C. P. FITZGERALD

 

SỰ B�NH TRƯỚNG CỦA TRUNG HOA

TR�N ĐẤT LIỀN: TRƯỜNG HỢP V�N NAM

 

Ng� Bắc dịch

Lời Người Dịch:

     Đ�y l� bản dịch b�i viết thứ Ba trong loạt b�i c� chủ đề Sự B�nh Trướng CủaTrung Hoa Xuống Phương Nam của c�ng t�c giả C. P. FitzGerald:

     1. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp V�n Nam

     2. Sự B�nh Trướng Tr�n Đất Liền Của Trung Hoa: Trường Hợp Việt Nam

     3. C�c Viễn Ảnh Về Sự B�nh Trướng Xuống Phương Nam Của Trung Hoa.

***

���� V�n Nam, một trong c�c tỉnh nằm ở g�c xa nhất ph�a t�y nam của Trung Hoa, đ� l� một phần li�n hợp của Đế Quốc v� Cộng H�a sau n�y kể từ giữa thế kỷ thứ mười ba, khi n� bị chinh phục bởi qu�n M�ng Cổ, v�o l�c đ� đang cai ttrị phần lớn l�nh thổ Trung Hoa.� Thế kỷ thứ mười ba trong lịch sử Trung Hoa gần như thời kỳ hiện đại, chắc chắn kh�ng phải l� một giai đọan qu� cổ xưa.� Bởi mười lăm thế kỷ trước khi c� cuộc chinh phục của M�ng Cổ tại Trung Hoa, V�n Nam đ� kh�ng được biết đến như một tỉnh, m� như một vị tr� của một vương quốc xa lạ v� thường đối nghịch.� Danh xưng V�n Nam được đặt ra lần đầu ti�n hồi thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n khi triều đại ph�a t�y, nh� Thục H�n (Shu Han), một trong ba nước thời Tam Quốc, đ� �p đặt quyền chủ tể ngắn ngủi tr�n một v�i phần của xứ sở n�y.� V�n Nam c� nghĩa �Ph�a Nam Của C�c Đ�m M�y�, v� c�i t�n mang nhiều chất thơ n�y thực sự m� tả đặc t�nh kh� hậu của nước n�y.� Cao nguy�n của V�n Nam, ở ph�a t�y c� cao độ 7,000 bộ Anh (feet), đổ dốc theo hướng đ�ng nam xuống� c�n khoảng 4,000 bộ Anh, thực sự l� nằm ở ph�a nam của c�c đ�m m�y, c�c tỉnh nhiều m�y giăng ẩm ướt của Tứ Xuy�n v� Qu� Ch�u.� Tục ngữ c� c�u n�i về tỉnh thứ nhất kh�ng mấy tốt� �c�c con ch� của Tứ Xuy�n sủa l�n khi mặt trời rọi s�ng�, �m chỉ sự hiếm hoi của hiện tượng n�y.� Về tỉnh thứ nh�, Qu� Ch�u, tục ngữ n�i �Qu� Ch�u kh�ng bao giờ c� ba ng�y kh� hậu tốt (liền nhau)� � v� bổ t�c th�m rằng n� kh�ng bao giờ c� khoảng đất bằng d�i ba dặm [li, tiếng H�n trong nguy�n bản, ND] hay ba đồng tiền bạc, với �m điệu theo vần trong tiếng H�n. ( �Kueichou mei yu san t�ien ch�ing, san li p�ing, san k�uai yin.�).� Nhưng tại V�n Nam kh� hậu th� kh� v� ấm, thời tiết nhiệt đới của n� được �n h�a nhờ cao độ, m�a đ�ng kh� r�o k�o d�i được đền b� bởi c�c gi�ng suối v� s�ng lu�n lu�n tr�n trề chảy xuống từ c�c rặng n�i cao của n�.

���� C�c rặng n�i vĩ đại �m s�t cạnh sườn của cao nguy�n n�y, từ bắc xuống nam, chia xứ sở tại b�n ph�a t�y th�nh c�c thung lũng hẹp v� s�u, v� tại b�n ph�a đ�ng th�nh c�c thung lũng rộng hơn, mở ngỏ tho�ng hơn, gồm chứa c�c hồ nước lớn, hay được tạo th�nh từ đ�y c�c hồ m� nước đ� r�t đi.� Về hướng t�y bắc n�i vươn cao tới 20,000 bộ Anh, giảm dần khi ch�ng xu�i nam, xuống c�n �t hơn ph�n nửa cao độ đ�.� Nhưng c�c ngọn n�i hiếm khi cao hơn cao nguy�n dưới bốn hay năm ngh�n bộ Anh tại bất kỳ khu vực n�o.� C�c ngọn n�i th� dốc v� tại nhiều nơi c�n bị rừng rậm bao phủ, kh�ng th�ch hợp cho việc canh t�c; c�c cao nguy�n v� c�c thung lũng l� c�c v�ng đất phong ph� được tưới nước rất tốt trong mọi m�a, kh�ng bao giờ sợ gặp nạn hạn h�n, v� thường cũng tr�nh được nguy cơ bị lụt.� Đ� l� một đất nước được sắp đặt bởi thi�n nhi�n để ưu đ�i cho sự định cư nặng t�nh chất địa phương của c�c d�n tộc canh n�ng bị ngăn c�ch, bởi c�c rặng n�i cao kh�ng người ở, với c�c l�ng giềng gần cận nhất.� Điều n�y trong thực tế l� lịch sử chủng tộc của V�n Nam, một lich sử của sự chia cắt manh m�ng, kh�ng phải chỉ th�nh c�c nh�m chủng tộc kh�c biệt tại c�c thung lũng kh�c nhau, m� cũng c�n giữa một d�n tộc tr�n c�c v�ng đất tốt với c�c d�n tộc k�m tiến bộ hơn ở c�c rặng n�i tr�n cao so với họ.� Ch�nh bởi thế đ� lu�n lu�n c�, v� h�y c�n k�o d�i đến nay, c�c sự ph�n chia theo h�ng dọc cũng như h�ng ngang trong c�c cư d�n của V�n Nam.� Những d�n tộc mạnh hơn chiếm cứ c�c thung lũng trồng l�a gạo, kẻ yếu hơn bị đẩy l�n tr�n n�i, rất thường lại xua đuổi c�c d�n tộc sơ khai hơn nữa l�n đến c�c mức độ cao nhất.� C�c sắc d�n sinh sống bằng săn bắn v� thu lượm thực phẩm c� thể sống s�t ở đ�, bởi c� đầy th� để săn bắn.� Dưới thấp hơn, kiểu canh t�c �chặt c�y rồi đốt rẫy, l�m hủy hoại c�c khu rừng, được thực h�nh rộng r�i.� Bằng chứng về c�c tầng lớp c�n lưu tồn của c�c d�n tộc biến đổi, rất kh�c biệt về văn h�a, ng�n ngữ v� lối sống, cho thấy người Trung Hoa kh�ng thể n�o l� c�c kẻ x�m lăng đầu ti�n đến chiếm chỗ c�c kẻ canh t�c tại c�c thung lũng v� bờ hồ m�u mỡ.

���� V�n Nam đ� nhiều lần bị x�m lăng, v� chiếm ngụ, một phần hay tr�n một quy m� rộng lớn bởi c�c d�n mới tới.� Nguồn gốc của c�c sự di chuyển thời tiền lịch sử n�y v� c�c d�n tộc cấu th�nh họ kh�ng thể bị kh�m ph�, v� khảo cổ học vẫn chưa chiếu rọi �t �nh s�ng n�o về thời tiền sử của V�n Nam.� �t nhất c� thể n�i rằng c�c con đường theo đ� họ phải đi qua c� thể phỏng đo�n được, nếu kh�ng phải chỉ v� c� qu� �t con đường khả dĩ th�ng lưu.� Một số d�n tộc đ� xuống từ cao nguy�n T�y Tạng, vẫn c�n cao hơn cao nguy�n V�n Nam, bởi v�ng thung lũng cao của s�ng Dương Tử v� thượng lưu s�ng Cửu Long, c�c con đường hiện vẫn c�n được sử dụng như c�c xa lộ từ V�n Nam sang T�y Tạng.� C�c ngọn đ�o th� cao, c�c thung lũng thường rất hẹp, v� c�c con s�ng nhiều đ� ngầm v� chảy thật xiết khiến kh�ng thể hải h�nh.� C�c con đường như thế chỉ c� thể được sử dụng với sự chấp thuận của c�c cư d�n v�ng thung lũng, bởi ch�ng dễ d�ng bị phong tỏa.� Rất nhiều phần rằng sự thẩm nhập chứ kh�ng phải l� x�m lăng đ� l� khu�n mẫu của sự di chuyển từ phương bắc v�o V�n Nam.� Về ph�a đ�ng bắc một con đường hơi dề d�ng hơn dẫn tới V�n Nam từ miền t�y của Tứ Xuy�n, th�nh phố Suifu tr�n thượng lưu s�ng Dương Tử đ� l� điểm khởi h�nh.� Tuy thế, con đường n�y, như kh�ng thể tr�nh khỏi đối với bất kỳ h�nh tr�nh n�o tại V�n Nam, băng qua nhi�u rặng n�i cao, ch�nh yếu xuy�n ngang cao nguy�n.� N� vẫn c�n được sử dụng tr�n một tầm mức lớn bởi c�c đo�n lữ h�nh bằng la v� lừa, vận tải lụa Tứ Xuy�n sang Miến Điện v� từ đ�, bằng t�u chạy bằng hơi nước tr�n s�ng v� h�nh lang tr�n biển đến Calcutta, m�i cho tới thời Thế Chiến Thứ Nh�.� Con đường đo�n lữ h�nh đi từ Suifu đến Bhamo tr�n s�ng Irrawaddy [Miến Diện, ND] d�i hơn s�u trăm dặm.� Con đường n�y l� con đường m� nhiều đạo qu�n đ� đi qua, đặc biệt trong c�c thế kỷ trước đ� khi m� Qu� Ch�u chưa được b�nh định.

���� Con đường r� rệt nhất, từ điểm giới hạn hải h�nh tr�n c�c con s�ng thuộc ph�a t�y tỉnh Hồ Nam, c�c con s�ng l� phụ lưu của s�ng Dương Tử, l� con đường chạy ngang qua tỉnh Qu� Ch�u.� C�c rặng n�i ở đ�y thấp, mặc d� gồ ghề; rặng n�i gi�p ranh với V�n Nam lại l� rặng cao nhất.�� Trong hồi cuối thời đế ch�nh (triều đại M�n Ch�u), đ�y l� con đường ch�nh từ Bắc Kinh đến V�n Nam.� Cũng ch�nh do con đường n�y m� ho�ng đế Vĩnh Lạc nh� Minh đ� c� c�c phiến đ� cẩm thạch to lớn, vẫn c�n t� điểm cho c�c bậc thang của Cấm Th�nh, được k�o h�ng trăm dậm băng ngang n�i đồi v� thung lũng cho đến khi ch�ng được thả th�nh b� tại miền t�y Hồ Nam v� đến Bắc Kinh qua ngả s�ng Dương Tử v� Đại Vận H� (Grand Canal), một khoảng c�ch hơn ba ngh�n dặm một ch�t.� Trong c�c thời trước đ�y, con đường Qu� Ch�u �t được sử dụng hơn, bởi v� tỉnh vẫn chưa được b�nh định v� vẫn c�n bị chia cắt bởi c�c nh�m thị tộc đối nghịch nhau cho đến khi c�c ho�ng đế nh� Minh chinh phục n� v�o hồi đầu thế kỷ thứ mười t�m.� �t trực tiếp hơn, mặc d� quan trọng cho một v�i ng�nh mậu dịch, l� con đường từ điểm giới hạn hải h�nh tr�n s�ng T�y Giang (West River) (chảy ra biển ở ph�a dưới Th�nh Phố Quảng Ch�u (Canton), xuy�n qua miền t�y bắc của tỉnh Quảng T�y v� sau đ� băng ngang cao nguy�n V�n Nam để đến C�n Minh (K�unming), tỉnh lỵ.� Đ�y l� con đường nối liền V�n Nam với miền nam Trung Hoa, kh�ng phải với c�c tỉnh miền bắc nơi m� từ đ� thẩm quyền, c�c đội qu�n v� quyền lực thường được ph�ng ra.

���� Rất �t, nếu c�, d�ng s�ng n�o của V�n Nam l� lối đi cho du lịch hay mậu dịch, v� kh�ng c� d�ng s�ng n�o c� thể hải h�nh trong bi�n giới của tỉnh.� Tại ph�a t�y, ba con s�ng vĩ đại, Salween, Cửu Long v� Dương Tử, chảy v�o c�c thung lũng song song rất s�u trong v�i trăm dặm, chỉ bị ph�n c�ch bởi c�c rặng n�i cao, lởm chởm.� Sau đ� ch�ng ph�n t�n, s�ng Dương Tử hướng về ph�a bắc v� rồi quay sang ph�a đ�ng, s�ng Cửu Long tiếp tục xu�i nam đến Căm Bốt v� L�o, s�ng Salween chảy v�o Miến Điện.� Ba con s�ng m� c�c d�ng nước chỉ lần lượt c�ch nhau ba mươi dặm tại miền t�y V�n Nam đ� đổ ra biển ở những địa điểm c�ch xa nhau biết bao, ở v�ng phụ cận của Thượng Hải, S�ig�n v� Ngưỡng Quang (Rangoon).� C�c thung lũng cao của ch�ng ở ph�a đ�ng c� độ cao hơn v�i ngh�n bộ Anh (feet) so với ph�a t�y: s�ng Salween chảy ở độ cao khoảng 2,000 bộ Anh tại V�n Nam, s�ng Cửu Long ở độ cao khoảng 4,000 bộ Anh, v� s�ng Dương Tử tr�n cao, c� cao độ 6,000 bộ Anh tr�n mặt biển khi n� đột ngột uốn kh�c về hướng bắc v� hướng đ�ng, cắt đ�i rặng n�i c� độ cao 20,000 bộ Anh.� Nằm giữa c�c thung lũng s�u n�y l� c�c rặng n�i thường vượt qu� 12,000 bộ Anh v� l�n cao hơn nữa khi hướng về ph�a đ�ng.� C�c thung lũng th� hẹp, cung cấp rất �t đất khả canh, v� độ d�ng cao v� hạ thấp của d�ng s�ng giữa m�a h� v� m�a đ�ng (h� l� m�a của nước d�ng cao) c� thể đo bằng h�ng bộ Anh.� C�c thung lũng n�y, đặc biệt c�c thung lũng của s�ng Cửu Long v� s�ng Salween, bị t�n ph� bởi một loại sốt r�t; đặc biệt hiểm �c, v� người Trung Hoa sẽ kh�ng định cư tại những nơi đ�; ngay c�c kh�ch du h�nh cũng vội v� đi ngang qua ch�ng v� kh�ng bao giờ nghỉ đ�m tại v�ng thung lũng.� S�ng T�y Giang, tạo th�nh lộ tr�nh huyết mạch của c�c tỉnh miền nam Trung Hoa, Quảng T�y v� Quảng Đ�ng, được n�ng l�n cao tại cao nguy�n V�n Nam, nhưng kh�ng thể hải h�nh được cho đến sau khi n� đến được Quảng T�y.

���� C�c r�o cản cho việc giao tiếp với c�c người b�n ngo�i xem ra, v� thực đ�ng sợ, ở c�c bi�n giới ph�a t�y của V�n Nam, hơn l� ở ph�a đ�ng hay ph�a nam; song ch�ng đ� được qua lại trong nhiều thế kỷ bởi c�c nh� mậu dịch v� c�c kh�ch du h�nh, nếu c�n �t thường xuy�n hơn nhiều bởi c�c đội qu�n.� Một khi kh�ch du h�nh đ� chuyển sang con s�ng Salween v� phụ lưu của n�, độ dốc xuống ở Miến Điện v� thung lũng Irrawaddy th� tương đối dễ d�ng, d� đ�i khi c� nguy hiểm.� Con s�ng vĩ đại mang lại một sự tiếp cận dễ d�ng đến biển, v� c�c chuyến du h�nh cận duy�n đ� c� thể nối liền Miến Điện v� Ấn Độ.� �t c� sự nghi ngờ n�o rằng một v�i loại tiếp x�c đ� hiện diện dọc theo con đường gi�n tiếp n�y từ những thời kỳ ban sơ nhất, ngay d� n� bị giới hạn l�c đầu v�o hoạt động mậu dịch giữa c�c thị tộc.� Con đường trực tiếp sang Ấn Độ, băng ngang qua c�c c�nh rừng của miền bắc Miến Điện tới Manipur v� c�c thung lũng v�ng Assam th� kh� khăn hơn v� �t an to�n hơn.� Ngay tthời hiện đại, c�c khu rừng n�y vẫn c�n l� căn cứ của c�c bộ lạc săn người, chỉ đem lại một sự đ�n tiếp r�ng rợn cho c�c kh�ch lữ h�nh.� Sự nối kết giữa V�n Nam l� với Đ�ng Nam �, Miến Điện v� Việt Nam, chứ kh�ng trực tiếp với Ấn Độ.� Con đường tới Việt Nam, ng�y nay l� con đường rầy xe hỏa được x�y dựng trong những năm đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mươi bởi người Ph�p, kh�ng phải dễ d�ng hay được sử dụng nhiều trong thời cổ xưa. Độ đổ dốc từ cao nguy�n V�n Nam th� rất cheo leo, v� nhiều khe s�ng cắt ngang con đường.� Thung lũng s�ng Hồng, tạo th�nh ch�u thổ ph� nhi�u của Bắc Kỳ, bị nhiễm chứng sốt r�t v� chật hẹp, mặc d� d�ng s�ng n�y, ph�t sinh từ cao nguy�n V�n Nam, c� vẻ mang lại một sợi d�y li�n kết tự nhi�n v� hiển nhi�n giữa V�n Nam v� Việt Nam.� Như qu� thường xảy ra tại V�n Nam, con s�ng n�y thực sự l� v� dụng cho mục đ�ch n�y, v� kh�ch du h�nh phải đi t�m một con đường xem ra gian lao hơn, �xuy�n qua n�i đồi.� Khi người Ph�p c� được đặc nhượng mở đường xe hỏa, ch�nh phủ đế triều Trung Hoa đ� từ chối chấp thuận con đường dẫn tới thung lũng s�ng Hồng, vốn sẽ tương đối dễ d�ng hơn để x�y cất, với l� do rằng khu vực đ� qu� nguy hại cho sức khỏe, v� rằng một đường rầy hỏa xa sẽ kh�ng phục vụ g� cho mục đ�ch kinh tế ở đ�.� L� do thực sự rằng họ tin con đường qua n�i sẽ qu� kh� khăn v� qu� dốc khiến kh�ng một đường sắt n�o trong thực tế lại c� thể x�y cất được tr�n h�ng lối đ�. �Tuy thế người Ph�p đ� x�y dựng n�, một trong những lộ tr�nh ngoạn mục nhất của thế giới, bắc ngang c�c khe s�ng s�u v� chui qua từ rặng n�i n�y sang rặng n�i kia.� Về mặt chiến lược, như được chứng tỏ trong Thế Chiến Thứ Nh�, n� th� v� dụng; chỉ cần giựt sập v�i c�y cầu v� phong tỏa một �t đường hầm sẽ l�m cho lộ tr�nh kh�ng thể th�ng qua được.� Người Nhật Bản kh�ng bao giờ x�m nhập v�o V�n Nam bằng con đường n�y.� Về mặt kinh tế, n� chỉ c� gi� trị tối thiểu, nhưng như th�nh t�ch về kỹ thuật, n� thật tuyệt diệu.

���� C�c sự tiếp x�c đầu ti�n được ghi ch�p lai giữa Trung Hoa v� V�n Nam c� ni�n đại từ cuối thế kỷ thứ tư trước C�ng Nguy�n, v� đ� kh�ng phải được thực hiện bởi c�c vương quốc Trung Hoa v�o thời khoảng đ� tại miền bắc Trung Hoa, m� bởi nh� Ch�u [?], vương quốc phương nam đặt trung t�m tại trung lưu s�ng Dương Tử, nhưng cũng bao gồm tỉnh Hồ Nam ng�y nay.� Nước Ch�u kh�ng đ�ng nghĩa l� một vương quốc Trung Hoa; n� kh�ng bao giờ được chấp nhận một c�ch thoải m�i như một trong c�c th�nh vi�n của kh�i niệm cổ thời về Vương Quốc Trung T�m (Miđle Kingdom), tr�n đ� c�c nh� vua nước Chou [? Chu] đ� trị v� hơn l� cai trị.� Ch�u căn bản c� thể thuộc sắc d�n T�ai (Th�i hay Đại [?]) hay Miao (M�o), hay như một số t�c giả xem x�t, thuộc một sắc d�n hỗn hợp, bao h�m một loạt nhiều d�n tộc cổ xưa tại miền nam v� trung Trung Hoa.� Ch�nh nước đ� về văn h�a chịu ảnh hưởng Trung Hoa s�u đậm l� điều chắc chắn từ nhiều sự kh�m ph� khảo cổ đ� được t�m thấy tại c�c khu vực vốn l� một phần của nước Ch�u v� cũng từ nhiều bằng chứng văn h�a Trung Hoa.� V�o cuối thế kỷ thứ tư trước C�ng Nguy�n, cuộc tranh chấp giữa c�c vương quốc của Trung Hoa d�nh quyền chủ tể tối cao thế giới Trung Hoa đ� gia tăng m�nh liệt.� C�c nước cạnh tranh ch�nh yếu sẵn c� mặt l� vương quốc t�y bắc của nước Ch�in [? Tần], được nghĩ rằng chỉ c� một phần n�o Trung Hoa về t�nh chất chủng tộc, v� vương quốc miền nam của nước Ch�u, l� nước, như được nhận thấy, chắc chắn c� phần lớn giống d�n phi-H�n (non-Han).� Nước Ch�in li�n tục s�p nhập phần lớn c�c vương quốc miền bắc cũ, v� v� thế, trở n�n mạnh hơn. Nước Ch�u, c� c�c nước cạnh tranh nằm ph�a hạ lưu s�u hơn của s�ng Dương Tử, bị ngăn cản kh�ng cạnh tranh hữu hiệu với kẻ thừa kế phương bắc bởi c�c sự ph�n tr� n�y, v� v�o cuối thế kỷ thứ tư đ� t�m kiếm một v�i sự b� đắp bằng c�ch b�nh trướng về phương nam, v�o c�c miền vượt qu� Hồ Nam, khi đ� bị chiếm ngụ bởi một số d�n tộc �t tiến bộ hơn.

���� Vua Wei của nước Ch�u (339-329 trước C0�ng Nguy�n) đ� ph�i một vi�n tướng, th�nh vi�n của ho�ng gia, t�n l� Chuang Ch�iaso đi mở rộng uy quyền của �ng theo hướng n�y.� Chuang Ch�iao c� vẻ đ� d�ng lộ tr�nh xuy�n qua Qu� Ch�u cho �t nhất một phần trong lực lượng của m�nh, mặc d� c�c đơn vị tăng ph�i kh�c c� thể đ� đi theo con đường từ v�ng cao tr�n s�ng Dương Tử tại Suifu xuy�n qua Chaot�ung để đến C�n Minh.� Con đường n�y khi đ� đi ngang qua vương quốc Pa (Ba) tại miền nam Tứ Xuy�n, l� nước đ� giao chiến với l�ng giềng ph�a bắc của n�, nước Shu [Thục?] v� c� lẽ v� thế kh�ng thể ngăn cản bước tiến của qu�n đội nước Ch�u.� Tướng Chuang Ch�iao đ� c� thể tiến h�nh lộ tr�nh của m�nh đến đồng bằng C�n Minh, b�n bờ của hồ nước vĩ đại Tien Lake [Điền Tr�?].� Đ�y l� khu vực lớn nhất v� l� một trong những khu vực canh t�c l�a gạo ph� nhi�u nhất của V�n Nam, v� th�nh phố C�n Minh ng�y nay, tỉnh lỵ của tỉnh, tọa lạc ở đ�.� Chuang Ch�iao đ� s�p nhập miền n�y v�o nước Ch�u, v� gọi n� l� Tien [đất Điền?].� Từ ngữ n�y kh�ng c� nghĩa n�o kh�c trong Hoa ngữ ngo�i địa danh để chỉ hồ v� miền đất, ngoại trừ một tĩnh từ ph�t sinh khả hữu c� nghĩa �v� giới hạn, bao la�.� Nhiều phần đ� l� một danh từ ph�t sinh từ c�c [họ của, ND] người l�m chủ quận huyện trước đ�y.

���� Rất �t điều được hay biết về c�c người d�n c� thể đ� sống ở đ�.� Một kh�m ph� khảo cổ học gần đ�y kh�ng qu� xa C�n Minh, tại địa điểm đồi n�i được gọi l� Shih Chia Chai, đ� phơi b�y ra �nh s�ng c�c đồ vật bằng đồng được trang tr� với c�c h�nh dạng r� r�ng c� t�nh c�ch phi-Trung Hoa (non-Chinese), v� c� vẻ để m� tả một sắc d�n chăn dắt c�c loại gia s�c tr�n c�c c�nh đồng đ� được tr�nh b�y một c�ch phong ph�.� Ni�n đại của c�c đồ vật n�y được phỏng đ�an tr�n căn bản c�ch vẽ l� gần hay c�ng thời với sự chinh phục của nước Ch�u, v� nếu c�c đồ vật chứng tỏ sự du nhập kỹ thuật đồ đồng Trung Hoa, ch�ng cũng ph� b�y sức mạnh của một truyền thống nghệ thuật phi-Trung Hoa.� Qu�n đội nước Ch�u chắc chắn kh�ng đủ mạnh để đ�nh đuổi d�n bản xứ tại v�ng đất đ�, v� c� lẽ đ� kh�ng được th�p t�ng bởi nhiều phụ nữ của họ.� Kh�ng bao l�u c�c sự ph�t triển tại miền t�y Trung Hoa khiến cho thuộc địa xa x�i n�y c�n bị c� lập hơn nữa.

���� Trong năm 316 trước C�ng Nguy�n, vương quốc nước Ch�in hung hổ, lợi dụng cuộc chiến tranh tương t�n giữa hai vương quốc Tứ Xuy�n l� Shu v� Ba (lần lượt tập trung tại Th�nh Đ� (Ch�engtu) v� Tr�ng Kh�nh (Chungking) ng�y nay) đ� x�m lăng v� chinh phục cả hai vương quốc, s�p nhập to�n thể tỉnh rộng lớn Tứ Xuy�n v�o nước Ch�in.� Biến cố n�y, nguy�n l�m gia tăng vượt mức quyền lực v� t�i nguy�n của nước Ch�in, c� lẽ đ� l� một yếu tố quyết định cho sự chiến thắng tối hậu của n� trong c�c cuộc tranh chấp kh�ng ngừng của thời Chiến Quốc (Warring States).� Hậu quả tức thời của n� l� cắt đứt thuộc địa tại đất Điền (Tien) ra khỏi sự tiếp x�c trực tiếp với nước Ch�u.� Tướng Chuan Ch�iao c� vẻ đ� cố gắng để t�i lập giao th�ng băng ngang Qu� Ch�u, nhưng gặp phải sự kh�ng cự của c�c thị tộc địa phương qu� mạnh mẽ.� Ch�nh nước Ch�u giờ đ�y đang gặp mối nguy hiểm lớn lao hơn từ cuộc x�m lăng của nước Ch�in vẫn tiếp tục đe dọa n� cho tới khoảng 90 năm sau đ�, trong năm 223 trước C�ng Nguy�n, n� đ� bị chinh phục bởi nước Ch�in trong sự sụp đổ to�n diện của c�c vương quốc cũ.� Nước Tần (Ch�in), thb�ng� nhất Trung Hoa lần đầu ti�n, đ� kh�ng quan t�m đến việc theo đuổi cuộc chinh phục n�y bằng một chiến dịch tiền v�o miền t�y nam xa x�i, v� đất Điền (Tien) đ� được để y�n.� Chung Ch�iao đ� cai trị n� như một ph� vương kinh lược của nước Ch�u, nhưng c�c người kế vị �ng đ� trở th�nh vua đất Điền (Tien).

���� C� lẽ (c� một số chỉ dẫn văn h�a về sự kiện n�y) rằng nhiều người tỵ nạn từ vương quốc Pa trước đ�y tại Tứ Xuy�n đ� chạy trốn xu�ng phương nam, đến đất Điền (Tien).� N� trở n�n một ti�u điểm biệt lập của văn h�a Trung Hoa tại một khu vực ch�nh yếu vẫn chưa bị đụng chạm bởi c�c ảnh hưởng như thế, v� C�n Minh, v�ng thừa kế hiện đại của n� vẫn c�n l� trung t�m ch�nh của quyền lực v� văn minh Trung Hoa tại V�n Nam cho đến thời hiện đại.� Trong hai thế kỷ kế tiếp của đế quốc đại H�n tại Trung Hoa, đất Điền (Tien) vẫn c� thể duy tr� nền độc lập cho đến thời trị v� của H�n Vũ Ho�ng Đế (140-86 trước C�ng Nguy�n).� Nh� vua đ� đ� tiến h�nh nhiều cuộc chinh phục v� chiến tranh để mở rộng l�nh địa của m�nh, v� vua đất Điền (Tien), chắc hẳn bị ấn tượng bởi cuộc chinh phục của nh� H�n tại Nam Việt (Quảng Ch�u) v� sự x�m nhập ngoại giao đồng thời tại vương quốc Yeh Lang [? Dạ Lang, ND], thuộc Qu� Ch�u (quanh v�ng Ts�unyi ng�y nay) đ� t�m c�ch sự c�ng nhận với sự thỏa thuận của ch�nh �ng bằng c�ch thừa nhận quyền chủ tể của Ho�ng Đế nh� H�n.� Việc n�y được chuẩn thuận, v� vương quốc của �ng ta đ� được cải danh tr�n h�nh thức th�nh Yi Chou Đ� Hộ Phủ.� BởI Nh� Vua được x�c nhận l� người cai trị, điều n�y kh�ng tạo ra mấy sự kh�c biệt, m� cho ph�p �ng cảm thấy an to�n v� bảo đảm.� N� cũng khai mở một băng tần mới để tiếp x�c với Trung Hoa, v� như thể tăng cường ảnh hưởng của Trung Hoa trong v�ng.� Kh�ng c� vẻ l� H�n Vũ Đế hay c�c kẻ thừa kế �ng đ� đưa ra bất kỳ nỗ lực n�o để �p đặt sự cai trị trực tiếp hơn của Trung Hoa hay mở rộng l�nh địa của họ tại V�n Nam.

���� Họ c� duy tr� một sự quan� t�m đến tỉnh hạt xa x�i n�y v� một l� do kh�c.� Trong năm 138 trước C�ng Nguy�n, H�n Vũ Đế c� ph�i một sứ giả, Chang Ch�ien, đến c�c vương quốc v�ng trung � Ch�u vốn được th�nh lập từ c�c mảnh vỡ của đế quốc của đại đế Alexander tại miền giờ đ�y l� Trung � thuộc Nga.� Vị sứ giả c� nh�n thấy tại đ� vải v�c v� nhiều c�y tre, được trao đổi từ Ấn Độ, m� �ng ta nh�n như l� c�c sản phẩm của Tứ Xuy�n, một tỉnh lớn ở ph�a t�y của đế quốc H�n.� Khi trở về �ng đ� b�o c�o sự kiện n�y, trong số nhiều tin tức kh�c, v� Triều Đ�nh Trung Hoa lần đầu ti�n đ� kh�m ph� rằng một con đường mậu dịch đến Ấn Độ c� hiện diện từ Tứ Xuy�n băng ngang qua V�n Nam.� Nhiều sứ giả sau đ� đ� được ph�i đi thăm d� về con đường, nhưng điều đuợc ghi ch�p l� kh�ng c� người n�o lại ho�n tất h�nh tr�nh bao giờ, v� rằng phần lớn đ� kh�ng quay trở về.� Điều bị nghi ngờ �rằng liệu Chang Ch�ien lại kh�ng c� thể bị nhầm lẫn một số sản phẩm của Ấn Độ với sản phẩm của Tứ Xuy�n hay sao, nhưng sự đề cập đ�n �c�y tre lớn� c� vẻ khiến ta nghĩ rằng �ng ấy đ� n�i đ�ng.� C�c c�y tre rất lớn m� một cộng đồng c� thể chế tạo th�nh một c�i rổ nhỏ hữu dụng, được biết l� chỉ c� tại Trung Hoa.� Nếu �vải v�c� của nước Shu l� một v�i loại sản phẩm lụa sống, sản phẩm chỉ c� từ Trung Hoa v�o thời điểm đ�, sự x�c định sẽ vũng chắc.

���� Con đường đ� hiện hữu trong c�c thời đại sau n�y, như đ� được n�i tới, băng ngang V�n Nam đến Miến Điện.� C� thể ngay v�o thời điểm đ�, h�ng h�a mậu dịch khi đ� đổ dọc xuống s�ng Irrawaddy v� theo đường biển sang Ấn Độ.� Thuật hải h�nh của Ấn Độ, như ảnh hưởng của Ấn Độ Gi�o khắp Đ�ng Nam � chứng thực, đ� sẵn được ph�t triển tốt đẹp.� C�c sứ giả nh� H�n c� thể đ� ngần ngại đi xa đến mức phải băng ngang c�c biển kh�ng hay biết g� (như sứ giả được ph�i bởi Trung Hoa đến La M� sau n�y lấy l�m nhụt ch� trước việc băng ngang hoặc Vịnh Ba Tư hay Hắc Hải) hay c� thể họ đ� t�m c�ch vươn tới Ấn Độ bằng con đường trực tiếp xuy�n qua miền bắc Miến Điện.� Nếu đ�ng như thế, số phận của họ đ� bị giải quyết bởi c�c bộ lạc săn người trong v�ng.� Xu hướng n�y sẽ kh�ng nhất thiết c� nghĩa rằng kh�ng c� con đường mậu dịch n�o lại c� thể hiện hữu xuy�n qua xứ sở của họ, bởi trong thời điểm rất gần đ�y, c�c thương nh�n Trung Hoa c� thực hiện một c�ng cuộc mậu dịch như thế, theo c�c điều khoản đặc biệt v� độc quyền.

���� C�c c�nh rừng miền bắc Miến Điện l� một trong c�c khu sinh sống cuối c�ng của lo�i t� gi�c � Ch�u v� cũng sản xuất ra nhiều thảo mộc hiếm c�, giống như c�c sừng t� gi�c, l� c�c sản vật v� c�ng qu� gi� trong ng�nh mua b�n dược liệu Trung Hoa.� Cho đến Thế Chiến Thứ Nh� người mua từ khắp nơi của Trung Hoa, v� cũng từ Đ�ng Nam �, thường tụ tập tại Đại L� (Tali) miền t�y V�n Nam trong một hội chợ h�ng năm được tổ chức v�o th�ng Tư, nơi m� c�c sản phẩm n�y c� thể mua với c�c gi� cả c� lợi cho những người thu gom ch�ng, v� vẫn c�n sinh lợi rất nhiều cho những kẻ sẽ b�n ch�ng tại c�c th�nh phố lớn của Trung Hoa v� v�ng đất ph�a nam.� C�c người sưu tập l� c�c thương nh�n Trung Hoa địa phương thuộc v�o c�c gia tộc đ� thiết lập c�c quan hệ th�n thiết với c�c bộ lạc săn người v� l� c�c kẻ duy nhất c� thể tiến v�o xứ sở họ một c�ch an to�n.� Chỉ c� c�c th�nh vi�n của c�c gia tộc n�y mới c� thể tiến v�o l�nh địa của c�c bộ tộc.� Họ mang c�c sản phẩm chẳng hạn như c�c dụng cụ v� vũ kh� m� c�c thị tộc coi trọng, đổi lại họ thu mua c�c dược thảo v� nếu may mắn, một chiếc sừng t� gi�c, hoặc bằng c�ch trao đổi hay bằng khả năng mua sắm của ch�nh họ.� Nếu muốn gia tăng nh�n số, ngay d� chỉ th�m một người, họ phải trước ti�n, thương thảo với c�c nh� l�nh đạo thị tộc, những kẻ thường chỉ chấp thuận một th�nh vi�n mới, kẻ phải c� một sự li�n hệ gần gũi với những người đ� sẵn được chấp nhận.� Người n�o kh�c sẽ mất đầu, ngay d� anh ta đi theo một nh� mậu dịch đ� được thừa nhận.� Nh�n số được giữ thấp, v� sự cạnh tranh ở mức tối thiểu.� Nhưng c�ng việc mậu dịch c� lợi cho cả đ�i b�n được thực hiện một c�ch c� hệ thống từ năm n�y sang năm kia.� Tại c�c huyện xa hơn, người Trung Hoa chỉ đến trong m�a đ�ng kh� r�o v� kh�ng được ph�p, với lệnh tử h�nh, ở lại hết năm.� Kh�ng c� phụ nữ n�o được chấp thuận.� Tại ven bi�n của v�ng, đ�i khi c� thể đi ngang qua trong m�a h�, nếu gia đ�nh mậu dịch rất nổi tiếng v� l� do cho một sự tr� ho�n l�u d�i, chẳng hạn như bệnh t�t, th� r� r�ng.

���� Hệ thống n�y đ� tiếp diễn ttrong nhiều thế hệ, v� c� lẽ l�u đời hơn bất kỳ t�i liệu hay hồi ức c�n lưu tồn n�o.� C� vẻ với khả t�nh �t nhất, rằng loại mậu dịch n�y, được biết từ c�c nơi kh�c tr�n thế giới, đ� sẵn hiện hữu từ thời nh� H�n v� rằng một số sản phẩm của Trung Hoa được truyền từ bộ tộc n�y sang bộ tộc kh�c, băng ngang qua miền bắc Miến Điện để tới Ấn Độ.� Nhưng nếu c�c t�nh trạng mậu dịch khi đ� cũng giống như trong hiện thời, điều rất bất thường rằng bất kỳ sứ giả Trung Hoa n�o từ một v�ng xa x�i lại c� thể được chấp nhận, hay sống s�t sau một mưu toan nhằm x�m nhập v�o v�ng đất của c�c bộ tộc.

���� C� thể như một kết quả của c�c nỗ lực n�y nhằm t�m kiếm một con đừng sang Ấn Độ băng ngang Miến Điện m� c�c giới chức thẩm quyền nh� H�n đ� thiết lập một x�c quyền cai quản v�ng nằm ph�a t�y s�ng Cửu Long.� Ở đ� họ đ� thiết lập, hay đặt t�n, một Đ� Hộ Phủ (hay Chỉ Huy Sứ) (Commandery) gọi l� Yungch�ang tại địa điểm của th�nh phố mang c�ng t�n cho đến l�c kết th�c triều đại M�n Ch�u, nhưng đ� được đặt lại t�n l� Paoshan dưới thời Cộng H�a.� Người H�n cũng g�n t�n Lan Thương Giang (Lan Ts�ang Chiang) cho con s�ng Cửu Long, một c�i t�n m� d�ng s�ng vẫn mang tại V�n Nam v� thường được biết tới bởi người Trung Hoa qua t�n n�,y tr�n suốt d�ng chảy của n�.� C�c bi�n giới của Đ� Hộ Phủ Yungch�ang được tuy�n bố vươn qu� s�ng Salween đến tận th�nh phố ng�y nay l� Tengyueh, l� trung t�m h�nh ch�nh cuối c�ng của miền t�y V�n Nam ng�y nay.� Sự x�m nhập về ph�a t�y n�y kh�ng được đi k�m bởi bất kỳ sự b�nh trướng đ�ng kể n�o v�o phương nam của V�n Nam, nơi mặc d� c� c�c rặng n�i thấp hơn, chứng bịnh sốt r�t lại ho�nh h�nh nhiều hơn.� Người Trung Hoa c� lẽ hay biết rằng khu vực miền nam V�n Nam n�y gi�p ranh với Việt Nam, v�ng m� họ đ� sẵn cai trị, v� l� v�ng m� sự tiếp cận qua bi�n giới với tỉnh Quảng T�y ng�y nay th� trực tiếp v� dễ d�ng hơn nhiều.� Đ� kh�ng c� động lực đặc th� n�o để thiết lập thẩm quyền tại miền nam V�n Nam.� Mặt kh�c, Yungch�ang (hay Paoshan) lại c�n l� trung t�m giao thương với miền bắc Miến Điện.� N� chiếm cứ một đồng bằng ph� nhi�u tr�n cao nguy�n nằm giữa s�ng Cửu Long v� s�ng Salween v� l� trung t�m tự nhi�n cho sự quản trị miền t�y V�n Nam.� Như tại đất Điền (Tien) (C�n Minh), c� lẽ sự cai trị của Trung Hoa mang t�nh c�ch gi�n tiếp, một thủ lĩnh địa phương được nh�n nhận như vị tổng đốc, nhưng bị y�u cầu cung cấp sự bảo vệ v� hỗ trợ cho c�c sứ giả ch�nh thức v� kh�ch du h�nh từ Trung Hoa.

���� Ch�nh s�ch của nh� H�n ch�nh v� thế l� một sự cai trị gi�n tiếp, nhưng n� đ� thiết lập c�c b�n đạp dọc theo chiều ngang của V�n Nam gần như s�t tới bi�n giới Miến Điện ng�y nay.� Bi�n giới thực sự được tuy�n nhận l� bờ ph�a t�y của cao nguy�n V�n Nam, trước khi c� sự �đổ dốc lớn lao� v�o thung lũng s�ng Irrawaddy, m� Marco Polo �đ� m� tả bằng c�c từ ngữ n�y nhiều thế kỷ sau n�y.� Ngay trong thời hiện đại, xứ sở n�y c�n hoang vu v� chỉ c� �t d�n cư ngụ: c�c thung lũng to lớn của s�ng Cửu Long v� s�ng Salween, bị chứng sốt rết ho�nh h�nh dữ dội, l� c�c r�o cản ch�nh, v� c�c rặng n�i với rừng rậm nằm giữa ch�ng cũng l� c�c trở ngại đ�ng kinh sợ, mọc thẳng đứng từ c�c khe nước s�u của c�c con s�ng.� Mười hai thế kỷ sau n�y, trong thời nh� Minh, người Trung Hoa đ� nối li�n cả hai con s�ng bằng c�c chiếc cầu treo đong dưa tr�n c�c sợi x�ch sắt to lớn, nhưng sự trợ gi�p để du h�nh n�y c�n vắng mặt trong thời nh� H�n.� Nước s�ng d�ng l�n trong m�a h� thường cao hơn cả bảy mười bộ Anh (feet), đến nỗi việc đi ph� th�nh kh� khăn v� trong thực tế gần như bất khả thi khi con s�ng gặp lũ.� Đ� Hộ Phủ tại Yungch�ang hẳn phải bị c� lập khỏi mọi sự truyền th�ng với C�n Minh v� Trung Hoa đ�i khi trong nhiều th�ng trời.� Cần c� một động lực mạnh mẽ để thiết lập bất kỳ x�c quyền n�o đối với xứ sở n�y, v� thật kh� khăn để nh�n thấy động lực n�o kh�c hơn l� sự t�m kiếm một con đường mậu dịch dẫn tới Ấn Độ, sẽ ngắn hơn h�nh tr�nh m�nh m�ng băng ngang qua miền trung � Ch�u v� qua v�ng Kush của Ấn Độ, hầu c� thể kh�ch động được một Triều Đinh xa vời.

���� Người Trung Hoa c� vẻ đ� kh�ng thực hiện sự b�nh trướng n�o hơn nữa, hoặc trong sự kh�m ph� hay mở rộng ch�nh quyền của họ trong hai thế kỷ của triều đại Hậu H�n (25-221).� C�c sự x�c quyết quyền chủ tể vẫn được duy tr�, nhưng kh�ng c� sự kiểm so�t chặt chẽ hơn được thiết lập.� L�c c� sự sụp đổ của triều đại nh� H�n, đế quốc bị tranh d�nh bởi ba kẻ tuy�n nhận ch�nh l� c�c người đ� lập n�n ba Vương Quốc (Tam Quốc), trong đ� nước yếu nhất l� Thục H�n (hay triều đại nh� H�n tại Từ Xuy�n [tức đất Thục, ND], vốn chỉ cai trị� ra ngo�i tỉnh một ch�t.� C� lẽ c�c hy vọng b�nh trướng của n� bị b�c bỏ bởi nước Ngụy ở phương bắc v� nước Ng� ở ph�a đ�ng h�ng mạnh hơn, nước Thục H�n đ� cố gắng b�nh trướng theo hướng t�y nam v�o V�n Nam.� Đ�y l� ch�nh s�ch của vị đại tha6`n nổi tiếng Chu-ko Liang [Chư C�t Lượng, theo tiếng H�n, kh�ng r� tại sao s�ch vở Việt Nam lại dịch th�nh Gia C�t Lượng?, ch� của người dịch ?], kẻ đ� khống chế Triều Đ�nh của vị vua thứ nh� (v� sau c�ng) của nh� Thục H�n.� Chu-ko nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa vừa như một đại thần trung th�nh, tự kiềm chế việc tho�n đoạt ng�i b�u của một vị vua yếu đuối, vừa như một vị tướng qu�n kinh nghiệm v� tinh kh�n, bậc thầy của mưu lược v� đột k�ch, kẻ đ� b�nh trướng thẩm quyền Trung Hoa đến tận v�ng t�y nam.� C�c chiến c�ng n�y đ� trở th�nh c�c đề t�i của tiểu thuyết v� kịch nghệ l�m che lấp phần n�o bản chất thực sự của c�ng nghiệp t�o bạo n�y.� Chu-ko đ� giảm hạ nước chư ha6`u trước đ�y ở đất Điền (Tien) xuống quy chế một Đ� Hộ Phủ do Trung Hoa cai trị trực tiếp, v� sau đ� mở rộng thẩm quyền của �ng theo hướng t�y khoảng một trăm dặm cho tới Ch�uhsiung.

���� C�c khu vực n�y dễ d�ng được tiếp cận từ Tứ Xuy�n bởi con đường ph�a bắc từ Suifu, v� c� thể được kiểm so�t bởi bất kỳ quyền lực Trung Hoa n�o được thiết lập tại tỉnh Tứ Xuy�n, căn cứ địa của nh� Thục H�n. �Xa hơn về ph�a t�y, nơi m� Chu-ko Liang mở chiến dịch vượt qua s�ng Cửu Long xuống đến bi�n giới Miến Điện ng�y nay, �ng đ� kiềm chế khỏi việc thiết lập nền cai trị ttrực tiếp của Trung Hoa v� c�n cự tuyệt cả việc đồn tr� c�c đội qu�n thường trực.� �ng đ� đặt ch�nh s�ch của m�nh tr�n ba lập luận.� Trước ti�n, c�c đội qu�n đồn tr� thường trực tại c�c miền kh�ng thể tiếp cận xa x�i như thế c� thể dễ d�ng kh� cạn thực phẩm tiếp tế.� Chắc chắn rằng việc n�y đ� phản ảnh sự kh� khăn lớn lao trong việc băng qua c�c khe s�ng s�u trong m�a nước d�ng cao.� Thứ nh�, c�c đội qu�n đồn tr� yếu sẽ l� đối tượng để tấn c�ng bởi c�c d�n bộ lạc h�y c�n th� hận sau khi bị đ�nh bại.� Thứ ba, �ng tranh biện rằng một sự chiếm đ�ng thường trực sẽ nu�i nấng sự nghi ngờ nơi ch�nh s�ch của Trung Hoa, dẫn c�c thị tộc đến việc tin tưởng rằng cuộc chinh phục trọn vẹn đ� được nhắm tới.� �ng cũng b�c bỏ ch�nh s�ch n�ng cao� c�c sắc thuế bộ tộc hay trưng dụng l�a gạo.� T�m hiểu xứ sở từ c�c chiến dịch của ch�nh m�nh, �ng nhận thức được sự ngh�o đ�i v� nh�n thấy rằng sự cai quản trực tiếp h� khắc sẽ chỉ dẫn đến sự x�o trộn v� phản kh�ng.

���� Ch�nh v� thế, từ nhật kỳ sớm sủa n�y m� ch�nh s�ch thuộc địa của Trung Hoa, nếu người ta c� thể sử dụng một từ ngữ rất thường c� vẻ g�y tổn thương, đ� mang một t�nh chất m� n� đ� giữ lại trong nhiều thế kỷ.� Sự kiểm so�t trực tiếp của ch�nh quyền Trung Hoa sẽ l� giai đoạn cuối c�ng của sự x�m nhập.� Trước ti�n l� c�c nh� mậu dịch phi�u lưu đ�n nơi, hay c�c sứ giả; kế đ� c�c thủ lĩnh của c�c thị tộc quan trọng được thuyết phục v� dụ dỗ với c�c tước hiệu để nh�n nhận quyền chủ tể của Trung Hoa v� cung cấp sự bảo vệ cho c�c kh�ch du h�nh. Khi quyền lực Trung Hoa trở n�n ổn cố một c�ch chắc chắn tại miền kề cận, c�c l�nh địa bộ tộc gần nhất, v�o một thời cơ thuận tiện, c� thể được đặt dưới thẩm quyền Trung Hoa.� C�c thị tộc xa hơn, sau c�c chiến dịch trừng phạt, một lần nữa được để tự quản dưới quyền chủ tể của Trung Hoa.� Tại V�n Nam, sự ph�n biệt giữa c�c l�nh thổ bị s�p nhập ho�n to�n c�ng c�c cư d�n của ch�ng với những v�ng h�y c�n nằm b�n ngo�i thẩm quyền trực tiếp của c�c quan chức tỉnh hạt được gọi l� giữa th�nh phần �shu� với th�nh phần �sheng�, dịch s�t nghĩa �đ� nhuần thục (cooked})� (hay �đ� chin nhừ� (ripe) với �c�n sống sượng�(raw).� D�n ch�ng thị tộc đ� chấp nhận phong tục Trung Hoa v� ho�n to�n t�ng phục, ngay d� n� vẫn c�n sử dụng một ng�n ngữ phi-Trung Hoa trong khi đ�m thoại, được chấp nhận như �kẻ đ� thuần thục�.� C�c bộ tộc h�y c�n sống b�n ngo�i sự cai trị trực tiếp v� đ� chấp nhận rất �t hay kh�ng chấp nận văn h�a Trung Hoa, l� �c�n sống sượng�.� Điều được hiểu r� r�ng rằng những g� c�n sống sượng h�m nay c� thể trở th�nh nhuần nhuyễn ng�y mai.

���� Chu-ko Liang vẫn c�n l� một anh h�ng địa phương tại V�n Nam, ti�u biểu, trong c�i nh�n của ngườii Trung Hoa, cho một nh� h�nh ch�nh l� tưởng của c�c v�ng đất mới được chinh phục, cương quyết, cẩn trọng, nh�n đạo v� nh�n xa.� Song c�ng việc của �ng ta được chứng minh, theo một nghĩa, c� t�nh c�ch chuyển tiếp.� Sự chinh phục của nh� Thục H�n tại V�n Nam chỉ k�o d�i hơn ch�nh triều đại Thục H�n một ch�t, đ� bị đ� bẹp trước sự chinh phục của triều đại nh� Tsin (Tấn) mới, đặt căn cứ tại miền bắc Trung Hoa, trong năm 264.� Sự trị v� của nh� Tấn th� ngắn ngủi tr�n to�n c�i Trung Hoa, bởi trong năm 316 miền bắc bị thất trận trước cuộc x�m lăng to lớn của c�c d�n tộc Tatar (Th�t Đ�t), đ� giữ Trung Hoa bị chia đ�i th�nh hai đế quốc, bắc v� nam, trong gần ba trăm năm.� C�c đề quốc miền nam tiếp theo, v� một đế quốc được thiết lập ngắn ngủi ch�nh yếu ở v�ng t�y bắc Trung Hoa (nh� Bắc Chu: Northern Chou, 558-81) c� tuy�n x�c cai trị tr�n phần đất cũ của nh� Thục H�n ở Tứ Xuy�n.� Trong thực tế, sự tuy�n x�c n�y hoặc l� quyền chủ tể tr�n danh hiệu, hay kh�ng c� bất kỳ nền tảng n�o.� V�n Nam, trong thời kỳ ph�n chia giữa nam v� bắc, đ� d�nh lại nền độc lập thị tộc, v� rơi v�o sự x�o trộn giữa c�c bộ lạc. �

���� Cũng c� vẻ rằng trong thời kỳ n�y ảnh hưởng ban đầu của Trung Hoa tr�n nền văn h�a của n� đ� bị thử th�ch, v� một phần bị thay thế bởi một ảnh hưởng ngoại lai mới đến từ hướng t�y nam, Phật Gi�o, lan tr�n tại ch�nh Trung Hoa, kể từ thời cuối nh� H�n, v� trở n�n rất mạnh tại cả hai nam v� bắc đế triều, đ� vươn tới Trung Hoa bằng con đường mậu dịch trung � ch�u từ Ấn Độ.� Sau n�y đường biển từ T�ch Lan v� nam Ấn Độ đến nam Trung Hoa trở n�n quan trọng.� Nhưng tại V�n Nam, Phật Gi�o thẩm nhập từ Miến Điện, một nước c� sự tiếp x�c trực tiếp hơn với Ấn Độ.� Hậu quả, đ� c� tại c�c đền đ�i tưởng niệm sớm nhất của Phật Gi�o tại V�n Nam một ảnh hưởng Đ�ng Nam � mạnh mẽ v� hiển nhi�n ph�t sinh từ Ấn Độ, chứ kh�ng phải từ Trung Hoa.� C�c đền đ�i tưởng niệm v� c�c c�ng tr�nh nghệ thuật c�n tồn tại th� �t ỏi v� thường vụn n�t, nhưng t�nh chất trong thể điệu của ch�ng th� r� r�ng.� Tại v�ng viễn t�y của tỉnh, giữa con s�ng Salween v� c�c bi�n giới của Miến Điện, c�c bộ tộc địa phương chấp nhận ph�i Theravada (hay Hinayana, tức Tiểu Thừa) của Phật Gi�o, được thịnh h�nh tại Miến Điện, Căm Bốt v� Th�i Lan, v� ph�t xuất từ T�ch Lan.� C�c nước n�y h�y c�n g�n giữ gi�o ph�i n�y ng�y nay.

���� V�n Nam ch�nh v� thế trong thời đại kế tiếp đ� trở th�nh điểm tiếp x�c v� tranh chấp giữa văn minh Trung Hoa v� Ấn Độ.� Sự kiểm so�t ch�nh trị của Trung Hoa đ� bị tr�i mất, v� sự t�i �p đặt của n� đ� bị kh�ng cự một c�ch mạnh mẽ bởi một vương quốc mới v� hung mạnh, bao ch�m khắp V�n Nam.� Vương quốc Nam Chiếu n�y chịu ảnh hưởng văn h�a Ấn Độ một c�ch đ�ng kể, biểu hiện trong nghệ thuật Phật Gi�o như c�c đền đ�i tưởng niệm c�n lưu tồn của n� chứng thực.� N� cũng được tập trung tại một th�nh phố kh�ng được đề` cập đến như một trong c�c Đ� Hộ Phủ cũ của nh� H�n hay c�c thủ l�nh thị tộc triều cống, Tali (Đại L�).� V�n Nam v� thế kh�ng c� c�ng lịch sử với vương quốc cũ của Nam Việt, v�ng Quảng Ch�u hiện đại.� Sau cuộc chinh phục sơ khởi v� chiếm đ�ng một phần của Trung Hoa, V�n Nam đ� d�nh lại sự độc lập, tạo lập một vương quốc h�ng mạnh, kh�ng cự l�u d�i trước một triều đại Trung Hoa h�ng mạnh nhất, nh� Đường (T�ang), v� đ� kh�ng bị đ� bẹp cho đến khi phải khuất phục trước sức mạnh �p đảo của cuộc x�m lăng của M�ng Cổ.� Trong một v�i chiều hướng, lịch sử của n� tương tự như lịch sử của Việt Nam, nhưng kết quả tối hậu lại tr�i ngược.

���� Trong năm 589, triều đại nh� T�y, được th�nh lập bởi một gia tộc Trung Hoa hợp chủng với c�c gia tộc cầm quyền người Th�t Đ�t của đế quốc phương bắc trước đ�y, đ� t�i thống nhất Trung Hoa bằng một cuộc chinh phục dễ d�ng v� mau ch�ng triều đại nh� Ch�en (Trần) suy yếu ở miền nam.� Nhưng trong khi chiếm cứ c�c l�nh địa của họ v� c�c sự tuy�n nhận mong manh về quyền chủ tể tại miền t�y nam, nh� T�y sẽ nhận ra rằng h�nh trạng trong miền đ� thay đổi l�n lao.� Phần lớn Qu� Ch�u v� hầu hết V�n Nam giờ đ� được tổ chức th�nh một số vương quốc c� thể triệu tập c�c đội qu�n đ�ng kể.� Họ kh�ng c�n l� c�c bộ lạc man rợ bị chia cắt th�nh c�c đơn vị l�nh thổ nhỏ của một thung lũng hay đồng bằng duy nhất.� Ch�nh bản th�n nh� T�y đ� sớm bị nhận ch�m v�o c�c sự kh� khăn tiếp theo sau c�c cuộc chiến tranh kh�ng th�nh c�ng của n� với H�n Quốc (Bắc H�n, vương quốc Koryugo), v� Trung Hoa một lần nữa rơi v�o sự hỗn loạn.� M�n xen giữa n�y th� ngắn ngủi: trong năm 618 triều đại nh� Đường, kẻ chiến thắng trong cuộc nội chiến phức tạp, đ� xuất hiện để thống nhất Trung Hoa tr�n một căn bản l�u d�i.� Kh�ng bao l�u, n� ph� diễn để sức mạnh của m�nh được cảm thấy ở miền viễn nam.� Nh� Đường chấp nhận ch�nh s�ch cổ truyền v� đ� được thử th�ch m� đế quốc nh� H�n đ� theo đuổi.� C�c t� trưởng bộ tộc v� c�c nh� vua được mời gọi để thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, đổi lại nhận được sự x�c định thẩm quyền v� c�c tước phong vinh dự.� Hệ thống n�y c� vẻ như vận h�nh kh� tốt trong nhiều năm, v� c� thể kh�ng c� g� phải nghi ngờ rằng sự phổ biến văn h�a v� phong tục Trung Hoa đ� được kh�ch lệ.� Tuy nhi�n, c�c thẩm quyền nh� Đường đ� kh�ng thỏa m�n với sự ph�n chia miền th�nh qu� nhiều vương quốc tương đối nhỏ b�, nhận thấy t�nh trạng n�y phức tạp v� kh� quản trị.� Họ nghĩ đến � tưởng rằng bằng việc thống nhất nhiều vương quốc nhỏ hơn dưới một nh� cai trị, to�n thể sự quản trị ch�nh trị v�ng ven bi�n đế quốc sẽ được dễ d�ng hơn.� Việc n�y, từ quan điểm của họ, l� một sai la6`m quan trọng.� N� đ� gi�p cho sự trổi dậy của vương quốc Nam Chiếu trở n�n đ�ng sợ v� ho�n to�n độc lập cũng như đối nghịch với đế quốc nh� Đường.

���� Nam Chiếu đ� l� một trong s�u vương quốc, S�u Chiếu (Six Chaos) (từ ngừ trong tiếng Th�i chỉ nh� vua) đ� chia cắt miền t�y v� trung V�n Nam.� Nam Chiếu được gọi t�n như thế bởi v� bộ chỉ huy nguy�n thủy của vị l�nh ch�a được đặt tại Menghua, ph�a nam Đại L�, sau n�y trở th�nh kinh đ� của họ, v� cũng bởi năm Chiếu kia hoặc l� ở ph�a t�y hay ph�a bắc của Menghua.� Nam Chiếu ch�nh v� thế nguy�n thủy l� Chiếu Phương Nam (Nan).� Sự lựa chọn Đại L� l�m kinh đ� l� kh�n ngoan, bởi đ� l� một trong c�c địa điểm được ph�ng vệ l� tưởng nhất c� thể tưởng tượng được.� Tại sao n� chưa hề, như n� sắp, được nhận thức trong thời nh� H�n th� kh�ng r�, bởi vị tr� của n� mời gọi sự thiết lập �t nhất một quyền lực địa phương.� Đồng bằng tr�n đ� th�nh phố tọa lạc c� chiều d�i khoảng ba mươi dặm, gi�p ranh về ph�a đ�ng với hồ Erh Hai (Nhĩ Hải?) rộng lớn, c� nơi rộng tới năm dặm, v� ph�a t�y bởi rặng n�i Ts�ang Shan cao sừng sững, một r�o cảo vươn cao tới 14,000 bộ Anh, hay 7,000 bộ Anh cao hơn đồng bằng Đại L�.� Đồng bằng đ� ở cả hai đầu được kh�p k�n bằng c�c ngọn đ�o hẹp nằm giữa hồ nước, c�c con s�ng dẫn v� tho�t nước của n�, v� rặng n�i Ts�ang Shan.� Đ�o ph�a bắc được gọi l� Lung T�ou Kuan (Long Đầu Quan), Đ�o Đầu Con Rồng, hay theo c�ch n�i th�ng thường l� Shangkuan (Thượng Quan), Đ�o Tr�n; ph�a dưới, được ph�ng vệ bởi th�nh của Hsiaquan (Hạ Quan), Đ�o Dưới, l� Lung Wei Kuan (Long Vĩ Quan), Đ�o Đu�i Rồng.� Con Rồng l� hồ Nhĩ Hải (Erh Hai: Nhĩ Hải, theo h�nh dạng [như lỗ tai, ND] của n�).� Hai ngọn đ�o, ngay d� ch�ng kh�ng được củng cố về ph�ng thủ, sẽ l� c�c vị thế l� tưởng để ph�ng vệ đồng bằng v� ngăn chặn một lực lượng h�ng mạnh hơn nhiều.� Ch�ng đ� được củng cố bởi th�nh phố c� tường th�nh vững chức bao quanh ở Hạ Quan, �tr�n cửa v�o ph�a nam ngăn chặn con đương đến C�n Minh ở hướng đ�ng, v� đ�o hẹp theo đ� con đường đi qua hướng t�y dẫn đến Yungch�ang v� giao điểm với s�ng Cửu Long. �Ch�nh v� thế, n� l� giao lộ chiến lược của miền t�y V�n Nam, v� mặc d� c� thể đi v�ng quanh đồng bằng Đại L� v� du h�nh l�n phương bắc, con đường n�y kh� khăn hơn nhiều.� (D� thế, n� đ� l� con đường đi bởi Cộng sản trong cuộc Trường Chinh năm 1935, bởi họ kh�ng thể chọc thủng lối v�o đồng bằng Đại L� được).� Lối v�o phương bắc v�o đồng bằng Đại L� được kiểm so�t bởi th�nh tại Thượng Quan, nơi m� một khe nước s�u từ rặng Ts�ang Shan xuống hồ ở cửa s�ng Nhĩ Hải, đổ nước v�o hồ.� T�a th�nh được x�y dựng bắc ngang lối đi duy nhất giữa khe nước v� hồ.

���� Đồng bằng Đại L� l� v�ng đất trồng l�a gạo ph� nhi�u, kh�ng bao giờ bị nguy ngập v� lũ lụt, v� kh�ng bao giờ bị nguy hiểm v� hạn h�n, bởi c�c luồng nước kh�ng dứt chảy xuống từ rặng n�i Ts�ang Shan vĩ đại (đỉnh n�i co tuyết phủ v�o khoảng năm th�ng) khiến cho việc dẫn nước thường trực trở n�n khả dĩ.� N� c� khả năng sản xuất c�c khối lượng ngũ cốc lớn, v� vụ thu hoạch gạo m�a h� được thay thế bằng đậu v� rau trong m�a đ�ng.� Ở tr�n cao, 7,000 bộ Anh, nhưng thuộc vĩ tuyến nhiệt đới, Đại L� c� một kh� hậu gần như l� tưởng với m�a thu v� mua đ�ng d�i v� kh�, v� một m�a h� ngắn, ẩm ướt nhưng tương đối lạnh, khi gi� m�a t�y nam mang mưa nhiều đến h�ng r�o n�i.� Kh�ng r� rằng bộ tộc hay nh�m n�o bị dời cư hay chinh phục bởi c�c nh� l�nh đạo Nam Chiếu khi họ di chuyển theo hướng bắc để chiếm giữ Đại L�.� C�c cư d�n ng�y nay, v� chắc chắn trong nhiều thế kỷ đ� qua, kh�ng phải sắc d�n T�ai thuần chủng, m� được biết l� d�n Pai (trong H�n tự được dịch nghĩa đơn giản l� �Bạch: Trắng�).�� Trong tiếng Pai l� Ber Wa Tze, c� nghĩa �d�n của Bạch Vương: White King�.� Ai c� thể đ� l� vị vua thần thoại n�y th� kh�ng được ghi ch�p, nhưng một ng�i mộ cổ xưa v� to lớn, bị x�m phạm từ l�u, tr�n sườn rặng Ts�ang Shan gần th�nh phố Đại L� được t�n thờ ở địa phương như ng�i mộ của Bạch Vương.� N� c� vẻ như một ng�i mộ của một trong c�c vị vua của Nam Chiếu th� đ�ng hơn, v� Bạch Vương thần thoại c� lẽ l� sự ghi nhớ của d�n gian về một trong c�c vị vua chiến sĩ của Nam Chiếu.� C� vẻ kh� r� r�ng rằng c�c nh� l�nh đạo của Nam Chiếu, v� c� lẽ c�c m�n đệ của họ, l� người T�ai, nhưng c�n nhiều ngờ vực rằng liệu sắc d�n Bạch theo c�c phong tục v� ng�n ngữ c�n sống s�t của họ lại c� thể được xếp loại như d�n T�ai hay kh�ng.

���� V�n Nam ng�y nay, giống như trong qu� khứ, l� một mảnh chắp v� phức tạp của những người m� giờ đ�y được gọi l� �c�c d�n tộc �t người� � hay c�c bộ tộc trước đ�y � thuộc nhiều tr�nh độ văn h�a kh�c nhau.� D�n Bạch trong bản chất l� một sắc d�n trồng l�a gạo; họ cư ngụ kh�ng chỉ ở đồng bằng Đại L� m� c�n ở cả c�c thung lũng ph�a bắc xa m�i đến tại vung s�ng Dương Tử tr�n cao, nhưng Đại L� l� trung t�m thực sự của họ.� Ở ph�a nam, chỉ qu� Hạ Quan v�i dặm, c�c sắc d�n kh�c chiếm cư đất đai.� Bởi thế vương quốc Nam Chiếu kh�ng bao l�u đ� s�p nhập to�n thể V�n Nam v� vượt ra ngo�i bi�n giới của tỉnh hạt hiện tại kh�ng thể được m� tả như một vương quốc d�n Th�i (T�ai), trong � nghĩa rằng vương quốc sau n�y tại ch�nh nước Th�i Lan, v� tại L�o l� Th�i trong th�nh phần chủng tộc của d�n số của họ.� Nam Chiếu l� một vương quốc được cai trị bởi một gia tộc c� gốc người Th�i, được hỗ trợ, c� lẽ, bởi một tầng lớp cai trị thuộc c�ng giống d�n, nhưng cai quản một loạt nhiều sắc d�n kh�c biệt kể cả, khi họ tăng trưởng mạnh hơn, nhiều quận huyện trong đ� khu định cư Trung Hoa đ� b�m rễ.� T�nh chất n�y ph�n biệt Nam Chiếu một c�ch rất kh�c biệt với Việt Nam ở phương nam.� Tại Việt Nam, người Trung Hoa đ� cai trị một d�n tộc duy nhất, được cư tr� ven bi�n, thực sự, bởi c�c bộ tộc miền n�i, những c�c bộ tộc n�y l� ngoại vi v� kh� được mang đặt dưới sự quản trị trực tiếp.� Khi Việt Nam vứt bỏ �ch cai trị của Trung Hoa, người Việt trở th�nh chủng tộc chế ngự v� cai trị c�c bộ lạc như c�c chư hầu thụ phong.

���� Tuy nhi�n, tại Nam Chiếu đ� kh�ng c� sắc d�n chế ngự được trải rộng hay thu gọn.� Sắc d�n Bạch tại Đại L� ngay khi đ� c� thể đ�ng đảo, nhưng khu vực của họ bị giới hạn v� chỉ tạo th�nh một phần nhỏ của V�n Nam.� Người Miao (M�o) th� rải r�c dọc theo nhiều rặng n�i; người Na Khi được t�m thấy quanh s�ng Lichiang (Li Giang) ở ph�a bắc, nhưng kh�ng ở nơi n�o kh�c, v� cứ thế danh s�ch c� thể được tiếp tục; nhiều d�n tộc nhỏ hơn hay lớn hơn chiếm cứ c�c thung lũng v� đ�ng bằng cạnh hồ nước ph� nhi�u t�ch biệt, bị ph�n c�ch xa nnhau bởi c�c rặng n�i hoang dại được cư tr�, nếu c�, bởi c�c bộ tộc k�m tiến bộ chẳng hạn như sắc d�n Liu.� Sự ph�n t�n n�y đ� l� một trợ lực cho sự th�nh lập một chế độ qu�n chủ được đặt nền m�ng vững chắc tại một địa điểm chiến lược, nhưng lại l� một trở ngại ch� tử cho sự tiến h�a của một d�n tộc� N� ch�nh l� c� t�nh d�n tộc của giống d�n Việt cổ của Việt nam m� ngay d� cả một ngh�n năm dưới sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa đ� kh�ng thể ph� vỡ được; ch�nh sự thiếu vắng bất kỳ c� t�nh d�n tộc n�o như thế tại V�n Nam đ� gi�p cho sự sống s�t tối hậu của một vương quốc tranh đấu v� mạnh mẽ như Nam Chiếu, vốn đ� tồn tại trong s�u trăm năm, l� điều bất khả thi khi đối diện với sự cố kết v� sức mạnh của Trung Hoa.� Người Việt Nam, ngay khi độc lập, tiếp tục nằm dưới ảnh hưởng văn h�a Trung Hoa mạnh mẽ, nhưng từ chối kh�ng chấp nhận sự kiểm so�t ch�nh trị.� C�c d�n tộc của V�n Nam kh�ng bị ảnh hưởng s�u như thế bởi văn minh Trung Hoa, v� vẫn c� một số bộ phận chưa bị đụng chạm bởi n�, nhưng họ đ� kh�ng thể duy tr� được nền độc lập v� kết th�c với việc bị s�p nhập to�n bộ v�o đế quốc Trung Hoa.

Thật l� một sự mỉa mai của lịch sử rằng Nam Chiếu, nước sẽ l�,� trong một thời gian l�u d�i,.trở ngại ch�nh yếu cho sự nới rộng thẩm quyền v� ảnh hưởng của Trung Hoa tại phương nam, lại đ� được hỗ trợ bởi ch�nh đế quốc Trung Hoa.� Vương quốc được cổ vũ trong những năm ban sơ của triều đại nh� Đường để hợp nhất S�u Chiếu� trước đ�y v� thiết lập kinh đ� của n� tại Đại L� (năm 629) vẫn c�n được nh�n như kẻ thừa kế c�c quốc gia b� nhỏ vốn nhận được sự bảo trợ của nh� H�n bốn trăm năm trước.� Nam Chiếu c� vẻ ban đầu chấp nhận vai tr� n�y.� Năm 647, n� thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, v� vương quốc được tr�nh b�y ch�nh thức như �Khu Hạt hay Quận Huyện Minh: Department of Ming� nằm trong tỉnh miền nam to rộng mới lập l� Chien nan.� Nh� Đường đ� b�i bỏ hệ thống Đ� Hộ Phủ nh� H�n cổ bằng một hệ thống mới, trong đ� c�c h�nh thức quan trọng của n� vẫn c�n tồn tại đến ng�y nay, l� Tao [Đạo?] (sau n�y l� sheng [?]), tức c�c tỉnh c� diện t�ch lớn.� Chien Nan l� tỉnh thuộc miền t�y v� t�y nam, bao gồm tất cả ph�a t�y của Tứ Xuy�n nằm ở ph�a nam bi�n giới ng�y nay với tỉnh Cam T�c, v� c�c phần của V�n Nam v� Qu� Ch�u như nh� Đường tuy�n nhận hay quản trị.� C�c quan hệ giữa nh� vua Nam Chiếu v� c�c vị ho�ng đế ban đầu của nh� Đường th� tốt đẹp.� C�c sứ giả đi v� đến, v� c�c ho�ng tử con c�c nh� vua đến Tr�ng An (Ch�angan) để thăm viếng hay học tập.� Điều cần phải ghi nhớ rằng v�o thời điểm n�y, đế quốc nh� Đường đang ở ch�nh tột đỉnh quyền lực của n�.� Ho�ng đế Th�i T�ng vĩ đại, người th�nh lập triều đại thực sự, đ� kh�ng chết cho đến năm 649 v� thời gian trị v� l�u d�i của người thực sự thừa kế của �ng, Ho�ng Hậu họ V� [Tắc Thi�n, ND], hay sự chế ngự của b� trong ch�nh quyền, k�o d�i trong nửa thế kỷ cho đến năm 705, đ� bảo đảm cho trật tự v� quyền lực li�n tục.� Thời đại của người ch�u trai của b�, Huuan Tsung (Huyền T�ng) (hay [Đường] Minh Ho�ng (Ming Huang), vị �Ho�ng Đế Ch�i S�ng�) nổi tiếng nhất với hồi kết cuộc bi thảm, trong sự x�o trộn của cuộc nổi dậy của An Lộc Son (An Lu-shan) (755), �nhưng ch�nh trong gần nửa thế kỷ đ� một thời đại vinh quang trong đ� văn minh Trung Hoa s�ng ch�i với một sự huy ho�ng chưa hề s�nh được.

Đ�y kh�ng phải l� c�c t�nh huống dưới đ� một quốc gia phương nam tương đối nhỏ b� lại đi th�ch đố một c�ch kh�n ngoan quyền chủ tể của Trung Hoa.� Nh� vua P�i-lo-ko của Nam Chiếu l� một nh� l�nh đạo c� khả năng.� �ng ta đ� sử dụng li�n minh v� quyền chủ tể của nh� Đường để củng cố quyền lực của m�nh tại miền t�y V�n Nam, v� điề� n�y chấp nhận được đối với c�c vị tổng đốc tỉnh Chien Nan nh� Đường l� những kẻ kh�ng muốn thấy c�c sự rắc rối ở bi�n giới.� �ng đ� mời năm thủ lĩnh cạnh tranh của �ng, c�c �ng ho�ng tại Menghua, Paoshan, Chiench�uan, Mitu v� Tengch�uan, tất cả đều l� c�c th�nh phố thuộc miền t�y V�n Nam, đến dự buổi tiệc tại kinh đ� mới của �ng, Đại L�.� Bữa tiệc n�y được tổ chức tại một ng�i ch�a, hay một kiến tr�c hai tầng, v� khi đ�m tiệc đ� ăn uống đầy đủ v� phần n�o say rượu, Nh� Vua r�t lui, để c�c kh�ch của �ng ở lại.� Tầng dưới t�a nh� vốn đ� chất đầy cỏ v� rơm, khi đ� được ch�m lửa, tất cả c�c �ng ho�ng đều bị chết ch�y.� Một thần thoại Đại L� kể rằng �ng Ho�ng của Tengch�uan c� nghi ngờ về lời mời n�y, nhưng sau c�ng c� đến dự buổi họp mặt, mang theo một v�ng đeo tay bằng sắt trao cho �ng bởi người vợ, c� lẽ như một loại b�a ch�.� Sau bi kịch, c�c b� vợ của c�c �ng ho�ng bị chết đ�n để nhận x�c về ch�n cất.� Chỉ c� b� Ho�ng của Tengch�uan l� c� thể nhận ra thi thể ch�y th�nh than của chồng b� nhờ v�ng tay bằng sắt m� �ng vẫn đeo.� Người Đại L� đ� mở một lễ hội về biến cố bi thảm n�y.� Một ng�i đền thờ nhỏ đ�nh dấu địa điểm ng�i ch�a l�m chết người, v� v�o ng�y 24 của th�ng S�u (khoảng 30 Th�ng Bảy [Dương Lịch] c�c phụ nữ của Đại L� đ� nhuộm đỏ m�ng tay của họ để tưởng nhớ sự kiện rằng b� Ho�ng xứ Tengch�uan bị phỏng ng�n tay khi thu h�i lại chiếc v�ng bằng sắt.� C� c�c buổi lễ kh�c kể cả việc đốt một đống cỏ rơm lớn, để tượng trưng cho ng�i ch�a, v� một vở kịch được tr�nh diễn c� vẻ l� nguy�n bản địa phương thuần t�y dựa tr�n c�u chuyện về sự t�n s�t.� Một c�ch kỳ lạ buổi lễ n�y v� c�c dị đoan li�n hệ của n� l� một trong số rất �t điều theo đ� người d�n Đại L� hiện nay nhắc nhở về lịch sử của họ trong thời Nam Chiếu, mặc d� điều c� thể hiểu r� rằng Nh� Vua P�i-lo-ko kh� lấy l�m thật h�i l�ng để thấy chiến c�ng đặc biệt n�y được vĩnh cửu h�a trong tr� nhớ d�n gian.

Năm 738, �ng mở rộng vương quốc của m�nh bằng c�ch giảm bớt c�c bộ tộc ở phương bắc, c�c người T�y Tạng (T�ufan) v� Lolo (hay Nosu) l� c�c kẻ tr� ngụ tại thung lũng s�ng Dương Tử tr�n cao v� c�c quận huyện l�n cận.� C�c bộ tộc n�y đ� từng l� mối phiền nhiễu đối với Triều Đ�nh nh� Đường, hay đột k�ch bi�n giới; h�nh động của P�i-lo-ko được đ�n nhận, v� �ng ta đ� được tưởng thưởng với c�c tước phong mới, kể cả tước �V�n Nam Vương� � một trong c�c sự sử dụng sớm nhất của danh hiệu ng�y nay cho một v�ng rộng lớn của tỉnh.� Trong thời nh� H�n, n� chỉ được �p dụng cho huyện C�n Minh.� Năm 742 ch�u nội nh� vua Nam Chiếu đi đến kinh đ� Trung Hoa, Tr�ng An, đ� được tiếp kiến v� kết h�n với một c�ng ch�a đế triều.� Cuộc thăm viếng của Ho�ng Tử Feng-chia-yi tượng trưng cho cao điểm của c�c quan hệ th�n thiện giữa nh� Đường v� Nam Chiếu; kh�ng bao l�u một sự thay đổi ch� tử đ� l�m biến đổi t�nh th�n thiện trước đ�y th�nh một sự th� hận l�u d�i.� Ho�ng Đế Hsuan Tsung trở n�n gi� l�o; lịch sử thời trị v� của �ng x�c nhận việc �ng mất sự ph�n đo�n v� kiểm so�t trong c�c năm th�ng n�y � thường v� ưa bị g�n cho ảnh hưởng của n�ng hầu sủng �i của �ng, Dương Qu� Phi, một trong những mỹ nh�n nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa.� C� lẽ đ�ng kể hơn l� ảnh hưởng v� quyền lực lớn lao của người anh của b� ta, Yang Kuo-cheng, đại thần đầu triều v� c�c th�i gi�m trong Triều.� Nh� Vua P�i-ko-lo được thừa kế bởi con trai, Ko-lo-feng.� Những t�n họ n�y y như người Trung Hoa đ� ghi ch�ng, v� kh�ng phải H�n tự trong sự cấu tạo, nhưng tượng trưng một c�ch r� r�ng c�c từ ba vần (ba �m tiết) trong ng�n ngữ T�ai.� H�nh thức H�n tự b�n ngo�i của ch�ng kh�ng c� nghĩa rằng tiến tr�nh H�n h�a chưa đạt đến giai đoạn khi m� danh t�nh Trung Hoa thay thế cho từ ngữ bản xứ.� Tiếng Trung Hoa chỉ c� thể (hay ở thời điểm đ� chỉ c� thể) được viết bằng thứ chữ biểu � Trung Hoa, v� điều cần l�m phải lựa chọn từ ngữ c� �m tương tự với �m của c�c từ ngữ ngoại quốc được k� �m.� C�ch ph�t �m H�n tự thời nh� Đường giống với tiếng Quảng Đ�ng hiện đại hơn l� tiếng Quan Thoại (Mandarin) hiện đại v� �m của c�c danh t�nh Nam Chiếu n�y phần lớn kh�ng giống với �m tương đương hiện đại.

Trong năm 750, Nh� Vua Ko-lo-feng du h�nh ngang qua V�n Nam để đến thăm viếng vị ph� vương kinh lược Trung Hoa của tỉnh Chien nan, chắc chắn để tiếp nhận sự x�c nhận việc thừa kế ng�i vua của �ng.� Tr�n đường trở về, �ng bị quấy rầy bởi c�c đ�i hỏi tống tiền bởi một quan chức Trung Hoa địa phương, v� khi �ng khiếu nại l�n Tr�ng An, c�c sự trần t�nh của kh�ng được đếm xi/a tới.� �ng lập lại lời khiếu nại, ph�i một sứ bộ quan trọng hơn để mang theo c�c sự ph�n n�n của �ng.� Một lần nữa, ch�ng kh�ng được ng� ng�ng tới, như được n�i rằng v� c�c lời khiếu nại kh�ng bao giờ được tấu tr�nh l�n vị ho�ng đế gi� cả bởi c�c th�i gi�m qu� e ngại cho ch�nh họ, một khi c�c vụ tiống tiền c� nguy cơ bị ph�t gi�c.� Nh� Vua Ko-lo-feng sau đ� đ� dựng l�n một đội qu�n v� tấn c�ng c�c quận huyện do nh� Đường cai trị l�n cận tại miền đ�ng V�n Nam v� miền t�y Qu� Ch�u (nơi m� sự cai trị của nh� Đường chỉ c� tr�n danh nghĩa).� C�c quan chức cấp tỉnh nh� Đường khi đ� đ� lập ra một đ�i qu�n 80,000 người để trấn �p kẻ �nổi loạn�. Ko=lo-feng, kinh hoảng trước c�c hậu quả n�y, lại gửi c�c sứ bộ đến Tr�ng An, nhưng mục đ�ch của ch�ng, l� để xin lỗi v� giải th�ch, kh�ng bao giờ được ph�p đến được sự hay biết của Ho�ng Đế.� Đội qu�n Trung Hoa đi tới v�ng phụ cận của Hạ Quan, cửa ng� ph�a nam tiến v�o đồng bằng Đại L�.� Ở đ� n� đ� đụng độ v� bị đ�nh bại bởi c�c lực lượng của Nam Chiếu (năm 751).� Điều được tường thuật l� 60,000 binh sĩ nh� Đường bị hạ s�t, bao v�y v� chiến đấu đến chết.� Một g� đất lớn vẫn c�n được chỉ cho c�c kh�ch lữ h�nh như để đ�nh dấu ng�i mộ tập thể của họ.� Trận đ�nh h�y c�n được ghi nhớ bởi người d�n Đại L� v� trong quận.� Một đền thờ nhỏ được dựng tr�n sườn n�i, b�n tr�n g� mộ c�c binh sĩ nh� Đường, v� được d�nh để thờ Li Ming, vị tướng nh� Đường đ� hy sinh t�nh mạng trong đại họa n�y.� Bức tượng của �ng đặt tr�n b�n thờ, v� trong năm 1938, khi tin tức sau c�ng đ� tới được Đại L� rằng Nam Kinh đ� thất thủ trước qu�n x�m lăng Nhật Bản, điều được loan b�o rằng c�nh tay phải của Tướng Qu�n Li Ming bắt đầu rỉ m�u.� Kh�ch h�nh hương từ c�c nơi xa x�i bị thu h�t đến xem điều kỳ diệu, thường được giải th�ch như một điềm rất xấu.

Người Trung Hoa kh�ng chấp nhận trận đ�nh ở Hạ Quan l� chung cuộc; trong năm 754 một đội qu�n khổng lồ kh�c đ� được l�p l�n, lần n�y toan t�nh x�m lăng v�ng Đại L� từ hướng đ�ng bắc, nhưng n� cũng đụng độ v� bị đuổi chạy tại thung lũng Tengch�uan, một trong những con s�ng chảy theo hướng nam đổ v�o hồ Đại L�.� Sự thất trận bị che dấu đối với ho�ng đế, kẻ trong thực tế bị đ�nh lừa để tin tưởng rằng đ� c� một sự chiến thắng.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, Ho�ng Đế Hsuan Tsung sớm c� nhiều lo �u th�c b�ch hơn l� việc kh�ng c� sự th�nh c�ng tại một bi�n giới xa x�i.� Cuộc nổi loạn lớn lao của An Lộc Sơn đ� b�ng nổ trong năm 755 v� trong mười năm, sau khi đ� chiếm giữ ch�nh kinh đ� v� đ�nh đuổi vị ho�ng đế gi� nua phải chạy trốn về Tứ Xuy�n, đ� t�n ph� khắp miền bắc Trung Hoa.� Khi sau c�ng n� đ� được trấn �p, Ho�ng Đế Huyền T�ng đ� tho�i vị, v� người thừa kế �ng, kh�i phục một c�ch đau khổ thẩm quyền tại miền bắc, v� rằng một c�ch bất t�an, đ� kh�ng c� đủ t�i nguy�n đề d�nh cho c�c cuộc chiến tranh tại miền t�y nam xa x�i.� Nam Chiếu đ� lợi dụng bởi cuộc nổi loạn để củng cố chiến thắng của n�.� Li�n minh với người T�y Tạng, n� đ� thực hiện c�c cuộc đột k�ch v� đột nhập v�o l�nh thổ nh� Đường đ� mở rộng một c�ch rộng lớn l�nh địa của Nam Chiếu.� Ở ph�a t�y, Ko-lo-feng, giờ đ�y nhận thức rằng sự c�i cọ của �ng với nh� Đường kh� c� thể kết th�c mau lẹ, đ� hướng sự ch� � của �ng v�o việc khai mở con đường kh�c để tiếp x�c với thế giới b�n ngo�i vương quốc của �ng.� Trong c�c năm từ 757 đến 763, �ng đ� x�m lăng Miến Điện v� chinh phục c�c v�ng đất ph� nhi�u của thung lũng miền thượng lưu s�ng Irrawaddy.� Cuộc chinh phục n�y c� ảnh hưởng đến việc tan r� của vương quốc ban sơ Pyu, tại miền Hạ Miến, v� sau hết, đ� gi�p cho c�c cuộc đột nhập của người Miến Điện trở n�n khả thi, v�, xem ra, cho sự ti�u diệt phần n�o to�n bộ c�c cư d�n nguy�n thủy thuộc chủng tộc Mon.

Nam Chiếu giờ đ�y l� một quyền lực phải được ước t�nh tới, v� bởi triều đại nh� Đừng kh�ng bao giờ hồi phục ho�n t�an từ c�c ảnh hưởng của cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, n� kh�ng bao giờ c� thể nghĩ đến sự t�i chinh phục V�n Nam.� Ngược lại, vương quốc Nam Chiếu tiếp tục c�c cuộc x�m lấn của n� v�o đế quốc suy yếu trong nguy�n một thế kỷ, chỉ với c�c khoảng c�ch h�a b�nh ngắn ngủi.� Trong những năm tiếp theo sau sự kết th�c cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn (763), c�c đội qu�n của Nam Chiếu nhiều lần x�m nhập Tứ Xuy�n trong sự li�n minh vơi người T�y Tạng l� những kẻ khi đ� l� một d�n tộc t�ch cực v� tạo bạo thường xuy�n đột k�ch bi�n giới Trung Hoa v� c�n x�m nhập s�u v�o c�c tỉnh.� Phần lớn miền nam Tứ Xuy�n bị s�p nhập v�o vương quốc Nam Chiếu trong c�c năm n�y.� H�a b�nh được thiết lập trong một l�c năm 793, khi Nam Chiếu thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, đ� gửi cống phẩm tượng trưng, nhưng giữ lại nền độc lập thực sự của n�.� C�c sự thất bại gần đ� trong c�c chiến dịch tại Tứ Xuy�n c� thể đ� xui khiến nh� vua Nam Chiếu thực hiện cử chỉ n�y, nhưng cũng l� bởi sự kiện rằng c�ch thức Trung Hoa v�o thời đại đ� (v� của nhiều thời kỳ sau n�y) đ� kh�ng nh�n nhận bất kỳ mối quan hệ n�o giữa Trung Hoa với một vương quốc l�ng giềng kh�c hơn mối quan hệ của quy chế chủ tể - triều cống.� Cống phẩm c� thể nhỏ, hay k�m trị gi� hơn nhiều c�c tặng phẩm m� ho�ng đế Trung Hoa ban tặng để bồi đ�p, nhưng sự thừa nhận quyền chủ tể l� thiết y�u.

Sau một thế hệ h�a b�nh tương đối, Nam Chiếu đ� t�i lập ch�nh s�ch hiếu chiến của n� v�o năm 829 với một cuộc x�m lăng v�o Tứ Xuy�n, thực sự đ� diễn ra tại tỉnh lỵ của n�, Th�nh Đ� (Ch�engtu), v� đ� vươn tới c�c phần ph�a bắc của tỉnh n�y.� Dĩ nhi�n, Tứ Xuy�n cho đến giờ l� cuộc chinh phục đ�ng mong ước nhất trong phạm vi quyền lực của Nam Chiếu.� N� l� một tỉnh với sự phong ph� v� c�ng lớn lao, một c�nh đ�ng l�a m�nh m�ng, v� c�c khu định cư rất gần cận.� Cuộc chinh phục vĩnh viễn Tứ Xuy�n sẽ tạo ra một quyền lực mới vĩ đại tại t�y nam, c� thể kh�ng bao giờ lại phải chịu thần phục trước c�c triều đại thống trị ở bắc Trung Hoa.� Giao tranh �t nhiều li�n tục diễn ra để quyết định số phận của tỉnh n�y m�i cho đến năm 873 khi một cuộc x�m lăng lớn lao của Nam Chiếu bị đ�nh bại v� đẩy lui ra khỏi tỉnh sau khi mở cuộc bao v�y Th�nh Đ� v� c�c th�nh phố quan trọng kh�c.� C�ng l�c, v� để đ�nh v�o cạnh sườn c�c sự ph�ng thủ của Tứ Xuy�n, Nam Chiếu đ� nhiều lần tấn c�ng c�c phần do Trung Hoa chiếm giữ tại miền đ�ng Qu� Ch�u v� miền t�y Hồ Nam, chiếm cứ v� s�p nhập nhiều huyện nằm trong phạm vi vương quốc.� Trung Hoa khi đ� cai trị phần giờ đ�y l� Bắc Việt Nam, ch�u thổ s�ng Hồng, v� tỉnh n�y cũng bị x�m lăng bởi Nam Chiếu ba lần, giữa c�c năm 861 v� 866, chỉ c� cuộc x�m lăng cuối l� đ� bị đ�nh bại một c�ch r� rệt.� Trong khi c�c cuộc x�m lăng phương nam n�y đang tiến h�nh, c�c đội qu�n của Nam Chiếu đ� x�m nhập v�o miền t�y tỉnh Quảng t�y, để cắt đứt người Trung Hoa tại An Nam (Bắc Việt Nam) khỏi sự ttruyền th�ng trực tiếp với qu� hương của họ.

Sự thất trận của cuộc x�m lăng lớn lao sau c�ng v�o Tứ Xuy�n trong năm 879 v� v�o An nam �t năm trước đ� đ� đ�nh dấu sự suy giảm của chủ nghĩa qu�n phiệt x�m lấn của Nam Chiếu. N� diễn ra đ�ng l� qu� sớm để đạt được một sự th�nh c�ng k�o d�i.� Từ năm 868 khi cuộc nổi loạn to lớn của Ho�ng S�o (Huang Tsao) l�m lung lay triều đại nh� Đường đang suy t�n v� mở m�n cho một thời kỳ ba mươi năm của sự hỗn loạn v� nội chiến s�u xa, kết th�c trong sự sụp đổ của đế quốc trung ương tập quyền v� của ch�nh triều đại nh� Đường, một cơ hội được mang đến sẽ, sớm hơn một hay chưa đầy một thế kỷ, đưa đến một sự chinh phục của Nam Chiếu phần lớn miền nam Trung Hoa.� Cuộc nổi loạn v� hậu quả của c�c cuộc nội chiến của n� giữa c�c vị tổng đốc bề ngo�i trung th�nh, hay phản loạn, đối với một Triều Đ�nh bất lực, đ� l� một sự khai th�ng sẽ c� thể bị khai th�c với sự chống đối tối thiểu.� Với sự sụp đổ của nh� Đường, miền nam Trung Hoa sắp bị chia cắt trong năm mươi năm th�nh một số quốc gia, tất cả đều tuy�n nhận l� �đế quốc�, nhưng trong thực tế, chỉ cai trị chỉ một v� nhiều nhất hai tỉnh.� Song trong thời đại ph�n h�a v� suy yếu n�y, Trung Hoa lại được miễn nhiễm khỏi c�c cuộc tấn c�ng của Nam Chiếu nhiều hơn trước đ�.� Điều được nhận thấy rằng trong thời kỳ n�y Việt Nam đ� vứt bỏ �ch thống trị của Trung Hoa, vốn đ� sẵn bị suy yếu nghi�m trọng bởi cuộc nổi loạn của đ�i qu�n Trung Hoa tại bi�n giới Nam Chiếu � An Nam, một cuộc nổi loạn đ� mở m�n cho cuộc nổi lọan to lớn của Hi�ang S�o.� Nhưng Nam Chiếu kh�ng lợi dụng ưu thế để đẩy mạnh c�c sự tuy�n x�c của n� tại nước Việt Nam giờ đ�y độc lập, hay kh�ng quấy ph� c�c nh� vua địa phương nổi dậy tại miền nam Trung Hoa sau khi c� sự sụp đổ của nh� Đường.

Trong những năm tại họa cuối c�ng của nh� Đường, đ� c� h�a b�nh giữa vương quốc v� đế quốc đang suy sụp.� Một c�ng ch�a Trung Hoa được t�m kiếm v� kết h�n với Nh� Vua ngay đến tận năm 881 v� trong năm 924, Nam Chiếu đ� t�m c�ch li�n minh v� t�nh hữu nghị với vương quốc thừa kế của nh� Nam H�n, được thiết lập tại Quảng Ch�u.� C� vẻ v� đ� quyết đo�n v�o cuối thế kỷ thứ chin rằng Trung Hoa th� qu� h�ng mạnh khiến cho một cuộc chinh phục vĩnh viễn v�o Tứ Xuy�n th�nh một dự �n� [bất ?] khả thi, trong thế kỷ thứ mười Nam Chiếu h�i l�ng để ngắm nh�n sự tan vỡ của đế quốc nh� Đường trong sự bảo đảm rằng sự đe dọa kh�c nữa cho nền độc lập của n� kh�ng thể ph�t sinh từ Trung Hoa khi m� t�nh trạng n�y tồn tục.� C�c kh� khăn nội bộ cũng quấy rầy ch�nh Nam Chiếu, v� c�c việc n�y xem ra c� căn nguy�n từ c�c sự bất đồng giữa d�n số Trung Hoa đ�ng đảo bị chinh phục , hay c�c d�n số h�a nhập trọn vẹn hơn v�o văn h�a Tru ng Hoa, với c�c phần tử phi Trung Hoa nhiều d�n tộc t�nh hơn, tại c�c phần miền t�y trước đ�y của vương quốc.� Sự chiếm giữ hơn nữa c�c miền hay quận Trung Hoa v�o một thời điểm như thế chỉ l�m gia tăng c�c kh� khăn n�y, v� nhận định n�y c� thể đ� đ�ng một vai tr� quan trọng trong th�i độ h�a b�nh hơn m� Nam Chiếu giờ đ�y kho�c l�n m�nh.

Điều chưa r� rệt, hay n� sẽ c�n l� như thế trong rất nhiều năm, rằng giới hạn đặt tr�n sự b�nh trướng của Nam Chiếu sau ch�t dẫn tới sự thu nhỏ v� chung cuộc đến sự loại trừ nền độc lập.� Kh�ng giống như Việt Nam, nước đ� c� thể v� đ� b�nh trướng v�o miền nam gần như trống kh�ng của xứ sở hiện đại, sau khi đ� khắc phục nước Ch�m tương đối yếu, Nam Chiếu chỉ c� thể b�nh trướng với sự tổn thất của Trung Hoa.� Sự chinh phục v�ng Thượng Miến th� kh� khăn để duy tr�; kh� hậu bất lợi cho một đội qu�n V�n Nam, v� c�c sự truyền th�ng giữa cao nguy�n v� thung lũng s�ng Irrawaddy l� một trong c�c c�ng việc tồi tệ nhất tr�n thế giới.� Để d�nh được sức mạnh thực sự vượt qu� c�c đồng bằng l�a gạo chật hẹp v� c�c thung lũng của V�n Nam, ph�n c�ch như ch�ng bị ph�n c�ch bởi c�c dải n�i non trống kh�ng to lớn, Nam Chiếu phải chiếm đ�ng thường trực v� khi đ� phải thực d�n h�a v� đồng h�a trọn vẹn một khu vực thực sự gi�u c� với d�n số đ�ng đảo.� C�c miền Tứ Xuy�n v� Hồ Nam đều như thế, nhưng tỉnh kể trước th� gần cận với sức mạnh chủ yếu của bất kỳ quyền lực n�o cai trị miền bắc Trung Hoa, v� miền kể sau bị ngăn c�ch với V�n Nam bởi tỉnh Qu� Ch�u nhiều n�i đồi v� ngh�o k�m.� Khi nh�n c�c kh� khăn sẽ phải khắc phục trong c�c chiến dịch được thực hiện bởi Nam Chiếu chống lại nh� Đường, sự th�nh c�ng của họ l� điều đ�ng ngạc nhi�n, v� sự thất bại sau ch�t để củng cố n� l� điều được ước định.� Nam Chiếu, ở thời đại đ�, đối diện với một đế quốc Trung Hoa tan r�, đế quốc m� sự ph�n ly c� thể tồn tục trong nhiều năm, h�y c�n được chứng minh l� chung quyết � kh�ng ai c� thể n�i g� được � c� thể tin tưởng rằng n� được miễn nhiễm v� c� thể trở n�n được thiết lập một c�ch vững chắc trong miền m� n� đ� s�p nhập trọn vẹn.

Khu vực của vương quốc trong thực tế th� rộng lớn v�o l�c c� sự kết th�c c�c cuộc chiến tranh với nh� Đường.� N� bao gồm tất cả v�ng V�n Nam, một phần v�ng Thượng Miến, phần tỉnh Tứ Xuy�n nằm ph�a nam s�ng Dương Tử, nửa phần ph�a t�y của Qu� Ch�u, một phần nhỏ ph�a t�y tỉnh Hồ Nam, v� một số c�c huyện bi�n giới của phần giờ đ�y l� tỉnh Quảng t�y.� Một vương quốc rộng lớn, nhưng vẫn mới chỉ c� k�ch thước bằng của một trong mười tỉnh Trung Hoa to lớn tr�n đ� nh� Đường đ� tổ chức th�nh đế quốc của họ.� Hơn nữa, phần lớn l�nh thổ n�y hoặc kh�ng c� người ở hay l� nơi cư ngụ của c�c bộ tộc chậm tiến bộ hơn nh�m d�n Nam Chiếu thống trị hay c�c người định cư Trung Hoa m� họ đ� chinh phục.� Năm mươi năm sau n�y, v�o khoảng ni�n đại c� sự th�nh lập của triều đại nh� Tống ở Trung Hoa, Nam Chiếu đ� mất sự kiểm so�t hữu hiệu tr�n c�c bộ tộc tại Qu� Ch�u, v� ch�nh v� thế, đ�nh mất c�c huyện tại Hồ Nam; v� hơn thế, đ� từ bỏ miền nam V�n Nam cho c�c cư d�n bộ tộc của n� v� rời khỏi thung lũng s�ng Irrawaddy.� C�c l�nh thổ n�y khi đ� kh�ng quay trở lại về Trung Hoa; ch�ng chỉ đơn thuần rơi lại v�o c�c sự ph�n chia nhiều bộ tộc m� Nh� Vua Ko-lo-feng v� c�c kẻ thừa kế �ng đ� trấn �p một c�ch dữ d�i.

Lịch sử của Việt Nam v� của Nam Chiếu ch�nh v� thế trong một số đường hướng, chạy song h�nh với nhau, sau đ� đ� ph�n kỳ.� Cả hai đều mang nợ văn h�a đầu ti�n của ch�ng nơi sự chinh phục của Triung Hoa; cả hai đều th�nh c�ng trong việc trục xuất thẩm quyền Trung Hoa, trong khi giữ lại văn h�a; Nam Chiếu d�nh đạt được sự độc lập n�y hai thế kỷ trước khi Việt Nam l�m được như thế.� Nhưng một khi tho�t ra khỏi sự thống trị của Trung Hoa, người Việt Nam đ� khởi sự cuộc �Nam Tiến� nhằm mở rộng xứ sở của họ tr�n căn bản tồn tục của sự định cư v� di d�n, ngay cả khi sự thống nhất về ch�nh trị c�n suy yếu.� Họ đ� kh�ng t�m kiếm đất đai từ Trung Hoa; kh�ng l�c n�o trong lịch sử m� một nh� cai trị Việt Nam lại t�m c�ch lợi dụng từ sự suy yếu diễn ra tại Trung Hoa để x�m lăng đế quốc.� Nam Chiếu đ� l�m đ�ng điều ngược lai.� Đ� kh�ng c� sự nam tiến, bởi kh�ng c� v�ng đất nhiều c�m dỗ nhưng hầu như trống kh�ng để chiếm cứ.� Sự. b�nh trướng phải mở v�o Trung Họa c� nghĩa đối đầu với một quyền lực m� ngay khi đang suy giảm cũng vẫn c�n rất đ�ng sợ, v� một khi t�i thống nhất sẽ kh�ng thể kh�ng cự được.� Nam Chiếu đ� thiết lập một tiếng tăm chết người của việc trở th�nh một mối đe dọa tiềm ẩn cho sự thống nhất của đế quốc Trung Hoa; Việt Nam đ� thiết lập một tiếng tăm v� hại của việc quan t�m đến sự b�nh trướng về phương nam, c�ch xa khỏi Trung Hoa, nhưng mang theo văn h�a Trung Hoa � v� quyền chủ tể tượng trưng � c�ng với n�.� Nam Chiếu c� thể, v� đ�, chấp nhận văn h�a Trung Hoa gần như trọn vẹn như Việt Nam đương đại đ� l�m, nhưng n� đ� kh�ng c� c�ng c�c hậu quả.� Tại Việt Nam, n� đ� h�nh động như một l� do c� gi� trị cho ch�nh s�ch bất can thiệp sau n�y của Trung Hoa v�o quốc gia đ�, bởi Việt Nam kh�ng thể bị nh�n như một kẻ th� của đế quốc.� Tại Nam Chiếu, vốn l� một kẻ th� t�ch cực, văn h�a Trung Hoa cung cấp một l� do v� một phương c�ch để khắc phục kẻ th� v� sau hết s�p nhập vương quốc./-

----

Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, Chapter Three: Chinese Expansion By Land: Yunnan, c�c trang 39-59, New York & Washington: Preager Publishers, 1972. ����������������������

�� �

Ng� Bắc dịch

14/09/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009