C. P. FITZGERALD

 

C�C VIỄN ẢNH VỀ SỰ B�NH TRƯỚNG

XUỐNG PHƯƠNG NAM CỦA TRUNG HOA

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời Người Dịch:

���� Đ�y l� bản dịch b�i viết kế tiếp trong loạt b�i c� chủ đề Sự B�nh Trướng CủaTrung Hoa Xuống Phương Nam của c�ng t�c giả C. P. FitzGerald:

���� 1. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp V�n Nam;

���� 2. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp Việt Nam (đ� đăng tải);

���� 3. C�c Viễn Ảnh Về Sự B�nh Trướng Xuống Phương Nam Của Trung Hoa.

 

***

 

���� Điều đ� được biểu thị l� kh�ng c� mối tương quan chắc chắn giữa quyền lực của một ch�nh quyền trung ương Trung Hoa mạnh với tỷ lệ hay ta6`m mức của sự b�nh trướng của Trung Hoa xuống phương nam; dưới một v�i triều đại, khi Trung Hoa mạnh v� thống nhất, chẳng hạn như nh� H�n, sự b�nh trướng th� m�nh liệt, nhưng dưới c�c triều đại kh�c, cũng mạnh kh�ng k�m trong phạm vi đế quốc Trung Hoa, chẳng hạn như nh� Đường, sự b�nh trướng đ� ngưng lại v� sau c�ng l� một sự triệt tho�i.� Nh� Bắc Tống tương đối mạnh, đ� kiềm chế sự b�nh trướng về phương nam, nh� Nam Tống �t mạnh hơn nhiều đ� ph�t triển c�c sự tiếp x�c ngoại giao v� thương mại tại hải ngoại, đặt nền m�ng cho hải lực của nh� Nguy�n M�ng Cổ v� nh� Minh sau n�y.� Nh� Minh đ� khởi sự với một sự can dự lớn lao tại v�ng Biển (Ph�a) Nam [Nanyang: dịch �m l� Nam Dương, từ ngữ m� người Việt hay d�ng để chỉ nước Indonesia ng�y nay; để tr�nh sự lẫn lộn, người dịch vẫn giữ nguy�n danh xưng Indonesia, v� dịch Nanyang l� vung Biển Ph�a Nam trong b�i n�y, ch� của người dịch]; sau đ� đ� từ bỏ đường hướng đ�, v� với n�, hải lực của Trung Hoa.� Triều đại M�n Ch�u, một trong những nước mạnh nhất tr�n đất liền, kh�ng bao giờ tham gia v�o ch�nh trị hải lực, v� trong thời kỳ suy yếu v� ho�n to�n bị coi thường của n�, d� thế đ� chứng kiến sự b�nh trướng rộng lớn nhất sự định cư v� quyền lực kinh tế của Trung Hoa tại Biển Ph�a Nam trong suốt lịch sử.� Mặt kh�c, c� bằng cớ rằng sự x�o trộn tại Trung Hoa đ� th�c đẩy sự di tr�, v� rằng v� thế c�c thời kỳ dưới sự cai trị của triều đ�nh suy yếu đ�i khi cũng l� c�c thời kỳ b�nh trướng t�ch cực xuống miền nam.� Một yếu tố đ� từng chi phối mọi thời đại, v� c� lẽ hiện vẫn c�n t�c động, rằng c�c ch�nh quyền trung ương mạnh cai trị to�n xứ sở lu�n lu�n bận t�m với nỗi nguy hiểm của bi�n cương phương bắc, �t bận t�m hơn về c�c kẻ địch ở phương nam.� Do đ�, c� vẻ rằng bất kỳ nỗ lực n�o để đ�nh đồng sự b�nh trướng xuống phương nam của Trung Hoa với c�c mục ti�u d�i hạn v� c�c ch�nh s�ch c� t�nh to�n sẽ kh�ng đứng vững; c�c động lực hướng đến sự b�nh trướng ph�t sinh từ ph�a người d�n, kh�ng phải từ c�c nh� cai trị họ.� Giờ đ�y bởi ch�nh phủ Trung Hoa x�c định sẽ diễn giải c�c � nguyện của d�n ch�ng l� tối thượng, ch�nh s�ch của ch�nh phủ c� thể được sắm sửa lại theo �p lực quần ch�ng muốn b�nh trướng hơn nữa về phương nam.

���� Điều r� r�ng l� bất kỳ sự b�nh trướng n�o như thế phải d�nh l�u với một sự di chuyển ra hải ngoại; c�c khu vực cũ của sự b�nh trướng tr�n đất liền của Trung Hoa đ� kh�ng c�n � nghĩa.� Trung Hoa từ l�u đ� nh�n nhận rằng ch�nh s�ch thực d�n hay thống trị Việt Nam kh�ng được đền b�, v� rằng một loại quan hệ kh�c với thuộc địa văn h�a thủa xa xưa c� t�nh chất khả tồn hơn.� V�n Nam đ� được s�p nhập; Miến Điện đ�ng d�n v� cũmg kh�ng dễ d�ng tiếp cận bằng đường bộ.� Ch�nh ở hải ngoại m� c�c khu định cư người Trung Hoa to lớn đ� được th�nh h�nh, v� ch�nh c�c v�ng đất hải ngoại ở v�ng Biển Ph�a Nam (Nanyang) đ� thu h�t di d�n Trung Hoa trong thời hiện đại.� T�nh trạng của c�c cộng đồng di d�n đ� ng�y n�y kh�ng c�n được hưởng đặc quyền, hay tại phần lớn c�c nước, đ� đến mức, sau hết, �kh�ng thể chịu đựng được; họ hoặc bị ngược đ�i, kỳ thị, hay bị đe dọa gặp sự đối xử như thế.� Trong một v�i kh�a cạnh, vị thế của họ c� thể so s�nh với vị thế của c�c số lượng đ�ng đảo người Trung Hoa hoặc đ� bị đẩy sang Nam Chiếu trong c�c cuộc chiến tranh hay bị chinh phục v� s�p nhập v�o vương quốc đ�.� Dĩ nhi�n, c� c�c sự kh�c biệt rộng lớn, nhưng cũng c� c�c n�t tương đồng đ�ng kể, v� V�n Nam c�ng lịch sử của n� trong nhiều phương diện l� một trường hợp trắc nghiệm để thẩm định t�nh chất v� sự ph�t triển của sự b�nh trướng của Trung Hoa.� Người Trung Hoa bị bắt giữ hay bị chinh phục tại Nam Chiếu trong thế kỷ thứ chin kh�ng c� quyền lực ch�nh trị, cũng như họ đ� kh�ng c� khả năng l�c ban đầu để ph�t triển nhiều sức mạnh kinh tế. Nhưng d�n dần, nhờ ở t�nh đo�n kết, văn h�a ti�n tiến v� th�nh vi�n của một chủng tộc to lớn thuộc một quốc gia h�ng mạnh l�n cận, họ đ� d�nh đaạt được cả sự thăng tiến ch�nh trị lẫn sự thống trị kinh tế.� C�c nh� l�nh đạo sau n�y của vương quốc Đại L�, thừa kế của Nam Chiếu, l� c�c con ch�u người Trung Hoa, mặc d� họ kh�ng nghi�ng về việc thần phục sự cai trị của Trung Hoa.� Đời sống kinh tế của xứ sở dần bị kiểm so�t bởi d�n định cư Trung Hoa, thủ lợi từ c�c li�n quan rộng r�i của họ với Trung Hoa v� với nhau, v� từ t�nh chất thay đổi v� v� khả năng về kinh tế của c�c sắc d�n phi-Trung Hoa (non-Chinese), ngay cả với c�c kẻ h�nh xử thẩm quyền ch�nh trị..� Văn h�a văn chương trở n�n Trung Hoa.

���� C� c�c kh�a cạnh trong c�u chuyện n�y được lập lại tại v�ng Biển Ph�a Nam.� Ở đ� cũng thế, c�c di d�n Trung Hoa ban đầu kh�ng c� quyền lực kinh tế cụ thể hay ch�nh trị; họ l� c�c c�ng nh�n lao động phần lớn thất học, khi đ�n nơi rất ngh�o.� Họ trước ti�n trở n�n gi�u c�, sau đ� c� học thức, v� sau n�y tại một số xứ sở c� c�c điều kiện thuận lợi, họ cũng thụ đắc phần chia sẻ quyền h�nh ch�nh trị.� Nhưng ở Nam Chiếu cũng như ở Nam Dương, kh�ng quyền lực hay hoạt động n�o của ch�nh quyền Trung Hoa đ� đ�ng giữ bất kỳ vai tr� n�o trong c�c sự ph�t triển n�y.� Nh� Tống đ� kiềm chế việc c� bất kỳ sự quan t�m n�o đến V�n Nam; nh� M�n Ch�u từ bỏ bất kỳ sự li�n can n�o với c�c di d�n sang v�ng Biển Ph�a Nam.� Sau ch�t, qu�n M�ng Cổ đ� chinh phục V�n Nam, nh� Minh thừa kế nh� Nguy�n, v� nhận thấy rằng ảnh hưởng, sự định cư v� văn h�a Trung Hoa đ� cung cấp một nền tảng an to�n cho sự s�p nhập vĩnh viễn tỉnh mới n�y.� Đ� l� nỗi lo sợ của một v�i l�nh tụ tại Đ�ng Nam � � bất luận họ c� th�ng hiểu lịch sử của V�n Nam hay kh�ng � rằng diễn tiến của c�c biến cố tương lai sẽ đi theo c�ng c�c chiều hướng tương tự tại ch�nh xứ sở của họ.� Bởi v� sự lo sợ n�y nằm ở tận gốc rễ của phần lớn ch�nh s�ch của c�c nước n�y đối với cư d�n Trung Hoa của họ cũng như đối với ch�nh Trung Hoa, điều cần l�m l� khảo s�t xem đ�u l� những viễn ảnh cụ thể, cho đến mức m� ch�ng c� thể lượng định được giờ đ�y, của sự b�nh trướng hơn nữa của Trung Hoa v�o v�ng ph�a nam của Cộng H�a Nh�n D�n.

���� Bởi v� bất kỳ sự b�nh trướng n�o như thế chỉ c� thể được cưỡng h�nh chống lại ước muốn của c�c d�n tộc tự trị phương nam, Trung Hoa phải ph�t triển trước ti�n sức mạnh, c� nghĩa hải lực, giờ đ�y hầu như ho�n to�n thiếu vắng.� Sự dễ d�ng v� dứt kho�t m� với ch�ng tất cả cuộc nhập cảnh của Trung Hoa v�o v�ng Biển Ph�a Nam đ� bị đ�nh chỉ trong gần bốn mươi năm cho rằng kh�ng c� hải lực Trung Hoa để bảo đảm cho sự tiến triển v� li�n tục của n�, sẽ kh�ng thể c� sự b�nh trướng thực sự của Trung Hoa, v� chắc chắn sẽ kh�ng c� sự thống trị về ch�nh trị.� Ch�nh quyền Trung Hoa ng�y nay thừa nhận một c�ch r� r�ng rằng bởi nỗ lực ri�ng của ch�nh m�nh, n� kh�ng l�m được điều g� để bảo đảm rằng c�ng cuộc di tr� t�i tục, rằng c�c di d�n hiện thời phải được đối xử c�ng bằng, hay cần sửa đổi c�c sự ngược đ�i m� di d�n phải g�nh chịu.

���� Tuy nhi�n, điều n�y l� một t�nh trạng chuyển tiếp, hay �t nhất một t�nh trạng t�y ngẫu (contingent).� Kh�ng c� l� do tại sao Cộng H�a Nh�n D�n Trung Hoa lại kh�ng n�n d�nh một v�i phần trong c�c t�i nguy�n của n� để tạo lập sức mạnh hải qu�n hay cho c�c h�nh thức li�n kết với kh�ng lực hiện đại trở n�n c� t�nh c�ch bổ t�c v� kh�ng thể thiếu đối với ch�nh hải lực.� Tất cả c�c điều n�y c� thể được ho�n th�nh trong nhiều nhất v�i thập ni�n, c� thể nhanh hơn nhiều.� C�n c� cả c�c l� do tại sao, nếu h�nh thức mới của mối đe dọa ở phương bắc được nh�n l� S� Viết Nga, một ch�nh quyền Trung Hoa mạnh, hiện đại quan ngại về sự nguy hiểm n�y, lại kh�ng thể nhận ra rằng điều cần thiết kh�ng k�m, để� ph�t triển hải qu�n cũng như để duy tr� sức mạnh qu�n sự.� Người Nga đang trở n�n quan t�m v� can dự v�o quyền lực tr�n biển tại Ấn Độ Dương.� C�c l� do n�y sẽ được tăng cường bởi một sự triệt tho�i li�n tục của Hoa Kỳ ra khỏi � Ch�u.� Viễn ảnh của việc tạo lập một đối lực đ�ng kể với sức mạnh hải qu�n Hoa Kỳ l� điều c�n xa x�i; nhu cầu để x�y dựng một sức mạnh như thế để th�ch đố bất kỳ kh�t vọng n�o của Nga nhằm thế v�o chỗ của Hoa Kỳ lại l� một vấn đề ho�n to�n kh�c biệt, giống như nguy cơ rằng nếu Hoa Kỳ rời đi, Nhật Bản c� thể thay v�o vị thế của Hoa Kỳ.� Điều kh�ng thể giả định rằng v�o cuối thế kỷ Trung Hoa sẽ vẫn c�n l� một sức mạnh kh�ng đ�ng kể tr�n biển cả.

���� Cũng c� c�u hỏi, tương tự như c�u hỏi đ� đặt ra trong c�c thời khoảng trước đ�y bởi việc định cư người Trung Hoa b�n ngo�i c�c bi�n cương, l� liệu Trung Hoa trong d�i hạn c� thể n� tr�nh khỏi bị l�i k�o v�o c�c vấn đề của c�c th�n nh�n đồng chủng di tr� của họ v� c�ch đối xử m� họ nhận được từ c�c xứ sở đ�n nhận.� C�c c�u hỏi như thế chứa đầy c�c x�c cảm dữ dội, v� kh�ng phải l�c n�o ch�nh quyền cũng c� thể phớt lờ cảm t�nh của d�n ch�ng. �Sự kiện rằng sự thiếu s�t bị c�o gi�c trong việc chăm s�c Hoa Kiều hải ngoại đ� l� �p lực ch�nh của c�c sự tố c�o được đưa ra bởi Vệ Binh Đỏ chống lại cựu Gi�m Đốc Ủy Ban Hoa Kiều Hải Ngoại, Liao Ch�eng-chih, v� dẫn tới sự loại bỏ �ng ra khỏi sinh hoạt ch�nh trị, l� một dấu hiệu cho thấy rằng, ngay d� c� c�c l� do kh�c khiến sự b�i chức �ng ta c� thể được mong muốn bởi c�c nh�n vật quyền thế, cảm t�nh nh�n danh c�c Hoa Kiều Hải Ngoại l� một yếu tố ch�nh trị c� thể được sử dụng, chứ kh�ng thể phớt lờ n�.� Hiện nay, như trong th� dụ n�y, Trung Hoa đ� tố c�o ch�nh s�ch im lặng bất động m� kh�ng loan b�o bất kỳ điều g� kh�c trước đ�y; điều n�y cũng vậy, c� thể chỉ l� một sự ngừng nghỉ rất tạm thời.� C� thể l� Trung Hoa đang cứu x�t c�c bất trắc v� ph� tổn của một ch�nh s�ch �tiến tới� tại Đ�ng Nam � l� qu� lớn, hay phần thu hồi kh�ng đ�ng, hay c�n qu� sớm, v� rằng ch�ng ta giờ đ�y nh�n thấy một th� dụ của sự kiềm chế đời nh� Tống hơn l� sự yếu k�m cuối thời nh� Đường.� Cũng c� thể rằng bởi mọi ch�nh s�ch hiện tại vẫn c�n qu� lỏng lẻo, bất nhất cho một sự lượng định ch�nh x�c.� Ch�ung ta đang ở trong thời điểm của một �triều đại mới� như n� sẽ được nh�n trong qu� khứ; những g� m� c�c nh� l�nh đạo mới c� thể l�m, bất luận l� họ sẽ đi theo ch�nh s�ch của c�c kẻ tiền nhiệm, hay thảo lập một ch�nh s�ch kh�c, thường mập mờ trong những năm đầu khi quyền lực đang được củng cố.

���� Ch�nh s�ch của c�c nh� cầm quyền mới d� thế phải cứu x�t đến c�c sự kiện, v� sự kiện to lớn nhất thiết chi phối c�c quan hệ của Trung Hoa với v�ng Biển Ph�a Nam l� hiện đang c� một nh�m đ�ng đảo c�c cộng đồng người Hoa đ� được thiết lập tại c�c nước n�y, đ� hiện diện qua hơn một thế kỷ tại hầu hết c�c xứ sở đ�, v� rằng c�c d�n số n�y sẽ kh�ng biến mất đi, v� hẳn phải thao diễn một ảnh hưởng li�n tục tr�n tư duy của mọi người Trung Hoa trong ch�nh quyền tại Trung Hoa.� Trung Hoa c� thể từ bỏ ch�nh s�ch của [Trung Hoa] Quốc D�n Đảng xem mọi Hoa Kiều Hải Ngoại như c�c c�ng d�n trọn vẹn bất kể họ được sinh ra ở đ�u, hay bất luận họ c� bao giờ đặt ch�n l�n ch�nh đất Trung Hoa hay kh�ng.� Nhưng đ�y l� một khảo hướng b�n ngo�i; tự căn bản n� kh�ng ảnh hưởng đến sự hiện hữu hay t�nh chất của tự th�n c�c cộng đồng người Hoa.� Họ kh�ng c�n l� c�c nh�m c�c người lao động di d�n ngh�o đ�i nữa, m� r� r�ng kh� giả hơn về mặt kinh tế v� t�ch cực về mặt tr� thức; họ ph� b�y một h�nh ảnh để lựa chọn cho người Trung Hoa hiện đại, kh�ng phải ch�n dung theo sự lựa chọn của Mao. �Trong đường hướng n�y, họ c� tiềm năng trở th�nh, kh�ng qu� mức như một đội qu�n thứ năm tại Đ�ng Nam �, m� như một trung t�m cho sự khuynh đảo khả dĩ tại ch�nh Trung Hoa, giống y như họ từng l�m trong chuỗi ng�y của triều đại M�n Ch�u.� Trong khi người Trung Hoa tại Singapore tiếp tục v� tiến bộ trong mục đ�ch của họ nhằm th�nh lập một quốc gia khả tồn, gi�u c�, c�ng bằng x� hội v� tất nhi�n do người Trung Hoa nắm ưu thế, họ đ� kh�ng chỉ đặt ra một tiền lệ kh� chịu trước mắt của một số l�ng giềng Đ�ng Nam �, m� họ c�n th�ch đố, một c�ch v� t�nh hay cố �, c�c học thuyết của Mao Trạch Đ�ng.� Trung Hoa c� thể t�m thấy đ�ng l�c c�c l� do kh�c hơn sự giải cứu c�c Hoa Kiều v�ng Biển Ph�a Nam để t�m c�ch x�c quyết ảnh hưởng của n� tr�n c�c nước n�y.� C�c nh� cầm quyền Trung Hoa tại Nam Chiếu v� Đại L� c� thể mang t�nh chất Trung Hoa trong văn h�a v� trong d�ng tộc kế truyền, nhưng họ kh�ng c� khuynh hướng chịu quy phục trước sự cai trị của c�c vị ho�ng đế xa x�i ở miền bắc Trung Hoa.

���� C�c sự khảo s�t n�y giờ đ�y c� vẻ xa vời, nhưng cũng mới chỉ trải qua một thời khoảng ngắn hơn một đời người rất nhiều, kể từ khi bất kỳ � tưởng n�o về Hoa Kiều tại v�ng Biển Ph�a Nam h�nh xử bất kỳ quyền lực ch�nh trị n�o tại tất cả c�c nước m� họ cư ngụ đ� bị nh�n như một sự tưởng tượng ho�n to�n hoang đường.� Điều cũng c�n đ�ng ngờ rằng bất luận ch�nh s�ch ki�ng cử kh�ng can thiệp hay ngay cả kh�ng bảo vệ m� Trung Hoa đ� �p dụng trọng thời cận đại, sự chấp nhận c�c ch�nh s�ch được thiết lập nhằm truất bỏ quốc tịch Hoa kiều, v� sự sẵn l�ng hiển nhi�n để phủ nhận bất kỳ lời thề trung th�nh n�o từ họ, tự ch�ng lại c� vẻ c� hiệu quả trong việc gỡ bỏ vấn đề ra khỏi l�nh vực ch�nh trị.� Nhiều bằng cớ từ mọi phần tr�n thế giới cho thấy rằng sự kỳ thị v� ngược đ�i chỉ tăng cường th�m chứ kh�ng l�m yếu đi c� t�nh chủng tộc.� Cự tuyệt một sắc d�n quyền để sử dụng ng�n ngữ của họ, v� nếu họ bị cưỡng b�ch phải sử dụng ng�n ngữ của bạn, họ sẽ trở th�nh c�c kẻ phản kh�ng h�ng hồn trong ng�n ngữ mới.� Dậy người ta về một chủ nghĩa d�n tộc trong đ� họ chi được ban cấp cho một vị thế hạ cấp ch�nh l� việc bảo đảm rằng họ sẽ ph�t triển � thức ngoan cố hơn nữa của ch�nh họ.� Kh�ng c� sự chắc chắn, trong thực tế, kh�ng c� x�c xuất, rằng việc khiến cho Hoa Kiều hải ngoại đi học một ngoại ngữ v� qu�n đi tiếng mẹ đẻ của m�nh, trong khi đối xử với họ như c�c c�ng d�n cấp thấp, m� c� t�nh chủng tộc Trung Hoa sẽ bị suy yếu đi; ngược lại điều đ� chỉ biến h�a v�o trong một sự biểu lộ theo c�ch địa phương.

���� Kể từ khi chấm dứt c�c đế quốc thực d�n đ� c� ph�t triển tại Đ�ng Nam � một t�nh trạng bất ổn định, dưới h�nh th�i một khoảng trống về quyền lực.� Kh�ng một nước sở tại lại c� thể �p đặt sự l�nh đạo l�n tr�n c�c nước kh�c được, v� như kinh nghiệm của Indonesia dưới thời Sukarno cho thấy, bất kỳ nỗ lực n�o để đảm nhận một th�i độ như thế sẽ gặp phải sự chống đối tức thời v� ki�n quyết.� Quyền lực Hoa Kỳ đ� được bầy trận chỉ ở một phần trong v�ng, v� xem ra c� vẻ như n� sẽ triệt tho�i v�o trước khi kết th�c thế kỷ n�y [thứ 20].� Mặt kh�c, cũng chưa c� sự chắc chắn rằng một v�i nước ở ph�a nam, c� t�nh chất đa chủng tộc, c� thể tồn tại như c�c quốc gia d�n tộc (national states).� C�c ranh giới hiện đang x�c định c�c l�nh thổ của họ thường l� kết quả của c�n c�n quyền lực thực d�n hơn l� c�c đường bi�n lịch sử hay chủng tộc.� B�n đảo M� Lai lu�n lu�n nối kết về mặt lịch sử với đảo Sumatra, v� một tỷ lệ cao d�n M� Lai tại b�n đảo l� hậu duệ của c�c di d�n từ đảo Sumatra.� Nhật Bản đ� đề nghị để kết hợp hai nước lại với nhau sau chiến tranh, một khi Nhật thắng trận; c�c nh� l�nh đạo M� Lai c� vẻ kh�ng nhận thấy kế hoạch n�y đối kh�ng với c�c tư tưởng của ch�nh họ.� Sự hợp nhất tất cả c�c h�n đảo của Indonesia th�nh một quốc gia l� một hậu quả của một thời kỳ tương đối ngắn trong đ� người H�a Lan đ� b�nh định v� quản trị to�n thể quần đảo; n� kh�ng c� nền tảng lịch sử n�o kh�c v� sự hợp nhất về chủng tộc tại c�c đảo v�nh ngo�i.� Th�i Lan nắm giữ c�c tỉnh ph�a nam của n� c� đa số d�n cư l� người M� Lai theo đạo Hồi, c�c kẻ kh�ng lu�n lu�n thật h�i l�ng với sự cai trị của Bangkok.� Sự c�n bằng giữa người Trung Hoa, M� Lai v� Ấn Độ tại B�n Đảo M� Lai rất đồng c�n lượng; tại c�c tiểu bang Bắc Borneo của Li�n Bang M� Lai c� một t�nh trạng đa chủng tộc qu�n b�nh, kh�ng c� sắc d�n n�o c� số lượng �p đảo.� Miến Điện c� c�c sắc d�n �t người của n�, người Karens, người Kachins v� người Shan, c�c nh�m d�n đ�i khi kh�ng cự ch�nh s�ch tập quyền h�a của Rangoon [thủ đ� Miến Điện. ND], v� l� c�c sắc d�n kh�c biệt về ng�n ngữ với người Miến Điện.� Căm Bốt (c� một d�n số người Việt đ�ng đảo) v� ngay ch�nh Việt Nam, bắc hay nam, l� những nước đồng chủng nhất, cho d� cả hai miền đều c� c�c nh�m d�n bộ lạc miền n�i �t người, theo truyền thống đối nghịch với c�c n�ng d�n ở c�c thung lũng.

���� Miền m� khu�n mẫu chủng tộc n�y tr�ng giống nhất, v� miền m� t�nh h�nh ch�nh trị của n�, l� v�ng với nhiều d�n tộc cỡ trung đến cỡ nhỏ mới được tự do hồi gần đ�y tho�t khỏi sự thống trị l�u d�i của ngoại bang, l�m li�n tưởng nhiều nhất, l� v�ng Balkans trong thời kỳ ngay trước khi c� Thế Chiến Thứ Nhất.� Một điềm b�o trước kh�ng vui; sự ganh tỵ v� chủ nghĩa d�n tộc của c�c vương quốc mới đ� đ� khơi dẫn c�c cuộc chiến tranh địa phương v� đ� t�c động sau hết như chất x�c t�c cho sự đ�i đầu chết người của c�c cuờng quốc ch�nh tại �u Ch�u.� Kh� c� thể kh�ng lưu t�m rằng t�nh trạng n�y l� một t�nh trạng c� thể dễ d�ng xảy ra tại khu Biển Ph�a Nam.� Trong thực tế sự kh�c biệt ch�nh l�, một lần nữa, sự kiện c� sự định cư người Trung Hoa đ�ng đảo tại một số trong c�c nước n�y.� Đ� kh�ng c� sự nhập cảnh ồ ạt như thế d�n ch�ng của bất kỳ cường lực �u Ch�u ch�nh yếu n�o, Nga, �o hay Đức, xảy ra tại v�ng Balkans; c�c sự tranh d�nh địa phương c� thể được theo đuổi một c�ch nồng nhiệt với hy vọng chi�u dụ được sự hậu thuẫn của đại cường quốc, m� kh�ng c� rủi ro k�m theo của việc x�c phạm một cường quốc như thế với việc ngược đ�i di d�n của n�; nhưng bắt trắc n�y đ�ch thị l� một rủi ro c� thể dẫn đến một cuộc tranh chấp lớn tại Đ�ng Nam �.� Người Hoa tại v�ng Biển Ph�a Nam th� qu� nhiều để bị trục xuất, c�ng qu� th�ng minh v� mạnh về kinh tế để bị l�i xuống l�m n� lệ; họ phải được chấp nhận v� dẫn đến sự cộng t�c v� kết hợp với c�c sắc d�n kh�c của c�c nước n�y.� Đ� l� một c�ng t�c cực kỳ kh� khăn, một c�ng việc chỉ rất hiếm khi mới được thực hiện tại nơi kh�c � Thụy Sĩ l� th� dụ tuyệt hảo của sự th�nh c�ng, v� đế quốc �o-Hung trước đ�y l� th� dụ hiển nhi�n cho sự thất bại bi thảm.� Song người Đức lai Thụy Sĩ v� người �o, d�n chiếm đa số tại cả hai quốc gia n�y, thuộc c�ng một chủng tộc, sử dụng c�ng một ng�n ngữ v� chia sẻ một văn h�a chung.

���� Viễn ảnh cho sự ổn định v� thế bị vẫn đục; khả t�nh của Trung Hoa, ngay d� n� tiếp tục mong ước kh�ng bị d�nh l�u, c� thể lẩn trốn c�c hậu quả của k�ch thước, vị tr� địa dư, quyền lực tiềm ẩn, v� sự b�nh trướng nh�n số của n� v�o v�ng Biển Ph�a Nam, v� m�i m�i n� tr�nh sự vướng mắc; hay rằng ch�nh quyền của n� c� thể kh�ng cự �p lực quần ch�ng một khi c�c Hoa Kiều hải ngoại gặp phải sự ngược đ�i li�n tục v� gia tăng cường độ, th� mong manh.� Tuy nhi�n, hiện tại, Trung Hoa chỉ c� thể can thiệp một c�ch hữu hiệu tr�n đất liền v� xuy�n qua c�c bi�n cương c� thể tiếp cận được với l�nh thổ của ch�nh n�.� Ngo�i Việt Nam v� L�o, t�nh trạng n�y cũng đ�ng với Miến Điện, v� với sự vươn tay can thiệp kh�ng xa tới c�c l�nh thổ kh�c, đến Căm Bốt v� đ�n Th�i Lan.� Như xảy ra, đ�y kh�ng phải l� c�c nước trong đ� c�c cộng đồng cư d�n Trung Hoa phải chịu �p lực lớn lao, ngoại trừ c� thể c� Th�i Lan.� C�c nước như Indonesia v� Phi Luật T�n, nơi m� người Trung Hoa bị đ�n �p, b�n kia c�c đại dương, v� hơn nữa, thiểu số Trung Hoa, mặc d� đ�ng đảo, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số d�n cư.� Tại M� Lai, cả v�ng lục địa lẫn tại đảo Borneo, khoảng c�ch đến một nơi v� h�nh lang tr�n biển đến nơi kia khiến cho bất kỳ sự can thiệp trực tiếp n�o cũng rất kh� khăn nếu kh�ng phải l� bất khả, v� hiện nay, kh�ng c� t�nh h�nh ch�nh trị địa phương c� thể khơi dậy hay biện minh cho một chiến dịch quan trọng.

���� Từ quan điểm của Trung Hoa, mối nguy hiểm đ�ng ra nằm ở nơi m� n� chưa c� thể đi đến, ngay d� n� mong ước như thế, c�c nước kh�c c� thể ngăn chặn n�, v� c�c hậu quả của sự can thiệp của họ c� thể tr�i ngược với c�c quyền lợi d�n tộc của Trung Hoa.� Trung Hoa nh�n sự hiện diện hải qu�n v� qu�n sự Hoa Kỳ tại v�ng đ�ng nam cũng như đ�ng � Ch�u dưới �nh s�ng n�y.� Nếu Hoa Kỳ r�t lui, v� hoặc Nga hay Nhật Bản, hay cả hai, c� lẽ nhiều phần sẽ lấp k�n khoảng trống n�y, c�c sự lo sợ của Trung Hoa sẽ c�n nhiều hơn nữa.� Ch�nh v� thế, Nhật Bản một lần nữa c� thể trở th�nh kẻ th�; Ngạ cũng như Hoa Kỳ, th� xa x�i; sự hiện diện của họ c� t�nh c�ch chuyển tiếp.� Nhật Bản nằm ở đ�, v� sẽ ở lại, sẵn l� một quyền lực qu�n sự tiềm ẩn h�ng đầu, với một nền kinh tế đ� ph�t triển hơn nhiều so với Trung Hoa, m� n�i chung, c� thể hy vọng đạt tới c� lẽ trong v�ng hơn nửa thế kỷ.� Nhật Bản đ� học được b�i học đ�ng gi�, như Anh Quốc đ� học từ Joan d�Arc năm thế kỷ trước đ�y, rằng đế quốc lục địa l� một sự mạo hiểm thiếu kh�n ngoan cho c�c quốc gia hải đảo.� Người Anh, bị tống xuất khỏi nước Ph�p, đ� hướng ra biển, v� t�m thấy số phận của m�nh.� Nhật Bản c� thể đ� l�m y như vậy, trong thực tế đ� gắng sức l�m như thế, nhưng đ� phạm sai lầm khi theo đuổi hai mục ti�u, đế quốc lục địa v� hải qu�n, c�ng một l�c, m� kh�ng nhận thức được rằng hai mục ti�u đ� m�u thuẫn với nhau.� Nếu Nhật Bản trở th�nh quyền lực hải qu�n, để bảo vệ hay khống chế c�c nước hải đảo ở Biển Ph�a Nam v� c�c phần tr�n đất liền dễ chiếm cứ nhất bằng một hải lực tr�n một quy m� giới hạn � c�c hải cảng v� c�c căn cứ, chứ kh�ng phải c�c v�ng nội địa � sự vắng mặt hải lực của Trung Hoa sẽ l� một h�ng r�o ho�n chỉnh, ngăn cản bất kỳ sự can thiệp n�o của Trung Hoa, v� l� một sự giới hạn nghi�m trọng tr�n mọi ảnh hưởng ch�nh trị của Trung Hoa.

���� Song một tinh� h�nh như thế, trong đ� người Trung Hoa đ� dần lo sợ rằng một quyền lực hải qu�n mới được thiết lập tr�n đất liền c� tầm quan trọng chiến lược cho sự an to�n của quốc gia Trung Hoa, l� một h�nh th�i song h�nh với ch�nh nguy�n do đ� mang người M�ng Cổ tiến v�o V�n Nam, để đ�nh v�o b�n sườn đế quốc Nam Tống v� đ� buộc nh� Minh tự m�nh nhận lấy V�n Nam từ tay người M�ng Cổ khi nh� Minh t�i chinh phục Trung Hoa.� V�n Nam trong tay kẻ lạ c� thể l� một mối đe dọa; nếu độc lập, n� qu� yếu để kh�ng cự một kẻ chinh phục.� Tr�n một phạm vi rộng lớn hơn của thế giới hiện đại, t�nh chất n�y c� thể �p dụng đối với nhiều quốc gia tại Đ�ng Nam �.� Điều được nhận thấy rằng khi Trung Hoa can thiệp để �p đặt sự cai trị trực tiếp của m�nh, đ� l� v� c�c quyền lợi về an ninh của đế quốc Trung Hoa, chứ kh�ng phải v� c�c quyền lợi của bất kỳ nh�m di d�n Trung Hoa n�o.� Kh�ng can thiệp v�o c�ng việc của họ, v� kh�ng quan t�m đến t�nh trạng hiện tại của họ, sẽ kh�ng mở rộng th�nh một t�nh thế trong đ� một trong c�c xứ sở m� họ cư ngụ trở th�nh một căn cứ tiềm t�ng cho một cường lực đối nghịch ch�nh y�u.� Một sự hiểu biết r� r�ng sự thật n�y đ� l� nền tảng cho lập trường trung lập v� sự vun trồng cẩn thận của Miến Điện c�c quan hệ đứng đắn, nếu kh�ng phải l� lu�n lu�n th�n mật., với Trung Hoa.� Đ� cũng l� cảm hứng cho ch�nh s�ch của �ng Ho�ng Sihanouk khi �ng ta cai trị Căm Bốt.

���� Nếu c�c tiền lệ đặt ra bởi lịch sử của V�n Nam v� Việt Nam được xem như c� bất kỳ gi� trị n�o cho việc ti�n đo�n tương lai của c�c nước v�ng Biển Ph�a Nam, điều phải nhận thức rằng ngo�i c�c sự cứu x�t về an ninh quốc gia v� c�c kh�a cạnh chiến lược, c� một tiến tr�nh kh�c đang vận chuyển tại cả c�c nước đ�, mặc d� n� đ� kh�ng c� c�ng một kết quả. Người Trung Hoa chưa bao giờ định cư với số lượng lớn tại Việt Nam, bởi xứ sở đ� bị chiếm ngụ đ�ng đ�c ngay từ thời kỳ ban đầu bởi người Việt Nam; nhưng văn h�a Trung Hoa v� loại ch�nh quyền, c�c t�n gi�o v� văn chương, ngay cả ng�n ngữ, đ� được du nhập v� vẫn c�n l� c�c ảnh hưởng rất mạnh, k�o d�i l�u sau khi sự kiểm so�t ch�nh trị bị kết th�c.� C� lẽ như một hậu quả của sự chinh phục văn h�a n�y, khi Việt Nam vứt bỏ sự thống trị Trung Hoa, c�c nh� l�nh đạo mới độc lập chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực n�o để x�m nhập, chiếm đ�ng hay tranh chấp quyền lực tại ch�nh Trung Hoa [sic, xem lại việc đ�nh Tống của L� Thường Kiệt v� � định đ�i lại c�c tỉnh Quảng Đ�ng v� Quảng T�y của vua Quang Trung, ch� của người dịch].� Chắc chắn c� c�c yếu tố kh�c, nhưng sự tương ứng văn h�a xem ra đ� t�c động như một lực l�m t� liệt tr�n bất kỳ nh� l�nh đạo Việt Nam n�o c� thể bị c�m dỗ để thủ lợi bởi sự suy yếu định kỳ của sự kiểm so�t của triều đ�nh tại ph�a nam xa x�i của Trung Hoa, hầu mở rộng l�nh địa của m�nh bằng c�ch s�p nhập đất đai của đế quốc.� Mặt kh�c, c�c nh� l�nh đạo Nam Chiếu ngay sau khi b�c bỏ quyền chủ tể của Trung Hoa, họ đ� ph�t động một cuộc chiến tranh,� k�o d�i hơn một thế kỷ, trong đ� họ đ� t�i diễn nhiều cuộc x�m lăng Trung Hoa, chiếm cứ v� s�p nhập c�c khu vực rộng lớn được cư tr� bởi người H�n Hoa, v� đ� nắm giữ c�c khu vực n�y trong nhiều thập ni�n.� C�c vị vua của Nam Chiếu đ� t�m c�ch tăng cường quyền lực của họ bằng c�ch chiếm giữ c�c phần đất của đế quốc; c�c vị vua của Việt Nam lại hướng đến c�c l�ng giềng phi-Việt Nam ở ph�a nam v� tước đoạt c�c phần đất sở hữu của họ.� Kết quả của ch�nh s�ch của Nam Chiếu, sau hết, l� việc hủy diệt t�nh chất c� biệt của một quốc gia như một xứ sở phi-Trung Hoa, v� dọn đường cho một thẩm quyền Trung Hoa trọn vẹn; kết quả của ch�nh s�ch của Việt Nam l� mở rộng c�c bi�n cương của Việt Nam, mang theo văn h�a Trung Hoa khi tiến h�nh, v� nhằm tạo lập một t�nh trạng nơi m� người Việt Nam d�nh đạt được một c� t�nh d�n tộc khiến cho sự x�m nhập hơn nữa của Trung Hoa trở n�n bấp b�nh, hiếm c�, v� sau hết, ho�n to�n bị gi�n đoạn.� Sự x�m nhập văn h�a v� thế đ� tạo ra c�c kết quả ch�nh trị đối nghịch nhau tại hai nước.

���� Tiến tr�nh đồng h�a cũng kh�c nhau.� Người Trung Hoa ở V�n Nam ở mức độ rộng lớn, đ� đồng h�a d�n số phi-Trung Hoa.� C�c ng�n ngữ cổ đ� ng� gục trước vị thế của c�c thổ ngữ, chưa bao giờ được d�ng trong văn chương.� Họ [t�n gia đ�nh, d�ng họ] Trung Hoa th� phổ th�ng, chỉ c� người theo đạo Hồi l� giữ lại bất kỳ h�nh thức danh t�nh c� nh�n kh�ng c� nguồn gốc Trung Hoa.� Người d�n V�n Nam, mặc d� � thức về c�c n�t đặc th� địa phương, chắc chắn mang t�nh chất Trung Hoa trong tư tưởng, v� sẽ kh�ng chấp nhận bất kỳ � kiến n�o cho rằng họ kh�ng ho�n to�n Trung Hoa như bất kỳ d�n ch�ng địa phương n�o kh�c.� Nhưng tại Việt Nam, người Việt Nam kh�ng nghĩ về m�nh như một v�i loại d�n Trung Hoa, m� b�m chặt lấy c� t�nh ri�ng của họ; họ đ� thường chỉ đọc văn chương Trung Hoa v� chỉ viết bằng H�n tự biểu �; ch�nh quyền cũ của họ, lối sống của họ, v� t�n gi�o của họ đều gần gũi với c�c kiểu mẫu Trung Hoa.� Nhưng họ kh�ng bao giờ chấp nhận sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa với sự tự nguyện, v� sau rốt, đ� kết th�c n� bằng sự phản kh�ng vũ trang.� Nếu binh sĩ Trung Hoa, đồn tr� trong nước, ở lại đ� sau khi c� sự thay đổi ch�nh trị, họ trở n�n bị hấp thụ v� h�a nhập v�o sắc d�n bản xứ.

���� L�m sao m� c�c tiền lệ m�u thuẫn n�y lại �p dụng được cho bất kỳ phần đất n�o của v�ng Biển Ph�a Nam nơi m� người Trung Hoa đủ đ�ng để xoay chuyển c�n c�n chủng tộc, hay đủ ảnh hưởng để định h�nh văn h�a của d�n tộc tương lai?� C� lẽ chỉ c� ba nước nơi m� c�c khả t�nh như thế l� c� thực; Th�i Lan, B�n Đảo M� Lai, v� Borneo thuộc M� Lai.� Thiểu số người Trung Hoa tại Indonesia kh�ng c� số lượng lớn: t�nh trạng cũng như thế tại Phi Luật T�n.� Tại Miến Điện, thiểu số Trung Hoa th� ho�n to�n nhỏ b�: nhưng tại Th�i Lan, kh�ng c� r�o cản t�n gi�o mạnh, như đối với người Hồi Gi�o tại M� Lai v� Indonesia, để ngăn trở sự đồng h�a, v� trong thực tế, sự đồng h�a đ� xảy ra tr�n một quy m� rộng lớn trong qu� khứ.� Con số thực sự c�c người Th�i c� tổ ti�n Trung Hoa, �t nhất về ph�a người cha, vẫn chưa được biết, nhưng chắc chăn l� rất lớn.� Mặt kh�c, số người giờ đ�y tự xem m�nh l� Trung Hoa tại Th�i Lan, nhưng trong thực tế l� thuộc d�ng d�i Th�i Lan, hoặc l� cực kỳ �t, hay kh�ng hiện hữu.� M� h�nh đồng h�a tại Th�i Lan tiến theo c�c đường hướng của Việt Nam hơn l� theo chiều hướng của Nam Chiếu, với sự kh�c biệt rằng người d�n Th�i đ� kh�ng c� c�c số lượng �p đảo nặng nề, đ�nh dấu t�nh h�nh người Việt đối diện với c�c kẻ nhập cư Trung Hoa.� C�c quan hệ văn h�a cho thấy một khu�n mẫu �t chắc chắn hơn.� Cho tới khi c� ph�p chề gần đ�y ngăn cản sự sử dụng tiếng H�n trong c�c hoạt động thương mại, Bangkok thường c� d�ng vẻ của một th�nh phố Trung Hoa.� Mọi nơi, mọi thứ đều được viết bằng tiếng H�n, ngoại trừ c�c th�ng c�o ch�nh thức v� c�c văn bia.� C�c cửa hiệu, rạp h�t, nh� h�ng ăn, văn ph�ng c�ng ty, ng�n h�ng � mọi định chế v� hoạt động thương mại v� t�i ch�nh c� vẻ l� � v� trong thực tế, phần lớn � đ� được giao dịch bằng tiếng Trung Hoa, cả chữ viết v� tiếng n�i.� Gần giống như thế từng c� l�c l� trường hợp tại Jakarta v� ngay cả ở Manila. �Điều n�y cũng đ�ng tại phần lớn c�c hải cảng của M� Lai v� thực sự như thế tại Singapore.� Như �thế, ở đ�y hoạt động của m� h�nh V�n Nam xuất hiện r� n�t hơn; sự sử dụng tiếng Trung Hoa như ng�n ngữ của thương mại v� doanh nghiệp thay thế cho ng�n ngữ, hay nhiều ng�n ngữ, của c�c d�n bản xứ.

���� Tại b�n đảo M� Lai, người M� Lai, mặc d� chỉ c� v�o khoảng ph�n nửa d�n số, đ� chế ngự về mặt ch�nh trị.� Người Trung Hoa cũng nổi bật kh�ng k�m trong mọi hoạt động kh�ng phải l� ch�nh trị từ thương mại v� doanh nghi�p cho đến c�c nghề nghiệp đ�i hỏi học thức.� V� thế, một v�i khả t�nh c� hiện diện về một khu�n mẫu V�n Nam đang ph�t triển trong thế kỷ sắp tới.� Vương quốc Đại L�, bị H�n h�a hơn bao giờ hết trong c�c định chế v� văn h�a của n�, song k�o d�i được nền độc lập, nhờ ở sự kiềm chế của nh� Tống, trong ba thế kỷ nữa.� C� thể lập luận rằng Singapore đ� sẵn ph� b�y khu�n mẫu thời cuối triều đại Đại L� Nam Chiếu, một quốc gia thực sự Trung Hoa, cai trị bởi người Trung Hoa, nhưng kh�ng sẵn l�ng chịu khuất phục trước thẩm quyền đế quốc Trung Hoa, v� cho đ�n l�c đ�, đ� hưởng lợi của một ch�nh s�ch kiềm chế của Nh� Tống b�n ph�a Trung Hoa.� Tại c�c tiểu bang ở Borneo, cũng c� c�c sự tương đồng với khu�n mẫu V�n Nam hơn l� m� thức Việt Nam.� Ở đ�y kh�ng c� chủng tốc chế ngự nắm giữ quyền lực ch�nh trị ưu thắng, như tại B�n Đảo M� Lai v� Th�i Lan.� C�c d�n định cư gốc Trung Hoa chiếm xấp xỉ một phần ba tổng số d�n cư, c� tỷ số cao hơn nhiều số người Trung Hoa tại V�n Nam so với d�n bản xứ trong thời kỳ c� sự chinh phục của nh� Minh.� Người phi-Trung Hoa, với ngoại lệ thiểu số nhỏ người M� Lai, đ�, v� vẫn c�n, chậm tiến về văn h�a, phần lớn sống dưới c�c hệ thống bộ lạc.� C�c sắc d�n phi-Trung Hoa tại V�n Nam l� như thế hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm, v� h�ng ngh�n người trong họ h�y c�n sống theo lối n�y ng�y nay.� Họ kh�ng lập th�nh một d�n tộc tại Borneo, họ bị ph�n t�n th�nh nhiều bộ lạc v� d�n ch�ng n�i c�c ng�n ngữ kh�c nhau.� C�c d�n phi-Trung Hoa ở V�n Nam đ� v� c�n l� như thế.� Người Trung Hoa kh�ng chỉ chiếm ưu thế trong đời sống kinh tế v� c�n cả trong sinh hoạt văn h�a v� nghề nghiệp nữa.� Họ đ� v� đang l�m như thế, tại V�n Nam.� Giờ đ�y người Trung Hoa tại Borneo đ� c� phần hiện diện trong ch�nh quyền ch�nh trị tại hai tiểu bang Sarawak v� Sabah, mặc d� c� lẽ chưa đến tỷ lệ m� một số người trong họ cho l� đ�ng mức. �Trong hồi cuối kỷ nguy�n Nam Chiếu, c�c học giả Trung Hoa đ� nắm giữ quyền lực v� ảnh hưởng tại triều đ�nh nh� vua; sau hết,� một người trong họ đ� chiếm đoạt ng�i vua, v� c�c triều đại cuối c�ng của V�n Nam, Đại L� v� Tuan [?], đều thuộc chủng tộc Trung Hoa.� N�i chung t�nh h�nh tại c�c tiểu bang ở Borneo thuộc M� Lai c� vẻ phơi b�y c�c t�nh chất mạnh mẽ v� r� rệt của V�n Nam hơn l� m� h�nh Việt Nam.

���� Từ c�c sự cứu x�t n�y về c�c sự ph�t triển tương lai khả dĩ trong c�c quan hệ của quốc gia Trung Hoa với c�c nước v�ng Biển Ph�a Nam, v� với c�c cộng đồng di d�n Trung Hoa đ� được thiết lập trong v�ng đ�, kết luận hiện ra l� trong khi t�nh h�nh hiện tại c� vẻ như được đặc trưng bởi sự bất động � một sự tạm ngừng nghỉ -- c� rất �t l� do để tin rằng n� đ� đạt tới một điểm bế tắc đ�nh đấu sự kết th�c sự b�nh trướng của Trung Hoa về phương nam.� Một kết luận như thế sẽ hết sức cẩu thả dựa tr�n bằng cớ yếu ớt như thế v� tr�n một giai đọan qu� ngắn ngủi của kinh nghiệm.� C�c sự di chuyển về phương nam của Trung Hoa vẫn tiếp tục, với c�c sự tạm ngừng nghỉ v� những l�c chạy nước r�t, theo hướng tiến của hai ngh�n năm trăm năm kể từ khi n� c� được nhận thức lần đầu trong sự phổ biến văn h�a Trung Hoa, v� sau đ� sự kiểm so�t ch�nh trị đến v�ng thung lũng s�ng Dương Tử hiện nay tại phần ng�y nay l� tr�i tim của Trung Hoa hiện đại.� C�c l�c ngừng nghỉ ngắn hơn c�c thời kỳ b�nh trướng, ngay d� phong tr�o n�y thường kh�ng ngọan mục, c� t�nh chất c� nh�n, v� kh�ng ch�nh thức.� N� đ� đạt tới điều c� thể l� hồi kết cuộc của giai đọan b�nh trướng trực tiếp tr�n đất liền trong thế kỷ thứ mười lăm với sự s�p nhập chung cuộc V�n Nam v� chấp nhận nền độc lập của Việt Nam.� Sau đ� ph�ng tr�o đ� hướng ra biển, t�ch cực hồi đầu nh� Minh, bước v�o một sự suy giảm l�u d�i, khi nh� Minh từ bỏ hải lực, nhưng đ� sống lại tr�n một quy m� rất rộng lớn khi nhu cầu lao động của c�c quyền lực thực d�n đ� mang sự xuất cảnh ồ ạt sang v�ng Biển Ph�a Nam, bất kể sự l�nh đạm v� ngay cả sự chống đối c�ng khai của ch�nh quyền M�n Ch�u.� Sự di d�n n�y đ� chấm dứt ngay trước v� c�ng với cuộc Thế Chiến II.

���� Sự di chuyển về phương nam đ� l� một sự di chuyển cả con người như c�c kẻ định cư cũng như cả c�c t�n ngưỡng, c�ch h�nh đạo v� c�c tư tưởng � một sự di tr� văn h�a.� Tại một số v�ng như Việt Nam, t�nh chất thứ nh� vượt xa v� tận t�nh chất thứ nh� về tầm quan trọng; ở c�c nơi kh�c chẳng hạn như V�n Nam lực lượng di tr� con người v� ch�nh s�ch thực d�n văn h�a c� tầm quan trọng khoảng ngang nhau.� Tại c�c phần đất của v�ng Biển Ph�a Nam đ� x�y dựng c�c cộng đồng to lớn nhưng chỉ tthao diễn ảnh hưởng nhẹ nh�ng tr�n c�ch nghĩ hay phong tục bản xứ, v� kh�ng c� ảnh hưởng n�o trong đời sống ch�nh trị.� Phi Luật T�n v� Indonesia phơi b�y kh�a cạnh n�y.� Tại c�c nước kh�c c�c người Trung Hoa thiểu số c� tỷ lệ lớn l� một yếu tố đủ lớn l�m xoay chuyển c�n c�n chủng tộc, v� c�ng l�c, ảnh hưởng của nền văn h�a v� văn minh Trung Hoa thấm nhập v�o nhiều kh�a cạnh của đời sống; chẳng hạn như t�nh trạng tại b�n đảo v� v�ng Borneo thuộc M� Lai.� Người di d�n Trung Hoa đ� vừa đồng h�a d�n bản xứ, khi sắc d�n n�y chậm tiến về văn h�a hay �t hơn về số lượng, v� ch�nh người di d�n cũng vừa trở n�n bị đồng h�a với nơi m� t�nh h�nh địa phương gi�p cho điều n�y dễ d�ng xảy ra v� kh�ng c� chướng ngại vật t�n gi�o hay chủng tộc hiển hiện.� Miền Nam Trung Hoa v� V�n Nam l� c�c th� dụ của sự đồng h�a của Trung Hoa đối với người phi-Trung Hoa; Th�i Lan v� Căm Bốt, v� ở mức độ nhẹ hơn, Việt Nam, phơi b�y sự đồng h�a người Trung Hoa bởi d�n tộc đ�n nhận l� c�c kẻ -- như ở Căm Bốt � kh�ng phải l�c n�o cũng li�n hệ gần gụi về chủng tộc.

���� Sự di chuyển của Trung Hoa xuống phương nam, trong mọi thời kỳ, đ� l� một sự di chuyển con người v� c�c tư tưởng hơn l� ch�nh s�ch ch�nh quyền v� sự chinh phục.� Khi ch�nh quyền v� lực lượng qu�n sự được sử dụng, điều đ� hoặc đ� trễ, như trong sự s�p nhập cuối c�ng v�ng V�n Nam, hay bị b�p chết non như trong c�c quan hệ ban đầu với Nam Chiếu v� với Việt Nam.� Sự b�nh trướng đ�ng kể nhất của người Trung Hoa xuống phương nam xảy ra trong một thời kỳ khi m� ch�nh quyền nội địa kh�ng quan t�m g� hết đ�n bất kỳ sự di chuyển n�o như thế, v� khi Trung Hoa qu� yếu cả tr�n đất liền v� tr�n biển đến nỗi ngay ch�nh quyền quan ngại nhất cũng đ� kh�ng thể l�m điều g� để th�c đẩy sự tiến bộ của cuộc di tr�.

���� Một tiến tr�nh qu� d�i đến như thế, qu� kh�c biệt trong hoạt động của n� v� biến đổi trong c�c kết quả v� hậu quả địa phương của n�, đ� cho thấy n� l� một hiện tượng ch�nh trị, tự bản th�n n�, độc lập với sự vươn l�n v� sụp đổ của c�c đế quốc, c�c ch�nh s�ch của chủ nghĩa đế quốc b�nh trướng hay sự kiềm chế cẩn trọng.� N� cũng độc lập với sự chỉ đạo của ch�nh quyền, l�nh đạm trước ch�nh s�ch của c�c ho�ng đế c� đầu �c lo lắng về phương bắc, v� vượt qu� sự kiểm so�t của c�c vị ch�a tể địa phương.� Một v�i số trong c�c yếu tố n�y c� thể thay đổi, một c�ch tạm thời, hay một c�ch vĩnh viễn, hay cho một thời kỳ l�u d�i; nhưng điều xem ra bấp b�nh rằng t�nh h�nh ch�nh trị bất ổn v� thay đổi thất thường của ch�nh thời đại ch�ng ta lại c� thể đảo ngược hay đ�nh chỉ một hoạt động đ� tiếp diễn trong hơn hai ngh�n năm v� chưa bao giớ thụ ứng với sự chỉ đạo, kiểm so�t hay hạn chế ch�nh trị./- �����������������������������

�_____

Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York & Washington: Praeger Publishers, 1972, Chapter 11: The Prospects For China�s Southern Expansion, c�c trang 206-216.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

24/8/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009