C. P. FITZGERALD

 

TRUNG HOA TH�N T�NH V�N NAM

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời Người Dịch:

���� Dưới đ�y l� bản dịch phần cuối trong tiến tr�nh b�nh trướng v� th�n t�nh của Trung Hoa tr�n đất liền, đặc biệt l� ở V�n Nam, của c�ng t�c giả C. P. FitzGerald.� Ch�ng ta sẽ nhận thấy c�c nh�n vật như Ng� Tam Quế, L� Tự Th�nh, ẩn hiện b�ng d�ng mỹ nh�n Trần Vi�n Vi�n m� t�c giả Kim Dung đ� hư cấu trong bộ truyện nổi tiếng của �ng, Lộc Đỉnh K�.� Ch�nh Kim Dung sau n�y đ� tr�ch dẫn nhận định của t�c giả C. P. FitzGerald n�i rằng nếu nh� Minh kh�ng đổi kinh đ� từ Nam Kinh l�n Bắc Kinh th� Trung Hoa kh�ng bao giờ rơi v�o tay người M�n Thanh.

���� N�n nhớ những g� m� t�c giả FitzGerald đ� tr�nh b�y v� ti�n đo�n l� dựa v�o t�nh h�nh của gần bốn mươi năm trước đ�y.� Người đọc sử ng�y nay phải đưa v�o bức tranh to�n diện c�c biến chuyển m� t�c giả hẳn kh�ng ngờ xảy ra qu� mau ch�ng tai v�ng Đ�ng � trong mấy thập ni�n qua, như sự thống nhất của Việt Nam dưới chế độ cộng sản,� c�c cuộc chiến tranh giữa c�c nước cộng sản �anh em� tại Đ�ng Dương, sự �tan r� của khối cộng sản thế giới, c�c nguy�n do đưa tới sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, những g� c�n s�t lại của kh�i cộng sản, chủ yếu tại v�ng Đ�ng �, sẽ ra sao trong tương lai sắp tới, sự ph�t triển kinh t�, qu�n sự v� hải lực của Trung Hoa, c�ng l�c với c�c sự bất ổn về chủng tộc tại nội địa Trung Hoa, sự lụa chọn của Việt Nam �� Đ� l� những vấn đề rất quan trọng m� những người quan t�m đến lịch sử v�ng Đ�ng � n�i chung, v� Việt Nam n�i ri�ng cần phải nghi�n cứu kỹ lưỡng để c� được c�c chỉ dẫn hữu �ch.

 

Loạt b�i với chủ đề �Sự B�nh Trướng CủaTrung Hoa Xuống Phương Nam� của t�c giả C. P. FitzGerald:

     1. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp V�n Nam

     2. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp Việt Nam

     3. C�c Viễn Ảnh Về Sự B�nh Trướng Xuống Phương Nam Của Trung Hoa.

4. Trung Hoa Th�n T�nh V�n Nam.

 

***

���� Quyền lực của Nam Chiếu bắt đầu suy giảm sau năm 877 v�o ch�nh l�c m� đối thủ vĩ đại của n�, triều đại nh� Đường, đang tiến v�o thời x�o trộn v� hỗn loạn chung cuộc của n�.� Nghịch l� n�y c� thể được giải th�ch một phần do c�c hậu quả của c�c chiến thắng trước đ� của c�c vị vua Nam Chiếu.� C�c khu vực rộng lớn của v�ng đất định cư của người Trung Hoa đ� bị chiếm đoạt, v� h�ng ngh�n người bị bắt giữ từ c�c v�ng n�y v� những v�ng bị đột k�ch v� tạm thời chiếm đ�ng đ� được chuy�n chở về nội địa V�n Nam.� Nam Chiếu ch�nh v� thế đ� v� t�nh tạo dựng b�n trong bi�n cương của ch�nh n� một loại �Đội Qu�n Thứ Năm� về văn h�a, một d�n số gia tăng n�i tiếng v� theo văn h�a Trung Hoa, đa số c� học thức, v� ch�nh v� thế đ� được trang bị để đ�ng một vai tr� ng�y c�ng quan trọng trong ch�nh quyền của đất nước nguy�n đ� trở th�nh xứ sở kh�ng chủ t�m của họ.� Động lực để phản kh�ng v� t�i nhập với đế quốc nh� Đường, hay hy vọng c� sự can thiệp của n�, đ� thực sự bị giải trừ bởi sự suy yếu v� hỗn loạn đồng thời của ch�nh đế quốc nh� Đường.� Trong một b�u kh�ng kh� nơi m� học thuật Trung Hoa được ngưỡng mộ v� theo đuổi, nơi m� một học vấn Trung Hoa l� một t�i sản x� hội qu� gi�, người gốc Trung Hoa bị bắt giữ hay chạy trốn c� thể ước ao vươn l�n nắm quyền lực v� tạo ảnh hưởng chừng n�o họ c�n chứng tỏ l�ng trung th�nh với vị vua xứ Nam Chiếu. Một khi đế quốc nh� Đường bị rơi v�o nỗi thống khổ của c�c sự tranh d�nh giữa c�c vua chư hầu đối chọi nhau, những kẻ m� cơ hội d�nh được chiến thắng tối hậu xem ra mong manh, đối với nh� l�nh đạo ở Nam Chiếu, thật c� �t l� do để trọng đ�i bất kỳ ai trong họ hơn

���� Bất kể sự th� hận l�u d�i đối với đế quốc Trung Hoa, vương quốc V�n Nam tiếp tục ngưỡng mộ, chấp nhận, th�ch ứng v� bắt chước nền văn minh của nh� Đường.� Bia k� chiến thắng của Nh� Vua Ko-lo-feng gần Đại L�, h�uy c�n tồn tại với t�nh trạng đọc được một phần, được viết bằng H�n tự cổ điển v� soạn thảo bởi một học giả Trung Hoa.� Một �t th� dụ c�n lại của kiến tr�c Nam chiếu tại Đại L� v� c�c nơi kh�c, c�c ng�i ch�a với kiểu d�ng ri�ng biệt, v� c� ni�n đại từ đầu thế kỷ thứ t�m, d� thế, l� c�c biến thể của phong c�ch kiến tr�c Trung Hoa v�o thời kỳ đ�, chứ kh�ng phải của Ấn Độ hay Miến Điện.� Nam Chiếu c� một nghệ thuật mang những đặc t�nh kh�c biệt với nghệ thuật của Trung Hoa, v� trong đ� ảnh hưởng của Ấn Độ c� đ�ng g�p một phần, nhưng kh�ng phải l� vai tr� ưu thắng.� Phật Gi�o l� Phật Gi�o Đại Thừa (Mahayana), kh�ng phải Tiểu Thừa của Miến Điện mặc d�, c� lẽ ở v�o một thời điểm sau n�y, d�n ch�ng ở c�c khu vực bi�n giới, người T�ai v� c�c sắc d�n kh�c, đ� chuyển theo ph�i Tiểu Thừa.

���� Ch�nh quyền được th�nh lập tr�n căn bản thể thức h�nh ch�nh Trung Hoa, mặc d� kh�ng thấy xuất hiện bằng cớ t�ch cực về việc du nhập cuộc khảo th� tuyển dụng vi�n chức c�ng quyền..� C� thể chủ nghĩa phong kiến thị tộc h�y c�n qu� mạnh đối với bước tiến n�y; người Trung Hoa thuộc lớp ưu t�, ngược lại, xem ra đ� tự lập tr�n c�c đặc cấp về đất đai ở v�o c�c vị thế kh�ng mấy kh�c với vị thế của c�c l�nh ch�a bản xứ.� Bằng cớ về c�c thế hệ người Hoa kế nhau nắm giữ c�c chức vụ cao cấp trong ch�nh quyền cho thấy một điều g� đ� nhiều hơn khả năng thế tập; n� l�m li�n tưởng đến quyền lực v� ảnh hưởng li�n tục được đặt �t nhất một phần tr�n d�ng tộc.� Trong phương c�ch n�y, c� vẻ rằng x� hội Nam Chiếu đ� c� nhiều sự tương th�ch với Trung Hoa thời tiền Đường; thời đại của sự ph�n chia nam-bắc khi một chế độ qu� tộc qu�n sự nắm giữ độc quyền ch�nh trị, mặc d� c� sử dụng đến c�c h�nh thức bổ nhiệm vi�n chức c�ng quyền để che đậy cho điều trong thực tế l� một thẩm quyền thế tập.� Một điều g� đ� kh�ng qu� kh�c biệt đ� xảy ra tại Nhật Bản trong c�ng thời kỳ n�y, nơi m� đề triều vay mượn c�c h�nh thức v� tước hiệu của Trung Hoa (nh� Đường), nhưng đ� phải nh�n nhận quyền lực li�n tục của chế độ qu� tộc thế tập bản xứ.� Ngay tại Trung Hoa, sự biến đổi một x� hội qu� tộc th�nh một đế quốc thư lại do giới tư sản cai trị kh�ng phải đ� xảy ra đột ngột hay ch�ng v�nh; n� diễn ra trong thời đại nh� Đường, như chưa ho�n th�nh trọn vẹn cho m�i đến triều đại nh� Tống.

���� C�c nh� vua của Nam Chiếu tiếp tục ch�o đ�n c�c c�ng ch�a nh� Đường về l�m c� d�u, v� một v�i sự lệ thuộc h�nh thức v�o đế quốc vẫn c�n được thừa nhận.� Trong năm 924, khoảng mười năm sau khi c� sự x�a bộ to�n bộ triều đại nh� Đường, nh� vua Nam Chiếu đ� cưới l�m c� d�u con g�i của kẻ tự xưng �ho�ng đế� Trung Hoa kiểm so�t c�c tỉnh cực nam của nh� Đường, tức Quảng Đ�ng v� Quảng T�y, dưới quốc hiệu Nam H�n (southern Han).� Vị vua n�y kh�ng h�ng mạnh cũng như kh�ng hiếu chiến; cơ may của �ng ta để trở th�nh ho�ng đế to�n c�i Trung Hoa rất mong manh; nhưng �ng l� �ng ho�ng Trung Hoa gần gụi nhất đối với Nam Chiếu, v� như thế c� vẻ được xem l� kẻ gần nhất� đối với người kế ng�i ch�nh đ�ng cho chế độ nh� Đường đ� sụp đổ.� Mặt kh�c, ch�nh ngay chế độ Nam Chiếu đang mất thẩm quyền v� cũng kh�ng sản sinh ra được c�c nh� vua c� khả năng.� V�o cuối thế kỷ thứ mười, triều đại bản xứ bị lật đổ bởi một cuộc c�ch mạng đẫm n�u (trong đ� c� lẽ ho�ng tộc đ� thực sự bị tận diệt), v� quyền lực được nắm giữ bởi Tseng Mai-ssu, một qu� tộc d�ng d�i Trung Hoa, c� tổ ti�n bảy đời l� Tseng Hui, một quan chức từ Tứ Xuy�n phục vụ Quốc Vương Ko-lo-feng.� T�n vương b�i bỏ quốc hiệu mang r� n�t T�ai của vương quốc (Nam Chiếu, c� nghĩa vương quốc miền nam) v� đặt t�n triều đại mới của m�nh l� Đại L� (Ta Li: Trật Tự Vĩ Đại), một t�n gọi m� sau n�y đ� gắn liền với kinh đ�.� Hồi đầu thời kỳ nh� Tống, một cuộc c�ch mạng kh�c tại Đại L� đ� đưa gia tộc họ Tuan, cũng thuộc d�ng d�i Trung Hoa, l�n nắm quyền, v� triều đại n�y đ� k�o d�i cho đến giai đoạn sau c�ng của vương quốc V�n Nam.� Sự thống trị ch�nh trị của c�c gia tộc c� gốc Trung Hoa đ� đẩy xa hơn nữa tiến tr�nh H�n-h�a; điều n�y được thấy r� rằng trong thời kỳ sau n�y, triều đại nh� Tuan [? họ Đo�n, ND], vương quốc Nam Chiếu cũ đ� trở th�nh một quốc gia H�n-h�a v� rằng n� kh�ng c�n đưa ra bất kỳ sự đe dọa cụ thể n�o đối với thẩm quyền Trung Hoa tại miền t�y nam Trung Hoa.

���� Quyền lực trung ương mới của Trung Hoa, nh� Tống, m� sự t�i thống nhất đế quốc tan n�t của nh� Đường đ� tốn gần ba mươi năm, bằng ngoại giao nhiều hơn chiến tranh, vẫn chưa sẵn l�ng để toan t�nh việc chinh phục v� s�p nhập V�n Nam.� Sau khi chinh phục kẻ tranh ng�i địa phương ở Tứ Xuy�n năm 967, khi vi�n tướng chinh phục tr�nh với t�n ho�ng đế nh� Tống rằng việc x�m lăng v� chiếm giữ vương quốc Đại L� cũng dễ d�ng, [nhưng] vị Ho�ng Đế, sau khi nghi�n cứu bản đồ, đ� b�c bỏ bất kỳ kế hoạch n�o như thế, tuy�n bố rằng mọi xứ sở nằm ph�a nam con s�ng Tatu, l� một phụ lưu của s�ng Dương Tử, kh�ng phải đất của �ng, v� �ng đ� kh�ng c� tham vọng tr�n đ�.� Nh� Tống ch�nh v� thế đ� thừa nhận quyền của nước Nam Chiếu cũ, nay l� Đại L�, được ho�n to�n độc lập.� Ch�ng c� vẻ c�n kh�ng thực hiện sự thừa nhận ch�nh thức quyền chủ tể của Trung Hoa nữa.� C�c nh� vua họ Tuan về ph�n m�nh cũng muốn sống h�a b�nh với Trung Hoa, v� đ� kh�ng tiến h�nh c�c cuộc đột k�ch hay x�m lăng n�o.� Khi một kẻ nổi loạn trong năm 1053 ẩn n�u ở Đại L� sau khi thất trận tại Trung Hoa, Nh� Vua đ� bắt giao �ng ta cho ho�ng đế Trung Hoa.

���� Nh� Tống c� l� do vững chắc để từ bỏ bất kỳ tham vọng n�o nhằm chinh phục Đại L�.� Họ chưa kiểm so�t ho�n to�n cả miền bắc Trung Hoa, bởi v�ng đ�ng bắc Hopei (H� Bắc), kể cả Bắc Kinh, v� v�ng t�y bắc kể cả phần lớn tỉnh Cam T�c, vẫn nằm ngo�i thẩm quyền của họ, [m�] thuộc về triều đại nh� Li�u Th�t Đ�t (Liao Tatar) ở đ�ng bắc, v� vương quốc [T�y] Hạ (Hsia), khống chế bởi d�n Tibetan-Tangut (T�y Tạng-Tangut), ở ph�a t�y bắc.� Hai quốc gia n�y thường th� nghịch, v� kiểm so�t c�c ngọn đ�o dẫn dắt từ c�c thảo nguy�n M�ng Cổ tiến v�o Trung Hoa.� Chiến tranh bi�n giới th� thường xuy�n v� mối đe dọa tiềm ẩn đối với nh� Tống l� c� thực v� sau hết, rất nguy hiểm.� Kinh nghiệm nh� Đường xem ra chứng tỏ rằng V�n Nam c� thể l� mồ ch�n c�c đội qu�n Trung Hoa đến từ phương bắc.� Ch�unh v� thế, trong một thời gian d�i, hơn ba trăm năm, đ� kh�ng c� �p lực n�o của Trung Hoa tr�n V�n Nam theo � nghĩa b�nh trướng về ch�nh trị.� Chắc chắn đ� c� một ảnh hưởng văn h�a li�n tục, kh�ng trở n�n yếu đi, nhưng đối với người của thời đại đ�, điều hẳn phải được nhận thức rằng Trung Hoa đ� từ bỏ tham vọng của n� để s�p nhập V�n Nam, cũng chắc chắc y như n� đ� từ bỏ một tham vọng tương tự tại Việt Nam.� Nền độc lập chung quyết của xứ sở kể sau [Việt Nam] đối với Trung Hoa đ� được ph� chuẩn bởi ch�nh s�ch kh�ng hiếu chiến của nh� Tống, v� điều r� r�ng rằng họ đ� c� c�ng quyết định đối với V�n Nam.

���� Hơn ba thế kỷ l� một thời gian d�i; một t�nh trạng được củng cố với thời khoảng n�y c� thể được ước định sẽ l� một t�nh trạng vĩnh viễn.� Nh� Tống kh�ng bao giờ thay đổi ch�nh s�ch, v� Đại L� cũng thế.� Đ� kh�ng c� c�c cuộc x�m nhập v�o c�c tỉnh của Trung Hoa, kh�ng c� c�c cuộc đột k�ch ở bi�n cương, v� kh�ng c� sự x�m lấn c�c ranh giới.� Đại L�, hay Nam Chiếu, trong thực tế đ� kh�ng duy tr� quyền lực cũ của n� tr�n c�c quận huyện xa x�i.� C�c v�ng đất kh�ng trở lại Trung Hoa, như tất cả v�ng đất tại tỉnh Tứ Xuy�n, đ� phi�u dạt v�o sự độc lập thị tộc thực sự, như tại Qu� Ch�u, miền t�y V�n Nam v� miền bắc Miến Điện.� Vương quốc th� nhỏ b� hơn, nhưng an to�n.� C� lẽ qu� an to�n; chỉ c� �t t�i liệu sơ s�i của thời kỳ n�y ph�t hiện bất kỳ sinh hoạt văn h�a t�ch cực n�o, hay bất kỳ sự ph�t triển n�o của một c� t�nh d�n tộc.� Kh�ng giống Việt Nam, độc lập v� an ninh c� vẻ đ� c� một hiệu quả l�m mềm l�ng hơn tr�n người d�n Đại L�.� Văn h�a Trung H�a chế ngự, nhưng c� vẻ mang t�nh chất địa phương trong sự biểu lộ của n�.� T�nh chất hiếu chiến của thời kỳ Nam Chiếu đ� được thay thế bởi sự yếu đuối về qu�n sự.� Vi�n tướng nh� Tống đ� cố gắng thuyết phục vị ho�ng đế của m�nh để chinh phục Đại L� trong năm 967 c� thể qu� lạc quan khi nghĩ rằng chiến dịch l� dễ d�ng.� Ba thế kỷ sau đ� qu�n x�m lăng M�ng Cổ t�m thấy n� gần như kh�ng c� bị chống đối.

���� Với t�i liệu thiếu s�t, thật kh� để kh�m ph� đ�u l� c�c yếu tố x� hội đ� mang tới sự biến đổi n�y.� Nh� Tống, như họ đ� kh�ng tuy�n x�c quyền chủ tể, v� kh�ng chịu sự đối nghịch của Đại L�, n�i chung đ� im lặng trong c�c t�i liệu lịch sử của họ về vương Đại L�.� C�c việc l�m của Đai L� kh�ng c� � nghĩa g� đối với Ho�ng Đế cho n�n ch�ng đ� kh�ng được ghi ch�p.� Nếu Đại L� c� giữ t�i liệu theo kiểu mẫu của sử k� Trung Hoa, c�c t�i liệu n�y kh�ng c�n nữa.� Xem ra người ta c� thể l� luận về sự thiếu s�t để x�y dựng một d�n tộc cố kết tại V�n Nam, như đ� được l�m tại Việt Nam, một phần cho quy luật của c�c gia đ�nh Trung Hoa vốn c� sự trung th�nh văn h�a, lu�n lu�n hướng đến Trung Hoa, v� những kẻ kh�ng đếm xỉa hay kh�ng bảo trợ cho c�c khuynh hướng v� kh�t vọng bản xứ.� Sự kh�c biệt căn cơ kh�c giữa hai xứ sở l� bản chất ph�n t�n nội tại của địa h�nh V�n Nam.� Mỗi thung lũng đ� phải tự mưu sinh (v� phần lớn h�y c�n sống như vặy.� Việc mua b�n th� yếu ớt, v� chỉ ảnh hưởng đến vật dụng nhẹ, chẳng hạn như dược thảo c� trị gi� cao.� Kh�ng thể di chuyển một lượng gạo đ�ng kể từ thung lũng n�y sang thung lũng kia, băng ngang qua năm mươi dặm hay hơn nữa v�ng n�i non hoang dại, bằng sự khu�n v�c hay c�c con la, v� b�n n� với một gi� phải chăng tại một thung lũng c� lẽ cũng c� một số thu hoạch phong ph� kh�ng k�m của ch�nh n�.

���� C�c quận huyện ph�a t�y của V�n Nam h�y c�n được tiếp cận kh�ng mấy dễ d�ng v� kh�ng c� thặng dư sản xuất.� D�n ch�ng của v�ng đ� hoặc h�y c�n l� c�c kẻ săn bắn sơ khai, c�c kẻ canh t�c n�i đồi theo lối đốt rừng l�m rẫy, hay tạo th�nh một khu định cư thưa thớt tại c�c thung lũng s�u rất dễ mắc bịnh sốt r�t.� Vượt qu� c�c thung lũng n�y v� c�c rặng n�i cao chia cắt ch�ng l� Miến Điện v� thung lũng ph� nhiều v�ng thượng lưu s�ng Irrawaddy.� V�ng n�y đ� c� thể l� miền sẽ đ�ng một vai tr� đ�i với V�n Nam giống như vai tr� của Miền Nam Việt Nam đ� thủ diễn trong lịch sử của Việt Nam: miền đất v�ng phương nam nơi m� người ngh�o c� thể di chuyển đến, v� nơi m� d�n tộc t�m thấy một mục ti�u chung; nhưng ch�nh trong c�c thế kỷ nhạt nh�a n�y của thời cuối vương quốc Nam Chiếu hay vương quốc Đại L� m� chủng tộc chế ngự hiện nay của Miến Điện, ch�nh người d�n Miến, đổ xuống từ v�ng bi�n giới T�y Tạng v� chiếm cứ thung lũng s�ng Irrawaddy.� C� lẽ sự x�m nhập của họ đ� trở n�n khả dĩ nhờ c�c chiến thắng trước đ� của Nam Chiếu tr�n vương quốc Pyu, m� Nam Chiếu đ� chinh phục v� hủy diệt, nhưng lại kh�ng nắm giữ v� định cư tr�n l�nh thổ đ�.� C� rất �t t�i liệu về c�c giai đoạn của sự chinh phục v� chiếm ngụ của Miến Điện, nhưng chắc chắn n� đ� được ho�n tất tr�n một quy m� rộng lớn trong suốt ba thế kỷ c� sự hiện hữu của vương quốc Đại L�.� Ch�nh v� thế thung lũng s�ng Irrawaddy đ� bị biến mất trong bất kỳ viễn ảnh s�p nhập n�o v�o một nước Nam Chiếu to lớn hơn.� Chung cuộc, tiến triển n�y gi�p cho một sự s�p nhập của Trung Hoa v�ng V�n Nam l� điều tất yếu, bởi sự tăng trưởng của Nam Chiếu trong phạm vi ch�nh V�n Nam kh�ng th�i sẽ kh�ng bao giờ c� thể s�nh kịp với sự b�nh trướng về mặt nh�n số v� quyền lực của đế quốc Trung Hoa thống nhất, hay cung ứng nổi một căn cứ tự lực cho sự độc lập vĩnh viễn.

���� Nền độc lập đ� đ� được bảo to�n qu� l�u đến thế phần nhiều bởi sự yếu k�m của nh� Tống sau n�y hơn l� bởi sức mạnh hay sự quyết t�m của vương quốc Đại L�.� Sau khi đ�nh mất miền bắc Trung Hoa năm 1126, đế quốc nh� Tống c� một l�ng giềng nguy hiểm, trước ti�n l� đế quốc người Kim Th�t Đ�t (Kin Tatar), sau n�y l� đế quốc M�ng Cổ mới, ở bi�n giới ph�a bắc của n�.� Khi người Kim, vốn bị ngăn chặn, bị đ� bẹp bởi qu�n M�ng Cổ năm 1234, số phận nh� Tống hầu như kh�ng tr�nh khỏi.� V�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười ba, người M�ng Cổ thống trị to�n thể thế giới � Ch�u, từ H�n Quốc cho đến c�c bi�n giới ph�a t�y của Nga.� Kh�ng vương quốc n�o kh�ng cự lại được họ, phần lớn đ� ng� gục trong chiến dịch đầu ti�n.� Kể từ khi c� sự chinh phục của họ tr�n triều đại người Kim, Đại Đế Khan của M�ng Cổ kh�ng che dấu tham vọng v� � định của họ l� cũng sẽ chinh phục nh� Tống, v� họ đ� khởi sự việc x�m lấn v�ng bi�n giới ngay sau khi sự chiếm đ�ng miền bắc được củng cố.

���� Nh� Tống đưa ra một sự kh�ng cự bền bỉ, vốn bị ước lượng kh� thấp bởi c�c sử gia.� Họ kh�ng c� c�c đồng minh, v� kh� c� thể hy vọng t�m thấy bất kỳ quyền lực n�o trong thế giới v�o thời đại của họ.� Họ kh�ng bao giờ đ�nh đuổi qu�n M�ng Cổ ra khỏi một khu vực đ� bị chinh phục nhưng họ đ� ph�ng thủ th�nh c�ng c�c cứ điểm trọng yếu trong nhiều năm, v� ph� hỏng c�c cuộc x�m lăng nhắm v�o c�c tỉnh ở dọc s�ng Dương Tử.� Người M�ng Cổ, nhận thức được c�c kh� khăn của một cuộc tấn c�ng trực diện, đ� quyết định đ�nh v�o b�n sườn đế quốc nh� Tống bằng c�ch chiếm đoạt tỉnh ph�a t�y của n�, Tứ Xuy�n, v� di chuyển v�o miền t�y nam, ch�nh v� thế, đi v�ng qua ph�ng tuyến s�ng Dương Tử v� thọc v�o l�nh thổ nh� Tống từ hướng t�y nam.� Dưới thời Mangu Khan, ch�nh s�ch n�y được giao th�c cho một trong c�c người con trai của �ng, Kubilai (hay Kublai) (tức Hốt Tất Liệt), sau n�y trị v� như vị ho�ng đế M�ng Cổ đầu ti�n tr�n to�n c�i Trung Hoa, v� đ� trở n�n, nhờ Marco Polo, người gốc th�nh phố Venice phục vụ �ng ta, nh� cai trị nổi tiếng nhất trong tất cả c�c nh� l�nh đạo Trung Hoa đối với thế giới T�y Phương.

���� Năm 1252, Kubilai tập hợp lực lượng của m�nh tại miền nam tỉnh Cam T�c, v� khởi sự một cuộc đột tiến xuy�n qua bi�n giới ph�a t�y của Tứ Xuy�n (tỉnh vẫn chưa ho�n to�n nằm dưới sự chiếm đ�ng của qu�n M�ng Cổ, dọc theo một �con lộ chưa được biết đến, nằm giữa n�i cao v� vực thẳm�, hẳn phải chạy song song gần s�t với con đường nổi tiếng băng ngang v�ng thảo nguy�n T�y Tạng đ� được rong ruổi, theo chiều ngược lại, bởi c�c đội qu�n Cộng Sản trong cuộc Trường Chinh của họ năm 1935.� Qu�n M�ng Cổ vượt qua s�ng Tatu, khi đ� l� bi�n cương giữa Tứ Xuy�n v� vương quốc Đại L�, v� qu�t xuống V�n Nam.� Sự tr�n đến của họ ho�n to�n bất ngờ, bởi họ đ� thực hiện một cuộc tiến qu�n d�i hơn s�u trăm dặm xuy�n qua khu vực hoang dại hầu như kh�ng được biết tới bởi kh�ch du h�nh.� Đại L� thực sự kh�ng đưa ra một sự kh�ng cự n�o cả, nh� vua chịu khuất phục, v� vương quốc bị r�t lại th�nh một tỉnh của M�ng Cổ.� Kh�ng l�u qu�n M�ng Cổ đ� x�m nhập v�ng bi�n giới ph�a t�y v� x�m lăng Miến Điện, nơi tuy thế họ nhận thấy kh� hậu kh�ng thuận lợi cho sự chiếm đ�ng thường trực của họ.� Bị đ�nh v�o cạnh sườn, khả năng kh�ng cự của nh� Tống đ� bị s�t giảm đ�ng kể; trong v�ng chưa tới hai mươi năm sau cuộc chinh phục V�n Nam, nh� Tống đ� ho�n to�n bị hủy diệt v� Kubilai đ� trị v� như Ho�ng Đế to�n c�i Trung Hoa tr�n một l�nh địa rộng lớn hơn bất kỳ địa b�n n�o trước đ�.� �ng cũng l� vị ch�a tể được nh�n nhận của c�c kha h�n (Khan: phi�n ch�a) M�ng Cổ, c�c th�n nh�n của �ng cai trị v�ng trung � Ch�u, đ�ng Nga, Ba Tư v� phần lớn v�ng Trung Đ�ng.

���� Cuộc chinh phục V�n Nam ch�nh v� thế kh�ng phải l� c�ng tr�nh của đế quốc Trung Hoa dưới c�c nh� cai trị Trung Hoa, m� l� một ph� sản của cuộc chinh phục của M�ng Cổ tr�n ch�nh Trung Hoa.� N� c� thể sẽ kh�ng bao giờ xảy ra nếu kh�ng c� c�c cuộc x�m chiếm của M�ng Cổ, hay n� c� thể bị tr� ho�n cho đến khi c� một triều đại Trung Hoa h�ng mạnh hơn kế thừa nh� Tống, nhưng một khi ho�n tất theo cung c�ch n�y, n� kh�ng bao giờ bị đảo ngược.� Người d�n V�n Nam kh�ng c� cảm thức về c� t�nh d�n tộc c� thể khởi hứng cho họ phản kh�ng, khi quyền lực M�ng Cổ bị suy yếu, hay ngăn chặn thẩm quy�n của triều đại Trung Hoa đ� đ�nh đuổi qu�n M�ng Cổ ra khỏi Trung Hoa.� Qu�n M�ng Cổ đ� đặt t�n đầu ti�n cho to�n miền s�p nhập gồm vương quốc Đại L� bị sụp đổ, cũng như c�c khu vực kh�c m� n� đ� kh�ng cai trị trong nhiều năm, danh xưng tỉnh V�n Nam, l�m sống lại t�n thời H�n cổ xưa chỉ d�ng để chỉ phần ph�a đ�ng của cao nguy�n V�n Nam.� Họ đ� trao ch�nh quyền của tỉnh mới lập cho một người theo đạo Hồi gi�o từ trung � Ch�u phục vụ dưới trướng vị Đại H�n (Great Khan), v� nh�n vật n�y, c�ng c�c người kế thừa thuộc c�ng chủng tộc v� t�n ngưỡng, đ� du nhập một lượng lớn c�c người đồng hương l�m c�c binh sĩ đồn tr� đến định cư tại c�c trung t�m quan trọng về n�ng nghiệp v� ch�nh quyền.� Đ�y l� nguồn gốc của cộng đồng Hồi Gi�o V�n Nam, đ� c� l�c lớn hơn nhiều so với cộng đồng kể từ sau cuộc nổi dậy lớn lao của họ hồi thế kỷ thứ mười chin, nhưng vẫn c�n l� một th�nh phần quan trọng trong d�n số.

���� Mặc d� sự kh�ng cự của ch�nh Đại L� kh�ng đ�ng kể, c� bằng cớ rằng sự chống đối của c�c thị tộc đối với sự chinh phục của M�ng Cổ hẳn phải đ�ng sợ hơn nhiều, bởi Marco Polo, kẻ đ� du h�nh xuy�n qua V�n Nam đến Miến Điện v�i năm sau cuộc chinh phục, c� m� tả xứ sở như vẫn c�n g�nh chịu sự t�n ph� s�u rộng, c�c th�nh phố gần như kh�ng người cư ngụ, c�c l�ng mạc bị bỏ hoang, v� đất trồng l�a gạo mọc trở lại cỏ dại.� Đ� l� một bức tranh c� thể được ph�c họa của nhiều xứ sở trải qua sự c�ng k�ch của qu�n M�ng Cổ.� �Giờ đ�y l� một tỉnh bi�n giới xa x�i, V�n Nam kh�ng c� vẻ được hưởng nhiều sự thịnh vượng từ sự hợp nhất đầu ti�n của n� với Trung Hoa.� Gần như di t�ch kỷ niệm duy nhất sự thống trị của M�ng Cổ l� một bia k� được dựng b�n ngo�i th�nh phố Đại L� tr�n một phiến đ� cẩm thạch lớn, chứa đựng, trong một mớ hỗn tạp mọi rợ của tiếng Trung Hoa bị M�ng Cổ h�a v� tiếng Trung Hoa th�ng tục, một huấn lệnh cho c�c binh sĩ của ho�ng đế M�ng Cổ kh�ng được quấy rầy c�c nh� sư Phật Gi�o của tu viện Ba Ng�i Ch�a (Three Pagoda) vĩ đại, m� c�c phế t�ch vẫn c�n chứng thực cho c�c n�t huy ho�ng của kiến tr�c Nam Chiếu từ thế kỷ thứ t�m.

���� V�n Nam đ� th�nh tỉnh đầu ti�n trong c�c tỉnh miền nam Trung Hoa nằm dưới sự kỉểm so�t của M�ng Cổ, v� n� cũng l� tỉnh cuối c�ng tại Trung Hoa m� người M�ng Cổ nắm giữ, ngay cả sau khi họ đ� mất Bắc Kinh v� bị đuổi ra khỏi c�c tỉnh miền bắc.� Tổng cộng họ đ� chiếm giữ V�n Nam trong một trăm ba mươi năm.� Phải chờ m�i mười lăm năm sau khi kẻ s�ng lập triều đại nh� Minh được thừa nhận l� nh� l�nh đạo to�n thể đế quốc Trung Hoa, �ng ta mới ph�i c�c đội qu�n của �ng đến trục xuất người M�ng Cổ ra khỏi b�n đạp sau c�ng của họ, tức l� V�n Nam.� Ch�nh v� thế, c� thể rằng vị Ho�ng Đế nh� Minh đầu ti�n đ� kh�ng nh�n cuộc chinh phục V�n Nam, vốn kh�ng phải l� một l�nh thổ sở hữu của Trung Hoa trong bất kỳ � nghĩa cụ thể n�o dưới c�c triều đại trước đ�, như một hậu quả hợp l� của cuộc chinh phục của �ng ta đối với triều đại M�ng Cổ.� Nếu ch�nh người M�ng Cổ kh�ng phải l� c�c kẻ cai trị thực sự tại V�n Nam, điều c� thể suy tưởng rằng nh� Minh sẽ để cho một triều đại bản xứ được y�n h�a, như nh� Tống đ� l�m bốn trăm năm trước đ�.� Nhưng tại V�n Nam, người M�ng Cổ vẫn ở tư thế đe dọa, ngay d� chỉ l� một mối đe dọa mong manh, đối với nh� Minh chiến thắng; họ c� thể th�nh lập một tiền trạm m� một quyền lực hồi sinh của M�ng Cổ c� thể sử dụng cho một cxuộc x�m lăng kh�c.� Như thế V�n Nam đ� bị x�m lăng năm 1382 bởi c�c đội qu�n của Ho�ng Đế Hồng Vũ (Hung Wu) nh� Minh, lại bị chinh phịuc một lần nữa, v� ch�nh từ đ�, bị s�p nhập chung cuộc v�o một đế quốc Trung Hoa dưới quyền một vị ch�a tể Trung Hoa.� C�c đai diện khi�m tốn cuối c�ng của triều đại nh� Tuan, c�c kẻ thụ hưởng một số thẩm quyền h�nh thức dưới thời M�ng Cổ, bị loại bỏ, v� V�n Nam trở th�nh một tỉnh của đế quốc mới tr�n c�ng căn bản giống như bất kỳ tỉnh n�o kh�c.

���� Một nhập lượng d�n định cư lớn lao kh�c đ� đến c�ng với c�c đội qu�n nh� Minh.� Họ l� người Trung Hoa, ch�nh yếu từ c�c tỉnh dọc s�ng Dương Tử, khi đ� l� trung t�m ch�nh yếu của quyền lực nh� Minh.� Họ đ� trở n�n ổn định như c�c điền chủ v� giới tư sản địa phương tại tất cả c�c trung t�m đ� thị ch�nh yếu v� c�c đồng bằng n�ng nghiệp quan trọng.� C�c gia tộc cổ xưa nhất v� ki�u h�nh nhất của Đai L� ng�y nay l� (hay đ�ng hơn, trước thời Cộng H�a Nh�n D�n, đ� l�) hậu duệ kh�ng phải của c�c thũ l�nh Nam Chiếu hay ngay của c�c người V�n Nam đ� H�n h�a của vuơng quốc Đại L�, �m� l� con ch�u của c�c sĩ quan trong c�c đội qu�n của Minh Hồng Vũ Ho�ng Đế.� Dấu ấn nh� Minh tr�n V�n Nam đ� lưu tồn v� c�n được nhận thấy.� C�c ng�i ch�a v� tượng đ�i thuộc ni�n đại nh� Minh c� rất nhiều; c�c chiếc c�u treo bằng x�ch s�t đặc sắc bắc ngang s�ng Cửu Long v� s�ng Salween, cũng như nhiều con s�ng nhỏ hơn ở miền t�y V�n Nam chứng thực cho sinh kh� của chế độ mới v� sự quan t�m của n� v�o việc cải tiến c�c sự giao th�ng.� Nhiều th�nh phố của V�n Nam mắc nợ h�nh thức hiện đại của ch�ng nơi c�c nh� x�y dựng thời Minh, v� nhiều th�nh phố phản ảnh, nơi c�c bức tường th�nh thẳng đứng bao quanh v� c�c đường phố cắt nhau, mẫu họa đồ thiết kế th�nh phố chung của miền bắc Trung Hoa, c�c bản sao ch�p thu nhỏ của Bắc Kinh.� Hệ thống đường lộ của c�c đo�n lữ h�nh, giờ đ�y đ� bị đổ n�t qu� nhiều, nguy�n thủy l� một mạng lưới của c�c lối đi c� mặt đường l�t gạch đ�, băng ngang c�c rặng n�i v� c�c d�ng s�ng, v� nối liền mọi th�nh phố trong tỉnh với phần c�n lại của Trung Hoa, v� sau hết, với Bắc Kinh.� Đ�y cũng l� c�ng tr�nh thời nh� Minh.� Dọc theo c�c lộ n�y, Ho�ng Đế Vĩnh Lạc (Yung Lo) nh� Minh, khi x�y cất ho�ng cung hiện tại ở Bắc Kinh năm 1405, c�c c� c�c tấm đ� cẩm thạch to lớn, được lấy từ cao nguy�n nguy�n Đại L�, nơi sườn n�i, rồi đẩy v� lăn h�ng trăm dặm cho đến khi ch�ng c� theo được vận chuyển bằng c�c chiếc b� tại c�c chi lưu thượng nguồn của c�c con s�ng thuộc tỉnh Hồ Nam.� C�c phiến đ� c� chiều d�i 18 bộ Anh, rộng gần 5 bộ Anh, v� được giả thiết c� chiều d�y c�n xứng với c�c k�ch thước n�y.

���� Đ� c� cuộc nhập cư li�n tục v� đ�ng kể của người Trung Hoa v�o V�n Nam trong suốt thời nh� Minh.� Nhiều gia đ�nh tự nhận l� hậu duệ của c�c binh sĩ hay nh� h�nh ch�nh của nh� Minh, v� n�i rằng họ nguy�n qu�n tại �Nam Kinh�, theo đ� họ hiểu l� tỉnh Giang T� v� v�ng hạ lưu s�ng Dương Tử.� Phương thức gửi c�c người bị lưu đầy đến nhiều địa điểm kh�c nhau tại V�n Nam xem ra cũng đ� bắt đầu thời nh� Minh.� Những người n�y lu�n lu�n được gửi đến c�ng huyện ở V�n Nam, nơi m� c�c kẻ lưu vong trước đ� từ c�ng một huyện tại nội địa Trung Hoa đ� đến.� Ch�nh v� thế, thổ ngữ c� khuynh hướng trở n�n ổn định h�a v� kh�c nhau.� C�c cư d�n của Paoshan (Yungch�ang thời cổ) nằm giữa s�ng Cửu Long v� s�ng Salween, phần lớn l� hậu duệ của c�c kẻ lưu vong đến từ miền hạ lưu s�ng Dương Tử, v� trong thực tế n�i thổ ngữ Nam Kinh với rất �t sự kh�c biệt so với c�c người n�i tiếng bản địa của kinh đ� phương nam, với những người m� họ chưa bao giờ c� một sự tiếp x�c mong manh nhất.� C�c sự kh�c biệt tương tư xuất hiện mọi nơi kh�c; người d�n Đại L� c� một giọng n�i rất nặng tiếng Pai (Bạch) địa phương, ngay cả c�c gia đ�nh tự nhận c� ph�a tổ ti�n phụ hệ l� Trung Hoa.� C�c cư d�n tại C�n Minh, tỉnh lỵ, n�i với khẩu �m c� sự li�n hệ gần gủi dễ nhận thấy với c�ch n�i th�ng thường ở Bắc Kinh.� C� một l� do đặc biệt cho sự kiện n�y, ph�t sinh từ một trong c�c lớp lang của lịch sử thời cuối nh� Minh, rất quan trọng trong lịch sử của V�n Nam v� sự đồng h�a của n� v�o văn minh Trung Hoa.

���� Sau cuộc chinh phục của nh� Minh kh�ng thấy c� xuất hiện bất kỳ phong tr�o quan trọng n�o đ�i giải ph�ng ra khỏi sự thống trị của Trung Hoa.� Bất luận c� phải rằng c�c lực lượng của quyền lực đế quốc mới qu� h�ng mạnh hay chăng, hay c� phải, khi x�t đến c�c lợi lộc chắc chắn m� sự đ� hộ Nh� Minh ban cho, người d�n V�n Nam đ� kh�ng c� � muốn đấu tranh cho nền độc lập hay kh�ng, xem ra nh� Minh đ� trị v� m� kh�ng bị th�ch đố tại V�n Nam cho đến khi kết th�c triều đại.� Tuy nhi�n, trong những năm theo sau sự x�m nhập của M�n Ch�u v�o Trung Hoa năm 1644, một loạt c�c biến cố mang đến một t�nh trạng xem ra nhiều phần l�m sống lại quốc gia độc lập ở V�n Nam, cho d� dưới một vị tiểu vương chư hầu gốc Trung Hoa, chứ kh�ng phải người bản xứ.� Vi�n tướng Ng� Tam Quế (Wu San-kuei) ng�y nay kh�ng phải l� một anh h�ng đối với người d�n Trung Hoa; ch�nh �ng ta l� người đ� cho ph�p người M�n Ch�u tiến v�o Trung Hoa v� sau đ� gi�p họ dẹp tan sự kh�ng cự được đưa ra bởi c�c kẻ muốn phục hồi nh� Minh.� L�c cuối đời, đến lượt �ng ta phản kh�ng chống lại Ho�ng Đế M�n Ch�u v� đ� chết trong khi chiến đấu chống lại vị ho�ng đế n�y.� Nhưng ch�nh Ng� Tam Quế l� kẻ đ� gi�p cho cuộc chinh phục của M�n Ch�u trở n�n khả thi.� L� một tướng lĩnh xuất sắc, �ng ta chỉ huy đội qu�n bi�n cảnh đồn tr� tại Sơn Hải Quan (Shanhaikuan), nơi m� bức Trường Th�nh chạm đến biển, một cửa ải chiến lược nằm giữa M�n Ch�u v� ch�nh Trung Hoa.� Vương quốc m�n Ch�u đ� sẵn cai trị tỉnh Li�u Đ�ng (Liaotung) trước đ�y thuộc Trung Hoa (qu� qu�n của Ng� Tam Quế), b�n ngo�i Trường Th�nh.� Năm 1644, kẻ nổi loạn L� Tự Th�nh (Li Tzu-ch�eng) đ� chiếm giữ Bắc Kinh v� Ho�ng Đế nh� Minh [Tư T�n, ND] đ� tự vẫn.� Kẻ nổi loạn họ L� tự tuy�n xưng l� ho�ng đế v� gửi lời nhắn nhủ đến Ng� Tam Quế, c�ch xa hai trăm dặm về ph�a đ�ng, h�y thần phục triều đại mới, với việc hứa hẹn c�c sự tưởng thưởng lớn lao.� Nếu họ Ng� chấp nhận c�c đề nghị n�y, người M�n Ch�u sẽ kh�ng bao giờ tiến v�o được Trung Hoa.� Họ L� v� họ Ng� c�ng nhau sẽ tạo th�nh một sự ph�ng thủ vũng chắc cho v�ng bi�n giới, v� triều đại Shun mới lập của họ L� sẽ thay thế nh� Minh.� Nhưng một sự tranh chấp c� nh�n [nhiều t�i liệu cho rằng v� L� Tự Th�nh chưa giao trả một �i thiếp của Ng� Tam Quế bị bắt giữ bởi một thuộc tướng của L� Tự Th�nh, ch� của người dịch] đ� ph�n c�ch Ng� Tam Quế với vị t�n vương vị lai của �ng.� �ng ta lưỡng lự, sau đ� đ� quyết định, thay v�o đ�, mời người M�n Ch�u v�o gi�p �ng ta diệt trừ kẻ nổi loạn L� Tự Th�nh.� Đ�y l� nguy�n do trước nhất cho cuộc chinh phục của người M�n Ch�u.

���� Một khi người M�n Ch�u đ� được dựng l�n tại Bắc Kinh, họ đ� d�nh cho �ng c�c danh vọng to lớn, v� kh�ng l�u đ� ph�i �ng c�ng binh sĩ của �ng đi truy k�ch qu�n nổi dậy đ� bị đ�nh dẹp, v� sau đ� đ� dẹp tan c�c phong tr�o kh�ng chiến của c�c người muốn phục hồi nh� Minh.� Trong ba mươi năm, Ng� Tam Quế đ� phục vụ họ một c�ch tốt đẹp trong c�c nhiệm vụ n�y, v� trong năm 1657, �ng ta đ� x�m nhập V�n Nam vốn l� tỉnh cuối c�ng dưới sự cai trị của nh� Minh, v� đ� chinh phục n�, đ�nh đuổi kẻ tự xưng vua nh� Minh cuối c�ng phải chạy trốn sang Miến Điện.� Năm 1661, �ng đ� x�m nhập Miến Điện, đ�nh bại một li�n qu�n Trung Hoa-Miến Điện, v� tiến binh chưa đầy s�u mươi dặm tới Mandalay, kinh đ� [Miến Điện l�c bấy giờ, ND].� Đến nước n�y, nh� vua Miến Điện nhận thấy sự phản bội l� mặt tốt hơn của l�ng dũng cảm; �ng đ� trao trả �ng Ho�ng nh� Minh [cuối c�ng, tức Quế Vương, ch� của người dịch] cho Ng� Tam Quế với điều kiện qu�n Trung Hoa phải r�t ra khỏi xứ sở.� Họ Ng� dẫn t� nh�n quay về C�n Minh, v� ra lệnh xử tử �ng ta, như thế đ� tận diệt nh� Minh.� Người M�n Ch�u tưởng thưởng họ Ng� bằng việc cử �ng l�m tổng đốc cả về mặt d�n sự lẫn qu�n sự hai tỉnh V�n nam v� Qu� Ch�u với tước vương.� Ảnh hưởng của �ng rất mạnh tại c�c tỉnh l�n cận vừa mới b�nh định xong l� Hồ Nam v� Tứ Xuy�n, v� c�n vang xa đến tận v�ng đ�ng bắc như c�c tỉnh Thiểm T�y v� Cam T�c.� Tại tất cả c�c khu vực n�y, Ng� Tam Quế đ� bổ nhiệm c�c quan chức, hay phải được tham khảo trước khi c� sự bổ nhiệm bất kỳ người n�o.� �ng ta gần như một �ng ho�ng độc lập.

���� Sau mười năm của quan hệ phiền h� n�y, song h�nh c�ng với hai �ng Phi�n Vương Trung Hoa được gọi l� �phong kiến� kh�c [gồm Ng� Tam Quế l� B�nh T�y Vương, v� hai kẻ kh�c l� B�nh Nam Vương v� Tĩnh Nam Vương.� Sau khi Ng� Tam Quế từ trần, hai phi�n vương n�y đều bị nh� M�n Thanh loại trừ, ch� của người dịch], cũng l� c�c tướng lĩnh nh� Minh như họ Ng�, tại c�c phần đất kh�c ở miền nam Trung Hoa, Triều Đ�nh M�n Ch�u đ� cảm thấy đủ mạnh để th�ch đố quyền lực của họ v� đập tan n� nếu chứng tỏ l� ngoan cố.� C�c danh vọng cao qu� được ban cho c�c �ng ho�ng Trung Hoa n�y, nhưng tư thế độc lập của họ bị b�i bỏ.� C�c �ng ho�ng kh�c đ� chấp nhận.� Ng� Tam Quế b�c bỏ lời hứa trung th�nh n�y, tuy�n bố độc lập v� trong năm 1673 tự tuy�n xưng l� Tổng Tư Lệnh Vĩ Đại của triều đại nh� Chou [? Chẩu hay Chu, ND] mới.� �ng kh�ng tức thời mang danh ho�ng đế, ph� hợp với một tập qu�n Trung Hoa cổ xưa đ�i hơn, hay c�n kỳ vọng, một vị tuy�n xưng l�m t�n ho�ng h�y chứng minh m�nh l� kẻ chiến thắng � ch�nh v� thế l� c� Mệnh Trời � trước khi đảm nhận tước vị qu�n vương tối cao, vị kinh lược được ủy th�c của �ng Trời tại trần thế.� Về mặt thực tế, khi Ng� Tam Quế đảm nhận danh tước ho�ng đế, v�o năm 1678, sự chuyển động của �ng đ� kh�ng thực hiện được sự tiến triển mau lẹ.� �ng đ� c� năm năm chiến đấu kh� khăn với người M�n Ch�u tại Hồ Nam v� Tứ Xuy�n, v� ga6`n đ� c�n gặp phải c�c sự thất lợi tại Quảng T�y.� Năm th�ng rưỡi sau khi tự xưng l� Ho�ng Đế Chao Wu của triều đại nh� Chou, Ng� Tam Quế từ trần.�� Xem ra c� lẽ �ng đ� quyết định thực hiện bước tiến cuối c�ng n�y với sự nhận thức rằng �ng kh�ng c�n sống được bao l�u nữa v� để l�m dễ d�ng cho sự kế ng�i của đứa ch�u trai của �ng, Wu Shih-fan, kẻ đ� l�n ng�i tại C�n Minh, kinh đ� của đế quốc nh� Chou n�y.

���� Kh�ng thể n�i chắc rằng nếu Ng� Tam Quế, như một người trẻ tuổi hơn khi �ng ta vứt bỏ l�ng trung th�nh với Triều Đ�nh M�n Ch�u ngoại lai v� xa x�i, �ng ta c� th�nh c�ng hay kh�ng trong việc t�i lập một vương quốc mới của Nam Chiếu hay bất kỳ quốc hiệu n�o m� �ng c� thể đặt cho n�, tại V�n nam.� �ng đ� s�u mươi s�u tuổi khi mất đi; nếu c�n sống, c� lẽ �ng kh�ng thể đ�nh đuổi người M�n Ch�u ra khỏ miền bắc Trung Hoa, nơi m� họ gặp �t sự chống đối, nhưng �ng c� thể l�m rung động quyền lực mới của họ tại miền nam v� củng cố quyền lực của ch�nh �ng tại miền t�y nam.� Con trai của �ng kh�ng c� được khả năng của �ng; v�o năm 1681 nh� M�n Ch�u bao v�y anh ta ngay tại C�n Minh, v� khi kh�ng c�n hy vọng được giải cứu, anh ta đ� tự vẫn.� Th�nh phố bị sụp đổ, qu�n M�n Thanh đ� t�n s�t c�c kẻ đi theo gia đ�nh họ Ng�, nhưng đ� để lại khối đ�ng đảo c�c binh sĩ của họ, c�c người gốc tại miền bắc, như c�c kẻ b�n lưu đầy tại C�n Minh, sự kiện kể từ đ� giữ lại m�i m�i một vẻ g� đ� của một th�nh phố phương bắc v� một Bắc Kinh thu nhỏ m� Ng� Tam Quế đ� ban tặng cho n� trong hai mươi năm lưu tr� của �ng.� Ch�nh v� thế một sự phục sinh khả dĩ của một vương quốc độc lập tại V�n Nam đ� sụp đổ.� C�c kẻ lưu đ�y nhiều hơn v� sự cai trị của M�n Ch�u đ� n�ng cao sự h�n h�a xứ sở m� Ng� Tam Quế, bản th�n l� một người miền bắc, trong thực tế, đ� ph�t triển.

���� Trong hai trăm năm, cho đến khi ch�nh quyền lực M�n Ch�u bị suy giảm rất nhiều, kh�ng c� phong tr�o ở tầm mức đ�ng kể n�o d�nh độc lập cho V�n Nam được ph�t khởi.� Khi một cuộc nổi dậy như thế đ� xảy ra v�o giữa thế kỷ thứ mười chin, n� đ� kh�ng được l�nh đạo bởi người gốc Trung Hoa định cư tại V�n Nam, hay bởi cư d�n bản xứ, m� bởi c�c di d�n Hồi Gi�o.� Cộng đồng n�y, như đ� được n�i đến, c� nguồn gốc dưới thời đ� hộ của M�ng Cổ, l� c�c l�nh đ�nh thu� được mang đến từ v�ng trung � Ch�u.� V�o cuối thế kỷ thứ mười chin, cộng động đ�ng đảo, gi�u c� v� cũng tự cảm thấy bị đ�n �p.� Giữ độc quyền c�ng cuộc mậu dịch của c�c đo�n lữ h�nh, vốn l� phương tiện chuy�n chở duy nhất tại tỉnh miền n�i, người Hồi Gi�o V�n Nam đ� định cư tại tất cả c�c th�nh phố quan trọng dọc theo c�c trục lộ ch�nh.� Ch�nh v� thế, ch�ng ở v�o c�c vị tr� tốt để nổi dậy, nhưng cũng l� c�c địa điểm tốt để bị b�n r�t bởi c�c quan chức tham nhũng, c�c kẻ đầy rẫy v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười ch�n.� Xem ra c� lẽ rằng sau cuộc chinh phục của nh� Minh, c�c d�n định cư Hồi Gi�o, c�c đầy tớ phục dịch của qu�n M�ng Cổ �thất trận, đ� kh�ng được tin cậy hay chấp nhận như c�c thần d�n trung th�nh.� Họ đ� mất đi tư thế, v� mặc d� thừa kế c�c truyền thống hiếu chiến từ c�c tiền nh�n qu�n sự của họ, đ� kh�ng được trưng tập l�m binh sĩ.� Họ hướng đến ng�nh vận tải v� c�c kỹ nghệ li�n hệ, một số lượng tương đối �t người trong họ theo đuổi ng�nh canh n�ng.

���� Năm 1835, đế quốc M�n Ch�u ở v�o một t�nh trạng kh� khăn; n� mới bị đ�nh bại trong cuộc Chiến Tranh Nha Phiến bởi Anh Quốc; trong năm 1851 cuộc nổi dậy của Th�i B�nh Thi�n Quốc đ� b�ng nổ tại c�c tỉnh miền nam, v� trong năm 1853, sau khi đ� c�n qu�t khắp miền nam Trung Hoa v� xu�i d�ng Dương Tử, qu�n nổi dậy đ� chiếm giữ Nam Kinh, kinh đ� miền nam, v� tuy�n c�o ở đ� [sự th�nh lập] Th�i B�nh Thi�n Quốc (T�ai P�ing T�ien kuo).� Bởi qu�n nổi dậy nắm quyền kiểm so�t phần lớn thung lũng s�ng Dương Tử, v� đe dọa di chuyển l�n ph�a bắc đến Bắc Kinh, sự giao th�ng giữa miền bắc Trung Hoa v� c�c tỉnh t�y nam th� bất trắc hay rất v�ng vo.� Đối với c�c người Hồi Gi�o ở V�n Nam, c�c biến cố n�y xem ra đ� mang lại một cơ hội chưa từng c� để nổi dậy v� đ�nh đuổi quyền lực M�n Ch�u ra khỏi V�n Nam.� Kh�ng giống như cuộc phản kh�ng của Ng� Tam Quế, mặc d� đặt căn cứ tại V�n Nam, nhắm v�o việc trục xuất người M�n Ch�u ra khỏi bờ c�i Trung Hoa, người Hồi Gi�o V�n Nam chỉ t�m c�ch d�nh đoạt quyền lực tại ch�nh V�n Nam v� thiết lập ở đ� một vương quốc Hồi Gi�o.� Họ kh�ng c� mối li�n kết với qu�n nổi dậy Th�i B�nh theo t� đạo Thi�n Ch�a, trừ việc c�c chiến thắng của Th�i B�nh đ� tạo sự thuận lợi cho cuộc nổi dậy của ch�nh họ ở V�n Nam.

���� Nh� l�nh đạo tinh thần của phong tr�o l� một kẻ theo đạo Hồi sinh đẻ tại Đại L�, c� t�n l� Ma Te-hsin, sinh sống tại C�n Minh, v� l� một nh� thần học Hồi Giao (Mullah) hay một gi�o sĩ Hồi Gi�o.� Bất kể sự li�n hệ của �ng với cuộc phản kh�ng, ch�nh quyền M�n Ch�u trong nhiều năm đ� kh�ng bắt giữ �ng ta, mặc d� c� vẻ l� �ng đ� sinh sống tại một khu vực m� họ đ� chế ngự trong phần lớn thời khoảng đ�.� Nh� l�nh đạo qu�n sự l� một người n�o đ� t�n l� Tu Wen-hsiu, cũng gốc từ Đại L�, kẻ đ� tuy�n c�o một c�ch dứt kho�t � định của �ng nhằm thiết lập một vương quốc Hồi Gi�o.� Nước n�y �ng ta gọi l� B�nh Nam Quốc (P�ing Nan Kuo) (Vương Quốc Miền Nam An B�nh), v� ch�nh �ng đảm nhận vương tước Hồi Giao l� Quốc Vương (Sultan) với danh xưng bằng tiếng Ả Rập l� Suleiman.� Điều n�y tự n� chứng minh t�nh chất d�n tộc v� địa phương (Hồi Gi�o) cho phong tr�o của �ng ta.� Kh�ng �Quốc Vương Hồi Gi�o� n�o c� thể ao ước để cai trị Trung Hoa, kh�ng người n�o với một danh t�nh ngoại quốc lại sẽ được chấp nhận l�m ho�ng đế Trung Hoa.� �ng Tu đ� kh�ng chỉ hay biết về c�c li�n hệ quốc tế của c�c người theo đạo Hồi Gi�o, m� c�n đ� thẩm định t�nh h�nh của V�n Nam trong chiều hướng n�y.� �ng đ� mau ch�ng chinh phục to�n thể miền t�y V�n Nam, cho đến khi vương quốc của �ng ta tiến s�t v�o vương quốc Miến Điện, chẳng bao l�u sau bị ng� gục trước sự chinh phục của người Anh.� �ng Tu hay biết về nhược điểm của Miến Điện; �ng đ� kh�ng t�m c�ch li�n minh với c�c nh� cai trị theo Phật Gi�o n�y, nhưng đ� tiếp x�c với người Anh, đ� sẵn c� mặt tại miền nam Miến Điện, bằng một l� thư gửi đến Nữ Ho�ng Victoria, y�u cầu đuợc thừa nhận như quốc vương của B�nh Nam Quốc.� Điều n�y đ� kh�ng được chấp nhận bởi Nữ Ho�ng hay c�c cận thần của b�; v�o l�c đ� người Anh chưa sẵn s�ng để th�c đẩy sự giải t�n đế quốc M�n Ch�u.� Nếu họ đ� l�m ngược lại, �t nhất rất c� thể một V�n Nam độc lập do Hồi Gi�o thống trị đ� c� thể xuất hiện v� tồn tại.

���� �Nhược điểm của Tu Wen-hsiu v� c�c người ủng hộ �ng l� họ chỉ tượng trưng cho một quyền lợi cục bộ tại V�n Nam, một miền đất m�i m�i bị ph�n cắt bởi địa dư v� cũng bởi cảm thức về chủng tộc v� địa phương.� Xem ra đ� kh�ng c� lực tập hợp được d�n ch�ng bản địa cho l� cớ của Quốc Vương Hồi Gi�o; tương tự cũng kh�ng c� sự chống đối c�ng khai với duy�n cớ đ� từ c�c phần tử n�y.� D�n ch�ng Trung Hoa, nếu kh�ng t�ch cực phản đối, cũng giữ nguy�n th�i độ thụ động.� Sự chống đối thực sự đến từ c�c đội qu�n của triều đại M�n Ch�u, mặc d� c�c đội qu�n n�y trong thực tế l� c�c lực lượng Trung Hoa nằm dưới sự chỉ huy của người Trung Hoa.� Ts�en Yu-ying l� một con người kh�c thường� Ph�t sinh từ một gia đ�nh gốc Trung Hoa định cư từ l�u tại c�c khu vực thị tộc của tỉnh Quảng T�y,� gia đ�nh của �ng đ� l� c�c l�nh ch�a phong kiến địa phương được nh�n nhận của một thị tộc như thế trong nhiều thế kỷ, song họ đ� giữ lại văn h�a, ng�n ngữ Trung Hoa v� d�nh đạt được c�c chức vụ ch�nh thức.� Bản th�n �ng Ts�en ch�nh v� thế l� một người d�n v�ng t�y nam, chứ kh�ng phải kẻ x�m nhập từ miền bắc như Ng� Tam Quế, v� c� lẽ sự việc cũng dễ d�ng hơn cho �ng để tự lập m�nh th�nh vị ch�a tể của miền t�y nam ly khai hơn l� �ng Tu Wen-hsiu theo Hồi Gi�o.� Nhưng họ Ts�en đ� trung th�nh với Triều Đinh tại Bắc Kinh, v� Triều Đinh đ�, kh�ng c�n ở vị thế h�nh xử nhiều ảnh hưởng cho ph�n đất ri�ng của ch�nh họ tại c�c tỉnh t�y nam xa x�i, đ� ủy th�c cho �ng ta trọn vẹn quyền lực.

���� Đ� l� một cuộc chiến tranh l�u d�i v� t�c hại, được ph�ng ra phần lớn tr�n cao nguy�n V�n Nam, giữa Đại L� v� C�n Minh.� Ngay từ 1857, Ts�en Yu-ying đ� tiến qu�n v�o Đại L�, nhưng bị đẩy lui.� Trong c�ng năm, qu�n Hồi Gi�o bao v�y C�n Minh, lập lại mưu toan n�y trong năm 1861, v� sau c�ng, dưới sự chỉ huy của Tu Wen-hsiu, đ� chiếm đ�ng th�nh phố một c�ch ngắn ngủi trong năm 1863.� Nhưng c�c sự bất đồng v� ghen tỵ của phe Hồi Gi�o, sự đầu h�ng của một số thủ lĩnh của họ, v� c�c cuộc tranh chấp b�ng nổ giữa c�c người kh�c, đ� hủy hoại c�c cơ may để củng cố c�c thắng lợi của họ.� Dần dần, Ts�en Yu-ying đ� phục hồi v� ổn định h�a miền đ�ng của tỉnh.� Cho m�i đến năm 1968, Tu Wen-hsiu vẫn c� khả năng bao v�y C�n Minh trong một năm trường, nhưng khi cuộc v�y h�m đ� bị phải bị b�i bỏ trong năm 1869, đ� l� một kh�c rẽ trong cuộc chiến tranh l�u d�i.� C�c cuộc c�ng h�m k�o d�i v� lập lại nhiều lần v�o một th�nh phố c� tường th�nh bao quanh hẳn phải l� một trong số c�c th� dụ cuối c�ng của h�nh th�i chiến tranh cổ xưa trong lịch sử. *� Ts�en giờ đ�y được bổ l�m phi�n vương V�n Nam v� đ� giao cho thuộc cấp của �ng, Yang Yu-k�o, thực hiện trận đ�nh cuối c�ng.� Yang tiến đ�nh Đại L� năm 1872 v� cưỡng chiếm l�i đi qua đ�o Hạ Quan nằm ở mỏm ph�a nam của hồ nước.� Sau đ� �ng đ� mở cuộc bao v�y ch�nh th�nh phố v� chiếm lấy th�nh phố sau một cuộc kh�ng cự dũng m�nh v� k�o d�i.� Ngay sau khi c� sự từ trần của Tu Wen-hsiu (kẻ đ� cố tự vẫn nhưng đ� bị giao nạp bởi c�c cận vệ của �ng trước khi �ng c� thể l�m như thế), người Hồi Gi�o vẫn kh�ng cự b�n trong lẫn ngo�i th�nh phố trong gần một năm.� H�ng ngh�n người trong họ đ� bị hạ s�t, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu.� Khi c�ng cuộc b�nh định được ho�n tất, d�n số của tỉnh được ước lượng đ� giảm từ t�m triệu người xuống khoảng ba triệu người, mặc d� được nghĩ rằng nhiều người trong số mất t�ch trong thực tế đ� chạy trốn sang c�c miền h�a b�nh hơn.

���� Ch�nh v� thế đ� chấm dứt nỗ lực sau c�ng để t�ch rời V�n Nam ra khỏi Trung Hoa, bởi đ� ch�nh l� một toan t�nh r� rệt muốn l�m như thế, hầu thiết lập một vương quốc Hồi Gi�o độc lập.� N� kh�ng bao giờ được t�i diễn.� Cộng đồng Hồi Gi�o mặc d� tồn tại v� đ� kh�i phục một phần d�n số, kh�ng bao giờ d�nh lại được vị thế mạnh mẽ m� n� nắm giữ trước năm 1873.� Th�nh phố Đai L� đ� từng l� kinh đ� truyền thống của một vương quốc độc lập, để đối lập với C�n Minh, cứ địa của ch�nh quyền Trung Hoa, đ� gần như bị hủy diệt v�o l�c c� sự chiếm đoạt của đế triều.� Ng�y nay hơn ph�n nửa nội th�nh nằm b�n trong tường th�nh h�y c�n l� c�c b�i trống v� c�c phế t�ch của c�c ng�i nh� đầy cỏ mọc; phần lớn tổn hại bị g�y ra bởi cuộc động đất to lớn năm 1925, v� điều n�y thuờng l� sự giải th�ch ch�nh thức về c�c khu vực bị t�n ph�, nhưng c�c cư d�n l�u đời hơn biết r� rằng đ� l� một sự ngụy biện: c�c tuyến đường trống vắng đ� từng l� c�c khu phố d�n cư khi trước vốn được tr� ngụ bởi d�n theo đạo Hồi, sau khi c� sự sụp đổ của th�nh phố, đ� bị cấm kh�ng được ở tại đ�.

���� Ch�nh bản th�n người Hồi phải chịu tr�ch nhiệm về sự tổn hại nặng nề đối với c�c tượng đ�i kỷ niệm văn h�a của thời qu� khứ xa hơn.� Tu viện Phật Gi�o vĩ đại được gọi l� San T�a Ssu, Tu Viện gồm Ba Ng�i Ch�a [Tam Th�p Tự ?]), ng�y nay l� một đống c�c phế t�ch.� Đ�y kh�ng phải l� một hậu quả của trận động đất, bởi ba ng�i ch�a cổ xưa đ� mang lại cho tu viện danh xưng của n� vẫn sống s�t qua trận động đất, như ch�ng đ� sống s�t qua c�c thời Hồi Gi�o, nh� Minh, v� M�ng Cổ.� Tại một ph�ng nhỏ của tu viện cổ xưa sau n�y được tr�ng tu đ� c� nhiều mảnh vỡ của pho tượng Phật bằng đồng to như người thật, nổi tiếng từ l�u như một t�c phẩm của thời kỳ Nam Chiếu.� Chỉ phần b�n th�n ph�a tr�n l� tho�t khỏi sự th� o�n của người Hồi đối với nghệ thuật đi�u khắc, nhưng mảnh vỡ n�y cho thấy một thể điệu mang t�nh chất Ấn Độ rất s�u đậm, với dấu hiệu tương đối �t ỏi của cảm hứng nghệ thuật Trung Hoa trực tiếp.� Đ�y l�, hay đ�ng hơn đ� l�, bằng chứng quan trọng nhất cho khuynh hướng Ấn Độ trong nền văn minh của Nam Chiếu được lưu truyền cho đến thời nay.� C� những chỉ dẫn kh�c của ảnh hưởng ẩn m�nh n�y trong văn h�a của V�n Nam hiện đại, đặc biệt trong v�ng Đại L�.� Cho đến c�c thời kỳ tương đối gần đ�y, c�c tấm đ� bia mộ khắc lời ghi tặng v� l� lịch của người từ trần bằng tiếng Hoa ph�a mặt trước, tiếng Phạn (Sanskrit) ở mặt sau; một tập tục độc nhất tại V�n Nam, v� đặc biệt ti�u biểu cho Đại L�.� Nhiều ng�i mộ như thế hiện vẫn c�n đứng tr�n sườn ngọn n�i b�n tr�n th�nh phố.

���� D�n ch�ng Đại L� trang ho�ng nh� cửa của họ cũng như c�c ng�i ch�a � v� ngay cả c�c đền thờ [Hồi Gi�o] � với một họa kiểu đ�i khi khắc ch�m, đ�i khi t� m�u, một qu�i vật tr�ng giống như con rắn, vốn được tin l� vị thần của c�c trận động đất, được gọi ở địa phương l� Ao Yu; �t c� sự nghi ngờ n�o rằng đ� đ� l� một h�nh ảnh tượng trưng được biến cải của Naga, thần rắn trong Ấn Độ Gi�o.� Chủ đề Naga rất th�ng dụng trong mọi sự trang tr� tại v�ng Đại L�; nơi ch�n b�n v� ch�n ghế, v� r� n�t trong h�nh thức khăn ch�m đầu được mang bởi c�c thiếu nữ sắc d�n Pai (Bạch) ở đồng bằng Đại L� trước khi kết h�n.� Đ�y kh�ng phải l� kiểu mẫu nghệ thuật của Trung Hoa, v� gần như chắc chắn l� một di t�ch của văn h�a tiền Trung Hoa của Nam Chiếu ban sơ.

���� C�c di t�ch lưu tồn như thế th� �t ỏi; kh�ch du h�nh t�nh cờ sẽ �t t�m thấy tại miền t�y V�n Nam những g� m� lại kh�ng c� nguồn gốc Trung Hoa, cho đến khi người đ� tiến gần tới bi�n giới Miến Điện, nơi c� cư d�n thuộc chủng tộc T�ai (người Shans) hay thị tộc Kachin.� Nhưng rất thường, trong h�nh thức Trung Hoa của một kiến tr�c, một t�c phẩm nghệ thuật, hay một nh�n tạo phẩm (artifact), hay c� ẩn chứa một th�nh tố ph�t sinh từ văn h�a cổ xưa hơn tại v�ng n�y.� Một c�ch kh� hiếu kỳ, bất kể sự lưu ngụ l�u d�i v� sự thống trị ngắn ngủi của họ, th�nh phần Hồi Gi�o trong d�n số chỉ sản xuất ra �t bằng cớ r� r�ng về bất kỳ ảnh hưởng văn h�a n�o được mang lại c�ng với họ từ trung � Ch�u.� C�ch trang tr� hai mầu đen trắng kiểu ả rập được �p dụng tại Đại L� dưới m�i hi�n n�c nh� c� lẽ gần như l� ảnh hưởng nghệ thuật duy nhất ph�t hiện được.� Sự kiện n�y cũng thế, chỉ giới hạn v�o khu Đại L�.

���� Do vậy, điều kh� r� rệt rằng sự đồng h�a theo Trung Hoa của nền văn h�a� cổ xưa �hơn tại V�n Nam th� gần như l� tuyệt đối.� K� ức về một nền độc lập trước đ�y th� mơ hồ v� ch�m khuất nơi người d�n thường; m� chỉ được biết như c�c sự kiện lịch sử, nhưng được nh�n qua sự gi�o dục của Trung Hoa, qua văn chương.� �Cảm thức d�n tộc t�nh kh�ng hiện hữu nơi người d�n nay được gọi l� c�c D�n Tộc �t Người.� Họ hay biết về sự kh�c biệt của họ với Trung Hoa, nhưng kh�ng cảm thấy sự h�nh diện đặc biệt n�o, hay sự tự ti n�o.� C�c người c� học của c�c d�n tộc n�y th� th�ng thạo H�n tự, nhưng kh�ng bao giờ (c� lẽ cho đến khi nằm dưới Cộng H�a Nh�n D�n) nỗ lực để nghĩ ra một hệ thống chữ viết của ch�nh họ.� Điều n�y l� sự thực với rất �t ngoại lệ.� Văn chưoơng, đến mức bất kỳ phần n�o c�n t�n lưu, của Nam Chiếu viết bằng H�n tự, hay c� lẽ cả bằng t�ếng Phạn (Sanskrit).� C�c d�n Bạch (Pai) c� học thức tại Đại L�, mặc d� n�i ng�n ngữ đ�m thoại ri�ng của họ tại nh�, ho�n to�n kh�ng nhận biết g� về c�c đặc điểm văn phạm c� biệt của họ, v� ho�n to�n kh�ng quan t�m đến một ng�n ngữ như thế.� N� chỉ l� tiếng n�i th�ng dụng trong nh� v� ngo�i đồng ruộng, kh�ng bao giờ được d�ng tại những nơi lịch sự.� Yếu tố x�c định vị thế x� hội thời tiền C�ng sản l� gi�o dục; một người biết đọc v� n�i H�n tự ngang h�ng với bất kỳ kẻ n�o mang d�ng m�u thuần t�y Trung Hoa (nếu trong thực tế c� bất kỳ người n�o như thế tại V�n Nam) v� người kh�ng biết đọc l� người ở vị thế thấp k�m, ngay d� ng�n ngữ mẹ đẻ của người đ� l� Hoa ngữ.� Nếu người đ� chỉ biết n�i vai tiếng kh�ng phải l� H�n tự, người đ� trong thực tế được xếp loại l� một �man tzu� [? man tử, ND] , c� nghĩa một kẻ man rợ, hay c� lẽ một c�ch ch�nh x�c hơn, như một �native: thổ d�n� theo nghĩa khinh thường của từ ngữ đ�.� Một người d�n Bạch (Pai) chỉ c� thể n�i Hoa ngữ rất k�m được nghe thấy đ� sỉ vả một người chăn dắt s�c vật gốc d�n Nosu đang cản trở lối đi l� �hu tu man tzu� � �một đứa thổ d�n ngu si�.� Th�i độ thực d�n kh�ng chỉ bị giới hạn v�o c�c thực d�n �u Ch�u.

���� Song ch�nh s�ch thực d�n của Trung Hoa, bởi đ� l� điều phải được gọi như thế tại V�n Nam, trong một số đường hướng, c� t�nh c�ch khai h�a.� D�n ch�ng được nh�n như được ph�n chia th�nh �shu v� �sheng� � đ� ch�n hay c�n sống.� Thuần thục trong văn minh Trung Hoa, được chấp nhận ho�n to�n v� tuyển dụng ch�nh thức nếu họ đ� thụ đắc một nền gi�o dục Trung Hoa v� �t nhiều th�ch nghi với c�c phong tục x� hội Trung Hoa.� Điều kiện sau c�ng n�y đ� kh�ng được �p dụng một c�ch qu� nghi�m ngặt.� Người Bạch tại Đại L� c� một hệ thống gia đ�nh kh�ng mang t�nh chất Trung Hoa, v� được đặt căn bản nặng nhiều về nguồn gốc địa phương tại một l�ng hơn l� v�o d�ng d�i theo phụ hệ.� Kết h�n ngoại tộc [Exogamy, kết h�n ngo�i bộ lạc, ND] kh�ng phải l� một bộ phận trong hệ thống đ�, v� n� vẫn c�n thường kh�ng được để � tới bởi c�c người c� học thức.� Người Trung Hoa từ c�c nơi kh�c của xứ sở nh�n thấy c�c bia mộ ghi lại sự kết h�n của c�c gia đ�nh c� c�ng họ lấy l�m ngạc nhi�n, nếu kh�ng c�n� bị chấn động;� nhưng người d�n Bạch ở Đại L� c� học thức nhận thấy điều n�y ho�n to�n b�nh thường.� Tại một số nơi của V�n Nam, sự đồng h�a kh�ng đi đ�n mức qu� xa cho đ�n nay.� Sắc d�n Na Khi sinh sống chung quanh Lichiang [Ly Giang, một khu du lich nổi tiếng ng�y nay của V�n Nam, ch� của người dịch], một trăm dặm về ph�a bắc Đại L�, ở� một khu vực từng c� lần nằm dưới ảnh hưởng s�u đậm của T�y Tạng, đ� ph�t triển một hệ thống đơn giản của chữ viết tượng h�nh (ideograph), hay c�ch viết bằng h�nh vẽ, c� thể l� một sự bắt chước theo H�n tự, nhưng kh�c biệt.� N� vẫn c�n được d�ng trong c�c bia mộ tưởng niệm hồi cuối thập ni�n ba mươi [của thế kỷ thứ hai mươi, ch� của người dịch], nhưng đang mau ch�ng mất đi.� Một số bản thảo d�i hơn n�o đ� c�n được bảo tồn.� Sắc d�n n�y phải chịu đựng �p lực của việc thay đổi c�c phong tục x� hội, để th�ch nghi với lu�n l� Trung Hoa, ở một thời kỳ rất gần đ�y.� Sự giao hợp tiền h�n th� trước đ�y được nh�n nhận v� th�ng thường; dưới ảnh hưởng Trung Hoa, n� trở n�n � nhục v� bị kết �n.� Hậu quả, tỷ lệ tự tử trong số c�c thiếu nữ tại Ly Giang l�n rất cao, v� được li�n kết với c�c th�i độ phản kh�ng l�ng mạn.

���� Phần tử �c�n sống sượng� hay �chưa văn minh� theo c�ch n�i Trung Hoa, phần lớn được để mặc họ.� Rất �t nỗ lực được tr� liệu v� nhận thấy đ� được thực hiện nhằm mang họ v�o dưới ảnh hưởng Trung Hoa, chừng n�o m� họ c�n giữ sự �n h�a.� Bởi phần lớn c�c cư d�n tại c�c rặng n�i rừng tr�n cao kh�ng thu h�t c�ng cuộc định cư người Trung Hoa, sự tiếp x�c ch�nh của họ với d�n ch�ng n�ng nghiệp l� ở c�c chợ, nơi họ đến để mua vải v�c hay đồ trang sức rẻ tiền v� để b�n c�c sản phẩm của rừng, đặc biệt c�c dược thảo, vốn được xem đ�ng gi� bởi người Trung Hoa.� Bất kể đến sự dung chấp dễ d�i n�y, rất c� thể l� c�c thị tộc �c�n sống sượng� n�y đ� cảm thấy bị l�ng qu�n v� kh�ng c� ảnh hưởng g�.� Sự th�nh c�ng đ�ng kể, hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi, m� c�c nh� truyền gi�o Tin L�nh c� được trong việc cải đạo số đ�ng người Li Su, một thị tộc miền n�i, c� lẽ nhiều phần v� cảm gi�c m� c�c người d�n n�y đ� r�t ra từ sự cải đạo; an ninh, ảnh hưởng v� sự trợ gi�p từ c�c người bạn quyền thế -- c�c người ngoại quốc � hơn l� từ c�c niềm tin t�n gi�o.� Mặt kh�c, ch�nh s�ch của Trung Hoa, mặc d� c� vẻ ở t�nh trạng h�n m�, được dựa tr�n niềm tin rằng thời gian sẽ đem mọi người d�n ở V�n Nam v�o trong v�ng tay �m trọn của văn minh Trung Hoa; một thế kỷ theo c�ch n�y hay c�ch kia kh�ng th�nh vấn đề.� Lịch sử đ� cho thấy sự đối kh�ng sẽ tan biến mất, rằng kh�ng g� c� thể được cống hiến tốt hơn l� văn h�a Trung Hoa, v� rằng những ai chấp nhận n� sẽ lấy l�m h�nh diện về th�nh quả của m�nh v� kh�ng muốn từ bỏ vị thế mới của m�nh.

���� Ri�ng người Hồi Gi�o, trong c�c thế kỷ gần đ�y,� đem lại một lựa chọn kh�c biệt r� r�ng, v� v� l� do n�y, đ� bị đ�n �p một c�ch khắc nghiệt hơn c�c thị tộc �c�n sống sượng� bất m�n, c�c th�nh phần được ước định đ�i khi tỏ ra bướng bỉnh, nhưng kh�ng bao giờ l� một mối đe dọa cụ thể.� Xem ra c� rất �t bằng chứng rằng khảo hướng Trung Hoa căn bản n�y đ� thay đổi dưới chế độ hiện tại.� Ng�y nay n� mang nặng t�nh chất l� thuyết hơn; C�c D�n Tộc �t Người c� quyền c� văn h�a ri�ng của m�nh, v� quyền được gi�o dục trong đ�, nếu đ� l� việc m� họ mong muốn.� Nhưng họ cũng học tiếng Trung Hoa; họ đ� nu�i dưỡng, bất luận trong một cộng đồng phi-Trung Hoa hay tại một cộng đồng hỗn chủng, như c�c kẻ tu�n h�nh đạo l� Cộng Sản, v� theo lời gi�o huấn của [Chủ Tịch] Mao Trạch Đ�ng.� Nhiều điều đ� được l�m cho người d�n, kh�ng chỉ cho c�c d�n định cư gốc Trung Hoa, nhiều hơn những g� m� ch�nh phủ ho�ng triều hay cộng h�a trước gia đ� từng dự liệu,nhưng điều n�y cũng vậy, l� một lực đồng h�a, nhằm mang một tỉnh tụt hậu v�o d�ng chảy trọn vẹn của văn h�a Trung Hoa hiện đại.� C�c từ ngữ th� lỗ hay miệt thị được d�ng cho người d�n phi-Trung Hoa trước đ�y đ� bị b�i bỏ v� kết �n, ngay khi ch�ng được d�ng theo sự quy định từ l�u v� kh�ng c�n mấy � nghĩa đối với người Trung Hoa hay phi-Trung Hoa.� Người Min Chia (dịch s�t nghĩa �thường d�n, d�n d�) của Đại L� giờ đ�y sẽ được gọi l� d�n Bạch (Pai); thế nhưng từ ngữ n�y trong H�n tự để chỉ sắc d�n bản xứ Ber, l� t�n gọi tắt của Ber Wa Dser, � �D�n của �ng Ho�ng Bạch�.� Kh�ng c� vẻ rằng nh�m chữ n�y sẽ c� thể được gọi trong H�n tự l� Pai Wang Tzu: Bạch Vương Tử;� c� lẽ đ�y l� một th�nh ngữ qu� phong kiến v� phản động.

���� Người V�n Nam, thuộc mọi sắc d�n, thường c� một th�i độ địa phương đặc th� đối với phần c�n lại của Trung Hoa: trong khi điều n�y kh� c� thể được mệnh danh l� �chủ nghĩa d�n tộc V�n Nam� bởi n� kh�ng c� c�c động lực hay sắc m�u ch�nh trị, m� mang t�nh chất tự hướng t�m r� r�ng.� Mặc d� V�n Nam l� một tỉnh bi�n cương, v� rất xa trung t�m của xứ sở, người V�n Nam lu�n lu�n n�i đến c�c phần đất kh�c của Trung Hoa l� �wai sheng� �ngoại tỉnh: c�c tỉnh b�n ngo�i� � một th�nh ngữ g�y ngạc nhi�n, chấn động hay l�m th�ch th� lớn lao c�c du kh�ch đến từ �ngoại tỉnh� chẳng hạn như Bắc Kinh, Thượng Hải hay Quảng Ch�u.� Nếu một số phong tục kh�c biệt nhau, v� c� lẽ phong tục đ�ng mong ước hơn hiện hữu tại c�c nơi kh�c, v� đ� được đề cập tới, phản ứng th�ng thường l� �ch�ng t�i kh�ng l�m như thế n�y tại V�n Nam�, v� h�m � rằng V�n Nam v� thế si�u việt hơn.� Phần lớn loại chủ nghĩa địa phương n�y c� thể t�m thấy nơi c�c phần kh�c của Trung Hoa (nổi bật l� Tứ Xuy�n), nhưng tại V�n Nam, xem ra c� một cảm thức mạnh mẽ về n�t đặc th� hơn bất kỳ nơi n�o kh�c.� Điều n�y c� thể giải th�ch, �t nhất tại Đại L�, bởi sự tiếp tục �p dụng c�c phong tục v� cung c�ch kh�ng c� nguồn gốc Trung Hoa, v� được biết c� t�nh c�ch bản địa của v�ng n�y.

���� Như một hệ luận của th�i độ đối với �ngoại tỉnh�, đ� c� một sự nh�n nhận rất kh�c biệt c�c người phi-V�n Nam trong một số phương diện như kh�ng giống, ngay cả gần như ngoại kiều.� Khi c�c d�n định cư từ Tứ Xuy�n đến đ�ng đảo, ngay c�c địa danh cũng ghi nhận gốc g�c ngoại lai của ch�ng, như tại Pinch�uan, �Kh�ch (đến từ Tứ) Xuy�n (Ch�uan)�.� C�c người Hồi Gi�o kh�ng bao giờ được ph�p qu�n rằng họ l� một sắc d�n ngoại lai (Hui Tzu) ngay d� tất cả họ đều n�i thổ ngữ địa phưng v� ăn mặc theo kiểu Trung Hoa � chỉ kh�c biệt trong t�n gi�o của họ.� Kể từ khi c� sự sụp đổ của đế quốc, phương thức đề triều cũ về việc kh�ng bao giờ tuyển dụng một người bản xứ v�o phục vụ tại tỉnh hạt của ch�nh họ đ� rơi v�o sự bất �p dụng ho�n to�n.� C�c quan chức l� người V�n Nam, tổng đốc l� người V�n Nam, v� nếu �ng ta toan t�nh, kh�ng phải l�c n�o cũng th�nh c�ng, để ph�n phối c�c người nắm giữ c�c chức vụ đến c�c khu vực kh�c hơn qu� qu�n bản địa của ch�nh họ, �ng ta thường nhận thấy điều tiện lợi hơn l� n�n qu�n đi c�ch thức n�y trong thực tế.� Trong � nghĩa n�y, V�n Nam đ� phục hồi sự độc lập thực tế từ ch�nh quyền trung ương hơn n� đ� được thụ hưởng kể từ khi c� sự chinh phục của M�ng Cổ.� Trong thời �Chiến Tranh Qu�n Phiệt: Warlord Era�, 1913-34, người V�n Nam chưa hề nh�n thấy một đội qu�n từ b�n ngo�i tỉnh, hay chịu phục t�ng một tỉnh trưởng n�o kh�ng phải l� d�n bản xứ của họ.� Khi đội qu�n của ch�nh phủ Nam Kinh, theo sau với một khoảng c�ch thận trọng cuộc Trường Chinh của c�c lực lượng Cộng Sản trong c�c năm 1934-35, x�m nhập v�o V�n Nam, họ đ� kh�ng mấy được ch�o mừng.� Phe Cộng Sản đ� kh�ng chiếm c�c th�nh phố, hay chiếm cứ đất đai l�u d�i; phe D�n Tộc Chủ Nghĩa sẽ l�m cả hai việc nếu họ c� dư binh sĩ.� Th�i độ đối với Cộng Sản ch�nh v� thế l� �vừa y�u vừa gh�t: ambivalent�; đ�ng vậy họ l� �ngoại tỉnh nh�n: wai sheng jen� � c�c kẻ b�n ngo�i � nhưng phe D�n Tộc Chủ Nghĩa cũng như thế.� Cũng đ�ng rằng Cộng Sản l� kẻ th� của c�c địa chủ v� tầng lớp quan chức, nhưng c�c người n�y đ� chạy đi tr� n�u tại c�c th�nh phố nơi kh�ng bị chiếm giữ bởi phe Cộng Sản.� Người d�n thường ưa th�ch những g� họ nh�n thấy nơi c�c kẻ thực hiện cuộc Trường Chinh của Cộng Sản; họ đ� trả tiền mua sản phẩm, họ trả tiền c�ng hợp l� cho phu khu�n v�c, v� trở ngại duy nhất với họ rằng họ đ� đi qu� xa v� qu� nhanh đến nỗi phu khu�n v�c V�n Nam chuy�n nghiệp nhận thấy đ� l� một kinh nghiệm cam go.� Khi cuộc x�m lăng của Nhật Bản bắt đầu, c�c lực lượng của V�n Nam c� g�p phần v�o c�ng cuộc ph�ng thủ quốc gia.� C�c sư đo�n ra tiền tuyến đ� được đưa tiễn nồng hậu với c�c bữa tiệc khoản đ�i v� qu� tặng; mọi người thực sự kh� vui mừng khi thấy họ ra đi, c�c người l�nh ra đi đến �ngoại t�nh được tuyển dụng tốt, v� tốt hơn so với việc ở lại nh�.� Kh�ng ai kỳ vọng một c�ch nghi�m chỉnh rằng nhiều người , nếu c�, sẽ quay trở lại bao giờ.

���� V�n Nam giờ đ�y được kết hợp như một tỉnh của Cộng H�a Nh�n D�n [Trung Quốc], nhưng đ� c� kh�ng �t chỉ dẫn trong diễn tiến Cuộc C�ch mạng Văn H�a rằng chủ nghĩa đặc th� cũ đ� kh�ng chết.� N� c� lẽ sẽ c�n tồn tại trong rất nhiều năm, bởi ngay c�c sự giao th�ng được cải tiến hiện nay vẫn để lại phần đất n�y ở nơi xa x�i, tương đối kh� tiếp cận, v� rất xa trung t�m quyền lực.� Song điều kh�ng k�m chắc chắn rằng tiến tr�nh s�p nhập v�o quốc gia v� d�n tộc Trung Hoa giờ đ�y đ� ho�n tất trong � nghĩa ch�nh trị, v� gần như th�ng suốt trong kh�a cạnh văn h�a.�� V�n Nam ch�nh v� thế đưa ra một lịch sử về sự b�nh trướng của Trung Hoa từ những khởi sự ban đầu với c�c quan hệ giữa một triều đ�nh xa x�i v� c�c nh� l�nh đạo man rợ địa phương, xuy�n qua một thời kỳ truyền b� văn h�a đồng thời với sự khước từ ch�nh trị, v� sau đ� xuy�n qua c�c giai đoạn li�n tiếp nhau của sự chinh phục, chiếm đ�ng v� đồng h�a.� C�ng tiến tr�nh, hay biến cố tương tự đ� đ�nh dấu một c�ch vững chắc sự s�p nhập của Trung Hoa v�ng Quảng Đ�ng v� tỉnh v�ng duy�n hải đ�ng nam l� Ph�c Kiến: ở một thời kỳ sớm hơn, người ta h�y c�n nhận thấy một c�ch mờ nhạt c�c biến cố rất tương đồng v� một diễn tiến tương tự trong sự s�p nhập thung lũng s�ng Dương Tử.� V�n Nam l� bước cuối c�ng trong một chuỗi hoạt cảnh l�u d�i.

���� Vấn đ� khi đ� phải được n�u l�n: đ� c� phải l� cảnh cuối, hay chỉ l� cảnh mới nhất?� Lịch sử phong tr�o nam tiến của Trung Hoa cả về mặt ch�nh trị lẫn văn h�a đ� sẵn diễn ra li�n tục trong hơn hai ngh�n năm, c� lẽ gần ba ngh�n năm, kh�ng thể bị giả định rằng đ� đến hồi kết cuộc cho mọi thời đại, chỉ bởi v� c�c cấu h�nh ch�nh trị hiện nay kh�ng c� vẻ t�n trợ cho sự tiếp tục của n�.� Quyền lực Nam Chiếu đ� diễn ra trong một thời kỳ l�u d�i hẳn đ� c� vẻ mang sự tiến bước của Trung Hoa đến hồi kết cuộc, tiếp theo sau, như đ� xảy ra, bởi sự cự tuyệt của nh� Tống đối với một ch�nh s�ch b�nh trướng.� Tuy nhi�n, tiến tr�nh đ� được t�i diễn v� đ� đi l�n đến tột đỉnh trong v�ng năm thế kỷ, sau khi c� sự sụp đổ của Nam Chiếu.� Ng�y nay viễn ảnh xem ra kh�ng k�m bất lợi hơn so với viễn ảnh đối diện với vị ho�ng đế đầu ti�n của nh� Tống hồi cuối thế kỷ thứ mười.� Miến Điện l� một quốc gia c� chủ nghĩa d�n tộc đầy kh� lực, v� c� d�n số rất hợp l�.� Đ�y kh�ng l� v�ng đất trống d�nh cho c�c kẻ đến định cư.� Việt Nam trong nhiều thế kỷ đ� biểu lộ � muốn của n� để tiếp nhận văn h�a Trung Hoa v� sự khước từ kh�ng k�m cương quyết của n� đối với sự cai trị của Trung Hoa.� Kh�ng điểm n�o ng�y nay cho thấy m� thức đ�p ứng n�y bị thay đổi.� Ngay d� nếu một v�i nước kh�c của Đ�ng Nam � c� thể tiếp cận với Trung Hoa tr�n đất liền, chỉ xảy ra sau khi nỗ lực đ�ng kể được chi ti�u cho c�c sự cải tiến giao th�ng, trong thực tế ch�ng đều c� thể được tiếp x�c gần cận hơn bằng đường biển.� Th�i Lan, Căm Bốt v� ngay cả L�o đ� kh�ng thu nhận di d�n Trung Hoa bằng đường bộ, m� bằng đường biển.� Nhập lượng người Hoa v�o c�c xứ sở n�y v� thế kh�ng phải l� phần trong sự b�nh trướng của Trung Hoa tr�n đất liền.

���� Do đ�, rất c� thể rằng sự b�nh trướng tr�n đất liền đ� vươn tới giới hạn tự nhi�n của n�, nơi m� c�c d�n tộc kh�c c� nền văn minh tiền tiến đ� sẵn tự thiết định, v� kh�ng thể bị đồng h�a hay trục xuất.� Trong thời hiện đại, sự b�nh trướng bằng đường biển c� thể vừa dễ d�ng hơn trong sự vận chuyển c�c người định cư v� kh�ch du lịch, v� vừa hiệu quả hơn v�o giai đoạn của sự kiểm so�t ch�nh trị c� thể tiếp theo sau.� Nhưng c�c điều kiện n�y chỉ c� thể được ho�n th�nh nếu người Trung Hoa trong tương lai chuyển hướng tư tưởng v� năng lực của họ sang việc thống trị biển cả, một điều g� đ� họ rất hiếm khi thử l�m trong qu� khứ.� Tuy nhi�n, quyền lực họ đ� từng ph�t triển trong nỗ lực ngắn ngủi theo chiều hướng n�y m� họ đ� thực hiện hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm hiện ra như một đ�n b�o hiệu cho những g� c� thể th�nh đạt được, một khi tham vọng n�y được thiết định th�nh ch�nh s�ch nh� nước./-

___

* C� lẽ th� dụ đ�ch thực sau c�ng l� cuộc v�y h�m Bắc Kinh trong s�u tuần lễ hồi Th�ng Mười Hai 1948 v� Th�ng Một 1949 bởi Qu�n Đội Nh�n D�n Giải Ph�ng của Cộng sản.� V�o l�c đ�, th�nh phố Bắc Kinh ho�n to�n nằm b�n trong c�c bức tường th�nh cổ xưa của n�.

____

Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York & Washington: Praeger Publishers, 1972, Chapter Four: The Chinese Conquest of Yunnan, c�c trang 60-78.� �

 

Ng� Bắc dịch

21/09/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009

 

 

����