Dougald J.W. O �Reilly

 

 

VĂN MINH CH�M TR�N ĐẤT VIỆT,

QUA LĂNG K�NH KHẢO CỔ HỌC

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

���� Người Ch�m l� một sắc d�n ri�ng biệt về mặt chủng tộc được nhận thấy nhiều nơi tr�n nước Việt Nam v� Căm Bốt hiện đại.� Người Ch�m n�i một ng�n ngữ thuộc nh�m ng�n ngữ Nam � (Austronesian).� Đa số ng�n ngữ d�ng Austronesian được t�m thấy ở v�ng đảo Đ�ng Nam � v� khắp Th�i B�nh Dương.� Trong khung cảnh n�y người Ch�m mang n�t độc đ�o, v� khả năng của họ để tồn tại ở Đ�ng Nam � l� nhờ phần n�o ở sức mạnh kinh tế v� ch�nh trị thời ban sơ của họ.� Ch�m [l� danh xưng] để chi một vương quốc thời nguy�n sử (protohistoric), được th�nh lập muộn nhất khỏang thế kỷ thứ 4, dọc theo bờ biển Việt Nam.� N� được hay biết phần lớn từ c�c t�i liệu của Trung Hoa v� c�c văn bia rải r�c v� gần đ�y hơn, qua bằng chứng khảo cổ.� Ch�m được nghĩ đ�ng nhất kh�ng phải như một thể chế ch�nh trị thống nhất m� như một tập hợp c�c l�nh địa nhỏ hơn c�ng chia sẻ c�c truyền thống văn h�a v� ng�n ngữ.� T�c giả Taylor (1992, 153) m� tả Ch�m như �một kh�ng gian ch�nh trị văn h�a quần đảo về mặt địa l��.� Mỗi thung lũng của con s�ng c� thể x�c định l�nh vực ch�nh trị của một vị vua hay thủ lĩnh kh�c biệt, với thủ đ� nằm ở cửa khẩu của con s�ng v� c�c l�ng x� d�n trải ngược l�n d�ng s�ng.� Sự kiểm so�t của vị vua dọc bờ biển đối với c�c l�ng x� n�y trong v�ng nội địa c� thể t�y v�o khả năng của vị vua để th�nh lập c�c li�n minh (Hall 1992, 253-254).� Vương quốc Ch�m trải d�i dọc bờ biển Việt Nam từ n�i Ho�nh Sơn ở ph�a bắc cho đến v�ng l�n cận th�nh phố S�ig�n ng�y nay.� Nhiều phần l� ảnh hưởng của chế độ ch�nh trị chủ yếu c� t�nh c�ch duy�n hải n�y được nhận thấy m�i s�u trong nội địa v� c� thể bao gồm c�c nh�m chủng tộc kh�c nhau n�i ng�n ngữ li�n hệ với tiếng Ch�m, chẳng hạn như người Jorai, Cru, Ed�, v� Raglai, cũng như c�c nh�m d�ng Austroasiatic (�c-�), c�c sắc d�n Ma, St�, v� Stieng (Dharma 2001).

 

 

C�C NGUỒN GỐC

 

���� C�c gốc rễ của người Ch�m c� lẽ sẽ được t�m thấy nơi văn h�a Sa Huỳnh.� Sa Huỳnh l� một địa điểm thuộc tỉnh Qua/ng Ng�i c� để lại một số chum (vại) bằng đất s�t đựng di cốt con người, c�c dụng cụ bằng đồng v� sắt, v� đồ trang sức bằng đ� b�n qu� (Parmentier 1924).� Kể từ khi c� sự kh�m ph� c�c địa điểm ch�n cất bằng chum vại đầu ti�n, nhiều địa điểm kh�c đ� được t�m thấy v� giờ đ�y c� thể biện giải cho một tr�nh tự ph�t triển của truyền thống mai t�ng trong nền văn h�a n�y.� V�o khoảng giữa thi�n ni�n kỷ thứ nh�, người v�ng Sa H�ynh ch�n cất người chết trong c�c chum vại c� vẽ sơn c�ng với dụng cụ bằng đ�.� Gần đến cuối thi�n ni�n kỷ thứ nh� trước C�ng Nguy�n, loại h�nh sơn vẽ thay đổi v� c�c dụng cụ bằng đồng bắt đầu xuất hiện. �V�o l�c khởi đầu thi�n� ni�n kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, đồ sắt v� thủy tinh bắt đầu được k�m theo c�c x�u chuỗi m� n�o m�u đỏ tươi hay c� v�n trong c�c đ�m ch�n cất tại Sa Huỳnh (Ng� Sĩ Hồng, 1991).� C�c địa điểm ch�n cất bằng chum (vại) li�n hệ đến văn h�a Sa Huỳnh đ� được khai quật dọc theo to�n thể v�ng duy�n hải miền trung Việt Nam.

 

Một trong c�c vật tạo t�c ở Sa Huỳnh dễ được nhận thấy hon l� c�c khoen đeo tai (hoa tai) tr�i cầu v� c� h�nh th� vật hai đầu.� Kiểu thức n�y được t�m thấy tại c�c địa điểm xa x�i m�i tận Th�i Lan, Phi Luật T�n, v� quần đảo Nam Dương (Fox 1970; Majid 1982; H� Văn Tấn 1986b; Glover 1989).� Một số đồ ch�n cất tại Sa Huỳnh gồm cả thủy tinh, m� n�o, v� c�c x�u chuỗi m� n�o c� v�n cho thấy sự can dự đến một mạng lưới mậu dịch hải ngoại với Ấn Độ.� Sự tiếp x�c với Trung Hoa được x�c nhận với sự hiện diện của c�c tiền đồng nơi c�c vụ ch�n cất tại Sa Huỳnh c� ni�n kỳ 9-23 sau C�ng Nguy�n.� C�c vũ kh� v� c�c đồ vật tạo t�c kh�c c� nguồn gốc nh� H�n cũng c� được t�m thấy (Southworth 2004, 212).

 

 

T�NH H�NH CH�NH TRỊ PHỨC TẠP THỦA BAN SƠ TẠI VIỆT NAM: L�M ẤP

 

T�i liệu lịch sử Trung Hoa cho thấy c� một cuộc nổi lọan bởi sắc d�n n�i một thứ ng�n ngữ d�ng Nam � tại ph�a nam Chỉ Huy Sứ Nhật Nam (Huế ng�y nay).� Cuộc nổi dậy đưa đến sự th�nh lập một thực thể ch�nh trị m� người Trung Hoa gọi l� L�m Ấp (Dharma 2001).� Với thời gian, thực thể ch�nh trị n�y ph�t triển nhiều uy thế hơn, mở rộng ph�a bắc cho đến Ho�nh Sơn cũng như về ph�a nam, hiển nhi�n thu t�m c�c khu định cư vốn đi theo t�n gi�o của Ấn Độ. �Khu vực ph�a bắc của L�m Ấp được cư ngụ bởi c�c người n�i tiếng Việt nguy�n thủy (proto-Vietnamese) l� sắc d�n đ� đẩy lui nhiều mưu toan li�n tiếp của L�m Ấp nhằm chinh phục họ trong c�c thế kỷ thứ 4, 5 v� 6 sau C�ng Nguy�n (Dharma 2001).� Bất kể đến sự can trường hiển hiện của n�, L�m Ấp vẫn triều cống ho�ng đế Trung Hoa, mặc d� n� c� cố gắng để tho�t ra khỏi nghĩa vụ n�y trong một số dịp.

 

���� Kh�ng r� l� liệu d�n L�m Ấp v� d�n Ch�m c� phải l� c�ng một sắc d�n hay kh�ng.� Chắc chắn v�o khoảng thế kỷ thứ 4, xem ra d�n L�m Ấp n�i tiếng Ch�m (Co�des 1939).� L�nh thổ th�u t�m bởi cả hai nh�m sau c�ng được gọi l� xứ Ch�m.� Tuy nhi�n, t�c giả Vickery cảm thấy nhiều phần l� d�n L�m Ấp nguy�n thủy l� c�c người n�i tiếngMon-Khmer dựa tr�n sự sử dụng từ ngữ Fan (Phạm) để chỉ c�c l�nh tụ địa phương trong c�c b�i viết của Trung Hoa.� Đ�y cũng ch�nh l� từ ngữ được d�ng để chỉ c�c nh� l�nh đạo tại Ph� Nam, vốn nhiều phần cũng l� một sắc d�n d�ng Mon-Khmer.� C�c người n�i tiếng Mon-Khmer n�y sau c�ng c� thể đ� hội nhập với c�c cư d�n của v�ng ng�y nay l� bắc Việt Nam (Vickery 2003, 17).

 

���� Nhiều phần thể chế ch�nh trị của L�m Ấp c� căn nguy�n từ sự nổi dậy.� Phần đất được gọi bởi người Trung Hoa l� Xianglin [Tượng L�m?] bao gồm một phần thuộc chỉ huy sứ Nhật Nam của triều đ�nh nh� H�n, vốn được k�o d�i xuống ph�a nam đến m�i tận đ�o Hải V�n.� Sự �p đặt một chế độ thuế kh�a h� khắc trong suốt thế kỷ thứ 2 sau C�ng Nguy�n c� thể đ� dẫn đến cuộc nổi dậy lan rộng tại Xianglin v� sự th�nh lập L�m Ấp.� V�o năm 248 sau C�ng Nguy�n L�m Ấp cảm thấy đủ mạnh để ph�i một lực lượng l�n ph�a bắc nhằm tấn c�ng Nhật Nam v� c�c bộ huyện Trung Hoa tại Cửu Ch�n v� Giao Chỉ (Southworth 2001).

 

���� Rất kh� khăn để x�c định, dựa tr�n bằng cớ được cung cấp, c�c v�ng đất được bao h�m khi L�m Ấp v� xứ Ch�m được đề cập tới trong c�c bi�n ni�n sử Trung Hoa v� ngay cả trong văn bia tại miền trung Việt Nam.� Một số nh� nghi�n cứu tin rằng L�m Ấp đ� kh�ng tọa lạc tại Việt Nam ng�y nay.� T�c giả Hoshino (1999, 61) cảm thấy rằng nhiều phần n� nằm ở miền Nam L�o hay đ�ng bắc Căm Bốt, giải th�ch l� theo T�y Thư (Sui Shu) th� L�m Ấp tọa lạc tại gần địa điểm ng�y nay gọi l� Wat Phu b�n d�ng s�ng Cửu Long, chứ kh�ng phải l� gần miền Trung Việt Nam.� T�c giả Southworth (2001, 335) tin rằng sự nhầm lẫn ph�t sinh từ sự k�m hiểu biết về c�c d�ng tộc kh�c nhau đ� cai trị c�c v�ng đất ph�a nam c�c đ� hộ phủ Trung Hoa.� Trong suốt c�c thế kỷ thứ 5 v� thứ 6 một số c� nh�n c�c nh� l�nh đạo c� thể được x�c định, chẳng hạn như Gangaraja, kẻ đ� cai trị khu vực Thung Lũng S�ng Thu Bồn, v� Phạm Dương Mai (Fan Yangmai), được x�c định c�ng với L�m Ấp v� Bhadravarman v� l� kẻ c� thể đ� kiểm so�t đất đai tr�n cả hai l�nh thổ.� Phải chờ m�i đến thế kỷ thừ 6 ch�ng ta mới c� thể n�i rằng c�c đất đai ph�a nam Trung Hoa phần lớn được đặt dưới sự kiểm so�t của một người, Rudravarman.� D� thế, như t�c giả Southworth (2001, 241) ghi nhận, kh�ng c� g� chắc chắn về tầm bao tr�m đến đ�u danh xưng xứ Ch�m b�n ngo�i Thung Lũng s�ng Thu Bồn [nơi c� th�nh địa Mỹ Son tọa lạc] cho m�i đến thế kỷ thứ 8 sau C�ng Nguy�n.� � kiến n�y c� khuynh hướng hỗ trợ cho m� thức tổ chức ch�nh trị được n�u ra bởi t�c giả Hall (1992, 253-54), trong đ� c�c thể chế ch�nh trị c� biệt c� chủ quyền tr�n một cửa s�ng v� thung lũng duy nhất.� Sự b�nh trướng quyền lực của bất kỳ nh� vua n�o vượt qu� l�nh địa của m�nh nhiều phần t�y thuộc ở khả năng của �ng ta trong việc thiết lập c�c mạng lưới li�n minh hay tr�n sự th�nh c�ng về kinh tế của ch�nh thể.� Giả thuyết n�y được hậu thuẫn hơn nữa bởi c�c nguồn tham khảo Trung Hoa về mười vương quốc tọa lạc v�o khoảng một trăm c�y số ph�a nam nước L�m Ấp dọc theo bờ biển Việt Nam.� Sự đề cập n�y cũng c� vẻ chỉ cho thấy rằng L�m Ấp tọa lạc tại v�ng l�n cận Thung Lũng s�ng Thu Bồn (Southworth, 2004).

 

���� Văn bia tiếng Sanskrit (Phạn ngữ) được biết đến đầu ti�n l� văn kia được gọi theo t�n địa phương, V� Canh.� Văn bia c� vẻ được viết bởi một hậu duệ của một nh� vua Sri Mara n�o đ� v� tuy�n bố rằng của cải của �ng ta phải được d�ng cho hạnh ph�c v� sự sử dụng của tất cả mọi người d�n.� Ai l� nh� vua Sri Mara vẫn c�n l� một điều huyền b�, nhưng �ng ta được x�c định l� kẻ th�nh lập ra nước L�m Ấp (Maspero, 1928).� T�c giả Co�des (1940) nghi�ng về việc x�c định Sri Mara với Fan Shi-man (v�o khoảng 230 sau C�ng Nguy�n).� Quan điểm n�y được hậu thuẫn một c�ch gi�n tiếp bởi c�c t�c giả Filliozat (1968) v� Jacques (1969, 123).

 

���� Văn bia V� Canh được xem l�c ban đầu c� nhật kỳ từ thế kỷ thứ 3 sau C�ng Nguy�n dựa tr�n c�c sự so s�nh chữ cổ với c�c bia k� được t�m thấy tại miền nam Ấn Độ (Bergaigne, 1888; Bhattacharya 1961, 223-24).� C�c t�c giả kh�c cảm thấy rằng kiểu chữ giống với c�c kiểu chữ ph�a bắc Ấn Độ hơn v� phải c� nhật kỳ khoảng thế kỷ thứ 4 hay thứ 5 sau C�ng Nguy�n (Sircar 1939, 55); Gaspardone 1953, 479-81).� Một cuộc tranh luận hăng say về nguồn gốc bia k� đ� b�ng ch�y trong hơn thế kỷ (Buhler 1886; Maspero 1928; Sastri 1936).� Như t�c giả Southworth (2001, 202) ghi nhận, �bất kể cuộc tranh luận k�o d�i n�y, vẫn c� �t l� do để nghi ngờ việc ấn định nhật kỳ nguy�n thủy v� c�c lập luận về chữ cổ của t�c giả Bergaigne�.

 

���� T�c giả Finot (1902) tin rằng bia k� V� Canh được dựng l�n bởi c�c nh� cai trị hay giới tinh hoa của ch�nh thể xứ Ch�m v� rằng sự hiện diện của n� cho thấy một vương quốc Ch�m thống nhất bao quanh v�ng Nha Trang.� T�c giả Southworth (2001, 213) ghi nhận rằng kh�ng c� văn bia n�o cho đến thế kỷ thứ 5, kể cả bia k� V� Canh, đ� đề cập đến xứ Ch�m hay bất kỳ ch�nh thể cấp miền thống nhất n�o.

 

���� Sự hiểu biết của ch�ng ta về xứ Ch�m được soi s�ng bởi c�c t�i liệu để lại cho ch�ng ta qua cuộc viễn chinh qu�n sự của Trung Hoa đến khu vực đ� trong năm 605 sau C�ng Nguy�n.� Kinh đ� của Ch�m tọa lạc tại Tr� Kiệu, kh�ng c�ch xa địa điểm c� nhiều đền thờ nổi tiếng của Ch�m tại Mỹ Sơn, một trung t�m Ấn Độ [gi�o] kể từ thế kỷ thứ 4 (Dharma 2001).� Dựa tr�n bằng cớ hiện thời, c� vẻ l� ảnh hưởng của Ấn Độ lan l�n ph�a bắc từ bờ biển phương nam (Boisselier 2001).

 

���� Vị tr� địa dư của Việt Nam c� nghĩa l� n� c� sự tiếp x�c v� ảnh hưởng li�n tục từ l�ng giềng phương bắc của n�, Trung Hoa.� Ngay từ năm 221 trước C�ng Nguy�n, Trung Hoa đ� t�m c�ch mở rộng l�nh thổ của n� v� chinh phục phần đất giờ đ�y l� Việt Nam.� Tần Thủy Ho�ng Đế, vị ho�ng đế Trung Hoa v�o thời điểm n�y, đ� l� kẻ đầu ti�n h�nh sử một ảnh hưởng mạnh mẽ tại miền bắc Việt Nam với sự chinh phục của �ng ta v�ng nam Trung Hoa v� bắc Việt Nam.� Sự sụp đổ của nh� Tần đưa đến sự độc lập của chỉ huy sứ Trung Hoa trước đ�y, hay qu�n trấn, Nam Hải.� Người Trung Hoa sau ch�t đ� d�nh lại sự kiểm so�t Nam Hải trong năm 111 trước C�ng Nguy�n, với sự chinh phục khu vực bởi đế quốc nh� H�n, triều đại đ� thiết lập ra ba chỉ huy bộ -- Giao Chỉ, Cửu Ch�n v� Nhật Nam � vươn s�u xuống ph�a nam đến tận Đồng Hới.� Nhiều phần l� c�c l�nh địa n�y được giữ nguy�n cơ chế của ch�ng v� chỉ được s�p nhập tr�n danh nghĩa v�o Trung Hoa.� Khu vực đ� d�nh được sự tự trị to�n diện trong thời khoảng giữa năm 9 đến năm 23 sau C�ng Nguy�n, nhưng rồi lại bị đặt dưới sự kiểm so�t của Trung Hoa, ngoại trừ một v�i cuộc nổi dậy bị dẹp tan ho�n to�n bởi Trung Hoa.� C�c cuộc nổi dậy tại bộ chỉ huy n�y trở n�n thường lệ, diễn ra v�o khoảng nửa thế kỷ một, giữa năm 43 đến năm 192 sau C�ng Nguy�n.� Cuộc nổi dậy sau c�ng của c�c cuộc khởi nghĩa n�y đ� c� c�c t�c động l�u d�i v� dẫn đến sự tạo lập một ch�nh thể được biết đến đối với người Trung Hoa l� nước L�m Ấp (Linyi).� Nhiều phần l� L�m Ấp tọa lạc tại chỉ huy sứ Xianglin (Tượng L�m?) thuộc nh� H�n trước đ�.� Sự sống s�t của ch�nh thể n�y c� thể quy kết, một phần, cho sự sụp đổ của triều đại nh� H�n v�o năm 220 sau C�ng Nguy�n.� Trung Hoa bị ph�n chia th�nh ba nước tranh gi�nh nhau.� Nước ở ph�a cực nam trong ba nước n�y ch�nh l� nước Ng� (Wu), tr� đ�ng tại v�ng thung lũng s�ng Dương Tử.� triều đ�nh nh� Ng� đ� đ�n tiếp c�c sứ bộ c� � định thiết lập c�c quan hệ mậu dịch từ L�m Ấp, Ph� Nam, v� một ch�nh thể kh�c chưa x�c định được gọi l� Tangming (Đường Minh?).� Mối quan hệ giữa L�m Ấp v� nh� Ng� kh�ng phải l�c n�o cũng th�n thiện, v� trong năm 248 sau C�ng Nguy�n, ch�nh thể n�y đ� t�o bạo đột k�ch c�c bộ chỉ huy của nh� Ng� tại bắc Việt Nam.� Về sau, L�m Ấp đ� �m mưu với Ph� Nam để gửi c�c sứ bộ đến triều đ�nh nh� Jin (Tấn?) tại miền trung Trung Hoa.� C�c cuộc đột k�ch của L�m Ấp v� Ph� Nam v�o l�nh thổ nh� Ng� vẫn tiếp tục cho đến khi c� sự sụp đổ của nh� Ng� v� sự l�n ng�i của nh� Jin (Tấn).� Ho�ng Đế nh� Ta6�n (Jin) đ� thừa nhận L�m Ấp như một ch�nh thể độc lập v� do đ� đ� mở một mối quan hệ mậu dịch th�nh c�ng với L�m Ấp hồi cuối thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n.� C�c t�i liệu của đế quốc nh� Tấn (Jin) cung cấp cho ch�ng ta một c�i nh�n kh�i qu�t về địa l� ch�nh trị của Đ�ng Nam � v�o thời điểm n�y.� Kh�ng �t hơn ba mươi �vương quốc� tọa lạc tại ph�a nam nước Trung Hoa đ� gửi c�c sứ bộ đến triều đ�nh nh� Tấn (Jin) v�o l�c n�y.� Điều n�y c� vẻ chỉ cho thấy sự hiện hữu của một hệ thống phức tạp gồm nhiều ch�nh thể tại Việt Nam v� Căm Bốt, trong đ� L�m Ấp v� Ph� Nam c� lẽ l� c�c nước nổi bật.� Một vương quốc quan trọng kh�c l� Xitu, nước l�ng giềng ph�a nam của L�m Ấp.� Sử k� Trung Hoa ghi nhận rằng Xitu c� mười vương quốc nhỏ hơn l� chư hầu lệ thuộc.� Sự kiện rằng c� qu� nhiều ch�nh thể c� thể gửi c�c sứ bộ độc lập đến triều đ�nh Trung Hoa cho thấy l� L�m Ấp, Xitu hay Ph� Nam đều kh�ng phải l� nước nắm quyền b� chủ trong v�ng.

 

���� T�nh trạng c� vẻ đ� thay đổi trong thế kỷ thứ 4 khi L�m Ấp tấn c�ng nước Tấn, nước hợp t�c mậu dịch với n� � một ch�nh s�ch dẫn đến sự thất trận của chế độ trong năm 420 sau C�ng Nguy�n v� một lần nữa v�o năm 446 sau C�ng Nguy�n trước c�c đội qu�n của Trung Hoa.� Cuộc x�m lăng kể sau đ� chứng kiến sự khuất phục ho�n t�an của L�m Ấp với sự lục so�t hai trung t�m ch�nh yếu của n�.�

 

���� Sự x�m lăng của Trung Hoa v�o L�m Ấp trong năm 446 sau C�ng Nguy�n g�y ra một sự chuyển dời quyền lực đến khu vực thung lũng s�ng Thu Bồn tại Quảng Nam.� Sự suy t�n của L�m Ấp như một trung t�m mậu dịch xẩy ra c�ng l�c với một số c�c biến cố kh�c, kể cả một sự gia tăng bu�n b�n giữa Ấn Độ, T�ch Lan với Trung Hoa v� sự trổi l�n của Quảng Ch�u như một hải cảng trao đổi quan trọng của miền nam Trung Hoa.� Khu vực Thu Bồn chiếm vị tr� rất tốt về mặt địa dư như một hải cảng gh� ch�n nhờ ở bản chất của c�c luồng gi� đổi chiều (Southworth 2004).�� C�c bi�n ni�n sử Trung Hoa vẫn tiếp tục đề cập đến phần đất n�y của thế giới như l� nước L�m Ấp.

 

���� Mặc d� Thung Lũng s�ng Thu Bồn trở th�nh một trung t�m quan trọng v�o thời điểm n�y, ch�ng ta chỉ biết �t điều về lịch sử của n�.� Trong thời cuối thế kỷ thứ 6 ch�ng ta nh�n thấy sự đề cập lần đầu đến Champadesha trong một văn bia tại quần thể c�c ng�i đền ở Mỹ Sơn.� Nhiều phần l� ch�nh thể n�y cũng ch�nh l� nư�c L�m Ấp như được n�i đến từ người Trung Hoa, bởi ch�ng ta c� một t�i liệu ghi ch�p ho�ng đế nh� T�y (Sui) c� ph�i c�c đội qu�n sang đ�nh L�m Ấp v� chiếm đoạt hai th�nh tr�, một t�a rất nhiều phần đ� tọa lạc tại Tr� Kiệu, tỉnh Quảng Nam.

 

���� Thể chế ch�nh trị tập trung tại Thung Lũng s�ng Thu Bồn đ� trở n�n nổi bật v�o thế kỷ thứ 7 sau C�ng Nguy�n, nhưng ch�ng ta c� �t th�ng tin chi tiết li�n quan đến L�m Ấp v�o thời điểm n�y.� C�c c�i nh�n th�ang qua ch�ng ta c� được thường được ph�t hiện trong lịch sử Trung Hoa hay c�c văn bia.� Ch�ng ta biết rằng L�m Ấp đ� thịnh vượng trong suốt c�c thế kỷ thứ 7 v� thứ 8 sau C�ng Nguy�n nhờ c�ng cuộc mậu dịch với đế quốc nh� Đường, v� h�ng t� c�c sứ bộ mậu dịch đ� được gửi đến triều đ�nh Trung Hoa trong thời khỏang từ năm 650 đến 750 sau C�ng Nguy�n (Southworth2004).� Sau khoảng giữa thế kỷ thứ 8, sự thịnh vượng của xứ Ch�m bắt đầu bị suy giảm bởi c�c biến cố xảy ra nơi ph�a bắc xa x�i.� Qu�n nổi dậy tại miền bắc Trung Hoa đ� chiếm giữ c�c trung t�m kinh tế tại Tr�ng An (Ch�ngan) v� Lạc Dương (Luoyang), chấm dứt trong thực tế c�ng cuộc mậu dịch với miền nam Trung Hoa.� Việc n�y c�ng phức tạp hơn bởi sự lục s�at th�nh phố Quảng Ch�u v�o c�ng l�c đ� bởi c�c thủ thủ v�ng Ba Tư.� Thời kỳ n�y đ�nh dấu việc chấm dứt kh�ng sử dụng danh từ L�m Ấp trong t�i liệu Trung Hoa.� Sau giữa thế kỷ thứ 8, danh từ �Ho�n Vương: Huanwang� được d�mg để chỉ ch�nh thể nhiều phần c� kinh đ� đặt tại Quảng Nam.� Thế chế ch�nh trị Ho�n Vương c� vẻ c� một tầm mức quan trọng đ�ng kể bởi ch�ng ta c� bằng chứng rằng qu�n đội của n� c� tấn c�ng Trung Hoa hồi cuối thế kỷ thứ 8 sau C�ng Nguy�n.� Ch�ng ta c� bằng cớ văn bia trong giai đọan từ 774 đến 787 sau C�ng Nguy�n, cho thấy c�c kẻ x�m lăng đ� tấn c�ng v�ng bờ biển nam Việt Nam, ph� hủy c�c đền thờ Ấn Độ Gi�o tại Phan Rang v� Nha Trang.� C�c đền thờ n�y đ� được x�y dựng lại trong c�c năm 799 v� 784 sau C�ng Nguy�n, lần lượt bởi c�c vị vua từ v�ng Panduranga v� Kauthara.� Sự hiện hữu của c�c vương quốc miền nam khiến ta suy tưởng rằng ch�nh thể của Ch�m kh�ng phải được thống nhất bởi một vị vua duy nhất.� D� thế, c�c vương quốc Ch�m, đ� trở n�n gi�u c� nhờ mậu dịch quốc tế.

 

 

M�I TRƯỜNG

 

���� Ch�m chiếm cứ v�ng đất c� thể được m� tả l� miền nam v� trung Việt Nam, bao gồm c�c đồng bằng duy�n hải, c�c ch�u thổ, v� dẫy n�i Trường Sơn, chạy dọc theo phần lớn nước Việt Nam ng�y nay.� Đa số xứ sở bao gồm địa h�nh n�i non rộng cả h�ng ng�n thước, thỉnh thỏang bị cắt ngang bởi c�c ngọn đ�o.� Địa dư c� tầm quan trọng cho một sự t�m hiểu sự ph�t triển ch�nh thể Ch�m, khi c�c n�i đồi, ở nhiều nơi, vươn ra tới biển.� Điều n�y, một c�ch tự nhi�n, ngăn trở sự giao th�ng v� bu�n b�n theo trục bắc nam.� N�i non cũng phục vụ trong việc c� lập Ch�m với c�c l�ng giềng ph�a t�y.

 

���� Phần ph�a bắc của Việt Nam thuộc kh� hậu nhiệt đới, trong khi ph�a nam đ�o Hải V�n, nằm giữa xứ sở, kh� hậu thuộc v�ng cận nhiệt đới (subtropical).� C�c khu vực duy�n hải c� hai �m�a�.� M�a h� c� nhiệt độ cao, được l�m nhẹ bớt bởi c�c trận mưa theo gi� m�a trong th�ng T�m v� th�ng Ch�n.� Sự việc n�y được tiếp nối bởi một m�a �đ�ng�, trời th� lạnh v� kh�.

 

���� Mọi con s�ng tại Việt Nam chảy theo hướng đ�ng hay t�y, đều đổ v�o biển Đ�ng Hải (South China Sea) hay hệ thống s�ng Cửu Long.� Cửa c�c s�ng lớn nhất tại Việt Nam chảy qua c�c v�ng duy�n hải l� v�ng cư tr� của h�ng triệu cư d�n v� đ� bị chiếm ngụ kể từ thời cổ xưa.� S�ng Cửu Long cũng đổ ra biển Đ�ng Hải xuy�n qua một v�ng ch�u thổ bao la nằm s�u ph�a nam của Việt Nam.� Mặc d� kh�ng lớn như s�ng Cửu Long, c�c con s�ng v�ng duy�n hải Việt Nam c� dư khả năng để hỗ trợ một d�n số đ�ng đảo tr�n ph� sa ph� nhi�u, lượng nước ngọt cung cấp, v� c�c khu vực gi�u ngư sản tại c�c cửa s�ng của ch�ng.

 

 

D�N CH�NG

 

���� Người Ch�m n�i một ng�n ngữ thuộc d�ng Nam � (Austronesian) l� việc kh�ng cần tranh c�i, nhưng điều chưa được r� r�ng l� khi n�o c�c người n�y đến v�ng miền trung Việt Nam.� C� một số dấu hiệu chỉ dẫn rằng sự hiện diện của d�n Ch�m c� thể k�o d�i từ qu� khứ xa x�i. �Sa Huỳnh l� một địa điểm khảo cổ quan trọng tại miền trung Việt Nam.� C�c đụn c�t nơi đ� đ� mang lại c�c chum (vại) mai t�ng chất chứa một sự tương đồng với c�c truyền thống ch�n cất tại miền t�y đảo Born�o, Srarwak, v� Phi Luật T�n (Harrisson 1968; Fox 1970).� C�c chum vại tại Sa H�ynh được ch�n xuống đất v�o khoảng năm 1000 trước C�ng Nguy�n hay sớm hơn thế, v� c�c địa điểm kh�c xem ra chỉ dẫn rằng truyền thống n�y c�n tiếp tục ở nơi kh�c cho m�i đến �t nhất 500 năm trước C�ng Nguy�n (Ngo Si Hong 1991).

 

���� Văn h�a vật thể, bao gồm c�c đồ trang sức đeo tai h�nh cầu v� h�nh th� vật hai đầu, từ c�c địa điểm khảo cổ văn h�a Sa Huỳnh cũng được t�m thấy ở Phi Luật T�n v� đảo Sarawak (H� văn Tấn 1977; Fox 1979; Majid 1982).� Trong khi người d�n Sa Huỳnh c� thể đ� chế tạo ra c�c sản phẩm n�y, họ cũng đ� tham gia v�o một mạng lưới mậu dịch trải d�i cho đến tận Ấn Độ, như được minh chứng bởi sự hiện hữu của c�c x�u chuỗi thủy tinh v� đ� b�n qu�.� C�c sự kh�m ph� n�y, c� nhật kỳ v�o khoảng giữa đến cuối thi�n ni�n kỷ đầu ti�n trước C�ng Nguy�n, tượng trưng cho sự mua b�n sớm nhất giữa tiểu lục địa [Ấn Độ] với v�ng Đ�ng Nam � (Southworth 2001).� C�c địa điểm khai quật văn h�a chiếm cứ c�ng khu vực vốn đ� từng l� qu� qu�n của c�c ch�nh thể Ch�m, v� đ� c� nỗ lực để nối kết hai sự kiện n�y lại với nhau.� Một v�i địa điểm được suy tưởng l� �c�c địa điểm giao diện: interface-sites� dựa tr�n c�c n�t tương đồng về đồ sứ giữa c�c cuộc định cư thuộc thời kỳ Ch�m v� sự chiếm cứ Sa Huỳnh v� sự hiện diện của vật thể t�c tạo bởi Sa Huỳnh nằm b�n dưới c�c lớp định cư của Ch�m (Ng� Sĩ Hồng v� Thịnh, 1991; Ng� Sĩ Hồng et al. (v� c�c t�c giả kh�c) 1991).� Mặc d� kh�ng c� bằng cớ tuyệt đối cho một sự chuyển tiếp, nhiều phần Sa Huỳnh tượng trưng cho một sự nối d�i tr�n lục địa, d�ng ngữ tộc Nam �, v� l� một tiền th�n khả dĩ cho nền văn h�a Ch�m (Southworth 2001, 98).� C� thể lập luận rằng c�c sự định cư tại Sa H�ynh tượng trưng cho sự đặt ch�n đầu ti�n của c�c kẻ n�i tiếng Ch�m tr�n lục địa (Bellwood 1993, 51).� Căn cơ nơi những người n�y ph�t sinh vẫn c�n l� một điều b� ẩn nhưng nhiều phần nguồn gốc của họ c� thể được t�m thấy tại v�ng hải đảo Đ�ng Nam �.�

 

���� Nhiều phần l� ng�n ngữ Ch�m đ� được d�ng để đối thoại th�ng thường trong khi ng�n ngữ Sanskrit lại được d�ng cho c�c ph�p dụ t�n gi�o quan trọng v� sự tạo lập c�c văn bia.� T�c giả Southworth (2002, 224) n�u � kiến rằng tiếng Ch�m, viết theo văn tự ph�t sinh từ v�ng Nam Ấn Độ (*a, xin xem ch� th�ch của người dịch), được d�ng cho một loạt mục đ�ch rộng r�i để viết văn kiện ch�nh thức, t�n gi�o v� văn chương.�

 

 

T�N GI�O

 

Văn bia tai Đồng Y�n Ch�u [?] từ miền trung Việt Nam chứng thực cho sự hiện hữu của c�c niềm tin t�n gi�o bản xứ nơi người Ch�m.� Văn bia n�y, được viết bằng ng�n ngữ Ch�m, c� nhật kỳ c� lẽ v�o khoảng cuối thế kỷ thứ 5 hay đầu thế kỷ thứ 6 (Lombard 1987).� Bằng cớ, cả ở c�c đền đ�i kỷ niệm lẫn theo cổ tự học, cho ta thấy Ấn Độ gi�o đ� l� hệ thống t�n gi�o thịnh h�nh.

 

���� T�n gi�o đ�ng kể nhất tại nước Ch�m ban sơ c� vẻ l� đạo thờ Saivism [? đạo thờ Siva].� Siva được t�n thờ dưới h�nh thức dương vật (linga).� Vua Ch�m, Bhadravarman đ� dựng một tượng dương vật tại vương quốc của �ng ta v�o cuối thế kỷ thứ 4 hay đầu thế kỷ thứ 5 (Bagchi 1930).

 

���� C� thể c� một �t nghi ngờ rằng đạo Phật đ� đ�ng giữ một vai tr� trọng t�m tại L�m Ấp / Ch�m từ ngay l�c ban sơ.� Sự x�m lăng L�m Ấp v�o năm 605 sau C�ng Nguy�n đ� thu lượm chiến lợi phẩm gồm c�c b�i vị bằng v�ng v� kinh s�ch Phật gi�o viết bằng ng�n ngữ Nam � (Wang Gungwu 1958, 64).� Phật Gi�o Đại Thừa, được mang đến bởi c�c nh� sư gh� ch�n tại c�c hải cảng xứ Ch�m trong khi du h�nh giữa Ấn Độ v� Trung Hoa, c� vẻ như đ� nẩy nở tại Ch�m sau thế kỷ thứ 8.� C�c ng�i đền ở Đồng Dương l� một sự chứng thực cho sự hiện diện của t�n gi�o n�y.

 

���� Quần thể đền thờ Ấn Độ Gi�o ch�nh yếu tọa lạc tại Mỹ Sơn.� Những đền n�y thường d�nh để thờ Siva.� C�c ng�i đền được dựng bởi người Ch�m b�n ngo�i Mỹ Sơn hồi giữa thế kỷ thứ 7 sau C�ng Nguy�n thường mang nặng m�u sắc gi�o ph�i thờ Vaishnuite.

 

 

TỔ CHỨC X� HỘI V� CH�NH TRỊ

 

���� Bia k� ở V� Canh khiến ta nghĩ rằng c�c x� hội tại miền trung Việt Nam hồi thế kỷ thứ 3 sau C�ng Nguy�n theo mẫu hệ (Southworth 2001, 204).� T�c giả Southworth ghi nhận rằng c�c nh�m n�i tiếng Nam � tại Việt Nam được cấu tr�c một c�ch tương tự, biểu lộ sức mạnh của c�c t�n ngưỡng bản xứ trong một cộng đồng tiếp nhận những nghi thức của văn h�a Ấn Độ.� Đỉnh cao của sự vinh quang của Ch�m diễn ra từ thế kỷ thứ 8 khi n� bao gồm khu vực địa dư rộng lớn nhất trong lịch sử của n�.� Ch�nh thể c� vẻ đ� được ph�n chia th�nh năm miền hay l�nh địa, Indrapura, Maravati, Vijaya, Kauthara v� Panduranga (Dharma 2001).

 

 

M� THỨC ĐỊNH CƯ

 

���� C� � kiến cho rằng mỗi thung lũng của gi�ng s�ng tượng trưng cho một l�nh địa ch�nh trị ri�ng biệt (Hall 1992).� Tại cửa mỗi gi�ng s�ng, một trung t�m mậu dịch / chợ được d�ng như một điểm th�ng qu� c�c sản phẩm thu gom từ nội địa.� Một chuỗi c�c ng�i l�ng dọc theo con s�ng được li�n kết về mặt ch�nh trị với trung t�m mậu dịch / chợ v� t�c động như c�c điểm tập kết c�c h�ng hoa được thu gom từ c�c v�ng nội địa.� T�c giả Southworth (2001) ghi nhận rằng m� thức n�y tương tự như m� thức l� thuyết được đề xướng bởi Bronson (1977) trong đ� một ch�nh thể ph�t triển từ c�c khu định cư đặt tại c�c cửa s�ng.� Sự tương t�c thương mại giữa c�c khu định cư duy�n hải kết hợp th�nh một ch�nh thể, v� n� tự mở rộng v�o trong nội địa, ch�nh yếu xuy�n qua sự giao tiếp thương mại với từng thung lũng gi�ng s�ng li�n hệ.� Tiền đề n�y được hậu thuẫn bởi sự kiện rằng mọi sản phẩm chế t�c của Sa Huỳnh thời ban sơ đều được t�m thấy tại gần c�c con s�ng lớn (Hồ Xu�n Tinh 1993, 85).� Một sự hiểu biết về m� thức định cư tại xứ Ch�m bị cản trở bởi sự thiếu thốn c�ng tr�nh nghi�n cứu được thực hiện.� Trong khi ch�ng ta hay biết c�c k�ch thước một số địa điểm chẳng hạn như Mỹ Son v� Đồng Dương, c�c địa điểm kh�c vẫn chưa được kh�m ph� hay khảo s�t.� Wheatley l� một t�c giả c� n�u � kiến rằng, trong suốt c�c thế kỷ ban đầu của thi�n ni�n kỷ vừa qua, c�c cuộc định cư của ngườii Ch�m c� lẽ giống như �một ma trận của c�c t� trưởng hội nhập v�o một khu�n mẫu biến đổi li�n tục của c�c l�nh địa bộ lạc� (Wheatley 1983, 397).� Đa số c�c địa điểm khảo cổ củ.a Ch�m thuộc v�o v�ng Thung Lũng S�ng Thu Bồn tại tỉnh Quảng Nam, miền trung Việt Nam.

 

���� Theo Shuijing Shu (Thủy Kinh Ch�), một quy�n sử k� được bi�n soạn bởi t�c giả L� Đạo Nguy�n hồi đầu thế kỷ thứ 6 sau C�ng Nguy�n, người Trung Hoa c� thực hiện một cuộc x�m lăng v�o xứ L�m Ấp trong năm 446 sau C�ng Nguy�n.� Một trong c�c thị trấn c� tuyến ph�ng thủ ki�n cố được n�i đến l� Qusu tại bi�n giới ph�a bắc của l�nh thổ L�m Ấp.� Th�nh phố n�y được bao quanh bởi một bức tường x�y bằng gạch cao chin thước với chu vi d�i hơn hai c�y số (Pelliot 1904).� Rất c� thể l� Qusu tọa lạc b�n con s�ng Gianh gần nơi ng�y nay gọi l� Ba Đồn [?] tại tỉnh Quảng B�nh. �Qusu c� thể tọa lạc c�ch khoảng hai trăm c�y số theo đường bộ với nơi được đặt theo t�n của L�m Ấp, kinh đ� của thể chế ch�nh trị, c� lẽ tọa lạc gần nơi m� ng�y nay gọi l� Huế (Aurousseau 1914, 12; Stein 1947, 27, 71, 76).� Địa điểm Long Thọ, ph�a nam con s�ng Hương (gần Huế), rất c� thể l� địa điểm của kinh đ� cổ xưa (Parmentier 1909, 512; Southworth 2001, 274).

 

���� Kinh đ�, như được m� tả bởi c�c nh� ch�p bi�n ni�n sử Trung Hoa, đ� được di chuyển sau khi n� bị ph� hủy, v� trong năm 605 sau C�ng nguy�n, nhiều phần được đặt tại Thung Lũng s�ng Thu Bồn (Southworth 2001, 275).� Tin tức từ c�c nguồn t�i liệu Trung Hoa th� quan trọng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về m� thức định cư của người L�m Ấp / Ch�m. �Mang nhiều � nghĩa hơn một sự di chuyển một trung t�m ch�nh trị như c�c t�i liệu Trung Hoa đ� �m chỉ, nhiều phần �ch�ng phải được xem kh�ng chỉ như một chuỗi nối tiếp �c�c kinh đ�, mỗi thủ đ� thay thế cố đ� trước đ�, m� đ�ng hơn như một loạt c�c trung t�m đ� thị tự trị v� đồng hiện hữu trong bản chất, mỗi trung t�m dựa tr�n một hệ thống s�ng ng�i chiến lược, v� mỗi trung t�m cạnh tranh với nhau về lợi thế kinh tế v� quyền chủ tể tối thượng về ch�nh trị� (Southworth 2001, 275).

 

 

C�C QUAN HỆ QUỐC TẾ

 

���� Đế quốc được bao quanh bởi Ph� Nam ở ph�a t�y, Việt ở ph�a bắc, v� xa hơn nữa về phia bắc, Trung Hoa.� Ch�m, như ch�ng ta đ� biết, triều cống thường lệ, d� miễn cưỡng, cho nước Trung Hoa ngay từ nhật kỳ ban sơ.� C�c quan hệ của n� với nước Việt th� căng thẳng, bởi người Ch�m đ� cố gắng trong v�i lần muốn mở mang l�nh thổ của n� về hướng bắc, nhưng rồi để chỉ bị đẩy lui.� Người Khmer nguy�n thủy th�n thiện với xứ Ch�m, nhưng quan hệ n�y trở n�n chua ch�t sau thế kỷ thứ 9 v� hai nước l�ng giềng trở th�nh kẻ th� ki�n quyết của nhau.� Một nguồn gốc g�y phiền nhiễu kh�c cho người Ch�m l� người M� Lai, đến cướp ph� c�c khu định cư người Ch�m ở ph�a nam hồi gần cuối thế kỷ thứ 8.� Dần đ� người M� Lai v� người Ch�m bắt đầu tham gia v�o việc thương mại v� bản chất x�m lấn của mối quan hệ mờ nhạt đi (Dharma 2001).

 

���� Mối quan hệ Ch�m với đế quốc Trung Hoa th� n�o động, nhưng kh�ng c� mấy nghi ngờ rằng người Ch�m đ� c� c�c sự tiếp x�c thường lệ với người Trung Hoa, �t ra ở ph�a nam, từ thế kỷ thứ 1 trước C�ng Nguy�n.� Ảnh hưởng của Trung Hoa tại miền bắc Việt Nam c� thể c� nhật kỳ xa xưa từ năm 185 trước C�ng Nguy�n khi �u Lạc (Ou Lou) trở th�nh một l�nh địa chư hầu của Nam Việt (Quảng Đ�ng ng�y nay).� Nam Việt sau c�ng bị khuất phục bởi đế quốc nh� H�n, triều đại đ� quan t�m xa hơn nữa đến c�c v�ng đất ph�a nam, thiết lập ba �bộ chỉ huy� tại v�ng ng�y nay l� Việt Nam.� Người H�n tham gia v�o c�ng cuộc mậu dịch quốc tế, v� c�c bộ chỉ huy tại Việt Nam c� vẻ đ� đ�ng vai tr� c�c trạm trung chuyển trong c�ng cuộc mua b�n n�y.� Nhiều phần một ph�i bộ mậu dịch của Ho�ng Đế [La M�] Marcus Aurelius đ� gh� lại miền trung Việt Nam tr�n đường đi đến triều đ�nh nh� H�n trong năm 166 sau C�ng Nguy�n (Ishizawa 1995, 12).� Sau khi c� sự sụp đổ của triều đại nh� H�n, đế quốc trước đ�y bị chia l�m ba vương quốc � Thục (Shu), Ngụy (Wei) v� Ng� (Wu).� Nước sau c�ng trong ba nước n�y đ� đảm nhận sự kiểm so�t tr�n c�c bộ chỉ huy trước đ�y tại miền bắc Việt Nam (Pelliot 1903b, 251).� V�o khỏang năm 230 sau C�ng Nguy�n, triều đ�nh nh� Ng� đ� gửi sứ bộ đến L�m Ấp, l� nước, kế đ�, đ� ph�i một sứ bộ sang triều cống.

 

���� Sự may mắn của triều đ�nh nh� Ng� kh�ng k�o d�i.� Trong năm 263 sau C�ng Nguy�n, t�nh trạng bế tắc giữa ba nước bị ph� vỡ v� hai nước Thục v� Ngụy kết hợp lại trở th�nh triều đại nh� Tấn (Jin).� Nh� Ng� c�n lại phải đối diện với lực lượng kết hợp của phương bắc.� C�c chỉ huy sứ tại v�ng cực nam đ� nắm lại cơ hội để th�o bỏ �ch đ� hộ của nh� Ng�.� C�c bộ chỉ huy nổi loạn n�y, L�m Ấp v� Ph� Nam, đ� ph�i c�c sứ bộ đến triều đ�nh nh� Tấn năm 268 sau C�ng Nguy�n (Pelliot 1903b, 252).� H�nh vi n�y trở n�n v� �ch khi nh� Ng� sau hết đ� d�nh lại được sự kiểm so�t tr�n l�nh thổ của n�, nhưng L�m Ấp vẫn c�n chống cự.� Sử s�ch Trung Hoa ghi nhận c�c cuộc đột k�ch v�o l�nh thổ của n� trong thập ni�n sau năm 271 sau C�ng Nguy�n bởi Fan Xiong, một nh� vua của L�m Ấp (Xuanling 578-648, 3 v� 97; Maspero 1928, 53-55).

 

���� C� vẻ rằng L�m Ấp v� Ph� Nam c� sự giao hảo trong suốt thời cuối của thế kỷ thứ 3, bởi c�c nh� ch�p sử Trung Hoa ghi nhận rằng ch�ng đ� trợ gi�p lẫn nhau v� cả hai từ chối việc bị s�p nhập bởi đế quốc nh� Tấn (Xuanling 578-648, 57; Pelliot 1903b, 255).� C�c sứ bộ của cả Ph� Nam v� L�m Ấp được ghi nhận trong số hai mươi mốt sứ đo�n từ c�c chế độ quanh Đ�ng v� Đ�ng Nam � đươ,c ph�i đến triều đ�nh nh� Tấn hồi cuối thế kỷ thứ 3 (Xuanling 578-648, 3 v� 10; Pelliot 1903b, 252).� Thời kỳ n�y xem ra cũng l� một thời thịnh vượng bởi mậu dịch giữa Ph� Nam v� L�m Ấp ph�t triển.� Từ l�c khởi đầu thế kỷ thứ 4, mối quan hệ kinh tế n�y bắt đầu suy t�n, c� thể do việc c�c quan thuế biểu nặng nề đ� được �p đặt bởi c�c kẻ cai quản c�c bộ chỉ huy Trung Hoa, vốn l� c�c kẻ kiểm so�t c�c lộ tr�nh mậu dịch tr�n đất liền (Wang Gunfwu 1958, 296; Southworth 2001).� Vấn đề c�ng trở n�n rối rắm hơn với sự tan ra của đế quốc nh� Tấn.� Trung Hoa qu� suy yếu v�o l�c đ� đ�n nỗi, v�o khoảng năm 346 sau C�ng Nguy�n, L�m Ấp cảm thấy c� thể x�m lăng c�c bộ chỉ huy của Trung Hoa tại miền bắc Việt Nam, đ�i hỏi rằng bi�n giới giữa Trung Hoa v� L�m Ấp sẽ được ấn định tại ngọn n�i Ho�nh Sơn (Southworth 2001, 296).� C�c sự x�m nhập n�y đưa đến c�c cuộc tấn c�ng trả đũa bởi qu�n đội Trung Hoa, dẫn đến việc c�c sứ bộ triều cống được ph�i đi bởi L�m Ấp đến triều đ�nh nh� Tấn trong c�c na9m 372, 373-374, v� 377 sau C�ng Nguy�n (Jin shu (Tấn thư) 9 v� 97; Maspero 1928, 61).

 

���� H�a b�nh kh�ng k�o d�i được bao l�u, bởi L�m Ấp lần nữa lại tấn c�ng c�c bộ chỉ huy ph�a nam v�o năm 405 sau C�ng Nguy�n.� Trung Hoa đ�p lại bằng việc tấn c�ng c�c khu định cư ven biển của L�m Ấp trong năm 407 sau C�ng Nguy�n, v� sau khi c� sự tấn c�ng hơn nữa bởi L�m Ấp, Trung Hoa đ� quả quyết đập tan hải qu�n L�m Ấp v�o năm 420 sau C�ng Nguy�n (Southworth 2001, 300).� Chiến thắng hải qu�n n�y l� một trong c�c chiến thắng sau c�ng đối với c�c ho�ng đế nh� Tấn, bởi triều đ�nh Nam Tống đ� được thiết lập trong c�ng năm n�y.� Vị ho�ng đế mới đ� đ�n tiếp một sứ bộ L�m Ấp tại triều đ�nh của �ng trong năm sau đ�.� Mặc d� L�m �p c� lệ thuộc v� tiếp tục gửi c�c sứ bộ đến triều đ�nh Trung Hoa trong hai mươi năm sau đ�, n� vẫn tiếp tục đ�nh ph� c�c bộ chỉ huy Trung Hoa ở ph�a nam (Southworth 2001, 301). �Trung Hoa tiếp tục trừng phạt L�m Ấp bằng h�nh vi qu�n sự.

 

���� C�c quan hệ với Ph� Nam c� vẻ trở n�n chua ch�t trong suốt thế kỷ thứ 5 sau C�ng Nguy�n, khi m� Ph� Nam y�u cầu sự trợ gi�p qu�n sự từ nh� Qi [?] l� kẻ đ� thay thế nh� Tống trong việc trị v� Trung Hoa.� Bất kể c�c sự tho�i bộ qu�n sự trong hồi đầu của thế kỷ v� c�c cuộc tranh chấp với Ph� Nam, thế kỷ thứ 5 đ� l� một thời kỳ thịnh đạt tại miền trung Việt Nam.� Mậu dịch giữa Ấn Độ v� Trung Hoa nở rộ, đem c�c nh� mậu dịch đến c�c khu vực duy�n hải của Việt Nam, đặc biệt đến c�c khu định cư người Ch�m tại Thung Lũng s�ng Thu Bồn (Southworth 2001, 302).� Sụ cạnh tranh tr�n c�ng cuộc mậu dịch n�y đ� dẫn đến c�c sự tranh chấp giữa Ph� Nam v� L�m Ấp.

 

 

C�C ĐỊA ĐIỂM KHẢO CỔ

 

���� V�ng duy�n hải Việt Nam được chấm ph� bởi c�c di t�ch của nền văn minh Ch�m.� C�c phế t�ch bằng gạch cho ch�ng ta một c�i nh�n thấu triệt về tầm mức vĩ đại của đế quốc Ch�m.� C�c cấu tr�c xưa nhất c� nhật kỳ v�o cuối thế kỷ thứ 4, v� người Ch�m tiếp tục dựng l�n c�c đền đ�i bằng gạch cho đến thế kỷ thứ 15.

 

���� Vua Bhadravarman I được biết ch�nh yếu từ c�c văn bia bằng tiếng Sanskrit v� c�c di t�ch của sự tạo lập một đền thờ tại Mỹ Sơn, dựng l�n hồi cuối thế kỷ thứ 4.� Ng�i đền được d�nh để thờ Siva Bhadreshvara v� c� chứa một tượng dương vật.� Bị ph� hủy bởi một cơn ch�y, n� đ� được t�i x�y dựng hồi đầu thế kỷ thứ 7 bởi vua Sambhuvarman (? � 629 sau C�ng Nguy�n) l� kẻ đ� x�y th�m một ng�i đền thờ Lakshmi tại Mỹ Sơn.� Nhiều ng�i đền kh�c được bổ sung bởi vua Vikrantavarman I (trị v� khoảng �653 - ? sau C�ng Nguy�n) v� II (trị v� ?- 731 sau C�ng Nguy�n) từ giữa thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ thứ 8.� C� vẻ đ� c� c�c sự thay đổi ch�nh trị quan trọng diễn ra hồi giữa thế kỷ thứ 8.� Người Trung Hoa ghi nhận rằng một thể chế ch�nh trị miền nam được gọi l� Hu Wang c� hiện hữu.� Trong một thế kỷ từ 758 đ�n 859 sau C�ng Nguy�n, miền bắc xứ Ch�m đ� kh�ng được đề cập đến trong c�c sử bi�n ni�n của Trung Hoa (Boisselier 2001).� Quyền lực c� vẻ được tập trung chung quanh Nha Trang, nơi đền thờ Po Nagar đ� được dựng l�n bởi vua Prathivindravarman (trị v� khỏang giữa thế kỷ thứ 8).� Đền thờ n�y bị ph� hủy bởi người Java hồi cuối thế kỷ thứ 8 nhưng được kh�i phục bởi vua Satyavarman v�o năm 784 sau C�ng Nguy�n.� Người Java đ� tấn c�ng một c�ch mạnh mẽ, kh�ng chỉ xứ Ch�m, m� c�n cả v�o B�n Đảo M� Lai nữa.� Mặc d� c�c cuộc tấn c�ng qu�n sự diễn ra ngắn ngủi, người Java đ� để lại một t�c động l�u d�i tr�n văn h�a Ch�m, ảnh hưởng c�c thể điệu mỹ thuật v� c� lẽ chịu tr�ch nhiệm cho việc du nhập Phật Gi�o Đại Thừa (Boisselier 2001, 35).

 

���� Sau đ�, quyền lực chuyển di s�u xuống ph�a nam, đến Panduranga.� Sau nữa, vua Harivarman (trị v� 802- khoảng 820 sau C�ng Nguy�n) đ� tạo lập c�c đền đ�i tại Senapati Par v� dựng th�m c�c đền thờ tại Po Nagar.� Vị vua kế tiếp, Vikrantavarman III (trị v� khoảng giữa thế kỷ thứ 9) đ� x�y th�m nữa c�c điện thờ tại Po Nagar v� c�c đền đ�i tại M�ng Đức [?] v� tại H�a Lai [?].� V�o cuối thế kỷ thứ 9 Ch�m đ�n nhận Phật Gi�o Đại Thừa, dựng l�n c�c ng�i ch�a tại Đồng Dương v� Ron [?], cũng như x�y th�m c�c đền đ�i tại Mỹ Sơn.� Kinh đ� được thiết lập tại Indrapura (nay l� tỉnh Quảng Nam) trong năm 875 sau C�ng Nguy�n.� Trong c�c năm sau đ�, cho đến năm 918 sau C�ng Nguy�n, Mỹ Sơn đ� được n�ng cao l�n bởi c�c Vua Jaya Simhavarman I (trị v� khoảng 897 � khoảng 904 sau C�ng Nguy�n) v� vua Bhadravarman II (trị v� năm 905 � 917 sau C�ng Nguy�n).� V�o thời điểm n�y, vua Indravarman III năm quyền (trị v� năm 918-959 sau C�ng Nguy�n).� �ng được kế ng�i bởi vua Jaya Indravarman I (trị v� 960-965 sau C�ng Nguy�n), l� kẻ đ� x�y dựng một điện thờ tại Mỹ Sơn v� cho chuyển kinh đ� Ch�m về lại Indrapura.� Kinh đ� t�i lập được chuyển đến Vijaya bởi nh� vua kế ng�i, Harivarman (trị v� năm 989-999 sau C�ng Nguy�n).� Vua Jaya Parameshvarman I (trị v� năm 1044-106o sau C�ng Nguy�n), người nối ng�i Harivarman, c� vẻ như thuộc một gi�ng tộc kh�c v� đ� th�nh lập một triều đại mới để cai trị xứ Ch�m.� �ng t�m c�ch khuất phục d�n ch�ng tại Panduranga, c�c kẻ đ� nổi dậy v� thờ c�ng một tượng dương vật tại Po Klaung Garai v� phục hồi khu đền Po Nagar.� Triều đại được th�nh lập bởi vua Jaya Parameshvaravarman c� đời sống ngắn ngủi, suy t�n đi sau c�c cuộc tấn c�ng thất bại v�o nước Đại Việt ở phương bắc bởi Vua Rudravarman III (trị v� năm 1062-1074 sau C�ng Nguy�n).� Từ năm 1074 đ�n 1081, Vua Harivarman IV c� dựng đền thờ Simhapura v� c�c đ�n thờ tại Mỹ Sơn được phục chế.� Người kế nhiệm �ng, vua Jaya Indravarman II (trị v� năm 1086-1113 sau C�ng Nguy�n), đ� dựng l�n c�c ng�i điện thờ tại Mỹ Sơn y như người kế nhiệm �ng mang c�ng vương hiệu.� Vua Jaya Harivarman I (1147-1166 sau C�ng Nguy�n) trở về từ một nước b�n ngo�i để l�nh đạo c�c cuộc chiến tranh chống lại người Khmer, người Việt v� c�c d�n thuộc bộ lạc miền n�i trong nội địa.� �ng cũng tạo dựng c�c điện thờ tại Mỹ Sơn v� Po Nagar.� Qu�n đội Ch�m, dưới sự l�nh đạo của vua Jaya Indravarman IV (trị v� năm 1166 - ?), d�nh được c�c chiến thắng ngắn ngủi tại Căm Bốt, đ�nh chiếm v�ng Angkor trong năm 1177.� Người Khmer đ� trả th� trong năm 1181 bằng việc t�i chiếm kinh đ� của họ v� chiếm đ�ng xứ Ch�m trong gần bốn mươi năm.� Người Ch�m đ� chỉ d�nh lại nền độc lập của họ nh�n dịp c� sự chiếm đ�ng v� giao chiến thường trực của M�ng Cổ với d�n Việt v� d�n Khmer.� C�c đền thờ được tạo lập trong suốt thời gian n�y, chẳng hạn như c�c điện thờ được dựng l�n tại Po Klaung Garai v� Yang Prong hồi cuối thế kỷ thứ 13.� Ch�nh thể Ch�m sau c�ng bị sụp đổ v�o năm 1471 với sự chiếm giữ kinh đ� Vijaya bởi người Việt.

 

���� Ni�n sử của c�c dịa điểm khảo cổ của Ch�m đ� được nghi�n cứu từ hồi đầu thế kỷ vừa qua (Parmentier 1918).� T�c giả Stern (1942) chủ trương rằng c�c văn bia được t�m thấy c�ng với c�c đền thờ rất c� thể để n�i đến một cấu tr�c đ� bị ph� hủy trước đ�y đ� l�u, v� kh�ng mang một sự tương đồng n�o với những g� c�n s�t lại.� Thay v�o đọ �ng đ� ấn định nhật kỳ c�c cấu tr�c dưa tr�n sự tiến h�a của c�c đặc điểm về thể c�ch.� Trong khi được sử dụng một c�ch rộng r�i, vẫn c� c�c thắc mắc về kỹ thuật của Stern, bởi n� giả định một sự hợp nhất văn h�a cho xứ Ch�m v� kh�ng bao gồm c�c truyền thống đ� được địa phương h�a (Southworth 2001).

 

���� Theo t�c gỉa Majumdar (1944), c�c đền thờ Ch�m được x�y dựng theo kiểu Dravidian, c�c ngọn th�p đơn giản, nhưng vẫn đẹp, thon nhọn tr�n đỉnh.� C�c th�p tương tự được thấy ở c�c ng�i đ�n thờ Siva c� nhật kỳ từ thế kỷ thứ 7 sau C�ng Nguy�n tại Tamil Nada.� Majumdar (1944) r�t ra c�c đường n�t tương tự giữa thể điệu k�o d�i tại Mỹ Sơn với một s� ng�i đền tại Tamil Nadu, x�c định c�c kiểu c�ch thuộc c�ng thời đại.� Trong khi thể điệu th� tương tự, t�c giả Majumdar (1944, 151-52) thừa nhận rằng �người Ch�m đ� kh�ng bắt chước một m� qu�ng c�c nguy�n mẫu Ấn Độ v� đ� bổ t�c c�c yếu tố mới của ch�nh họ� (tham chiếu Parmentier 1902).

 

Mỹ Sơn

 

���� Mỹ Sơn, trong tỉnh Quảng Nam, bao gồm hơn bảy mươi cấu tr�c bằng gạch d�nh để thờ c�c vị thần Ấn Độ gi�o, được ph�n nh�m từ A đến N bởi c�c nh� khảo cổ người Ph�p (Stern 1942).� C�c di t�ch của c�c ng�i đền xưa nhất của Ch�m được t�m thấy tại đ�y, trong nh�m E.� Boisselier (2001, 33) ph�t biểu rằng c�c ng�i đền thuộc nh�m n�y phản ảnh một tầm bao qu�t của c�c ảnh hưởng đến từ Draravati, Nam Dương, v� nam Ấn Độ, cũnh như của Khmer.� Ảnh hưởng v�ng kể sau c�ng được g�n kh�ng mấy ngạc nhi�n cho c�c sự li�n kết theo ức đ�an giữa kẻ cai trị Khmer l�c bấy giờ, Isanavarman I, với nh� l�nh đạo của Ch�m (Boisselier 1956; 2001).

 

���� Một trong c�c văn bia quan trọng nhất được t�m thấy tại Mỹ Sơn nay đ� thất lạc.� Bia cao 1.69 m�t khắc chữ Sanskrit n�y tưởng nhớ c�c c�ng đức của vua Bhadravarman (*người bảo hộ s�ng ch�i�) v� c� thể được x�c định với sự tạo lập ng�i điện thờ Siva Bhadresvara tại Mỹ Sơn (Southworth 2001, 209).� Đối tượng ch�nh yếu của văn bia l� Siva, nhưng n� cũng đề cập đến Brahma, Vishnu, v� ho�ng hậu của Siva, Ulma, v� c� thể l� t�i li�u cổ xưa nhất về c�c vị thần như thế tại Đ�ng Nam � (Southworth 2001, 215).� Dựa tr�n cổ tự học, c�c văn bia c� nhật kỳ khoảng thế kỷ thứ 5 sau C�ng Nguy�n (Buhler 1866, Tafel VII, X-XI; Sircar 1942, 473, n. 4).� Một trong những kh�m ph� quan trọng nhất tại Mỹ Sơn l� một tấm bia (văn bia số C72), được kh�c cả hai mặt v� d�nh t�n dương� vua Bhadravarman.� Bia, cao gần hai m�t v� d�y hơn một m�t, đ� biến mất.� Bản văn bằng tiếng Sanskrit, ghi nhận sự tạo lập ng�i đền thờ Bhadresvara tại Mỹ Sơn, đ�ng lưu � v� n� c� thể chứa sự đề cập xưa nhất về Visnu, Brahma, v� Ulma trong tất cả c�c văn bia của Đ�ng Nam � (Southworth 2001, 209, 215).

 

Đồng Dương

 

���� Một văn bia từ năm 875 sau C�ng Nguy�n cho thấy một triều đại mới đ� được th�nh lập tại v�ng ng�y nay l� Quảng Nam.� Nh� s�ng lập ra triều đại l� vua Indravarman II, v� kinh đ�, Indrapura, được đặt theo t�n của �ng.� Triều đại mới đ� thiết lập một quần thể c�c đền đ�i, d�nh cho Phật Gi�o Đại Thừa, tại Đồng Dương.� Rất tiếc rằng c�c cấu tr�c n�y đ� bị ph� hủy trong cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

 

Tr� Kiệu

 

���� Một trong những địa điểm khảo cố quan trọng nhất về Ch�m l� Tr� Kiệu, tọa lạc dọc theo một phụ lưu của s�ng Thu Bồn tại miền trung Việt Nam.� Theo c�c nh� khảo cổ khảo s�t địa điểm, n� c� nguồn gốc từ văn h�a Sa Huỳnh nhưng đ� ph�t triển c� t�nh ri�ng của n� v� trở th�nh một khu định cư h�ng đầu của đế quốc Ch�m (Nguyễn Chi�u, L�m Mỹ Dung v� c�c t�c giả kh�c, 1991, trong Southworth 2001).� Nhiều phần l� địa điểm n�y đ� được chiếm cứ lần đầu ti�n ở một v�i thời điểm n�o đ� trong thế kỷ thứ nhất hay thứ nh� trước C�ng Nguy�n (Southworth 2001, 93).

 

���� Tr� Kiệu đ� được cho l� kinh đ� của L�m Ấp, l� điều c� lẽ đ�ng như thế.� C� một v�i sự bất đồng về thời điểm khi m� n� được x�c định như thế.� Một quyển sử Trung Hoa, Thủy Kinh ch� (Shuijing Shu), bi�n soạn hồi đầu thế kỷ thứ 6 sau C�ng guy�n, đ� x�c định một kinh đ� ở v�ng phụ cận Tr� Kiệu v� c� thể đ�ng như thế v�o l�c quyển s�ch được viết ra.

 

 

SỰ SUY T�N

 

���� Hồi khoảng giữa thế kỷ thứ 9 sau C�ng Nguy�n, ho�ng đế nh� Đường đ� cố gắng ngăn chặn c�c h�ng h�a mậu dịch đổ v�o V�n Nam v� l�m gi�u cho vương quốc Nam Chiếu (Nan Zhao), nước đ� phản hồi bằng việc tấn c�ng v�ng Ch�u Thổ s�ng Hồng.� Kết quả l� sự gi�n đoạn mậu dịch giữa miền bắc Việt Nam với quần đảo Nam Dương v� với thế giới Ả Rập.� Trung t�m mậu dịch được di chuyển xa hơn l�n ph�a bắc đến Quảng Ch�u, g�y ảnh hưởng bất lợi cho xứ Ch�m.� Nhiều phần l� đế quốc Ch�m đ� sinh tồn nhờ mậu dịch v� rằng lợi tức từ c�c hoạt động n�y th� cần thiết để duy tr� mạng lưới phức tạp của c�c li�n minh ch�nh trị giữa c�c ch�nh thể kh�c nhau của Ch�m (Hall 1985).� Một khi c�ng cuộc mậu dịch bị đe dọa, li�n minh ch�nh trị bị tan r� chỉ c�n l� vấn đề thời gian.� Xứ Ch�m, v�o l�c đ�, được cai trị bởi Vua Indravarman l� kẻ đ� x�y dựng ng�i ch�a Phật Gi�o tại Đồng Dương v�o khoảng năm 875 sau C�ng Nguy�n.� C� vẻ l� vương quốc của Indravarman đ� trải d�i từ c�c tỉnh ng�y nay l� Quảng Trị ở phương bắc xuống tới Quảng Ng�i ở phương nam (Schweyer 2000).� Ảnh hưởng Ch�m tr�n miền bắc Việt Nam bắt đầu bị t�n lụi trong s�u mươi năm kế đ� với sức mạnh gia tăng của ch�nh thể Đại Việt.� Trong năm 982 sau C�ng Nguy�n, Đai Việt x�m lăng Ch�m v� sau rốt chiếm cứ phần ph�a bắc của đế quốc Ch�m trong v�i thập ni�n.

 

���� Trong thế kỷ thứ 11, một vương quốc Ch�m mới được gọi l� Vijaya được th�nh lập tại ph�a nam Việt Nam trong tỉnh B�nh Định ng�y nay. Vijaya tượng trưng cho đỉnh cao của Ch�m, một vương quốc chiến thắng trong chiến tranh chống lại Khmer ở ph�a t�y.� Dưới triều vua Shri Jaya Indravarmadeva, Ch�m đ� đ�nh bại kẻ th� l�u đời của n�, d�n Khmer, chiếm giữ Angkor.� Rất tiếc cho người Ch�m l� cuộc chiến thắng kh�ng k�o d�i l�u, v� qu�n Ch�m chiếm đ�ng Căm Bốt b� đ�nh đuổi ở gần v�ng Angkor.� Vua Khmer Jayavarman VII đ� c�n qu�t trong cơn chiến thắng, chiếm đ�ng Vijaya trong năm 1191 sau C�ng Nguy�n.� Tuy nhi�n, xứ Ch�m đ� kh�ng biến mất, v� đ� d�nh lại sự độc lập của n� khi kh�ng cự một cuộc x�m lăng của qu�n M�ng Cổ hồi cuối thế kỷ thứ 13.� Biến cố trọng đại sau c�ng của vương quốc Ch�m l� cuộc x�m lăng của Đại Việt v�o năm 1370 sau C�ng Nguy�n; sau đ� quyền lực của vương quốc đ� t�n tạ đi.

 

 

KẾT LUẬN

���� �

���� Mối quan hệ giữa L�m Ấp v� Ch�m kh�ng r� rệt.� Một số học giả n�u � kiến rằng L�m Ấp v� Ch�m l� c�c danh xưng kh�c nhau cho c�ng một thể chế ch�nh trị (Maspero 1928; Coed�s, 1964a).� C�c nh� nghi�n cứu kh�c cảm thấy rằng đ� l� hai thể chế kh�c biệt nhau về mặt chủng tộc, địa dư v� ch�nh trị (Stein 1947) hay thuộc c�ng một chủng tộc nhưng được cai quản bởi c�c d�ng tộc ri�ng biệt v� tại những khu vực kh�c nhau (Wheatley 1983).� Coed�s (1964a) tin rằng L�m Ấp tưọng trưng cho căn cứ địa đầu ti�n của c�c người n�i ng�n ngữ Nam � tại Việt Nam, được th�nh lập v�o năm 192 sau C�ng Nguy�n.� Sự việc c� đ�ng như thế hay kh�ng th� kh�ng r� r�ng.� C�c nh� nghi�n cứu kh�c tr�nh b�y rằng L�m Ấp thực sự hiện diện xa hơn về phương bắc ngo�i khu vực c� sự tập trung nhiều nhất c�c văn bia khắc tiếng Ch�m (Nam �) (Stein 1947).� C�c văn bia n�y, c� nhật kỳ v�o thế kỷ thứ 4, tập trung chung quanh Mỹ Sơn v� Tr� Kiệu.� Sự thu h�t L�m Ấp bởi người Ch�m xảy ra ở một số thời điểm n�o đ� v� được ho�n tất v�o khoảng đầu thế kỷ thứ 7 (Boisselier trong Vickery 1998, 49).� Một sự giải th�ch kh�c cho rằng người d�n L�m Ấp n�i tiếng Ch�m nhưng c� thể kh�c biệt về mặt ch�nh trị với xứ Ch�m hay rằng c�c tầng lớp l�nh đạo của L�m Ấp l� c�c người n�i tiếng Ch�m (Wheatley trong Vickery 1998, 49).� Trong khoảng giữa thế kỷ thứ 8 trung t�m ch�nh trị của Ch�m xem ra đ� được di chuyển từ khu vực Đ� Nẵng xuống �Nha Trang (Vickery 1998, 316).

 

���� Ch�ng ta biết về Ch�m từ một nguồn t�i liệu Ả Rập, quyển Kitab al-masalik was �Imamalik được viết v�o khoảng năm 850 sau C�ng Nguy�n.� T�c phẩm văn chương n�y m� tả con đường mậu dịch từ vịnh Ba Tư (Persian Gulf) đến Trung Hoa, đề cập đến cả Căm Bốt (Qmar) v� Ch�m (Sanf).� Dựa tr�n thời gian đi thuyền từ Qmar đến Sanf, c� vẻ l� c�c nh� bu�n b�n Ả Rập đ� đặt ch�n đến hải cảng giờ đ�y l� Nha Trang (Southworth 2001, 36).

 

���� Ch�m c� lẽ l� nguồn t�i nguy�n của một số lượng lớn lao c�c l�m sản v� c� thể c�n tham gia cả v�o sự mua b�n c�c th�nh phẩm.� Ch�ng ta biết được rằng đ� c� một sự mua b�n nhộn nhịp về trầm hương, một loại gỗ thơm ph�t sinh từ c�c c�y nguy�n sinh tại Việt Nam (Yule 1875; Southworth 2001).

 

���� Văn bia xưa nhất bằng ng�n ngữ Ch�m c� nhật kỳ thế kỷ thứ 4 v� x�c nhận sự hiện diện của người n�i tiếng Ch�m ph�a nam Đ� Nẵng v�o thời điểm n�y (Wheatley 1983).� C�c văn bia bằng tiếng Sanskrit từ hồi đầu thế kỷ thứ 7 cho thấy một ng�i đền thờ Siva được d�ng c�ng tại Mỹ Sơn bởi vua Bhadravarman, người cai tri xứ Ch�m.� C� � kiến cho rằng kinh đ� của �ng đặt tại Tr� Kiệu, kh�ng xa Mỹ Sơn (Coed�s, 1964a).

 

���� Khu vực Quảng Nam l� một trung t�m văn h�a Ch�m tại Việt Nam, căn cứ tr�n vị tr� của c�c văn bia v� c�c bi�n ni�n sử Trung Hoa.� Wheatley (1983, 395) tin tưởng l� ch�ng ta kh� an to�n để lập luận rằng người Ch�m ở Quảng Nam đ� được gọi bởi người Trung Hoa như l� người d�n của L�m Ấp.� Kinh đ� trong thủa ban đầu c� thể l� V�n Xa [?], gần Huế, v� về sau, ở Tr� Kiệu (v�o khoảng 605 sau C�ng Nguy�n).� Tuy nhi�n, c� một số trục trặc trong lập luận n�y, theo đ� người d�n L�m Ấp đ� kh�ng được tr�nh b�y như chịu ảnh hưởng bởi Ấn Độ, v� c�c danh xưng c�ng ni�n hiệu của c�c nh� vua được ghi bằng tiếng Trung Hoa kh�ng ph� hợp với c�c t�i liệu triều đại khắc bia bằng tiếng Sanskrit (Wheatley 1983, 395).

 

���� Theo c�c t�i liệu Trung Hoa về cuối thế kỷ thứ 3, L�m Ấp l� một trong v�i vương quốc tọa lạc tại ph�a nam Trung Hoa.� C� vẻ h�an cảnh v�o thời điểm n�y l� t�nh trạng của c�c mối tương li�n phức tạp giữa nhiều thể chế nhỏ b�.� C�c quốc gia nhỏ hơn c� thể hoạt động trong một cung c�ch b�n độc lập, c� lẽ thuộc v�o một li�n bang kh�ng r�ng buộc, đứng đầu bởi quyền lực ch�nh trị trội bật được thừa nhận.� Mỗi quốc gia tham gia nhiều phần vẫn duy tr� mạng lưới mậu dịch của ch�nh m�nh, vươn d�i đến v�ng nội địa xa x�i nơi m� phần lớn c�c nguy�n liệu mua b�n được sản sinh.

 

���� Một số c�c nh� nghi�n cứu (Stein 1947, 71 v� 111) cảm thấy rằng L�m Ấp kh�ng c� mối quan hệ g� với thể chế đ� để lại c�c t�i liệu bằng tiếng Sanskrit v� m�i về sau những người d�n bị ảnh hưởng Ấn Độ n�y mới bị chinh phục bởi L�m Ấp. V�o khoảng đầu thế kỷ thứ 5 sau C�ng Nguy�n, Stein (1947) tin tưởng rằng khu vực Quảng Nam đ�n nhận kinh đ� của một thể chế h�ng mạnh mang t�n l� Amaravati.� L�nh thổ c� thể bao gồm khu vực từ B�nh Định (khi đ� được gọi l� Vijaya) đến Nha Trang xuống đến Phan Rang (xem bản đồ 6.1).� Người Trung Hoa ưa gọi ch�nh thế n�y l� L�m Ấp, �t nhất cho m�i đến năm 758 sau C�ng Nguy�n.

 

���� Theo t�c giả Hoshino (1999, 55-56), T�y Thư (Sui Shu), được viết hồi giữa thế kỷ thứ 7, đặt L�m Ấp theo thứ tự địa dư tr�n Ch�n Lạp (Chenla), cho thấy n� gần với l�nh thổ của Trung Hoa ở bắc Việt Nam hơn.� Một ch�nh thể kh� hiểu kh�c, Chitu, c� thể tọa lạc ở ph�a nam của L�m Ấp, cũng được đề cập đến.� Quy�n T�y Thư c�n n�i rằng L�m Ấp bị khuất phục v�o l�c khởi đầu thế kỷ thứ 7 bởi một đội qu�n mười ngh�n kỵ binh Trung Hoa v� c�c phạm nh�n bị truy tố (Sui Shu 82, f. 2 verso, trong Hoshino 1999, 58).� Nh� vua thất trận của L�m Ấp, Fan Zhi, bỏ chạy v� thiết lập một kinh đ� mới, vị tr� kh�ng được hay biết.� Trung Hoa chia L�m Ấp th�nh ba quận hạt h�nh ch�nh v� truy k�ch Fan Zhi, sau c�ng đ�nh bại �ng ta nhưng lại đặt �ng l� kẻ cai trị dưới quyền kiểm so�t của nh� T�y.� Rất kh� để ph�n biệt r� nơi m� tất cả c�c diễn tiến n�u tr�n đ� xảy ra, v� vị tr� của L�m Ấp kh�ng thể được x�c định một c�ch chắc chắn.

 

���� Southworth (2001, 243) cảm thấy rằng Ch�m kh�ng phải l� một đế quốc to lớn về mặt địa dư m� được tr�nh b�y đ�ng hơn như một ch�nh thể với quyền lực của n� được đặt ti�u điểm tại v�ng thung lũng s�ng Thu Bồn.� Tuy nhi�n, c�c nh� cai trị xứ Ch�m, c� khả năng tấn c�ng mau lẹ v� �p dụng một c�ch dữ dội khả năng hải qu�n chuy�n nghiệp v� song của họ.� Sức mạnh hải qu�n n�y đ� gi�p họ thiết lập một mạng lưới c�c hải cảng tuy�n thệ trung th�nh với c�c vua Ch�m./- ���������

 

----

 

Nguồn: Dougald J.W. O �Reilly, Early Civilizations of Southeast Asia, Altamira Press: Lanham, New York, Toronto, Plymouth, U. K., 2007, Chapter 6: Champa, c�c trang 127-144.

 

 

S�CH THAM KHẢO:

 

 

Aurousseau, L. 1914.� Le Royaume de Champa.� BEFEO 14 (9): 8-43.

 

Bagchi, P. C. 1930. On Some Tantrik Texts Studied in Ancient Kambuja.� The Indian Historical Quarterly VI (1): 97-107.

 

Bellwood, P. 1993.� Cultural and Biological Differentiation in Peninsular Malaysia: The Last 10,000 Years.� Asian Perspectives 32, no. 2 (Fall 1993), 37-59.

 

Bergaigne, A. 1888.� L� Ancien Royaume de Champa, Journal Asiatique 11: 5-105.

 

Bhattacharya, K. 1961.� Pr�cisions sur la Pal�ographie de l�Inscription Dite de Vo-Canh.� Artibus Asiae 24: 219-24.�

 

Boisselier, J. 1956.� Arts du Champa et du Cambodge Pr�angkorien: La Date de Mĩ Sơn E-1.� Artibus Asiae 19 (3/4): 197-212.

 

Boisselier, J. 2001.� The Art of Champa.� Trong quyển Cham Art, bi�n tập bởi E. Guillon, 28-63.� Bangkok, River Books.

 

Bronson, B. 1977.� Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Notes toward a Functional Model of the Coastal State in Southeast Asia.� Trong quyển Economic Exchange and Social Interaction in Southeast Asia: Perspectives from Prehistory, History and Ethnography, bi�n tập bởi K. L. Hutterer, 39-52.� Ann Arbor: Center for South and Southeast Asia Studies, University of Michigan.

 

Buhler, G. th�ng dịch, 1888.� Manu-smriti: the Laws of Manu.� Oxford: Oxford

 

Co�des, G. 1939.� La Plus Ancienne Inscription en Langue Cham.� Số đặc biệt, New Indian Antiquary I: 46-49.

 

Co�des, G. 1940.� The Date of the Sanskrit Inscription of Vo canh (South Annam).� The Indian Historical Quarterly XVI: 484-88.

 

Co�des, G. 1964a.� Les �tats Hindouis�s d�Indochine et d�Indon�sie.� Paris: E. de Boccard.

 

Dharma P. 2001.� The History of Champa.� Trong quyển Cham Art, bi�n tập bởi E. Guillon, 14 � 27.� Bangkok: River Books.

 

Filliozat, J. 1968.� Les Symbols d�une St�le Khm�re du 7�me Si�cle, Arts Asiatiques 17: 111-18.

 

Finot, L. 1902.� Notes d��pigraphie I: Deux nouvelles inscriptions de Ghadravarman 1er, roi de Champa, BEFEO 2: 185-91.

 

Fox, R. B. 1970.� The Tabon Caves: Archaeological Explorations and Excavations on Palawan Island, Philippines.� National Museum of Manila, tập chuy�n khảo (monograph) số 1.

 

Fox, R. B. 1979. �The Phillipines in the First Millennium B. C. Trong quyển Early South-East Asia Essays in Archaeology, History and Historical Geography, bi�n tập bởi R. Smith and W. Watson, 232-41.� Oxford: Oxford University Press.

Garpardone, �. 1953.� La Plus Ancienne Inscription d�Indochine, Journal Asiatique CCXLI: 477-85.

 

Glover, I. C. 1989.� Early Trade between India and Southeast Asia: A Link in the Development of a World Trading System.� Occasional Paper No.16.� Hull: The University of Hull Centre for South-East Asian Studies.

 

H� Văn Tấn 1977.� Two-headed Animal Earrings and Relations between Song Son and Sa Huynh (bằng tiếng Việt).� Khảo Cổ Học 4: 62-67.

 

H� Văn Tấn, 1986b.� Two-Headed Animal Earrings Recently Discovered Outside Vietnam.� New Discoveries in Archaeology: 132-34.

 

Hall, K. R. 1985.� Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia.� Honolulu: University of Hawaii Press.

 

Hall, K. R. 1992.� Economic History of Early Southeast Asia.� Trong tập 1, quyển The Cambridge History of Southeast Asia, bi�n tập bởi N. Tarling, c�c trang 183-275.� Cambridge: Cambridge University Press.

 

Harrisson, B. 1968.� Malaya: A Series of Neolithic and Metal Age Burial Grottos at Sekaloh, Niah, Sarawak.� Journal of the Royal Asiatic Society � Malaysian Branch 41 (214 pt. 2): 148-75.

 

 

Hồ Xu�n Tinh [?], 1993.� The Proto-historic Cẩm H� Burial Jars in Hội An Quảng Nam � Đ� Nẵng, Ancient town of Hội An.Hanoi; Thế Giới Publishers, 82-85.

 

Hoshino, T. 1999.� The Kingdom of Red Earth (Chitu Guo) in Cambodia and Vietnam from the Sixth to the Eighth Centuries, Journal of Siam Society (1996) 84 (2); 55-74.

 

Ishizawa, Y. 1995.� Chinese Chronicles of 1st-5th century A. D.: Funan, Southern Cambodia.� Trong quyển South East Asia and China: Art, Interaction and Commerce; Colloquies on Art and Archaeology in Asia No. 17, bi�n tập bởi R. Scott v� J. Guy, 11-31.� London: University of London.

 

Jacques, C. 1969.� Notes sur la St�le de Vo canh, Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient 55: 117-24

 

Lombard, D. 1987.� Le Campa Vu du Sud.� Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient 76: 311-17.

 

Majid, Z. 1982.� The West Mouth, Niah, trong phần The Prehistory of Southeast Asia, Sarawak Museum Journal 31.

 

Majumdar, R. C. 1944.� Kambuja-desa or An Ancient Hindu Colony in Cambodia.� Madras: University of Madras.

 

Maspero, G. 1928.� Le Royaume du Champa.� Paris and Brussels: Librairie nationale d�art et d�histoire.

 

Ng� Sĩ Hồng, 1991.� Sa Huynh: An Indigenous Cultural Tradition in Southern Vietnam.� Hội nghị về chủ đề The High Bronze Age of Southeast Asia and South China, Hua Hin, Thailand, b�i viết chưa được ấn h�nh.

 

Ng� Sĩ Hồng and Trần Qu� Thịnh, 1991.� Jar Burials at Hau Xa [?], Hội An District (Quảng Nam � Đ� Nẵng Province) and a New Understanding of the Sa Huỳnh Culture. �Khảo Cổ Học 1991 (3): 64-75.

 

Ng� Sĩ Hồng, Trần Qu� Thịnh v� c�c t�c giả kh�c 1991.� Test Dig at the Sa Huỳnh Site at Hau Xa, Hoi An District (Quang NamDa Nang Province).� New Discoveries in Archaeology 1990: 99-101.

 

Nguyen Chieu, Lam My Dung v� c�c t�c giả kh�c, 1991.� Ceramics from Excavation at the Ancient Cham Site of Tra Kieu, 1990 (bằng tiếng Việt).� Khảo Cổ Học 4: 19-30.

���

Parmentier, H. 1902.� Le Sanctuaire de Po-Nagar � Nha Trang, Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient II: 17-54.

 

Parmentier, H. 1909.� Inventaire Descriptif des Monuments Cams de l�Annam, Tome Premier: Description des Monuments.� Paris: Publications de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient.

 

Parmentier, H. 1918.� Inventaire Descriptif des Monuments Cams de l�Annam, Tome II: �tude de l�art cam. Paris: �ditions Ernest Leroux (Inventaire arch�ologique de l�Indochine II; Publications de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient.

 

Parmentier, H. 1924.� Notes d�Archeologie Indochinoises, I. Relev� des points cams d�couverts en Annam depuis la publication de l�Inventaire, BEFEO 23: 267-75.

 

Pelliot, P. 1903b.� Textes Chinois sur Pandurange.� Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient 3; 649-54.

 

Pelliot, P. 1904.� Deux Itin�taires de Chine en Inde: � la fin du VIIe Si�cle.� Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient 4: 131-413.

 

Sastri, K. A. N. 1936.� L�origine de l�Alphabet du Champa.� Bulletin de l��cole Francaise d�Extr�me-Orient 35: 233-41.

 

Schweyer, A. V. 2000.� La Dynastie d�Indrapura (Quang Nam Vietnam).� Southeast Asian Archaeology 1998, chủ bi�n bởi W. Lobo v� S. Reimann, 205-18.� Hull: Centre for South-East Asian Studies and Ethnologisches Museum, Staatliche Museen zu Berlin, Stifung Preussischer Kutturbesitz, University of Hull.

 

Sircar, D. C. 1939.� Date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campa.� The Journal of the Greater India Society VI: 53-55.

 

Southworth, W. 2001. The Origins of Campa in Central Vietnam: A Preliminary Review.London: School of Oriental and African Studies (SOAS), University of London, 477.

 

Southworth, W. 2004.� The Coastal States of Champa.� Trong quyển Southeast Asia from Prehistory to History, bi�n tập bởi Ị Glover and P. Bellwood, c�c trang 209-33.� London: Routledge Curzon.

 

Stein, R. 1947. Le Lin-yi; sa localisation, sa contribution � la formation du Champa et ses liens avec la Chine.� Han-hiue 2 (1-3): 1-335.

 

Stern, P. 1942.� L�Art du Champa (Ancien Annam) et son �volution.� Toulouse: Les fr�res Douladoure.

 

Taylor, K. 1992.� The Early Kingdom.� Trong quyển The Cambridge History of Southeast Asia, bi�n tập bởi N. tarling, c�c trang 137-81.� Cambridge: Cambridge University Press.

 

Vickery, M. 1998.� Society, Economics and Politics in Pre-Angkor Cambodia.� Tokyo: The Centre for East Asian Cultural Studies for Unesco, the Toyo Bunko, Hon komagome.

 

Vickery, M. 2005.� Champa Revised.� Asia Research Institute, Working Paper Series No. 37, March 2005, www.nus.ari.edu.sg/pub/wps.htm.

 

Wang Gungwu, 1958.� The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea. �Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society 31 (part 2) 9185): 1-135.

 

Wheatley, P. 1983.� Nagara and Commandery: Origins of the Southeast Asian Urban Traditions.� University of Chicago, Department of Geography Research Paper Nos. 207-208.

 

Xuanling, F., bi�n tập.� 578-648. Jin Shu (Book of the Jin Dynasty: Tần Thư).

Yule, H. 1875.� The Book of Ser Marco Polo, the Venetian, Concerning the Kingdoms and Marvels of the East.� London: John Murray.

 

____

�(a*): Về một quan điểm kh�c, xin xem b�i dịch Tiếng Ch�m C� Thể L� Ngu�n Gốc Của Văn Tự Phi Luật T�n của Geoff Wade,� đ� �được dịch v� đăng t�i tr�n Gi� O.

 

 

NG� BẮC dịch

  

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

 

 

� 2008 gio-o