Milton E Osborne

GI�O DỤC v� CHỮ QUỐC NGỮ

Một Sự Chiến Thắng Hạn Chế

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

Dưới đ�y l� bản dịch của hai Chương trong quyển khảo cứu nổi tiếng của t�c giả Milton E. Osborne, nhan đề The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), thảo luận về vai tr� v� ảnh hưởng của Quốc Ngữ trong giai đoạn ban đầu của sự hiện di�n của Ph�p tại Việt nam, sẽ lần lượt được đăng tải tr�n Gi� O:

 

Chương 4: Gi�o Dục v� Chữ Quốc Ngữ -- Sự Ph�t Triển Một Trật Tự Mới (bấm v�o đ�y đọc)

Chương 8: Gi�o Dục v� Quốc Ngữ -- Một Sự Chiến Thắng Hạn Chế

 

***

 

 

V�o khoảng thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ hai mươi, c�c nỗ lực bền bỉ của ch�nh quyền Ph�p tại Nam Kỳ để thiết lập một chương tr�nh gi�o dục hữu hiệu, sau hết, đ� mang lại một v�i sự th�nh c�ng.� P�trus K� đ� nh�n quốc ngữ như một phương c�ch chắc chắn để giải ph�ng xứ sở của �ng ra khỏi c�c g�ng c�m của qu� khứ.� Trong khoảng đầu thế kỷ thứ hai mươi, nhiều người đ� chia sẻ quan điểm của �ng v� đ� nh�n định mệnh của Nam Kỳ l� được nối kết với nước Ph�p.� Sự giải tho�t m� nhiều kẻ kh�c đ� trải qua dẫn họ đến việc t�m kiếm một mục đ�ch rất kh�c biệt.� Sự hợp l� của sự giao tiếp thực d�n tại Nam Kỳ bảo dảm rằng c�c kẻ khởi xướng đầu ti�n của tư tương d�n tộc chủ nghĩa t�n tiến đặc biệt ph�t sinh từ nh�m nhỏ c�c người Việt Nam c� thể sử dụng quốc ngữ v� tiếng Ph�p.� T�c động của gi�o dục hiện đại đ� c� một ảnh hưởng mạnh mẽ tr�n Việt Nam v�o c�c thập ni�n 1920 v� 1930.� Trong cả hai thập ni�n đ� v� trước đ� nữa, việc t�m c�ch thay đổi tại Nam Kỳ đ� được l�nh đạo, trong phần lớn, bởi c�c người đ� trải qua nền gi�o dục do người Ph�p chỉ huy.� Hệ thống gi�o dục n�y, ng�y c�ng gia tăng nhiều hơn trong những năm sau năm 1879, đ� nhấn mạnh đến phẩm chất tr�n số lượng.

 

Khuynh hướng n�y đ� hiện hữu kh�ng c� nghĩa rằng tất cả hy vọng về sự biến đổi quy m� quảng đại quần ch�ng Việt Nam th�nh c�c thần d�n n�i tiếng Ph�p đ� tan biến mất.� C�c sự ước lượng th�i qu� cũng kh�ng ho�n to�n bị loại trừ. Điều được biểu hiện l� c�c sự thất bại trong qu� khứ đ� mang lại một mức độ ngờ vực n�o đ� đối với c�c th�nh vi�n của ch�nh quyền; c�c lời tuy�n bố về sự th�nh c�ng thường bị phản b�c bởi c�c sự lượng định dựa tr�n thực tế khắc nghiệt. Đ� c� sự tr�ng cậy nhiều hơn nơi c�c gi�o chức người Ph�p tại Nam Kỳ một khi giai đoạn cai trị d�n sự đ� bắt đầu, v� c�c học tr� Việt Nam được gửi sang c�c dịnh chế gi�o dục tại Ph�p v� Algeria, mặc d� với số lượng �t hơn, nhưng đ� lưu tr� l�u hơn v� đ� thu gặt được nhiều sự th�nh c�ng hơn so với những người đ� được gửi đi theo c�c chương tr�nh xấu số thuộc giai đoạn sớm hơn.

 

Đ� c� nhiều sự thay đổi về chi tiết trong sự tổ chức hệ thống gi�o dục tại Nam Kỳ trong thời khoảng từ 1879 đến 1905.� Tuy nhi�n, một số kh�a cạnh cốt yếu vẫn được giữ nguy�n trong suốt thời kỳ n�y.� Ch�nh quyền đ� nh�n nhận t�nh bất khả của việc cung cấp c�c học sinh c� khả năng cho c�c trường cao cấp hơn tại S�ig�n m� kh�ng phải trải qua gi�o dục bậc tiểu học. X�y dựng tr�n sự t�i tổ chức năm 1874, c�c giới chức thẩm quyền đ� cố gắng chuyển học sinh qua hai mức độ. Gi�o dục trước khi ch�ng khởi sự c�c lớp học tại S�ig�n.� Tr�nh độ gi�o dục tại S�ig�n được mang nhiều m� tả kh�c nhau.� Đ�i khi n� được gọi l� bậc trung học, nhưng t�nh chất của n� l� gi�o dục bậc sơ học ti�n tiến.� Một c�ch l� tưởng, một thanh ni�n Việt Nam sẽ gia nhập trường Cao Đẳng Coll�ge Chasseloup-Laubat sau khi vượt qua được một trường cấp tổng v� sau đ� một trường ở cấp quận [arrondissement, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, để chỉ đơn vị h�nh ch�nh cấp quận hay huyện, ch� của người dịch] trong đ� c�c giảng kh�a vừa bằng quốc ngữ lẫn tiếng Ph�p đều được đặt dưới sự gi�m s�t tổng qu�t của một gi�o vi�n người Ph�p.� Một khi l�n được tới S�ig�n, một học sinh sẽ nhận được phần lớn sự giảng dạy bằng tiếng Ph�p (1).

 

C�ng với c�c trường nh� nước l� c�c trường học ở l�ng x� �t bị gi�m s�t một c�ch cẩn thận hơn. C�c trường h�ng tổng nằm ở giữa.� C�c ng�n khoản để bảo dưỡng ch�ng được cung cấp kh�ng phải bởi c�c thẩm quyền trung ương, m� bởi ng�n s�ch của quận (arrondissement). Điều được giả định l� phải c� một mức độ gi�m thị n�o đ� tr�n c�c giảng kh�a được dạy tại c�c trường học n�y, nhưng sự b�nh luận về ch�ng cho thấy r� r�ng rằng sự gi�m thị n�y n�y hiếm khi được thi h�nh trong bất kỳ một cung c�ch thường lệ n�o.� Sự giảng dạy ở c�c trường cấp l�ng x� l� bằng quốc ngữ v� chữ nho (H�n tự).� Sự xung khắc của Ph�p đối với chữ nho đ� kh�ng biến mất, nhưng ch�nh quyền nh�n nhận nhu cầu cần c� c�c th�ng dịch vi�n, khi x�t đến sự sử dụng tiếp tục chữ nho bởi c�c th�nh phần gi� cả hơn trong d�n ch�ng.� Tuy nhi�n, khi m� sự sử dung chữ nho v� số học giả cung ứng để giảng dạy ch�ng ng�y c�ng giảm s�t, c�c t�n t�ch của học thuật cồ truyền dần d� phai nhạt.

 

Trong thập ni�n t�m mươi, sự miễn cưỡng của d�n ch�ng Việt Nam tại v�ng n�ng th�n để gửi con em họ đến c�c trường giảng dạy bằng quốc ngữ vẫn c�n dai dẳng.� Mặc d� gi�m đốc gi�o dục c� tuy�n bố trong năm 1882 rằng kh�ng c�n cần thiết để bắt buộc cha mẹ phải gửi con em họ nữa (2), c�c nh� b�nh luận kh�c đ� kh�ng thừa nhận sự x�c quyết của �ng ta.� Chủ tịch một ủy ban được thiết lập trong năm 1884 để cứu x�t việc t�i tổ chức gi�o dục tại thuộc địa đ� c� một quan điểm ho�n to�n kh�c biệt:

 

Nh�n chung, người An Nam vẫn chưa hiểu được tầm quan trọng của gi�o dục; tầng lớp người An Nam gi�u c�, c� học kh�ng nh�n thấy đ�u l� sự hữu dụng m� n� c� thể tao ra được cho người d�n [chữ Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] c� số mệnh l�m lụng suốt đời tr�n đồng �ng; v� sự thay thế bằng mẫu tự La tinh cho chữ H�n c�n l�u mới được chấp nhận một c�ch phổ qu�t. (3)

 

Hơn nữa, tr�nh độ giảng dạy, đặc biệt l� tại c�c trường học cấp tổng, h�y c�n rất thấp.� Khi Thống Đốc Filippini b�o c�o điều n�y trong năm 1887, �ng quy tr�ch sự kiện n�y cho sự thất bại của ch�nh quyền thuộc địa trong việc đưa ra một nỗ lực quả quyết để truyền b� sự sử dụng Ph�p ngữ.� Bất kể đến nhiều nỗ lực kh�c nhau, �điều phải thừa nhận rằng nền gi�o dục hiếm khi tạo ra được bất kỳ sự tiến bộ n�o.� (4)

 

C�c � kiến của To�n Quyền Richaud, trong năm kế tiếp, kh�ng c� g� lạc quan hơn, nhưng ch�ng đ� đưa ra nhiều chi tiết hơn về c�c l� do cho việc tiếp tục chỉ c� sự tiến bộ chậm chạp.� C�c nhận x�t của �ng cũng đề cập đến một trong những sự thất bại nền tảng trong chương tr�nh gi�o dục của Ph�p tại Nam Kỳ.� Kh�ng c� g� nghi ngờ rằng trong � nghĩ của Richaud, �nền gi�o dục như ch�ng ta mang đến cho người d�n bản xứ kh�ng li�n hệ đến bất kỳ nhu cầu n�o của họ.� (5)

 

Ch�ng ta lấy c�c trẻ em khỏi l�ng x� của ch�ng ở tuổi từ t�m đến mười tuổi; ch�ng ta gửi ch�ng đến c�c trường h�ng tổng của ch�ng ta, từ đ� ch�ng ra trường sau khi học việc đ�nh vần một c�ch đầy kh� nhọc �t h�ng chữ từ tờ Gia Định B�o.

 

Sự gi�o dục của c�c đứa trẻ n�y hiếm khi n�o đi xa hơn thế.

 

Ch�ng kh�ng thu đạt được bất kỳ kh�i niệm n�o về đạo đức, hay về nền gi�o dục đặc biệt vốn được k�nh trọng biết bao bởi người An Nam.

 

Đa số quay trở về l�ng của ch�ng sau khi đ� mất một hay hai năm trong cung c�ch n�y v� mang lại cho gia đ�nh của ch�ng, xuy�n qua c�i vẻ tự m�n v� sự ngu dốt m� ch�ng biểu lộ, một h�nh ảnh đ�ng buồn về hệ thống giảng dạy c�ng cộng của ch�ng ta.� Lại nữa, ch�ng ta thường nh�n thấy xảy ra việc m� Luro đ� ghi nhận mười lăm năm trước đ�y: c�c cha mẹ đ� gửi con em họ trở lại c�c trường dạy chữ nho sau khi ch�ng rời c�c trường học của người Ph�p ch�ng ta. (6)

 

Sự thừa nhận của Richaud rằng nền gi�o dục do Ph�p bảo trợ kh�ng đ�p ứng c�c nhu cầu của d�n ch�ng Việt Nam đ� l� một sự giải th�ch căn bản cho những vấn đế của nh� cầm quyền.� Song, ngay v�o l�c �ng ta đưa ra sự nhận x�t n�y, nhiều yếu tố đ� t�c động để chứng thực cho sự lượng định của �ng.� Gi�o dục của Ph�p cung cấp một con đường tiến v�o nền h�nh ch�nh thuộc địa.� Trong thực tế, với �t ngoại lệ, kh�ng c� chỗ cho những người Việt Nam kh�ng sử dụng quốc ngữ, ở mức tối thiểu.� Trừ khi một gia đ�nh Việt Nam gi�u c� đủ để gạt bỏ vấn đề c�ng ăn việc l�m, lối đi xuy�n qua hệ thống gi�o dục c�ng lập đ� cung cấp một con đường chắc chắn nhất để kiếm được một c�ng việc v� số thu nhập cho những người mong muốn nhiều hơn một cuộc đời sống bằng nghề n�ng.� Sự giảng dạy nhấn mạnh đến đạo đức c� thể vẫn c�n được ngưỡng mộ, nhưng c�c sự cứu x�t thực tế đ� đặt ra c�c đ�i hỏi mạnh hơn.� C�c số thống k� cung cấp về gi�o dục tại thuộc địa thường kh�ng thỏa đ�ng, nhưng xem ra kh�ng c� l� do để thắc mắc về sự sụt giảm mau lẹ số c�c trường học dạy Hoa ngữ v�o l�c tiến đến cuối thế kỷ. (7)

 

Đ� đủ thời gian tr�i qua kể từ khi nền tảng của thuộc địa d�nh cho con em của một khối lượng gia tăng c�c nh�n vi�n Việt Nam trong ch�nh quyền Ph�p để đ�i hỏi [tr�nh độ] gi�o dục.� Nhiều cha mẹ sẵn l�ng cho con em họ tham dự v�o một nền gi�o dục tại c�c trường học kh�ng c� c�c sự nối kết với qu� khứ của chữ nho v� c�c l� tưởng Khổng học.� C�c giới chức thẩm quyền Ph�p đ� cung cấp c�c học bổng cho c�c học tr� Việt Nam tại nhiều định chế cao cấp hơn tại S�ig�n, v� những học bổng n�y đ� được t�m kiếm, một c�ch th�nh c�ng, bởi c�c cha mẹ l� những người l�m việc cho ch�nh quyền. (8)

 

C�c người Việt Nam theo học ở hải ngoại cũng đ� g�p phần v�o việc x�i m�n sự kh�ng cự chống lại c�c h�nh thức mới của nền gi�o dục.� Giống như c�c học tr� theo học tại c�c trường thuộc địa với ph� tổn đ�i thọ bởi ch�nh quyền, ch�ng thường l� con em của c�c nh�n vi�n Việt Nam trong ch�nh quyền Ph�p.(9)� Số lượng hạn chế c�c người Việt Nam từ Nam Kỳ theo học Trường Thuộc Địa (�cole Coloniale) tại Paris c� vẻ l� một ngoại lệ của nguy�n tắc n�y.(10)� C�c lời cam kết trung th�nh từ s�u học sinh Việt Nam tại một trường trung học (lyc�e) ở Algiers c� thể đ� kh�ng phản ảnh sự cứu x�t ch�n chắn về c�c quan hệ giữa người Việt Nam tại Nam Kỳ với nước Ph�p.� Nhưng khi c�c thanh ni�n Việt Nam n�y đ� viết về ước muốn của họ để t�m biết về �đất Ph�p, sự phong ph� của n� v� ph�t biểu rằng đ�y đ� từng l� �giấc mơ kể từ khi ch�ng t�i bắt đầu đ�nh vần chữ nước Ph�p khi ngồi tr�n băng ghế của trường tiểu học� (11) ch�ng chắc hẳn đ� l�m một cắt đứt quan trọng với qu� khứ.

 

Sự ph� b�nh của Richaud về c�c trường học cấp l�ng x� v� cấp tổng phần lớn đ� vạch ra điều đ�.� Lời ph�t biểu của �ng rằng c�c gi�o vi�n tại c�c trường cấp dưới n�y thường được r�t ra từ h�ng ngũ �gia nh�n� (boys) v� �đầu bếp� (cooks) l� những kẻ đ� học được dăm chữ Ph�p trong c�ng việc phục dịch trong nh� l� một lờI x�c quyết c� gi� trị.� Tuy thế, sự kết hợp quyết t�m của Ph�p nhằm ghi khắc một hệ thống giao dục mới v� sự tan biến chậm chạp c�c th�y dạy chữ nho, trong một t�nh huống đ� kh�ng mang lại chỗ đứng cũng như danh gi� ch�nh thức cho c�c nỗ lực của họ, đ� c� ảnh hưởng của n�.� Sự kiện rằng �ng B�i Quang Chi�u tốt nghiệp như một kỹ sư canh n�ng vớI đầy đủ c�c điều ki�n học vấn trước cuối thế kỷ đ� chứng nhận cho điều n�y.� Sự nhập học của một trong những đứa con trai của �ng Đỗ Hữu Phương v�o trường St. Cyr [trường v� bị cao cấp v� danh tiếng của Ph�p, ch� của người dịch] cũng l� một sự việc tương tự.� Bất kể c�c sự nghi kỵ về c�c hậu quả x� hội của việc một người Việt Nam hội đủ điều kiện để được phong l�m B�c Sĩ, Hội Đồng Thuộc Địa đ� cung cấp c�c ng�n khoản để cho ph�p một người Việt Nam theo học y khoa tại Ph�p trong năm 1901.(12)� Số lượng người Việt Nam ho�n tất việc học của họ tại Algiers v� tại Ph�p v� trong c�c định chế trung học ở thuộc địa v�o khoảng thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mươi th� kh�ng nhiều.� Tuy nhi�n, n� l� một sự biểu lộ quan trọng rằng, với tất cả cac khuyết điểm của n�, hệ thống mới đ� cung cấp một sự thay thế cho hệ thống cổ truyền.

 

Ngo�i ra, cũng c� một số sự khởi sự mới.� Sự bất m�n k�o d�i về phẩm chất của việc giảng dạy tiếng Việt tại c�c trường h�ng tổng đ� đưa đến việc th�nh lập một trường cao đẳng huấn luyện gi�o vi�n.� Định chế được chấp thuận trong năm 1895 v� hiển nhi�n đ� khởi sự hoạt động tức thời, bởi n� được cho hay đ� ở v�o năm thứ nh� v�o năm 1897.(13)� V�o những năm kết th�c thế kỷ thứ mười ch�n, c�c trường huấn nghệ đầu ti�n để huấn luyện c�c tay thợ l�nh nghề Việt Nam cũng đ� được thiết lập dưới sự kiểm so�t của ch�nh quyền.(14)� Đ� c� sự đa trạng h�a trong chương tr�nh gi�o dục ti�n tiến hơn d�nh cho c�c học sinh Việt Nam tại S�ig�n.� Một số hạn chế c�c người Việt Nam nhập tịch [Ph�p] đ� nhận được một nền gi�o dục ho�n to�n Ph�p tại trường Cao Đẳng Coll�ge Chasseloup-Laubat, v� tai Trường Sư Phạm (�cole Normale) v� trường Cao Đẳng (Coll�ge) ở Mỹ Tho.� V�o năm 1904, đ� c� hơn s�u trăm người Việt Nam theo học c�c trường của ch�nh phủ b�n tr�n cấp quận (arrondissement) hay, như ch�ng giờ đ�y được gọi, l� c�c trường cấp tỉnh (provincial schools).� Hơn bốn trăm người Việt đ� theo học tại c�c trường được duy tr� bởi c�c th�nh phố S�ig�n v� Chợ Lớn. Đ� c� 4,000 học tr� Việt Nam tại c�c trường cấp tỉnh, hơn 12,000 tại c�c trường h�ng tổng, v� khoảng 9,500 học tr� tại c�c trường học được duy tr� bởi Gi�o Hội C�ng Gi�o v� c�c l�ng x� Việt Nam. (15)

 

Cần phảI đưa ra ngay một sự d� dặt rằng c�c con số ghi nhận về việc theo học tại một định chế c� biệt thường tượng trưng cho sĩ số tối đa.� Đặc biệt đối với c�c trường h�ng tỉnh v� h�ng tổng, c� � kiến cho rằng sự theo học th� bất thường v� đ� đưa đến việc giảng dạy rất k�m hiệu quả.� Sự huấn luyện k�m cỏi c�c gi�o vi�n thường được tr�ch dẫn trong cuộc nghi�n cứu n�y.� Một th�nh vi�n Việt Nam trong Hội Đồng Thuộc Địa đ� tin tưởng trong năm 1906 rằng ch�nh phủ cần bổ nhiệm một thanh tra để theo d�i c�c hoạt động của c�c trường h�ng tổng.� �ng đ� ph�t biểu, v� c�c lời tuy�n bố của �ng kh�ng bị b�c bỏ bởi vi�n gi�m đốc gi�o dục c�ng hiện diện, rằng c�c nh� h�nh ch�nh Ph�p thường đ� sử dụng c�c gi�o chức trường h�ng tổng để thi h�nh c�c c�ng t�c h�nh ch�nh.�� Để cho họ tự �, c�c gi�o chức trường h�ng tổng thường kh�ng mở cửa c�c trường học.� Nếu c� một cuộc thanh tra bởi một vi�n chức từ ch�nh quyền trung ương, c�c gi�o chức đ� thực hiện c�c sự sắp xếp đặc biệt để bảo đảm rằng mọi ghế ngồi trong trường học sẽ được lấp k�n trong ng�y đ�. (16)

 

Kiểu đ�ng kịch giả vờ n�y hiếm c� thể được thực hiện tại c�c trường ở S�ig�n, v� ch�ng tiếp tục dạy dỗ một số lượng quan trọng người Việt Nam mỗi năm, một sự th�nh c�ng đ�ng kể trong nỗ lực của Ph�p để mở rộng nền gi�o dục hi�n đại khắp c�i Nam Kỳ.� Kh�ng phải c�c trị số tuyệt đối mang t�nh c�ch quan trọng trong việc lượng định nỗ lực gi�o dục n�y tại Nam Kỳ, mặc d� khi so s�nh với c�c t�nh trạng thuộc địa kh�c, ch�ng cũng đ�ng kể, nhưng đ�ng hơn l� ở t�c động gi�o dục m� ch�nh quyền Ph�p đ� đạt được trong một thời khoảng ngắn ngủi như thế.� Một sự thay thế năng hoạt d� kh�ng h�an hảo đ� được cung cấp cho hệ thống cổ truyền.� N� đ� phổ biến một hệ thống viết chữ mới, khiến cho điều c� l�c chỉ d�nh ri�ng cho c�c tụ điểm C�ng Gi�o nhỏ b� đ� ho�n to�n thực sự trở th�nh chữ viết quốc gia của Việt Nam; v� n� đ� ti�m nhiễm một sự hiểu biết hạn chế, nhưng được loan truyền đ�ng ngạc nhi�n, về tiếng Ph�p.(17)� Chương tr�nh gi�o dục Ph�p đ� kh�ng cung cấp một sự thay thế tức thời cho hệ thống đạo đức Khổng học. Điều n�y g�y lo sợ cho nhiều người Việt Nam ưu tư, những kẻ tự thấy m�nh vừa hướng đến tương lai vừa quay về qu� khứ.� Trong những năm sau n�y, quyền tự do tư tưởng x� hội tại phương T�y, trở n�n được hay biết xuy�n qua c�c bản dịch v� c�c ấn phẩm của Ph�p, đ� tương phản một c�ch chua ch�t với c�c hạn chế của nền cai tri thuộc địa của T�y phương.

 

Vai tr� của Gi�o Hội C�ng Gi�o trong sự ph�t triển gi�o dục tại Nam Kỳ �t khi mang lại � kiến kh�ch quan hồi cuối thế kỷ thứ mười ch�n.� Hậu quả, sự ph�n t�ch lịch sử phải tự mở lấy đường đi của n� xuy�n qua c�c sự c�o buộc v� phản b�c được ph�ng ra v� đ�p lại bởi hai phe trong cuộc tranh luận.� Cho đến l�c c� sự du nhập chế độ cai trị d�n sự, c�c sư huynh C�ng Gi�o tại Nam Kỳ đ� thực hiện một sư đ�ng g�p quan trọng qua việc cung cấp nh�n vi�n giảng huấn cho trường Cao Đẳng Coll�ge d�Adran.� Tuy nhi�n trong năm 1880, Hội Đồng Thuộc Địa đ� thu hồi sự trợ cấp của ch�nh phủ vốn từng được cung cấp cho đến nhật kỳ đ�, trước sự nhũng nhiễu dữ dội của c�c gi�o phẩm thẩm quyền.(18)� Trong năm 1883 c�c gi�o chức tu sĩ r�t lui khỏi trường cao đẳng.� Từ thời điểm n�y, c�c nỗ lực quan trọng nhất của Gi�o Hội trong l�nh vực gi�o dục diễn ra tại khu vực n�ng th�n, trong c�c ph�i bộ truyền gi�o nhỏ.� Một số c�c sự tranh luận chua ch�t nhất ph�t sinh từ c�c sự cố gắng của Gi�o Hội C�ng Gi�o xoay quanh tầm mức theo đ� sự giảng dạy tại c�c cơ sở ph�i bộ sẽ được dạy bằng tiếng Ph�p.� Mọi b�n trong cuộc tranh luận đều nh�n nhận rằng phần lớn sự giảng huấn đ� được dạy bằng chữ quốc ngữ.� C�c kẻ ph� b�nh chống lại c�c tu sĩ lập luận rằng tiếng Ph�p l� động cơ th�ch hợp cho sự giảng huấn.� Gi�o Hội đ�p lại rằng c�c người Việt Nam trung th�nh [với nước] l� những kẻ đ� kh�ng n�i tiếng Ph�p. (19)� Phe ph� b�nh chống tu sĩ c�o gi�c xa hơn rằng tr�nh độ giảng huấn, ngay cả bằng quốc ngữ, th� thấp k�m v� rằng Gi�o Hội đ� kh�ng cung cấp gi�o dục, m� chỉ l� sự giảng huấn hạn chế v�o c�c sự cầu nguyện v� giảng đạo.(20)� C�c hội vi�n Việt Nam trong Hội Đồng Thuộc Địa l� c�c kẻ từng hưởng dụng một nền gi�o dục Ph�p đ� phản đối sự c�o gi�c về sự bất trung; trong khi những người l� th�nh vi�n của Gi�o Hội đ� biện hộ cho sự gi�o dục của ph�i bộ.(21)� Sự lượng định hay nhất phải giảm trừ sự th�i qu� của cả hai phe.� Xem ra c� lẽ c�c số thống k� của Gi�o Hội đ� được thổi phồng, kh�ng kh�c g� c�ch m� ch�nh quyền đ� thổi phồng c�c con số của n�.� Nếu sự giảng dạy c� bị hạn chế, điều n�y cũng đ�ng như thế trong c�c trường của ch�nh phủ.� Song, ngay cả kẻ hay ngờ vực nhất phải thừa nhận rằng c�c nỗ lực của C�ng Gi�o tại v�ng n�ng th�n đ� gi�p v�o sự khuếch t�n quốc ngữ.� Nam Kỳ l� một c�nh đồng tương đối kh� cằn để cho c�c gi�o sĩ truyền đạo canh t�c, v� nhiều lần Gi�o Hội C�ng Gi�o đ� quy tr�ch sự thất bại n�y cho t�nh chất du mục li�n tục của người Việt Nam tại ph�a Nam.� Đ�i khi đ� c� sự căng thẳng giữa c�c d�n l�ng theo đạo C�ng Gi�o v� người kh�ng theo đạo.(22)� Bất kể c�c vấn đề n�y v� sự tiến bộ hạn chế của chiến dịch cải đạo của Gi�o Hội, sự cam kết của c�c gi�o sĩ để mở rộng tầm mức của quốc ngữ đ� kh�ng bị nao n�ng.

 

Trong quyết định của n� v�o năm 1878, ch�nh quyền Ph�p đ� ra sắc lệnh rằng sau năm 1882 quốc ngữ sẽ l� h�nh thức văn tự ch�nh thức duy nhất tại thuộc địa, ngo�i tiếng Ph�p.(23) �Trong hai thập kỷ kế tiếp, đ� c� đầy bằng cớ rằng quyết định n�y đ� kh�ng được cưỡng h�nh trọn vẹn v� rằng sự sử dụng chữ nho vẫn c�n dai dẳng, ngay d� trong một cung c�ch giảm thiểu.� Nhưng sự cam kết mạnh mẽ với quốc ngữ sau c�ng đ� mang lại sự chiến thắng của ch�nh n�. Đ� c� sự sử dụng phương tiện chữ viết mới gia tăng hơn bao giờ hết.� Cũng c� một cuộc tranh luận li�n tục trong nhiều năm về hiệu quả của việc đ�o tạo người Việt Nam tại Ph�p, hơn l� về sự k� tự.� Một c�u hỏi kh�c được thảo luận nhiều, đ�i khi c� li�n kết với vấn đề thứ nhất, l� đến tầm mức n�o gi�o dục cần giảng dạy về đạo đức.� Sự lo �u li�n tục của th�nh phần cộng t�c vi�n [collaborateur, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] rằng cần phải c� một nội dung đạo đức trong gi�o dục chứng thực cho sức mạnh của tư tưởng Khổng học trong đời sống người d�n Việt Nam, v� năng lực của nền gi�o dục bằng quốc ngữ để truyền dẫn c�c đức t�nh tinh thần thường được thảo luận.

 

B� ba văn học P�trus K�, Paulus Của v� Trương Minh K� đ� đ�ng g�p khối lượng đồ sộ c�c bản văn mới bằng quốc ngữ, nhưng trong sự ph�t triển c�ch k� tự, sự đ�ng g�p của người Ph�p th� đ�ng kể: chỉ ri�ng họ đ� tham gia v�o cuộc thảo luận gay gắt về c�c sự thay đổi c� thể được du nhập v�o sự k� tự chuyển �m tiếng Việt.

 

Vấn đề c� tầm quan trọng hơn nhiều được đề cập đến l� liệu quốc ngữ sẽ trở th�nh h�nh thức chữ viết ti�u chuẩn tr�n to�n c�i Việt Nam hay kh�ng.� C�c học giả, c�c nh� h�nh ch�nh, v� c�c gi�o sĩ truyền đạo đ� tranh luận về phương c�ch th�ch hợp để la m� h�a tiếng Việt, nhưng �t c� ảnh hưởng thực tế.� Aymonier, một người t�m hiểu th�m s�u về lịch sử v� bia k� Căm Bốt, biện luận mạnh mẽ cho một c�ch k� tự mới mang nhiều c�ch ph�t �m của Ph�p ngữ hơn hệ thống đương thời, vốn du nhập c�c gi� trị ph�t �m từ tiếng Bồ Đ�o Nha.(24)� Nh� truyền gi�o học giả tiếng tăm, Linh Mục L�opold Cadi�re đ� chia sẻ một sồ quan điểm của Aymonier, v� đ� tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Viễn Đ�ng Học (International Congress of Far Eastern Studies) năm 1902 khi cơ quan đ� k�u gọi Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ của Ph�p (�cole Francaises d�Extr�me-Orient) h�y ph�t kiến ra một c�ch k� �m chuyển �m �hợp l�� hơn cho tiếng Việt.(25)� Trong thực tế, đ� kh�ng c� g� xảy ra.� Bất kể c�c khiếm khuyết n�o đi nữa của c�ch k� tự ti�u chuẩn, n� đ� trở th�nh h�nh th�i được thiết định.

 

Cuộc đấu tranh thực sự, một lần nữa với người Ph�p như c�c kẻ tham dự ch�nh yếu, đ� được diễn ra tr�n vấn đễ cũ xưa l� liệu c� n�n th�c đẩy cho việc thay thế to�n diện tiếng Việt bằng Ph�p ngữ hay kh�ng tại Nam Kỳ.� Noi đ�y một lần nữa, Aymonier đ� l� một trong những nh�n vật ch�nh của cuộc tranh luận.� Thỉnh thoảng c� c�c biểu lộ sự bất m�n, từ c�c người Việt Nam, về sự �p dụng quốc ngữ tại Nam Kỳ.� Một th� dụ nổi bật về việc n�y l� một sự thỉnh cầu tr�n tờ Saigonnais ng�y 10 th�ng Mười Hai, 1885.� Lời thỉnh cầu n�y, được k� t�n bởi một số người Việt Nam, lập luận rằng Hội Đồng Thuộc Địa cần phải trấn �p điều m� họ m� tả như l� �quốc ngữ t�u: quốc ngữ chinois,� bởi v� n� chứa đựng một khối lượng lớn c�c chữ H�n kh�ng được hay biết bởi người Việt Nam b�nh thường.(26)� Landes, người đ� d�ng nhiều thời giờ của m�nh tại Việt Nam để phi�n dịch c�c chuyện t�ch d�n gian Việt Nam sang tiếng Ph�p v� l� người đ� bi�n tập một trong những sưu tập vĩ đại nhất c�c t�i liệu bằng quốc ngữ, tin tưởng rằng lời thỉnh cầu �t c� sự ủng hộ cụ thể v� ghi ch� sự lượng định của �ng rằng c�c từ ngữ tiếng H�n, một c�ch bất khả truất b�i, đ� trở th�nh một phần của ng�n ngữ Việt Nam.(27)

 

Đ�y kh�ng phải l� quan điểm của Aymonier.� Lời thỉnh cầu năm 1885 l� phần của một tr�ng c�c sự chỉ tr�ch m� �ng nhắm chống lại quốc ngữ.� N� l� một thổ ngữ, một ng�n ngữ địa phương [patois, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], một sự pha trộn hỗn tạp c�c từ ngữ Việt Nam v� Trung Hoa.� �ng Aymonier cảnh c�o l� n� đặt ra sự rủi ro, trong một lời chỉ tr�ch kh�ng ho�n to�n nhất qu�n với lập luận trước đ�y của �ng, về việc kh�ch động cảm thức d�n tộc chủ nghĩa của d�n ch�ng.� Ngay ch�nh danh từ quốc ngữ (ng�n ngữ d�n tộc) c� thể th�c đẩy sự khẳng quyết nền độc lập đối với Ph�p.� �ng cho rằng mục đ�ch của nước Ph�p, l� cải tạo chủng tộc Việt Nam v� mở rộng đầu �c của họ để đ�n nhận c�c ph�c lợi của nền văn minh �u Ch�u. Để đạt được mục đ�ch n�y, phương thức an to�n nhất l� dạy tiếng Ph�p v� phổ biến sự sử dụng ng�n ngữ đ� ở bất kỳ nơi đ�u c� thể l�m được.(28)� C�c � kiến bộc trực của �ng được đ�p lại bởi c�c kẻ biện hộ h�ng hồn kh�ng k�m một quan điểm kh�c.� Người đứng đầu trường Cao Đẳng Chasseloup-Laubat tại S�ig�n đ� lập luận một c�ch nồng nhiệt t�n th�nh sự tiếp tục sử dụng quốc ngữ như một �c�ng cụ� c� gi� trị bất khả dị nghị, sau rốt c� thể dẫn đến sự sử dụng nhiều hơn tiếng Ph�p. �ng ghi nhận rằng c�c học sinh Việt Nam tại trường cao đẳng của �ng đ� sẵn quen với việc pha tiếng Ph�p v�o với quốc ngữ khi viết thư từ. (29)

 

C�c sự trao đổi n�y nhấn mạnh đến vai tr� quan trọng của người Ph�p trong sự tiến h�a li�n tục của quốc ngữ trước khi tiến tới sự kết th�c thế kỷ thứ mười ch�n. Điều n�y đ� được phơi b�y nhiều hơn từ ph�a c�c người Ph�p đ� tham gia trong sự ấn h�nh c�c b�o ch� bằng quốc ngữ.� Tuy nhi�n, v�o cuối thế kỷ thứ mười ch�n, một số người Việt Nam đ� khởi sự n�u � kiến tr�n vấn đề n�y, cho đến l�c đ� vẫn l� một khu vực d�nh ri�ng ch�nh yếu của người Ph�p.� C�c � kiến của họ đ� phản ảnh quan t�m của họ về nội dung đạo đức của gi�o dục.

 

Ngay cả cộng t�c vi�n C�ng Gi�o [Trần B�] Lộc đ� b�y tỏ sự d� dặt về sự thiếu vắng nội dung đức dục trong một hệ thống gi�o dục được giảng dạy xuy�n qua quốc ngữ. �ng ta kh�ng quan t�m cho c�c đồng đạo C�ng Gi�o; họ đ� c� một t�n ngưỡng thay thế cho c�c ch�m ng�n của triết l� Khổng học.� Nhưng với sự b�i bỏ việc giảng dạy chữ nho, đ� c� một nhu cầu, �ng đ� lập luận trong năm 1879, để cung cấp cho c�c �kẻ ngoại đạo� (pagans) một văn chương bằng quốc ngữ để khắc ghi năm đức t�nh về t�nh nh�n loại, lẽ c�ng bằng, ph�p lịch sự, sự cẩn trọng, v� l�ng trung th�nh.(30)� Đến một số mức độ, đ�y cũng l� điều m� P�trus K� v� c�c cộng t�c vi�n của �ng cố gắng muốn l�m như thế.� Đ� c� một �m điệu đức dục mạnh mẽ trong c�c tập tiểu luận của họ.� Nhưng v�o l�c bước sang thế kỷ mới đ� c� bằng c� rằng c�c th�nh vi�n thuộc giới tinh hoa Việt Nam tại thuộc địa ở Nam Kỳ đ� lấy l�m bất m�n bởi sự khiếm khuyết n�i dung đạo đức trong c�c ấn phẩm hiện hữu.� Người con trai của �ng Lộc, t�n Thọ, ph�n n�n về sự thiếu s�t của ấn phẩm ch�nh thức, Gia Định B�o, nhận x�t, một c�ch kh� ch�nh x�c, rằng n� kh�ng c�n chứa đựng điều g� ngo�i c�c th�ng b�o ch�nh thức v� c�c sự quảng c�o c�c dược phẩm c� cầu chứng bằng s�ng chế.� N� �kh�ng c�n giảng dạy được bất cứ điều g� cho người An Nam.� (31)

 

Trong năm 1908, kh�ng l�u trước khi từ trần, �ng Thọ đ� ấn h�nh một b�i nghi�n cứu d�i trong đ� �ng đ� cố gắng tr�ch tập nhiều c�u chuyện đ� được d�ng để giảng dạy c�c đức t�nh Khổng học nhưng kh�ng được cung cấp bằng quốc ngữ.(32)� Trong lời đề tựa c�ng tr�nh n�y, �ng lập luận rằng việc thiếu sự lễ độ được biểu lộ bởi người Việt n�i tiếng Ph�p ph�t sinh từ sự c� lập của họ khỏi sự giảng dạy bằng chữ nho, với lớp t� tr�t đức dục của n�. Để cho trọn vẹn, người con trai của Trần B� Lộc giờ đ�y lập luận cho sự quay về một số việc giảng dạy bằng chữ nho để ngăn chặn trẻ em đ�nh mất ho�n to�n sự tiếp x�c với qu� khứ của đất nước v� c�c phong tục của n�.� Phản ảnh c�c sự quan s�t của người cha, �ng chấp nhận rằng c� thể giảng dạy lu�n l� đạo đức Khổng học bằng quốc ngữ, nhưng �ng ghi nhận một sự thiếu s�t c�c s�ch dạy để l�m việc như thế.(33)

 

Kh�ng phải mọi người thuộc thế hệ �ng Thọ đều chia sẻ quan điểm của �ng ta. �ng H�i Đồng Diệp Văn Cương, ph�t biểu tại H�i Đồng Thuộc Địa năm 1906, nh�n thấy kh�ng c� l� do g� khiến kh�ng thể giảng dạy c�c ch�m ng�n của triết l� Khổng học bằng tiếng Ph�p, �c�ng cụ của nền văn minh.�(34) �ng L� Văn Ph�t, bất kể sự nhấn mạnh trước đ�y của �ng về nhu cầu cho người Ph�p phải học hỏi một số điều g� đ� của đời sống gia đ�nh nơi xứ sở m� họ đến cai trị, nh�n thất �t gi� trị trong việc giảng dạy c�c gi� trị đạo đức cổ truyền tại c�c trường học. �ng n�u c�u hỏi, gi� trị đạo đức v� nội dung đức dục của tư tưởng Ph�p c� bất kỳ điều g� k�m gi� trị hơn hay sao?� �Khi đ�, tại sao ch�ng ta kh�ng t�m học về lu�n l� đạo đức n�y, tấm b�a linh thi�ng mới n�y đ� t�c động để mang lại rất nhiều điều kỳ diệu tại Ph�p, hầu tự m�nh đồng h�a to�n diện v�o ch�ng, trong tư tưởng cũng như h�nh động.� (35)

 

Trong khi diễn ra c�c cuộc tranh luận n�y giữa c�c kẻ biện hộ cho tiếng Ph�p v� quốc ngữ, giữa c�c nguy�n l� triết học Đ�ng v� T�y phương, bộ phận c�c ấn phẩm bằng quốc ngữ dần d� tăng trưởng nhiều hơn.� C�c quyển s�ch, hay một c�ch ch�nh x�c hơn, c�c tập tiểu luận của P�trus K�, Paulus Của, v� Trương Minh K� đ� được ấn h�nh một c�ch đều đặn.� Phần lớn c�c ấn phẩm n�y l� c�c c�ng tr�nh bi�n tập c�c truyện t�ch cổ truyền v� c�c văn bản đức dục ngắn.� Một số t�c phẩm kh�c biệt hơn chẳng hạn như b�i viết của �ng P�trus K� về cuộc thăm viếng Bắc Kỳ của �ng v� c�c b�i thơ của �ng Trương Minh K� về c�c cuộc thăm viếng của �ng tại nước Ph�p.� C� thể bởi v� �ng đ� khởi sự viết v�i năm sau khi c� sự nhập cảnh của người Ph�p, �ng Trương Minh K� đ� khảo luận về những đề t�i mang nhiều tham vọng hơn, chẳng hạn như một kịch thơ về Joseph [?] bằng quốc ngữ v� sự th�ng dịch c�c t�c phẩm từ tiếng Ph�p.� Khi ch�ng ta nhớ rằng ba nh�n vật n�y đ� đ�ng một vai tr� quan trọng trong hoạt động h�nh ch�nh thường lệ, c�c c�ng tr�nh trước t�c của họ th� đ�ng kể.� Song khối lượng lớn lao nhất của c�c t�i liệu bằng quốc ngữ vẫn tiếp tục được ấn h�nh dưới h�nh thức b�o ch�, v� ở đ�y, sự hỗ trợ của Ph�p cả từ ph�a c�ng quyền lẫn tư nh�n c� tầm quan trọng cao nhất.

 

Gia Định B�o đ� khởi sự ấn h�nh năm 1865.� Phải đợi m�i đến năm 1897 mới c� một tờ b�o bằng quốc ngữ kh�c được thiết lập v� đ� xuất bản tại Nam Kỳ trong một thời khoảng k�o d�i đ�ng kể.� T�nh chất của tờ Gia Định B�o đ� thay đổi c�ng với d�ng thời gian.� Khu�n khổ tường tr�nh bao qu�t của giai đoạn ban đầu của n� từ từ bị giảm lược xuống th�nh c�c sự tr�nh b�y thuần t�y c� t�nh c�ch ch�nh thức c�c quyết định v� th�ng b�o của ch�nh quyền, thỉnh thoảng mới c� một b�i thơ ngắn l�m nhẹ sự đơn điệu. � kiến của Trần B� Thọ đ� l� một � kiến đ�ng: kh�ng c�n bất kỳ điều g� li�n quan đến một người Việt Nam trong tờ b�o, ngo�i một sự loan b�o ảnh hưởng trực tiếp đến một c� nh�n.� Ch�nh quyền Ph�p đ� biện hộ về t�nh chất của tờ b�o m� kh�ng đưa ra sự c�o lỗi n�o cả.� Khi �ng Thọ đưa ra nhận x�t, �ng c� y�u cầu rằng tờ b�o ch�nh thức cần phải bao gồm c�c b�i tường thuật về c�c phi�n họp của Hội Đồng Thuộc Địa trong c�c trang b�o của n�.� Nếu kh�ng l�m điều n�y, �ng n�u � kiến rằng một khoản trợ cấp cần phải được giao cho tờ b�o Nam Kỳ (The Southern Region), bắt đầu được ấn h�nh v�o năm 1897.� Ph�c đ�p, ph� thống đốc đ� nhận x�t:

 

Tờ b�o [ch�nh thức] n�y được chuyển sang sự kiểm so�t của thẩm quyền cao hơn, v� mọi điều m� n� ấn h�nh đều c� một bản chất được khảo s�t [kỹ c�ng]; người An Nam kh�ng thảo luận vế n�.� Gia Định B�o l� một tờ b�o ch�nh thức, trong khi tờ Nam Kỳ c� thể ấn h�nh những g� m� n� muốn phổ biến, tuy thế, kh�ng khuấy động c�c vấn đề ch�nh trị c� thể dẫn dắt người d�n bản xứ của ch�ng ta lạc hướng v� g�y tổn hại đến nền an ninh m� ch�ng ta đ� phải mất đến hai mươi năm mới đạt tới tại xứ sở n�y � �ng Thọ qu� th�ng minh để kh�ng thể kh�ng hiểu rằng tại c�c l�ng x�, nếu ch�ng ta cố gắng gi�p người bản xứ hay biết về c�c cuộc thảo luận của ch�ng ta tại Hội Đồng Thuộc Dịa, ch�ng ta sẽ kh�ng đạt được mục đ�ch của m�nh.� Người d�n [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] kh�ng hiểu g� hết, v� họ tự lừa dối m�nh trong phần lớn thời gian. (36)

 

Chủ nh�n v� chủ bi�n của tờ Nam Kỳ l� một người Ph�p c� t�n l� Schreiner, một kẻ c� một chức nghiệp nhiều thay đổi trong vai tr� một nh� xuất bản tại Việt Nam.� Schreiner kh�ng c� � định rằng tờ b�o sẽ cung cấp cho người Việt Nam c� thể đọc n� với bất kỳ tin tức n�o về �c�c vấn đề ch�nh trị c� thể � dẫn đắt người d�n bản xứ của ch�ng ta lạc hướng.�� Quan điểm của �ng về gi�o dục được n�u ra trong một b�i viết m� �ng đ�ng g�p cho tập san Bulletin of the Society of Indochinese Studies năm 1908.� Theo � kiến của �ng, tiếng Việt phải l� động cơ để giảng dạy cho d�n ch�ng bản xứ tại Nam Kỳ, v� n� phải được d�ng để truyền b� tư tưởng Ph�p v� kiến thức T�y Phương. (37)

 

Tờ Nam Kỳ thực hiện c�c đề nghị của chủ nh�n của n�.� Giống nhiều cung c�ch của tờ Gia Định B�o trong thủa ban đầu của n�, tờ b�o mới ấn h�nh c�c b�i viết loại �kiến thức hữu dụng�, thường được soạn thảo bởi ch�nh �ng Schreiner.� C�c chủ đề được thảo luận trong một cung c�ch đơn giản:

 

Kỳ cuối c�ng t�i đ� viết về địa dư �u Ch�u.� T�i c� n�i lần tớo t�i sẽ tr�nh b�y với c�c bạn của t�i một c�ch r� r�ng về ch�nh quyền, mậu dịch v� nhiều vấn đề kh�c tại c�c xứ sở T�y Phương.

 

Th�ng thường, khi nhiều người đ�n �ng, đ�n b�, v� trẻ em li�n kết với nhau v� chung sống với nhau họ phải c� một người m� họ đề cử thay mặt cho cả nh�m.� Khi chỉ c� một người duy nhất, khi ấy người đ� sẽ tự m�nh đảm tr�ch c�c hoạt động ri�ng của ch�nh m�nh.� Nhưng khi một người, với vợ v� c�c con, sống c�ng với người kh�c, khi đ� anh ta kh�ng c�n c� thể h�nh động theo như � muốn ri�ng của m�nh nữa.(38)

 

B�i viết n�y tiếp tục b�n luận về c�c vấn đề như chế độ qu�n chủ lập hiến, c�c nước cộng h�a thống nhất, v� c�c li�n bang.� Phải c� một sự giải khu�y, sau những b�i viết như thế, v� c�c b�i kh�c b�n thảo về c�c bệnh tật v� cuộc đời của Nữ Ho�ng Catherine của nước Nga v� B� Tước Assas, d�nh cho độc giả t�m gặp chuyện kể nhiều kỳ về Ali Baba v� Bốn Mươi T�n Trộm. (39)

 

C�c b�i viết c� bản chất ch�nh trị nhiều hơn xuất hiện trong tờ b�o quốc ngữ kh�ng ch�nh thức thực sự quan trọng đầu ti�n, N�ng Cổ M�n Đ�m (The Tribune of Old Agricultural People), bắt đầu sự ấn h�nh v�o năm 1901.� Giống như tờ Nam Kỳ, c� một b�n quan hệ l� người Ph�p trong sự ấn h�nh.� Một người Ph�p t�n Canavaggio l� chủ b�o, nhưng sự điều h�nh tờ b�o nằm trong tay người Việt Nam.� V�o khoảng 1907, một người Việt Nam t�n Gilbert Chiếu l�m chủ bi�n của tờ b�o.� Một năm sau đ�, khi �ng ta l� chủ bi�n của một tờ b�o kh�c, Lục Tỉnh T�n Văn (News of Six Provinces), �ng Chiếu bị bắt giữ về tội đồng l�a trong phong tr�o một phần th� bảo ho�ng v� một phần mang chủ nghĩa d�n tộc hiện đại vận động để t�n Ho�ng Th�n Cường Để l�n ng�i vua của một nước Việt Nam phục hưng.(40)� Sau năm 1905, đ� c� những dấu hiệu r� r�ng của sự x�n xao ch�nh trị.� Sự thất trận nhục nh� của lực lượng Nga dưới tay người Nhật trong Chiến Tranh Nga-Nhật đ� c� một ảnh hưởng s�u đậm tr�n giới học thức Việt Nam. �ng Chiếu, một cựu nh�n vi�n của ch�nh quyền Ph�p v� một c�ng d�n nhập tịch Ph�p, đ� l� một trong những người đ�p ứng với bầu kh�ng kh� mới của dư luận.� C�c b�i b�o của �ng tr�n tờ N�ng Cổ M�n Đ�m thường xuy�n cổ vũ người d�n Việt Nam ở Nam Kỳ h�y h�nh động trong một cung c�ch thống nhất để cải thiện vị thế kinh tế của họ.� C�c nỗ lực bởi người Việt Nam để d�nh sự độc lập kinh tế, đặc biệt từ nh�m d�n Trung Hoa thiểu số, đ� đặc biệt nổi bật l�n.(41)� C�c b�i b�o k�u gọi c�c sự đ�ng g�p t�i ch�nh cho nhiều doanh nghiệp thương mại kh�c nhau m� �ng Chiếu lập l�n tại S�ig�n v� tại một số trung t�m cấp tỉnh, sau n�y bị tố c�o bởi ch�nh quyền Ph�p như c�c diễn đ�n phản loạn.(42)

 

Sự sử dụng b�o ch� của �ng Chiếu v� c�c nỗ lực của �ng để li�n kết hoạt động ch�nh trị với sự ph�t triển sức mạnh kinh tế trong số c�c cư d�n Việt Nam tại Nam Kỳ l� c�c dấu hiệu của một tinh thần mới trong chủ nghĩa d�n tộc hiện đại.� Về mặt c�c kết quả tức thời, ch�ng l� một sự thất bại.� Trong thực tế, sự đ�p ứng của Ph�p trước một loạt c�c biến cố v� sự biểu hiện mang t�nh c�ch d�n tộc chủ nghĩa trong c�c năm sau năm 1905 l� việc chấp nhận c�c ch�nh s�ch đ�n �p nhiều hơn bao giờ hết.� Tuy nhi�n, đến mức quan hệ đến sự ph�t triển của quốc ngữ, sự xuất hiện của c�c tờ b�o trực tiếp đưa ra c�c lời k�u gọi ch�nh trị đối với c�c độc giả c� thể được xem như một dấu hiệu trung thực của giai đoạn trưởng th�nh của c�ch k� tự [Việt ngữ].� Mọi sự đều đ� được chuẩn bị giờ đ�y cho điều m� một sinh vi�n Việt Nam nghi�n cứu về lịch sử b�o ch� tại xứ sở của c� sinh vi�n đ� gọi l� �thời kỳ nở hoa.�(43)� Con đường th� d�i v� hiểm trở, v� c�c bộ phận lớn lao trong d�n ch�ng c� lẽ vẫn c�n chưa bị đụng chạm bởi sự sử dụng quốc ngữ trong thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mươi.� D� thế, sự sử dụng về mặt ch�nh trị ng�n ngữ dưới dạng k� tự theo mẫu chữ la m� khiến ta nghĩ đến một sự tăng trưởng đột nhi�n, điều c� thể đ� kh�ng được kỳ vọng tr�n căn bản c�c � kiến được đưa ra trong thập ni�n ch�n mươi [của thế kỷ trước, người dịch chua th�m cho r� nghĩa].

 

Trong suốt hai thập kỷ sau c�ng của thế kỷ thứ mười ch�n, sự ph� b�nh nhắm v�o hệ thống gi�o dục thường mang sự b�nh luận c�ng khai, v� lu�n lu�n c� sự quan t�m mặc nhi�n, rằng sự giảng dạy yếu k�m đ� l�m ngăn trở sự phổ biến quốc ngữ.� Điều n�y chắc chắn l� đ�ng.� Hơn nữa, ngay d� c�c th�nh vi�n trẻ tuổi hơn của d�n số đ� d�nh được một số kiến thức sơ đẳng về c�ch viết mới cho ng�n ngữ của ch�ng, phần to lớn trong d�n ch�ng Việt Nam tại Cochinchina vẫn chưa được tiếp cận với sự sử dụng quốc ngữ.� Cho m�i đến năm 1901, ba hội vi�n người Việt của Hội Đồng Thuộc Địa đ� soạn thảo một đề �n ghi nhận rằng chỉ c� một số rất nhỏ người d�n Việt Nam tại n�ng th�n l� c� khả năng đọc được c�ch k� tự mới.� Sự th�ng dịch c�c quyết định sang quốc ngữ v� sự ấn h�nh tờ Gia Định B�o, họ ghi nhận, l� những biện ph�p đ�ng ngưỡng mộ, nhưng ch�ng kh�ng đủ để cung cấp cho d�n ch�ng tin tức về c�c quyết định của ch�nh quyền.� Thay v�o đ�, c�c hội vi�n người Việt n�y đ� y�u cầu mọi quyết định cần được đọc to tại c�c l�ng x� sau khi d�n ch�ng đ� được triệu tập bởi việc g� chi�ng.(44)

 

Lời k�u gọi của �ng Gilbert Chiếu về sự ph�t triển sức mạnh kinh tế, c�c sự tố gi�c của �ng về sự kiểm so�t đoanh nghiệp của Hoa kiều, v� sự lưu h�nh c�c quan điểm n�y bằng quốc ngữ thật đ� kh�c xa với điều n�y.� Trong năm 1907 số người Việt Nam c� thể sử dụng c�ch k� tự [mới] vẫn c�n nhỏ, nhưng gia tăng mau lọe.� Những năm d�i của sự chuẩn bị sau c�ng đ� mang lại kết quả.� Nhưng giống như trong nhiều kh�a cạnh kh�c của lịch sử Nam Kỳ, th�nh quả th� kh�c biệt với những g� được mong đợi khi hạt mầm được gieo trồng.� Đ� c� nhiều sự thực trong sự lượng định của một nh� quan s�t ph� b�nh người Ph�p đến khảo s�t thuộc địa thay đổi một c�ch ch�ng v�nh trong năm 1905 v� đ� ph�n n�n về những g� �ng ta tr�ng thấy:

 

Tất cả đều l� c�ng việc của ch�ng ta, v� nguy�n do ch�nh yếu của n�, l� sự �m ảnh của ch�ng ta về việc truyền gi�o, sự si m� của ch�ng ta về việc đồng h�a.

 

X� hội An Nam cổ truyền, được tổ chức qu� ho�n hảo để thỏa m�n c�c nhu cầu của người d�n, n�i cho c�ng, đ� bị ph� hủy bởi ch�ng ta.(45)

 

Sự ki�n quyết của Ph�p đối với c�c mục đ�ch đồng h�a trong ch�nh s�ch gi�o dục đ� gi�p cho ch�nh quyền thuộc địa khắc phục được c�c trở ngại một c�ch kh�c c� thể đ� ngăn trở c�c nỗ lực của họ.� Sự tin tưởng rằng một số lượng quan trọng người Việt Nam sẽ phải n�i tiếng Ph�p kh�ng bao giờ biến mất.� Niềm tin rằng một c�ch k� �m bằng mẫu chữ la m� tiếng Việt th� đ�ng mong ước trong thực tế v� l� một vũ kh� hữu hiệu để đối đầu với tư tưởng Khổng học đ� mang lại sự chiến thắng tối hậu cho quốc ngữ.� Phần lớn c�c nh� quan s�t Ph�p đương đại tin tưởng rằng ch�nh s�ch của họ l� một sự th�nh c�ng.� C�c sự kh� khăn được ghi nhận, nhưng bị b�c bỏ như l� c� t�nh c�ch nhất thời hay tầm thường.� Sự loại bỏ nội dung đạo đức ra khỏi nền gi�o dục mới l� một sự tổn thất từ sự �tiến bộ.�� Đ�y ch�nh l� t�nh trạng trước n�, nh� quan s�t v� danh đ� phản ứng khi �ng ta ph�n n�n về sự ph� hủy to�n bộ x� hội Việt Nam.� Song, sẽ l� sự sai lầm nếu kh�ng đếm xỉa đến sự chiến thắng phần n�o trong c�c mục ti�u gi�o dục của Ph�p v� đi đến sự kết luận với một sự ghi nhận ho�n to�n ti�u cực.� �Nỗi si m� cho việc đồng h�a� đ� mang kiến thức mới đến Việt Nam, v� sự khuếch t�n của n� xuy�n qua sự sử dụng rộng r�i c�ch k� �m theo mẫu tự la m� đ� đ�ng một vai tr� sinh tử trong sự th�nh h�nh một Việt Nam hiện đại.� C�c biến cố của thế kỷ thứ hai mươi, mặc d� phần lớn kh�ng được ghi ch�p trong cuộc khảo cứu n�y, tạo th�nh hồi kết cuộc mang t�nh chất bản thể của những sự thay đổi đ� được trui r�n trong năm chục năm đầu ti�n của sự giao tiếp thời thuộc địa./-���

 

__

 

CH� TH�CH:

 

1.                  AOM Indochine X-00 (1) �Renseignements fournis par le directeur de l�enseignement � Siuation en 1882,� Saigon, 12 April 1882.

2.                  C�ng nơi dẫn tr�n.

3.                  Cochinchine Francaise: R�organisation de l�instruction publique en Cochinchine (Saigon, 1884), 4.

4.                  AOM Indochine A-20 (21) �Gouvernement de la Cochinchine, M.A. Filippini, Gouverneur, Rapport g�n�ral de fin d�ann�e, Situation ext�rieure et int�rieure de la Cochinchine en Mai 1886-1887.�

5.                  Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ năm 1888), 19 November 1888, 6.� Cũng xem, AOM Indochine A-30 (80), Văn thư của To�n Quyền Richaud gửi Bộ Trưởng C�c Thuộc Địa, Saigon, 27 August 1888, No. 33, Mật, b�o c�o một chuyến tham quan m� Richaud đ� thực hiện khắp c�i Nam Kỳ v� bao gồm cả c�c � kiến ph� b�nh về gi�o dục.

6.                  Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ năm 1888), 19 November 1888, 6.

7.                  C�c thống k� đầy đủ nhất được chứa trong ấn phẩm ch�nh thức Cochinchine Francaise, �tat de la Cochinchine (Saigon, h�ng năm).� Kh�ng may, c�c số thống k� c�c trường dạy bằng chữ nho được kể chung v�o con số c�c trường của ph�i bộ truyền giao.� Tuy nhi�n, xem c�c � kiến về c�c trường dạy bằng chữ nho trong �tat năm 1903, trang 72, ghi nhận một sự s�t giảm.� Cũng xem, R�publique Francaise, Conseil Sup�rieur de l�Indochine, 1�re commission, Fonctionnement de l�enseignement publique (kh�a họp thường lệ, 1906).

8.                  Sự chấp thuận về việc cấp c�c học bổng ch�nh phủ phải được cho ph�p bởi Hội Đồng Thuộc Địa.� C�c bi�n bản về c�c phi�n họp Hội Đồng do đ� cung cấp một hồ sơ về l� lịch gia đ�nh của từng đứa trẻ.� Xem, đơn giản như một th� dụ, Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ, 1893-1894), 21 December 1893, 136-141.

9.                  Sự khảo s�t c�c bi�n bản của H�i Đồng Thuộc Địa đ� dẫn đến kết luận n�y.� Cần phải ghi nhận rằng số người Việt Nam được cấp ph�t học bổng để theo học tại Ph�p v� Algeria th� rất nhỏ, thường kh�ng hơn ba hay bốn người mỗi năm.

10.              Trường Thuộc Địa (�cole Coloniale) đ� được th�nh lập với � định tuy�n bố nhằm cung cấp gi�o dục cho c�c nh�m thượng lưu tại Đ�ng Dương.� Sổ ghi danh, hiện c�n lưu trữ như một phần của văn khố AOM Indochine tại Paris, ghi nhận rằng mười hai người Việt Nam đến từ Nam Kỳ trong thời khoảng giữa c�c năm 1885 v� 1913 c� cha l� c�c vi�n chức cấp thấp, n�ng d�n, v� thương gia.

11.              AOM Indochine X-02 (3), được tr�ch dẫn trong một l� thư từ �ng Le Myre de Vilers gửi Bộ Trưởng C�c Thuộc Địa, Paris, 8 April 1894.� Le Myre de Vilers v�o thời gian n�y l� đại biểu của Nam Kỳ tại Nghị Viện Ph�p.

12.              R�publique Francaise, Journal Officiel de l�Indo-China, 1901, c� gồm c�c bi�n bản của Hội Đồng Thuộc Địa (kh�a họp thường lệ, 1901).

13.              Hội Đồng Thuộc Địa (kh�a họp bất thường 1897), 7 May 1897, 48.

14.              C�c trường chuy�n nghiệp (�coles professionelles), hay c�c trường dạy nghề, đ� l� một đề t�i hay được thảo luận đối với c�c hội vi�n người Ph�p trong Hội Đồng Thuộc Địa.� Tuy nhi�n, m�i đến thời ban đầu của thế kỷ thứ hai mươi mới thấy đạt được bất cứ một sự th�nh c�ng cụ thể n�o trong c�c nỗ lực để th�nh lập c�c định chế n�y.

15.              C�c số thống k� về gi�o dục kh�ng được thỏa đ�ng ch�nh yếu l� v� cung c�ch biến đổi theo đ� ch�ng được đệ tr�nh từ năm n�y sang năm kh�c, ngay d� ở trong c�ng một nguồn t�i liệu.� C�c tin tức được cung cấp cho năm 1904 trong tập �tat de la l�Indochine l� một số th�ng tin đầy đủ nhất được cung cấp.� C�c trang 71 đến 74 được t�m lược như sau:

 

Trường Học���������������������������������������� Số Gi�o Vi�n��� Ph�p��� Việt����� Sĩ số học tr�

Chasseloup-Laubat������������������������������������������ 22������������������� 12������� 10������� 112*

Cao Đẳng Mỹ Tho������������������������������������������ 12������������������� 06������� 06������� 179

Trường Sư Phạm��������������������������������������������� �8������������������� � 2������� � 6������� 60�

Trường Sơ Học (Saigon)��������������������������������� � 8������������������� � 1������� � 7������� 270�

Trương Chuy�n Nghiệp����������������������� ������������ 9�������������������� � 3������� � 6������� � 60

 

                    C� 141 học tr� �u Ch�u tại trường Chasseloup-Laubat.

                    Tại c�c trường cấp tỉnh, c� 17 gi�o chức người Ph�p, 74 gi�o chức người Việt, v� 5,060 học sinh người Vi�t.

                    Tại ba trường th�nh phố được duy tr� ở S�ig�n v� Chợ Lớn, c� 15 gi�o chức người Ph�p, 11 gi�o chức người Việt, 192 học tr� người Ph�p v� 434 học tr� người Việt.

                    C� 164 trường h�ng tổng, với 311 gi�o chức v� 12,000 học tr�; 76 trường cấp l�ng x�, với 89 gi�o chức v� 2700 học tr�; v� 304 �trường tự do: free schools�, ch�nh yếu l� c�c trường d�ng họ đạo, nhưng bao gồm một số trường dạy chữ nho được duy tr� bởi l�ng x�, với 9458 học tr�.

16.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ, 1906), 17 November 1906, 7.� C�c � kiến n�y được đưa ra bởi �ng Hội Đồng t�n Phong.

17.              � kiến được đưa ra bởi �ng D�Enjoy trong quyển La Colonisation de la Cochin-Chine (trang 31) c� thể phải được b�n luận với một số sự d� dặt, bởi n� xuất hiện trong một �Cẩm Nang Của Một Thực D�n: Colonist�s Manual.�� D� thế, n� cung cấp một số cảm nghĩ về tầm mức theo đ� tiếng Ph�p được phổ biến tại Cochinchina.� �Một kẻ thực d�n, khi đ�, sẽ kh�ng cảm thấy m�nh l� một kẻ xa qu�. �ng ta c� khả năng, hầu như ở mọi nơi, l�m cho m�nh được th�ng hiểu bằng tiếng mẹ đẻ, dự liệu rằng �ng ta n�i rất chậm.� V� ch�nh �ng ta sẽ hiểu được những người An Nam n�i chuyện với �ng ta khi họ trả lời bằng tiếng bồi.�

18.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ, 1882) 13 December 1882, 187-188.� Về phản ứng của C�ng Gi�o, xem Thư Cộng Đồng, Paris, 13 December 1884.

19.              Cuộc tranh luận đặc biệt s�i nổi trong c�c kh�a họp năm 1897 v� 1902 của Hội Đồng.

20.              E. Roucoules, ��tude sur l�instruction publique en Cochinchine,� BSEI, 1889, 2nd semester, 27.

21.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ, 1902), 14 October 1902, 136-137.

22.              C�c hoạt động gi�o dục của c�c ph�i bộ truyền gi�o được m� tả bởi Gi�m Mục Colombert, sau khi ghi nhận rằng ch�ng được thực hiện ch�nh yếu bởi c�c linh mục Việt Nam: �Tại v�ng th�n qu�, c�c linh mục n�y đưa ra một sự giảng dạy cẩn thận về Cơ Đốc Gi�o, với sự gi�o dục bằng tiếng Việt, để giữ c�c trẻ em trong một t�nh cảnh th�ch hợp với ch�ng, m� kh�ng biến ch�ng th�nh c�c c� nh�n kh�ng giai cấp.� ��Vị gi�m mục đ� d�ng chữ d�class�s, mất giai cấp, c� thể bị phi�n dịch một c�ch kh�c th�nh �kh�ng c� gốc rẽ, bị bật rễ: rootless.� (Về khuynh hướng du mục của người Việt, xem, như một th� dụ, Thư Cộng Đồng, số 41, Paris, 31 December 1904).� Hồ sơ AVN Tanan 33 m� tả c�c sự căng thẳng c� thể ph�t sinh giữa c�c d�n l�ng người Việt theo C�ng Gi�o v� kh�ng theo C�ng Gi�o.

23.              AOM Indochine D-450 (6).� �Cochinchine Francaise; Conseil Priv�, Extrait du registre des d�lib�rations,� 1 December 1879.

24.              Aymonier, Nos Transcriptions: �tudes sur les syst�mes d��criture en caract�res europ�ens en Cochinchine francaise (Saigon, 1886).

25.              L. Cadi�re, �La Question de quốc ngữ,� Revue Indo-Chinoise, 9 (15 May 1904), 784-788; 12 (30 June 1904) 872-876; 1 (15 July 1904), 58-63.

26.              A. Landes, �Notes sur le quoc ngu,� BSEI, 1886, 1st semester, 5-22, tr�ch dẫn từ sự thỉnh cầu n�y.

27.              C�ng nơi dẫn tr�n.� Cũng xem, b�i viết của Landes, �Notes sur la langue et la lit�rature annamite,� Excursions et Reconnaissances, VIII (1884), 119-130.

28.              �C�c quan điểm của Aymonier được tr�nh b�y trong một số c�c ấn phẩm.� Ngo�i quyển La Langue francaise en Indochine (Paris, 1891), xem La Langue francaise et l�enseignement en Indochine (Paris, 1890), �L�Enseignement en Indo-Chine� (một b�i viết trong tờ b�o ở Paris, tờ Le Temps. Ng�y 17 October 1889), v� AOM Indochine A-00 (32) �Situation politique en Indochine,� Vichy, 18 August 1889.

29.              E. Roucoules, �Le Fransais, le quoc-ngu et l�enseignement publique en Indochine: R�ponse � M. Aymonier,� BSEI, 1890, 1st semester, 6-10.

30.              AVN S. L. 394 Thư �ng [Trần B�] Lộc gửi Thống Đốc Le Myre de Vilers, 17 December 1879.

31.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ, 1897-1898), 2 December 1897, 152.� Sự tr�nh b�y của �ng Thọ về tờ b�o l� ch�nh x�c.� C�c số ph�t h�ng trong c�c năm sau n�y c� đăng tải nhiều quảng c�o về dược phẩm cầu chứng, vốn tự m� tả l� thuốc to�n khoa trị đủ thứ bịnh.

32.              Tran Ba Tho, �La Pi�t� filial (Pr�ceptes de la morale confuc�ence).� BSEI, LIV (1908). 1st semester, 57-156.

33.              C�ng nơi dẫn tr�n, trang 57-59.

34.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ 1906), 17 November 1906, 143-144.

35.              Le Van Phat, �Intreoduction des caract�res chinoisdans le programme de l�enseignement indig�ne,� BSEI, LIV (1908, 1st semester, 189.

36.              Conseil Colonial, (kh�a họp thường lệ 1897-1898), 2 December 1897, 152.

37.              A. Schreiner, �Conf�rencesur l�enseignement en Indochine,� BSEI, LIV (1908) 1st semester, 171-172.

38.              Nam Kỳ (quoc ngu ed.) 18 November 1897.

39.              Phần n�y xuất hiện trong năm 1898.

40.              Về một số b�i tường thuật về biến cố n�y, xem Coulet, Les Soci�t�s secr�tes, 12-13, v� Bulletin du Comit� de l�Asie Francaise, 93 (December 1908).

41.              Th� dụ, xem c�c số ra ng�y 3 v� 17 December 1907.� Tờ b�o cũng ấn h�nh một phụ trương bằng tiếng Ph�p tố c�o sự chế ngự kinh tế của Hoa Kiều.� Phụ trương ng�y 10 December 1907 c� đề cập đến c�c thương gia Hoa kiều như c�c ��c quỷ h�t m�u bẩn thỉu.�

42.              N�ng Cổ M�n Đ�m, 3 December 1907.

43.              Đo�n Thị Do [?], Le Journalisme au Viet Nam et les p�riodiques vietnamiens conserv�e � la Biblioth�que Nationale (Paris, 1958).

44.              Conseil Colonial (kh�a họp thường lệ 1901), 2 November 1901, 130.

45.              Anon, La Pollitique indig�ne en Cochinchine (Saigon, 1905)./-

 

 

----

Nguồn: Milton E. Osborne, The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), Ithaca and London: Cornell University Press, 1969, Chương 8: Education and Quốc Ngữ, A Qualified Triumph, c�c trang 156-171. �����

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o

� 2007 gio-o

 

 

giới thiệu t�i liệu q�i: bấm v�o đ�y để đọc v� tải xuống "S�ch Quan Chế", s�ch cổ in năm 1888 của Paulus �Của. V� l� t�i liệu q�y n�n c� thể Google kh�ng cho tải nhiều lần. Q�i vị lưu �