Edyta Roszko

Max Planck Institute, Leipzig, Germany

 

 

TƯỞNG NIỆM V� NH� NƯỚC:

 

K� ỨC V� T�NH CH�NH THỐNG

 

TẠI VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 


photo:http://baoquangngai.com.vn/channel/Den-Ba-Roi-o-Ly-Son

Đảo L� Sơn, Ảnh: T.L.

 

Lời Người Dịch:

 

������ B�i viết c� n�u ra hai c�u chuyện nổi bật về c�c người d�n đảo L� Sơn, tức C� Lao R�, ngo�i khơi tỉnh Quảng Ng�i.� Thư nhất l� về �ng Phạm Hữu Nhật, một đội trưởng hải đội Ho�ng Sa từ thời nh� Nguyễn, �người đ� �c� c�ng chỉ huy binh thuyền cắm cột mốc dựng bia chủ quyền v� xem x�t đo đạc thủy tr�nh tại đảo Ho�ng Sa năm Minh Mạng thứ 7 (B�nh Th�n 1836)�, m� t�n tuổi đ� được d�ng để đặt t�n cho một h�n đảo tại Biển Đ�ng, đảo Hữu Nhật.� C�c con ch�u của d�ng tộc họ Phạm-Văn n�y đ� truy t�m đ�ng l� lịch v� một bia tưởng niệm người chiến sĩ anh h�ng n�y đ� được dựng l�n, nhưng n� vẫn chưa được nh� nước cộng sản hiện tại c�ng nhận như một di t�ch lịch sử.� C�u chuyện thứ nh� l� về B� Roi, một tổ mẫu c�ng c�ng d�ng họ Phạm n�y, hiện được thờ tại Điện B� Roi như ph�c thần của th�n Đ�ng, x� An Vĩnh, huyện L� Sơn.� Phi�n bản của người được xem l� ph�t ng�n vi�n d�ng tộc họ Phạm n�y bao gồm cả c�c chi tiết như B� Roi l� một người thiếu nữ tiết liệt, tự vẫn để chống lại qu�n hải tặc x�m lược Trung Hoa, pha trộn với c�c t�nh tiết tuy�n truyền trong khung cảnh chiến tranh gần đ�y.� Tuy nhi�n, theo t�c giả, vấn đề kh�ng phải l� ở t�nh x�c thực trong c�c c�u chuyện kể d�n gian, m� l� về th�i độ của nh� cầm quyền cộng sản hiện tại, như c�c đoạn tr�ch dẫn sau đ�y cho thấy:

 

� Mặc d� lễ vinh danh h�ng năm c�c binh sĩ Ho�ng Sa v� Trường Sa được bao gồm trong c�c dự �n tưởng niệm, nh� nước lại ưa th�ch việc cố tr�nh g�y ồn �o về c�c buổi lễ n�y, bởi to�n thể vấn đề Ho�ng Sa v� Trường Sa c� t�nh chất ch�nh trị cao độ. �

 

�Nh� nước, nhận biết được sức mạnh x� hội của c�c nghi thức tưởng niệm, đ� kh�ng cho ph�p c�c buổi lễ kỷ niệm h�ng năm d�nh cho c�c binh sĩ Ho�ng Sa v� Trường Sa được trở th�nh một buổi lễ quốc gia �

 

�Tuy nhi�n, như ch�ng ta nh�n thấy, đối với những kẻ sống trong thời hiện tại, điều n�y chưa đủ.� Họ muốn rằng c�c hồn ma được chi�u gọi trở th�nh hiện th�n bằng m�u thịt của th�n nh�n của họ v� muốn t�n tuổi c�c tử sĩ đ� được khắc v�o bia đ� mu�n đời.

 

������ Th�i độ phi d�n tộc n�y đua đến sau hết c�u hỏi về t�nh đại diện ch�nh thống của một ch�nh quyền đ� kh�ng d�m thể hiện tinh thần bất khuất của tổ ti�n trước ngoại x�m, hay n�i c�ch kh�c, đặt ch�nh quyền v�o thế đối nghịch với nh�n d�n.

 

������ C�c buổi lễ khao lề thế l�nh Ho�ng Sa ch�nh l� một trong c�c thi�n anh h�ng ca bi tr�ng nhất trong lịch sử Việt Nam, phải được nhắc nhở h�ng năm cho c�c thế hệ mai sau về bổn phận bảo vệ đất nước ch�ng lại c�c cuộc ngoại x�m đến từ bất kỳ nơi đ�u, v� t�n tuổi của c�c chiến sĩ của c�c đội Ho�ng Sa n�y phải được ghi khắc v�o một n�i đ� oai nghi�m đ�u đ� tr�n một h�n đảo thi�ng li�ng tại Biển Đ�ng.� Một ng�y n�o đ�, c�c c�ng t�c n�y sẽ phải được thực hiện.

 

*****

 

 


�m linh tự v� mộ l�nh Ho�ng Sa, với đ�i tưởng niệm Chiến sĩ trận vong. Nơi đ�y
ng�y 16/3 �m lịch hằng năm tổ chức Lễ Khao lề Thế l�nh, tục lệ truyền thống tiễn
những người l�nh đi canh giữ đảo v� c�ng giỗ cho những người kh�ng trở về
(Nguồn: http://lecochinchine.wordpress.com)

 

 

T�m lược đại �:

 

������ C�c lẽ truy điệu c�c nh�n vật lịch sử, c�ng cộng lẫn ri�ng tư, đ� trở th�nh một c�ng cụ hiệu nghiệm cho c�c ch�nh trị gia v� c�c sử gia tại Việt Nam để t�i định h�nh qu� khứ, c�c anh h�ng d�n tộc, v� c�c vị th�nh của c�ch mạng.� Một trong c�c dự �n tưởng niệm của nh� nước đ� được d�nh để t�n vinh c�c chiến sĩ Ho�ng Sa (Paracel) v� Trường Sa (Spratly), v� bảo tồn mọi đền thờ v� di t�ch li�n quan đến c�c hoạt động của họ tr�n đảo L� Sơn.� Dự �n nh� nước n�y c� thể được nh�n như một chiến lược để tuy�n x�c chủ quyền trước sự cạnh tranh từ nhiều quốc gia d�n tộc (nation states), kể cả Trung Hoa, đ�i quyền kiểm so�t tr�n hai quần đảo.� Ngược lại, nh� nước Việt Nam cũng bị phản b�c bởi c�c sự tr�nh b�y kh�c biệt từ người d�n L� Sơn, c�c kẻ đ� đưa ra c�c phi�n bản chuyện kể của ch�nh họ.� B�i khảo luận n�y ph�n t�ch c�c điều dị nghị tr�n k� ức v� c�c nỗ lực của d�n l�ng L� Sơn để thiết định t�nh li�n tục với qu� khứ xuy�n qua tổ ti�n của họ hầu biểu lộ sự li�n đới, l�ng y�u nước, v� uy t�n của ch�nh họ.

 

***

 

������ C�c lẽ truy niệm l�m việc thanh lọc lịch sử hỗn độn đ� trải qua bởi c�c t�c nh�n.� Ch�ng g�p phần v�o tiến tr�nh cấu tạo huyền thoại li�n tục mang lại cho lịch sử c�c h�nh dạng x�c định hơn của n�: ch�ng gi�p v�o việc tạo lập, sửa đổi, hay quy định c�c � nghĩa chung gắn liền với c�c biến cố lịch sử được nghĩ xứng đ�ng để c� sự tưởng niệm đại ch�ng.� Bởi c�c nghi lễ g�i gh�m lịch sử nhằm d�nh cho sự hấp thụ quần ch�ng, c�c sự tưởng niệm chơi tr� con số để tạo ra một qu� khứ c� vẻ vừa thật hơn vừa cơ bản hơn (Trouillot 1995, c�c trang 655-66).

 

������ Tại Việt Nam, h�ng chục ngh�n binh sĩ đ� chết khi đ�nh nhau với người Ph�p v� người Mỹ chưa bao giờ nhận được một sự mai t�ng th�ch đ�ng hay một ng�i mộ với t�n tuổi của họ tr�n đ�.� L�ng đất đ� l�m ti�u tan m�u thịt của c�c kẻ chiến đấu chỉ để lại di cốt � một sợi gi�y mong manh nối liền kẻ chết với người sống, một đứa con với cha mẹ người đ�, c�c kẻ hy vọng c�c nắm xương l� thuộc người th�n y�u của họ.� C�c người l�nh n�y v� sự tử tiết của họ đ� trở th�nh c�c biểu tượng vững mạnh nhất của cuộc đấu tranh ch�nh thức tr�n k� ức v� t�nh ch�nh thống của cuộc chiến tranh (xem Malarney 2001).� Nhưng ng�i đ�n Việt Nam d�nh cho c�c anh h�ng chiến tranh bao gồm kh�ng chỉ những kẻ mới chết gần đ�y trong khi kh�ng cự sự x�m lăng của ngoại quốc.� C�c tượng đ�i d�n tộc, c�c bảo t�ng viện, v� c�c ấn phẩm ph�ng chiếu một truyền thống hiến th�n y�u nước ngược m�i về tận qu� khứ xa x�i.� Ch�ng tưởng niệm c�c biến cố v� c�c truyền thống l�u đời của việc �bảo t�an đất tổ� c� ni�n đại l�i lại ch�nh c�c thời khởi nguồn của Việt Nam.� C�c nh�n vật anh h�ng đ� xuất hiện bất kỳ khi n�o xứ sở phải đẩy lui một kẻ th�, v� nhi�u người trong c�c nh�n vật n�y đ� được cho nhập v�o một ng�i đền cấp quốc gia d�nh cho c�c anh h�ng.� Những kẻ kh�ng được nh�n nhận bởi nh� nước, tuy thế, kh�ng nhất thiết bị l�ng qu�n; đ�ng hơn, c�c vi�n chức địa phương, c�c cộng đồng, v� c�c c� nh�n thường ph�t ng�n nh�n danh họ.� C�c nh�m n�y tham gia v�o c�c cuộc tranh nghị về k� ức khi ch�ng toan t�nh để kết hợp c�c chuyển kể của ch�nh họ v�o lịch sử ch�nh thức đang chiếm ưu thế v�, ch�nh từ đ�, biến th�n nh�n hay c�c người c�ng l�ng của họ -- �c�c tử sĩ v� danh�, �c�c linh hồn lang thang� � th�nh c�c th�nh vi�n anh h�ng v� c� c�ng trạng của địa phương họ.

 

������ Một c�ch tổng qu�t nhất, b�i viết n�y b�n về c�c nghi thức của c�c sự tưởng niệm m�, do ở năng lực của ch�ng để uốn nắn k� ức d�n tộc, cấu th�nh một dự �n hiệu nghiệm của sự biểu tượng cho qu� khứ tại Việt Nam hiện đại.� C�c lời tuy�n x�c về t�nh li�n tục với qu� khứ, l�m ph�n biệt sự tưởng niệm với c�c h�nh thức nghi lễ kh�c, đặt n� v�o một vị thế đặc biệt trong số c�c h�nh ảnh biểu trưng ch�nh thức (Connerton 1999).� Kertzer (1988) lập luận rằng c�c l�nh tụ ch�nh trị đương thời sốt sắng đế sử dụng c�c nghi thức v� biểu tượng t�n gi�o nhằm ch�nh thống h�a quyền lực của họ, v� g�i d�n ch�ng v�o c�c h�nh thức hoạt động được định chế h�a v� chứa chất x�c cảm.� Tại Việt Nam, sự truy điệu c�c ng�y giỗ h�ng năm đ� trở th�nh một c�ng cụ nhiều năng lực cho c�c ch�nh trị gia v� sử gia tạo lập qu� khứ, viết c�c sự tường thuật về c�c vị th�nh d�n tộc v� c�ch mạng, v� giảng dạy truyền thống t�n gi�o Việt Nam �ch�nh danh� (�proper�).� Tuy nhi�n, sự tự � thức của nh� nước về quyền lực x� hội của n� kh�ng cho ph�p đa số c�c lễ tưởng niệm địa phương trở th�nh c�c buổi lễ cấp quốc gia (xem Malarney 2007).� Thay v�o đ�, nh� nước giữ số lượng tương đối thấp, trong khi c�ng l�c đ�ng vai tr� của m�nh như nguời đỡ đầu cho truyền thống cũng như sự tiến bộ to�n quốc / địa phương.� Nh� nước kiểm so�t v� ảnh hưởng c�c cuộc tưởng niệm trong nhiều c�ch kh�c nhau: xuy�n qua c�c b�i viết trong c�c tạp ch� h�n l�m, xuy�n qua c�c hội nghị địa phương bằng việc ph�c thảo c�c địa điểm tưởng niệm, v� qua việc thiết kế ch�nh c�c buổi lễ (Hồ T�i 1995; Pelley 2002, trang 164).� Tiến tr�nh n�y li�n can đến sự tuyển chọn v� t�i định h�nh một số� chuyện kể về qu� khứ, trong khi n� tr�nh c�c sự tr�nh b�y kh�c, vốn được giữ im lặng.

 

������ Trong tập khảo luận truyền cảm của b�, t�c giả Huệ T�m Hồ T�i (1995) tuy�n bố rằng nh� nước Việt Nam h�nh xử sự kiểm so�t to�n bộ tr�n địa điểm, việc hoạch định, v� cấp ng�n s�ch cho c�c dự �n tưởng niệm.� C�c tượng đ�i to�n quốc ph�t sinh kh�ng phải từ sự đụng độ giữa c�c dự kiến của c�c c�ng d�n b�nh thương với c�c dự kiến của nh� nước m� từ t�nh trạng c� nhiều sự ph�t biểu bắt nguồn ngay trong bản th�n nh� nước.� Ngược lại, t�i lập luận rằng sự đối đầu n�y xảy ra ở cấp địa phương, nơi m� c�c cuộc tưởng niệm chuyện đ� qua được tranh luận.� C�c sự tường thuật địa phương c� thể trở n�n mở ngỏ cho sự thương nghị, bởi ch�ng l� sản phẩm của t�nh trạng đa ng�n xướng xuất bởi c�c nh�m người Việt kh�c nhau: c�c vi�n chức địa phương, d�n l�ng, c�c d�ng tộc v� c�c c� nh�n.� Như t�c giả Kwon (2006; 2009) đ� chứng minh trong cuộc nghi�n cứu của �ng về sự tưởng niệm tại Việt Nam, sự tổn thất của c�c gia đ�nh thường d�n bị giết trong c�c hoạt động qu�n sự đ� kh�ng được thừa nhận trong c�c buổi lễ tưởng nhớ to�n quốc, nhưng n� đ� tạo ra nhiều khu�n mẫu kh�c nhau trong sự thờ c�ng tổ ti�n trong nh�.� Sự to�n hảo của bộ m�y giết người của chiến tranh hiện đại, sự hủy hoại c�c thi thể, v� t�nh bất khả thi của một sự mai t�ng th�ch đ�ng tạo ra đủ mọi loại hồn ma phải được h�a hợp với người sống xuy�n qua c�c buổi lễ tưởng niệm gia đ�nh.� Lịch sử d�n tộc v� chủ nghĩa anh h�ng chỉ c� � nghĩa đối với d�n ch�ng địa phương khi ch�ng được kết hợp với lịch sử địa phương v� với di sản theo phả hệ của cộng đồng (Kwon 2006, trang 117).� Ch�nh v� thế, mục ti�u của b�i viết n�y l� để t�m hiểu c�c sự tưởng niệm v� c�c sự tường thuật lịch sử từ quan điểm của nh� nước trung ương xuống tới c�c � niệm của c�c c� nh�n.� Thay v� thiết lập một sự t�ch đ�i (dichotomy) giữa nh� nước v� d�n ch�ng, giữa trung ương v� địa phương, tuy thế, t�i sẽ t�m c�ch để chứng minh c�ch thức m� c�c loại hạng n�y giao tiếp với nhau trong đời sống h�ng ng�y như thế n�o (Di Gregorio v� Salemink 2007).� B�i viết n�y sẽ g�p phần v�o cuộc thảo luận về sự tưởng niệm bằng việc phơi b�y t�nh phức tạp của c�c sự tranh nghị địa phương tr�n k� ức v� � nghĩa (Evans 1998; Keyes 2002; Kwon 2006; Trouillot 1995).

 

������ Một t�nh to�n tưởng niệm t�o bạo như thế của nh� nước, nhằm bảo tồn t�nh tối thượng của c�c người đ� chết khi phục vụ đất nước, được d�nh để vinh danh hải đội Ho�ng Sa (Paracel) v� bảo tồn mọi đền thờ v� di t�ch li�n quan đến hoạt động của n� tại h�n đảo ngo�i khơi, đảo L� Sơn.� H�n đảo san h� nhỏ b� n�y được n�i đến nhiều lần trong nhiều t�i liệu lịch sử kh�c nhau bởi c� sự nối kết của n� với c�c quần đảo Paracel (Ho�ng Sa) v� Spartly (Trường Sa) (H�n Nguy�n 1975; L�ng Hồ [b�t hiệu của cố gi�o sư Nguyễn Khắc Kham, ch� của người dịch].� Dự �n nh� nước t�m c�ch chứng minh rằng c�c triều đại qu�n chủ phong kiến Việt Nam đ� chiếm cứ c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa v� h�nh sử chủ quyền tr�n ch�ng qua nhiều thế kỷ.� Hơn nữa, sự tranh gi�nh giữa nhiều quốc gia d�n tộc, kể cả Trung Hoa, về sự kiểm so�t tr�n hai quần đảo nối kết c�c cuộc tưởng niệm địa phương n�y với c�c sự vụ quốc tế; nhưng nh� nước Việt Nam phải đối diện kh�ng chỉ với c�c cuộc thương nghị quốc tế m� c�n cả với địa phương, bởi người d�n L� Sơn đưa ra c�c sự tr�nh b�y của ch�nh họ về vấn đề chất chứa nhiều x�c cảm n�y.

 

������ Ngo�i sự tranh chấp về chủ quyền, c�c cuộc thương nghị n�y đ� được ghi v�o cuộc tranh luận của Việt Nam về văn h�a v� t�n gi�o. �Cuộc tranh luận n�y, được th�c đẩy bởi nh� nước, li�n quan đến việc thờ c�ng tổ ti�n, l� một trong c�c sự h�nh đạo nhận được sự thừa nhận của nh� nước như �một truyền thống t�n gi�o d�n tộc�.� Theo sự định nghĩa của t�c giả Đặng Nghi�m Vạn (1998, trang 246), sự thờ c�ng tổ ti�n l� �sự t�n k�nh những người đ� khuất xứng đ�ng được ghi ơn v� sự tiếp truyền v� nu�i dưỡng c�c con ch�u của họ � hay những người đ� lập c�ng trạng trong việc phục vụ cộng đồng hay đất nước của họ�.� Tục thờ c�ng tổ ti�n, theo �ng nhận x�t, l� một truyền thống t�n ngưỡng l�u d�i của người d�n Việt Nam, được bắt rễ s�u xa trong � thức của họ, bởi n� tượng trưng cho phong tục d�n tộc v� �thấm nhuần một cảm thức về bổn phận� (trang 247).� T�c giả Kwon ghi nhận rằng �định chế t�n ngưỡng truyền thống đ� trở th�nh kỹ thuật học của sự hội nhập d�n tộc.� [H�y] tưởng tượng quốc gia-d�n tộc (nation state) trở th�nh một vấn đề suy tưởng về c�c anh h�ng chiến tranh đ� chết trong khu�n khổ hệ thống gia đ�nh của tục thờ c�ng tổ ti�n�.� Dưới �nh s�ng n�y, sự t�n s�ng cổ truyền tục thờ c�ng tổ ti�n đ� t�i diễn như một �văn h�a ch�nh trị tập trung v�o anh h�ng�, bởi ti�u điểm của nh� nước nhằm chiếu rọi v�o tấm gương phục vụ của c�c tổ ti�n, hơn l� v�o đời sống an b�nh sau khi chết (2006, trang 104).� D� thế, người Việt Nam c� một khảo hướng b�nh đẳng hơn đối với người chết: tinh thần của mọi tổ ti�n bất kể c�ng đức hay sự đ�ng g�p của họ v� ngay cả hồn ma của c�c kẻ lạ đều đ�ng để được nh�n nhận.� T�i sẽ khai triển kỹ c�ng sự ph�t biểu n�y qua việc tr�nh b�y c�ch thức m� cả c�c loại tổ ti�n lẫn hồn ma đ� được bao gồm trong tiến tr�nh kh�i phục k� ức về c�c binh l�nh của hải đội Ho�ng Sa tr�n đảo L� Sơn.

 

������ Sử dụng t�i liệu d�n tộc học thu thập tr�n đảo L� Sơn ngo�i khơi, t�i đề cập đến c�c sự tưởng niệm khi t�i khảo s�t trường hợp của �ng Anh, 1 kẻ đ� gắng sức để bao gồm tổ mẫu của nh�m th�n nh�n của �ng � một �hồn m� nhiều thần năng lang thang khắp l�ng� � v�o đền thờ của tỉnh d�nh cho c�c anh h�ng của Ho�ng Sa.� C�c sự tường thuật c� nh�n đối chọi với lịch sử ch�nh thức khi c�c t�c giả cố gắng �nh�t� c�c phi�n bản của ch�nh m�nh về sự việc v�o trong cơ cấu của cuộc thảo luận bao qu�t hơn v� mang cho ch�ng � nghĩa ri�ng của họ (Connerton 1999, trang 19).� Hậu quả, sự thừa nhận v� tưởng niệm người chết chiếu rọi c�c kh�a cạnh kh�c nhau v� c� c�c � nghĩa dị biệt đối với nh� nước v� d�n ch�ng.� Nh� nước t�m c�ch để ph�t huy c�c mục ti�u � thức hệ của ri�ng n�, chẳng hạn như ch�nh đ�ng h�a chiến tranh, b�y tỏ t�nh li�n tục của n� với c�c anh h�ng v� triều đại trước đ�y trong cuộc kh�ng cự chống lại sự x�m lăng của nước ngoai, v� x�y dựng một �đất nước h�ng mạnh v� hạnh ph�c�.� Tuy nhi�n, đối với người d�n thường, sự thừa nhận địa phương, d�ng tộc, hay c� nh�n, chứ kh�ng phải c�c mục đ�ch d�n tộc, lại c� tầm quan trọng nhất.� Tuy thế, chủ nghĩa anh h�ng đ� trở th�nh một th�nh tố thiết yếu của c�c sự tường thuật địa phương, khi người Việt Nam t�m c�ch phục hồi c�c r�ng buộc th�n nh�n của họ xuy�n qua l�ng y�u nước.� Tiến tr�nh n�y ph� hợp với c�c hiện tượng m� c�c nh� nh�n chủng học đ� nhận thấy trong c�c năm gần đ�y tại Bắc Việt Nam (xem DiGregorio 2007; Endres 2001; Endres 2002; Malarney 2002).

 

 

VĂN H�A, T�N GI�, V�

CUỘC THẢO LUẬN H�N L�M

 

������ Văn h�a truyền thống Việt Nam chịu sự kiểm tra thường trực bởi c�c ch�nh trị gia v� c�c nh� tr� thức.� Trong thời c�ch mạng, họ quy tr�ch cho ch�nh s�ch b� quyền thực d�n v� sự lạc hậu về kinh tế tr�n một số kh�a cạnh n�o đ� của văn h�a, chẳng hạn như hệ cấp t�n ti trật tự, sự l�ng ph�, v� sự bất hợp l� m� họ tin rằng kh�ng th�ch hợp với một quốc gia t�n tiến v� phải bị b�i trừ (Endres 2002).� Trong năm 1943, Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong tập �C�c Luận Đề Văn H�a Việt Nam� của n�, đ� đưa ra ba nguy�n tắc: d�n tộc h�a, đại ch�ng h�a, khoa học h�a [tiếng Việt trong nguy�n bản, �nationalization, popuplarization, and scientism�, ch� của người dịch] như �c�c kh�i niệm hướng dẫn cho dự �n x�y dựng một �văn h�a mới� v� một �đời sống mới� (trang 2). �Như Endres cho thấy, d�n tộc h�a được hiểu như một sự ph�ng vệ chống lại c�c lực lượng th� nghịch v�, do đ�, chiếm giữ một vị thế đặc biệt trong cuộc thảo luận h�n l�m v� về � thức hệ.� Điều được tin tưởng rằng một sự tuyển chọn c� hệ thống c�c kh�a cạnh �ch�nh danh� của truyền thống v� c�c phong tục Việt Nam sẽ đưa đến một sự chấm dứt �th�i quen tham nhũng v� phong kiến�.� Dưới �nh s�ng của mỹ từ như thế, c�c lễ hội l�ng x�, c�c nghi thức chu kỳ đời sống, v� c�c nơi thờ phụng � c�c kh�ng gian chống đỡ quyền lực v� uy t�n cổ xưa � đ� trở th�nh c�c mục ti�u của chiến dịch nh� nước chống lại c�c m� t�n dị đoan.� Như được ghi nhận bởi t�c giả Anagnost (1994, trang 222), nh� nước đ� đ�ng khung cảnh tr� địa phương v�o trong �trật tự tổng gộp ri�ng n�.� Tại Bắc Việt Nam, từ thập ni�n 1950 đến cuối thập ni�n 1980, c�c kh�ng gian linh thi�ng, nơi được tin l� chống đỡ cho mối quan hệ bất b�nh đẳng v� ph� phạm c�c t�i nguy�n của l�ng x�, đ� được biến cải th�nh c�c vựa l�a, c�c nh� kho, v� c�c trường học, trong khi c�c nh� sư v� nữ tu bị cưỡng b�ch phải cởi bỏ �o tu v� quay về đời sống thế tục.� C�c nghi thức l�n đồng gặp thần th�nh bị cấm đo�n v� c�c kẻ l�m lễ chuy�n nghiệp bị kiểm so�t bởi c�c nh� chức tr�ch địa phương (Lương Văn Hỷ 1992; Malarney 2002).� Sau năm 1975, tiến tr�nh cũng n�y lan tr�n khắp c�c miền ph�a nam của Việt Nam v� k�o d�i m�i cho đến năm 1986, khi nh� nước nới lỏng sự cưỡng h�nh c�c luật lệ chống m� t�n dị đoan của n� (xem Taylor 2004, trang 39).

 

������ Tuy nhi�n, sụ bi�n tế h�a [marginalization: gạt sang b�n lề] hay ngay cả sự mạo phạm kh�ng gian t�n gi�o kh� dẫn đến một sự đoạn tuyệt với c�c truyền thống t�n ngưỡng (Malarney 2002; Poon 2004, 2008; Yang 1967, trang 366).� V�o cuối thập ni�n 1980, c�ng với việc mở cửa dần dần Việt Nam với cộng đồng quốc tế, c�c th�i quen t�n gi�o truyền thống đ� trải qua một sự phục sinh mạnh mẽ, v� c�c sự thay đổi x� hội v� văn h�a s�u sắc đ� được mang lại bởi c�c sự cải c�ch được gọi l� đổi mới [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (renovation).� �Văn h�a� v� �truyền thống� giờ đ�y chiếm giữ một vị tr� quan trọng trong tiến tr�nh thay đổi kinh tế - x� hội.� Theo đảng cộng sản, c�c chiến dịch văn h�a, như c�c th�nh tố quan yếu của tiến tr�nh x�y dựng quốc gia mới, phải trợ lực để �ngăn cản v� đẩy l�i c�c th�i quen ti�u cực, c�c tội �c x� hội, v� c�c sản phẩm văn h�a g�y phương hại�.� Như tại c�c xứ sở � Ch�u kh�c chẳng hạn như H�n Quốc, Nhật Bản v� Trung Hoa, truyền thống d�n gian d�n tộc tại Việt Nam được khu�n đ�c để chống lại �c�c thứ T�y Phương� (Kendall 2001; Endres 2002).� Nh� nước đ� bắt đầu ph�t huy một tu từ mới cho sự h�a hợp giữa c�c gi� trị t�n gi�o đạo đức với � thức hệ của hệ thống x� hội chủ nghĩa.� Hậu quả, t�n gi�o giờ đ�y bổ t�c cho đời sống kinh tế v� x� hội, �cung cấp sự tăng cường văn h�a v� tinh thần cho c�c dự �n x� hội của nh� nước.

 

������ Một sự thay đổi dần dần c�c th�i độ nh� nước x� hội chủ nghĩa đối với văn h�a được đi k�m bởi c�c cuộc tranh luận s�u sắc phản ứng trước sự phục sinh của c�c truyền thống t�n gi�o.� Sự ch� � đặc biệt được d�nh cho �bản sắc văn h�a [tiếng Việt trong nguy�n bản, thiếu phần dịch từ d�n tộc, ch� của người dịch][d�n tộc]: national cultural identity�] của Việt Nam, điều được nh�n như �bản chất: essence� của d�n tộc .� C�c học giả đ� viết ra c�c b�i d�i d�ng về c�ch thức �bản sắc văn hoa� đ� g�p phần v�o �c�c kỹ năng v� tinh thần�, �sinh lực�, v� �kinh nghiệm� của d�n tộc Việt Nam, điều kế đ�, đ� gi�p cho Việt Nam c� thể xuất hiện một c�ch đắc thắng từ c�c sự thử th�ch của lịch sử.

 

������ � nghĩa l� một người y�u nước [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] v� chủ nghĩa y�u nước (patriotism) được nh�n nhận như c�c đặc điểm quan trọng nhất của bản sắc văn h�a d�n tộc.� Kendall (2001) b�o c�o rằng trong thập ni�n 1980, một tầng lớp tr� thức trung lưu mới của H�n Quốc tin tưởng rằng bản chất thực sự của một d�n tộc nằm trong c�c truyền thống d�n gian của họ.� Tương tự, c�c nh� học thuật Việt Nam đ� nh�n thấy một �� ch� để x�y dựng v� bảo tồn đất nước� trong x� hội truyền thống, đặc biệt trong văn h�a b�nh d�n (xem Ng� Đức Thịnh 2001).� C�c vị thần gi�m hộ v� c�c vị tổ nghề nghiệp, c�c kẻ, trong suốt c�c chiến dịch chống m� t�n dị đoan, đ� bị x�a bỏ khỏi cảnh tr� nghi lễ l�ng x�, đ� quay trở về với mọi h�o quang của họ như c�c nh�n vật lịch sử c� c�ng trạng đối với d�n tộc.� C�c nghi lễ gia đ�nh v� d�ng tộc được nh�n như chất keo của tinh thần cộng đồng l�ng x� v� được d�ng để gi�o dục d�n ch�ng bằng c�ch giảng dạy c�c kh�i niệm căn bản của lu�n l�.� Tuy nhi�n, như t�c giả Siu (1989) vạch ra một c�ch ch�nh x�c trong trường hợp Trung Hoa, sự phục sinh h�a nghi lễ tượng trưng cho sự t�i phục chế c�c mảnh vỡ văn h�a trong một x� hội n�ng th�n, hơn l� một sự phục hồi c�c lề th�i truyền thống.� C�c nghi lễ n�y ng�y nay được t�i x�y dựng bởi c�c nh�m t�c nh�n kh�c nhau v� c� � nghĩa kh�c nhau đối với c�c người kh�c nhau (c�ng nơi dẫn tr�n).

 

 

VIỆC PHONG TH�NH CHO C�C ANH H�NG V�

�K� ỨC� ĐƯỢC C�NG NHẬN

 

������ Trong việc khai ph�ng kh�ng giản c�ng cộng cho t�n gi�o, nh� nước x� hội chủ nghĩa kh�ng nh�n nhận c�c giới hạn đối với quyền lực của n� hay từ bỏ sự kiểm so�t tr�n việc h�nh đạo.� Mặc d� nh� nước kh�ng c�n đ�ng một vai tr� mạnh mẽ về � thức hệ trong đời sống d�n ch�ng như n� đ� l�m trước thời �đổi mới�, n� vẫn c�n cố gắng ti�u chuẩn h�a c�c thể thức h�nh đạo.� Trong số c�c phương c�ch quan trọng nhất cho mục đ�ch n�y l� c�c nỗ lực để hội nhập c�c kh�a cạnh truyền thống của tục thờ c�ng tổ ti�n v�o �một t�n gi�o d�n tộc� v� c�c ch�nh s�ch của việc bảo tồn c�c địa điểm lịch sử.� C�c nh�n vi�n đại diện nh� nước địa phương được khuyến kh�ch để nạp đơn xin thừa nhận ch�nh thức c�c địa điểm tưởng niệm m� họ c� thể chứng minh được một gi� trị nghệ thuật v� lịch sử hay c� t�nh chất văn h�a của vị thần bản địa (Endres 2001, 2002, trang 6).� C�ng l�c, c�c d�n l�ng muốn t�i x�c nhận c�c kh�ng gian thi�ng li�ng của họ v� ban cấp � nghĩa định chế tr�n ch�ng cố gắng để c� được một �sự c�ng nhận di t�ch lịch sử văn h�a� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Một sự chứng thực như thế cung cấp sự nh�n nhận của nh� nước d�nh cho ng�i đền, ch�nh từ đ� gi�p cho người d�n thờ phụng c�c vị thần linh của họ trong bất kỳ c�ch thức n�o m� họ muốn; v� n� cũng l� một nguồn an ủi c� nh�n v� h�nh diện cộng đồng.

 

������ Phương thức hiện đại của nh� nước x� hội chủ nghĩa ban cấp c�c chứng chỉ c�ng nhận c�c anh h�ng, c�c thần linh, v� c�c ng�i đền thờ c� tầm quan trọng lịch sử v� d�n tộc vốn c� một truyền thống l�u d�i tại Việt Nam, trở l�i lại đến c�c thời đại đế quốc (xem Boudarel 1991; DiGregorio v� Salemink 2007; Đỗ Thi�n [? hay Thiện] 2003; Wolters 1988).� Giống như triều đ�nh đế quốc, nh� nước x� hội chủ nghĩa t�m c�ch gia tăng t�nh đại diện ch�nh thống của n� xuy�n qua sự tuyển chọn kỹ lưỡng v� phong th�nh cho c�c nh�n vật lịch sử đ� chứng tỏ c�c gi� trị tinh thần v� l�ng y�u nước v� sự kh�ng cự anh h�ng chống lại qu�n ngoại x�m (xem Malarney 2007, tramng 529; Pelley 2002, c�c trang 177-89); Phạm Quỳnh Phương [?] 2009).

 

 

TƯỞNG NIỆM HẢI ĐỘI HO�NG SA

 

������ Ch�ng ta b�y giờ nh�n gần hơn v�o một th� dụ của sự phong th�nh như thế, đ� xảy ra tại tỉnh duy�n hải Quảng Ng�i ở Trung Phần Việt Nam, để chứng minh l�m sao m� c�c sự thương nghị d�n tộc về k� ức v� � nghĩa lại pha trộn với c�c cuộc thương nghị quốc tế v� địa phương.� Tuy nhi�n, trước khi t�i hướng đến dự �n của nh� nước về việc bảo tồn c�c di t�ch của to�n viễn th�m Ho�ng Sa, điều quan trọng l� việc truyền đạt một cảm gi�c về c�c sự mơ hồ địa phương đ� định h�nh lịch sử của tỉnh Quảng Ng�i.

 

������ Trong thế kỷ thứ mười t�m, tỉnh l� một vị tr� của một cuộc nội chiến được biết l� cuộc khởi nghĩa T�y Sơn.� Hơn nữa, trong cuộc kh�ng chiến chống Ph�p tỉnh l� một căn cứ địa của Việt Minh.� Trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, giống như c�c tỉnh kh�c của Miền Trung Việt Nam, bởi vị tr� của n� gần cận khu phi qu�n sự [sic], đ� phải chiu sự hủy hoại kh�c thường (xem Kwon 2006).

 

������ Từ thế kỷ thứ mười bẩy đến thế kỷ thứ mười ch�n, c�c hải đội Ho�ng Sa (Paracel) v� Trường Sa (Spartly) đ� đ�ng một vai tr� quan trọng trong sự khai th�c Biển Nam Hải [South China Sea trong nguy�n bản, ch� của người dịch] thuộc nh� nước phong kiến Việt Nam của c�c ch�a Nguyễn (1558-1777), nh� T�y Sơn (1778-1802) v� triều đ�nh nh� Nguyễn (1802-1945). 2� C�c tr�ch nhiệm của c�c hải đội bao gồm việc thu lượm c�c hải sản qu� gi� v� c�c sản phẩm từ c�c chiếc t�u bị đắm tại khu vực c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa. 3� C�c học giả Việt Nam xem c�c hoạt động n�y cung cấp bằng cớ cho chủ quyền từ l�u của Việt Nam tr�n c�c h�n đảo, bất kể c�c sự tuy�n x�c ngược lại của Trung Hoa. 4� Trong thời cai trị của thực d�n Ph�p ở Việt Nam, Trung Hoa bắt đầu b�y tỏ sự ch� y đến c�c h�n đảo kh�ng người cư tr� n�y v� khẳng định c�c x�c quyền tr�n ch�ng.� Với thời gian, sự tranh chấp việc kiểm so�t c�c quần đảo đ� leo thang v� trở n�n được hay biết rộng r�i đối với cộng đồng quốc tế.� Sau cuộc x�m lăng của Trung Hoa v�o quần đảo Ho�ng Sa năm 1974, ch�nh quyền S�ig�n nhấn mạnh sự tin tưởng của n� rằng c�c h�n đảo nằm trong l�nh thổ Việt Nam.� Sau khi t�i thống nhất, ch�nh quyền x� hội chủ nghĩa tiếp tục tuy�n x�c chủ quyền Việt Nam tr�n hai quần đảo. 5 �Hiện� tại, c�c Quần Đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa vẫn c�n l� c�c vấn đề tranh luận giữa Trung Hoa v� Việt Nam, khi cả hai nước đều x�c quyết ch�ng thuộc chủ quyền của m�nh.� Ngo�i ra, Phi Luật T�n, M� Lai, Đ�i Loan, v� Brunei tất cả đều đưa ra sự x�c quyền từng phần.� C�c ranh giới tr�n biển giữa Trung Hoa, Việt Nam, v� c�c nước kh�c chưa bao giờ được ấn định, v�, theo luật lệ, mọi bản đồ ch�nh thức của Việt Nam đều bao gồm c�c Quần Đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa.

 

������ Quần Đảo Ho�ng Sa nằm ở ph�a đ�ng của một đảo san h� nhỏ t�n L� Sơn, trước đ�y được gọi l� C� Lao R�.� L� Sơn tọa lạc ngo�i khơi c�ch tỉnh Quảng Ngải thuộc trung phần Việt Nam hai mươi lăm c�y số v� c�ch Quần Đảo Ho�ng Sa khoảng 400 c�y số.� Hiện tại, L� Sơn c� một diện t�ch l� mười c�y số vu�ng với 20,000 c�ng d�n sinh sống tại ba x�: An Hải, An Vĩnh, v� An B�nh.� Bảy mươi phần trăm d�n ở đảo l�m nghề trồng trọt, chứ kh�ng phải đ�nh c�.� Hơn nữa, Đảo L� Sơn, kh�ng hề bị tổn hại trong suốt Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương v� Chiến Tranh Việt Nam, l� một nh� kho chứa c�c dữ liệu về sự định cư v� ph�t triển d�n Việt tại miền trung Việt Nam.� N� cũng l� một nơi c� tiềm năng hấp dẫn cho ng�nh du lịch trong tương lai.

 

������ V�o đầu thập ni�n 1990, nh� nước cộng h�a x� hội chủ nghĩa đ� hướng sự ch� � của n� đến Đảo L� Sơn như một nguồn tin tức về c�c binh sĩ của Ho�ng Sa v� Trường Sa.� Khoảng c�ch gần cận của đảo san h� với quần đảo được ghi nhận nhiều lần trong c�c t�i liệu lịch sử thuộc thế kỷ mười t�m: cần đến ba hay bốn ng�y cho hải đội Ho�ng Sa đi từ hải cảng Sa Kỳ đến được Ho�ng Sa (L� Qu� Đ�n 1972 [bản dịch], trang 203; xem H�n Nguyễn 1975, trang 140).� Sử gia thế kỷ thứ mười t�m, L� Qu� Đ�n (1972, trang 210), tường thuật răng hải đội Ho�ng Sa bao gồm c�c d�n l�ng được tuyển mộ từ đảo L� Sơn (cũng xem Nguyễn Đăng Vũ 2001; Trần Thế Đức [?] v� Nguyễn Văn Hương [?] 1975).� Nhiều người trong họ đ� chết ở ngo�i biển, th�n x�c họ kh�ng bao giờ đ� trở về với th�n nh�n của họ. �Tuy nhi�n, một số t�n tuổi của họ được giữ lại nơi t�n gọi của địa điểm.� C�c đảo nhỏ của quần đảo Ho�ng Sa mang t�n của c�c Đội Trưởng Phạm Quang Ảnh v� Phạm Hữu Nhật, c�c người đ� trội bật hơn c�c người kh�c nhờ kỹ năng v� t�i chuy�n m�n của họ (Sơn Hồng Đức 1975).� Trong c�c năm 1994 v� 1995, một nh�m c�c học giả từ Khoa Lịch Sử của Đại Học Quốc Gia H� Nội đ� thăm viếng đảo L� Sơn nhiều lần v� điều tra về lịch sử của h�n đảo v� hải đội Ho�ng Sa.� Trong khung cảnh của một dự �n c� quy m� rộng lớn nhằm bảo tồn �di sản văn h�a�, c�c học giả n�y đ� thăm viếng một số gia đ�nh, thu thập nhiều t�i liệu kh�c nhau v� c�c b�t k� gia đ�nh, v� thu �m về c�c truyền thống truyền khẩu.� C�c kết quả của c�c cuộc điều tra được ấn h�nh bởi c�c t�c giả Nguyễn Quang Ngọc v� Vũ Văn Quan [?] (1998), c�c người đ� viết về vai tr� v� c�c hoạt động của hải đội Ho�ng Sa trong một b�i viết nhan đề �C�c Nguồn T�i Liệu Về Nguồn Gốc, C�c Nhiệm Vụ V� C�c Hoạt Đ�ng Của Đội Ho�ng Sa�.� Ở phần đầu của ấn phẩm họ ca ngợi c�c nh� vua thời phong kiến về y thức s�u xa của họ đối với tầm quan trọng của Biển Đ�ng (t�n gọi bằng tiếng Việt cho Biển Nam Hải) v� c�c nỗ lực của họ để bảo vệ v� mở rộng sự chiếm hữu của họ tr�n to�n thể v�ng qu�n đảo.� Hải đội Ho�ng Sa, chịu tr�ch nhiệm về việc tuần cảnh, kiểm so�t, bảo vệ v� khai th�c biển Nam Hải, một phần trong c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa, trở th�nh một th� dụ về c�ch thức m� sự chỉ huy của Việt Nam đ� được h�nh xử từ thế kỷ thứ mười bẩy cho đến giữa thế kỷ thứ mười t�m v�, ch�nh từ đ�, d�ng để ch�nh đ�ng h�a c�c sự tuy�n x�c tr�n c�c h�n đảo n�y.

 

������ Do đ�, kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n rằng, v�o ng�y 3 Th�ng T�m 2001, thủ tướng Việt Nam đ� c�ng bố một chỉ thị về việc thiết lập v� tại x�y dựng một khu vực với c�c địa điểm lịch sử [khu di t�ch lịch sử, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của Ho�ng Sa v� Trường Sa.� Mục đ�ch l� để bảo tồn mọi địa điểm c� tầm quan trọng lịch sử cho di sản của tiền nh�n v� của chủ quyền Việt Nam tr�n c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa (Nguyễn Đăng Vũ 2001).� V�o đầu Th�ng Mười c�ng năm, c�c đại diện của Ủy Ban Ph�ng Vệ Bi�n Giới Quốc Gia v� của Bộ Văn H�a v� Th�ng Tin đ� thăm viếng huyện đảo L� Sơn nhằm �kh�m ph� t�nh h�nh hiện tại của mọi địa điểm c� gi� trị lịch sử� li�n hệ đến c�c hải đội của hai quần đảo.� Trong những ng�y kế đ�, một hội nghị đ� được tổ chức với sự cộng t�c chặt chẽ của c�c nh� chức tr�ch địa phương, kể cả c�c th�nh vi�n của Ủy Ban Nh�n D�n Quảng Ng�i, c�c nh� nghi�n cứu địa phương, v� c�c học giả từ Đại Học Quốc Gia H� Nội.� Mặc d� lễ vinh danh h�ng năm c�c binh sĩ Ho�ng Sa v� Trường Sa được bao gồm trong c�c dự �n tưởng niệm, nh� nước lại ưa th�ch việc duy tr� t�nh trạng cố tr�nh g�y ồn �o về c�c buổi lễ n�y, bởi to�n thể vấn đề Ho�ng Sa v� Trường Sa c� t�nh chất ch�nh trị cao độ. [in đậm để nhấn mạnh bởi người dịch]

 

������ Sự quan t�m khoa học v� ch�nh thức về qu� khứ lịch sử của v�ng Biển nam Hải kh�ng phải đ� tr�i qua m� kh�ng được nhận biết tại cộng đồng duy�n hải của L� Sơn.� Người khi đ� đứng đầu Hội Nh� B�o Quảng Ng�i, c�ng với c�c sử gia, c�c nh� khảo cổ, v� nh� chức tr�ch địa phương, đ� tham gia một c�ch ch�nh thức v� c� nh�n v�o tiến tr�nh phục hồi c�c t�i liệu lịch sử.� Họ đ� khuyến kh�ch c�c th�n nh�n v� d�n trong l�ng thu thập mọi văn bản c�n tồn tại c� thể c� gi� trị lịch sử v� g�p phần v�o sự t�i dựng c�c truyền thống y�u nước tr�n đảo.� Nhiều cuộc nghi�n cứu d�n tộc học gần đ�y b�o c�o rằng, tiếp theo sau sự cởi mở trong ch�nh s�ch văn h�a v� sự phục sinh của c�c th�ng tục t�n gi�o cổ truyền tại Việt Nam, điều thường xảy ra cho c�c người đại diện c�c d�ng tộc l� đ� s�ng chế hay t�i giải th�ch c�c c�u chuyện về đời sống của c�c thần linh v� thu� mướn c�c học giả để trợ lực trong việc soạn thảo đơn thỉnh cầu (xem DiGregorio 2007; Endres 2001; Hồ T�i v� L� Hồng L� [?] 2008)|.� Trong tinh thần của �cơn sốt tưởng niệm� n�y (Hồ T�i 2001, trang 1), nhiều d�ng tộc kh�c nhau tại L� Sơn bắt đầu cạnh tranh với nhau trong việc minh chứng c�c c�ng t�c y�u nước v� lập c�ng trạng của tổ ti�n họ v� trong việc nhận được �Chứng Chỉ Chỉ Định Một Di T�ch Văn H�a v� Lịch Sử�.� Một số trong họ c�n thu� mướn cả c�c học giả để viết c�c l� thư đến Sở Văn H�a cấp tỉnh để hỗ trợ c�c lời tuy�n x�c về gi� trị văn h�a v� lịch sử của di sản của họ.� Sự cạnh tranh ch�nh đ� diễn ra giữa hai d�ng tộc, họ V� v� họ Phạm.� Trong khi d�ng họ đầu ti�n [V�] c� được sự ủng hộ của th�n nh�n của họ -- một vi�n chức ở tỉnh chuy�n t�m v�o c�c sự nghi�n cứu văn h�a � d�ng họ kể sau [Phạm] đ� thiết lập c�c quan hệ tốt với c�c sử gia nổi tiếng v� c�c nh� chức tr�ch địa phương xuy�n qua người đại diện d�ng tộc, �ng Anh.� Cả hai d�ng tộc truy t�m nguồn gốc của họ đến c�c gia đ�nh di d�n đầu ti�n l� những kẻ ng�y nay được t�n k�nh trong ng�i đ�nh l�ng như c�c bậc �ti�n hiền6 [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], �c�c người ti�n phong� hay như �c�c người đ� đầu ti�n đ� khai đất�.�

 

Hai d�ng tộc, đều thuộc x� An Vĩnh, lấy l�m h�nh diện rằng gia phả [tiếng Việt trong nguy�n bản] gia đ�nh họ, vốn từng được bảo tồn v� lưu truyền qua nhiều thế hệ, đ� được c�c học giả cầm mang ra H� Nội v� gửi đến Viện H�n N�m để phi�n dịch.� C�c bản ch�nh, chứa đựng c�c sự m� tả c�c biến cố địa phương, danh t�nh, v� tin tức về đời sống của c�c tổ ti�n đ�ng k�nh, sau đ� đ� được ho�n trả cho c�c sở hữu chủ; bản sao chụp đ� được lập v� lưu trữ tại thư viện của Viện.

 

Sự ch� � gia tăng của c�c tr� thức v� c�c vi�n chức đ� trợ gi�p người d�n L� Sơn t�i lập c�c địa điểm linh thi�ng của họ.� Trong năm 1997, d�n l�ng An Vĩnh đ� dốc to�n lực trong việc thu g�p tiền của v� t�i x�y dựng ng�i đền m� tổ ti�n d�ng họ V� nguy�n thủy đ� x�y cho l�ng.� C�c d�n l�ng đ� dựng c�c b�n thờ trong đền d�nh cho việc thờ phụng người s�ng lập ra ng�i đền, vị thần đất, vị thần Bạch M� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (White Horse), v� cho sĩ quan đội Ho�ng Sa, �ng V� Văn Khiết � xin chỉ n�u ra �t danh hiệu.� Để nhận được �Chứng Chỉ Chỉ Định Di T�ch Văn H�a v� Lịch Sử� người ta phải chứng minh gi� trị lịch sử v� nghệ thuật của một địa điểm hay c�ng trạng của tổ ti�n được thờ phụng *(Endres 2001, trang 88).� �ng V� Văn Khiết xem ra to�n hảo cho việc thỏa m�n mọi điều kiện ch�nh thức.� D�ng họ V� c� tất cả c�c văn kiện cần thiết để chứng minh c�ng lao của �ng đối với l�ng cũng như đối với đất nước.� Trong t�i liệu gia đ�nh họ V�, c� ni�n đại 1803, ch�ng ta c� thể đọc thấy nhờ c�c c�ng đức của �ng V� Văn Khiết, �ng đ� được bổ nhiệm đứng đầu đ�nh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (commune house) bởi d�n l�ng An Vĩnh (trong s�ch của Nguyễn Quang Ngọc v� Vũ Văn Quan [?] 1998).� �ng được m� tả l� con người bộc trực, lương thiện, cần c� v� hiểu biết.� D�ng tộc, c�ng với c�c d�n l�ng v� với sự gi�p đỡ của th�n nh�n họ c�ng c�c giới chức thẩm quyền địa phương kh�c từ Quảng Ng�i, đ� soạn thảo đơn thỉnh nguyện cần thiết.� Trong năm 2001, ng�i đền được liệt k� trong b�o c�o ch�nh thức của Sở Văn H�a Tỉnh Quảng Ng�i c�ng với c�c tượng đền kh�c cho việc tưởng niệm hải đội Ho�ng Sa.� Văn kiện liệt k� ng�i đền thờ �ng V� Văn Khiết như một địa điểm lịch sử của Ho�ng Sa (UBND Tỉnh Quảng Ng�i v� Sở Văn H�a Th�ng Tin 2001).

 

C�ng l�c, d�ng tộc họ Phạm khởi sự c�c nỗ lực của họ để t� x�c định c�ng trạng của tổ mẫu của họ, B� Roi [Lady Jambose, trong suốt b�i, t�c giả đ� d�ng danh xưng bằng Anh ngữ n�y chứ kh�ng d�ng t�n gọi bằng tiếng Việt như người d�n địa phương thường d�ng.� Nhiều phần c� lẽ t�c giả đ� kh�ng biết đến danh xưng bằng tiếng Việt l� B� Roi, ch� của người dịch], v� gi� trị lịch sử của b�.� Mặc d� họ kh�ng được hậu thuẫn bởi d�n l�ng, như trong trường hợp nh�m th�n thuộc họ V�, trong năm 2003, d�ng họ Phạm đ� nhận được sự cho ph�p ch�nh thức v� sự ủng hộ từ c�c nh� chức tr�ch địa phương của Ủy Ban Nh�n D�n Huyện để nạp đơn xin c�ng nhận ng�i đền thờ B� Roi l� một địa điểm lịch sử.� Một năm sau đ�, c�c th�nh vi�n của d�ng tộc bất ngờ bắt gặp c�c t�i liệu bổ t�c được bảo tồn trong ng�i nh� từ đường của họ khi thu thập c�c t�i liệu cho Bảo T�ng Viện Quảng Ng�i.� C�c chứng từ mới được kh�m ph� bao gồm một phổ hệ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (genealogy), t�i liệu gia đ�nh, một tờ sắc phong [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (charter), v� một b�i vị b�n thờ kh�ng chỉ chiếu rọi �nh s�ng mới về bản th�n b� Roi m� c�n về một trong c�c tổ ti�n của d�ng tộc � một đội trưởng của hải đội Ho�ng Sa � �ng Phạm Hữu Nhật, người m� t�n được d�ng để đặt cho một đảo nhỏ của Quần Đảo Ho�ng Sa.� Với sự gi�p đỡ của vi�n đứng đầu Hội Nh� B�o Quảng Ng�i, c�c nh� khảo cổ từ bảo t�ng viện địa phương, c�c sử gia v� c�c nh� chức tr�ch từ tỉnh v� huyện, c�c buổi lễ đ� được tổ chức trong Th�ng Ba 2005 để kh�nh th�nh một bia tưởng niệm vinh danh �ng Phạm Hữu Nhật, kẻ khi đ� được ch�nh thức thừa nhận như một tổ ti�n đ�ng k�nh của d�ng tộc họ Phạm v� một chiến sĩ của hải đội Ho�ng Sa.� Tuy nhi�n, cuộc tranh đấu cho chứng chỉ chỉ định vẫn chưa được kết th�c. [in đậm để nhấn mạnh bởi người dịch]. �D�ng tộc tiếp tục t�m kiếm sự trợ gi�p của c�c học giả nổi tiếng v� c�c k� giả v� ngay cả đ�i truyền h�nh Đ� Nẵng.� D�ng tộc, c� c�c người ủng hộ chắc chắn như thế, đ� hy vọng một sự th�nh c�ng mau ch�ng.

 

Trong khi kh�ng c� sự tranh nghị n�o li�n quan đến anh h�ng t�nh của �ng Phạm Hữu Nhật, nỗ lực của d�ng tộc họ Phạm để thừa nhận tổ tiến thứ nh� của họ, B� Roi, đ� gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ c�c th�nh vi�n của d�ng họ V�, những kẻ cảm thấy rằng họ Phạm đ� muốn n�ng cao d�ng tộc họ vượt l�n tr�n c�c d�ng tộc kh�c xuy�n qua sự thần th�nh h�a v� thừa nhận ch�nh thức b� tổ mẫu của họ.� Qua việc nh�n nhận �ng V� Văn Khiết như một tổ ti�n chung cho cả l�ng, c�c th�nh vi�n d�ng họ V� nhấn mạnh đến sự nh�n nhường của họ, tr�i với, họ tin tưởng, c�c kh�t vọng nặng t�nh chất c� nh�n chủ nghĩa nhiều hơn của d�ng họ Phạm, nhằm chỉ t�m kiếm sự vinh danh ri�ng của m�nh.

 

 

NỮ ANH THƯ ĐỊA PHƯƠNG HAY MA QUỶ?

 

������ Trong t�n ngưỡng v� phong tục Việt Nam, cũng như� của người Trung Hoa (Wolf 1974), c�c tổ ti�n của một nh�m th�n th�ch c� thể nguy hiểm đối với c�c th�nh vi�n của c�c nh�m th�n thuộc kh�c, c�c nh�m đơn giản nh�n họ như �c�c ma quỷ� (�ghosts�).� C�c ma quỷ c� tiềm năng nguy hiểm kh�c, những kẻ đe dọa kh�ng chỉ những người kh�ng phải th�n thuộc m� cả với c�c th�nh vi�n gia đ�nh ch�nh họ, bao gồm những người m� đời sống bị cắt đứt một c�ch bất ngờ v� t�n khốc.� Họ g�y ra một vấn đề nghi�m trọng đặc biệt nếu c�i chết của họ xảy ra tại một nơi xa lạ, ngo�i �l�nh địa của sự an to�n nội bộ� v� của b�n thờ tổ ti�n (Kwon 2009, trang 89).� C�c binh sĩ của hải đội hải qu�n m� th�n x�c ch�m v�o l�ng nước s�u của Biển Nam Hải c� thể được kể v�o một loại như thế.� Bởi nỗi lo sợ phải chết xa nh�, c�c binh sĩ đội Ho�ng Sa đi biển c� chuẩn bị sẵn một chiếc chiếu, sợi d�y bằng m�y, đ�n tre, v� một b�i vị bằng gỗ nhỏ với th�ng tin về danh t�nh, tuổi t�c, sinh qu�n, v� danh hi�u đơn vị của họ.� Trong trường hợp c� sự từ trần của một người, c�c chiến hữu của binh sĩ từ trần quấn thi thể của người đ� trong chiếc chiếu v� cột n� v�o c�c đ�n tre rồi sau đ� hạ thi thể từ chiếc t�u xuống d�ng nước với hy vọng một số người sống n�o đ� sẽ t�m thấy th�n x�c tr�i giạt v�o bờ v� d�nh cho n� một sự ch�n cất th�nh đ�ng.� Tuy nhi�n, trong phần lớn trường hợp, thi thể của c�c binh sĩ kh�ng bao giờ quay trở về với th�n nh�n của họ.� Người d�n L� Sơn, kh�ng muốn để cho người th�n của họ kh�ng được ch�n cất, đ� chuẩn bị c�c sự mai t�ng th�ch hợp v� c�c ng�i mộ giả để an ủi �c�c linh hồn lang thang� của c�c kẻ đ� gặp c�c c�i chết bi thảm (Nguyễn Quang Ngọc v� Vũ Văn Quan [?] 1998, trang 14).

 

������ Sau c�ng, một loại ma quỷ c� tiềm năng nguy hiểm bao gồm linh hồn của c�c trinh nữ gặp c�i chết khốc liệt v� kh�ng hợp giờ.� Họ bị nghĩ l� bị thấm nhập bởi c�c k� ức, c�c kh�t vọng chưa được thỏa m�n v� dục vọng kh�ng được đền đ�p (Taylor 2004, trang 201), khiến họ mong muốn ở lại c�ng với người sống .� Họ đặt ra một vấn đề về mặt thờ phụng tổ ti�n bởi họ kh�ng c� c�c hậu duệ để c�ng kiến họ.� Nếu bị l�ng qu�n, họ c� thể biến th�nh c�c hồn ma tức giận v� g�y phương hại cho người sống.� Điều được tin rằng họ đặc biệt ghen tức với việc l�m mẹ v� do đ� c� thể g�y ra c�i chết của c�c trẻ con trong nh�m th�n thuộc của họ hay ngay cả với to�n thể l�ng x�.� Đổi lại, nếu được thờ phụng cẩn thận, họ cũng c� thể gi�nh được tiếng tốt nhờ sự đ�p ứng v� hiệu nghiệm.� Kh�ng đếm xỉa l� liệu c�c ước muốn v� lời y�u cầu của người sống l� tốt hay xấu, c�c vị thần linh n�y ban cấp cho mọi người để đổi lấy sự thỏa m�n c�c nhu cầu của họ (c�ng nơi dẫn tr�n).� Ch�nh v� thế, c�c th�n nh�n gần cận nhất của người chết thường thiết lập một b�n thờ ri�ng biệt b�n ngo�i ng�i nh� v� ngay cả việc x�y dựng một miều nơi họ tưởng niệm v� vinh danh c�c phụ nữ n�y qua việc thắp hương v� d�ng c�ng thực phẩm hầu đạt được hạnh ph�c v� sự chung sống h�a b�nh.

 

������ Tại L� Sơn, d�ng họ Phạm đ� cố gắng đạt được sự thừa nhận kh�ng chỉ cho tổ ti�n Phạm Hữu Nhật của ho, kẻ bị chết t�n khốc � người l�nh của hải đội Ho�ng Sa, kẻ m� nh� nước Việt Nam sau hết đ� nh�n nhận � m� c�n cả cho b� tổ mẫu của họ, B� Roi.� T�i hay biết rằng b� l� một trong �t trường hợp phụ nữ trẻ của L� Sơn đ� chết một c�ch đột ngột.� Mặc d� t�i t�m thấy rằng c�c th�nh vi�n của gia đ�nh họ Phạm đ� c� c�c phi�n bản kh�c nhau về c�u chuyện của b�, một trong ch�ng đặc biệt thu h�t sự ch� � của t�i: phi�n bản m� �ng Anh � đai diện Hội Gia Tộc Họ Phạm � kể, dựa tr�n gia phả mới được kh�m ph� hồi gần đ�y.� Gia phả, được viết bằng tiếng h�n, c� ni�n kỳ từ thế kỷ thứ mười bẩy.� Văn kiện phi�n �m c� ni�n đại 1900 chỉ được phi�n dịch ra tiếng Việt th�ng dụng bởi một chuy�n vi�n địa phương chuy�n về tiếng H�n-N�m trong năm 2004.� Trong c�ng năm, t�i liệu đ� được cho ph�p [c�ng bố] bởi một vi�n chức của Ủy Ban Nh�n D�n Huyện L� Sơn.� Một hộp sơn m�i m�u đỏ đựng gia phả thi�ng li�ng được trưng b�y tr�n một b�n thờ tổ ti�n tại ng�i đền d�ng tộc v� được giữ c�ch biệt với c�c người kh�ng được ph�p [đụng tới].� Tuy nhi�n, �ng Anh đ� chuẩn bị nhiều bản sao chụp bằng giấy một phi�n bản mới hiện đại h�a m� �ng sẵn s�ng xuất tr�nh bất kỳ khi n�o c� kẻ tỏ vẻ lưu � tới.� Theo c�c gia phả n�y, được kh�m ph� một c�ch bất ngờ bởi �ng Anh tại điện thờ tổ ti�n họ Phạm trong năm 2004, B� Roi l� một hậu duệ đời thứ nh� của c�c di d�n đầu ti�n v� c�c người s�ng lập ra ng�i l�ng đ� định cư tr�n đảo hồi đầu thế kỷ thứ mười bảy.� B� ta nhất định đ� phải sống trong c�c thời điểm kh� khăn v� x�o trộn.� V�o l�c đ�, c�c khu vực duy�n hải của Việt Nam, kể cả đảo L� Sơn, được biết bị quấy rối bởi c�c hải tặc Trung Hoa, c�c kẻ cướp ph� c�c l�ng mạc, h�m hiếp phụ nữ, v� giết chết d�n l�ng.� B� Roi, l�c đ� chỉ mới mười s�u tuổi, đ� l� một trong những nạn nh�n của c�c vụ x�m k�ch n�y.

 

������ Trong c�u chuyện thuật lại bằng lời của m�nh, �ng Anh đ� giữ im lặng về bản chất g�y trở ngại của b� như một hồn ma v�, thay v�o đ�, đ� đề cập đến b� như một người con g�i c� hiếu.� �B� ra bờ biển để t�m kiếm người cha m� b� đ� cố gắng cảnh c�o về qu�n th� đang tiến tới.� Bị bao quanh bởi c�c hải tặc Trung Hoa, v� b� đ� chọn c�i chết để giữ tr�n trinh tiết v� đ� n�m m�nh xuống biển�.� Ch�nh v� thế, ở một khoảnh khắc nguy kịch, n�ng đ� kh�ng đ�nh mất c�c gi� trị l�u d�i, c�c th�nh tố quan trọng nhất đối với chữ hiếu chẳng hạn như sự chăm s�c, sự v�ng lời, v� sự cảnh gi�c đạo đức.� Trong cuộc nghi�n cứu của �ng về t�n gi�o d�n gian, t�c giả Taylor (2004, trang 252) ghi nhận rằng nhiều chuyện kể về c�c nữ thần tại Việt Nam m� tả họ như c�c đứa con g�i chung thủy v� như c�c trinh nữ tự vẫn khi bị h�m hiếp, kh�ng cự sự kết h�n khi bị buộc phải lấy một người xa lạ, v� vẫn trung th�nh với cha mẹ hay đất nước ngay cả sau khi c� sự từ trần bi thảm của họ.� T�c giả Taylor vạch ra rằng bản chất kh�ng được x�c định của c�c phụ nữ n�y cho ph�p họ được t�n thờ như �c�c kẻ gi�m hộ tinh thần của chủ quyền hay c�c kẻ g�n giữ �bản chất d�n tộc� (trang 209).� Trong cuộc thảo luận s�u sắc về văn h�a, c�c nữ thần n�y được nh�n như duy tr� v� ti�u biểu cho c�c gi� trị cốt l�i của d�n tộc Việt Nam (trang 252).� Ch�nh v� thế, chủ nghĩa anh h�ng đ� l� một phần tử quan trọng trong c�c sự tường thuật của �ng Anh.� �ng chứng tỏ rằng bằng việc lựa chọn c�i chết, B� Roi kh�ng chỉ biểu lộ c�c đức t�nh bền vững của một phụ nữ Việt Nam, chẳng hạn như trinh tiết v� sự thuần khiết, m� c�n trở th�nh một nữ �anh h�ng bất khuất� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (�indomitable heroine�) c� �� thức bảo vệ h�n đảo y�u qu�� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (�consciousness of protecting a dear island�).

 

������ Sự ca ngợi anh h�ng t�nh của phụ nữ kh�ng phải l� điều kh�c lạ tại Việt Nam.� C�c nữ anh thư d�n tộc � hai b� Trưng, đ� chiến đấu chống lại Trung Hoa � cũng được giới thiệu như c�c kẻ ph�ng vệ �đất nước thi�ng li�ng� của Việt Nam trong c�c sự tường thuật thời hậu thực d�n.� Sư can đảm v� �tinh thần bất khuất� của họ lưu truyền từ đời n�y sang đời kh�c để cung cấp, theo sự giải th�ch x� hội chủ nghĩa, một cảm hứng cho phụ nữ Việt Nam nổi l�n chống lại qu�n th� (Pelley 2002, trang 181). �Trong c�u chuyện của �ng Anh, B� Roi cũng được d�ng như một tấm gương đạo đức cho c�c thế hệ nối tiếp.� Hơn nữa, trong lời tường thuật của m�nh, �ng Anh đ� kết hợp một c�ch h�ng hồn c�c � niệm si�u nhi�n với thực tế v� sử dụng c�c � niệm về c�i chết khốc liệt để tr�nh b�y c�ch thức l�m sao m� tổ mẫu của �ng ta � một thiếu nữ đồng trinh � tự minh chứng m�nh l� một vị thần linh nghiệm v� đ�p ứng trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khi ng�i mộ của b� được d�ng l�m một nơi che dấu c�c vũ kh� ăn trộm được.� Trong � nghĩa n�y, b� mang lại sự bảo vệ cho c�c du k�ch qu�n c�ng sản [sic].� �ng cũng đề cập đến đảo L� Sơn trong hiện tại v� đến t�nh li�n đới địa phương qua việc chỉ cho thấy �c�ng trạng của b� đối với th�n ấp của b� khi b� ủng hộ người đồng hương trong lễ hội đua thuyền, được t�i lập tr�n đảo bởi Sở Văn H�a Quảng Ng�i trong năm 2004.� Theo đ�, c�c sự kiện si�u nhi�n trong c�u chuyện tiếp diễn như sau: B� mất v�o ng�y mười lăm th�ng năm �m lịch năm 1645.� Gia đ�nh v� l�ng x� hay biết được sự tự vẫn bi thảm của b� xuy�n qua nghi thức l�n đồng [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� B� xuất hiện ngồi tr�n đ�i sen tương tự như tư thế của Phật B� Quan �m.

 

������ Giữa c�c năm 2002 v� 2006, một s� b�i b�o về B� Roi, về người l�nh đội Ho�ng Sa, �ng Phạm Hữu Nhật, v� về ch�nh d�ng tộc đ� xuất hiện trong c�c b�o ch� v� tạp ch� địa phương.� Hơn thế, Đ�i Truyền H�nh Đ� Nẵng đ� sản xuất ra nhiều phim ngắn về c�c nghi lễ gia đ�nh của d�ng tộc họ Phạm.� Một chiến dịch rộng lớn ph�t huy c�c tổ ti�n họ Phạm tr�n b�o ch� v� đ�i truyền h�nh địa phương sẽ kh�ng thể thực hiện được nếu kh�ng c� c�c t�i năng ngoại giao, sự h�ng biện v� c�c li�n hệ tốt của �ng Anh, năm mươi t�m tuổi (v�o năm 2007).� Mặc d� �ng kh�ng phải l� trưởng tộc hay phụ tr�ch việc chu to�n c�c nghĩa vụ tế lễ tại điện thờ tổ ti�n, �ng ta đ� đảm nhận vai tr� ph�t ng�n vi�n d�ng tộc.� Qu� khứ c�ch mạng của �ng gi�p �ng ta gi�nh được sự ủng hộ của c�c vi�n chức địa phương v� c�c nh�n vật nổi tiếng, trong đ� c� chẳng hạn như cố sử gia Trần Quốc Vượng.

 

������ �ng Anh n�i với t�i rằng trong số c�c th�nh vi�n của d�ng tộc �ng kh�ng chỉ l� những kẻ đ� hy sinh mạng sống trong c�c cuộc chiến tranh với Ph�p v� Mỹ gần đ�y, m� c�n cả ở trong thời qu� khứ xa xưa.� �ng đ� thu thập mọi t�i liệu khả hữu về tổ ti�n của �ng, bao gồm c�c gia phả, bản tin cắt từ b�o ch�, h�nh chụp, thư c�ng đơn thỉnh cầu của nhiều gi�o sư danh tiếng v� c�c thẩm quyền địa phương ở cấp huyện v� tỉnh ủng hộ nỗ lực của �ng nhằm đạt được sự c�ng nhận của ch�nh phủ.� Ngo�i ra, sưu tập đồ sộ mang t�n �Hồ sơ về c�c địa điểm lịch sử của d�ng tộc họ Phạm� bao gồm cả c�c lời ghi của c�c kh�ch đến thăm viếng �ng trong những năm gần đ�y.� �ng Anh cũng y�u cầu t�i ghi lại cảm tưởpng trong quyển sổ quan kh�ch của �ng.� Như một lưu niệm cho cuộc thăm viếng của t�i, một bức h�nh đ� được chụp v� bổ t�c v�o sưu tập t�i liệu của �ng.� V� t�nh, t�i c� nh�n nhận m�nh l� một người khảo cứu ngoại quốc ch� � đến �qu� khứ nhiều c�ng trạng� của gia đ�nh �ng.� Trong tập hồ sơ chi tiết của �ng, về sau một bản sao chụp được đưa lại cho t�i, t�i đ� c� thể đọc:

 

C�c thế hệ của d�ng tộc họ Phạm v� của d�n ch�ng tại L� Sơn tất cả đều được thấm đượm hơn bởi � nghĩa của lịch sử; lịch sử l� một chứng nh�n của thời đại, một sợi bấc của ngọn nến sự thực.� Sinh lực của sự hồi tưởng soi s�ng đờisống của người d�n với k� ức v� sự nhận thức về qu� khứ.

 

������ Trong c�c thư từ v� đơn xin sự thừa nhận của ch�nh phủ cho đền B� Roi như một địa điểm lịch sử bởi d�ng tộc l�n nh� chức tr�ch địa phương v� l�n chủ tịch Hội Sử Gia Việt Nam tại H� Nội, b� ta, tr�n hết, được trưng dẫn như �một gương mẫu đạo đức� [c� đạo đức], �c� hiếu�, một �biểu tượng của t�nh y�u nước đo�n kết� v� �c� c�ng với nước� [c�c tiếng Việt trong ngoặc k�p đ�ng theo nguy�n bản, ch� của người dịch].� Một trong c�c nỗ lực ch�nh của �ng Anh l� để tr�nh b�y rằng c�c th�nh vi�n của gia tộc �ng đ� vun trồng một �đặc t�nh d�n tộc� v� c�c truyền thống y�u nước cho nhiều thế hệ.� Mục đ�ch kh�c l� để chứng minh gi� trị lịch sử của ng�i đền nơi m� tổ mẫu của �ng được thờ phụng.� Theo chuyện kể của �ng, địa điểm đ� được biến cải từ một miếu nhỏ th�nh một ng�i đrền ch�nh danh bởi c�c th�nh vi�n của d�ng tộc họ Phạm v� một số d�n l�ng trong năm 1897.� �ng tin rằng ng�i đền, l�u hơn một trăm năm, xứng đ�ng xếp v�o hạng địa điểm di sản lịch sử.� �ng Anh, với sự trợ gi�p của nh� chức tr�ch địa phương, đi t�m kiếm sự gi�p đỡ của một sử gia nổi tiếng, �ng Trần Quốc Vượng, kẻ đ� b�y tỏ sự ủng hộ của �ng trong c�c bản văn thỉnh cầu v� c�n tham dự v�o cuộc lễ tưởng niệm ng�y giỗ thứ 359 của B� Roi trong năm 2004.

 

������ Tuy nhi�n, từ 2007, sự quan t�m của c�c vi�n chức địa phương v� c�c học giả đ� suy yếu.� Mặc d� kh�ng c� sự tranh luận li�n quan đến �ng Phạm Hữu Nhật, họ đ� dần dần r�t lại sự ủng hộ của m�nh d�nh cho B� Roi như một nữ anh h�ng địa phương v� ng�i đền của b� như một địa điểm tưởng niệm khi c�c sự ngập ngừng v� bất định xuất hiện li�n quan đến t�i liệu của �ng Anh.� Từ tối ng�y mười lăm sang ng�y mười s�u th�ng năm �m lịch năm 2007, t�i được mời tham dự buổi lề giỗ b� [ tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] h�ng năm, v� t�i nhận thấy n� khi�m tốn hơn rất nhiều so với buổi lễ ba năm trước đ�, về những điều t�i được nghe thấy.� Kh�ng c� quan kh�ch của tỉnh, v� t�i được đ�n tiếp nồng nhiệt như một nh� nghi�n cứu ngoại quốc bởi nh�m th�n nh�n họ Phạn.� Khi t�i n�i chuyện với c�c th�nh vi�n trong gia đ�nh, t�i kh�m ph� ra rằng họ c� c�c phi�n bản kh�c nhau, đ�i khi m�u thuẫn, về c�u chuyện.� Trong khi một số trong họ tuy�n bố b� bị chết trong khi đối đầu với hải tặc Trung Hoa, c�c người kh�c lập luận rằng b� đơn giản bị chết đuối ngo�i biển khi t�m bắt c�c con c� bị ngộp thở hay lượm rong biển.

 

������ C�c nỗ lực của �ng Anh v� sự quan t�m lớn lao đến gia đ�nh �ng ta về ph�a c�c nh�n vi�n địa phương, c�c nh� tr� thức, c�c k� giả, v� ngay cả đ�i truyền h�nh trong c�c năm trước đ�y được nh�n một c�ch kh�c biệt bởi d�n l�ng.� Một số trong họ cảm thấy thất vọng.� Th� dụ, �ng Ph�c tin rằng ng�i miếu tọa lạc trong vườn của �ng cũng xứng đ�ng nhận được sự c�ng nh�n của ch�nh phủ như một địa điểm lịch sử.� Ng�i đền, như trong trường hợp của B� Roi, để thờ linh hồn của một phụ nữ đ� bị chết thảm.� �ng đ� cố gắng thuyết phục t�i rằng người phụ nữ thuộc gia đ�nh ho�ng tộc, v� �ng hỏi l� liệu t�i c� thể can thiệp cho �ng với Sở Văn H�a Tỉnh tại Quảng Ng�i hay kh�ng.� �ng than thở rằng mọi gia phả li�n hệ c�ch n�o đ� đ� bị mất đi, v� �ng ta nghĩ t�i c� thể chứng thực cho c�c lời tuy�n x�c của �ng ta.� C�c người kh�c, chẳng hạn như d�ng tộc họ V� v� th�n nh�n của họ, một người trong đ� đang l�m một vi�n chức tại Quảng Ng�i, tỏ vẻ nghi ngờ về c�c sự tường thuật của d�ng tộc họ Phạm.� Khi t�i hỏi l� do tại sao họ lại qu� nghi ngờ đến thế, họ đưa ra một sự ph�c đ�p kh� hiểu rằng đ� c� c�c sự ngờ vực mạnh mẽ về sự ch�nh x�c v� ch�n thực trong gia phả họ Phạm li�n quan đến B� Roi, v� rằng ngay nh� chức tr�ch địa phương đ� phải x�t lại sự hiểu biết của họ về vấn đề n�y.

 

������ C�c d�n l�ng xem B� Roi như tổ mẫu của họ Phạm hơn l� một nữ anh h�ng địa phương phủ nhận rằng họ đ� đi đến ng�i đền của b� v� cầu nguyện.� D�n l�ng cũng đặt c�u hỏi về B� Roi đ� sống v�o hồi đầu thế kỷ thứ mười bảy, d� họ kh�ng c� g� để nghi ngờ rằng b� ta thực sự c� hiện hữu.� Họ tuy�n bố rằng �ng b� rất gi� l�o của họ c�n nhớ đến B� Roi khi họ c�n l� trẻ nhỏ.� Một th�nh vi�n d�ng tộc họ V� nghi ngờ rằng liệu đ� c� c�c hải tặc Trung Hoa hoạt động dọc bờ biển Nam Hải trong năm 1645 hay chưa � năm c� c�i chết được giả định của B� Roi.� Để x�c nhận c�c sự hồ nghi của m�nh, �ng ta dẫn t�i đến gặp trưởng tộc d�ng họ V�, người đ� cho t�i xem gia phả gia tộc họ trong đ� sự đề cập đầu ti�n đến hải tặc tr�n đảo v�o ni�n đại năm 1789 � 144 năm sau năm m� c�c t�i liệu họ Phạm n�u ra. 7 �T�i liệu được phi�n dịch từ tiếng H�n-N�m sang tiếng Việt v� được chuẩn nhận bởi Viện H�n N�m tại H� Nội.� C�c th�nh vi�n họ V� đưa cho t�i xem gia phả v� chỉ đoạn nơi m� t�i đọc được:

 

Cho tới ng�y 6 Th�ng Mười năm Kỷ Dậu (1789), khi mười lăm chiếc thuyền của hải tặc Trung Hoa cướp ph� v�ng n�y, cụ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (old man) đ� giữ mọi bản sao về c�c h�nh vi.� Mặc d� mọi bản sao ch�p c�c h�nh vi đều bị ướt nước v� r�ch n�t, cụ vẫn c�n đem ch�ng đi v� cất giữ ch�ng �

 

������ Họ phủ nhận phi�n bản của �ng Anh về c�i chết vang danh của B� Roi trong tay người T�u, tuy�n bố rằng, đ�ng ra, c�i chết v� tai nạn của b� ngo�i biển đ� xảy ra khi b� t�m nhặt rong biển.� Trong mắt họ, b� chỉ l� một hồn ma của một thiếu nữ c�n nhỏ tuổi v� kh�ng c� con, kẻ c� thể g�y ra một sự đe dọa đến sự may mắn của con ch�u nếu b� kh�ng được thờ phụng, v� kh�ng phải l� một nữ anh h�ng.� Hơn nữa, họ tin rằng c�c h�nh thức ri�ng của họ về bằng chứng cấu th�nh lịch sử gi� trị duy nhất c� thể th�ch đố c�c sự tường thuật v� gia phả của �ng Anh.

 

 

KẾT LUẬN

 

������ Sau hết, vấn đề kh�ng phải l� c�c sự tường thuật của �ng Anh c� đ�ng sự thực hay kh�ng, m� l� những c�u chuyện kể n�o của �ng l� về qu� khứ hay l� về hiện tại, v� l�m c�ch n�o m� qu� khứ đ� được hồi tưởng, bảo tồn, v� t�i dựng lại trong tr� nhớ người d�n.� Như ch�ng ta nh�n thấy, quan hệ giữa c�c quan niệm ch�nh thức của ch�nh phủ với c�i nh�n của người d�n th� phức tạp v� kh�ng h�m � sự ph�n c�ch của hai l�nh vực.� Ch�ng đan kết với nhau một c�ch chặt chẽ; người d�n đ�p ứng � thức hệ ch�nh trị của nh� nước, điều m� c�ng một l�c, gi�p họ hiểu biết v� t�i dựng k� ức của ch�nh họ. �

 

������ Trong khi b�i viết n�y l� một cuộc nghi�n cứu về sự tưởng niệm v� ch�nh trị của c�c sự tường thuật lịch sự, n� cũng t�m c�ch minh chứng rằng c�c quan niệm của nh� nước kh�ng đơn thuần đụng độ với c�i nh�n của d�n ch�ng, m� đ�ng hơn kich th�ch sự t�i x�y dựng k� ức của họ sao cho đ�ng được ưa th�ch hơn.� C�c quan chức địa phương thường đ�ng giữ một vai tr� quan yếu trong diễn tiến �sản xuất lịch sử� bởi họ l� th�nh vi�n của l�ng x� v� c�c th�n nh�n của nh�n vật n�o đ� (Trouillot 1995, trang 28).� Hơn nữa, bất kể c�c nỗ lực của họ để đi theo c�c chỉ thị về � thức hệ ch�nh thức, d�n ch�ng c� c�c thi�n kiến v� th�nh kiến c� nh�n ảnh hưởng đến tiến tr�nh kh�i phục c�c sự tưởng nhớ địa phương.� Trong m�a xu�n năm 2009, d�ng tộc họ Đặng, được khuyến kh�ch bởi nh� chức tr�ch cấp tỉnh, đ� tiết lộ sắc phong của triều đ�nh m� c�c th�nh vi�n của n� đ� bảo tồn trong gần hai thế kỷ.� T�i liệu đ� chiếu rọi �nh s�ng mới v�o qu� khứ của L� Sơn v� v�o c�c sự tuy�n x�c của Việt Nam về chủ quyền tr�n c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa.� C�c vi�n chức địa phương đ� dần tham gia trực tiếp v�o việc gi�p đỡ d�ng tộc họ Đặng t�i lập đền thờ của họ, v� cung cấp ng�n khoản cho việc tổ chức c�c nghi lễ truyền thống li�n quan đến c�c binh sĩ đội Ho�ng Sa. 8 �Điều n�y khiến ta nghĩ rằng c�c d�n l�ng cũng đ� bắt đầu đ�ng một vai tr� t�ch cực hơn, đến mức như họ đang đ�p ứng lại c�c sự tường thuật của nh� nước.� Song c�c th� dụ về c�c d�ng họ V� v� họ Phạm cho thấy rằng sự t�i tạo qu� khứ kh�ng phải l� một tiến tr�nh h�a b�nh l�m gia tăng sự đo�n kết địa phương hay d�n tộc m� l� một tiến tr�nh trong đ� c�c sự tranh chấp v� đối nghịch hiển hiện h�ng đầu, khi c�c nh�m v� c� nh�n kh�c biệt đối đầu với nhau về c�c k� ức v� c�c sự giải th�ch lịch sử c� thể chứng thực được.� Tuy nhi�n, sự đối đầu như thế được giới hạn v�o trong c�c l�nh vực c� biệt của c�c sự thương nghị, được định nghĩa bởi c�c s�ng kiến của cả địa phương lẫn nh� nước, trong khi c�c bộ phận kh�c của lịch sử cổ đại v� đương đại được giữ im lặng.

 

������ Tại L� Sơn, tương t�c đa diện giữa c�c ch�nh s�ch văn h�a hiện đại của nh� nước v� c�c phong tục cổ truyền l�m ph�t sinh một bố tr� đầy s�ng tạo của c�c sự đối diện với hồn ma của c�c kẻ đ� chết như c�c người l�nh của đội Ho�ng Sa hay chỉ như c�c thiếu nữ trẻ tuổi, chưa c� con.� �ng Anh đ� th�ch nghi c�c sự tường thuật của �ng với c�c luồng s�ng ch�nh thức v� đem lại cho ch�ng � nghĩa ri�ng của ch�ng.� �ng nhấn mạnh đến t�nh li�n tục với qu� khứ, vốn đ�ng một vai tr� quan trọng biết bao trong cuộc thảo luận của nh� nước.� Nhưng sự li�n tục, �ng nhấn mạnh, quy chiếu đến d�ng tộc của �ng, l�ng x� của �ng, h�n đảo của �ng.� Về mặt quan hệ huyết thống, �ng tr�nh b�y rằng �tinh thần c�ch mạng� c� ni�n đại l�i về đến nguồn gốc của gia tộc �ng v� đ� được duy tr� qua nhiều thế hệ.� C�c tổ ti�n của �ng tiến tới để ph�ng vệ Việt Nam bất kỳ khi n�o đất nước k�u gọi đến họ.� Hơn nữa, sự phục vụ tổ quốc kh�ng chỉ l� một vấn đề của nam ph�i; sự can đảm ngoại lệ cũng được ti�u biểu cho phụ nữ của gia tộc �ng Anh.

 

������ B� Roi, kẻ đ� cố gắng b�o nguy cho người cha về qu�n Trung Hoa v�, v�o một l�c nguy kịch, đ� chọn một c�i chết anh h�ng, c� thể được giải th�ch như một ẩn dụ của Việt Nam như l� một nạn nh�n lu�n lu�n phải ph�ng vệ chủ quyền v� nền độc lập của m�nh.� Trong c�u chuyện của m�nh, �ng Anh đ� sử dụng đến mưu đồ của Trung Hoa, tương tự như c�c sự căng thẳng giữa Trung Hoa v� Việt Nam v� cuộc đấu tranh của Việt Nam để chứng minh c�c tuy�n x�c của họ tr�n c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa.� C�c hải tặc Trung Hoa tượng trưng cho c�c kh�t vọng tham lam của Trung Hoa đối với đất đai Việt Nam.� Khi �ng Anh m� tả b� tổ mẫu của �ng như một nữ anh h�ng bất khuất �c� � thức bảo vệ h�n đảo y�u qu��, �ng ta n�i đến truyền thống nhiều thế kỷ của việc kh�ng cự chống ngoại x�m.

 

������ C�c nguồn t�i liệu bằng văn bản, chẳng hạn như t�i liệu v� vật kỷ niệm gia đ�nh, đ� đ�ng giữ một vị tr� trung t�m trong lập luận của �ng Anh v� cuộc đấu tranh của �ng tr�n k� ức.� Để chứng thực c�c h�nh thức kh�c biệt của bằng chứng v� cho c�u chuyện của m�nh, �ng đ� hậu thuẫn ch�ng bằng thẩm quyền của c�c nh� tr� thức đ� gi�p x�c định B� Roi kh�ng phải l� một hồn ma m� tr�n hết như một nữ anh thư địa phương.� Tuy nhi�n, c�c sự tường thuật của �ng đ� khơi dậy c�c sự phản b�c trong số nh�m th�n thuộc kh�c, bởi họ c� �k� ức được ghi ch�p v� chứng nhận� của ri�ng họ -- c� t�nh chất thuyết phục hơn bất kỳ sử gia, nhật b�o, hay t�i liệu n�o kh�c.� Do đ�, c�c cuộc đấu tranh m�nh liệt giữa hai d�ng tộc tượng trưng cho một k�ch thước kh�c trong tiến tr�nh phục hồi c�c k� ức địa phương.� Cả �ng Anh lẫn c�c th�nh vi�n của d�ng tộc họ V� đều t�m kiếm trước ti�n t�nh li�n tục địa phương v� d�ng tộc khi họ muốn vạch ra rằng c�c th�nh vi�n của gia tộc họ cũng như người d�n L� Sơn, mặc d� xa c�ch về kh�ng gian với đất liền, l�c n�o cũng g�p phần v�o việc ph�ng vệ d�n tộc.� T�nh li�n tục d�n tộc trở n�n c� � nghĩa đối với họ chỉ khi n�o được kết hợp với c�c sự quan t�m địa phương của họ.

 

������ Một mặt, sự ủng hộ ban đầu v� sự tự kiềm chế về sau của c�c vi�n chức địa phương trong việc bao gồm B� Roi v� ng�i đền thờ b� v�o dự �n tưởng niệm hải đội Ho�ng Sa cho thấy rằng nh� nước trung ương, đối diện với c�c cuộc thương nghị quốc tế v� địa phương, đang cố gắng để kiểm so�t v� định h�nh c�c sự tưởng niệm cũng như giữ ch�ng ở quy m� nhỏ.� C�c sự tưởng niệm n�y nhấn mạnh mối li�n hệ của nh� nước hiện đại với c�c nh� l�nh đạo vinh quang, với lịch sử của sự �kh�ng cự�, v� với cuộc đấu tranh cho chủ quyền v� nền độc lập của Việt Nam, hơn l� t�nh li�n tục của ch�ng với d�ng tộc, l�ng x�, hay h�n đảo.� Nh� nước, nhận biết được sức mạnh x� hội của c�c nghi thức tưởng niệm, đ� kh�ng cho ph�p c�c buổi lễ kỷ niệm h�ng năm d�nh cho c�c binh sĩ Ho�ng Sa v� Trường Sa được trở th�nh một buổi lễ quốc gia [in đậm để nhấn manh bởi người dịch].� Mặc kh�c, c�c nh�n vi�n địa phương c� một ảnh hưởng tr�n dự �n nh� nước.� Theo đuổi cả đường lối ch�nh trị ch�nh thức lẫn sở th�ch ri�ng của họ, họ đ� chủ � tuyển chọn c�c c�u chuyện truyền khẩu, ấn h�nh c�c b�i viết, tổ chức c�c hội nghị, v� chỉ định c�c nơi chốn, n�i chung, để kh�i phục v� t�i dựng qu� khứ xa xăm trong một phương c�ch đ�ng mong ước (xem Endres 2002).� C�c sự tưởng niệm nh� nước được giả định để t�n thờ tập thể những kẻ m� th�n x�c nằm rải r�c ở Biển Đ�ng [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (Eastern Sea), c�c kẻ m� t�n tuổi bị ch�m v�o qu�n l�ng trong khi l�ng can đảm v� t�nh anh h�ng của họ vẫn c�n đ�ng để ghi nhớ.� Tuy nhi�n, như ch�ng ta nh�n thấy, đối với những kẻ sống trong thời hiện tại, điều n�y chưa đủ.� Họ muốn rằng c�c hồn ma được chi�u gọi trở th�nh hiện th�n bằng m�u thịt của th�n nh�n của họ v� muốn t�n tuổi c�c tử sĩ đ� được khắc v�o bia đ� mu�n đời [in đậm để nhấn manh bởi người dịch]./- �����������������������

��

___

 

CH� TH�CH:

 

������ B�i viết n�y nguy�n thủy được tr�nh b�y tại hội nghị quốc tế về T�n Gi�o trong Ch�nh Trị Đ�ng Nam �: Sự Kh�ng Cự, Thương Thảo v� Trạng Th�i Si�u H�a (Religion in Southeast Asia Politics: Resistance, Negotiation and Transcendence), Viện Đ�ng Nam � Học (Institute of Southeast Asian Studies), Singapore, 11-12 Th�ng 12, 2008.� T�c giả xin c�m ơn Nathan Light về sự trợ gi�p của �ng trong việc khai triển b�i viết n�y trong giai đoạn sơ thảo.� T�c giả xin đưa ra sự c�m ơn đối với Markus Schlecker về c�c sự b�nh luận hữu �ch của �ng v�o l�c đ�.� T�c giả cũng đặc biệt ghi ơn Pascal Bourdeaux v� Kirsten Endres việc việc đọc gi�p phi�n bản sau n�y: b�i viết n�y đ� thu hoạch đ�ng kể từ c�c � kiến của họ.

 

������ Cuộc sưu tầm cho b�i viết n�y c� được l� nhờ sự hỗ trợ t�i ch�nh của Viện Max Planck Institute for Social Anthropology tại Halle, Đức Quốc, nơi t�c giả Edyta Roszko l� một ứng vi�n Tiến Sĩ.� T�c giả muốn ghi lại c�c sự biết ơn đặc biệt đối với Andrew Hardy v� Nguyễn Tiến Dong [?Đ�ng], c�c người m� sự trợ gi�p v� tr�nh độ chuy�n m�n trong l�nh vực c�ng c�c quan hệ tuyệt hảo với c�c vi�n chức địa phương thật qu� b�u cho dự �n.

 

1. Anh l� một biệt danh, như t�n của mọi c� nh�n, ngoại trừ c�c danh t�nh trong d�ng tộc v� của c�c nh�n vật lịch sử hay c�ng ch�ng hay biết.

 

2. Theo Nguyễn Dong [?] Vũ (2001; 2002), hải đội Ho�ng Sa đ� được th�nh lập bởi c�c ch�a Nguyễn v�o cuối thế kỷ thứ mười s�u hay đầu thế kỷ thứ mười bẩy.� Từ thế kỷ thứ mười bẩy qua thế kỷ thứ mười t�m v� thế kỷ thứ mười ch�n, triều đ�nh nh� Nguyễn tiếp tục thực hiện c�c hoạt động tại Ho�ng Sa.

 

3. Muốn c� một cuộc thảo luận về t�i liệu lịch sử với sự tham chiếu đến c�c đội t�u Ho�ng Sa v� Trường Sa, xem Nguyễn Nh� (1975).

 

4. Dian Murray (trong Hoyt 1994, trang 21) vạch ra rằng �kh�i niệm chủ quyền khi ph�n định thẩm quyền (ph�p định) ch�nh thống quanh kh�ng gian ch�nh trị v� thuộc l�nh thổ quốc gia như sự cai tri tr�n khoảng được x�c định bởi đồ thị h�nh học kh�ng phải l� c�c chức năng của vũ trụ quan Khổng học.� Trong khu�n khổ trật tự Khổng học, chủ quyền được định nghĩa một c�ch cụ thể hơn về mặt nơi cư tr� của con người v� sự tổ chức x� hội.� C�c nơi chốn kh�ng c� sự chiếm ngụ của con người được xem l� c�c v�ng bi�n cương nằm ngo�i văn minh, v�, v� thế, chỉ c� �t sự quan t�m.� Với chủ quyền đại dương hay sự nới d�i của thẩm quyền nh� nước tr�n c�c dải đất kh�ng người cư tr� tr�n biển cả đ�ng vai tr� nhỏ b� trong l� thuyết ch�nh trị Khổng học, c�c đảo ngo�i khơi, trống vắng v� kh�ng người ở, chưa bao giờ được s�p nhập với đầy đủ � nghĩa v�o đế quốc hoặc của Trung Hoa hay Việt Nam [sic]�; Murray (1987, trang 21) cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ thứ mười ch�n, vẫn c�n c� sự bất đồng giữa c�c nh� vẽ bản đồ về vị tr� ch�nh x�c của c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa, vốn được xem l� kh� nguy hiểm cho sự hải h�nh tr�n mặt biển.

 

5. Xem, Bộ Ngoại Giao Cộng H�a X� Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1981).

 

6. V�o l�c khởi đầu thế kỷ thứ mười bẩy, c�c di d�n đầu ti�n đến từ c�c l�ng trong đất liền, An Vĩnh v� An Hải gần hải cảng Sa Kỳ, tỉnh Quảng Ng�i, đ� ph�n chia đất đai với nhau, th�nh lập c�c l�ng mới v� tranh đấu để kiếm sống từ mặt đất c�t.� Theo gia tộc họ Phạm, sự việc n�y xẩy ra trong năm 1609.� Muốn c� th�m chi tiết về vị tr� của hai l�ng, xem Ng� Đức Thọ v� Nguyễn Văn Nguy�n [?] (2006).

 

7. Ch�ng t�i c� qu� �t bằng cớ để chứng thực c�c ni�n gi�m phả hệ gia tộc họ Phạm hay để chứng minh c�c điểm nghi ngờ về gia tộc họ V�.� Tuy nhi�n, Murray (1987) x�c nhận rằng nạn hải tặc chỉ xuất hiện tại Biển Nam Hải (South China Sea) v�o cuối thế kỷ thứ mười t�m.� Trong năm 1773, Cuộc Nổi Dậy của T�y Sơn đ� thiết lập sự cai trị của n� tại c�c tỉnh Quảng Nam, Quảng Ng�i, v� B�nh Định, v� đ� tuyển mộ qu�n hải tặc Trung Hoa, c�c kẻ ủng hộ qu�n nổi đậy Việt Nam [T�y Sơn].� V�o thời điểm đ� họ c� thể đ� hoạt động tr�n c�c đảo ngo�i khơi của khu vực n�y.

 

8. Viet Nam Net Bridge, 19 April v� 6 May 2009.

 

---

 

T�I LIỆU THAM KHẢO:

 

Anagnost, Ann S.� �The Politics of Ritual Displacement�.� Trong quyển Asian Visions of Authority: Religion and the Modern States of East and Southeast Asia, bi�n tập bởi Charles F. Keyes, Layrel Kendall, v� Helen Hardacre.� Honolulu: University of Hawai�i Press, 1994.

 

Boudarel, Georges, �L�insertion du pouvoir central dans les cultes villageois au Vietnam: esquisse des problemes � partir des �crits de Ng� Tất Tố�.� Trong quyển Cultes populaires et soci�t�tes asiatiques: Appareils culturels et appareils de pouvoir, bi�n tập bởi Alan Forest, Yoshiaki Ishizawa, v� leon Vandermeersch.� Tokyo: Centre National de la Recherche Scientifique, l�Universit� Paris, l�Institute of Asian Cultures, l�Universit� Sphia, 1991.

 

Connerton, Paul.� How Societies Remember.� Cambridge: Cambridge University Press, 1999.

 

Đặng Nghi�m Vạn.� Ethnological and Religious Problems in Vietnam.� Hanoi: Social Sciences Publishing House, 1998.

 

DiGregorio v� Salemink.� �Living eith the Dead: The Politics of Ritual and Remembrance in Contemporary Vietnam�.� Journal of Southeast Asian Studies 38, no. 3 (October 2007).

 

DiGregorio, Michael.� �Things held in Common: Memory, Space and the Reconstitution of Community Life�.� Journal of Southeast Asian Studies 38, no. 3 (October 2007).

 

Đỗ, Thien [?].� Vietnamese Supernaturalism: Views from the Southern Region.� London: Routledge Curzon, 2003.

 

Endres, Kirsten.� �Local Dynamics of Renegotiating Ritual Space in Northern Vietnam: The Case of the Dinh [�nh?].� SOJOURN: Journal of Social Issues in Southeast Asia 16, no. 1 (2001).

 

Endres, Kirsten.� �Beautiful Customs, Worthy Traditions: Changing State Discourse on the Role of Vietnamese Culture�.� International Asienforum 33, nos. 3-4 (2002).

 

Evans, Grant.� The Politics of Ritual and Remembrance: Laos Sine 1975.� Honolulu: University of Hawai�i Press, 1998. �

 

H�n Nguy�n, �Những sử liệu chữ H�n minh chứng chủ quyền của Việt Nam tr�n Quần Đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa qua nhiều thế kỷ [Some historical documents written in Chinese characters prove sovereignty of Vietnam over the Paracel and Spartly Archipelagos over many centuries]�.� Sử Địa 29, Th�ng 1- Th�ng 3 (1975).

 

Hồ T�i, Huệ T�m.� �Monumental Ambiguity: The State Commemoration of Ho Chi Minh�.� Trong quyển Essays into Vietnamese Past, bi�n tập bởi K. W. Taylor.� Ithaca: Cornell University, 1995.

 

H� T�i, Huệ T�m, bi�n t�p.� The Country of Memory: Remaking the Past in Late Socialist Vietnam.� Berkeley: University of California Press, 2001.

 

Hồ T�i, Huệ T�m v� L� Hồng L�.� �The Revenge of the Object: Villagers and Ethnographers on Dong ky [? Đồng Kỵ] Village�.� Asian Ethnology 67, no. 2 (2008).

 

Hoyt, Mark A.� �Sino-Vietnamese Interests Collide in the South China Sea: A Case Study of the Disputed Paracel and Spratly Archipelagos�, Luận �n Cao Học, University of Hawai�i, 1994.

 

Kendall, Laurel.� �The Cultural Politics of �superstition� in the Korean Shaman World: Modernity Constructs its Other�.� Trong quyển Healing Powers and Modernity: Traditional Medicine, Shamanism and Science in Asian Societies, bi�n tập bởi Linda H. Connor v� Geoffrey Samuel.� Westport, CT.: Greenwood Publishing, 2001.

 

Kertzer, David.� Ritual, Politics and Power.� New Haven, CT.: Yale University Press, 1988.

 

Keyes, Charles F.� �National Heroine or Local Spirit? The Struggle over Memory in the Case of Thao Suranari of Nakhon Ratchasima�.� Trong quyển Cultural Crisis and Social Memory: Modernity and Identity in Thailand and Laos, bi�n tập bởi Tanabe Shigeharu v� Charles F. Keyes.� London: RoutledgeCurzon, 2002.

 

Kwon, Heonik.� After the Massacre: Commemoration and Consolation in Ha My [?] and Mỹ Lai.� Berkeley: University of California Press, 2006.

 

Kwon, Heonik.� Ghosts of War in Vietnam.� Cambridge: Cambridge University Press, 2009.

 

L�ng Hồ.� �Ho�ng Sa v� Trường Sa, L�nh Thổ Việt Nam [The Paracel and Spratly � Vietnamese Territory]�.� Sử Địa 29, Th�ng 1- Th�ng 3 (1975).

 

L� Qu� Đ�n.� Phủ Bi�n Tạp Lục [A compilation of the miscellaneous records when the southern border was pacified], vol. 1, S�ig�n: Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Tr�h Văn H�a, 1972.

 

Lương Văn Hỷ.� Revolution in the Village: Tradition and Transformation in North Vietnam, 1925-1988.� Honolulu: University of Hawai�I Press, 1992.

 

Malarney, Shaun Kingsey.� �The Fatherland Remembers Your Sacrifice�s: Commemorating War Đea in North Vietnam�.� Trong quyển The Country of Memory: Remaking the Past in Late Socialist Vietnam, bi�n tập bởi Huệ T�m Hồ T�i, Berkeley: University of California Press, 2001.

 

Malarney, Shaun Kingsey.� Culture, Ritual and Revolution in Vietnam.� London: RoutledgeCurzon, 2002.

 

Malarney, Shaun Kingsey.� �Festivals and the Dynamics of the Exceptional Dead in Northern Vietnam�.� Journal of Southeast Asian Studies 38, no. 8 (October 2007).

 

Ministry of Foreign Affairs, Socialist Republic of Vietnam.� �The Hoang Sa and Truong Sa Archipelagos Vietnamese Territories� http://www.megaauplpad.com/?d=AK3FNVNN (tiếp cận ng�y 21 May 2009).

 

Murray, Dian H.� Pirates of the South China Sea 1790-1810.� Stanford: Stanford University Press.� 1987.

 

Ng� Đức Thịnh.� T�n ngưỡng v� văn h�a t�n ngưỡng ở Việt Nam [Beliefs and religious culture in Vietnam].� H� Nội: Nh� xuất bản Khoa học x� hội, 2001.

 

Ng� Đức Thọ v� Nguyễn Văn Nguy�n [?].� Quốc Sử Qu�n Triều Nguyễn: Đồng Kh�nh Địa Dư Ch�, tỉnh Quảng Ng�i [National history [?] of the Nguyễn Dynasty: Đồng Kh�nh�s geography of the country, Quảng Ng�i Province].� Quảng Ng�i: Viện Nghi�n Cứu H�n N�m [Institute of H�n N�m Language], 2006.

 

Nguyễn Đăng Vũ [?].� �Từ việc x�c lập nguồn gốc đội Ho�ng Sa nghĩ về việc t�n tạo c�c di t�ch li�n quan tr�n đất Quảng Ng�i [On the establishment of the origin of Hoang Sa army: Deliberations on the preservation of various historical sites connected with the Quảng Ng�i area]�.� Tạp Ch� Văn H�a Nghệ Thuật 11 (2001).

 

Nguyễn Đăng Vũ [?].� �Lễ khảo lề thế l�nh Ho�ng Sa [?] [ Customary ceremony of replacing a former soldier with a new recruit]�.� Tạp Ch� Nghi�n Cứu Đ�ng Nam � 5 (2002).

 

Nguyễn Nh�.� �Đặc khảo về Ho�ng Sa v� Trường Sa� [Solid research [? một th� dụ về sự phi�n dịch �cẩu thả� hay bằng �m�y�; phải được dịch l� monograph, ch� của người dịch] on the Paracel and Spratly], Sử Địa 29, Th�ng 1- Th�ng 3 (1975).

 

Nguyễn Quang Ngọc v� Vũ Văn Quan [?], �Tư liệu về nguồn gốc, chức năng v� hoạt động của đội Ho�ng Sa� [Document on the origin, tasks and activities of the Paracel team].� Tạp Ch� Khoa Học Đại Học Quốc Gia H� Nội 14, no. 3, (1998).

 

Pelley, Patricia M.� Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past.� Durham: Duke University Press, 2002.

 

Phạm Quỳnh Phương.� Hero and Deity: Trần Hưng Đạo and the Resurgence of Popular Religion in Vietnam.� Bangkok: Mekong Press, 2009.

 

Poon, Shuk-Wah.� �Refashioning Festivals in Republican Guangzhou�.� Modern China 30, no. 2 (April 2004).

 

Poon, Shuk-Wah.� �Religion, Modernity, and Urban Space: The City God Temple in Republican Guangzhou�, Modern China 43, no. 2 (April 2008).

 

Siu, Helen F.� �Recycling Rituals: Politics and Popular Culture in Contemporary Rural China�.� Trong quyển Unofficial China: Popular Culture and Thought in the People�s Republic, bi�n tập bởi Perry Link, Richard Madsen, v� Paul G. Pickowicz.� Boulder: Westview Press, 1989.

 

Taylor, Philip.� Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam. Honolulu: University of Hawai�I Press, 2004.

 

Trần Thế Đức v� Nguyễn Văn Hường [? v� c�c t�c giả kh�c], �Thư Mục Ch� Giải Về Ho�ng Sa� [An annotated bibliography on Paracel], Sử Địa 29, Th�ng 1-Th�ng 3, 1975.

 

Trouillot, Michael Rolph.� Silencing the Past: Power and the Production of Historỵ� Boston: Beacon Press, 1995.

 

UBND Tỉnh Quảng Ng�i v� Sở Văn H�a Th�ng Tin, B�o c�o của Sở VHTT Quảng Ng�i về việc x�y dựng t�n tạo khu di t�ch Ho�ng Sa � Trường Sa tr�n huyện đảo L� Sơn [Report of the Office of Culture and Information of Quảng Ng�i on reconstructing and embellishment of a zone [?] of the Paracel � Spratly on Ly Son Island].� Quảng Ng�i, 2001.

 

Viet Nam Net Bridge, �Islander Honour the Sacrifice of Ancient Sailors Lost at Sea� http://english.vietnamnet.vn/reports/2009/04/842823 (tiếp cận ng�y 20 Th�ng Tư, 2009).

 

Viet Nam Net Bridge, �Royal ordinance on Hoang Sa Proposed for National Recognition� http://english.vietnamnet.vn/politics/2009/05/846025 (tiếp cận ng�y 24 Th�ng S�u, 2009).

 

Watson, James L.� �Standardising the God�.� Trong quyển Popular Culture in Late Imperial China, bi�n tập bởi David Johnson, Andrew J. Nathan, v� Evelyn S. Rawski.� Taipei: SMC Publishing, 1985.

Wolf, Arthur P.� �Gods, Ghosts, and Ancestors�.� Trong quyển Religion and Ritual in Chinese Society, bi�n tập bởi Arthur P. Wolf.� Stanford: Stanford University, 1974.

 

Wolters, Oliver W.� Two Essays on Đại Việt in the Fourteenth Century.� New Haven, CY.: Council of Southeast Asian Studies, Yale Centre for International and Area Studies, 1988.

 

Yang, C. K.� Religion in Chinese Society.� Berkeley: University of California Press, 1967.

 

---

 

Edyra Roszko l� một dự tuyển Tiến Sĩ tại Viện Max Planck, Leipzig, Đức Quốc.

 

_____

 

Nguồn: Edyta Roszko, Commemoration and the State: Memory and Legitimacy in Vietnam, SOJOURN: Journal of Social Issues in Southeast Asia, Vol. 25, no. 1 (2010), c�c trang 1-28.

 

_____

 

 

 

PHỤ LỤC

 

VỀ LỄ KHAO LỀ THẾ L�NH HO�NG SA V� ĐỘI TRƯỞNG PHẠM HỮU NHẬT:

(bấm v�o đ�y đọc t�i liệu)
http://mobi.vietbao.vn/Phong-su/Ky-uc-Hoang-Sa/40235416/264/

 

Nguồn; Việt B�o Online, Chủ nhật, 23 Th�ng mười hai 2007, 15:31 GMT+7, trich đăng b�i của V� Kim Ng�n � Nguyễn T� của tờ Người Lao Động, Việt Nam

 

 

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

14/2/2011  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2011