photo: belleindochine.free.fr/

Phụ nữ T�y Phương nh�n

phụ nữ Việt Nam 100 năm trước


GABRIELLE M. VASSAL

VỊ THẾ X� HỘI CỦA PHỤ NỮ

 

C�c Luật Lệ H�n Th�; Hứa H�n v� Ly Dị; Hứa H�n v� C�c Nghi Lễ H�n Th�; Đa Th�; T�nh Trạng X� H�i; Gi�o Dục v� Nghề Nghiệp; C�c N�t Đặc Sắc Của Vẻ Đẹp An Nam; C�c Điểm Tổng Qu�t.

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời người dịch:

 

B�i dịch dưới đ�y l� Chương VIII, trong quyển On & Off Duty in Annam của Gabrielle M. Vassal, được xuất bản tại Lu�n Đ�n năm 1910.� T�c giả l� một phụ nữ người Anh, theo chồng l� một b�c sĩ qu�n y người Ph�p sang phục vụ tại Viện Pasteur ở Nha Trang hồi đầu thế kỷ thứ 20.� B�i viết v� thế c� gi� trị như một c�i nh�n hiếm c� của một phụ nữ T�y Phương đối với phụ nữ Việt Nam gần 100 năm trước đ�y, với nhiều nhận x�t th� vị.

 

***

 

Theo luật ph�p An nam, c� nhật kỳ sớm hơn Bộ D�n Luật nước Ph�p, một người đ�n b� th� b�nh đẳng với người chồng.� Luật c� n�i r� r�ng như thế, �người vợ th� b�nh đẳng� (Th� Gia Tề R� [?], tiếng Việt H�n trong nguy�n bản, chắc c� sự sai lầm, ch� của người dịch]; nhưng trong thực tế điều n�y kh�ng ho�n to�n đ�ng.

 

Người đ�n b� An Nam khi lập gia đ�nh kh�ng nhất thiết phải d�ng t�n của người chồng, m� c�n c� thể giữ t�n ri�ng của m�nh.

 

Tại An Nam, giống như tại Trung Hoa, h�n th� được xem l� một vấn đề rất quan trọng kh�ng thể n�o được ph� mặc cho c�c sự may rủi của sở th�ch hay t�nh y�u. N� l� c�ng việc m� cha mẹ phải sắp xếp v� giải quyết mọi việc, thường kh�ng c� tham khảo với c�c nh�n vật c� li�n hệ mật thiết nhất.� C� l� do tốt cho tập tục n�y.� H�n th� xảy ra ở tuổi rất sớm.� Sự cố vấn chắc chắn l� cần thiết cho lứa tuổi mười bốn v� mười s�u; v� tuổi c� thể lập gia đ�nh của con trai l� mười s�u, v� cho con g�i l� mười bốn.� Theo c�ch t�nh của người An Nam, c�c tuổi n�y trong thực tế c�n thấp hơn nhiều, bởi một trẻ sơ sinh được t�nh l� một tuổi v�o l�c sinh ra, v� hai tuổi ở Tết gần nhất, năm mới của người An Nam.

 

Tuy nhi�n, thời kỳ hứa h�n k�o d�i lại được chấp nhận.� Sự hứa h�n cấu th�nh khế ước ph�p l� đầu ti�n.� N� được kết th�c ngay v�o l�c người h�n th� chấp nhận c�c lễ vật.� Nếu người thanh ni�n ph� bỏ sự hứa h�n, anh ta sẽ mất lễ vật m� anh ta đ� trao cho người h�n thế.� Nếu người con g�i l� kẻ hồi h�n, c� ta c� thể bị khiếu nại bởi người h�n phu đầu ti�n, d� rằng sẽ lấy một người n�o kh�c.

 

C�c cuộc h�n nh�n với th�n nh�n li�n hệ huyết thống sẽ bị trừng phạt với sự nghi�m khắc nặng nề nhất.� Th� dụ, một người đ�n �ng lấy b� c� của m�nh sẽ tức thời bị ch�m đầu.� Anh ta c� thể cưới chị em của người vợ đ� từ trần, điều mang vẻ đủ tự nhi�n đối với mọi quốc gia T�y Phương, trừ Anh Quốc l� nước cũng chỉ t�m c�ch th�ng qua một Đạo Luật t�n th�nh việc đ�.� Anh ta c�n được ph�p lựa chọn c�c người vợ trong số c�c chị em của người vợ đầu ti�n.� Ngược lại, anh ta c� thể phải bị bản �n treo cổ nếu anh ta cưới b� vợ g�a của anh em trai.

 

Mọi loại kết h�n hỗn tạp đều bị ngăn cấm bởi v� ch�ng c� thể l�m đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đ�nh.� Thẩm quyền nguy�n sơ của người chồng kh�ng bao giờ được đặt th�nh c�u hỏi.

 

Nếu người An Nam, với bản chất nghi ngờ v� d� dặt, đ� kh�ng g�n tầm quan trọng lớn lao cho c�c nghi lễ v� gi�o l� Phật Gi�o, �t nhất họ biểu lộ một sự t�n k�nh s�u xa với tất cả những g� li�n quan đến tục thờ c�ng tổ ti�n.� Từ đ� đưa đến sự kiện rằng thẩm quyền v� truyền thống của người cha cấu th�nh c�c nguy�n tắc nền tảng của gia đ�nh.� Tại mỗi nh� đều c� một b�n thờ v� một th�y tế, nhưng chỉ c� người đ�n �ng mới hội đủ điều kiện để cử h�nh lễ. Đ�y l� nguồn gốc của một sự bất b�nh đẳng x� hội to lớn. Điều thường xảy ra y như tại c�c xứ sở kh�c, người đ�n �ng đ� t�m c�ch vận dụng t�n gi�o để gia tăng c�c đặc quyền của m�nh.

 

Sự ra đời của một đứa con trai kh�ng chỉ ban cấp một lộc trời tr�n một con người An Nam, y như tr�n Brahman [giới tăng lữ qu� tộc, ch� của người dịch] của Ấn Độ, m� n� c�n �p đặt tr�n người đ� một bổn phận nghi�m khắc v� linh thi�ng.� Nếu Thi�n Nhi�n kh�ng thuận tiện để ban cho người đ� một đứa con trai, luật ph�p đ� c� v� số c�c phương c�ch để trợ gi�p người đ�.� Trong thực tế đ�y l� nguy�n do trong mọi trường hợp cho t�nh trạng đa h�n v� thừa nhận c�c con thừa tự.� Người vợ kh�ng sinh con c� thể bị trả về cha mẹ của m�nh: b� vợ l� mẹ của những đứa con g�i kh�ng th�i c� thể bị thế chỗ bởi một b� vợ kh�c.

 

Điều th�ng thường xảy ra ở An Nam cho một người đ�n �ng chỉ c� một đứa con g�i l� thừa nhận người con rể, như người Do Th�i đ� l�m từ thủa xưa, nhưng với tư c�ch con rể, kh�ng thể bị buộc g�nh tr�ch nhiệm cho sự thờ c�ng tổ ti�n, n�n cần phải thừa nhận một đứa con trai thứ nh� sẽ thay cho kẻ đ� đứng vai tr� l�m trưởng gia đ�nh.� Trong khi người Trung Hoa c� thể lựa chọn người n�o m� m�nh th�ch trong mục đ�ch n�y, người An Nam bị giới hạn trong số c�c ch�u trai b�n nội v� anh em họ của ch�ng, y như b�n Hy Lạp hay Ấn Độ.

 

Trong vấn đề thừa kế, �phần hương hỏa� bao giờ cũng được dự liệu; điều n�y tạo th�nh một loại phần chia theo phần trăm c� lợi cho người con trai cả hay đứa con trai nu�i.� Sự sắp xếp n�y được thực hiện, người g�a phụ [vẫn] thừa kế t�i sản của người chồng.� Theo văn từ của luật ph�p, c�c con g�i bị loại ra khỏI sự thừa kế, giống như c�c chị em Trung Hoa của họ, nhưng trong thực tế, c� sự ph�n chia t�i sản đồng đều bất kể đến giới t�nh.

 

Theo �Dịch Kinh� [chữ Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], h�n nh�n th� kh�ng thể bị tan vỡ.� Tuy nhi�n, nhiều luật lệ t�n tiến hơn c� điều khoản d�nh cho sự ly dị.� C� bảy l� do c� thể được chấp nhận cho sự ly dị, chỉ kh�c biệt đ�i ch�t với c�c điều thịnh h�nh tại Trung Hoa.� C�c l� do n�y gồm: kh�ng c� con, d�m loạn, trộm cắp, ghen tương, lắm lời, bất k�nh đối với cha mẹ chồng, v� mắc c�c chứng �c tật kh�ng thể chữa trị được như c�i hủi v� động kinh phong.� Tuy nhi�n c� những trường hợp ngoại lệ n�o đ� chứng tỏ sự kh�n ngoan v� nh�n đạo nơi người l�m luật.� Người đ�n �ng kh�ng thể ly dị vợ một khi họ đ� khởi sự đời sống vợ chồng trong sự ngh�o khổ v� sau n�y trở n�n gi�u c�; �ng ta cũng kh�ng thể bỏ vợ nếu người đ� kh�ng c�n giữ quan hệ với người m� b� ta c� thể đ� c� t�nh cảm.

 

Kh�ng duy�n cớ n�o được chấp nhận cho sự ngoại t�nh; với t�nh trạng phạm ph�p quả tang được chứng minh, người chồng được ph�p giết chết đ�i kẻ phạm tội.� Thời xa xưa người vợ phạm tội bị mang ra chốn c�ng cộng để bị voi dầy cho đến chết.� B� ta bị tr�i trong tư thế quỳ gối v�o một chiếc cột v� bị che phủ bởi lớp m�n đen.� Con voi khi đ� sẽ được thả ra, x�ng đến người đ�n b� bất hạnh, v� x� x�c người đ�n b� bằng cặp ng� của n�.� Sự trừng phạt sau n�y được giảm xuống c�n l� bị đ�nh ch�n mươi trượng, v� ở thời điểm hiện tại, người đ�n �ng [được ph�p] đem b�n vợ đi hay ngay cả giữ người đ� lại.� Tại Đ�ng Dương, c�c trường hợp trả th� man rợ ng�y c�ng trở n�n hiếm hoi hơn, nhưng c�ch đ�y kh�ng l�u một cặp gian d�m c� thể c�n được nh�n thấy l� bị buộc v�o một c�i b� cho tr�i s�ng.� Họ đ�i khi c�n bị buộc l�m khổ nhau, tay v� ch�n bị tr�i chặt v�o nhau, v� miệng của họ được gắn liền bởi việc nh�t v�o đ� c�c r�c rưởi h�i h�m.� Phong tục ng�y nay nh�n nhận sự ly dị với sự đồng � của hai b�n.

 

Người vợ An Nam được cưới hỏi theo luật về cộng đồng t�i sản phu phụ.� Ch�nh v� thế người chồng khi mua hay b�n đất đai kh�ng bao giờ thiếu s�t trong việc ghi cả t�n người vợ m�nh.� Th�n X� ghi ch�p c�c quyền c� nh�n của người vợ trong sổ s�ch v� người mua b�n kh�ng qu�n người vợ đ� trong c�c giao dịch quan trọng.

 

C�c lời gi�o huấn li�n quan đến h�n nh�n sẽ được t�m thấy trong �Ly-hi� [Lễ K� ?, ch� của người dịch] hay s�ch ghi nhớ về c�c lễ nghi, bắt nguồn từ học thuyết của Khổng Tử..� �H�n lễ ho�n th�nh sự hợp nhất giữa hai người c� t�n kh�c nhau, trong một cung c�ch khiến cho họ c� thể thờ phụng c�c tổ ti�n đ� qu� v�ng của m�nh nơi điện thờ của họ v� huấn luyện c�c thế hệ tương lai đi theo c�c truyền thống của họ.� Do đ� ch�ng ta nhận thấy văn minh An Nam, sau khi vay mượn v� h�a trộn với văn minh Trung Hoa trong nhiều thế kỷ, nay c� khuynh hướng đi theo một đường lối cổ truyền.

 

H�n nh�n An Nam, theo Luro [một t�c giả người Ph�p chuy�n về việc huấn luyện c�c vi�n chức Ph�p sang phục vụ tai Đ�ng Dương, ch� của người dịch], l� một khế ước tự do giữa c�c kẻ mong c� n�.� Đ�ng hơn, đ� l� một sự thỏa thuận giữa hai gia đ�nh.� C�c thẩm quyền c�ng cộng chỉ can thiệp rất �t.� Người mai mốI kh�ng phải l� một quan chức, nhưng �ng ta bị tr�ch nhiệm về mặt ph�p l�.� C�c chi tiết của tất cả c�c nghi thức h�n th� c� thể được t�m thấy trong c�c Bộ Luật của Trung Hoa từ thế kỷ thứ mười hai trước C�ng Nguy�n.� Thoạt đầu, n� bao gồm s�u cuộc lễ, nhưng con số n�y đ� được cắt giảm rất nhiều, v� �t người tu�n h�nh ch�ng một c�ch tận t�nh.

 

Người mai mối thường l� một người bạn của hai gia đ�nh, nhưng tại c�c thị trấn lớn, �ng ta thường l� một người h�nh nghề chuy�n nghiệp, quen biết với nhiều người v� rất th�ng thạo mọi lề nghi.� Đ�ng trai trước hết ph�i người mai mối đến nh� g�i, nơi m� lời cầu h�n sẽ được tr�nh cho cha mẹ, v� nếu c�u trả lời c� t�nh c�ch thuận lợi, gia đ�nh thanh ni�n sẽ chuyển đến họ t�n, tuổi, ng�y sinh của thanh ni�n trong một tấm thiệp m�u đỏ.� Người đại diện cũng nhận được c�ng th�ng tin như thế từ ph�a nh� c� g�i.� Khi đ� c�c th�y b�i được tham khảo để xem hai gia đ�nh v� tuổi của hai người c� hợp với nhau hay kh�ng.� Nghi lễ n�y được bỏ qua nếu c�c cha mẹ của đ�i b�n đều rất lo lắng cho cuộc h�n nh�n v� e sợ một c�u trả lời kh�ng thuận lợi.� Người mai mối ấn định ng�y cưới, v� c�ng l�c, cha mẹ gắng sức bổ sung lễ vật v� lời cầu nguyện l�n tổ tri�n của họ.� Khi đ� c�c bổn phận của người thanh ni�n bắt đầu.� Theo sau bởi một đ�m rước của c�c người quen biết với c�c th�n h�o trong th�n x�, người thanh ni�n sẽ tự m�nh đến tr�nh diện đ�ng theo c�c nghi thức trước gia đ�nh nh� g�i v� d�ng c�c lễ vật, chẳng hạn như trầu cau, v� nhiều thứ kh�c �Nếu c�c lễ vật n�y được chấp nhận, kẻ cầu mong kể từ l�c đ� được xem l� người con rể.� Trong trường hợp c�c gia đ�nh ngh�o, anh ta sau đ� sinh sống trong c�ng nh� với vị h�n th�.� Trong c�c gia đ�nh gi�u c� hơn, người thanh ni�n sẽ trở về nh� ri�ng của m�nh, v� sẽ kh�ng quay lại thăm viếng người h�n th� cho đến ng�y được ấn định l� ng�y hứa h�n.

 

Đ�y l� lễ nghi lớn thứ nh�.� Trong dịp n�y, một lần nữa anh ta lại d�ng trầu cau, c�ng c�c v�ng đeo tay, lụa m�u, hai c�y nến đỏ, hai ch�n rượu nhỏ, v� một con heo quay nhỏ.

 

Đ�m rước th� rất vui vẻ v� ngoạn mục.� Mọi người đều mặc trang phục đẹp đẽ nhất của họ, nhiều người mang theo lọng, c�c người thổi s�o tr�nh diễn một c�ch linh hoạt.� Khi đến nơi cư ngụ của vị h�n th�, c�c lễ vật được đặt l�n tr�n b�n thờ, c�c ngọn nến đỏ được thắp l�n, v� rượu được đổ ra c�c chiếc ch�n.� Hai người cha c�ng đứng l�n v� b�i lạy trước b�n thờ, kế tiếp l� hai b� mẹ.� Một bữa tiệc, trong đ� mọi chi tiết về nghi thức phải được t�n trọng nghi�m ngặt, kết th�c buổi lễ.

 

Ng�y cưới c�n long trọng hơn nữa.� Cha của ch�ng trai tụ tập to�n thể th�n nh�n của gia đ�nh đứng trước b�n thờ, v� ở đ� tr�nh diện trước tổ ti�n đứa con sắp đi lập gia đ�nh.� Sau đ�, lần thứ ba ch�ng trai sẽ tiến bước đến nh� vị h�n th�.� Ch�ng ta được dẫn đường bởi c�c gia nh�n bưng qu� cưới v� bao quanh bởi đ�m đ�ng b� bạn v� th�n nh�n.� Sau một sự ch�o hỏi ngo�i trời, mọi người sẽ tiến v�o trong nh� v� qu�y quần quanh b�n thờ.� H�n phu tự m�nh b�i lạy trước b�n thờ, v� rồi tiến đến bố mẹ vợ để d�ng rượu v� trầu cau.� Troing khi đ� cha của ch�ng trai đọc bản liệt k� c�c qu� dẫn cưới.

 

Đ�i trẻ sau đ� được dẫn tới một buồng d�nh ri�ng cho họ, v� đứng trước b�n thờ phụng thờ c�c vị thần của h�n nh�n, tr�n đ� nến được thắp v� hương được đốt, c�c cha mẹ sẽ ch�c đ�i trẻ c� đ�ng con ch�u v� khuyến kh�ch họ g�n giữ h�n phối cho đến m�n đời.� Đ�y l� l�c long trọng nhất trong to�n thể buổi lễ.� Khi xưa, đ� l� l�c m� người vợ trẻ v�n khăn che mặt l�n v� người chồng l�m như mới thấy mặt n�ng lần đầu ti�n.� Người vợ giờ đ�y sẽ b�i lạy bốn lễ trước người chồng, người chồng đ�p lại một lễ trước ngườI vợ.� Họ đổi ch�n rượu cho nhau, v� cuộc lễ ho�n tất.� Một bữa tiệc sau đ� được tổ chức trong đ� đ�i t�n h�n sẽ tham dự.

 

H�n nh�n giữa những người ngh�o �t phức tạp hơn nhiều, v� h�n lễ c�c người vợ lẽ thường chỉ gồm một hợp đồng mua b�n đơn giản.

 

Tập tục đa th� của người An Nam th� kh�c biệt s�u xa.� Nh� Vua An Nam c� số lượng c�c b� vợ lớn lao, nhưng ngay c�c quan chức cao cấp nhất hiếm khi n�o c� hơn bốn hay năm b� vợ.� Người ngh�o th� chỉ cần c� một người vợ, bởi số c�c b� vợ chỉ bị chi phối bởi số của cải vật chất.� Một thương nh�n hay quan chức du h�nh nhiều thường c� một gia đ�nh tại mỗi trung t�m hoạt động ch�nh của họ, [với] người vợ đ�ng vai đại l� thương mại hay quản l� cho m�nh.� Một số t�c giả cho rằng t�nh trạng đa th� xảy ra l� v� c� số sinh ph�i nữ nhiều hơn, nhưng cũng c� phần do ước muốn bảo đảm được sự gi�u c� nhất v� một gi�ng d�i đ�ng đảo nhất c� nhiều người t�i giỏi nhất.

 

Người vợ ph�p định được gọi l� người vợ bậc nhất: �vợ ch�nh�.� B� ta nắm giữ một vị thế quan trọng trong gia đ�nh.� B� l� vị ho�ng hậu của tổ ấm.� Tất cả c�c b� vợ lẽ, gia nh�n, v.v�. đều phải v�ng lời b�; mọi đứa con đều k�nh trọng v� t�n phục b�.� Thời gian cư tang khi b� chết l� ba năm, trong khi với sự từ trần của bất kỳ b� vợ n�o kh�c, chỉ phải cư tang một năm, v� sau đ� bởi c�c đưa con ri�ng của người đ�.� L�c c� sự từ trần của người cha, mọi đứa con của c�c b� vợ kh�c nhau đều nhận được c�ng ngạch số [thừa kế].� B� vợ ch�nh thức đầu ti�n giữ một quyền lợi suốt đời tr�n t�i sản của người chồng.� Phần sở hữu của mỗi người mẹ sẽ được đem chia cho c�c con ri�ng người đ�.

 

Điều c� thể nhận thấy rằng địa vị x� hội của người đ�n b� An Nam đ� đạt được một mức độ cao.� Nhiều nền văn minh T�y Phương đ� kh�ng thừa nhận những quyền lợi của phụ nữ ở mức độ cao hơn thế. [in đậm để l�m nổi bật bởi người dịch].

 

Kiến thức được trọng vọng bởi người An Nam, c�c kẻ đ� chỉ lựa chọn c�c quan chức của họ trong số c�c học giả.� Mọi bằng cấp đạt được ở c�c cuộc khảo th� tương ứng với một chức vụ trong hệ cấp, đến nỗi An Nam c� thể được trưng dẫn như một nền d�n chủ l� tưởng, trong đ� quyền h�nh chỉ nằm trong tay những người c� học thức uy�n b�c nhất.� Ngay cả người n�ng d�n ngh�o khổ nhất cũng c� khả năng viết được v�i trăm chữ v� thảo một đơn thỉnh cầu.� Tại mọi l�ng x� An Nam, đều c� một ng�i trường tiểu học, nhưng chỉ d�nh ri�ng cho con trai.� Em g�i nhỏ kh�ng đi đến trường l�ng. Đ�y l� một yếu tố quan trọng cần ghi nhớ khi khảo s�t cuộc sống của người đ�n b� An Nam.� Xem ra kh�ng c� luật lệ n�o cấm đo�n việc đ�, v� trong thực tế c�c nh� l�m luật An Nam, tho�t ra khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa, đ� biểu lộ một khuynh hướng tiến bộ trong vấn đề c�c quyền hạn của người phụ nữ, v� sẽ kh�ng bao giờ phạm phải một sự bất c�ng như thế.� N� chỉ ho�n to�n l� một vấn đề của phong tục, nhưng hơn bất kỳ điều g� kh�c, n� cản trở sự tiến bộ của phụ nữ.

 

Đứa con g�i nhỏ An Nam do đ� bắt buộc phải thụ l�nh điều giảng dạy m� em c� thể c� được tại nh�.� Nếu cha mẹ em ngh�o kh� v� kh�ng c� th� giờ dạy dỗ cho em, em lớn l�n trong sự ngu dốt gần như ho�n to�n.� Việc học chữ nghĩa th� l�u d�i v� kh� khăn; tr� nhớ thời c�n trẻ th� cần thiết, bởi chữ nghĩa kh�ng c�n dễ d�ng sở đắc sau thời kỳ thơ ấu.� C� một số em g�i nhỏ học được đủ chữ nghĩa để sau n�y gi�p c�c em giữ sổ s�ch kế to�n hay trợ gi�p trong một doanh nghiệp.

 

Cũng c� một số �t phụ nữ thuộc tầng lớp qu� tộc v� gi�u c� nhận được một nền gi�o dục ho�n to�n th�ng suốt.� Những người n�y c� khả năng đọc, hiểu, v� thảo luận về Khổng Tử.

 

Trước khi c� sự chiếm đ�ng của người Ph�p, đ� kh�ng c� ngay chỉ một trường học d�nh cho con g�i trong khắp c�i An Nam.� C�c gi�o sĩ truyền đạo đ� ph� vỡ truyền thống n�y bằng việc gi�o dục c�c em g�i mồ c�i.� V�o thời điểm hiện nay, đ� c� c�c phụ nữ nắm giữ chức vụ trưởng cơ quan tại S�ig�n v� H� Nội, v� trong th�nh phố kể sau, v�i cơ xưởng sản xuất đồ lụa v� đồ chạm khắc được quản l� chuy�n độc bởi phụ nữ.

 

C�c người vợ của c�c nghệ nh�n vốn nổi tiếng l� sắc sảo v� tinh kh�n trong việc kinh doanh như c�c người chồng của họ, v� v� l� do n�y, điều kh�ng c� g� l� kh�c thường khi thấy c�c thương gia Trung Hoa lại hay chọn lấy c�c người vợ An Nam.

 

C�c người vợ ch�nh của c�c quan lại kh�ng l�m việc tay ch�n, bởi v� sẽ bị xem l� l�m hạ bớt phẩm gi� của m�nh. Đ�i khi họ c� l�m b�nh kẹo cho vui, nhưng c�c c�ng việc h�ng ng�y trong gia đ�nh, chẳng hạn như chuẩn bị cho c�c bữa ăn, kh�u v� v� qu�t dọn, đều được d�nh cho c�c người đ�n b� kh�c trong gia đ�nh.� Họ kh�ng bao giờ dệt vải hay th�u th�a, trong thực tế, l�m sao m� họ lại c� thể l�m việc đ� bởi m�ng tay của họ được giữ cho mọc d�i đến 10 hay 15 ph�n!� Họ d�ng phần lớn thời gian để ca h�t v� cho �m nhạc.

 

Điều kh� ngạc nhi�n để kh�m ph� ra rằng trong số c�c phụ nữ An Nam, c�c người mẹ ho�n hảo một c�ch tự nhi�n v� khỏe mạnh, c�c b� thuộc từng lớp gi�u c� hơn kh�ng bao giờ tự nu�i nấng c�c con nhỏ của m�nh, m� lại để ch�ng được nu�i dưỡng bởi một v� em được trả tiền c�ng.� Một vị quan lại cho t�i hay rằng chỉ c� một trong cả ng�n người tự m�nh nu�i nấng con nhỏ.

 

Hoa l� được b�y biện bởi c�c b� vợ lẽ trong gia đ�nh, l� c�c kẻ cũng chịu tr�ch nhiệm về c�c c�y cảnh v� c�c khu vườn nh�n tạo thu nhỏ.� Một trong c�c c�ng việc ch�nh yếu kh�c l� cung cấp cho đầy đủ v� sắp xếp tr�p đựng trầu cau.� Phần lớn th� giờ cũng được d�nh cho việc tắm rửa, v� c� lẽ kh�ng thể kể hết c�c chi tiết về việc n�y; c�c sự tắm rửa v� mọi loại đấm b�p, m�i v� l�ng m�y để t� điểm, m�ng tay để b�i sơn, c�c y phục kh�c nhau để mặc thử, kiểu t�c để thay đổi, c�c loại dầu thơm kh�c nhau được chọn cho b�n tay của n�ng, v� sau hết nhưng kh�ng phải l� �t quan trọng nhất, c�c nụ cười để tập cười khi soi gương.� B� ta c� h�t một số loại thuốc l� nhỏ mỏng manh.� B� vợ của vị quan lại kh�ng hề bị cấm cung, v� b� thường đi thăm viếng vợ c�c quan lại kh�c.� Nhưng th� ti�u khiển ch�nh của b� ta l� đ�nh b�i, v� c� lẽ kh�ng thậm xưng khi n�i hơn một nửa cuộc đời của b� ta l� d�ng để chơi b�i.

 

Nhiều b� vợ của Ho�ng Đế An Nam cũng d�ng thời giờ phần lớn c�ng một c�ch như thế.� Những qu�n vương to�n quyền năng n�y l�c n�o cũng muốn bao quanh m�nh một triều đ�nh trong đ� th�nh tố nữ ph�i chiếm ưu thế.� C�c văn bản của đ�n �ng về An Nam đ� n�i đến h�ng trăm b� vợ của �ng vua.� Trong khi một qu�n vương chỉ c� quyền c� ba b� vợ ch�nh thất hạng nhất, c�c quận ch�a thuộc hạng thứ nh� th� v� số, bởi tất cả c�c quan lại nhiều quyền thế đều mong muốn c� một trong số c�c con g�i của m�nh sống trong ho�ng cung.� Nhưng sẽ l� điều sai lầm nếu kể trong số c�c phụ nữ được sủng �i trong triều bao gồm cả c�c vũ c�ng, đ�o h�t, ca nữ, v� kịch sĩ thường hay lui tới triều đ�nh.� Nh� Vua được phục vụ bởi c�c b� vợ quỳ gối [tuyệt đối phục thị].

 

Một c�u tục ngữ của An Nam c� n�i, �Ớt n�o m� ớt chẳng cay, G�i n�o l� g�i chẳng hay ghen chồng � [trong nguy�n văn dịch kh� b�ng bảy như sau: Where is the pimento that is not peppered? Where is the woman who is not jealous?, ch� của người dịch].� Sự cạnh tranh v� ganh đua giữa c�c người đ�n b� trong cung đ�i khi đến mức kh�ng thể tin được.� Nhiều mưu m� được h�nh th�nh, c�c sự lừa gạt v� thủ đoạn được thực hiện trong Triều Đ�nh.� Trong bầy thiếu nữ nổi tiếng l� những người đẹp nhất tại An Nam, tất cả c�c nguồn lực của sự th�ng minh v� điệu nghệ, tất cả c�c n�t tinh xảo của trang phục, đều được vận dụng.� Một người đ�n b� n�o đ� tự tin về sắc đẹp v� sự quyến rũ của m�nh, bởi n�ng đ� được lựa chọn trong số c�c bạn đồng h�nh trong nhiều th�ng.� Tuy nhi�n, c�c nỗ lực kh�ng được bu�ng lơi, mục ti�u của mọi người đ�n b� l� nhằm l�m vừa l�ng vị qu�n vương, l�m vừa l�ng với bất cứ gi� n�o.

 

Để xuất hiện trong c�c buổi lễ tại Triều Đ�nh, trang phục kh�ng thể n�o được ph� mặc cho sở th�ch may rủi.� C�c sắc dụ cổ xưa quy định m�u sắc của lụa may v� mức độ đậm đặc của h�nh th�u.� D� sao đi nữa, vẫn c�n chỗ cho sự kh�o l�o c� nh�n.�

 

Khi tắm rửa xong, b�i chơi được mang ra, hay những người th�ng minh hơn trong họ cho mời c�c th�y dạy đọc trong cung v� lắng nghe say m� c�c c�u chuyện phi�u lưu hay c�c chuyện t�nh.� Thuốc được h�t li�n tục, trong khi c�ng l�c họ uống tr� v� thưởng thức b�nh tr�i v� mứt gừng.� C�c b� vợ của nh� vua b�y biện hoa l� trong c�c ph�ng trong cung điện v� chất đầy tr�p đựng trầu cau.� C�c phụ nữ sủng �i của Ho�ng Gia hiếm bao giờ được tr�ng thấy b�n ngo�i c�c cổng cung điện, hay trong c�ng ch�ng.

 

Trước khi m� tả cho t�i c�c t�nh chất tổng qu�t của vẻ đẹp đặc th� ở xứ sở n�y, một vị quan lại rất cẩn trọng để giải th�ch rằng �phẩm chất tinh thần v� đức hạnh th� quan trọng hơn nhiều so với vẻ đẹp b�n ngo�i khi vấn đề lựa chọn một người vợ được đặt ra.�� Tr�n đ�y l� những lời của ch�nh �ng ta.� �Ngo�i ra,� �ng n�i th�m, �kh�ng phải l� ch�ng thanh ni�n l� kẻ c� tiếng n�i quan trọng nhất trong vấn đề n�y.�

 

D� sao đi nữa, c�c nh� thơ v� c�c t�nh nh�n của xứ sở n�y đ� ph�c họa một nh�n d�ng l� tưởng phần n�o đ� như sau:

 

K�ch thước của eo kh�ng được qu� hiển hiện, bởi nếu n� qu� lớn hay qua nhỏ, sẽ tạo ra một sự thiếu h�a hơp.

 

T�c d�i nhất v� đen nhất l� đẹp nhất.

 

Khu�n mặt phải c� h�nh tr�i xoan d�i, v� phải c� n�t c�n đối to�n diện.� Người Trung Hoa th�ch khu�n mặt tr�n.� Về vẻ đẹp ph�i nam, người An Nam đ�i hỏi c�c n�t g�c cạnh v� xương g� m� nh� cao.� Tr�ch dẫn, hay đ�ng hơn ghi lại lời một nh� thơ bản xứ, �Mắt của người đ�ng y�u th� s�ng rực như đ�i mắt phụng, l�ng m�y của n�ng c� những đường cong thanh t� v�t ra như m�y của con tằm.� G�t ch�n n�ng th� đỏ như son.�� C�u n�y đ� trở th�nh một c�u tục ngữ phổ th�ng, c� lẽ l� một trong những c�u nổi tiếng nhất đối với người An Nam.

 

Mắt phụng, �Eye of an eagle �

M�y tằm, �eyelash of a silkworm�

G�t son, �Heel like red ink� [c�c phần dịch ra Anh ngữ l� trong nguy�n bản, ch� của người dịch]

 

Kh�ng cần sự tưởng tượng lớn lao để thẩm định về vẻ đẹp của một c�i liếc nh�n chế ngự s�u đậm, m�nh liệt như đ�i mắt của con chim phụng; nhưng chỉ ri�ng người � Ch�u mới t�n thưởng triệt để n�t cong l� tưởng của l�ng m�y!� V� ch�ng ta sẽ n�i được g� về g�t hồng, g�t son đỏ thắm, b�n ch�n nhỏ b� được t� m�u đỏ bởi một n�t phất b�t nhẹ nh�ng của một b� ti�n!� Sự ngưỡng mộ n�y, mang t�nh An Nam rất điển h�nh, phần n�o l�m ch�ng ta ngạc nhi�n.� L�m sao m� một n�t thẩm mỹ như thế lại bị l�ng qu�n bởi người �u Ch�u, trong khi đối với to�n thể sắc d�n n�y, n� l� một đường n�t c� tầm quan trọng hạng nhất. Đ�y l� l� do tại sao người phụ nữ An Nam lại c� thể bỏ đ�i giầy để đi ch�n kh�ng, hay mang một chiếc d�p t� hon chỉ che phủ đầu ng�n ch�n.

 

Liệu c� thể c� bất kỳ sự quan hệ n�o giữa khiếu thẩm mỹ đặc biệt n�y của người An Nam với điều đ� th�c đẩy người Trung Hoa l�m biến dạng b�n ch�n người phụ nữ của họ?� Nhưng điều đ�ng ghi nhận l� tại Trung Hoa phụ nữ cực kỳ lưu t�m đến b�n ch�n. Điều bị xem l� thiếu nh� nhặn cho người đ�n b� tại Đế Quốc Thi�n Triều n�y khi để lộ b�n ch�n của họ, v� c�c họa sĩ lu�n lu�n tr�nh b�y ch�ng như được che dấu b�n trong y phục.� Người An nam kh�ng c� loại th�i độ khi�m tốn đặc biệt n�y, v�, như t�i đ� viết ở tr�n, thẳng thắn ngưỡng mộ g�t son.

 

B�n tay phải nhỏ, ng�n tay phải d�i v� thon.� Cổ tay tr�n lẳng v� trắng l� n�t quan trọng.

 

Người An Nam cũng ph� b�nh về giọng n�i -- họ ngưỡng mộ �m thanh nhỏ nhẹ v� �m tai.

 

C�ch đi v� d�ng điệu của phụ nữ An Nam th� thanh nh� nhất.� Ngay từ l�c c�n nhỏ tuổi, người đ�n b� đ� tập đi, mặt ngước cao, ngực ưỡn, kh�ng mang vẻ cứng ngắc hay khoe m�nh, v� đ�i tay đong đưa tự nhi�n theo một sự chuyển động nhịp nh�ng.

 

Nụ cười l�m hiện ra d�i m� l�m đồng tiền th� mang vẻ quyến rũ đối với họ cũng như đối với ch�ng ta.

 

Lịch sử v� văn chương lưu truyền lại cho ch�ng ta danh t�nh của rất �t c�c người đ�n b� nổi tiếng.� Trong số những người nổi tiếng nhất phải kể đến nữ anh h�ng đất Đ�ng Kinh [Bắc Việt], Nữ Vương họ Trưng, l� người, sau khi giải tho�t đất nước ra khỏi sự đ�n �p của Trung Hoa, đ� trị v� từ năm 39 đến năm 36 trước C�ng Nguy�n.� B� được trợ gi�p bởi người em g�i, Trưng Nhị.� Khi Trung Hoa một lần nữa chiếm đoạt xứ sở, hai vị nữ anh h�ng đất Bắc đ� kết liễu đời sống bằng sự tự vẫn oanh liệt.

 

Trong những thời khoảng kh� khăn hay đ�i k�m, hay trong một số thi�n tai to�n quốc lớn lao, phụ nữ thuộc c�c tầng lớp gi�u c� hơn thường nổi bật.� Một số c�c Ho�ng Hậu Nhiếp Ch�nh, m� người An Nam gọi l� c�c Mẹ Vua hay �Ho�ng Th�i Hậu�, đ� tham gia việc ch�nh trị.� Th� dụ, mẹ của vua Tự Đức đặt ra điều lệ xem x�t mọi chỉ dụ trước khi được tuy�n sắc.� Tr�n s�n khấu v� trong thi ca, phụ nữ thường được tr�nh b�y như tự m�nh đối đầu với sự hiểm nguy v� thực hiện c�c chiến c�ng để giải tho�t hay trả th� cho người chồng.

 

Chỉ c� rất �t tội phạm trong giới phụ nữ, thấp hơn đ�n �ng rất nhiều.� Cũng c� vẻ l� c� �t g�i điếm ở An Nam hơn so với Trung Hoa.� Phụ nữ Trung Hoa kh�ng bao giờ được nh�n thấy tr�n s�n khấu, c�c vai của phụ nữ lu�n lu�n được đ�ng bởi đ�n �ng.� Tuy nhi�n, tại An Nam phụ nữ đ�ng vai tr� t�ch cực trong c�c m�n tr�nh diễn, nhưng d� thế, cả nữ diễn vi�n v� vũ c�ng đều bị nh�n l� rất thấp k�m trong bậc thang x� h�i, v� bị khinh miệt một c�ch c�ng nhi�n.

 

Người phụ nữ An Nam kh�ng bao giờ h�t thuốc phiện, v� điều kh� hiểu l� mặc d� một người đ�n �ng mắc v�o th�i hư n�y được đối xử với sự dung dưỡng, một người đ�n b� sẽ chỉ chuốc cho m�nh một sự sỉ nhục lớn lao nhất nếu kẻ ấy bắt chước người đ�n �ng.

 

Việc giết con th� cực kỳ hiếm c�, c�c người bản xứ m� t�i d� hỏi tin tức c�n cho rằng một việc như thế kh�ng thể c� được.

 

Phụ nữ đi thăm viếng lẫn nhau, nhưng kh�ng bao giờ đ�n tiếp một cuộc thăm viếng của một người đ�n �ng.� Mặc d� họ kh�ng bị gạt ra ngo�i c�c buổi lễ c�ng cộng, họ kh�ng đ�ng một vai tr� qu� nổi bật trong c�c buổi lễ đ�.

 

Người vợ kh�ng được ph�p ngồi ăn c�ng l�c với người chồng, ngay d� trong ng�y đ�m cưới, hay trong bất kỳ thời điểm tương lai n�o.� Ch�nh v� thế, điều đương nhi�n l� người đ�n b� sẽ kh�ng bao giờ tham dự c�ng với c�c người đ�n �ng kh�c trong bất kỳ bữa ăn c�ng khai n�o.� Trong c�c tầng lớp thấp k�m hơn, nghi thức nghi�m khắc n�y dĩ nhi�n phải được nới lỏng hơn, nhưng rồi cũng chỉ xảy ra trong trường hợp cần thiết v� bất đắc dĩ.

 

Người phụ nữ được ph�p đi xem h�t, l� sinh hoạt m� họ biểu lộ một sự th�ch th� nồng nhiệt nhất; tuy nhi�n, ghế ngồi của họ lu�n lu�n được t�ch biệt khỏi chỗ ngồi của đ�n �ng.

 

Một người �u Ch�u đến thăm viếng một quan lại An Nam kh�ng thể xin được gặp c�c b� vợ của �ng ta.� Trừ khi l� một người bạn hay c� quan hệ th�n thiết, một c�u hỏi như thế bị xem l� một sự sỉ nhục.

 

Trong thời kỳ sinh nở, phụ nữ được chăm s�c bởi c�c c� đỡ (c� mụ).� Một b�c sĩ sẽ đến thăm c�c kh�ch h�ng v� c�c sự ốm đau kh�c, nhưng kh�ng bao giờ v� việc n�y. �ng ta kh�ng l�m g� nhiều hơn l� xem mạch, v� ngay khi đ� �ng cũng cẩn thận l�t mảnh vải nằm giữa c�c ng�n tay của �ng với l�n da của nữ bệnh nh�n. Đối với một người An Nam, mời một b�c sĩ người Ph�p v�o thăm bệnh nh�n trong gia đ�nh của m�nh cho thấy một sự gạt bỏ lớn lao c�c th�nh kiến, v� l� một bằng chứng của sự tin tưởng cực kỳ.

 

Ch�nh v� thế, ch�ng ta nh�n thấy người đ�n b� An Nam c� vẻ kh�c biệt với phụ nữ T�y Phương trong cung c�ch v� phong tục nhiều hơn l� về vị thế x� hội.� Sự k�nh trọng v� l�ng hiếu thảo được bảo đảm cho người đ�n b� tại ng�i nh� của m�nh v� luật ph�p thừa nhận cho b� c�c quyền hạn thực sự rộng r�i; khi nhớ đến tục b� ch�n đ�i khi bắt c�c phụ nữ Trung Hoa phải chịu đựng, ch�ng ta nhận thức được rằng người đ�n b� An Nam đ� được đối xử tốt đẹp biết bao so với một số c�c người đ�n b� l�ng giềng ở miền viễn Đ�ng.

 

Gia đ�nh An Nam, được quản trị bởi c�c nguy�n tắc như thế, hẳn phải c� một tương lai thịnh vượng trước mặt.

 

Nếu tục thờ c�ng tổ ti�n đ� đ�ng g�p lớn lao v�o sự vững chắc của cuộc sống gia đ�nh v� cho sự vĩ đại của d�n tộc, n� cũng c� khuynh hướng khiến họ ph�ng đại truyền thống.� T�n gi�o n�y kh�ng nhất thiết chống lại sự tiến bộ, như người Nhật đ� minh chứng.� Nếu ch�ng ta muốn biết về c�c khả t�nh của sắc d�n An Nam v� muốn nhận thức gi� trị đạo đức của họ, ch�ng ta chỉ cần nh�n v�o đời sống gia đ�nh của họ v� sự đối xử đầy k�nh trọng đối với phụ nữ của ho./- [in đậm để l�m nổi bật bởi người dịch].

 

 

 

Nguồn: Gabrielle M. Vassal, On & Off Duty in Annam, London: William Heinemann, 1910, c�c trang 132-147�

 


GABRIELLE M. VASSAl photo: belleindochine.free.fr/

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

� 2007 gio-o

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o