qu�n lục chiến t�n Charbonnier, người n�i được tiếng Xi�m v� tiếng An Nam, một binh nh� thủy qu�n lục chiến v� hai thủy thủ.� Đ�an th�m hiểm c�n được th�p t�ng bởi một số c�c th�ng dịch vi�n bản xứ.

V�o ng�y 5 th�ng S�u năm 1866, một to�n nhỏ người da trắng rời S�ig�n cho h�nh tr�nh th�m hiểm c� tổ chức đầu ti�n được thực hiện bởi c�c người �u Ch�u tiến v�o c�c phần đất s�u xa hơn của Nội Địa chưa hề được biết đến, từ bờ biển của Đ�ng Hải./-

 

-----

Nguồn: Hugh Clifford, C. M. G., Further India, Being The Story of Exploration From The Earliest Times In Burma, Malaya, Siam and Indochina, New York: Frederick A. Stokes Company, 1904, Chương VI, c�c trang 129-144.������������������������������������������������

 

 

 

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH:

 

���� 1. T�c giả chương s�ch được dịch ở tr�n l� một vi�n chức cao cấp của ch�nh quyền thực d�n Anh Quốc tại thuộc địa M� Lai, đ� ngợi ca Francis Garnier, l� một sĩ quan hải qu�n Ph�p như l� một trong những nh�n vật đ�ng lưu y nhất đ� đ�ng g�p v�o sự thiết lập chế độ thực d�n Ph�p tại Đ�ng Dương.� Ở phần đầu t�c giả đ� tr�ch dẫn ch�nh lời của Francis Garnier khi c�n ở tuổi thanh ni�n hăng m�u, rất th� gh�t v� chỉ muốn ti�u diệt nước Anh qua c�c lời chỉ tr�ch thậm tệ d�nh cho ch�nh s�ch của Anh tại Ấn Độ v� Trung Hoa.� C�c sự đả k�ch nặng nề n�y được tr�ch dẫn cốt � l�m tăng th�m �gi� trị của sự t�n thưởng sau n�y của ch�nh Garnier d�nh cho nước Anh.� T�c giả cũng cho hay Francis Garnier đ� kết h�n với một người vợ gốc Anh.� Chương s�ch n�y l� c� thể được xem như một sự biện hộ ti�u biểu cho chế độ thực d�n m� người da trắng khối T�y đ� �p đặt tr�n phương Đ�ng hồi đầu thế kỷ thứ 20.

 

���� 2. Trong khi đ�, phản ứng ch�nh thức của người Ph�p đối với Francis Garnier lại c� t�nh c�ch đối nghịch.� Theo t�c giả Nguyễn Xu�n Thọ, trong quyển Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Ph�p Ở Việt Nam (1858-1897), xuất bản năm 1994 tại Hoa Kỳ v� Ph�p, nơi ch� th�ch số 12, trang 202, c� ghi như sau:

 

���� [Bắt đầu tr�ch] (12) Dupr� [Thống Đốc Nam Kỳ khi đ�, ch� của người dịch] xin cho Garnier thăng chức thiếu t� hải qu�n ng�y 21/11/1873, ng�y hắn ta chiếm th�nh H� Nội, nhưng nội c�c Broglie từ chối kh�ng truy thưởng thăng chức cho hắn, như �ng đ� đốc xin.� Vợ g�a của Garnier cũng đ� kh� khăn mới xin được một khoản trợ cấp.

 

���� Trong giới quan chứcc, người ta kể chuyện về Francis Garnier như �một g� phi�u lưu ồn �o v� nguy hiểm, một t�n l�nh v� kỷ luật.�

 

���� Th�ng 12/1875, khi h�i cốt của Francis Garnier được ch�n tại S�ig�n, �ng Đ� Đốc Dupr� đ� đi tới mức độ c�m c�c sĩ quan kh�ng cho đi đ�m tang của hắn. [hết tr�ch]

 

���� 3. T�c giả Đ�o Đăng Vỹ, trong quyển Nguyễn Tri Phương, Nhất Gia Tam Kiệt, do nh� xuất bản H. T. Kelton ấn h�nh tại Sunnyvale, California, Hoa Kỳ, kh�ng ghi nhật kỳ xuất bản, nơi c�c trang 218-220 c� ghi nhu sau:

 

���� [Bắt đầu tr�ch] H� Nội v� c�c tỉnh được trả lại. � Tin lấy th�nh H� Nội, rồi tin Garnier chết l�m n�o động ch�nh giới Paris.� Ch�nh phủ Ph�p đ�nh điện cấm Dupr� kh�ng được l�m rắc rối ở Bắc Kỳ v� g�y sự với Triều Đ�nh Huế.� Ch�nh Dupr� tuy trong th�m t�m cũng muốn lấy Bắc Kỳ nhưng kh�ng muốn l�m t�o bạo v� ồn �o như bọn Garnier đ� l�m, v� việc cần nhất cho �ng trước khi hết nhiệm kỳ ở S�ig�n l� l�m sao k� được một hiệp ước với Triều Đ�nh Huế để ổn định t�nh thế ở Nam Kỳ v� mở giao thương ở Bắc Kỳ.� Sau c�i chết của Garnier v� sự khiển tr�ch của Paris, �ng ta hoảng hốt muốn d�n xếp ch�ng y�n chuyện v� kh�ng g�y hấn với người Nam th�m nữa.� �ng muốn gởi người ra gi�n xếp tại Huế v� H� Nội.� Người ấy kh�ng ai kh�c hơn Đại �y Philastre, (Philastre từ khi mới đến Nam Kỳ đ� học tiếng Việt v� chữ H�n rất th�ng thạo.� V� vậy �ng rất am tường văn h�a Đ�ng Phương v� lễ nghĩa Đ�ng Phương v� kh�ng th�ch lối đối xử ngang ngược v� t�o bạo của người da trắng đối với người bản xứ.� �ng th�n thiện với người Nam v� bạn đồng nghiệp của �ng đ� gh�t v� nghi kỵ �ng) Thanh Tra h�nh ch�nh tại So�i phủ v� năm 1873 �ng cầm đầu việc thống so�i h�nh vụ.� Philastre c� tiếng l� th�n với người Nam v� c� thể n�i cho Triều Đ�nh tin lời được.� Dupr� gọi Philastre đến v� than thở:

 

���� �Với những lệnh r� r�ng như thế, l�m sao t�i c� thể x�m chiếm Bắc kỳ được? T�i kh�ng tr�ch nhiệm g� về những việc đ� xảy ra tr�n s�ng Hồng H�.� Garnier đ� vượt qu� quyền hạn của anh ta; t�i chẳng l�c n�o cho ph�p anh ta d�ng bạo lực, anh ta l�m t�i nguy mất � T�i l� người hỏng rồi, v� chỉ c� anh mới cứu t�i được th�i.�

 

 

qu�n Ph�p tấn c�ng Cửa Nam th�nh H� Nội, ng�y 20 th�ng 11 năm 1873

 

 

���� Ngay l�c đ� th� c�c sứ thần của Huế vừa v�o đến S�ig�n.� Mấy vị n�y cho �ng hay l� Triều đ�nh Huế sẵn s�ng k� hiệp ước theo c�c điều kiện So�i phủ đ� đ�i hỏi, nhưng những vụ bạo động ở Bắc-Kỳ đ� l�m hỏng hết mọi việc.� Vậy �ng phải cho trả mấy tỉnh do Garnier chiếm th� mọi việc sẽ thanh thỏa ngay. Dupr� đồng � v� cho Philastre c�ng đi với Ph� sứ Nguyễn Văn Tường ra H� Nội điều đ�nh c�ng chuy�n.� Hai người đến Hải Ph�ng ng�y 24-12-1873, ng�y 29-12 họ đến Hải Dương.� Philastre truyền lệnh trả tỉnh n�y lại cho quan chức người Nam, �ng cũng ra lệnh trả lu�n Nam Định v� Ninh B�nh.� Ng�y 2-1-1874, �ng truyền lệnh cho qu�n Ph�p phải r�t đi trong v�i ng�y v� trả lại th�nh Hải Dương.� Nhiều s� quan đang giữ c�c th�nh chiếm đựợc phản đối v� cho l� Philastre đang ph� hoại c�ng tr�nh vĩ đại m� Garnier v� bọn họ đ� thực hiện được.� Philastre trả lời l� Garnier chỉ l� t�n cướp.� Bọn kia kh�ng chịu, bảo �ng ta: thế th� ở Nam Kỳ, ch�ng ta cũng l� ăn cướp hay sao?� Philastre thẳng thắn trả lời: Nous sommes en Cochinchine des brigands et des voleurs.� Les Annamites sont chez eux: les envahisseurs c�est nous � Garnier, mais c�est un forban et un pirate qui serait pass� en Conseil de guerre s�il n��tait pas mort.� (Ở Nam Kỳ, ta l� những t�n ăn cướp, những t�n ăn trộm.� Người Nam ở tr�n xứ sở họ: bọn x�m lăng l� ch�ng ta � Garnier, đ� l� một t�n hải tặc, một t�n hải khấu c� thể đ� bị xử ở t�a �n qu�n sự nếu anh ta kh�ng chết)�[hết tr�ch] [In đậm để l�m nổi bật bởi người dịch].

 

���� 4. T�c giả L�ng Nh�n, trong quyển Giai Thoại L�ng Nho, Nam Chi T�ng Thư xuất bản tại S�ig�n, năm 1966, c� ghi lại b�i Văn Tế Francis Garnier của cụ Tam Nguy�n Y�n Đỗ Nguyễn Khuyến, phản ảnh �t nhiều cảm nghĩ của lớp sĩ phu Việt Nam đương thời đối với Garnier, nơi c�c trang 464-465 như sau:

 

���� [Bắt đầu tr�ch] Năm 1873, sau khi Francis Garnier bị qu�n Cờ Đen giết, triều đ�nh nghị h�a với Ph�p, c�c quan ta ở H� Nội muốn g�y một ho�n cảnh thuận tiện cho việc giải h�a, b�n tổ chức lễ truy điệu vi�n sĩ quan tử trận.� Tổng Đốc H� Nội Trần Đ�nh T�c cử Y�n Đỗ l�m một văn tế.� �ng viết mấy c�u như sau:

 

����

Nhớ �ng xưa:

���� T�c �ng quăn, -- Mũi �ng l�

���� �ng ở b�n T�y ngang t�ng. � �ng sang b�n Nam bảo hộ.

���� Quan �ng to, �ng c� lon v�ng đeo tay; -- C�ng �ng cao, �ng c� mề đay đeo cổ.

���� Mắt �ng chiếu k�nh thi�n l�, đ�t �ng cưỡi lừa � Vai �ng đeo s�ng lục li�n, miệng �ng hu�t ch�.

���� Th�ng �.. ng�y hai �.. �ng ở huyện Thụy Anh,

���� Th�ng �.. ng�y mồng �.. �ng sang Thi�n B�nh phủ.

���� �ng: định giết thằng Đen, -- để y�n con đỏ,

���� N�o ngờ: N� ch�m đầu �ng đi � n� b�u m�nh �ng đ�.

���� Khốn nạn th�n �ng � Đ ..� mẹ cha n�.

 

���� Nay t�i:

���� V�ng mệnh c�c quan � Tế �ng một cỗ

���� X�i một m�m � Rượu một hũ

���� Chuối một buồng � Trứng một ổ

���� �ng ăn cho no � �ng uống cho đủ

���� Hồn �ng l�n Thi�n Đường � Ph�ch �ng v�o địa hộ

���� �ng ơi l� �ng � N�i c�ng th�m hổ!

 

���� Sở dĩ lời văn mỉa mai đến sỗ s�ng m� kh�ng ai �h�t� với T�y, v� bấy giờ T�y c�n ở trong l�c mua chuộc l�ng d�n, m� Y�n Đỗ th� lại l� bậc đại khoa c� uy t�n trong quần ch�ng, kh�ng ai d�m đ� động đến.� Vả chăng những lối tr�o lộng như đ�t đối với miệng (đ�t cưỡi lừa, miệng hu�t ch�), người Ph�p đ�u c� hiểu lắt l�o như ta, d� c� người dịch ra tiếng Ph�p! Tuy vậy mặc l�ng, b�i văn tế n�y c�c quan cũng kh�ng cho đọc, chỉ được phổ biến bằng khẩu truyền. [hết tr�ch]./-

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

 

 

www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� 2008 gio-o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

����

 

� ����������