W. H. Davenport Adam

 

 

 

B�C SĨ MORICE V� S�NG CỬU LONG:

 

TH�M HIỂM NAM KỲ, 1872 *

 

Đặc T�nh Người An Nam � Y Phục v� Nơi Ở -- C�nh Đồng C�c Ng�i Mả -- M� Tả Con Tắc K� � Sự Quen Thuộc Với Con Người � Về Con Thằn Lằn � Dạo Chơi Chợ Lớn � H� Ti�n Của C�c C�nh Hoa Hồng � Vườn Trồng Hạt Ti�u � Tiệc Ng�y Tết � Một Tr� Ti�u Khiển Của Người An Nam � C�c Buổi Diễn Tuồng � Người� S�ng Lập Ra H� Ti�n � Mộ Của Mạc Cửu � Một Vị Kh�ch G�y Kh� Chịu � Một Con Rắn Hổ Mang � Rắn Mẹ V� Đ�n Con � Tại Vĩnh Long � N�i B� Đen � Suối Nguồn V� Tận � Săn Hổ -- Người L�nh V� Con Hổ -- Thăm Viếng Ng�i Chợ Ở T�y Ninh � Người An Nam V� Người Căm Bốt � Phần Tử Trung Hoa. *�

 

* Tiểu Đề v� Nội Dung b�i viết ghi tr�n do người dịch đặt ra, theo � nghĩa v� ti�u đề tr�n đầu c�c trang trong nguy�n bản.

 

 

Ng� Bắc dịch

 

*****

 

������ Ch�ng t�i mắc nợ một số tin tức bổ t�c li�n quan đến con s�ng vĩ đại của Căm Bốt từ B�c Sĩ Morice, người đ� du h�nh tại Nam Kỳ (Cochin-China) trong năm 1872.

 

������ Về người An Nam, cư d�n của Nam Kỳ, �ng n�i ngay từ đầu, rằng cảm tưởng đầu ti�n của �ng đối với họ l� một cảm gi�c kinh tởm.� Những khu�n mặt đ�, �t nhiều phẳng bẹt, v� thường kh�ng c� vẻ th�ng minh hay sinh kh� g� cả; c�c đ�i mắt x�m ngắt đ�, v� đặc biệt, c�i mũi to đ�, v� cặp m�i dầy vất l�n, bị nhuộm đỏ v� l�m sai m�u bởi việc nhai trầu thường trực, kh�ng đ�p ứng được l� tưởng về vẻ đẹp của người �u Ch�u.� Nhưng sau một sự quen biết l�u d�i với họ, �ng, giống như trường hợp của c�c du kh�ch T�y Phương kh�c, bắt đầu nhận thức được một nh�n tho�ng qua về � nghĩa trong phần lớn cử chỉ, v� c�n ph�n biệt được giữa những phong c�ch xấu xa.� �ng đ� gặp một số đ�i mắt kh�ng xếch l�n, một số mũi c� một t�nh chất gần như người Causian, v� �c cảm của �ng dần dần biến mất.

 

������ Song, từ quan điểm ưu �i nhất, họ l� một sắc d�n c� khổ người thấp v� d�ng vẻ kh� thương; yếu đuối, thiếu sinh kh�, v� nhiều phần kh�ng bao giờ tạo ra một sự ồn �o n�o trong thế giới.� C�c nh� cai trị người Ph�p của họ trở th�nh c�c kẻ khổng lồ khi so s�nh với c�c d�n ch�ng thấp l�n n�y; v� năng lực bắp thịt thua xa năng lực của c�c người �u Ch�u, bất luận l� v� c�c nguy�n do tự nhi�n hay v� kh�ng c� kiến thức vệ sinh.� Về nước da của họ, trong khi một số c� nước da đậm, c�c người kh�c kh� xanh xao v� t�i m�t.� Chỉ c� hai kh�a cạnh m� người An Nam c� thể được n�i l� vượt qua mặt c�c chủ nh�n của họ: khả năng ch�o thuyền trong mười tiếng đồng hồ li�n tiếp, v� sự miễn trừ m� với n�, họ c� thể đối đầu với c�c tia nắng thi�u đốt của mặt trời nhiệt đới.

 

������ Về đặc t�nh của họ, l� đặc t�nh của một d�n tộc m� sự n� lệ, ngu dốt v� lười biếng khiến họ trở th�nh ngh�o đ�i, nh�t nh�t v� v� cảm.� Song họ c� khả năng được n�ng l�n một ti�u chuẩn tr� thức v� đạo đức cao hơn.� Họ c� nhiều khuyết điểm trầm trọng, đ�ng l� như thế; th� dụ, họ thiếu s�t một cảm t�nh về nghệ thuật.� Ngay bằng chứng về nhược điểm kể sau cũng được t�m thấy nơi một số c�c bức tranh tr�n tường kh� ngạc nhi�n, được sao ch�p lại, với sự trung thực đ�ng y�u, tất cả đều rạng rỡ v� sống động trong thi�n nhi�n � c�c con chim, c�c c�n tr�ng, c�c đ�a hoa.� Nhưng như một quy luật, người An Nam th� v� cảm đối với nghệ thuật.� �m nhạc đơn điệu ch�t ch�a thực khủng khiếp đối với đ�i tai văn h�a; v� điều c� thể ngờ vực rằng kh�ng r� �m nhạc của ch�ng ta c� vui tai đối với họ hay kh�ng.� Về đi�u khắc họ chỉ biết c�c điều sơ s�i; thơ của họ th� lạnh l�ng; họ kh�ng thể khi�u vũ.� Sự nghi�n cứu văn chương của họ bị giới hạn v�o một sự quen biết với �t H�n tự; v� c�c sự sở đắc khoa học của họ th� trống trơn.

 

������ Kế đến l� về y phục của họ.� Họ kh�ng bao giờ vứt bỏ qu�n �o cho tới khi ch�ng tơi tả th�nh mảnh vụn r�ch n�t, mặc d� ch�ng kh�ng đủ để bảo vệ họ chống lại c�c sự biến đổi của kh� hậu, v� đặc biệt hơn chống lại c�c buổi s�ng buốt gi� của Th�ng Mười Hai v� Th�ng Một.� C�c t�p lều hay ng�i nh� chuồng của họ, gần như tất cả đều được dựng tr�n c�c chiếc cọc, nửa dưới nước, nửa bằng đất v� b�n, thật kh�ng l�nh mạnh một c�ch lạ l�ng.� Việc canh t�c l�a gạo, v� nghề nghiệp của họ l� c�c ngư phủ, khiến cho họ gần như c� t�nh lưỡng cư, vừa sống dưới nước vừa ở tr�n cạn.� Nước thường d�ng l�n tới s�n nh� của một ng�i nh� An Nam, đặc biệt với triều s�ng cao, nhưng điều đ� kh�ng g�y phiền h� cho chủ nh�; kẻ, trong biến cố như thế, ngồi n�p m�nh một c�ch h�i l�ng tr�n l� sưởi trong nh�, hay đong đưa tr�n chiếc v�ng th� sơ của m�nh, lẩm bẩm một v�i điệu h�t đơn độc, hay h�t thuốc điếu c� h�nh dạng như một khẩu s�ng n�ng ngắn cổ lỗ. �

 

������ Tại S�ig�n (hay Sai-gun [?]), khu định cư v� hải cảng của Ph�p, tọa lạc tại cửa một con s�ng mang c�ng t�n, du kh�ch t�m thấy nhiều điều th� vị hơn cho m�nh.� Th� dụ, Vườn B�ch Thảo (Botanic Garden), sẽ đền đ�p xứng đ�ng sự thẩm tra, chứa cất như đang c�, c�c mẫu hiếm qu�, đẹp đẽ v� kỳ lạ của thảo mộc nhiệt đới.� Ngay s�t cận l� C�nh Đồng C�c Ng�i Mộ (Plain of the Tombs); diễn trường, một thế kỷ trước đ�y, của nhiều trận đ�nh giữa c�c cư d�n của v�ng Hạ Nam Kỳ (Lower Cochin-China) v� người An Nam; v� giữa c�c năm 1860 v� 1864, nhiều cuộc giao tranh giữa người An Nam v� người Ph�p.� T�nh đồng nhất của dải đất m�nh m�ng bị ngắt qu�ng bởi một số g� đất hay c�c nấm mộ; một số th� khi�m tốn, số kh�c ở tầm mức huy ho�ng.� Được x�y cất bằng đất hay gạch, ch�ng được bao phủ bằng một loại xi-măng, tr�n đ� được họa kiểu bằng c�c m�u sắc linh động c�c h�nh tượng của c�c con vật hoang đường v� c�y cỏ kh�ng thể c� được, trong khi danh t�nh v� chức vị của người chết được khắc chữ nổi bật.

 

������ Nơi đ�y, v�o một ng�y, B�c Sĩ Morice đ� c� dịp l�m kh�n giả trong một tang lễ của người An Nam, vốn lu�n lu�n được cử h�nh với một mức độ linh đ�nh n�o đ�, v� được tham dự bởi một đo�n người ph�n ưu đ�ng đảo.� Quan t�i được đặt ở giữa một ng�i nh� nhỏ di chuyển được,� được l�m bằng giấy c� m�u sắc rực rỡ, v� được cắt th�nh h�nh thể kỳ lạ.� Một số người khi�ng ng�i đền thu nhỏ n�y, đặt tr�n vai của họ c�c thanh tre để n�ng đỡ ng�i đền. �Một đo�n người cầm c�c ngọn đuốc rải dọc theo con đường c�c lời cầu nguyện l�n Đức Phật, được vẽ tr�n c�c tờ giấy m� bạc v� v�ng, v� ch�m lửa đốt ch�ng.� Ph�a đ�ng sau rảo bước l� c�c b� bạn v� th�n nh�n người từ trần, một số người thốt ra c�c lời than kh�c miễn cưỡng, tất cả đều cười �sau c�nh tay �o của họ�; bởi c�c người lạ l�ng n�y kh�ng bao giờ bị qu� x�c động bởi sự buồn rầu của họ đến nỗi họ kh�ng thể nhạo b�ng, hay ở bất kỳ sự việc gi m� họ c� thể tức thời bắt gặp, bằng trực gi�c, một kh�a cạnh kh�i h�i.

 

������ Ở nơi đ�y �ng c� nh�n thấy một số con tắc k�; trong thực tế ch�ng nhiều đủ để được xem l� vị thần của địa điểm.� Cư tr� trong c�c khu rừng v� c�c nơi m�nh m�ng, cũng như tại c�c t�p lều của người An Nam v� c�c ng�i nh� của người Ph�p, con thằn lằn to x�c n�y, rất th�ng thường tại Nam Kỳ, l� một trong c�c con vật mang lại cho lo�i động vật của xứ sở n�y một n�t đặc th�.� Độc giả c� hay biết con tắc k� d�ng dấp ra sao kh�ng?� Nếu kh�ng, h�y để người đ� cố gắng h�nh dung về một con kỳ nh�ng tr�n đất khổng lồ; da của n�, m�u x�m xanh, được bao phủ bởi một số lượng hạch t� hon nổi l�n giữa một mảng nhuốm m�u cam; cặp mắt to lớn của n� c� một mồng mắt m�u v�ng - v�ng kim loại;� trong khi đ�, nhờ một phiến giống như miếng h�t nằm ở mặt dưới gan b�n ch�n, n� c� thể bước đi một c�ch dễ d�ng tr�n c�c bề mặt trơn trợt nhất, v� ho�n to�n th�ch đố c�c định luật về trọng lực.� Tiếng k�u của n�, �m thanh được d�ng đặt cho t�n gọi của n� trong mọi ng�n ngữ, nghe vang vọng một c�ch kỳ lạ; v� khi nghe thấy lần đầu ti�n, kh� l�m người nghe kinh sợ.� Một tiếng gầm gừ hay khục khặc yếu ớt vang ra như một kh�c dạo đầu, v� sau đ�, trong năm, s�u hay t�m lần, hạ thấp giọng của m�nh đều đặn nửa �m độ mỗi lần, n� ph�t ra c�c nốt nhạc theo �m điệu của n�, đ�i khi được viết l� gecko, v� đ�i khi l� tacke; cuộc tr�nh diễn kết th�c với một tiếng gầm gừ của sự thỏa m�n.

 

������ Con tắc k� lớn l�n quen thuộc với con người y như con m�o hay con ch� trong nh�, -- tiến v�o c�c nơi cư tr� của con người một c�ch tự do, v� cung cấp dịch vụ qu� b�u bằng sự hăng h�i m� n� đ� d�ng để nuốt tươi c�c con ruồi, nhện, v� c�c lo�i c�n tr�ng g�y bệnh dịch.� Ban ng�y, n� thường ẩn nấp tại v�i x� xỉnh khuất lấp hay g�c nh� tối tăm; nhưng v�o l�c chập tối, x�ng ra t�m kiếm con mồi, chạy l�n xuống c�c bức tường dựng đứng nhất với sự nhanh nhẹn tuyệt vời, v� mang lại sự thốt l�n một tiếng động the th� ngắn ngủi bằng c�ch đập lưỡi của n� v�o mạng khẩu c�i.� Th�n thể của n� thật linh động, đến nỗi n� c� thể sẵn s�ng tự th�ch ứng với bất kỳ chỗ l�m hay h�nh thể bất thường n�o tr�n mặt đất, tạo th�nh một c�ch r� r�ng một bộ phận cấu th�nh của mặt đất.� Sự dối gạt n�y được dễ d�ng hơn nhờ t�nh l�m phai m�u của n�.� N� l� một con vật giữ nh�, v� kh�ng bao giờ đi lang thang qu� xa khỏi hang ổ m� n� đ� lựa chọn.� Bất kể sự xấu x� v� tiếng k�u của n�, v�o ban đ�m, khi một t� tiếng được nghe để đ�p ứng với một tiếng k�u kh�c, trở n�n mệt mỏi kh�ng chịu được, n� l� một trong những đồng minh hữu dụng nhất của con người trong thế giới lo�i vật, v� đ�ng được t�n trọng.

 

������ Một lời n�i th�m về sự h�nh th�nh b�n ch�n rộng khổ của n�.� Tất cả mọi ng�n ch�n được trải rộng một c�ch đ�ng kể ở c�c bờ cạnh, v� mặt dưới của ch�ng được chia th�nh nhiều phiến b�m (h�t) chặt theo h�ng ngang, từ đ� tiết ra một dung dịch kết d�nh.� M�ng ch�n của n� th� sắc, uốn cong, v� co r�t giống như m�ng của con m�o.

 

������ Một con vật kh�c trong c�ng nh�m, nhưng nhỏ hơn nhiều, tr�ng rất giống với con tarenta [tiếng � Đại Lợi, ch� của người dịch] m� người d�n ở Toulon [thuộc miền nam nước Ph�p, gần Marseille, ch� của người dịch] rất sợ h�i, l� con margouilla, tức �con thằn lằn� [nguy�n bản viết l� �con-tan-lan�, ch� của người dịch] của người An Nam.� N� sinh sống ở c�c c�y cối v� nh� ở với sự tự m�n kh�ng k�m.� Mọi buổi tối, khi c�c ngọn nến thon gọn được thắp s�ng l�n, n� c� thể được nh�n đang dạo chơi dọc trần nh�, nơi n� vồ chụp lấy c�c c�n tr�ng, thốt ra từng chập tiếng k�u ngắn ngủi đầy thỏa m�n của n�, c� thể ghi �m th�nh �m tiết toc, được lập lại cả chục lần.� N� m� th�ch đường m�a; nhưng bởi n� l� kẻ th� th�m căn của c�c con muỗi, kh�ng ai cằn nhằn n� v� một mẩu m�n ăn ngon từ hũ đường.

 

������ Từ S�ig�n, B�c Sĩ Morice đ� l�m một cuộc du l�m đến Kholen [Chợ Lớn?], thị trấn đứng h�ng thứ nh� về mặt k�ch thước v� d�n số tại Nam Kỳ.� N� nằm c�ch S�ig�n khoảng ba dặm, nhưng được nối liền với n� bởi một chuỗi c�c ng�i l�ng, c�c ng�i ch�a, v� c�c ng�i nh� v�ng qu� của c�c thương nh�n Trung Hoa gi�u c� hơn.� Kholen [Chợ Lớn?] l� trung t�m của mọi hoạt động thương mại của người Hoa tại thuộc địa.� Số lượng gạo, h�ng h�a, v� c�c sản phẩm xuất cảng từ Trung Hoa, được b�n ở đ�, gần như vượt qu� sự tin tưởng; v� người ngoại quốc khảo s�t với sự th� vị hoạt cảnh của c�c đường x� nhộn nhịp của n�, v� nhiều chiếc thuyền buồm Trung Hoa v� thuyền tam bản Việt Nam thả neo dọc c�c bến t�u của n�.

 

������ Trong số c�c n�t đặc th� c� thể nổi bật l� c�c c�ng vi�n hay nơi bảo dưỡng c�c con c� sấu của n�.� Một r�o cản bằng c�c đống vật liệu vững chắc v� k�o d�i bao quanh một khoảng chừng hai mươi thước [Anh tức yards] vu�ng tr�n bờ s�ng; trong đất b�n v� b�n lo�ng bao quanh khu đ�, v� thường xuy�n ngập nước bởi triều s�ng cao, b� ngổn ngang từ một đến hai trăm con c� sấu.� Khi người ta muốn hy sinh một hay hai con qu�i vật n�y, hai đống chất cao được n�ng l�n; một n�t d�y th�ng lọng được quăng quanh cổ con lớn nhất trong bầy, sau đ� được k�o ra ngo�i; đu�i của n� được buộc chặt dọc theo th�n; c�c b�n ch�n bị cắt ra, v� được b�y biện tr�n lưng của n�; h�m bị buộc chặt bởi c�c sợi m�y; v� c�c sự tr�i buộc bằng d�y thảo mộc n�y chặt đến nỗi con vật khổng lồ kh�ng sao cục cựa được, v� kh�ng thể n�o đề kh�ng được g�.� Về thịt c� sấu, mặc d� đ�ng hơn l� lớp da, r� r�ng c� một trị gi� n�o đ�, v� kh�ng bị thấm nhiễm qu� nhiều m�i xạ hương như một số t�c giả đ� ph�ng đại.� Tr�n cỗ b�n An Nam, n� tượng trưng cho một m�n ăn được ưa th�ch.

 

������ Từ S�ig�n, cuộc du l�m kế đ� của B�c Sĩ Morice l� đến G� C�ng, nằm ở trung t�m của một huyện nổi tiếng v� c�c c�nh đồng l�a của n�.� Từ đ� �ng đ� t�m đường đến Hatian (H� Ti�n hay Cancao), nơi m� �ng đưa ra một sự m� tả sống động được cung cấp cho bởi một thực d�n Ph�p: --

 

�H� Ti�n của C�c Hoa Hồng (Hatian-of-the Roses�) l� một vi�n ngọc nhỏ của c�c hoa v� c�y cỏ xanh tươi; c�c ng�i ch�a tr�ng lệ, c�c đồi c�y, c�c tảng đ� v�i giống như cac mũ ống kh�ng v�nh (Bonnet-�-Poil); mọi thứ m� người ta kh�ng t�m thấy được ở nơi kh�c�.

������

Nhưng, theo B�c Sĩ Morice, �ng ta qu�n mất bệnh sốt.

 

������ R� r�ng kh�ng c� g� phải ngờ rằng H� Ti�n đ�ng l� một địa điểm đ�ng y�u.� N� tọa lạc ven bờ một hồ nước mở th�ng ra Vịnh Xi�m La; một hồ được gi�p ranh về ph�a t�y bởi c�c rặng đồi xanh tươi, được phủ rậm rạp bởi c�c c�y cối rất đẹp.� Về ph�a đ�ng l� một c�nh đồng trải d�i m�nh m�ng, ở giữa vươn l�n một khối đ� v�i đơn độc tr�ng giống như c�i mũ ống kh�ng v�nh chụp xuống [Bonnet-�-Poil, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� C�nh đồng được tr�ng men lấp l�nh bằng c�c c�nh hoa v� được chấm họa với c�c bụi đang nở hoa; v� c�c lối đi lộng gi� dẫn đến một loạt c�c thắng cảnh với vẻ đẹp biến đổi nhiều nhất.

 

������ Loại thực vật được trồng ch�nh yếu l� c�y hạt ti�u.� Tr�n một nền đất n�ng cao nhiều bộ Anh (feet) hơn mực b�nh thường, sắp xếp với c�c h�ng cọc song song như c�c cọc được d�ng tại c�c khu trồng c�y hốt bố [hop, một loại d�y leo được d�ng l�m phụ gia cho việc sản xuất bia v� dược liệu, ch� của người dịch] tại v�ng Kent [thuộc miền đ�ng nam Anh Quốc, nằm giữa London v� eo bien giũa Anh v� Ph�p, được mệnh danh l� Khu Vườn của Anh Quốc, ch� của người dịch], v� bao quanh mỗi v�ng d�y cuốn n�y l� một c�y đầy sức sống.� Cần đến năm năm để một c�y ti�u trở n�n c� hiệu quả.� Ng� cũng được canh t�c, nhưng kh�ng ở tầm mức to rộng như thế.

 

������ Trong l�c B�c Sĩ Morice ở H� Ti�n, c�c cư d�n An Nam của th�nh phố đ� cử h�nh ng�y lễ Tết hay Ng�y Mừng Năm Mới, trong đ� c� trộn lẫn một c�ch kỳ quặc c�c nghi lễ t�n gi�o của đạo Phật, v� sự thờ phượng linh hồn c�c tổ ti�n họ, sự lo sợ c�c Ma Quỷ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� c�c sự ph�t biểu ồn �o nhất khả dĩ c� được của sự vui chơi phổ th�ng.� N� k�o d�i �t nhất trong bẩy ng�y, -- với người gi�u c� l�u hơn nhiều; v� to�n thể khu định cư tự bu�ng m�nh trong thời gian n�y cho sự hưởng thụ ph�ng kho�ng nhất.

 

������ Trước mỗi nh�, tr�n một chiếc b�n được phủ bằng một chiếc chiếu, thấy c� b�y đồ c�ng gồm thịt v� thức uống, rượu nấu bằng gạo trong một b�nh tr� bằng sứ m�u trắng, nhỏ, tr�, trầu cau với to�n thể c�c hợp phần của n�, c�, nhiều loại b�n An Nam kh�c nhau, vịt quay, một phần tư con lợn, cơm, chuối, v� c�c quả cam.� Tất cả phần trưng b�y n�y được b�y ra c�ng với hoa; sau đ� một đ�i ngọn nến nhỏ được thắp s�ng, v� c�c linh hồn, hay c�c thần linh trong nh�, được k�nh cẩn mời về v� hưởng phần tiệc c�ng thi�ng li�ng.� C�n nữa: tr�n một m�m được đỡ tr�n một cột tương đối cao, nhiều đồ c�ng kh�c v� ngon hơn cũng được trưng b�y, -- thường bao gồm một b� chỉ gồm hai loại hoa, một m�u t�m, một mang m�u v�ng.� Bởi ch�ng được nh�n thấy ở mọi nơi, n� c� thể mang một � nghĩa biểu trưng gắn liền với sự kết hợp hai loại hoa n�y.� Hơn thế, nh� gi�u trồng một c�y cau, nh� ngh�o một c�y tre lớn, đằng trước nhiều đồ c�ng kh�c nhau, v� tr�n đỉnh của mỗi ngọn s�o c� buộc một giỏ nhỏ bằng m�y, được chia l�m năm ngăn.� Sau c�ng, b�n thờ Phật, cấu th�nh một phần phụ thuộc kh�ng thể thiếu vắng cho mọi t�p lều, được t� điểm với đồ trang ho�ng đặc biệt; v� dải giấy m�u v�ng, đỏ, v� t�m, viết bằng H�n tự, được d�n ở mọi cửa ra v�o.� C�c vật n�y c� chủ � đẩy lui sự c� mặt của ma quỷ trong năm mới.

 

������ Trong khi đ�, mọi người, mặc bộ trang phục đẹp đẽ nhất của m�nh � c�c người đ�n �ng, phụ nữ, v� c�c trẻ em � tức c� nghĩa, trong �o d�i kẻ sọc v� c�c chiếc quần d�i m�u xanh da trời, m�u đỏ, v�ng, t�m, xanh lục, thường với hai �ng quần với m�u kh�c nhau � x�ng x�o đi trao đổi lời ch�c tụng, hay tự m�nh vui hưởng ở mức tối đa m� họ c� thể l�m được.� Trong c�c tr� chơi, c�c tr� được ưa chuộng nhất như sau.� N�m lao; trong đ� một chiếc gi�o d�i bằng gỗ đen được ph�ng để xuy�n qua một v�ng tr�n được treo từ một trụ cao chừng ba bộ Anh (feet), v� trụ n�y ở khoảng c�ch xa từ s�u đến ch�n bộ Anh.� Tr� chơi n�y, giống như tr� chơi cổ xưa của người Scotch [thuộc Anh Quốc, ch� của người dịch] đ�m c�y thương v�o một mục ti�u, đ�i hỏi kỹ năng đ�ng kể về ph�a c�c người tham gia v�o tr� chơi.� Song phổ th�ng hơn, đặc biệt trong c�c phụ nữ v� trẻ em, l� tr� đ�nh đu, một m�nh hay cặp đ�i.� V� kh�ng phải l� kh�ng ngạc nhi�n khi du kh�ch nhận thấy ở đ�y, tại v�ng Viễn Đ�ng, một loại �v�ng quay ngựa gỗ� (merry-go-around), giống như ch�ng ta nh�n thấy tại c�c hội chợ v� lễ hội, với số kh� đ�ng người th�ch th� với c�c v�ng quay của n�.� Cũng c� tr� đ�nh cầu l�ng (shuttlecock), được ph�ng ra hoặc bằng tay hay ch�n.� Giữa tất cả mọi sự n�o động n�y c� thể được nghe thấy tiếng trống cơm đơn điệu, c�c �m thanh đơn độc của một v�i đ�n ba d�y, v� đặc biệt c�c tiếng nổ đột ngột của ph�o, vốn kh�ng thể thiếu được tại mọi lễ hội, v� đ�i khi giống như việc khai hỏa từng loạt của bộ binh.

 

������ Đối với cuộc li�n hoan h�ng năm vĩ đại n�y, mọi người An Nam đ� tiết kiệm tiền bạc của m�nh trong nhiều th�ng, v� khi tết về người đ� chi ti�u số tiền d�nh dụm nhỏ b� của m�nh một c�ch cận thận nhất.� Th�ng thường một to�n diễn kịch lưu động đi đến � �t nhất c�c thị trấn ch�nh � để đ�ng g�p phần của n� v�o cuộc vui chung.� Bởi ch�nh c�c c�ng d�n gi�u c� l� kẻ thay nhau thanh to�n chi ph� cho sự tr�nh diễn của n�, khỏi cần n�i, c�c buổi tr�nh diễn được tham dự rất đ�ng đảo.� C�c vở tuồng bao gồm trong danh mục tr�nh diễn của họ lu�n lu�n c� t�nh chất ồn �o, v� rải r�c đầy c�c chuyện kh�i h�i th� tục, nhắm v�o c�c �ng quan v�, c�c �ng chồng, v� đặc biệt người Trung Hoa.� C�c diễn vi�n t� mặt một c�ch xấu x�, với quan điểm mang lại cho họ một diện mạo đ�ng sợ, tr�nh diễn trong c�c m�n chiến đấu v� vọng, được biến h�a bởi c�c tiếng k�u la từ cuống họng v� c�c điệu bộ anh h�ng của diễn vi�n lố bịch nhất.

 

������ Trong thời gian lưu tr� tại H� Ti�n, Bắc Sĩ Morice đ� đến thăm viếng một dinh thự được x�y dựng một c�ch kh�c lạ -- cung điện Trung Hoa cổ xưa của nh� Maqueuou [Mạc Cửu?].� Nh�n vật Trung Hoa khả k�nh n�y, được n�i l� một ngư phủ đơn giản; nhưng trong khi c�c sản phẩm trong c�ng việc của �ng kh�ng gi�p �ng l�m gi�u đủ mau ch�ng, �ng ta khởi sự để trồng trọt tr�n một mảnh đất nhỏ, v� bắt đầu một đồn điền trồng hạt ti�u.� Một ng�y kia, trong khi đ�o đất, �ng t�m thấy một đống tiền � một khối lượng lớn lao đến nỗi n� gi�p �ng c� thể mang đến H� Ti�n một số lượng đ�ng đảo người đồng hương của �ng.� �ng đ� huấn luyện họ, tuyển dụng họ, gi�p họ thực h�nh; v� kết quả l�, trong một buổi s�ng tươi đẹp, H� Ti�n, trở n�n gi�u c� v� gia tăng lớn lao về d�n số, tự tuy�n bố độc lập đối với đế quốc An Nam, hay đ�ng hơn, Căm Bốt, v� t�n Mạc Cửu l�n ng�i.� �ng đ� x�y dựng cho ch�nh m�nh một cung điện huy ho�ng, v� sống nhiều năm sau đ�, hưởng thụ niềm vui hiếm c� của việc chứng kiến sự hiện thực c�c giấc mơ của �ng.� Nhưng khi �ng từ trần thi�n t�i tổ chức đ� mất đi c�ng với �ng.� H� Ti�n một lần nữa được s�p nhập v�o đế quốc, v� cung điện bị bỏ hoang phế; giờ đ�y chỉ c�n lại bốn bức tường của n�.

 

������ Người kh�ch lạ �u Ch�u thăm viếng địa điểm với một cảm gi�c k�nh trọng để tưởng nhớ về một con người can đảm v� nghị lực.� Với một số kh� khăn, kh�ch đ� khai quang một lối đi xuy�n qua c�y cối rậm rạp, v� đến trước c�c bức tường x�y bằng c�c tảng đ� lớn vững chắc (Cyclopean).� Hai sảnh đường m�nh m�ng, gần như bị cho�ng ngộp với c�y nhựa thơm, c�y c� độc dược (daturas), c�y dầu xổ (castor-oil), c�c k� sinh tr�ng, v� r�c rưởi, l�m th�nh lối v�o.� Kế đ� l� đến bốn ph�ng nhỏ hơn, c� t�nh trạng tốt hơn, v� mỗi ph�ng c� trổ ra một cửa sổ h�nh tr�n to lớn.� Nơi đ�y một số con tắc k� đ� thiết định nơi cư tr�, ch�o đ�n kh�ch lạ với tia nh�n ngạc nhi�n v� c�c tiếng k�u l�m thủng tai.

 

������ Kế đến l� một buồng rộng bao la, gần như vu�ng vắn; v� nhiều ng�i mộ hay nh� tưởng niệm được che rợp nơi đ�y bởi c�c c�y đ�ng nể.� Ng�i nh� cao nhất, được dựng l�n để vinh danh ch�nh �ng Mạc Cửu, bao gồm nhiều lớp gạch x�y li�n tiếp nhau, thu nhỏ dần dần từ đ�y l�n đến đỉnh.� Kh�ng may, bị x�y dựng bằng vật liệu xấu, n� đ� bị tổn hại nghi�m trọng bởi t�c động của mặt trời v� c�c trận mưa.� Một đ�n ong cư tr� tại một trong c�c khe hở; v� một c�y, hạt mầm c� lẽ đ� rơi xuống từ mỏ của một v�i con chim lang thang, vươn l�n cao ngay từ ch�nh đỉnh của ngọn th�p.� Bốn dinh thự nhỏ hơn, tất cả c� h�nh tr�i xoan, v� th�ch hợp theo truyền thống cho gia đ�nh của Mạc Cửu, rải r�c quanh t�a nh� kể trước.� Ch�ng vẫn c�n c�c dấu vết của sự chạm khắc m� với ch�ng c�c căn nh� n�y đ� được trang tr� trước đ�y.

 

������ Sự c� đơn v� y�n lặng ngự trị trong c�c khoảnh kh�ng gian kh�p k�n của phế t�ch bao la n�y.� C�c con tắc k�, c�c con chim, v� một hay hai ch� s�c l� c�c người tr� ngụ duy nhất của n�.

 

������ Một đối tượng đ�ng để � kh�c l� c�i được gọi l� ng�i ch�a của Ma Quỷ [Maqui (tức devil) trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� B�c Sĩ Morice lấy l�m ngạc nhi�n lớn lao khi nh�n thấy treo tr�n c�c bức tường của n� một loạt to�n bộ c�c bức họa t� m�u nước, tr�n giấy rất bền chắc, tượng trưng cho c�c sự tra tấn của một Hỏa Ngục (Inferno) tương tự như hỏa ngục của Dante [Dante l� một thi sĩ người � thời Trung Cổ, m� tả Hỏa Ngục như một phần trong h�nh tr�nh trong quyển The Divine Comedy, ch� của người dịch].� C�c t�y t�ng của ma quỷ An Nam được tr�nh b�y nơi c�c bức tranh đ� như đ� tham gia v�o một loạt c�c c�ng việc m� c�c thần thoại thời trung cổ đ� g�n cho lũ tiểu y�u tinh của Beelzebub [một trong bẩy �ng Ho�ng ở Hỏa Ngục trong thần thoại T�y phương, ch� của người dịch].� Ch�ng đang quay, đ�ng cọc xuy�n qua th�n h�nh, cưa cắt th�nh từng kh�c, v� lột da kẻ phạm tội; n�m họ v�o trong c�c chảo nước đang s�i, nướng họ tr�n ngọn lửa, v� n�m họ v�o h�m răng đ�i kh�t của c�c con hổ khổng lồ.

 

������ H� Ti�n kh�ng phải l� kh�ng c� c�c điều kh� chịu, B�c Sĩ Morice đ� kh�m ph� ra trong một c�ch bất ngờ.� Một v�i c�ng nh�n, khi k�o sập một bức tường cũ, đ� t�m thấy ổ của một con rắn lớn, nắm �cuốn tr�n nhiều v�ng� để ấp một ổ trứng của n�.� Bởi mọi người đều hay biết về c�c thị hiếu về động vật của B�c Sĩ Morice, c�c c�ng nh�n đ� gửi đến �ng tức thời tin tức về �sự kh�m ph� của họ, v� �ng đ� mau ch�ng đến địa điểm, trang bị với một chiếc gậy v� một kẹp c� gọng d�i v� chắc.� Nếu kh�ng c� trứng của n�, con vật c� lẽ sẽ r�t lui; nhưng vẫn cuộn tr�n trong ổ, n� chỉ ph� ra c�i đầu mầu đất v� lốm đốm của n�.� Kẹp cổ của n� bằng c�i kẹp của m�nh, đ� ch�nh l� thủ thuật tức thời của B�c Sĩ Morice; v� sau đ� trước sự sợ h�i lớn lao của c�c c�ng nh�n Trung Hoa, �ng đ� nhấc th�n của n� l�n, v� tiến đến việc mang n� đi trong sự chiến thắng.� Trong khi đ�, con vật nổi xung đ� nhả ra tr�n tr�n kẻ bắt giữ n� một giọt dung dịch, v�o l�c đ�, �ng kh�ng c� cảm gi�c kh� chịu n�o.� Khi về đ�n nh�, B�c Sĩ Morice đ� đặt con vật b� s�t v� c�c trứng của n� v�o trong một th�ng c� l�t rơm; �ng đ� đ�ng đinh cẩn thận, v� đặt b�n tr�n mặt đất, tr�n c�c chậu nước, như để bảo vệ chống lại c�c cuộc tấn c�ng của c�c con kiến.� Khi đ�, v� chỉ đến l�c đ�, �ng mới rửa tr�n, đi tắm gội, với sự cẩn trọng đ�ng c�ch, phần bị tiếp x�c với dung dịch nhả ra; nhưng vẫn chưa tin rằng con rắn l� con thuộc loại c� nọc độc.� �ng kh�ng c�n bận t�m g� nữa về con vật bị giam giữ của m�nh cho đ�n khi, �t ng�y sau đ�, �ng t�m thấy trong ph�ng m�nh bốn con rắn t� hon, �ng nhấc l�n đặt v�o tay m�nh, bất kể tiếng r�t tức giận của ch�ng.� �ng đ� chuyển c�c con rắn n�y v�o một c�i lọ thủy tinh.� S�ng h�m sau, muốn kh�m nghiệm ch�ng, �ng lấy l�m ngạc nhi�n một c�ch bực dọc để thấy ph�a sau đầu ch�ng nh� l�n v� cổ của ch�ng ph�nh ra theo chiều ngang; v� c�n ngạc nhi�n một c�ch kh� chịu hơn nữa để kh�m ph� tr�n cổ từ đ� nới rộng th�nh h�nh chữ V.� Ch�ng thuộc một loại rắn c� quầng quanh mắt, loại rắn naja của Ấn Độ, loại rắn hổ mang c� t�n khoa học l� cobra capella! [đ�ng ra phải l� cobra de capello, ch� của người dịch] .

 

������ B�c Sĩ Morice vội v�ng kho�t v�i lỗ rộng tại h�m chứa con rắn v� trứng rắn, v� bằng c�c lỗ n�y, �ng đ� đổ v�o b�n trong một khối lượng chất lưu ho�ng s�i sục.� Sau một thời lượng đầy đủ tr�i qua, khi mở h�m ra, �ng t�m thấy rắn mẹ v� mười t�m rắn con bị chết ngộp, trong khi bốn trứng h�y c�n nguy�n vẹn.� L�m sao m� c�c trứng rắn kia đ� được ấp?� T�nh huống l� một ho�n cảnh lạ thường, bởi điều được giả định l� chỉ c� c�c loại rắn lớn � c�c con m�ng x� v� trăn � mới ấp c�c trứng của ch�ng.� Trong mọi trường hợp, một sự kiện đ�ng ch� � l� loại động vật n�y vẫn trung th�nh với lứa trứng của n�. ��Trong số mười s�u [?, t�m] con rắn con, chỉ c� một con l� rắn c�i, v� phần lớn ch�ng đ� từng một lần lột da.� Ch�ng d�i v�o khoảng mười ba ph�n Anh (inch), v� nanh độc của rắn đ� được tr�ng thấy một c�ch r� r�ng.� B�c Sĩ Morice cảm thấy rằng �ng c� l� do tốt để cảm tạ [ơn tr�n] l� �ng đ� kh�ng bị thương t�ch bởi con rắn hổ mang khi �ng qu� khinh suất chụp bắt n�.

 

������ Kế đến ch�ng ta nhận thấy c�c kh�ch du h�nh kh�ng mỏi mệt của ch�ng ta tiến h�nh một chuyến đi đến Ch�u Đốc, tọa lạc gần của con s�ng Mekong.� Ở cả hai b�n bờ s�ng, nhưng đặc biệt hơn l� ở b�n hữu ngạn, được d�n dựng nhiều t�p lều của người An Nam; v� b�n tr�n ch�ng, đang nh�u m�y tr�ng xuống l� c�c bức tường gh� rợn của một đồn l�nh, tự bản th�n đ� c� k�ch thước của một thị trấn nhỏ.� Tỉnh, m� Ch�u Đốc l� tỉnh lỵ, bao gồm một trăm lẻ năm x�, v� c� một d�n số l� t�m mươi ch�n ngh�n d�n, trong đ� t�m ngh�n l� người Căm Bốt v� mười s�u ngh�n l� người M� Lai.

 

������ Năm ng�y sau đ� B�c Sĩ Morice đ� đến Vĩnh Long, c� đồn l�nh với k�ch cỡ ngang bằng với đồn binh ở Ch�u Đốc.� Ở ph�a sau của c�c h�o nước b�n vĩ đại v� c�c đ� đắp bằng đất, được chống đỡ bởi c�c cột lớn, vươn cao l�n l� c�c doanh trại của c�c sĩ quan, v� đồn trong sau tường lũy gồm c� khu binh sĩ v� bệnh viện.� Tre v� cỏ cao mọc phủ tr�m một phần của khu đất r�o quanh m�ng m�ng, v� trong khối rối bung của ch�ng c�c con trăn khổng lồ thường bị giết chết, trong khi c�c con rắn naja nằm ngủ tại l�m c�y chằng chịt ẩm ướt của c�c đường h�o.� Thị trấn tự n� kh�ng phải l� kh�ng c� một kh�a cạnh vui th� n�o đ�; c�c đường x� rộng r�i, thẳng tắp của n� được che m�t bởi c�c c�y dừa [cocoa-nut, trong nguy�n bản, l� c�ch viết kh�c của từ coconut, ch� của người dịch] cao to.

 

������ Vẫn tiếp tục c�c cuộc th�m hiểm của m�nh tại c�c tỉnh huyện được tưới nước bởi c�c cửa s�ng Mekong, tạo th�nh một ch�u thổ đ�ng kể, đi ngang qua v� số kinh đ�o v� chi lưu, B�c Sĩ Morice đ� đến T�y Ninh, nằm ở ph�a đ�ng S�ig�n.� Thị trấn nằm dọc bờ s�ng trong một khoảng kh� d�i; c�c ng�i nh� của d�n An Nam được x�y cất; kh�ng phải bằng b�n v� đất s�t, như tại c�c tỉnh huyện miền t�y của Nam Kỳ, m� bằng gỗ chắc, loại tốt, v� với nhiều sự chăm s�c v� khiếu thẩm mỹ đẹp mắt.� C�c m�i nh� cũng được x�y dựng tốt hơn: thay v� c�c l� dừa nước, một loại rơm sợi k�n, mịn được sử dụng, tr�n đ� t�c động của thời tiết sớm mang lại một sắc m�u th� vị của thời gian.� C�c đồn điền c� ph� ph�t triển, chung quanh thị trấn, ph�a sau đ� tỏa ra c�c b�ng che của một khu rừng b�t ng�t, trải d�i t�t tới sườn của một rặng n�i đ� hoa cương c� một cao độ trung b�nh.� Ngọn cao nhất của c�c n�i n�y l� n�i B� Đen [Black Lady, trong nguy�n bản ghi t�n tiếng Việt sai lạc l� nui-ba-dinh, ch� của người dịch].� Ở tr�n đỉnh, tại một g�c cạnh ngoạn mục, nổi l�n một ng�i ch�a nổi tiếng, c�c buồng nhỏ của c�c nh� sư của ch�a được đục ra từ n�i đ� b�n cạnh.� Ng�i ch�a nổi tiếng l� v� n� nằm gần một con suối m�u nhiệm; v� con suối n�y tạo ra niềm hoan lạc trong một c�u chuyện thần thoại, c� thể được kể lại như sau: --

 

������ Một nh� sư với đạo hạnh v� lường, y�u th�ch d�ng lời cầu nguyện của �ng tại c�c địa điểm tr�n cao của tr�i đất, một ng�y kia leo l�n n�i để b�y tỏ l�ng mộ đạo của m�nh tại đỉnh n�i cao vời của n�.� Tuy nhi�n, bất kể l�ng th�nh thiện của �ng, �ng chỉ l� con người; v� bởi ngọn n�i ở tr�n độ rất cao v� ho�n to�n trơ trụi, �ng sớm trở n�n yếu mệt v� đ�i, nhưng đặc biệt hơn v� kh�t.� Giống như mọi nh� hiền triết, coi thường những nhu cầu vật chất thuần t�y, �ng đ� kh�ng dự ph�ng việc tự trang bị c�c nhu cầu qu� b�u về thức ăn v� nước uống, vốn l� điều được nghĩ tới trước ti�n bởi c�c thường nh�n kh�ng bất tử.� �ng sẽ l�m những g�?� �ng bắt đầu cầu nguyện; v� trời ơi! [and lo! trong nguy�n bản, ch� của người dịch], trong khi �ng cầu nguyện, một h�n đ� khổng lồ, quay mặt tối của n� ra trước �ng, ổ kh�a đột nhi�n mở ra, v� phơi b�y trước tia nh�n mừng rỡ của �ng một d�ng suối trong suốt chảy xuống một bồn bằng đ�.� Từ thời điểm đ� nguồn nước kh�ng bao giờ ngừng tu�n tr�o c�c d�ng nước phong ph�, chữa l�nh mọi bệnh tật của lo�i người; -- d� thế, thật l� lạ l�ng để n�i, c�c người đ�n �ng, đ�n b�, v� c�c trẻ em h�y c�n chết đi tại Nam Kỳ!

 

������ Mười ph�t leo tr�o mang B�c Sĩ Morice đối diện với suối nguồn kỳ diệu vĩnh cửu n�y.� C�c đồng h�nh của �ng vội v� uống từng hơi tr�n đầy d�ng nước tươi m�t n�y; nhưng B�c Sĩ Morice, b�c bỏ thần thoại, v� �t tin tưởng hơn mức m� �ng phải c� nơi c�c nguy�n tắc về sự điều độ, với lấy b�nh nước bỏ t�i, đổ ra một ly rượu vang Ph�p, v� uống mừng sự t�n nghi�m của ngọn n�i lừng danh.

 

������ Trong một dịp kh�c, B�c Sĩ Morice đ� tham dự v�o một cuộc phi�u lưu th�ch th�, c� xảy ra một vấn đề đau đớn.� Một con hổ, loại m� c�c sự t�n ph� đ� l�n tới mức kh�ng thể chịu đựng được, đ� tha đi mất con ch� săn hay nhất của một trong những nh� săn bắn giỏi nhất của xứ sở, điều được quyết định rằng con hổ phải trải qua sự trừng phạt tức thời v� th�ch đ�ng.

 

������ Con hổ kh�ng bị săn bắt thường xuy�n tại Đ�ng Dương, nơi con voi, th�nh tr� sống động đ�, kh�ng được đặt dưới sự sử dụng của người �u Ch�u đ�i vai tr�n cao v� cặp ng� đ�ng sợ của n�.� C�c cư d�n n�i chung vận dụng c�c c�i bẫy.

 

������ �Một cuộc th�m hiểm được được quyết nghị, ch�ng t�i bao quanh,� theo lời B�c Sĩ Morice, �ngọn đồi được d�ng l�m một nơi tr� n�u cho con �c th�.� Hơn một trăm năm mươi người d�n bản xứ hiện diện, la h�t, khoa tay m�a ch�n, v� tạo ra một tiếng k�u g�o đ�ng sợ g�y trở ngại chưa từng c� cho giấc ngủ trưa của con hổ.� Về ph�a ch�ng t�i, vi�n thanh tra người Ph�p, một binh sĩ Ph�p, v� ch�nh t�i, ch�ng t�i ở c�nh đồng, rải r�c c�c nấm mồ đắp th�nh g� cao, vươn ra ph�a sau T�y Ninh, v� chờ đợi trong sự ki�n nhẫn cho đến khi sự việc l�m vừa l�ng con hổ để n� trưng b�y bộ da qu� gia của n�.� C� vẻ theo � kiến của con hổ rằng phương thức t�o bạo nhất l� ch�nh s�ch tốt nhất; chưa tới nửa tiếng đồng hồ sau khi ch�ng t�i vạch ra v�ng v�y ầm ỹ, con hổ đ� từ khu rừng xuất hiện, v� tiến tới ph�a ch�ng t�i.� Con hổ được tiếp đ�n với một sự khai hỏa xoay v�ng.� Trong bốn tr�i đạn của ch�ng t�i, �t nhất một tr�i đ� bắn tr�ng con hổ, bởi n� đ� di chuyển trong sự đau đớn, v� hướng về ph�a người l�nh đi c�ng với ch�ng t�i.� Đ�ng l� c�c sự di chuyển của ch�ng t�i c� thể hơi qu� tự do, ch�ng t�i c�ch nhau một khoảng c�ch kh� xa.� Người l�nh tức thời nhẩy l�n một g� đất cao khoảng ba bộ Anh (feet), v� với khẩu s�ng đ� lắp đạn trong tay, chờ đợi cuộc tấn c�ng của con th� bị thương.� Một tr�i đạn thứ nh� từ khẩu s�ng của vi�n thanh tra bắn tr�ng con hổ; nhưng bất kể đến sự khi�u kh�ch mới n�y, v� với việc khao kh�t con mồi, con hổ ph�ng tới ph�a nấm mồ.� Với một c�i tung m�nh, con hổ ở ch�n nấm mồ, nơi n� dựng đứng th�n m�nh l�n.� Khi đ� diễn ra một cảnh lạ l�ng v� đ�ng thương, cho thấy l�m sao m� ngay kẻ can đảm nhất cũng đ�nh mất sự b�nh tĩnh của m�nh khi đối diện với c�c con vật khủng khiếp n�y.� Đ�ng l� người l�nh l� một con người can đảm, nhiều sự việc đ� minh chứng điều đ�; ch�nh anh ta l� kẻ b�y tỏ sự hăng h�i nhất trong việc tổ chức cuộc th�m hiểm; anh ta c� trong tay một khẩu s�ng hạng tốt nhất, v� anh ta chỉ c�ch v�ng ngực trắng của con hổ một sải tay, xem ra đang chờ đợi vi�n đạn g�y tử thương của anh.� V�ng, v� v�i gi�y tự m�n cho việc nổ s�ng, c�c m�ng vuốt vươn ra ph�a trước anh chạm v�o b�ng của khẩu s�ng.� Con hổ vươn m�nh tới, nắm lấy bằng một trong c�c m�ng của n� ch�n của con người xấu số, v� bắt đầu k�o anh ta đi�.

 

������ �Một con người bị sờ bởi một con hổ l� một người đ� chết�, một nh� thi�n nhi�n học người Đức c� n�i; v� thật v� �ch để liều mạng sống của một người kh�c trong nỗ lực gi�nh giật lại từ con th� độc �c nạn nh�n bị k�o đứt tay ch�n l� kẻ m� c�c sự đau đớn sẽ sớm được kết th�c bằng c�i chết�.� Sự l� luận lạnh l�ng như thế kh�ng bao giờ thắng thế trong khung cảnh của sự h�nh động.� Cả vị b�c sĩ v� vi�n thanh tra đều đuổi theo con hổ khi n� vẫn c�n k�o theo th�n x�c chiến hữu của họ; v� hai vi�n đạn, may mắn hơn c�c vi�n đạn trước đ�, đ� chặn lại đường đi của con hổ vĩnh viễn.

 

������ Với sự kh�m nghiệm, họ thấy rằng người bạn đồng h�nh k�m may mắn của họ đ� phải chịu một vết thương trầm trọng.� B�c sĩ Morice đ� cắt đ�i anh ta tại một t�p lều m� anh được chuyển tới; nhưng, kh�ng r� v� mất m�u, điều m� c�c người �u Ch�u kh� chịu đựng được tại phong thổ nhiệt đới, hay v� sự dữ dội của cơn chấn động đụng đến hệ thống thần kinh, anh ta đ� chết trong c�ng đ�m h�m đ�.

 

������ Rời khỏi khung cảnh đau đớn n�y, thật dễ chịu hơn để quay về ng�i chợ của T�y Ninh, với c�c mẫu mực kh�c nhau của lo�i người.� Người Căm Bốt kh� đ�ng đảo một c�ch khả chấp; tầm v�c họ tương đối cao, da họ sậm, h�m dưới dầy v� trễ xuống, t�c họ cắt s�t trong giống như sợi tua tủa ra của một b�n chải, v� đặc biệt d�ng vẻ man dại thụ động của họ, mang lại cho họ một h�nh dạng ho�n to�n kh�c biệt với nh�n d�ng của người An Nam.� Hai sắc d�n thực sự kh�ng ưa nhau.� Người An Nam, h�nh diện v� m�u da s�ng hơn, về nền văn minh tiến bộ hơn, chưa n�i đến nhiều cuộc đả bại m� họ đ� g�y cho sắc d�n l�ng giềng của họ, nh�n người Căm Bốt chỉ cao hơn một ch�t so với người Mọi hay d�n tộc hoang dại v�ng n�i non.� Người Căm Bốt th� man rợ, anh ta [người An Nam] n�i, c� bản chất ho�n to�n xấu xa v� độc �c; họ kh�ng suy nghĩ g� về luật ph�p hay trật tự; họ th� ngu dốt, v� gần như kh�ng c� l� tr�.� Mặt kh�c, người Căm Bốt, với bản t�nh trầm lặng hơn v� buồn b� hơn, cảm thức t�n gi�o s�u đậm hơn, nh�n với l�ng thương hại c�c người An Nam khinh bạc.� Một sự hiểu biết th�nh thật giữa hai d�n tộc sẽ kh� c� bao giờ trở n�n khả hữu.� Người Căm Bốt, bất kể c�c đặc t�nh c� phần th� lỗ, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ nhiều hơn người Đ�ng Dương; v� cả ng�n ngữ lẫn chữ viết của họ đều li�n hệ với ng�n ngữ v� văn tự của c�c cư d�n bản địa của đại b�n đảo Ấn Độ.� Anh ta l� cư d�n buồn rầu v� kh�ng thể thuần h�a của v�ng n�i đồi v� rừng r�; trong khi l�ng giềng của anh l� cư d�n kh� kh�i h�i v� dễ giao thiệp của c�c v�ng đồng bằng.� Thật bất hạnh cho người d�n Căm Bốt! Bị �p giữa một b�n l� người Xi�m La, v� người An Nam ở b�n kia, c�c sắc d�n c�ng nhau cướp đoạt từ người Căm Bốt c�c tỉnh hạt gi�u c� nhất của anh ta; mang lại sự đ�nh trệ bởi sự �p dụng một luật thời phong kiến ngăn cấm anh ta thụ đắc đất đai của ch�nh anh, -- một b�n tay mạnh mẽ cần đến để trợ gi�p anh ta, v� gi�p cho anh ta bảo tồn được sự độc lập, trong khi c�c ảnh hưởng cải thiện của nền văn minh �u Ch�u dần dần t�c động tr�n anh ta.

 

������ Hai sắc d�n như thế đang chiếm cứ c�c tỉnh được tưới nước bởi c�c s�ng phụ v�ng hạ lưu của con s�ng Căm Bốt vĩ đại.� Tại c�c thị trấn v� hải cảng lớn, c� xuất hiện một sự pha giống đ�ng kể của th�nh phần Trung Hoa.� Mậu dịch v� thương mại gần như ho�n to�n nằm trong tay c�c thương nh�n Trung Hoa, l� những kẻ, ở nơi đ�y cũng như c�c chỗ kh�c, ph� b�y một khối lượng kh�c thường của sự ki�n nhẫn, cần c� v� tiết kiệm; v� ở nơi đ�y cũng như ở c�c chỗ kh�c, thu g�p kh�ng mệt mỏi c�c sản nghiệp lớn lao v� ngay cả khổng lồ.� Họ bảo tồn d�n tộc t�nh của họ kh�ng bị ảnh hưởng bởi c�c điều kiện trong đ� họ tr� ngụ; lu�n lu�n l� một d�n tộc t�ch biệt, v� lu�n lu�n kh�c biệt với c�c chủng tộc kh�c quanh họ, giống như c�c người Do Th�i với c�c d�n tộc của �u Ch�u./- �

 

 

 

Nguồn: William Henry Davenport Adam, Chapter IV: Dr. Morice and The Mekong, In The Far East: A Narrative of Exploration and Adventures in Cochin-China, Cambodia, Laos, and Siam, London: Thomas Nelson and Sons, Edinburgh and New York: 1879.

 

 

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

30/05/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

� gio-o.com 2010