HUGH CLIFFORD, C.M.G.

 

 

CHƯƠNG XII

 

CUỘC TH�M HIỂM XA HƠN VỀ XI�M LA,

Đ�NG DƯƠNG THUỘC PH�P V�

B�N ĐẢO M� LAI

 

Ng� Bắc dịch

 

 

 

Lời người dịch:

 

Dưới đ�y l� bản dịch Chương XII trong quyển Further India, Being The Story of Exploration From The Earliest Times in Burma, Malaya, Siam and Indo-China, ấn ph�t bởi C�ng Ty xuất bản Frederick A. Stokes Company tại New York, năm 1904.  T�c giả, Hugh Clifford, từng l� Tr� Sứ Anh Quốc tại Perak, v� l� một nh� th�m hiểm đ� vẽ bản đồ đầu ti�n v�ng Trengganu, thuộc M� Lai ng�y nay.  V� thế, b�i viết phản ảnh quan điểm của một vi�n chức da trắng, c� thẩm quyền trong ch�nh quyền thực d�n tại v�ng Đ�ng Nam � hồi cuối thế kỷ thứ mười ch�n, như được c� đọng nơi phần kết luận của Chương s�ch n�y:

 

�Trong mọi trường hợp ưu thế của người �u Ch�u hay tầm mức ảnh hưởng của �u Ch�u, bất luận trong l�nh vực ch�nh trị hay tư tưởng, đ� l� kh�c dạo mở đầu cần thiết cho sự thăng tiến kiến thức.  C�c v�ng đất trong b�i viết l� qu� hương của c�c người da n�u hay da v�ng, nhưng trong mọi trường hợp. c�ng tr�nh địa dư thực hiện tại đ� đ� được gợi �, nếu kh�ng n�i l� đ� được thi h�nh thực sự, bởi ri�ng người �u Ch�u m� th�i.  Khoa học, trong một thời khoảng, l� sự sở đắc độc quyền của c�c chủng tộc da trắng, ��

 

***

 

Sự hiểu biết tương đối ngh�o n�n thụ đắc được bởi người �u Ch�u li�n quan đến địa l� của Xi�m La cho đến giữa thế kỷ trước [thế kỷ thứ 18, ch� của người dịch] được ti�u biểu r� rệt bởi b�i viết về đề t�i đọc trước Hội Đia Dư Ho�ng Gia [Anh quốcc] (Royal Geographical Society) tại London h�m 10 th�ng 12 năm 1855, bởi �ng, sau n�y l� Ng�i (Sir) Harry Parkes, khi đ� đang nắm giữ chức vụ L�nh Sự Anh tại Bangkok.� C�c bản đồ trắc địa duy nhất về xứ sở đ� được cung cấp khi đ�, theo lời �ng, l� những bản đồ đ� được lập ra trong diễn tiến c�c cuộc du khảo chuy�n m�n bởi Tiến Sĩ S. R. House v� c�c t�n đồ của �ng thuộc c�c Ph�i Bộ [Truyền Gi�o] Hoa Kỳ.� C�c cuộc du khảo n�y lu�n lu�n được thực hiện bằng thuyền, v� c�c sự trắc địa được thực hiện bởi hệ thống c� phần hơi sơ s�i được gọi l� �dụng cụ bấm giờ v� địa b�n [?]� (time and compass).� Bản đồ nhờ thế đ� được bi�n tập, tuy thế đ� chứa đựng, như lời Ng�i Harry Parkes, �tất cả c�c th�ng tin địa dư ch�n thực ch�ng ta c� được về phần quan trọng nhất của l�nh địa Xi�m La, v�ng thung lũng bao la của s�ng Menam�.� Song khi ch�ng ta tiến đến việc khảo s�t n�, khu vực được ph�n định một c�ch rất ngh�o n�n v� bị hạn chế.� N� chỉ bao gồm nhiều nhất la hai vĩ độ, v� chỉ �m lấy c�c v�ng thung lũng hạ lưu c�c s�ng Menam v� Meklong [cũng l� s�ng Cửu Long?, ch� của người dịch]�� Gi�m Mục Pallegoix, người c� c�ng tr�nh quan trọng về nước Xi�m La được ấn h�nh năm 1852, đ� x�m nhập phần n�o s�u hơn v�o trong nội địa, mặc d� Ng�i Harry Parkes tin rằng c�c cuộc th�m hiểm của gi�m mục chỉ nới rộng theo s�ng Menam đến v�ng Pakprian, khoảng 30 dậm kể từ điểm m� sự khảo s�t trắc địa của Hoa Kỳ chấm dứt, tr�n gi�ng s�ng Meklong cho một khỏang c�ch độ 120 dậm kể từ nơi ph�t nguy�n của n�, v� tr�n gi�ng s�ng Tachin, tới m�i tận Supanburi, khoảng độ 180 dậm kể từ nơi con s�ng đổ nước ra (outfall).� Phần c�n lại, pha6`n thuộc vĩ độ chạy qua Ayuthia, cố đ� của Xi�m, v� Lopburi, một thị trấn ngược gi�ng xa hơn tr�n thung lũng s�ng Menam, đ� được ph�c thảo bởi Thuyền Trưởng Davis, người chỉ huy một chiếc t�u bu�n, đ� th�p t�ng Quốc Vương đến c�c địa điểm n�y khoảng một hay hai năm trước thời điểm c� cuộc n�i chuyện của �ng Parkes.�

 

���� C�c th�ng tin về địa h�nh v� thống k� về Xi�m La, mặc d� chỉ mang t�nh chất tương đối ch�nh x�c, tuy thế, kh�ng thiếu s�t.� C�c thương nh�n v� c�c gi�o sĩ truyền đạo giờ đ� đang cư ngụ tại Xi�m La với nh�n số kh� đ�ng đảo, v� trong năm 1852, Frederick Arthur Neale, một người Anh từng sống nhiều năm tại Xi�m La, đ� ấn h�nh một t�c phẩm về xứ sở n�y.� Sự hiểu biết c� nh�n của �ng về Xi�m La kh�ng c� vẻ l� đi xa hơn một �t trung t�m mậu dịch, v� trong c�ng năm đ� c�ng tr�nh quan trọng hơn nhiều của Gi�m mục Pallegoix đ� được xuất bản.� C�c gi�o sĩ truyền đạo C�ng Gi�o La M� tại Đ�ng Nam � đ� l�m đ�ng như lời tuy�n bố của họ l� họ sẽ được nh�n như nằm trong số c�c người phi�u lưu nhất trong h�ng gi�o sĩ, v� Pallegoix, với vị thế của �ng l� người đứng đầu tố chức truyền gi�o tại Xi�m La v� từ sự hiểu biết s�u sắc của �ng về người d�n bản xứ v� về ng�n ngữ của họ, đ� c� thể thu thập một khối lượng đ�ng kể c�c th�ng tin đ�ng tin cậy li�n quan đến Xi�m La v� cư d�n của n�.� Quyển s�ch của �ng, ch�nh v� thế, tượng trưng, đến nay, sự đ�ng g�p quan trọng nhất v�o kiến thức của �u Ch�u về Xi�m La được c�ng bố khi đ�.� N�i chung, t�c phẩm c� sự chuẩn x�c tuyệt vời, v� cho đ�n ngay b�y giờ, n� được xếp hạng như một t�c phẩm ti�u chuẩn về nước Xi�m La nửa thế kỷ trước.� �ng đ� hay biết, ch�nh yếu xuy�n qua c�c b�o c�o bản xứ, danh hiệu v� vị trị tương đối của tất cả c�c tỉnh của Xi�m La; �ng đ� m� tả từng tỉnh n�y với khối lượng kh� lớn c�c chi tiết, từ Chieng Mai nằm b�n s�ng Meping, v� Luang Prabang nằm b�n s�ng Cửu long, cho đến c�c Vương Quốc M� Lai nằm tr�n B�n Đảo; v� sự ước lượng của �ng vể tổng số d�n cư của xứ sở đ�, 6,000,000 người, v� sự ph�n chia giữa c�c chủng tộc, th� kh� ch�nh x�c cho đến mức c� thể ph�n đ�an giờ đ�y.� Về s�ng Cửu Long, �ng kh�ng c� c�c sự hiểu biết c� nh�n, v� �ng chỉ lập lại tin tức được cung cấp cho �ng bởi người d�n bản xứ, nhưng �ng thụ đắc được một � tưởng kh� đ�ng về k�ch thước của n� v� về chiều nước m� n� chảy từ Luang Prabang xuy�n qua nước L�o.

 

���� Trong năm 1855 Sir John Bowring được ph�i tới Bangkok trong một ph�i bộ đặc biệt, v� trong bản tường thuật được c�ng bố của �ng về cuộc thăm viếng một khối lượng th�ng tin đ�ng kể được phổ biến li�n quan đến lịch sử đ� qua của nước Xi�m La v� c�c quan hệ của Xi�m La với khối T�y.� Tuy nhi�n, Bowring đ� kh�ng c� cơ hội để bố t�c về mặt tư liệu cho c�c sự kiện đ� được thu thập bởi c�c người đi trước �ng.

 

���� Trong năm 1856, �ng D. O. King quay trở lại Bangkok sau gần một năm sống tại Miền Đ�ng Xi�m La v� tại Kambodia (Căm bốt).� �ng đ� đi ngược, từ Bangkok, l�n v�ng Bang Pa Kong đến Pachim v� Muong Kabin, v� từ đ�, đ� tiến bước tr�n một �qu�n lộ� (military road) vốn được kiến tạo năm v� hai muơi năm trước, đến con s�ng Tasawai River.� �ng đ� trải qua một thời gian tại Batambang, v� từ đ� đ� đi thăm viếng Chantabun v� đến c�c mỏ v�ng tọa lạc giữa Batambang v� thung lũng s�ng Menam.� Rời Batambang, �ng đ� đi v�ng hết bờ hồ của biển hồ vĩ đại Tonle Sap, thăm viếng Siem Reap v� Angkor (v�ng m� �ng đ�nh vần l� �Nakon�, kế đ�, đi theo phụ lưu từ biển hồ xuống Udong v� Pnom Penh.� Từ đ�, �ng sau hết xuy�n qua Nam Kỳ (Cochinchina) để ra tới biển.� �ng kh�ng l�m c�c sự khảo s�t trắc địa, v� sự tường thuật của �ng về cuộc du h�nh của m�nh, được viết theo một văn phong kh�ng c� g� để giới thiệu n� với độc giả, một c�ch kh� kỳ lạ đ� kh�ng mang lại sự ch� � n�o cả.� Trong năm 1859 c�c phế t�ch tại Đế Thi�n Đế Th�ch (Angkor) được thăm viếng v� m� tả bởi Tiến Sĩ James Campbell, một sĩ quan qu�n y của Hải Qu�n Ho�ng Gia [Anh].

 

���� Trong năm trước đ�, Henri Mouhot, người c� c�u chuyện về c�c cuộc l�ng du v� c�i chết gần Luang Prabang vốn đ� được kể lại trong một chương trước đ�y, đ� đặt ch�n tới Xi�m La, v� giữa thời gian đ� v� năm 1861, đ� th�m hiểm v�ng thung lũng hạ lưu s�ng Menam, phần lớn v�ng Chantabun v� Batambang, hồ Tonle Sap v� v�ng l�n cận hồ, c�c phế t�ch của Angkor, nhiều v�ng đồi n�i của Kambodia được cư� tr� bởi c�c bộ lạc sơ khai, v� sau hết con đường đất nằm giữa Korat v� Luang Prabang.� Mouhot, như ch�ng ta đ� thấy, đ� kh�ng sống s�t để sửa chữa c�c bản ghi ch�p của ch�nh �ng, c�c vĩ độ của �ng kh�ng ch�nh x�c, c�c dụng cụ của �ng bị hư hại trong cuộc du h�nh tr�n con đường đất gồ ghề từ s�ng Menam đến s�ng Mekong.� Ch�nh v� thế �ng bị tước đoạt mất c�c th�nh quả tốt đẹp nhất của c�ng tr�nh kh� nhọc l�m �ng mất đi sinh mạng; nhưng, d� sao chăng nữa, Henri Mouhot thuộc v�o lớp người xuất ch�ng, cho đến nay, được nh�n nhận l� người da trắng đầu ti�n đi xuy�n qua v�ng đất nằm giữa Korat v� Luang Prabang, v� t�c phẩm th� vị của �ng, quyển s�ch mang n�t đa sầu đa cảm s�u đậm, đ� chiếu rọi �nh s�ng tr�n v�ng cho đến giờ n�y vẫn c�n l� một trong những khu vực u tối tr�n tr�i đất.

 

���� Tuy nhi�n, gần hai mươi năm trước thời điểm của Mouhot, một c�ng việc tương tự đ� được cung cấp cho c�c quận huyện ph�a tr�n của miền t�y nước Xi�m La bởi �ng Richardson, l� kẻ, ngo�i việc đ�ng giữ vai tr� đ� sẵn được tr�nh b�y trong lịch sử c�c cuộc th�m hiểm tại Miến Điện, đ� lần bước tr�n con đường đất từ Maulmain đến Bangkok.� Như thường lệ, �ng được ủy th�c cho một c�ng t�c thương mại, v� �ng đ� rời Maulmain bằng thuyền hồi th�ng 12, năm 1838.� V�o �t ng�y sau đ�, �ng đ� đổi c�c thuyền để đi bằng voi, v� theo con s�ng Zimi ngược l�n v�ng đồi n�i.� Sự vươn d�i của c�c đồi n�i n�y xuống ph�a nam, như c� thể nhận thấy, tạo th�nh rặng n�i, y như n� hiện ra, l� xương sống của B�n Đảo M� Lai.� Đường đi th� kh� khăn, v�ng đất được cư tr� thưa thớt bởi c�c bộ lạc th� lỗ, v� mưa đổ kh�ng ngớt, nhưng �ng len lỏi t�m đường xuy�n qua v�ng cao nguy�n với sự gan l� cố hữu của m�nh, v� v�o ng�y 14 th�ng 1 năm 1839, thấy m�nh đứng tr�n bờ ph�a đ�ng sau một cuộc h�nh tr�nh năm hay s�u ng�y đến Tavoi, như c�c người Karens vẫn đi lại�.� Từ địa điểm n�y, �ng bước xuống thấp tiến v�o thung lũng s�ng Meklong, đến v�ng Kanaburi v�o ng�y 25 th�ng 1, v� xu�i gi�ng s�ng từ địa điểm đ�, băng ngang qua s�ng Menam, m� ở một v�i khỏang c�ch dưới đ�, �ng vươn tới được Bangkok.� Trong cuộc h�nh tr�nh, �ng c� được một � tưởng tổng qu�t kh� tốt về hệ thống n�i đồi nằm giữa Tenasserim v� Xi�m La, bố t�c cho c�c th�ng tin khi đ� đang được lưu h�nh về con s�ng Meklong v� c�c phụ lưu của n�, nhưng mặt kh�c kh�ng đạt được kết quả v� c�ng quan trọng n�o; bởi c�ng t�c thương mại của �ng kh�ng dẫn dắt tới đ�u.� C�c n�i đồi với c�c cư d�n man dại l�m hiện ra một r�o cản nghi�m trọng cho việc mua b�n giữa Xi�m La v� v�ng Tenasserim.

 

���� Năm 1859, Sir Robert Schomburgk, P. R. S., trong nhiệm kỳ đảm nhận chức vụ L�nh Sự Anh tại Bangkok, đ� thực hiện một h�nh tr�nh d�i v� gian khổ, tuy nhi�n �ng chỉ để lại cho ch�ng ta một t�i liệu ghi ch�p sơ s�i.� Khởi h�nh từ Bangkok ng�y 12 th�ng 12, �ng đ� tới Raheng, thị trấn cực nam trong c�c th�nh phố của L�o nằm b�n s�ng Menam, v�o ng�y 9 th�ng 1, năm 1860.� Tại đ�y, �ng cho c�c thuyền của �ng quay trở lại Bangkok, v� tiếp tục cuộc h�nh tr�nh bằng c�c con voi, đến Chieng Mai xuy�n qua Lampun � hay Labun, như Richardson v� c�c bạn đồng h�nh của �ng thường gọi như thế -- v�o ng�y 11 th�ng Hai,� Từ Chieng Mai, �ng đi đến Maulmain theo con đường mậu dịch vốn đ� từng được th�m hiểm nhiều lần bởi c�c vi�n chức Anh Quốc từ ph�a b�n Miến Điện.� Schomburgk chắc chắn nằm trong số người �u Ch�u, nếu kh�ng phải ch�nh l� người đầu ti�n, đ� đến được Vịnh Bengal từ Vịnh Xi�m La, xuy�n qua Chieng Mai, kể từ thời của vi�n đại l� thương mại xấu số, Samuel, hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy.� Từ Maulmain, Schomburgk lưu h�nh bằng t�u chạy bằng hơi nước đến Tavoi, từ đ� �ng băng ngang qua rặng n�i bằng voi, v� trong t�m ng�y đến được điểm giao tiếp của con s�ng Me-nam-noi với gi�ng s�ng Meklong.� Xu�i theo c�c bờ s�ng của con s�ng sau [Meklong] cho đến tận Kanburi, kế đ� �ng băng ngang qua để tới Bangkok, nơi �ng đ� quay trở về sau khi vắng mặt 135 ng�y, với 86 ng�y trong đ� d�nh cho việc di chuyển thực sự.� �ng kh�ng thực hiện c�c cuộc khảo s�t trắc địa lộ tr�nh đ� đi qua, v� c�c th�ng tin m� �ng thu thập c� t�nh chất tổng qu�t v� thống k� hơn l� địa dư.� C�ng nhận x�t được �p dụng với c�ng cường độ cho c�c h�nh tr�nh của l�nh sự kh�c được thực hiện tại Xi�m La trong v�ng hai mươi năm kế đ�, v� c�c du kh�ch kh�ng ch�nh thức đến thăm xứ sở, c�c kẻ hoặc l� c�c nh� truyền gi�o hay c�c nh� mậu dịch, quan t�m đến c�c quyền lợi trực tiếp của họ hơn l� với bổn phận bổ sung cho kiến thức về địa dư.� Sự th�m hiểm v� vẽ bản đồ một c�ch khoa học nước Xi�m đ� kh�ng khởi sự cho m�i đến năm 1881, khi �ng James McCarthy, người m� c�c c�ng tr�nh sẽ được tr�nh b�y giờ đ�y, tham gia c�ng việc của ph�a Xi�m La, bắt đầu một loạt c�c h�nh tr�nh đ�ng lưu t�m, v� dần d� x�y dựng th�nh một ban địa ch�nh Nh� Nước hữu hiệu.

 

���� C�ng l�c đ�, tại c�c khu vực kh�c của b�n đảo Đ�ng Dương, c�c nh� th�m hiểm �u Ch�u cũng bận rộn.� M. J. Dupuis, một thương gia người Ph�p, đ� gặp gỡ Garnier tại Hankau (H�n Khẩu) hồi th�ng Năm, 1868, v� mặc d� �ng tuy�n nhận t�nh nguy�n thủy cho � tưởng của m�nh, xem ra �t c� sự ngờ vực rằng kh�i niệm khai th�ng một con đường mậu dịch giữa V�n Nam v� Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tongking) bằng thủy lộ s�ng Hồng [Song Koi, tức s�ng C�i, trong nguy�n bản, ch� của người dịch] đ� được n�u ra với Dupuis do c�c kh�m ph� được t�m thấy bởi ủy hội Ph�p.� Bất luận ra sao, Dupuis đ� du h�nh trong tỉnh V�n Nam trong năm 1868 v� 1869, nhưng t�nh h�nh x�o trộn của xứ sở g�y ra bởi cuộc nổi loạn Muhammadan, đ� ngăn trở �ng ta vượt xa hơn Phủ V�n Nam (Yun-nan-fu).� Năm 1871, v�o l�c �ng ta đ� trở th�nh một nh� thầu cho qu�n đội Trung Hoa, �ng đ� rời Phủ V�n Nam v�o ng�y 25 th�ng Hai để đi sang Bắc Việt.� Du h�nh tr�n đường bộ theo hướng xu�i nam, �ng đ� gặp S�ng C�i tại Mạn Hảo (Manghao), v� đ� d�ng thuyền ch�o đi từ địa điểm đ� cho tới biển.� �ng ta c� một hợp đồng để mang một chuyến t�u chở vũ kh� v� đạn dược đi ngược gi�ng s�ng l�n đến V�n Nam, v� việc n�y �ng đ� thực hiện th�nh c�ng trong năm 1872, bất kể sự chống đối của c�c giới chức thẩm quyền tại Bắc Kỳ v� c�c sự kh� khăn của giang lộ m� �ng đ� lựa chọn cho c�c hoạt động của �ng.� Tại Yun-nan-sen, �ng đ� mua một chuyến h�ng gồm thiếc v� đồng, v� đ� thực hiện việc mang trở lại một chuyến t�u h�ng về gồm muối từ Bắc Việt.� Tuy nhi�n, khi tới H� Nội, c�c quan chức địa phương đ� cương quyết từ chối kh�ng cho ph�p �ng ta được mua v� chở muối sang Trung Hoa, [bởi] muối l� thị trường độc quyền qu� gi� của họ.� Dupuis cầu cứu Ch�nh Quyền Ph�p tại S�ig�n, v� người quen cũ của ch�ng ta, Francis Garnier, được ph�i với một lực lưoợng nhỏ ra Bắc Kỳ để điều giải giữa thương gia Ph�p v� c�c quan chức của H� Nội.

 

���� Garnier đ� đến thủ phủ của Bắc Việt v�o ng�y 5 th�ng Mười Một năm 1873, v� mười ng�y sau đ� đưa ra lời c�o thị tuy�n bố mở cửa S�ng C�i cho c�ng cuộc thương mại chung.� Điều n�y đ� x�c định, mặc d� c� lẽ qu� vội v�, h�nh động dẫn đến c�c sự giao chiến tức thời, v� v�o ng�y 20 th�ng Mười Một, Garnier đ� mở cuộc tấn c�ng để chiếm đoạt th�nh H� Nội.� Đối với một người chỉ được hậu thuẫn bởi một lực lượng t� hon, ch�nh s�ch của Garnier th� t�o bạo đến mức khinh xuất, bởi trong một l�c, n� đ� qu� th�nh c�ng đến nỗi trong v�ng v�i tuần, anh ta đ� tự xưng m�nh l�m chủ năm th�nh tr� bản xứ, v� xem ra to�n thể v�ng hạ lưu của Bắc Việt nằm trong sự kiểm so�t của anh ta.� Người An Nam, nh�n thấy đất đai sở hữu của họ lọt ra khỏi sự kiềm giữ của m�nh, giờ đ�y đ� k�u gọi đến Qu�n Cờ Đen, nh�m c�c kẻ cướp b�c v� ph�p đang t�m chỗ tr� n�u tại miền bắc Bắc Việt trong c�c sự x�o trộn k�o d�i tại V�n Nam.� Những địch thủ mới n�y tức thời tấn c�ng H� Nội, v� v�o ng�y 21 th�ng Mười Hai, Francis bị hạ s�t khi dẫn đầu một cuộc xuất qu�n đ�nh trả địch.� H�ng hổ, hăng say, cưong nghị v� dũng cảm cho đến ph�t ch�t, �ng ng� chết khi đi trước c�c đồng đội kh� xa, v� bởi sự từ trần của anh ta, nước Ph�p đ� bị tước đoạt mất ở một thời khắc hệ trọng một trong những đứa con đ� tạo cho ch�nh họ c�c tiếng tăm vĩ đại khi tham gia v�o việc x�y dựng đế quốc của n� vượt qu� c�c đại dương.

 

���� Người kế tiếp được gửi đến H� Nội thuộc loại kh�c.� Nh�n vật đạo đức n�y, �ng Philastre, kh�ng ngần ngừ trong việc đưa ra một bản tuy�n bố trong đ� �ng kh�ng chỉ b�i b�c tất cả những h�nh vi của Garnier, m� c�n đi xa hơn trong việc sỉ vả một c�ch c�ng khai sự tưởng niệm người tiền nhiệm vĩ đại của �ng.� �ng ra lệnh di tản khỏi Bắc Việt, v� trong một l�c mất b�nh tĩnh, đ� nhận lầm một số thuyền bu�n bản xứ v� hại l� hải tặc, b�n ra lệnh khai hỏa v� đ�nh đắm ch�ng, c�ng treo cổ c�c thuyền trưởng của ch�ng. �Về ph�a �ng Dupuis đ�ng thương, c�c chiếc thuyền của �ng ta bị tạm giữ, v� sự triệt tho�i của Ph�p được tiếp nối bởi một sự t�n s�t c�c đồng minh bản xứ của họ.� Trong th�ng Ba năm 1874, một hiệp ước được k� kết giữa Ph�p v� An Nam theo đ� Qui Nhơn [Kui Nhon trong nguy�n bản, ch� của người dịch], Hải Ph�ng v� H� Nội được mở ngỏ cho c�ng cuộc thương mại v� c�c l�nh sự Ph�p được tr� đ�ng tại c�c th�nh phố n�y.� Vị thế của c�c vi�n chức n�y, tuy thế, tr�i với sự mong muốn, bởi xứ sở của họ trong một thời khỏang đ� rơi v�o sự khinh thường, v� họ đ� phải g�nh chịu c�c sự sỉ nhục lớn lao nhất.

 

���� Dupuis d� thế đ� th�nh c�ng trong việc ho�n tất được điều g� đ�, bởi �ng ta đ� th�m hiểm gi�ng chảy của S�ng C�i.� B�n tr�n Mạn Hảo, �ng nhận thấy rằng gi�ng nước đ� chảy qua khe n�i d�i, với c�c ngọn n�i gần như thẳng đứng, dựng l�n một c�ch đột ngột hai b�n bờ, v� �ng ta c�n nh�n nhận rằng thật l� điều đ�ng nghi ngờ l� nghĩ l� gi�ng s�ng c� thể lưu th�ng được, ngoại trừ c�c xuồng nhỏ nơi kh�c s�ng n�y của lộ tr�nh.� Tuy nhi�n b�n dưới Mạn Hảo, nơi c� chiều ngang con s�ng rộng tới một khoảng 100 thước Anh (yards), �ng xem S�ng C�i l� một giang lộ tuyệt hảo, v� �ng đ� ước lượng khoảng c�ch từ Mạn Hảo đến H� Nội l� 304 dậm, hay 414 dậm t�nh từ cửa biển của s�ng chi nh�nh Th�i B�nh ở v�ng đồng bằng.� Sự kiện S�ng C�i khả dĩ lưu th�ng được đối với Dupuis kh�ng c� g� phải ngờ vực nữa, bởi �ng thực sự chuy�n chở chuyến h�ng qu�n sự phẩm ngược gi�ng s�ng, v� quay về với thiếc v� đồng; nhưng mong muốn của �ng để tạo lập một con đường mậu dịch đ� dẫn �ng đến việc ước lượng thấp c�c sự kh� khăn, v� ph�a tr�n Tuan-kuan [Tuần quan?] sự lưu th�ng l� một việc kh�ng thực tế ngoại trừ trong khoảng từ th�ng Tư đến th�ng Mười Một.� X�t như một con đường mậu dịch, S�ng C�i v� thế phải bị xem l� c� �t gi� trị, v� nếu nền thương mại của miền nam Trung Hoa c� khi n�o sẽ được chở tới Vịnh Bắc Việt, điều n�y sẽ kh�ng xảy ra bằng đường thủy m� phải l� đường hỏa xa.

 

���� �t năm sau đ� nước Ph�p một lần nữa tham gia v�o sự giao chiến t�ch cực tại Bắc Việt, đối thủ của họ l� qu�n Cờ Đen đ�ng gờm, giờ đ�y đang chiếm giữ ph�a tr�n của Bắc Việt v� đ� thực hiện nhiều cuộc đột k�ch xuống ph�a đồng bằng s�ng Mekong.� Ch�nh ở thời điểm n�y c�c cuộc th�m hiểm tại Xi�m La bắt đầu li�n kết với c�c sự th�m hiểm của c�c vi�n chức Ph�p tại �Đế Quốc An Nam�, t�n gọi chung cho cả Trung Kỳ (An nam) v� Bắc kỳ (Tongking), v� ch�ng ta phải hướng đến trong chốc l�t c�c h�nh tr�nh của �ng James McCarthy, l� c�c m�c nối đầu ti�n trong một chuỗi sự việc.

 

 

 

 

 

���� Ch�nh trong năm 1881 �ng McCarthy, kẻ, như được ghi nhận ở tr�n, đang phục vụ cho Quốc Vương Xi�m La, đ� bắt đầu chuẩn bị cho việc vẽ một bản đồ cho xứ sở đ�.� C�ng t�c đầu ti�n của �ng l� một sự khảo s�t con đường cho đường d�y điện t�n nằm giữa Bangkok v� Maulmain, xuy�n qua Raheng v� Tak.� �ng McCarthy đ� ấn định vị tr� của Raheng bằng một �t chuỗi h�nh tam gi�c trắc địa li�n kết với một loạt c�c cuộc Khảo S�t Bi�n Giới Ph�a Đ�ng được thực hiện bởi Ch�nh Phủ Ấn Độ, v� chạy theo hướng nằm ngang với d�y đo trắc địa [thường l� xich trắc địa Gunter d�i 66 bộ Anh (feet), ch� của người dịch] từ Kampangpet đến Nakon Sawan, một khoảng d�i 90 dậm, nhưng sau đ� bị bắt buộc quay về Bangkok bởi một cơn ốm nặng.� Kế đ� �ng đ� tự m�nh l�m một cuộc trắc địa tr�n quy m� lớn v�ng Sampeng, khu vực c� mật độ d�n cư đ�ng nhất của Bangkok, v� biến việc n�y th�nh một m�i trường huấn luyện d�nh cho c�c thanh ni�n Xi�m La m� �ng muốn đ�o tạo th�nh c�c người phụ t� của �ng.� Sau c�ng việc n�y �ng lại hướng l�n v�ng tr�n thuộc s�ng Menam, v� tiến v�o khu Me-ping để khảo s�t v� vẽ bản đồ v�ng nằm giữa Raheng v� Chieng Mai, hầu l�m dễ d�ng cho sự giải quyết một cuộc tranh chấp về c�c bi�n giới; nhưng cơn n�ng sốt, như �ng n�i một c�ch vui vẻ, giờ đ�y trở th�nh một �bạn đồng h�nh thường ni�n� của �ng, một lần nữa buộc �ng phải trở về Bangkok.� Năm 1883, McCarthy thực hiện một chuyến tham quan tại B�n Đảo M� Lai kết hợp với một cuộc tranh chấp bi�n giới ph�t sinh giữa Bang Quốc P�rak, vốn nằm dưới sự bảo hộ của Anh Quốc, v� Raman, một phần của vương quốc cổ xưa Pet�ni. �Tiếp x�c trước ti�n với Champon � nơi đ� được thăm viếng �t th�ng trước đ� bởi một đo�n kỹ sư người Ph�p, những người đ� mong ước b�o c�o về khả t�nh xẻ một con kinh cho thuyền chạy xuy�n qua eo biển ở Kra � �ng tiếp tục đi đến Senggora, v� từ đ� đến cửa con s�ng Pet�ni.� C�c kỹ sư người Ph�p, đ�y l� điều cần ghi nhận, đ� t�m thấy một điểm c� ngọn đồi cao nhất chỉ hơn mặt biển 250 bộ Anh (foot), 200 bộ thấp hơn đường đ�o đ� vượt qua bởi Richardson v� Tremenheere năm 1839.� Ngược gi�ng l�n tr�n, McCarthy đến Raman; Ng�i Sir Hugh Low, Tr� Sứ Anh tại P�rak, đ� c� cuộc họp với Ủy Vi�n Xi�m La được ph�i đến gặp �ng; v� McCarthy sau đ� đ� thực hiện một cuộc khảo s�t trắc địa v�ng đất tranh chấp, kể cả c�c chi nh�nh thượng lưu của s�ng Perak.� �ng đ� quay trở lại Bangkok xuy�n qua ng� Singapore, nơi �ng đến bằng chiếc t�u chạy với hơi nước.

 

���� Trong th�ng Một năm 1884, �ng lại rời Bangkok, v� sau khi đi ngược l�n tr�n s�ng Menam cho đến Saraburi, �ng đ� bỏ thuyền v� đi đường bộ tới Korat xuy�n qua �Dong Phia Fai,� hay Khu Rừng của Thần Lửa (Forest of the Lord of Fire), một miền nổi tiếng như một c�i bẫy l�m sốt khủng khiếp.� �ng vượt qua s�ng Pi-mun, tr�n c�c bờ c� tọa lạc thị trấn Ubon, ở Mường Pi-mai, từ đ� �ng tiến tới Kunwapi, v� sau khi băng ngang qua v�ng rừng r� bước v�o quận huyện đ�ng đảo d�n cư tại đ�, Nong Kai, một th�nh phố mới, được dựng l�n gần c�c phế t�ch của Vien-Chan (Vạn Tượng), tọa lạc.� Nơi đ�y lần đầu ti�n McCarthy nh�n thấy gi�ng nước của s�ng Mekong, v� ph�i người phụ t� của �ng, �ng Bush, đi ngược gi�ng s�ng đ�, c�n ch�nh �ng đ� vượt qua s�ng để tiến v�o v�ng bị t�n ph� bởi người Hồ (Haws), hay qu�n Cờ Đen.� Điều sẽ cần ghi nhớ rằng v�ng đất nằm giữa Bắc Việt (Tongking) v� s�ng Cửu Long đ� từng c� lần ho�n to�n nằm dưới sự kiểm so�t của An Nam, nhưng sau đ� Xi�m La c� đưa ra sự tuy�n x�c tr�n đ�, v� sau khi g�nh chịu sự thất trận, đ� quay lại kiểm so�t, v� bởi việc di chuyển to�n thể d�n ch�ng vượt ngang qua s�ng khiến cho c�c đội qu�n An Nam kh�ng c�n l� do để chiến đấu nữa.� Sau đ� Xi�m La đ� lặng lẽ t�i chiếm v�ng đất bị bỏ hoang, v� phải chờ m�i đến khi Ph�p d�nh được sự thống trị tr�n An Nam, c�c quyền hạn của vương quốc đ� trong v�ng tranh chấp sau rốt mới được chấp h�nh, v� con s�ng Mekong trở th�nh đường bi�n giới giữa Đ�ng Dương thuộc Ph�p v� c�c Bang Quốc L�o nằm dưới sự kiểm so�t của Xi�m La.� V�o l�c c� cuộc thăm viếng của McCarthy, xứ sở xinh đẹp n�y trong thực tế bị bỏ trống, c�c x�o trộn g�y ra bởi qu�n Hồ lan tr�n khắp nơi; nhưng vượt qua s�ng Nam Tang, �ng ngược l�n tr�n, cho đến một cao nguy�n, c� diện t�ch khoảng 60 dậm vu�ng, ở cao độ 3,500 bộ Anh (foot) tr�n mặt biển.� Từ nơi đ� �ng tiến đến Chieng Kwang, hay Muong Puan, như n� được gọi bằng c�c t�n kh�c nhau, tức quận lỵ của quận, v� nhận thấy n� nằm dưới sự chế ngự của qu�n Hồ (Haws), cứ điểm của qu�n thổ phỉ đặt tại Tung Chieng Kam, c�ch xa trong khoảng ba ng�y tiến qu�n bằng đường bộ.� Từ Chieng Kwang, �ng tiến bước theo hướng đ�ng nam tới Muong Ngan, nằm ở một cao độ 4,800 bộ Anh (foot).� Nơi đ�y �ng kh�m ph� rằng hai vị linh mục Ph�p đ� sống ở đ� kh�ng l�u trước đ�, nơi cũng đ� được thăm viếng bởi �ng Neiss, một nh� du lịch v� nh�n vi�n ch�nh trị Ph�p.� Người n�u t�n sau đ� gắng sức d�nh được sự nh�n nhận quyền chủ tể của An Nam từ d�n ch�ng tại Muong Ngan, v� sau khi �ng rời khỏi, qu�n Hồ (Haws) đ� tiến xuống v� cướp b�c thị trấn nhỏ b�.� Ở Ta Tom, dịa điểm kế đ� tới được, s�ng Nam Chan, nột phụ lưu của s�ng Cửu Long (Mekong), được kh�m ph� l� c� thể lưu h�nh bằng c�c chiếc b�, v� v�o ng�y 14 th�ng Năm, McCarthy đến Pachum, nơi m� con s�ng Nam Chan đổ v�o con s�ng lớn, v� tiếp tục đi tới Nong Kai.� Lại khởi h�nh h�m 16 th�ng Năm, �ng lần đường đi ngược gi�ng s�ng l�n đến Luang Prabang, nơi �ng đến v�o ng�y 29 th�ng Năm.� Mưa lớn bắt đầu đổ xuống, v� đo�n th�m hiểm phải g�nh chịu cơn sốt dữ dội, �ng Bush đ� chết v� n�ng sốt h�m 29 th�ng S�u, song bổ sung th�m một t�n v�o danh s�ch d�i những người đ� hy sinh t�nh mạng cho mục đ�ch th�m hiểm v�ng Đ�ng Nam �.� V�o ng�y 5 th�ng Bẩy McCarthy rời Luang Prabang, v� xu�i gi�ng s�ng xuống tới Pak-Lai, dưới đ� kh�ng xa con s�ng Mekong đột nhi�n quay sang hướng đ�ng, đặt ch�n v� tiến bước ngang qua đường ranh ph�n chia đến Muong Wa, gặp s�ng Menam tại Yandu.� Lối th�ng h�nh từ s�ng Mekong đến c�c thung lũng s�ng Menam tại đ�y được xuy�n qua bởi một th�ng lộ rất dễ d�ng.� Từ Yandu McCarthy trở lại Bangkok ba9`ng c�ch xu�i theo gi�ng s�ng Menam.

 

���� Trong th�ng Mười Một �ng lại khởi h�nh để đến v�ng thung lũng s�ng Mekong, ngược gi�ng s�ng Menam le6n tới Nakon Sawan, v� từ đ� đến Pak-nam Po, nơi giao nhau với con s�ng Me-ping.� Tiếp tục hướng ngược l�n tr�n theo gi�ng s�ng Menam, �ng đ� tới Utaradit, nơi c�c chiếc t�u sau hết đ� bị bỏ lại, �ng D. J. Collins v� Trung �y Rossmussen, một người Đan Mạch, đ� th�p t�ng �ng, chia tay �ng tại Nan v� tiến bước tới Luang Prabang xuy�n qua Muong Hung.� McCarthy, mặt kh�c, đi qua Tanun tr�n s�ng Mekong, tr�n đường c� đ�n thăm miệng ngọn n�i lửa được gọi l� Pu Fai Yai, hay Đồi Của Ngọn Lửa Vĩ Đại, nơi đ� l�m thất vọng c�c sự ước mong của c�c th�nh vi�n trong ph�i bộ Ph�p cầm đầu bởi de Lagr�e để khảo s�t n�.� Từ Tanun McCarthy, người đ� từng đi ngang qua, kể từ Nan, một giải đất kh� rộng của v�ng chưa được th�m hiểm, xu�i gi�ng xuống dưới Luang Prabang, c� dừng lại tr�n đường để ngắm nh�n hang động vĩ đại đối diện với cửa con s�ng Nan Hu, nơi cũng đ� từng được thăm viếng bởi Garnier v� c�c bạn đồng h�nh của �ng ta.� McCarthy, Collins v� Rossmussen kế đ� tiến tới để gia nhập c�ng với qu�n đội Xi�m La nguy�n được ph�i đến c�c quận huyện nằm ph�a đ�ng s�ng Mekong để khuất phục qu�n Hồ (Haws);� họ đ� tham gia v�o cuộc giao tranh, v� chứng kiến sự phong tỏa căn cứ địa của qu�n thổ phỉ tại Tung Chieng kam.� Nh�n thấy sự bao v�y nhiều phần sẽ l� một c�ng việc k�o d�i � chung cuộc ph�a Xi�m La bị bắt buộc phải gỡ bỏ n� � McCarthy v�o l�c đ� đ� khởi sự một cuộc thăm viếng hướng về ph�a bắc.� Từ Ban Le �ng đ� chuyển Rossmussen v� c�c người Xi�m bị ốm đau v� thương t�ch về Luang Prabang, v� tiếp tục du h�nh c�ng với Collins đến Muong Son v� Muong Kao, với � định thăm viếng Muong Sop Et, nơi m� con s�ng Nam Et đổ v�o S�ng M�, con s�ng nằm s�u ph�a nam dưới hai con s�ng lớn tại Bắc Việt [chỉ s�ng Hồng v� s�ng Đ�, ch� của người dịch].� Tại Muong Kao, c�c chiếc b� được chế tạo, v� gi�ng s�ng xu�i nam m�i tới Sop Son, nhưng c�c bạn đồng h�nh bản xứ của McCarthy đ� b�y mưu để ngăn cản �ng kh�ng đi xa hơn Nam Et, v� c�c nh� th�m hiểm đ� bị bắt buộc quay trở lại thung lũng s�ng Mekong, gặp con s�ng Nam Hu tại Muong Ngoi.� Collins từ đ� ngược gi�ng đi l�n tr�n s�ng Nam Hu m�i đến tận Muong Habin, kh�ng xa nơi ph�t nguy�n của n� bao nhi�u, v� như thế đ� bổ t�c đồng bằng của phụ lưu quan trọng của s�ng Mekong v�o bản đồ của v�ng.� Trong khi đ� McCarthy đ� tiến bước v�o v�ng rất gồ ghề ph�a bắc-đ�ng-bắc đến Muong Teng, tọa lac tại v�ng đồng bằng xinh đẹp c� diện t�ch khoảng 60 dậm vu�ng nằm ở đầu thung lũng s�ng Nam Nua, một phụ lưu b�n tr�i của s�ng Nam Hu.� V�o ng�y 26 th�ng năm, �ng khởi sự xu�i nam tr�n con s�ng n�y bằng những chiếc b�, sau đ� �ng đ� đ�nh dổi lấy c�c chiếc thuyền, v� v�o ng�y 1 th�ng S�u đ� đến Luang Prabang, nơi �ng t�m thấy Collins đang sằn đ�n đợi �ng.� C�c nh� du h�nh sau đ� đ� trở lại Bangkok theo lối đi trước đ�y của McCarthy.

 

���� Cuộc bao v�y căn cứ địa qu�n Hồ (Haws) tại Tung Chieng-Kam đ� được gỡ bỏ năm 1885, sau khi địa điểm n�y đ� bị phong tỏa trong trọn ba th�ng, v� trong năm kế đ� Ch�nh Phủ tại Bangkok đ� quyết định thực hiện nỗ lực sau c�ng để trấn �p qu�n Hồ.� V�o l�c n�y một hiệp ước đ� được k� kết giữa Đại Anh C�t Lợi v� Xi�m La, v�i những điều khỏan theo đ� một vi�n l�nh sự Anh Quốc đ� được chỉ định để cư tr� tại Chieng Mai.� Người Ph�p đ�p ứng liền theo đ� bằng việc bổ nhiệm một l�nh sự tại Luang Prabang, mặc d� kh�ng c� một thần d�n nước Ph�p n�o sinh sống tại th�nh phố đ� hay trong quận huyện l�n cận.� Vi�n chức được lựa chọn cho chức vụ sau n�y l� �ng August Pavie, người c� danh t�nh nhất thiết trở th�nh li�n hệ một c�ch mật thiết với c�ng tr�nh th�m hiểm thung lũng s�ng Mekong v� v�ng l�n cận của n� hơn bất kỳ nh�n vật �u Ch�u n�o kh�c c�ng thời.� Kh�ng l�u sau khi c� ph�i bộ th�m hiểm của Garnier, �ng Harmand đ� thực hiện một số cuộc th�m hiểm cặn kẽ tại Kambodia v� tại c�c tỉnh l�n cận của n� như Batambang v� Siam-Reap.� C�c c�ng tr�nh n�y đ� được bổ t�c bởi �ng Pavie, kẻ đương phục vụ Quốc Vương Xi�m La để khảo s�t đường d�y điện t�n từ Bangkok đến Batambang.� Giờ đ�y �ng chuẩn bị cho đến cuối năm 1885 để đảm nhận sự bổ nhiệm của �ng tại Luang Prabang, khởi h�nh từ Bangkok c�ng với đo�n của McCarthy, người c�ng với Collins v� Louis du Plessis de Richelieu, cả ba đang phục vụ cho nước Xi�m La.� Tại Pak Nam Po, McCarthy v� Pavie chia tay nhau, mỗi người tự m�nh đi đến Luang Prabang.� McCarthy, kh�ng muốn xen lấn v�o c�c sự sắp xếp vận chuyển của qu�n đội Xi�m La -- đang mở đường tiến từ thung lũng s�ng Menam để đ�nh trả qu�n Hồ ngang qua s�ng Mekong � đ� ngược l�n s�ng Me-ping để đến Chieng Mai, v� rồi từ đ� chuyển theo hướng bắc đến Chieng Rai tr�n s�ng Nam Kok, một phụ lưu hữu ngạn của s�ng Mekong.� Xu�i xuống con s�ng n�y, �ng gặp s�ng Mekong tại Chieng Hsen, v� như� thế vươn tới Luang Prabang.� Từ đ� �ng tức thời khởi h�nh để đi tới Muong Teng, nơi �ng gia nhập c�ng một c�nh của qu�n đội Xi�m La v�o ng�y 16 th�ng Mười Hai, 1885.� �ng c� � định đi đến Muong Lai v� khảo s�t ranh giới thi�n nhi�n nằm giữa thung lũng s�ng Mekong v� Bắc Việt, nhưng Phia Surasak, vi�n tướng l�nh Xi�m La, lại muốn gửi �ng đến Sop Et tr�n S�ng m� hơn, từ đ� �ng sẽ khảo s�t ranh giới huyện được gọi l� huyện Hua Pan Tang Ha Tang Hok, sau ch�t �ng t�m đường đến Nong Kai tr�n s�ng Mekong. �De Richelieu, bị đau ốm, được gửi về Luang Prabang.� Collins đi c�ng với McCarthy.� Một cuộc tấn c�ng của kẻ th� cũ của �ng, cơn n�ng sốt, tuy thế đ� can thiệp v�o c�c kế họach của McCarthy v� �ng bị bắt buộc phải quay trở về Luang Prabang v� Bangkok.� Kh�ng l�u sau đ�, qu�n Hồ, với khả năng kh� hơn qu�n đội Xi�m La, c�n qu�t xuống tới Luang Prabang, cuộc tiến qu�n của họ kh�ng gặp phải sự đối kh�ng n�o, v� đ� lục s�at th�nh phố đ�.�

 

���� Trong năm 1887 người Ph�p tại Bắc Kỳ đ� thực hiện một nỗ lực cuối c�ng để khuất phục c�c tỉnh ngoại vi, v� đ� tấn c�ng qu�n Hồ trước khi đội qu�n Xi�m La thuộc quyền chỉ huy của Phia Surasak rời bỏ thung lũng s�ng Menam.� Giờ đ�y Pavie đ� khởi sự một loạt c�c cuộc du h�nh xuy�n qua v�ng nằm giữa s�ng Mekong v� Bắc Kỳ, sau hết đ� bắt tay được với binh sĩ Ph�p tại vương quốc n�u t�n sau [Bắc Kỳ].� Năm 1888 �ng c� sự tham gia của Đại �y Cupet v� Trung �y Nicolon, kẻ đ� gặp �ng gần Luang Prabang ngay khi �ng trở về sau cuộc h�nh tr�nh đầu ti�n của �ng v�o xứ Bắc Kỳ.� Nicolon ở lại Luang Prabang để khảo s�t quận n�y, v� Pavie c�ng Cupet một lần nữa khởi sự đi đến Bắc Kỳ, mục ti�u của họ l� v�ng Tak-Khoa tr�n S�ng C�i (S�ng Hồng).� Từ nơi đ�y, Cupet quay về Luang Prabang bằng một con đường mới, v� trong năm 1889 �ng đ� khảo s�t v�ng ph�a đ�ng s�ng Mekong, s�u hơn về ph�a nam v� đ� th�m hiểm to�n thể khu vực từ L�o v� Căm Bốt cho đến An Nam v� Biển Đ�ng Hải [China Sea trong nguy�n bản, ch� của người dịch], bao gồm trong c�c h�nh tr�nh ngang dọc trong v�ng tổng cộng hơn 5,500 dậm đường đi.� Trong năm 1888 �ng cũng du h�nh v�ng tả ngạn s�ng Mekong từ Pak Lai đến Pit Chai tr�n s�ng Menam, khảo s�t v�ng nằm ở giữa, v� trong năm 1893 �ng, c�ng với Đại �y Friquegnon v� Đại �y de Malglaive, được bổ nhiệm để bi�n tập đại bản đồ của Đ�ng Dương đ� được chuẩn bị dưới sự gi�m s�t của �ng Pavie.

 

���� Đại �y de Malglaive, người sẽ gắn liền ở một giai đọan n�o đ� sau n�y với �Ph�i Bộ Pavie�, đ� thực hiện một loạt c�c cuộc th�m hiểm quan trọng trong năm 1890 v� 1891 v�ng nằm giữa bờ biển Trung Kỳ (An Nam) v� s�ng Mekong, mục đ�ch của �ng l� kh�m ph� c�c phương c�ch th�ng thương tốt nhất xuy�n qua v�ng.� �ng Harmand, người được n�u t�n ở tr�n, đ� th�m hiểm một phần v�ng n�y giữa c�c năm 1875-77, h�nh tr�nh ch�nh yếu của �ng trong năm kể trước (1875) l� ngược gi�ng Mekong l�n tới Khong, v� từ đ� xuy�n qua c�c tỉnh của Xi�m La như Melu-Prey, Tonle Repu, v� Kompang Soai, l� v�ng chưa từng được băng ngang bởi một người �u Ch�u n�o.� Từ cạnh sườn của rặng Dongrek đến gần Prea-Khan, �ng thấy rất �t người Căm Bốt, hầu như to�n thể d�n cư đều thuộc bộ tộc Kui.� Trong năm 1877, Harmand th�m hiểm lưu vực ph�a nam của s�ng Se-mun, đ� đi từ Pnom Penh (Nam Vang) đến Siem Reap, v� từ đ� cắt ngang đến Bassak v� v�ng nằm giữa địa điểm đ� với s�ng Se-Dom.� Kế đ� �ng th�m hiểm thung lũng s�ng Se Dom m�i đến tận Atopeu, một phần c�ng việc đ� được ho�n tất đến mức độ n�o đ� bởi de Lagr�e, v� sau đ� đ� lần đường đi từ Nam Vang đến Lakon, v� từ đ� đến Nghệ An v� B�nh Định, ho�n th�nh trong diễn tiến cuộc h�nh tr�nh của �ng, việc n�u ra một số sự tu chỉnh quan trọng trong bản đồ của v�ng đồng bằng s�ng Mekong.� Đ�y ch�nh l� c�ng tr�nh m� Đại �y de Malglaive giờ đ�y đ� h�an tất, băng ngang v�ng đất ph�n chia nằm giữa s�ng Mekong với biển, kh�ng �t hơn năm lần, v� thực hiện một loạt c�c sự khảo s�t tr�n gỉải đất gồ ghề n�y bởi bốn con đường kh�c nhau.� Th�nh c�ng của c�ng kh� của �ng l� sự kh�m ph� một con đường tuyệt hảo từ bờ biển tiến v�o nội địa qua h�nh lang Ai Lao.

 

���� Trong c�c năm 1890-91, Đại �y Rivi�re đ� h�an tất một số cuộc th�m hiểm đ�ng ch� � dưới sự chỉ huy của Pavie v�ng thượng lưu s�ng Mekong, đặc biệt tại quận ph�a đ�ng nam của Luang Prabang, v� trong năm 1894, �ng được ph�i tham gia v�o ph�i bộ Pavie nhằm khảo s�t v�ng thượng lưu s�ng Mekong, cộng t�c với Ủy Hội s�ng Mekong của Ng�i Sir J. G. Scott.� Rivi�re, giống như Henri Moulot trước �ng, đ� hy sinh t�nh mạng của m�nh cho mục đ�ch th�m hiểm, v� mặc d� c�c b�o c�o của �ng c� được ấn h�nh bởi �ng Pavie, c�c b�o c�o n�y chỉ phơi b�y một c�ch sơ s�i c�ng lao của �ng đối với những c�ng t�c m� �ng đ� ho�n th�nh.� Một vi�n chức kh�c được ph�i tham gia Ph�i Bộ Pavie l� �ng Lef�vre-Pontalis, người đ� th�p �ng �ng Pavie trong nhiều h�nh tr�nh của �ng v� sau đ� đ� được bổ nhiệm v�o Ủy H�i s�ng Mekong năm 1894, trong diễn tiến c�ng việc �ng đ� th�m hiểm thung lũng v�ng trung lưu của s�ng Nam Hu, c�ng với Trung �y Thomassin v� Tiến Sĩ Lef�vre, một quận m� như ch�ng ta đ� thấy, đ� sẵn được thăm viếng v� vẽ bản đồ bởi McCarthy v� Collins.� C�c cuộc th�m hiểm quan trọng kh�c cũng được thực hiện dưới sự gi�m s�t bởi �ng Pavie, nhưng v�o l�c viết bản văn n�y, c�c kết quả thu lượm được vẫn chưa được c�ng bố, mặc d� tất cả tin tức, sau hết, đều sẽ xuất hiện trong c�ng tr�nh nghi�n cứu khổng lồ về Đ�ng Dương thuộc Ph�p được bi�n tập bởi �ng Pavie, năm bộ s�ch khổ giấy gấp l�m bốn đ� sẵn được c�ng bố.� Th�nh quả của mọi cuộc th�m hiểm n�y l� bản đồ c� tỷ lệ x�ch lớn lỗng lẫy của Đ�ng Dương giờ đ�y được ấn h�nh bởi Ch�nh Phủ Ph�p với sự bi�n tập của c�c nh�n vật đ� được n�u t�n ở tr�n.� Đ�y l� một c�ng tr�nh vĩ đại của sự lao động khổ nhọc v� ch�nh x�c, v� kh�ng chỉ vượt qua bất kỳ c�ng tr�nh c�ng loại n�o m� Anh Quốc đ� thực hiện cho M� Lai, m� c�n được so s�nh l� đ�ng t�n thưởng hơn so với c�c bản đồ to lớn được vẽ bởi Ban Khảo S�t Trắc Địa của Ấn Độ.

 

���� Trong năm 1895, một đo�n viễn th�m dưới sự chỉ huy của �ng Ho�ng Prince Henri v�ng Orleans để kh�m ph� phần rộng lớn thuộc giải đất d�i ven s�ng Mekong nằm trong địa phận tỉnh V�n Nam của Trung Hoa, v� sau đ� quay sang hướng t�y, đ� mang lại c�c sự đ�ng g�p quan trọng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về gi�ng nước đầu nguồn của con s�ng Irawadi. �C�c th�nh vi�n �u Ch�u của đo�n gồm, ngo�i �ng Ho�ng Henri, �ng Roux, người gi�m thị c�ng t�c vẽ bản đồ, v� �ng Briffaud.� Sau khi x�m nhập v�o nội địa qua ngả S�ng Hồng, đo�n th�m hiểm quay sang hướng t�y từ Isse, một thị trấn ph�a bắc của bi�n giới của Ph�p, v� đ� lần đường xuy�n qua v�ng đất chưa được khảo s�t cho đến s�ng Mekong, đến được một nơi gọi l� Ti-an-pi ở vĩ độ Bắc 22 độ 38�.� �Con s�ng nơi đ�y�, theo lời �ng Ho�ng Henri, �c� chiều ngang rộng từ 350 đến 500 bộ Anh (foot).�� N� chảy qua một phần giữa c�c ngọn đồi nhiều c�y cối c� cạnh sườn �t dốc hơn c�c ngọn đồi tạo th�nh thung lũng s�ng Hồng.� Nước chảy xiết khiến cho việc giang h�nh trở n�n bất khả thi tại một số địa điểm.� Lần theo con s�ng theo từng kh�c một, đo�n th�m hiểm đ� du h�nh l�n hướng bắc xuy�n qua v�ng đất nằm b�n hữu ngạn s�ng Mekong cho m�i đến tận Bắc vĩ độ 24 độ 45�.� Nơi đ�y, một cuộc băng qua s�ng đ� được thực hiện, v� c�c kh�ch lữ h�nh tiến bước đến Ta-li-fu.� Sau một sự nghi ngơi tại địa điểm dừng ch�n giờ đ�y rất nổi tiếng n�y, đo�n th�m hiểm lại hướng về ph�a t�y s�ng Mekong, v� bắt gặp Fei-long-kiao, ở Bắc vĩ độ 25 độ 50�.� Một cuộc du ngọan đ� được thực hiện xa hơn về ph�a t�y, đến con s�ng Salwin, v� sau đ� đo�n th�m hiển tiến l�n thung lũng s�ng Mekong, b�m s�t �t nhiều với gi�ng s�ng cho m�i đến tận Tseku, tr�n bi�n giới của T�y Tạng, bắc vĩ tuyến 28.� Trong đoạn n�y của h�nh tr�nh, c�c dụng cụ khoa học bị lấy trộm, v� từ đ� trở đi, đường đi chỉ được ph�c họa theo địa b�n.� Ph�a bắc của Tseku, gi�ng chảy của s�ng Mekong đ� được in dấu ch�n của c�c gi�o sĩ truyền đạo� người Ph�p, v� tại nơi đ� sự thăm d� của đo�n th�m hiểm của �ng Ho�ng Henri thực sự đi đến chỗ kết th�c, mặc d� một chuyến đi c� được thực hiện cho cuộc du h�nh k�o d�i ba ng�y xa hơn về ph�a bắc, đến tận Atense.� Quẹo sang ph�a t�y một lần nữa, đo�n th�m hiểm đ� thực hiện một h�nh tr�nh quan trọng xuy�n qua một v�ng đất kh� khăn đến Sadiya, tọa lạc nơi kh�c uốn cong rộng lớn của con s�ng Brahmaputra.� Lối th�ng h�nh của giải đất n�y đ�i hỏi c�c sự khổ nhọc nghi�m trọng trong mọi kh�a cạnh li�n hệ, nhưng như một kết quả của h�nh tr�nh, �ng Ho�ng Henri đ� được dẫn dắt đến nhiều hơn một kết luận đ�ng lưu �.� Trước ti�n, �ng nhận thấy con s�ng Salwin, ở c�ng vĩ độ với Tseku, l� �một con s�ng lớn, c� độ s�u kh� s�u, ph�t sinh từ nơi rất xa,� v� x�c nhận rằng bằng chứng của c�c gi�o sĩ truyền đạo v� d�n bản xứ, cộng với sự quan s�t của ri�ng đ�an th�m hiểm của �ng, cho thấy con s�ng Oi Chu của T�y Tạng, s�ng Lu-tze-kiang, v� con s�ng Salwin, l� một phần của một v� c�ng gi�ng s�ng. �Thứ nh�, �ng b�o c�o rằng nước đầu nguồn của con s�ng Irawadi bao gồm ba gi�ng nước ch�nh, s�ng Kiu-kiang v� s�ng Telo ở ph�a đ�ng, v� s�ng Nam Kiu ở ph�a t�y.� Trong c�c nguồn n�y s�ng Kiu kiang c� khối lượng nước lớn nhất,� v� nguồn của n� xa m�i về ph�a bắc tại một ngọn n�i nổi tiếng tại Tsarony, c�ch hai ng�y đường từ Menkong, c� nghĩa ở bắc vĩ độ 28 hay 29 độ.� S�ng Telo ph�t nguy�n từ một ngọn n�i m� ch�ng ta đ� nh�n thấy xa hơn về ph�a nam.� Ngọn n�i m� từ đ� con s�ng Nam Kiu c� nguồn gốc c� thể nh�n thấy từ Khamti, v� được biết r� đối với người Anh.�� Về ph�a bắc nơi bao gồm to�n thể lưu vực s�ng Irawadi, �ng Ho�ng Henri c�n tuy�n bố rằng, bởi c� một rặng nhiều ngọn n�i, hiển nhi�n tạo th�nh một sự tiếp nối của dẫy n�i Hi M� Lạp Sơn (Himalaya).� C�c ngọn n�i n�y bị cắt ngang bởi c�c khe n�i xuy�n qua đ� c�c con s�ng Dibong v� Lohit xu�i chảy.� Về khối lượng vĩ đại của con s�ng Irawadi nơi c�c chi nh�nh thượng lưu của n�, một đặc điểm của con s�ng c� một trọng lượng lớn lao khiến cho một số c�c nh� địa l� hoc t�n th�nh quan điểm rằng c�c nguồn gốc ch�nh của con s�ng Irawadi sẽ được t�m thấy rất xa nơi phương bắc, tại con s�ng San-po ở T�y Tạng, �ng Ho�ng Henri vạch ra rằng lập luận ph�t sinh từ chiều ngang tương đối của thung lũng v�ng thượng lưu s�ng Irawadi, chiều ngang m�, được bănng qua bởi đo�n th�m hiểm, �ng đ� ấn định l� khoảng 115 dậm, trong khi ở c�ng vĩ độ, chiều ngang cu/a thung lũng s�ng Salwin kh�ng lớn hơn 25 dậm.� Nếu bằng chứng n�y được chấp nhận, v� kh�ng c� l� do g� để nghi ngờ sự ch�nh x�c của n�, �ng Ho�ng henri c� thể x�c nhận một c�ch hợp l� rằng đo�n th�m hiểm của �ng trong thực tế đ� giải quyết được vấn đề c�c nguồn gốc của s�ng Irawadi.

 

 

 

 

���� Tạm quay về với McCarthy v� c�ng việc của �ng tại Xi�m La, ch�ng ta nhận thấy trong năm 1887 v� 1889 �ng đ� tham dự v�o việc vạch đường hỏa xa m� giờ đ�y đ� được ho�n tất từ Bangkok đến Korat xuy�n qua Ayuthia, v� v�o một việc vạch đường tương tự đến Chieng Mai xuy�n qua Utarit, nằm tr�n s�ng Menam, v� Muong Pre, một thị trấn của L�o nằm tr�n s�ng Nam Yom.� Trong năm 1890 McCarthy thực hiện c�ng tr�nh trắc địa v�ng t�y bắc, để ph�n định ranh giới giữa Xi�m La v� Miến Điện, nhưng vấn đề quốc tịch của �ng khiến �ng bị nghi ngờ, v� �ng đ� từ bỏ c�ng việc kh� chịu n�y ngay khi l�m được.� V�o cuối năm 1890, được trợ gi�p bởi c�c trắc địa vi�n Xi�m La do ch�nh �ng đ� huấn luyện l�m c�ng việc địa ch�nh, �ng đ� thực hiện một loạt c�c cuộc khảo s�t gi� trị v�ng ph�a bắc nước Xi�m La, ấn định chiều cao của ngọn n�i Doi Intanon (8,450 bộ Anh), một ngọn n�i ph�a t�y của Chieng Mai, với đỉnh cao nhất tại Xi�m La, v� sau đ� đ� x�y dựng một trạm trắc địa tại Pahom Pok, một đỉnh n�i tr�n rặng n�i ph�n chia Xi�m La với Miến Điện, đỉnh cao đ� vươn tới được sau nhiều c�ng phu khổ nhọc lớn lao v�o ng�y 24 th�ng Hai năm 1891.

 

���� Đỉnh n�i n�y đ� đuợc ấn định bởi c�c trắc địa vi�n Ấn Độ trong khỏang 1889-90, v�o thời kỳ m� một Ủy Hội Anh Quốc-Xi�m La , trong đ� Anh Quốc được đại diện bởi Sir James Scott, Gi�m S�t C�c Bang Quốc d�n Shan ph�a Bắc, đ� ph�n định ranh giới giữa Miến Điện v� Xi�m la.� McCarthy do đ� đ� lấy đ�y l�m khởi điểm của �ng, v� từ đ� đ� đo vẽ c�c tam gi�c trắc địa của �ng, khởi đầu cho một lọat tam gi�c trắc địa v�ng bắc Xi�m La.� McCarthy, với một �t c�c phụ t� gốc �u Ch�u, người nổi bật nhất l� �ng Smiles, song cũng l� một nạn nh�n kh�c trong c�ng cuộc th�m hiểm c�c v�ng n�y, tiếp tục đẩy c�c cuộc khảo s�t của �ng tiến tới cho m�i đến giữa năm 1893, phần lớn sự trợ gi�p s� được cung cấp cho �ng l� từ c�c nh�n vi�n địa ch�nh bản xứ m� �ng đ� huấn luyện.� Kh�ng l�u sau đ� �ng đ� c� thể ấn h�nh bản đồ đầu ti�n thực sự đ�ng tin cậy của vương quốc, m�, cho đến ng�y nay [tức năm 1904, năm ấn h�nh quyển s�ch n�y, ch� của người dịch] vẫn kh�ng c� c�c sự bổ t�c t�i liệu n�o được c�ng bố th�m.� Một sự khảo s�t bản đồ n�y cho thấy v�ng bắc Xi�m La, khu vực c�ng t�c đặc biệt của McCarthy, giờ đ�y được kh�m ph� một c�ch cẩn thận v� trọn vẹn, cũng c� một khu vực hẹp chạy d�i theo thung lũng s�ng Menam v� c�c chi nh�nh của n�, v� c�c rặng n�i ph�n chia l�nh thổ Anh Quốc với Xi�m La.� Miền Đ�ng Xi�m La, nằm giữa v�ng hạ lưu s�ng Menam v� s�ng Mekong, �t được vẽ địa đồ một c�ch đầy đủ hơn, mặc d� tất cả c�c địa điểm c� tầm quan trọng thực sự đ� được thăm viếng v� c�c vị tr� của ch�ng đều được chấm định.� Thung lũng s�ng Meklong th� kh� nổi tiếng, nhưng phần c�n lại v�ng ph�a dưới của Xi�m La, nam con s�ng Tenasserim, th� h�y c�n được biết l� kh�ng đầy đủ, c�c cuộc khảo s�t của McCarthy tại Raman, được thực hiện trong năm 1883, l� c�ng tr�nh ch�nh x�c nhất về trắc địa được thực hiện trong v�ng cho đến nay.

 

���� Điều đ� sẵn được vạch ra rằng, sau khi cuộc chiến tranh năm 1885 cuối c�ng đ� đi đến chỗ kết th�c, sự khảo s�t địa ch�nh c� hệ thống của Miến Điện v� c�c bang quốc d�n Shan nằm dưới sự cai trị của Miến Điện đ� được khởi sự.� Ch�nh v� thế v�o l�c kết th�c thế kỷ thứ mười ch�n, người ta đ� chứng kiến nh�n vi�n địa ch�nh c� huấn luyện len lỏi đến tận trung t�m c�c khu vực ảnh hưởng của Anh, Ph�p v� Xi�m La.� Trong thực tế, c� thể n�i rằng Ủy Hội Bi�n Giới Anh Quốc-Xi�m La năm 1889-90, v� Ủy H�i Bi�n Giới Miến Điện � Trung Hoa năm 1898-1900 � trong cả hai Ủy Hội, Sir James Scott đều l� th�nh vi�n � thực sự ho�n tất c�ng cuộc th�m hiểm c�c v�ng đ� trong đ� ch�ng ta đ� quan s�t sự tăng trưởng một c�ch tiệm tiến, sự kh�m ph� từ những bước khởi đầu sơ khai.� C�ng việc khổ nhọc của c�c Ủy Hội n�y kh�ng thể tr�nh b�y một c�ch chi tiết được nơi đ�y.� Trong nhiều trường hợp v�ng đất băng qua vốn đ� từng được th�m hiểm v� m� tả bởi c�c kh�ch du h�nh c� h�nh tr�nh m� ch�ng ta đ� khảo s�t; phần c�n lại c�c Ủy Hội n�y đ� nối kết c�c cuộc th�m hỉểm c� nh�n v� độc lập, v� đ� l�m c�ng việc với một sự x�c thực vượt qu� tầm với của c�c nh� địa l� trước đ�y.� Với thời đại của c�c Ủy Hội Bi�n Giới c� nhiều cuộc phi�u lưu, sự quyến rũ v� anh h�ng t�nh l�ng mạng của sự th�m hiểm tất nhi�n bị biến mất.� Sự kh�m ph�, trong nghĩa cũ của từ ngữ, đi đến hồi kết liễu, v� c�ng tr�nh, nhờ tất cả tầm quan trọng về ch�nh trị v� địa dư của n�, nhuốm vẻ buồn b� hơn của c�ng việc dung tục, được thực hiện với sự tương đối thoải m�i v� dễ d�ng hơn trong một phong c�ch c� phương ph�p, nhưng tẻ nhạt, như c�ng việc bắt buộc phải l�m như thế.� C�c th�nh quả của c�c Ủy Hội n�y được t�n thửong một c�ch hay nhất bằng việc nghi�n cứu c�c bản đồ gần đ�y về v�ng Nội Địa (Hinterland) của Đ�ng Dương, phơi b�y một kho chi tiết gần như l�m ngơ ng�c trong mọi khu vực nằm dưới sự thống trị hữu hiệu của �u Ch�u, c� nghĩa, trong mọi phần của n�, ngoại trừ c�c phần thuộc Trung Hoa v� Xi�m La v� một �t dải đất kh�ng hay chi c� �t người cư tr�.

 

���� Nhưng ch�ng ta vẫn c�n phải t�i duyệt x�t sự tiến bộ của cuộc th�m hiểm tại B�n Đảo M� Lai trong phần tư thế kỷ vừa qua.� Điều cần ghi nhận l� m�i cho đến năm 1874, phần nội địa trong thực tế kh�ng được hay biết g� đối với người �u Ch�u, mặc d� Newbolt, Crawfurd v� Logan đ� thu thập một khối lượng th�ng tin khổng lồ về n� từ c�c nguồn tin bản xứ.� Trong năm 1874, L�nh Ch�a (Sultan) v�ng Perak đ� thỉnh cầu sự cố vấn v� trợ gi�p l�n vị Thống Đốc c�c Khu Định Cư tr�n Eo Biển (Governor of the Straits Settlements), v� �ng J. M. Birch, Thư K� Thuộc Địa tại Singapore, đ� được ph�i đến tr� đ�ng tại Triều Đ�nh của �ng L�nh Ch�a.� Kh�ng l�u sau đ� L�nh Ch�a v� đối thủ tranh ng�i vua đ� giải quyết c�c sự kh�c biệt của họ tr�n căn bản của sự ch�n gh�t chung đối với người da trắng v� �ng Birch đ� bị hạ s�t một c�ch xảo tr�.� Với sự kiện n�y, binh sĩ Anh đ� đổ bộ l�n Perak, v� sau một cuộc chiến tranh ngắn, L�nh Ch�a Abdullah bị đ�y đến đảo Seychelles, v� th�n nh�n của �ng l� Raja Muda Jusuf được lập l�m Nhiếp Ch�nh.� Ng�i Sir Hugh Low, một vi�n chức c� rất nhiều kinh nghiệm về M� Lai, người đ� hấp thụ từ vị đệ nhất Raja Brooke c�c nguy�n tắc vững chắc về vấn đề c�c tr�ch nhiệm của �u Ch�u đối với v� c�c phương ph�p cai trị d�n bản xứ, đ� được bổ nhiệm l� Tr� Sứ tại Perak, v� dưới sự hướng dẫn kh�n ngoan v� kh�o l�o của �ng sự y�n tĩnh ho�n t�an đ� mau ch�ng được v�n hồi.

 

���� Cộc nội chiến k�o d�i v� c�c h�nh vi hải tặc v� x�m lược dẫn đến một ch�nh s�ch tương tự tại Selangor v� Sungei Ujong � hai Bang Quốc Bản Xứ nằm xa hơn về ph�a nam, b�n bờ ph�a t�y của B�n Đảo � v� trong năm 1887 một hiệp ước đ� được k� kết với vị L�nh Ch�a của Pahang, b�n bờ biển ph�a đ�ng, theo đ� một nh�n vi�n Anh Quốc, ch�nh l� t�c giả n�y, đ� được bổ nhiệm l�m tr� sứ tại Pekan, thủ đ�, v� được ban cho c�c thẩm quyền l�nh sự.� Trong năm kế tiếp, một thuộc d�n Anh quốc, một người gốc Trung Hoa, bị hạ s�t tại Pekan trong những t�nh huống rất r� rệt, v� Ch�nh Phủ Anh Quốc, nhận định rằng sự hiện diện của một Tr� Sứ Anh tại Pahang l� sự bảo đảm hữu hiệu duy nhất cho sự an t�an về� nh�n mạng v� t�i sản, đ� khuyến dụ vị L�nh Ch�a đặt xứ sở của �ng dưới sự bảo hộ của Anh Quốc.� Năm 1891, c�c sự x�o trộn đ� b�ng nổ tại Bang Quốc, k�o d�i trong khoảng mười hai th�ng, khi đ� c�c l�nh tụ nổi lọan đ� bị truy đuổi phải t�m nơi tr� ẩn tại v�ng bi�n giới c�c Bang Quốc độc lập ở Trengganu v� Kelantan.� Một cuộc đột k�ch v�o Pahang cầm đầu bởi c�c kẻ ngo�i v�ng ph�p luật n�y đ� diễn ra trong năm 1894, v� trong năm kế đ� một đo�n viễn chinh, bao gồm l�nh bản xứ tuyển mộ dưới sự l�nh đạo của �u Ch�u, đ� được ph�i đến Kelantan v� Trengganu với mục đ�ch thực hiện việc bắt giữ c�c kẻ cầm đ�u.� C�c thủ lĩnh lần lượt rơi v�o tay c�c ủy vi�n Xi�m La được ph�i từ Bangkok để trợ gi�p việc bắt giữ họ, v� sau khi một trong c�c thủ lĩnh của họ bị hạ s�t một c�ch xảo tr� bởi c�c vi�n chức Xi�m La, c�c kẻ sống s�t đ� được chở sang Xi�m La.� Từ l�c đ� h�a b�nh tại phần đất bảo hộ của Anh Quốc kh�ng hề bị ph� vỡ.

 

���� Ch�nh l� sau những cuộc chiến tranh tại Perak v� Sungei Ujong v� cuộc ph�o k�ch Kuala Selangor bởi một chiếc thuyền Anh Quốc m� c�ng t�c th�m hiểm v�ng nội địa đ� được khởi sự một c�ch s�i động.� Trong cuộc chiến tranh ở Perak c�c binh sĩ Anh Quốc đ� tiến l�n gi�ng s�ng đến tận Kota Lama, nhưng xuy�n qua một người � Đại Lợi, �ng Bozzolo, phục vụ trong Ch�nh Quyền Perak, kẻ đ� tham gia v�o c�c hoạt động hầm mỏ tại Perak, đ� th�m hiểm v�ng đất từ điểm đ� đến Bang Quốc nhỏ b� Raman giữa c�c năm 1880 v� 1883, phải chờ m�i đến năm kể sau [1883] gi�ng s�ng Perak, vốn đ� được ngược gi�ng bởi Ng�i (đ� qu� cố) Sir William Maxwell hồi năm 1875, mới được vẽ họa đồ gần đến tận nguồn gốc của n�, một phần bởi �ng St. George Caufield, �v� một phần, như ch�ng ta đ� nh�n thấy, bởi �ng McCarthy.� Một �t năm trước sự kiện n�y, B�n Đảo đ� được băng ngang từ Sungei Ujong đến cửa s�ng Pahang bởi c�c �ng Daly v� O�Brien, c�c người đ� đi theo con đường dẫn ngang qua c�c ngọn n�i đến Bra, một chi nh�nh hữu ngạn s�ng Pahang.� Trong c�c năm 1884-85, �ng William Cameron, một nh� th�m hiểm l�m việc cho Ch�nh Phủ, đ� lần đường đi từ thung lũng Kinta tại Perak xuy�n qua rặng n�i ch�nh để tiến v�o thung lũng s�ng Telom, một trong những chi nh�nh thượng lưu của s�ng Pahang, xu�i gi�ng Telom xuống nơi giao tiếp của n� với con s�ng Jelai v� từ con s�ng kể t�n sau [Jelai] tới Kuala Tembeling.� Tại điểm n�y, c�c gi�ng s�ng hợp nhất bắt đầu mang t�n Pahang, v� Cameron tiếp tục xu�i xuống gi�ng s�ng đ� cho đến biển, l�m cuộc khảo s�t địa h�nh đường đi của �ng bằng la b�n bấm giờ [?].

 

���� Trong năm 1884 �ng, giờ đ�y l� Ng�i Frank Swettenham, kẻ v�o l�c đ� tạm thay quyền của Ng�i Sir Hugh Low l�m Tr� Sứ tại Perak, đ� băng gang B�n Đảo đến cửa s�ng Pahang với Đại �y Giles, R.A. v� Ng�i Hon. Martin Lister.� Con đường đi dẫn l�n tới con s�ng Berman, một gi�ng nước đ� từng được th�m hiểm đầu ti�n bởi Ng�i Sir Frank Swettenham v�i năm trước đ�, v� sau đ� l�n đến phụ lưu của n�, s�ng Xi�m la.� Từ điểm n�y, đo�n đ� được chuy�n chở tr�n đất liền bởi c�c thớt voi đến đầu nguồn s�ng Lipus, phụ lưu ch�nh b�n hữu ngạn của s�ng Jelai.� Hai con s�ng c�ng chảy với nhau khoảng hai mươi dậm b�n tr�n Kuala Tembeling, v� từ nơi họp lưu của ch�ng đo�n th�m hiểm đ� xu�i gi�ng s�ng Pahang đến cửa s�ng của n�, v� trở về bờ biển ph�a t�y bằng đường biển.� Đại �y Giles đ� cải thiện c�ch n�o đ� bản đồ trắc địa theo la ban bấm thời giờ vốn được thực hiện bởi �ng Cameron.

 

���� Một �t năm trước khi c� sự việc n�y, Nam Tước Mikioucho-Maclay, đ� lần đường ngược gi�ng s�ng Pahang đến Kuala Tembeling, v� ngược gi�ng s�ng đ� đến Kuala Sat, từ đ� �ng đ� đi đường bộ băng qua đường ph�n ranh tiến v�o thung lũng Lebir, một trong những chi nh�nh ch�nh của con s�ng Kelantan.� Tuy nhi�n những cuộc khảo s�t như thế m� �ng đ� thực hiện, rất kh�ng ch�nh x�c v� đ�ng g�p �t v�o sự hiểu biết về v�ng n�y vốn thụ đắc được từ c�c nguồn tin bản xứ.

 

���� Giữa c�c năm 1884 v� 1887, một số c�c nh� đầu cơ b�n rộn về việc thụ nhận c�c đặc nhượng từ vị L�nh Ch�a Bang Quốc Pahang, v� B�n Đảo đ� được băng ngang bởi nhiều nh�n vi�n của họ từ cửa s�ng Klang cho đến cửa s�ng Pahang, xuy�n qua Kuala Kubu, Raub, v� thung lũng Lipis của s�ng Pahang, giải đất tr�n đ� đường hỏa xa Selangor v� đường xe vận tải Pahang ng�y nay đi ngang qua.� Trong năm 1887 người viết n�y đ� đi theo bước ch�n của Ng�i Sir Frank Swettenham, băng ngang B�n Đảo bởi con đường (s�ng) Xi�m La [?] v� xu�i gi�ng s�ng xuống tới biển, v� trong năm kế tiếp, người viết đ� thực hiện một h�nh tr�nh s�u rộng xuy�n qua c�c quận nằm ở sườn ph�a đ�ng của rặng n�i ch�nh trong l�nh thổ Pahang, quay trở lại s�ng Pahang qua phụ lưu hữu ngạn của n�, tức s�ng Semantan.� V�o khỏang c�ng l�c, B�n Đảo được băng ngang từ Kedah đến cửa s�ng Petani bởi một v�i nh�n vật quan t�m đến việc đ�o hầm mỏ, người đầu ti�n trong họ c� thực hiện một cuộc khảo s�t trắc địa đường đi l� �ng H. M. Becher, người trong năm 1895 đ� bỏ mạng khi cố tr�o l�n ngọn Gunong Tahan, được tin l� đỉnh cao nhất tại B�n Đảo M� Lai.

 

���� Trong khi đ� tại Perak, Selangor v� Sungei Ujong, c�ng việc khảo s�t địa ch�nh chi tiết v� th�m hiểm tiến bước một c�ch đều đặn dưới sự bảo trợ của c�c ch�nh quyền địa phương, v� trong năm 1887 v�ng bảo hộ của ch�ng ta được mở rộng đến Negri Sembilan, hay Ch�n Bang Quốc, tạo th�nh phần Nội Địa của Malacca.� Dần d� to�n thể xứ sở b�n bờ biển ph�a t�y, từ c�c bi�n giới của Kedah đến s�ng Muar, hiện nằm dưới chủ quyền của bang Johor, đ� được vẽ bản đồ với sự ch�nh x�c đ�ng kể, v� từ khi đ� v�ng đất n�y đ� được mở mang bởi c�c đường hỏa xa v� c�c đường bộ tuyệt hảo.� Tr�n bờ biển ph�a đ�ng một dịch vụ tương tự được thực hiện cho Pahang, v� trong năm 1895 người viết n�y, trong khi cầm đầu một đ�an viễn chinh vũ trang tr�n c�c bi�n giới của Anh Quốc, đ� băng ngang v� vẽ bản đồ to�n thể thung lũng Trengganu từ c�c ngọn n�i cho đến biển, l� người da trắng đầu ti�n băng ngang B�n Đảo bởi con đường n�y.� �ng R. W. Duff, người đi theo đo�n th�m hiểm, bổ t�c bản đồ c�c thung lũng của s�ng Stiu v� s�ng besut, hai con s�ng đổ v�o biển ph�a bắc Kuala Trengganu, v� trong c�ng dịp v�ng Lebir v� một phần lớn con s�ng Kelantan cũng được khảo s�t một c�ch kh�i qu�t.� Ba năm trước đ� �ng W. W. Bailey đ� vượt qua đường ranh ph�n chia giữa c�c gi�ng nước thượng lưu của con s�ng Jelai v� c�c phụ lưu của con s�ng Galas, chi nh�nh ch�nh của con s�ng Kelantan, v� đ� xu�i gi�ng v� khảo s�t một c�ch kh�i qu�t con s�ng kể sau cho tới cửa s�ng của n�.� Trong năm 1896 �ng D. H. Wise đ� qu� cố, trong khi tạm quyền Tr� Sứ Pahang, đ� đi tới đường ranh ph�n chia giữa c�c s�ng Pahang v� Kinta, đi theo một chiều hướng ngược lại với con đường m� mười hai năm trước đ� đi qua bởi �ng Wilkiam Cameron.� S�ng Kelantan kể từ đ� đ� được th�m hiểm với một số chi tiết bởi �ng R. W. Duff v� c�c nh�n vật li�n kết với �ng trong sự khai th�c c�c hầm mỏ của Kelantan.

 

���� Sự t�m lược ngắn n�y s� đủ để chuyển tải một � tưởng về tầm mức theo đ� sự th�m hiểm đ� từng được thực hiện cho đến thời điểm ng�y nay tại B�n Đảo M� Lai.� Tại c�c bang quốc ph�a t�y nằm dưới sự bảo hộ của Anh Quốc c�ng cuộc khảo s�t địa ch�nh trong c�c giai đoạn tổng qu�t c� thể được n�i l� đ� ho�n tất, mặc d� c�ng t�c trắc địa tam gi�c khởi sự từ năm 1883 tại Perak c� tiến độ chậm chạp.� B�n bờ ph�a đ�ng, Pahang giờ đ�y được kh�m ph� trọn vẹn, v� Trengganu, Kelantan v� Petani, một phần, mặc d� ngay cả tại Bang Quốc được n�u t�n đầu ti�n vẫn c�n c�c khu rừng lớn chưa bao giờ bị x�m nhập bởi một người da trắng, v� c�c khu vực kh�c c� thể chưa hề c� một người M� Lai n�o đặt ch�n tới.� C�c khu vực được khảo s�t �t đầy đủ nhất l� c�c quận nằm dưới sự cai trị của L�nh Ch�a v�ng Johor, bao gồm to�n thể phần ph�a nam của B�n Đảo M� Lai, mặc d� v�ng đất nằm giữa c�c con s�ng Endau v� Pahang đ� được thăm viếng v�i lần bởi �ng H. B. Ellerton trong năm 1897, v� �ng E. Townley trong năm 1900.� Tương tự tại ph�a bắc, từ Kedah đến Eo Biển Kra, v� tr�n bờ biển ph�a đ�ng b�n tr�n s�ng Petani, sự hiểu biết m� ch�ng ta thụ đắc về v�ng nội địa th� rất thiếu s�t, mặc d� khu vực n�u ra kh�ng lớn v� c�c duy�n hải đ� được x�c định bởi c�c cuộc khảo s�t của Bộ Hải Qu�n.� Cuộc th�m hiểm Skeat trong c�c năm 1899-1990, mặc d� mục ti�u của n� ch�nh yếu l� về chủng tộc học, đ� bổ t�c một c�ch đ�ng kể c�c chi tiết cho sự hiểu biết của ch�ng ta li�n quan đến Kelantan, Petani, v� c�c quận huyện l�n cận; nhưng trong dịp n�y tương đối �t c� v�ng đất mới được khai ph�.

 

���� Gunon[g] Tahan, như đ� được m� tả, được tin l� ngọn n�i cao nhất ở Bản Đảo M� Lai, tọa lạc tại rặng n�i từ đ� nhiều con s�ng của c�c thung lũng Jelai v� Lebir ph�t nguy�n.� Một v�i nỗ lực kh�ng th�nh c�ng đ� được thực hiện để đạt tới đỉnh n�i cảa n� trước khi kỳ c�ng n�y được ho�n th�nh bởi �ng Waterstradt trong năm 1901.� C�c �ng Davidson v� Ridley đ� cố gắng tr�o l�n đ� từ ph�a b�n Tembeling qua ngả s�ng Tahan trong năm 1893, nhưng họ bị bắt buộc phải quay trở lại, bởi thiếu đồ tiếp liệu cần thiết, ở ngay giai đọan ban đầu của h�nh tr�nh của họ.� �ng H. M. Becher đ� lập lại nỗ lực, đi theo c�ng con đường, trong năm 1894, nhưng kh�ng may �ng bị chết đuối trong một cơn lũ đột xuất của con s�ng Tahan trước khi �ng l�m được điều g� kh�c hơn l� tr�ng thấy đỉnh n�i từ xa.� �ng Skeat đ� thực hiện một cuộc thử th�ch t�o bạo đơn độc leo l�n ngọn n�i Gunong Tahan trong cuộc h�nh tr�nh của �ng, nhưng cũng bị thất bại.� �ng Waterstradt đ� tiến tới Gunong Tahan từ ph�a bắc, v� đ� gặp một số sự kh� khăn trong việc x�c định ngọn n�i.� Trước ti�n �ng cố gắng leo l�n từ b�n ph�a Pahang, nhưng sau khi tr�o l�n 4,000 bộ Anh, đ� phải ngừng lại bởi một bức tường đ� thẳng đứng, đổ một khối lựong nước khổng lồ xuống con s�ng Tahan.� Tuy nhi�n, sự th�nh c�ng sau hết đ� chụp l�n đầu c�c nỗ lực của �ng tại ph�a bắc hay b�n ph�a Kelantan của ngọn n�i, nơi m� trở ngại nghi�m trọng nhất để tiến bước l� khu rừng rậm vốn ti�u biểu cho v�ng đất bao quanh.� Theo �ng Waterstradt, Gunong Tahan �t cao vời hơn dự tưởng, chỉ c� chiều cao v�o khỏang từ 7,500 đến 8,000 bộ Anh.

 

���� Trong chương n�y, ch�ng ta đ� khảo s�t sự tiến bộ của c�ng cuộc th�m hiểm tại Đ�ng Dương, Xi�m La v� tại B�n Đảo M� Lai, v�o những năm kết th�c thế kỷ thứ mười chin.� Khu�n khổ thường ngăn cấm một sự khảo s�t chi tiết hơn về c�ng việc đ�, được ph�c họa tổng qu�t nơi đ�y, từ đ� sự quan t�m về thực chất của n� xứng đ�ng cho sự khảo cứu tường tận hơn; nhưng hy vọng rằng những điều cần thiết đ� được n�i l�n để gi�p cho độc giả c� được một � tưởng kh� tổng qu�t về những g� đ� được ho�n th�nh tại c�c khu vực n�y.� Trong mọi trường hợp ưu thế của người �u Ch�u hay tầm mức ảnh hưởng của �u Ch�u, bất luận trong l�nh vực ch�nh tri hay tư tưởng, đ� l� kh�c dạo mở đầu cần thiết cho sự thăng tiến kiến thức.� C�c v�ng đất trong b�i viết l� qu� hương của c�c người da n�u hay da v�ng, nhưng trong mọi trường hợp. c�ng tr�nh địa dư thực hiện tại đ� đ� được gợi �, nếu kh�ng n�i l� đ� được thi h�nh thực sự, bởi ri�ng người �u Ch�u m� th�i.� Khoa học, trong một thời khoảng, l� sự sở đắc độc quyền của c�c chủng tộc da trắng, v� trong khi tại nhiều v�ng đất, những người thuộc giống d�n �u Ch�u đang mang lại luật ph�p v� trật tự, h�a b�nh v� sự ph� t�c, đến c�c nơi chốn hỗn loạn, một nhiệm vụ kh�c nhằm th�c đẩy sự hiểu biết về thế giới đang tiến h�nh một c�ch nhanh ch�ng, v� mỗi năm nhiều �nh s�ng hơn sẽ được đưa ra để chọc thủng b�ng tối từ l�u đ� che khuất tầm nh�n của ch�ng ta về phần �t được tiếp cận hơn của � Ch�u.� Một c�ch ch�nh x�c, �nh s�ng đ� đến nay đ� ph�t hiện những g� sẽ l� đề t�i của chương s�ch kết luận kế tiếp của ch�ng ta./-

 

____

 

Nguồn: Hugh Clifford, C. M. G., Further India, Being The Story of Exploration From The Earliest Times In Burma, Malaya, Siam and Indochina, New York: Frederick A. Stokes Company, 1904, Chương XII, c�c trang 299-330. ����

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải                                                                                                                                              

c�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

� 2007 gio-o

 

                                                                                                                                            

 

 

                                                                                                                                            

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

�� �����������������������������������������