Denys Lombard

Director, �cole Franҫaise d�Extr�me-Orient

 

MỘT �ĐỊA TRUNG HẢI� KH�C

TẠI Đ�NG NAM � [1]

 

Ng� Bắc dịch

*****

 

Lời Người Dịch:

V�i h�ng về t�c giả v� b�i viết

Denys Lombard (sinh năm 1938- mất ng�y 8 Th�ng Một, 1998) đ� l� một chuy�n vi�n người Ph�p h�ng đầu về � Ch�u với c�c sự đ�ng g�p về ng�nh Đ�ng Nam � học, Trung Hoa học, v� lịch sử � Ch�u h�ng hải.� �ng nổi tiếng v� c�c nỗ lực nhằm so s�nh v�ng Đ�ng Nam � v� c�c biển � Ch�u với khu vực Địa Trung Hải ở �u Ch�u.� �ng đ� từng l� trưởng ban Division des Aires Culturelles của Trường �cole des Hautes �tudes en Sciences Sociales (EHESS) v� l� gi�m đốc Trường Viễn Đ�ng Ph�p (�cole �Fran�ais d'Extr�me-Orient (EFEO) từ 1993 đến 1998.

����� B�i viết c� đọng quan trọng� của Denys Lombard ph�c họa c�c n�t ch�nh của điều c� thể gọi l� học thuyết Đ�ng Nam � �Địa Trung Hải� của �ng, nhan đề �Une autre �M�diterran�e� dans �Asie du Sud-Est�� được đăng tải tr�n tạp ch� chuy�n về địa dư của Ph�p, tờ H�rodote, số 88 (1988), từ trang 191.

����� B�i viết của cố Gi�o Sư Denys Lombard đ� được Nola Cooke dịch sang Anh ngữ v� l� b�i đ�u ti�n trong số ra mắt của tạp ch� điện tử China Southern Diaspora Studies, Australian National University, Th�ng Hai 2007, như một tuy�n ng�n về khảo hướng v� mục đ�ch của tạp ch� chuy�n nghi�n cứu về c�c người gốc nam Trung Hoa xuất dương v� sinh sống tại nước ngo�i n�y.� C�c ch� thich với dấu ngoặc thẳng đứng [ � ] l� của Gi�o Sư Nola Cooke.�

Bản dịch sang Anh ngữ của Nola Cooke đ� được tờ The Asia-Pacific Journal: Japan Focus đưa l�n mạng trong Th�ng Ba 2007, với c�c h�nh ảnh minh họa được bổ t�c bởi Japan Focus, ở địa chỉ:

http://www.japanfocus.org/-denys-lombard/2371

����� Người dịch (Ng� Băc) đ� dịch theo bản c�ng bố tr�n mạng của tờ Japan Focus n�y.

***

 

Đại �:

Đ�ng Nam �, từ l�u được biết như một v�ng trung gian nằm giữa c�c nền văn minh cổ đại của Trung Hoa v� Ấn Độ, cũng l� một khu vực m� c�c học giả từ l�u h�nh dung như phải chịu, về mặt lịch sử, c�c ảnh hưởng đến từ ph�a t�y của n�, bắt đầu với sự Ấn Độ h�a, sau đ� Hồi Gi�o h�a v� cuối c�ng sự t�y phương h�a.� Tuy nhi�n, b�i viết n�y lập luận rằng ch�ng ta sẽ c� c�i nh�n s�u sắc hơn nhiều, v� ch�nh x�c hơn về mặt lịch sử �t nhất cho v�i th� kỷ qua, khi xem Đ�ng Nam � v� v�ng ph�a nam Trung Hoa như bộ phận của một miền, trong c�ng c�ch m� t�c giả Fernand Braudel đ� khảo s�t lịch sử của miền Địa Trung Hải.�

 

Bản Đồ Đ�ng Nam � V� Nam Trung Hoa

������

Trong tư tưởng hiện đại về nước Nam Dương (Indonesia), một khi ch�ng ta chuyển c�i nh�n của m�nh từ tầm mức kh�ng gian quốc gia, chẳng hạn như phần được chiếm cứ bởi quần đảo Nam Dương, l�n một tầm nh�n bao qu�t hơn, hai cảnh tr� tức thời nảy ra trong đầu: khung cảnh thứ nhất l� �Đ�ng Nam ��, khung cảnh thứ nh� l� khối �ASEAN�.� Cả hai khung cảnh trong thực tế l� c�c biến thể của c�ng một khảo hướng v�, n�i về mặt ni�n lịch, kh� gần đ�y (ni�n kỳ lần lượt từ năm 1945 v� 1967), với cảnh tr� thứ nh� chỉ l� định thức ch�nh trị (v� chuẩn ti�n đo�n tương lai) của khung cảnh thứ nhất.� Kh�ng chững lại qu� l�u tr�n c�c kh� khăn m� khối ASEAN phải đối đầu v�o cuối thập ni�n 1990, [2] ch�ng ta c� thể tiếp tục ti�n đo�n một tương lai tốt đẹp cho v�ng Đ�ng Nam �.� Tọa lạc một c�ch vui th� giữa hai nước khổng lồ l�u đời, Ấn Độ v� Trung Hoa, n� tiếp tục cất c�nh, bất kể c�c ụ đắp gồ ghề bất chợt v� đ� sẵn tạo th�nh một loại khu vực tr�i độn giữa hai nước � Ch�u khổng lồ, một trung t�m c� c�ng khoảng k�ch thước như �u Ch�u v� xứng đ�ng cặp đ�i với n� �

������ Nhưng cảm nghĩ n�y về �việc trung t�m h�a� Đ�ng Nam � kh�ng ho�n to�n mới mẻ đ�n thế. Nếu c�c t�n gọi trong c�ch d�ng hiện tại mới c� gần đ�y, từ rất l�u trước đ�y ch�nh T�y Phương đầu ti�n đ� x�c định to�n bộ v�ng �Đ�ng Ấn Độ: East Indies� � khoảng kh�ng gian m� về ph�a Trung Hoa đễ đặt t�n trong nhiều thế kỷ l� Nanyang, hay �Nam Dương: Biển ph�a Nam� [kh�ng n�n nhầm lẫn với t�n gọi trong tiếng Việt để chỉ nước Indonesia hay nước Nam Dương, ch� của người dịch NB] � như một loại �v�ch tường ngăn c�ch: party-wall� vừa nối kết vừa t�ch biệt hai nước khổng lồ, một nơi m� c�c ảnh hưởng của Trung Hoa v� Ấn Độ đ� gặp gỡ về mặt lịch sử (v� từ đ� [sinh ra] kh�i niệm hữu dụng �Indochina: Ấn-Trung� [hiểu theo đ�ng � nghĩa của từ ngữ, chỉ b�n đảo Ấn-Trung, chứ kh�ng phải theo nghĩa hẹp chỉ Đ�ng Dương gồm ba nước Việt-Mi�n-L�o, ch� của người dịch NB] v� như một miền với mật độ ch�nh trị thấp hơn, nơi m� c�c cơ cấu �t cứng ngắc hơn v� nơi m� hai nước c� thể hy vọng t�m được một khu vực thuận lợi cho ảnh hưởng của m�nh.

 

Bản đồ �Đ�ng Ấn Độ� khoảng 1662

Map of the �East Indies�, khoảng 1662

 

������ Nhận thức n�y được phản ảnh �t nhiều một c�ch r� r�ng trong tất cả lịch sử li�n tiếp về Đ�ng Nam �.� Được viết trước ti�n rừ một quan điểm thực d�n, v� sau n�y từ một quan điểm d�n tộc chủ nghĩa, nhưng trong trường hợp n�o đi nữa, ch�ng được đ�nh dấu bởi một ước ao mạnh mẽ để nhấn mạnh rằng c�c ảnh hưởng lớn nhất đến từ phương T�y: trước hết �Ấn Độ h�a�, sau đ�, �Hồi Gi�o h�a� (được nhận thức chủ yếu như đến từ v�ng-Ấn-Độ-theo-đạo-Hồi-Gi�o, hay từ Trung Đ�ng), v� sau c�ng, dĩ nhi�n, �T�y Phương h�a�, sau khi c� sự cập b�n hồi đầu thế kỷ thứ mười s�u của người Bồ Đ�o Nha (Portuguese).� Được viết nguy�n thủy bởi người �u Ch�u, v� nhắm trước ti�n v�o việc dậy cho người đọc hướng nh�n đến �u Ch�u (v� sau n�y Hoa Kỳ), c�c lịch sử n�y đ� tối thiểu h�a c�c nhịp điệu đến từ phương Bắc xuống mức rất �t trong thực tế, ngoại trừ cuộc biến động của Nhật Bản năm 1942 m�, d� thế, được thuật lại một c�ch đ�ng đắn như một trận đại hồng thủy ho�n to�n kh�ng nh�n th�y trước v� c�n lạc hướng.

������ Trong loại quan điểm n�y, kh�ng gian Đ�ng Nam � tự nhi�n vẫn c�n rộng mở đối với thế giới Ấn Độ, vượt qu� Vịnh Bengal (m� ch�ng ta hay biết đ� l� một khu vực trao đổi giữa T�ch Lan (Sri Lanka) v� Miến Điện, cũng như giữa Bengal v� Arakan), cũng như đối với thế giới Melanesian (m� ch�ng ta hay biết bắt đầu tại ch�nh Indonesia, tại Maluku, Irian v� Timor).� Song, ngược lại, n� gạt bỏ mọi quan hệ với thế giới Trung Hoa.� Kh�ng � nghĩ n�o được n�u ra ở đ�y để cố gắng suy nghĩ lại trong nhiều thế kỷ [longue dur�e] về c�c sự tiếp x�c khả hữu giữa miền nam Trung Hoa v� Đ�ng Nam �; nhiều nhất, sự khảo s�t lịch sử được giới hạn v�o c�c Khu Phố T�u (Chinatowns) mới được th�nh lập gần đ�y, điều m� kế đ� được nh�n một c�ch quyết đo�n như c�c khu định cư của �c�c ngoại kiều�, v� từ đ� như một loại c�y sống nhờ �tr�n th�n một c�y kh�c (epiphyte) �[3]

 

Hoa Kiều cầu nguyện tại một ng�i ch�a ở Kuala Lumpur, Th�ng Hai 2007

 

������ Điều d�ng ghi nhận rằng một t�nh trạng �kh�ng cặp đ�i� về kh�ng gian, v� nhất l� về tinh thần, như thế của Đ�ng Nam � với miền nam Trung Hoa phục vụ cho quyền lợi của nhiều người.� Trước ti�n, n� cho ph�p c�c nh� Đ�ng Nam � học gốc T�y Phương ph� b�y, một c�ch v� li�m sỉ, một sự ngu đốt tr�n đầy về Trung Hoa ( vốn kh�ng phải l� sự thuận lợi nhỏ b�, khi ch�ng ta cứu x�t đến c�c kh� khăn ch�ng ta biết được khi đợi chờ nh� Trung Hoa học tập sự �) Điều đ� cũng đang l�m an t�m: bằng việc c� lập c�c l�nh vực, n� chứng minh được sự ngu dốt nh�n danh một điều được nghĩ l� sự chia cắt tinh thần th�nh c�c ngăn c�ch biệt b�t b�ng v� kh�ng thể h�a tan được.� Việc n�y cũng c� thể đ� được l�m để thỏa m�n nhiều người từ c�c nước li�n hệ, c�c người d�n Indonesia, M� lai, v� ngay Việt Nam, c�c kẻ hiếm khi th�ch nghĩ ngợi về l�n bang to lớn của họ, hay để tự lượng sức m�nh chống lại n�, v� sẽ ho�n to�n ưa th�ch việc tạo lập ra một sự bế tắc (dead end ) tập thể trong quan hệ của n� (bất kể c�c mối nguy hiểm rằng điều n�y c� thể tượng trưng cho ch�nh tương lai của c�c nước n�y).� Cũng vậy, ch�ng ta h�y bổ t�c rằng kh�ng c� c�ch g� để chứng thực l� khảo hướng n�y lại sẽ kh�ng hấp dẫn đối với nhiều người Trung Hoa c� tr�ch nhiệm tại lục đia, c�c kẻ vẫn c�n quan ngại về sự tiếp cận với �chướng kh� phương nam: southern miasmas�, ưa th�ch ở lại trong v�ng che chở của c�c bi�n giới của họ hầu tưởng tượng hay hơn về �Quốc Gia [của họ]�� Ng�y nay chỉ c� c�c doanh nh�n Nhật Bản v� Đ�i Loan c� được một sự nhận thức r� r�ng về t� thuyết tr� thức m� �v�ch tường� giả tưởng n�y tượng trưng: c�c doanh nh�n Nhật Bản v� Đ�i Loan, v� cũng như c�c doanh nh�n Trung Hoa từ lục địa, những kẻ, nhờ ở vị thế địa dư của họ, đ� ph� vỡ được �bức tường� trong nhiều năm, v� những kẻ c� nền văn h�a gi�p họ cảm thấy được điều g� đ� c� thể được hiểu biết kh� r� hơn như c�c hiệu ứng của một tổng thể li�n tục trong đ� kh�ng c� bộ phận n�o được nhận thấy kh�c biệt với c�c bộ phận kề cận: continuum�.� �

 

***

B�a ấn bản gần đ�y t�c phẩm của Fernand Braudel

 

������ Ch�ng ta sắp cố gắng nơi đ�y để ph�c họa một c�ch ch�nh x�c, mặc d� chỉ trong v�i h�ng, tất cả c�c lợi điểm kh� hữu của việc mở rộng �miền� để bao gồm c�c tỉnh ph�a nam Trung Hoa, v� của việc h�nh dung rằng tại Đ�ng Nam � ch�ng ta t�m thấy một �Địa Trung Hải� kh�c; kh�ng phải từ một kh�t vọng đi�n cuồng cho sự m� phỏng m� bởi khảo hướng theo kiểu Braudel [4] c� một gi� trị lớn lao trong việc đề xướng một dự kiến to�n cầu buộc tư tưởng của ch�ng ta phải cứu x�t hai bờ biển c�ng một l�c.� Ch�ng ta h�y nhớ lại rằng kh�a cạnh cốt yếu trong phương ph�p của Braudel bao gồm việc đ�i hỏi độc giả �nghĩ lại� hai ph�n nửa của một tổng thể địa dư, từng ph�n nửa trong c�ng một l�c, một điều g� đ� đ� được thực chứng một c�ch vững chắc cho kỷ nguy�n La M� (mare nostrum: biển của ch�ng ta) [5], nhưng l� điều m� sự xuất hiện của Hồi gi�o được nghĩ đ� hủy diệt [n�] mất đi.� Vượt qu� c�c cuộc th�nh chiến, cuộc viễn chinh của Napol�on sang Ai Cập, v� c�c cuộc chiến tranh thực d�n ở Bắc Phi Ch�u, quyển s�ch của Braudel cho ph�p cho ta t�i kh�m ph� � v� kh�ng phải l� kh�ng c� một số điều g�y kinh ngạc �- sự thống hợp của một kh�ng gian địa dư cố kết.� Khi l�m như thế, c�c vấn đề thay đổi bề mặt của ch�ng: kh�ng c�n l� một vấn đề ph�n t�ch sự đối chọi của hai �kh�i� bất khả h�a giải (�Thi�n Ch�a Gi�o� v� �Hồi Gi�o�), m� l� việc t�m hiểu c�c nguy�n do cho hai sự tiến h�a song h�nh, c�n l�u mới diễn ra một c�ch ri�ng rẽ, đ� ảnh hưởng lẫn nhau trong một số lượng cơ hội rất đ�ng kể.

������ Tại điểm n�y, ch�ng ta c� thể khẳng định rằng việc mong muốn hiểu biết Đ�ng Nam � m� kh�ng kết hợp một v�ng rộng lớn của miền nam Trung Hoa v�o trong tư tưởng của ch�ng ta giống như việc muốn đưa ra một sự tr�nh b�y về thế giới Địa Trung Hải sau khi đ� gạt bỏ Thổ Nhĩ Kỳ, v�ng Levant, Palestine, v� Ai Cập.� Bằng việc �thiết định trung t�m: centring� mới n�y � hay đ�ng hơn, bằng việc t�i lập sự thiết định trung t�m, địa dư c� thể v� phải gi�p gi�p ta vượt qu� những � tưởng đ� tiếp thụ rằng một loại lịch sử n�o đ� muốn ch�ng ta bảo tồn, bằng việc nhấn mạnh đến việc b�m thật s�t v�o c�c sự kiẹn (hay một số sự kiện n�o đ�).

 

Bản Đồ C�c Ph�n Hạt H�nh Ch�nh Tại Trung Hoa

 

������ Nhưng trước ti�n ch�ng ta phải giải th�ch những g� ch�ng ta hiểu ở đ�y về Miền Nam Trung Hoa [Hoa Nam?].� Xem ra với ch�ng ta, ch�ng ta hiển nhi�n cần kể đến Quảng Đ�ng (c�ng với Quảng T�y) v� Ph�c Kiến, v� hai đảo lớn lần lượt l� Hải Nam v� Đ�i Loan.� Nhưng cũng th�ch đ�ng kh�ng k�m để kể cả V�n Nam, một miền với c�c đ�o cao v� c�c đo�n lữ h�nh, m� kh�ng c� n�, ch�ng ta sẽ chỉ hiểu biết một c�ch ngh�o n�n về sự tiến h�a của v�ng Thượng Miến Điện v� v�ng Bắc Kỳ (Tonkin), c�ng sự năng động của tất cả sắc d�n Th�i, c�c kẻ, từ thế kỷ thứ mười ba, sẽ ảnh hưởng s�u xa đến to�n thể b�n đảo Đ�ng Dương.� V�n Nam đ� l� một lực th�c đẩy cấp miền từ Thời Đồ Đồng (do đất đ� v�i phấn trắng của n� chứa đựng nhiều mỏ thiếc phong ph�).� Hơn nữa, c�n l�u mới l� ở c�c đầu m�t tận c�ng của tr�i đất, như c�c người �u Ch�u c� thể th�ch tưởng tượng về n� trong thế kỷ thứ mười ch�n, V�n Nam hầu như lu�n lu�n l� một nơi chốn của c�c sự gặp gỡ v� trao đổi tr�n h�nh tr�nh.� Phật Gi�o Đại Thừa nở rộ tại đ� trong thời vưong quốc Nam Chiếu (c� lần nối d�i m�i đến tận H� Nội) v�, khi tỉnh n�y bị r�ng buộc tối hậu v� bất khả sửa đổi v�o đế quốc Trung Hoa (dưới thời nh� Nguy�n, trong thế kỷ thứ mười ba), Hồi Gi�o đ� xuất hiện ở đ� với c�c nh� mậu dịch đi theo đo�n lữ h�nh, c�ng một l�c khi n� đặt ch�n tr�n đảo Sumatra.� Tại Chieng Mai, ch�ng ta vẫn c� thể gặp được một số những gia đ�nh Hồi Gi�o gốc Trung Hoa� l� những kẻ, giữa c�c hoạt động thương mại kh�c, hiện c�n đang trao đổi ngọc thạch với V�n Nam.

������ Về hai h�n đảo lớn Hải Nam v� Đ�i Loan, giống như c�c mỏ neo được thả ngo�i biển của lục địa Trung Hoa, thật kh� kỳ th� để so s�nh sự tiến h�a của ch�ng.� Cả hai bị chiếm cứ ti�n khởi bởi giống d�n phi-Trung Hoa, như trong trường hợp thứ nhất đặc biệt bởi người Th�i v� bởi sắc d�n Austronesian tại h�n đảo thứ nh�, do vậy ch�ng ta c� thể n�i rằng, từ một c�i nh�n n�o đ�, ch�ng đều c� căn bản �Đ�ng Nam ��.� Nhưng nếu đảo Hải Nam đ� bị h�n h�a kh� sớm v� chưa bao giờ kh�ng c�n l� một bộ phận của hệ thống lục địa, Đ�i Loan đ� kh�ng thực sự bị chiếm cứ trước thế kỷ thứ mười bẩy, trước hết bởi c�c n�ng d�n từ Ph�c Kiến; v� ch�ng ta hay biết những g� đ� diễn ra trong sự tiến h�a gần đ�y của n�.

 

H�nh Bưu Thiếp Cảnh� Đ�i Loan

 

������ Ngay từ l�c khởi đầu cuộc ph�n t�ch của ch�ng ta, ch�ng t�i phải nhấn mạnh đến � tưởng về t�nh li�n tục r�ng buộc c�c miền n�y, miền ng�y nay ch�nh thức l� �Trung Hoa�, với phần c�n lại của Đ�ng Nam �.� Thật dễ d�ng để chỉ rằng c�c khu vực chứa đựng thiếc v� đ� phấn của V�n Nam (v� cả Qu� Ch�u � Quảng T�y) hiện hữu với sự đồng nhất từ ph�a bắc đến ph�a nam c�c b�n đảo Đ�ng Dương v� M� Lai, xuất hiện ngay cả xa t�t tới c�c bờ biển của đảo Sumatra.� Hơn nữa, c�c mỏ thiếc c� thể được t�m thấy tương tự dọc theo to�n thể chiều d�i, tại Phuket (giờ đ�y tại Th�i Lan) cũng như tại Perak, tại c�c v�ng ngoại � của Kuala Lumpur cũng như tại Banka v� Belitung (Billiton).� Ch�ng ta t�m thấy hoạt động n�i lửa tại một số địa phận n�o đ� ở Đ�i Loan v� đảo Hải Nam, v� c�c vụ động đất c� thể g�y tổn hại cho Ph�c Kiến hay Hồng K�ng một c�ch dễ d�ng y như đối với Phi Luật T�n hay Mi�n Điện. Cũng l� một điều th�ng thường rằng to�n thể miền n�y nằm dưới chu kỳ gi� m�a v� trải qua c�c trận b�o, trong khi c�c nh� thực vật học v� động vật học, song h�nh với nhau, nhấn mạnh đến sự kiện rằng hệ thực vật v� hệ đ�ng vật của miền nam Trung Hoa mang rất nhiều sự tương đồng với c�c khu rừng thưa của Đ�ng Dương, v� rằng trong c�c thời trước đ�y, c�c con voi thường thấy tại Miền Bắc v� Miền Nam.� Giống như tại Hải Nam, c�c miền duy�n hải của miền nam Trung Hoa cũng được bao phủ bởi c�c rừng nhiệt đới, c� điều rằng sự đốn rừng đ� khởi sự nơi đ�y sớm hơn rất nhiều so với miền viễn Nam.� Khi đ�, giống như với Địa Trung Hải của �u Ch�u, cơ hội hiện diện nơi đ�y cho c�c sử gia để nghi�n cứu sự triệt tho�i kh�c biệt của c�c khu rừng, xảy ra sớm hơn nhiều tại những xứ sở ph�t triển nhiều nhất về kinh tế: tại thế giới Hồi Gi�o l�i về hướng t�y, tại Trung Hoa về hướng nam.

 

H�nh Con Voi tại miền nam V�n Nam

 

������ D� vậy, điều hiển nhi�n rằng ch�ng ta sẽ kh�ng t�m thấy tại �Địa Trung Hải� Đ�ng Nam � n�y, như đ� được x�c định như thế, tất cả c�c th�nh tố của nguy�n trạng.� Th� dụ, ch�ng ta chỉ cần nh�n lướt qua tr�n bản đồ để hiểu rằng hai đại dương m� n� kề cận, Ấn Độ Dương v� Th�i B�nh Dương, mở rộng m�nh m�ng ra sao, v� trong sự đối chiếu, cũng trống kh�ng biết bao, kh�ng c� h�n đảo n�o nơi đ�y đ�ng giữ vai tr� của �trạm dừng ch�n giữa đường: staging post�, như đảo Cyprus, Crete, Malta hay ngay cả Sicily đ� l�m nhiều lần trong qu� khứ.� Địa điểm ứng tuyển hiển nhi�n l� Quần Đảo Ho�ng Sa (Paracels), nhưng ch�ng lại tọa lạc trong phạm vi một khu vực nguy hiểm khiến c�c kẻ hải h�nh ban sơ ưa th�ch việc đi v�ng quanh chứ kh�ng xuy�n qua [n�] một c�ch trực tiếp; v� cuộc cờ quốc tế lạ l�ng b�ng nổ ng�y nay từng chập tr�n c�c đảo nhỏ hoang sơ n�y, thuộc Ho�ng Sa (Paracels, hay T�y Sa theo ti�ng H�n) v� Trường Sa (Spratleys, hay Nam Sa theo ti�ng H�n), chỉ c� thể được giải th�ch bởi c�c mỏ dầu được kh�m ph� ở đ�, mới gần đ�y tr�n thước đo thời gian m� ch�ng ta sử dụng nơi đ�y.

������ Ch�ng ta c� thể tiếp tục liệt k� c�c sự kh�c biệt �từng điểm một�, nhưng sự kh�c biệt căn bản nhất c� lẽ �t l� một vấn đề về c�c cơ cấu vật thể cho bằng lịch sử, l� sự kiện rằng tại Địa Trung Hải kh�c n�y, ch�ng ta kh�ng t�m thấy một mẫu số chung mạnh mẽ tương tự như Đế Quốc La M� đ� cung cấp trong v�i thế kỷ.� Kh�ng hệ thống ch�nh trị thực sự thống nhất; kh�ng ng�n ngữ phổ biến tổng qu�t như tiếng Latin; kh�ng t�n gi�o thống hợp như Thi�n Ch�a Gi�o v�o l�c khởi sinh của n�.� Ch�ng ta c� thể phản b�c một c�ch chắc chắn rằng điều được gọi l� �thời kỳ Ấn Độ h�a� đ� chứng kiến tương tự sự thiết lập c�c th�nh tố văn h�a chung n�o đ� tại Java, Bali, Cambodia, Ch�m, v� ngay tại ch�nh Trung Hoa, qua sự trung gian của đạo Phật, v� rằng tiếng Phạn (Sanskrit) c� thể đ� c� chức năng ở một số thời gian n�o đ� như một loại tiếng koine. [6] Ngay d� c� như thế, n� chưa bao giờ thực sự xảy ra tr�n c�ng tỷ lệ.

������ Bất kể sự kh�ng nghị n�y, điều đ� kh�ng c� nghĩa rằng kh�ng thể được t�m thấy tại Đ�ng Nam � c�c th�nh tố của một nền tảng văn h�a chung cổ đại, bắt đầu với một tục thờ c�ng tổ ti�n, đ� nối kết với tục thờ c�ng con tr�u, điều c� thể được ph�t hiện từ miền nam Trung Hoa cho m�i đến tận Đ�ng Dương, Phi Luật T�n, v� Nam Dương (Indonesia).� Trong thời tiền lịch sử (c� nghĩa, một thời kỳ tương ứng một c�ch tổng qu�t với kỷ nguy�n La M� tại Phương T�y v� nh� H�n tại Trung Hoa), sự kh�m ph� ra một số lượng đ�ng kể c�c trống bằng đồng cung cấp cho ch�ng ta một n�t đại cương về điều được gọi l� văn h�a Đồng Sơn, vươn về ph�a t�y từ miền t�y nam gi�u mỏ đồng của Trung Hoa đến c�c bi�n giới của Iran v� xuống ph�a nam xuy�n qua Việt Nam, M� Lai, Sumatra, Java, Bali, Sumbawa, v.v� C�c th�ng tin kỹ thuất kh�c, giống như sự sử dụng c�c vi�n ng�i c� gờ m�c v�o nhau, [7] cũng c� thể đ� lan tr�n c�ng với c�ng việc chế t�c đồ đồng l� điều kh�ng thể bị ngờ vực.� Một số c�c sử gia về thời tiền lịch sử hiện thời đang nghi�n cứu về sự hiện diện của c�c thuyền-quan t�i, đều được t�m thấy tại Wuyishan, một trong những địa điểm cao nhất tại miền bắc tỉnh Ph�c Kiến, tại động Niah (bắc Borneo), v� tại v�i địa điểm ở Phi Luật T�n. [8] Nhiều thế hệ c�c sinh vi�n ng�nh huyền thoại học cũng đ� nghi�n cứu c�c sự tương tự được t�m thấy trong nhiều truyền thống d�n gian kh�c biệt của c�c cư d�n v�ng thung lũng-con s�ng.

 

Trống đồng Đ�ng Sơn c� thể được chế tạo tại Việt Nam v�o khoảng 200 Sau C�ng Nguy�n.

 

������ Sau c�ng, điều th�ch đ�ng để ghi nhận c�ng t�c hiện thời được thực hiện với nhiệt t�nh lớn lao bởi nhiều nh� nh�n chủng học, Trung Hoa cũng như t�y phương, về sắc d�n Hakkas.� Ch�ng ta biết được rằng c�c �Kh�ch� n�y (đ� l� � nghĩa t�n gọi họ bằng tiếng H�n: hakka hay keija trong quan thoại) [Kh�ch gia hay d�n Hẹ, trong tiếng Việt, ch� của người dịch NB] trước đ�y l�c n�o cũng được xem �t nhiều l� người H�n, đến từ miền Bắc, phần lớn trong thời nh� Tống, l� những kẻ đ� định cư tại c�c miền ph�a nam.� �Sự kh�c biệt� của họ với c�c nh�m d�n kh�c như thế, vốn thường được n�i, l� năng lực tuyệt diệu của họ để bảo tồn c�c truyền thống (v� ng�n ngữ ri�ng) nguy�n thủy của họ.� Nhưng ng�y nay khuynh hướng nh�n họ như �c�c thổ d�n: aborigins�, như người d�n của miền Nam, c�c kẻ dần dần nhưng kh�ng ho�n to�n bị đồng h�a bởi văn minh H�n tộc. [9] V� rất ch�nh x�c rằng một số trong c�c phong tục của họ (th� dụ, c�c vụ mai t�ng hai lần: double funerals) được giải th�ch một c�ch r� hơn bởi sự hiện hữu của một �d�ng giống Đ�ng Nam � cổ xưa� hơn l� bởi bất kỳ sự du nhập n�o từ phương Bắc. [10]

 

H�nh nơi cư tr� của d�n Hakka tại miền nam Ph�c Kiến

 

������ Điều hiển nhi�n rằng sự tr�nh b�y n�y th� gần như kh�ng phải kh�ng c� � nghĩa tại đ�y.� Đến một tầm mức n�o đ�, n� nhắm v�o việc tra vấn quan điểm nguy�n khối ch�nh thức về văn h�a Trung Hoa, v� c� c�c l� do vững chắc cho việc tin tưởng rằng c�c nh� nh�n chủng học th� kh�ng ho�n to�n sai lạc.

***

Đ�ng l�, về mặt lịch sử, �Địa Trung Hải� Đ�ng Nam � ban sơ, giống như nguy�n bản, từ l�u đ� bị �chia cắt� (mượn nhan đề hay ho quyển s�ch của t�c giả Jean Guilaine về c�c nguồn gốc của Địa Trung Hải �của ch�ng ta�. [11] C� mọi l� do để nghĩ rằng n� đ� giữ nguy�n c�ch đ� c�n l�u hơn nữa, v� rằng c�c tuyến hải h�nh ven bờ, trải d�i từ hải cảng n�y sang hải cảng kia v� sau c�ng chấm dứt bằng việc nối kết mọi bờ biển lại với nhau, đ� đ�i hỏi thời gian l�u hơn một ch�t để thiết lập ở đ�.� Ch�ng ta c� thể gom g�p lại với nhau một ni�n biểu đại cương về sự thiết lập c�c tuyến mậu dịch n�y, qua việc ph�n t�ch một số văn bản n�o đ�, thoạt ti�n ch�nh y�u c�c văn bản của Ả Rập v� Trung Hoa, nhưng một c�ch đặc biệt qua việc sử dụng c�c dữ liệu của c�c sự xuất cảng đồ gốm Trung Hoa, c� thể được t�m thấy tại mọi bờ biển v� đ� được khảo s�t kỹ lưỡng trong c�c thập ni�n gần đ�y.

 

Đĩa gốm thời nh� Minh tr�n t�u bị đắm gần Ternate, Moluccas, đ�ng Indonesia

 

������ Từ điều n�y, xem ra c� nhiều khả t�nh nhất rằng tuyến đường cổ xưa nhất l� con đường Phương T�y, nối kết một số c�c khu vực mậu dịch thường tranh gi�nh nhau gần Eo Biển Malacca đến hải cảng to lớn ở Quảng Ch�u.� Sau khi rời bến từ một số hải cảng thuộc v�ng Sriwijaya (Shilifoshi trong c�c văn bản tiếng H�n) � một từ ngữ tổng qu�t chỉ định một c�ch bao qu�t B�n Đảo M� Lai v� đ�ng nam Sumatra c� c�c trung t�m mậu dịch bao gồm Palembang, Jambi, Bangka, Kalah, Ligor � tuyến đường đi ngang qua Đảo Tioman (được đề cập đến ngay từ thế kỷ thứ ch�n trong một văn bản tiếng Ả Rập) trước khi đến bờ biển ng�y nay thuộc trung phần Việt Nam, được kiểm so�t v�o l�c đ� bởi một loạt c�c vương quốc Ch�m nhỏ v� cạnh tranh nhau, ng�y c�ng phải tranh đấu chống lại cuộc nam tiến của người Việt Nam.� Xa hơn về ph�a bắc, tuyến đường c� thể đ� l�n tới Bắc Kỳ (Tonkin), miền bắc Việt Nam hiện đại, nơi m� tại th�nh phố Luy L�u (chỗ m� c�c t�n đồ Phật Gi�o h�nh hương từ Trung Hoa đ� gặp gỡ c�c người kh�c từ Ấn Độ v� Trung � Ch�u), sự hiện hữu của một x� hội rất quốc tế từ thế kỷ thứ ba đ� được chứng thực một c�ch đầy đủ.� Nhưng tuyến đường c� thể c�ng l�c hướng tới cả ph�a đ�ng bắc, đến Quảng Ch�u, c� thể đ� gh� mũi t�y nam của Đảo Hải Nam, nơi m� c�c vết t�ch của một cộng đồng Ch�m Hồi Gi�o nhỏ vẫn c�n tồn tại dai dẳng đến nay.� Ch�nh từ đ� sự tranh gi�nh �lịch sử� sau n�y giữa một Việt Nam trong tương lai với miền Quảng Đ�ng � Quảng T�y thuộc miền nam Trung Hoa c� thể được giải th�ch bởi sự tranh gi�nh kinh tế tăng cao giữa c�c hải cảng của Bắc Kỳ với c�c hải cảng của Miền Nam Trung Hoa trong thời qu� khứ xa x�i hơn.

������ Ch�nh qua tuyến đường Phương T�y n�y m� Hồi Gi�o đ� vươn tới Trung Hoa, kh�ng qu� l�u sau sự từ trần của người s�ng lập của n�; Quảng Ch�u chứa một ng�i mộ của một trong những kẻ c� sự quan hệ chặt chẽ với Đấng Ti�n Tri, Abu Wakkas, cũng như một ng�i đền Hồi Gi�o cổ xưa với th�p cao, vốn cũng được sử dụng như ngọn hải đăng, c� ni�n kỳ từ thế kỷ thứ ch�n.� Từ thời kỳ n�y, tr�n hai thế kỷ tr�i qua trước khi n� vươn tới Java (nơi bia k� xưa nhất chỉ c� ni�n kỳ từ thế kỷ thứ mười một), Hồi Gi�o đ� được thiết định để trở th�nh xu hướng � thức hệ ch�nh của c�c thương nh�n đi biển lu�n chuyển dọc theo c�c bờ biển Trung Hoa.� Khi một cuộc nổi loạn b�ng nổ trong năm 879 C�ng Nguy�n, cộng đồng ngoại kiều tại Quảng Ch�u, bao gồm ch�nh yếu c�c t�n đồ Hồi Gi�o nhưng c� cả c�c người theo Thi�n Ch�a Gi�o, Do Th�i v� đạo Zoroastrian, [12] đ� bị tấn c�ng v� Mas�udi ghi lại 200,000 người đ� bị giết chết.

������ C� mọi l� do để giả định, mặc d� lần n�y c�c sự kiện �t được kiện chứng ho�n hảo hơn nhiều, rằng một tuyến đường kh�c đ� nối liền Sriwijaya đến ph�a đ�ng của Indonesia ng�y nay, bởi một chuỗi c�c điểm dừng ch�n trung gian để đến c�c hải cảng passisir [kh�ng r� nghĩa của từ ngữ in nghi�ng n�y trong nguy�n bản, ch� của người dịch NB] của bờ biển miền bắc Java.� Tuyến đường xưa cũ n�y (c� thể chỉ l� một phần nối d�i của tuyến đường được sử dụng bởi c�c trống đồng) đ� cho ph�p sự vận tải về hướng t�y c�y đinh hương � được thu h�i ch�nh yếu tại miền Maluku nhưng được biết đến tại c�c thị trường Địa Trung Hải từ thời La M� � c�ng với nhiều sản phẩm kh�c của Phương Đ�ng rộng lớn hơn, như c�c con vẹt kh�ng được biết đến tại Java nhưng lại được khắc họa nhiều tr�n c�c bức chạm nổi thấp (bas-relief) tại khu đền Borobudur (thế kỷ thứ ch�n).

 

H�nh Borobudur / Chi tiết trụ ngạch m� tả c�c con vẹt

H�nh Borobudur / Chi tiết trụ ngạch m� tả c�c con vẹt

 

������ Từ c�c thế kỷ thứ mười v� mười một, ch�ng ta c� thể nhận ra một số thay đổi n�o đ�.� Tại Trung Hoa, thời kỳ được biết l� Ngũ Đại (Năm Triều Đại) (907-960 Sau C�ng Nguy�n) đặc trưng bởi một mức độ lớn lao của sự tự trị tại c�c miền ph�a nam, lợi dụng cuộc khủng hoảng đế triều tạm thời.� Ph�c Kiến, được biết trong v�i thập ni�n như Vương Quốc M�n [Việt]: Kingdom of Min, [13] �đ� cất c�nh về kinh tế, từng ch�t một tự chuẩn bị để trở th�nh một trong c�c động cơ kinh tế ban sơ của Đ�ng Nam �; trong khi nằm dưới nh� Nam H�n, miền Quảng Đ�ng đ� trải qua sự ph�t triển khổng lồ, nổi bật về sản phẩm luyện kim.� Tại quần đảo sau n�y trở th�nh Phi Luật T�n, ch�ng ta chứng kiến sự xuất hiện của địa điểm gi�u kim loại v�ng ở Butuan (tr�n bờ biển ph�a bắc của đảo Mindanao), nơi bắt đầu trao đổi đồ gốm Trung Hoa lấy v�ng của n�.� Tại đảo Java, trung t�m thu h�t c�c sự di chuyển từ v�ng giữa sang hướng đ�ng; v� tại khu vực thuộc miền bắc Việt Nam ng�y nay, nước sau rốt đ� tho�t khỏi sự kiểm so�t của Trung Hoa, chiến tranh khởi sự với người Ch�m ở ph�a nam.� Cuộc xung đột n�y sẽ kết th�c với sự triệt tho�i của người Ch�m, ch�nh từ đ� khiến cho tuyến đường mậu dịch phương t�y, vốn gi�p trở th�nh khả dĩ c�c sự tiếp x�c đầu ti�n với Ấn Độ, với Phật Gi�o theo đường h�ng hải, v� với Hồi gi�o, trở n�n kh�ng sinh lợi trong một thời gian d�i.

������ Tuy nhi�n, bước ngoặt lớn lao cho Đ�ng Nam �, cũng như trong thực tế đối với to�n thể miền �u-�, đ� xảy ra trong thế kỷ thứ mười ba, với �thời điểm M�ng Cổ� trong lịch sử thế giới, [14] v� sau đ� trong thế kỷ thứ mười bốn khi, gần như ngay sau đ�, sự bất ổn tại c�c l�nh địa hầu quốc Thổ Nhĩ Kỳ của v�ng Trung � Ch�u đ�ng cửa tuyến đường mậu dịch đại lục m� Marco Polo v� Rubriquis đ� đi qua (cũng như với Rabban Sauma, từ một tuyến đường kh�c v�ng quanh).� Từ kỷ nguy�n n�y, �sức nặng của phương Bắc� (tức c� nghĩa, từ miền nam Trung Hoa) hiếm c� khi kh�ng chiếm thế ưu thắng tại Đ�ng Nam �.� Cho đến khi đ�, c�c t�c động ch�nh, bất luận của Phật Gi�o hay Hồi Gi�o, trong thực tế hầu hết đến từ hướng t�y nam, với �sự Ấn Độ h�a� tạo th�nh� một c�ch dễ d�ng hiện tượng quan trọng nhất như thế.� Nhưng, kể từ đ�, c�c hải cảng Trung Hoa sẽ tạo ra t�c động quan trọng nhất.� Từ thế kỷ thứ mười ba, đ� c� một cộng đồng người Hoa tại Angkor; trong thế kỷ thứ mười bốn, đ� c� người Trung Hoa định cư tại Xi�m La l� c�c kẻ đ� tạo lập ra th�nh phố thương mại mới ở Ayutthaya, [15] trong khi ch�ng ta cũng nghe thấy v�o thời điểm đ� về c�c cộng động được thiết lập tr�n bờ biển ph�a bắc của Java, r� rệt nhất ở Gresik.

 

H�nh vẽ Genghis Khan (1162? � 1227)

 

������ Cuộc chinh phục của M�ng Cổ vẫn c�n l� một hiện tượng được hiểu biết một c�ch kh� ngh�o n�n, nhưng r� r�ng rằng, khi rời khỏi miền Trung �, Genghis Khan v� c�c người nối ng�i của �ng đ� muốn tổ chức một loại hệ thống thế giới sẽ kết hợp kh�ng chỉ Trung Hoa, Đ�ng �u, Iran, v� Ấn Độ, m� c�n tất cả c�c h�n đảo v� xứ sở tại ngoại vi ph�a đ�ng của n�, bao gồm Nhật Bản, Việt Nam, xứ Ch�m, Miến Điện, v� Java.� Hai thế kỷ theo sau sẽ chứng kiến sự xuất hiện của c�c trung t�m thu h�t mới , sự cất c�nh của nhiều th�nh phố hải cảng, v� tr�n hết sự ph�t triển của một tuyến đường h�ng hải ph�a Đ�ng, nối kết c�c hải cảng của Ph�c Kiến qua nhiều trạm dừng ch�n đến Luzon, Mindoro, Visayas, v�, vượt qu� Mindanao, đ�n Brunei trong một hướng, v� đến Sulu v� Maluku theo hướng kh�c.� Trong bờ biển kh�c v�o thời điểm n�y, cuộc chinh phục của Việt Nam năm 1471 ở kinh đ� của xứ Ch�m, Vijaya, x�c định sự suy giảm của tuyến đường ph�a T�y.

������ Từ điểm n�y trở đi, ch�ng ta c� thể n�i rằng v�ng tr�n đ� được kh�p k�n v� rằng từ nay trở đi biển Nanyang (Nam Dương) đ� hoạt động như một �Địa Trung Hải� Đ�ng Nam �.� Từ c�c thế kỷ mười ba đến mười s�u, ch�ng ta chứng kiến sự ph�t triển r� rệt của c�c hải cảng lớn của miền nam Ph�c Kiến: Zhangzhou v� Quangzhou, rồi đ�n Amoy (hay Xiamen: Hạ M�n).� Trong hai trường hợp sau c�ng, một sự phong ph� của c�c bia k� Hồi Gi�o chứng thực sự hiện diện của một cộng đồng ngoại quốc to lớn, bao gồm c�c người Ả Rập v� Persians (Ba Tư).� C�c thương nh�n Hokkien thế lực giờ đ�y khởi sự dựng l�n c�c cơ sở kh�ng chỉ ở Java, Patani, v� Phi Luật T�n, m� c�n ở Quảng Đ�ng v� đảo Hải Nam.� So s�nh, v�o c�ng l�c đ�, to�n bộ c�c loạt thương nh�n độc lập, Nhật Bản v� Trung Hoa (c�c kẻ m� ch�ng ta gọi l� wokou), đ� lợi dụng c�c t�nh huống thuận lợi để ph�t triển một nền thương mại tư nh�n kh�ng chỉ giữa c�c hải cảng tại Trung Hoa v� Nhật Bản m� c�n cả ở Đ�ng Nam �, nơi kh�ng c� quốc gia n�o tr�ng chừng họ.

 

Tượng Đ� Đốc Trung Hoa, Trịnh H�a (1405-1433 [?])

 

������ Trong c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ mười lăm, c�c cuộc viễn chinh nổi tiếng của Đ� Đốc Trịnh H�a đ� kh�ng chỉ băng ngang qua c�c Biển Phương Nam m� c�n đi xa m�i đến tận Ấn Độ, Mecca, v� ngay cả Mogadishu tại Phi Ch�u.� Ch�ng đ� bị đ�nh chỉ sau năm 1436, v� sự gi�n đoạn n�y được giải th�ch một c�ch tổng qu�t như một ước muốn của Trung Hoa để �triệt tho�i�.� Điều n�y vẫn c�n phải được chứng minh, bởi sự đ�nh chỉ c�c cuộc viễn chinh Nh� Nước to lớn� kh�ng c�ch n�o c� nghĩa rằng sự xuất cảnh của người Trung Hoa bị ngừng lại.� Ch�ng ta c� thể trong thực tế thắc mắc l� tại sao, tự nền tảng, người Trung Hoa đ� kh�ng tiến bước sớm hơn rất nhiều đến một hệ thống mậu dịch tư nh�n (được khoe khoang biết bao trong thời đại ch�ng ta) trong khi T�y Phương vẫn c�n vướng mắc trong �c�c c�ng ty� của n�, c�c bộ phận g�y chiến tranh tr�n �c�c kẻ cướp b�c� trong hơn hai hay ba thế kỷ nữa.

������ Từ thế kỷ thứ mười s�u, c�c sự việc đ� thay đổi một ch�t, một phần bởi sự hiện diện của người �u Ch�u � người Bồ Đ�o Nha, v� sau đ� người H�a Lan v� Anh Quốc � nhưng chỉ một phần v� l� do n�y.� Từng ch�t một, sự thống lĩnh của Ph�c Kiến đ� l�i dần v� Quảng Ch�u lấy lại vị tr� cũ của n�, nhưng dưới một hệ thống �t tự do hơn: 13 hang [kh�ng r� ngh�a từ ngữ in nghi�ng n�y trong nguy�n bản, ch� của người dịch NB], hay phường, đ� được thiết lập tại đ� trong năm 1557, v� trong năm 1720, ch�ng sẽ khởi sự hệ th�ng Kohong [kh�ng r� ngh�a từ ngữ in nghi�ng n�y trong nguy�n bản, ch� của người dịch NB], cho ph�p c�c quan lại Trung Hoa kiểm so�t hữu hiệu hơn c�c ngườiT�y Phương.� Người ta c� thể suy tưởng từ điều n�y rằng, bất kỳ khi n�o Trung Hoa mở cửa xuy�n qua Quảng Đ�ng, n� lu�n lu�n được l�m một c�ch hạn hẹp hơn v� trong một cung c�ch kiểm so�t nhiều hơn l� xuy�n qua c�c hải cảng của Ph�c Kiến.

 

H�nh C�c Th�ng Chở H�ng tại Hải cảng Ph�c Ch�u

 

������ Bất kể sự bế quan ch�nh thức của Nhật Bản trong năm 1638, v� của Trung Hoa v�i lần dưới cả thời nh� Minh v� nh� Thanh, tuy thế vẫn kh�ng chắc chắn rằng c�c xứ sở Đ�ng � to lớn n�y đ� lựa chọn một ch�nh s�ch �ph�ng thủ�, trong sự chống đối trước c�c thương nh�n t�y phương chiến thắng.� Sự thực nhiều phần ngược lại.� Một mặt, họ giữ rất nhiều, trong tay của ch�nh họ, sự kiểm so�t c�c tr�o lượng sản vật n�o đ�, trong l�c đ� thủ lợi như nơi đến ch�nh yếu của sự giao thương sinh lợi (như bạc của Mễ T�y Cơ, vốn từ l�u đ� đến Trung Hoa xuy�n qua sự trung gian của thương thuyền đ�y bằng, chạy bằng buồm lẫn ch�o tay (galleon) tại Manilla, hay lụa Trung Hoa chở đến Nhật Bản xuy�n qua Deshima).� Mặt kh�c, họ đ� tạo ra c�c khu người xuất dương sinh sống ở nước ngo�i (diasporas) quan trọng.� Xuy�n qua nhiều khu lưu tr� ngo�i nước, người Trung Hoa đ� tạo lập c�c mạng lưới tư bản, từ đ� sinh ra hầu hết tầng lớp tư sản �d�n tộc� của Đ�ng Nam � ng�y nay.� Đối với người Nhật, c�c kẻ v�o l�c khởi đầu của thế kỷ thứ mười bẩy, cũng đ� thiết lập c�c khu sinh s�ng quan trọng của người Nhật (Nihonmachi) tại Ayutthya, Faifo (hay Hội An, thuộc miền trung Việt nam ng�y nay) v� tại Batavia, nhưng tất cả c�c lợi thế của họ đ� bị mất hết sau lệnh năm 1638 ngăn cấm hữu hiệu sự xuất dương của c�c c� nh�n tư nh�n, mặc d� họ sẽ gi�nh lại được quyền n�y sau thời Minh Trị v� tr�n hết, v�o l�c bắt đầu thế kỷ thứ hai mươi.

������ Nh�n song song với điều n�y, c�u chuyện của c�c thương nh�n �u Ch�u kh� l� tuyệt vời.� Sau �đại th�nh c�ng� đoạt được bởi người Bồ Đ�o Nha thế kỷ thứ mười s�u v� người H�a Lan thế kỷ thứ mười bẩy (c�c kẻ d� thế đ� bị buộc phải đầu h�ng một c�ch kh� thảm thương tại Formosa, khi bị chống đối bởi Koxinga [Quốc T�nh Gia, tức Trịnh Th�nh C�ng, ch� của người dịch NB], c�c sự tường tr�nh trong thế kỷ thứ mười t�m kh� b�nh thường.� Thương mại của Macao, bị đẩy ra khỏi Nhật Bản sau năm 1638, đ� t�m c�ch bu�n b�n vặt v�nh tại Makassar hay tại Timor, nơi m� sự mậu dịch gỗ đ�n hương (sandalwood) chắc chắn đ� tạo ra một số t�i sản c� nh�n gi�u c� nhưng kh� c� thể tuy�n nhận như hoạt động thương mai c� ưu ti�n cao độ.� Về thương mại của C�ng Ty Đ�ng Ấn thuộc H�a Lan, ch�ng ta biết rằng n� ở v�o thời điểm từ trần khi c�c cuộc khủng hoảng thời Napoleon l�m rung chuyển �u Ch�u.� C�c c�ng ty Anh Quốc v� Ph�p Quốc [16] kh� kh� hơn.� C�c biến cố của thế kỷ thứ mười ch�n được hay biết r� v� c� thể mang lại cảm tưởng rằng c�c người T�y Phương, sau rốt trong sự h�a hợp sau năm 1815, đ� đạt được một sự thỏa thuận để �mở cửa� Trung Hoa, v� sau đ� Nhật Bản.� Nhưng c�c biến cố của thế kỷ thứ hai mươi ngược lại khiến ch�ng ta kh� nghi ngờ về khả năng của họ để �kiểm so�t� miền n�y v� giữ vững vị thế của ch�nh họ ở đ�.

������ Tổng kết, kh�i niệm về �Địa Trung Hải� l� một c�ng cụ hữu dụng gi�p ch�ng ta kiểu ch�nh một �sự đặt l�m trung t�m� truyền thống giờ đ�y c� nguy cơ kh�ng c�n th�ch đ�ng, v� để thay bằng một sự đặt định trung t�m kh�c cho ph�p ch�ng ta kết hợp một kh�ng gian rộng lớn hơn nhiều v� c�c thời khoảng l�u d�i hơn nhiều.� Ch�nh v� được t�i lập trong tổng thể của n�, v� từ một quan điểm phi truyền thống một c�ch c�n nhắc, lịch sử của Đ�ng Nam � c� thể hy vọng một c�ch hợp l�, vượt tho�t khỏi lịch sử �ph�n cực� m� n� qu� thường bị hạn chế v�o đ� (với c�c lịch sử �d�n tộc� theo sau một c�ch n� lệ c�c bước ch�n của c�c lịch sử �thuộc địa� trước đ�) v� để thủ lợi từ một khảo hướng mới nhận thức đầy đủ c�c sự đồng bộ về thời gian v� c�c mạng lưới.� T�i xin nhấn mạnh, với c�c lời cuối c�ng của t�i, rằng việc t�i kết hợp miền nam Trung Hoa v�o sự suy nghĩ của ch�ng ta sẽ kh�ng c�ch n�o �l�m vỡ c�c con đ� (như qu� nhiều đầu �c qu� rụt r� tưởng tượng).� Mục đ�ch thực sự li�n can, trong thực tế, như đ� sẵn được n�u ra trong passing, l� để mở to�n thể Miền Nam Trung Hoa cho c�c cuộc nghi�n cứu đối chiếu, một dự �n tr�ng lệ sẽ kh�ng n�n l�m chậm trễ bất kỳ ai ./-

 

B�i dich [sang Anh ngữ n�y [của Nola Cooke] xuất hiện trong số ra mắt của tạp ch� điện tử China Southern Diaspora Studies trong Th�ng Hai 2007.� C�c chủ bi�n của tạp ch� n�y l� Nola Cooke v� Li Tana, thuộc Research School of Pacific and Asia Studies, Australian National University.� C�c t�c giả Cooke v� Li l� c�c chủ bi�n của quyển Water Frontier, Commerce and the Chinese in the Lower Mekong Region, 1750-1880.

___

�Được phổ biến tr�n mạng internet ở địa chỉ của tạp ch� Japan Focus ng�y 4 Th�ng Ba, 2007:

http://www.japanfocus.org/products/topdf/2371

 

CH� TH�CH

[1] Đ�y l� một bản d�ch đ� được bi�n tập của Nola Cooke từ một b�i viết của cố học giả người Ph�p, Denys Lombard.� B�i viết được ấn h�nh đầu ti�n trong năm 1998 trong một số đặc biệt của tạp ch� địa dư Ph�p, tờ H�rodote, d�nh cho chuy�n đề Nam Dương (Indonesia) như �Phương Đ�ng� của Hồi Gi�o.� Xem H�rodote, số 88, 1998, c�c trang 184-92.� C�c sự tham chiếu trong c�c dấu ngoặc thẳng [ �] đ� được th�m [bởi dịch giả Nola Cooke] v�o văn bản nguy�n thủy� Xin c�m ơn nhiều c� Claudine Salmon về sự trợ gi�p của c� li�n quan đ�n bản dịch [sang Anh ngữ n�y].

[2] Lombard �m chỉ ở đ�y đến vấn đề Căm Bốt, v� cuộc khủng hoảng tiền tệ hồi giữa thập ni�n 1990, đặc biệt c�c kh� khăn của đồng bath của Th�i Lan v� đồng rupia của Nam Dương.

[3] Một c�y sống nhờ l� một loại c�y tăng trưởng tr�n một c�y kh�c m� kh�ng sống b�m v�o c�y đ�n nhận n�.

[4] Lombard đề cập đến quyển lịch sử nhiều ảnh hưởng về thế giới Địa Trung Hải của t�c giả Fernand Braudel, La M�diterran�e et le monde m�diterran�en � l��poque de Philippe II, được xuất bản lần đầu tại Ph�p trong năm 1949 v� được in lại nhiều lần từ đ�.� Quyển s�ch được dịch sang Anh ngữ bởi Sian Reynolds với nhan đề The Mediterranean and the Mediterranean World in the Age of Philip II, xuất bản bởi Collins trong c�c năm 1972-73 v� được in lại hồi gần đ�y bởi University of California Press trong năm 1995.

[5] Mare nostrum l� tiếng Latin c� nghĩa �biển của ch�ng ta�.

[6] Koin� l� một sự hỗn hợp Hy Lạp cổ đại c�c th�nh tố Attic v� Ionion, đ� trở th�nh ng�n ngữ Hy Lạp th�ng thường, ch�nh v� thế được nới rộng, c� nghĩa bất kỳ tiếng n�i chung n�o được chia sẻ bởi c�c người n�i c�c ng�n ngữ� hay phương ng�n kh�c nhau tr�n một kh�ng gian địa dư rộng lớn.

[7] J. Dumarcay, �La faitie.. tendue (histoire d�une technique)�, Bulletin de l��cole franҫaise d�Extr�me-Orient, số 49, 1959, c�c trang 632-36.

[8] D. Ziegler, �Entre ciel et terre: le culte des �bateaux-cercueils� de mont Wuyi�, Cahiers d�Extr�me-Orient, số 9, EFEO Kyoto, 1996-97, c�c trang 203-31; T. Harrison, �The Great Cave of Niah: A Preliminary Report�, Man, số 57, 1957, c�c trang 161-66.

[9] Xem đặc biệt Glen Đubridge, China�s Vernacular Cultures, �Inaugural lecture�, University of Oxford, Clarendon Press, Oxford, 1996.

[10] C�c sự mai t�ng hai lần (double funerals) được thấy khắp thế giới Austronesian, tới m�i tận Madagascar.

[11] Jean Guilaine, La Mer partag�e, Flammarion, Paris, 1994.

[12] Một t�n gi�o ph�i Manichean Ba Tư tin tưởng rằng thế giới bị kiềm chế v�o cuộc tranh đấu giữa c�c m�n đồ của Điều Tốt v� điều Xấu.

[13] E. H. Schafer, The Empire of Min, Charles Tuttle, Tokyo, 1954.

[14] S. A. M. Adshead, Central Asia in World History, MacMillan Press, London, 1993.

[15] Charnvit Kasetsiri, The Rise of Ayudhya. A History of� Siam in the Fourteenth and Fifteenth Centuries, Oxford University Press � Duang Kamol, Bangkok, 1976.

[16] Về c�c kh� khăn của C�ng Ty French Company trong c�ng cuộc mậu dịch của n� với Trung Hoa, xem nghi�n cứu tuyệt hảo của L. Dermigny, La Chine et L�Occient, Le commerce � Canton au XVIIIe si�cle, 1719-1833, SEVPEN, Paris, 1964, 4 quyển./- �

�-----

Nguồn: �http://www.japanfocus.org/-denys-lombard/2371

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

16.12.2013

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2013