C.P. FITZGERALD

 

SỰ B�NH TRƯỚNG CỦA TRUNG HOA

TR�N ĐẤT LIỀN: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

 

���� Việt Nam l� xứ sở mở rộng cửa nhất cho sự b�nh trướng v� chiếm đ�ng tr�n đất liền bởi người Trung Hoa.� Bi�n cương, mặc d� chạy dọc theo một rặng n�i, lại cung cấp nhiều hơn một cửa ải khả dĩ tiếp cận đuợc, v� bờ biển chỉ l� một sự nối d�i của bờ biển thuộc tỉnh Quảng Đ�ng, miền nam nước Trung Hoa.� Ch�u thổ s�ng Hồng, trung t�m của Bắc Việt, cũng l� đồng bằng ph� nhi�u to lớn nhất v� tốt nhất ở ph�a nam cửa s�ng Dương Tử.� Mọi t�nh huống xem ra đ� ph�n định rằng xứ sở l�n cận n�y sẽ trở n�n, v� tồn tại, như một phần của thế giới Trung Hoa, v� một phần li�n hợp của quốc gia Trung Hoa.� Trong nhiều thế kỷ điều n�y được xem như sẽ l� số phận của n�, v� đ� l� một chuyện c� thực.� Việt Nam đ� l� một tỉnh của Trung Hoa từ năm 111 trước C�ng Nguy�n cho đến năm 939, trong hơn một ngh�n năm.� Trong ngh�n năm kế tiếp, từ năm 939 cho đến ng�y nay, người Việt Nam, đ� d�nh đạt được nền độc lập của họ, đ� c� thể duy tr� sự tự chủ n�y với c�c sự gi�n đoạn ngắn ngủi � một cuộc t�i chinh phục của Trung Hoa từ 1407 đến 1427, v� sự cai trị của Ph�p từ cuối thế kỷ thứ mười chin cho đến năm 1946.� C�c nguy�n do tại sao một diễn tiến lịch sử hiển nhi�n đ� bị đảo ngược đ�ng được khảo s�t một c�ch kỹ lưỡng, bởi ch�ng soi s�ng v�o bản chất thực sự của sự tiếp x�c v� b�nh trướng của Trung Hoa v�o v�ng đất bi�n cương ph�a nam.

����

���� Trước ti�n cần phải nhận định rằng phần của Việt Nam trước đ�y lệ thuộc sự cai trị của Trung hoa chỉ v�o khoảng một phần ba xứ sở hiện nay, đồng bằng ch�u thổ s�ng Hồng v� b�nh nguy�n duy�n hải chạy dọc theo bờ biển của vịnh Bắc Việt [hay vịnh Đ�ng Kinh: Gulf of Tongking trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Phần giờ đ�y l� Trung Việt, v� trước ng�y độc lập được gọi bởi ch�nh quyền thực d�n Ph�p như xứ bảo hộ An Nam, chưa c� một thời kỳ l�u d�i n�o nằm dưới sự cai trị của Trung Hoa, v� khi đ� l� phần đất ph�a bắc của vương quốc Ch�m.� Miền nam Việt Nam đ� l� một phần của l�nh thổ Ch�m, v� xa hơn về ph�a nam, l� đất của Căm Bốt.� C�c t�n gọi ng�y nay phần lớn ph�t sinh từ thuật ngữ được d�ng dưới chế độ Ph�p v� kh�ng tương ứng hoặc l� với c�c danh xưng trong tiếng Việt hay gần s�t với c�c khu vực lịch sử. ��Đ�ng-Kinh: Tongking� l� c�ch gọi của người Ph�p, r�t ra từ danh xưng một cố đ�, ng�y nay l� th�nh phố H� N�i, được biết trong c�ch n�i th�ng dụng l� Tong King: Đ�ng Kinh (Hoa ngữ viết l� Tung Ching), c� nghĩa Kinh Đ� Ph�a Đ�ng.� An Nam, từ Hoa ngữ l� An Nan, l� một danh xưng được đặt cho miền bắc dưới sự cai trị của Trung Hoa thời nh� Đường, v� c� nghĩa �Ph�a Nam đ� được b�nh định: Pacified Sooth.�� Cochinchina, được d�ng để chỉ ph�a nam của phần ng�y nay l� Nam Việt Nam, l� một từ ngữ do ngoại quốc đặt ra, c� lẽ l� c� nguồn gốc từ ng�n ngữ Bồ Đ�o Nha.� N� kh�ng phải l� tiếng Việt.� Ch�nh danh xưng �Việt Nam� l� c�ch ph�t �m theo tiếng Việt c�c từ ngữ Trung Hoa Yueh Nan c� nghĩa �Việt phương nam: Yeuh South,� đất Việt ph�a nam, đ� ph�n biệt n� với c�c vương quốc v� khu vực Việt kh�c nằm dọc theo bở biển ph�a đ�ng nam của Trung Hoa.� Những phần đất n�y đ� được bao gồm trong thời cổ v�o nước Việt (Yueh Quốc) nay thuộc tỉnh Triết Giang, nằm s�t ph�a nam của ch�u thổ song Dương Tử; M�n Việt (Min Yueh), nay l� tỉnh Ph�c Kiến, v� Nam Việt (Nan Yueh hay Việt phương Nam), bao gồm tỉnh Quảng Đ�ng v� một phần tỉnh Quảng T�y với v�ng ch�u thổ s�ng Hồng thuộc Bắc Việt ng�y nay.� Khu vực sau c�ng n�y, l� phần cực nam của Nam Việt, được goi l� Việt Nam (Yueh Nan), �Việt phương Nam.�

 

���� D�n Việt ch�nh v� thế từ thủa xa xưa đ� d�n trải s�u rộng, dọc theo bờ biển ph�a đ�ng của � Ch�u, v� c� thể một trong những nh�nh của họ đ� l� một th�nh phần cấu th�nh d�n Nhật Bản sau n�y.� Sự chinh phục của Trung Hoa, từ thế kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n trở về sau n�y, đ� dần d� thu h�t d�n Việt phương bắc, cho tới năm 111 trước C�ng Nguy�n, H�n Vũ Đế đ� ch�nh phục vương quốc Nam Việt (Nan Yueh) to lớn ở ph�a nam, v� từ đ�, chiếm giữ v�ng ch�u thổ s�ng Hồng.� Trước đ�, Tần Thủy Ho�ng Đế , kẻ thống nhất nước Trung Hoa, đ� tấn c�ng Nam Việt v� cưỡng b�ch Nam Việt nh�n nhận quyền chủ tể của �ng ta.� Nhưng v�o l�c c� sự sụp đổ của đế quốc nh� Tần ngắn ngủi trong năm 203, Nam Việt đ� kh�i phục nền độc lập của m�nh cho đến khi sau rốt bị chinh phục bởi H�n Vũ Đế một thế kỷ sau đ�.� Ngay từ trong thời tiếp x�c đầu ti�n n�y, một sự kiện đ� xuất hiện: khi Trung Hoa ở dưới một chế độ cai trị thống nhất v� h�ng mạnh, sự độc lập của bất kỳ phần đất n�o trong l�nh thổ nước Việt cũ sẽ bị nguy hiểm, hay mất đi.� Khi Trung Hoa bị chia tr� bởi c�c kh� khăn nội bộ, người Việt đ� kh�i phục sự độc lập, v� duy tr� n� cho đến khi lại bị chinh phục một lần nữa bởi vũ lực.� Kh�ng giống như c�c tỉnh nội vi của Trung Hoa, v�ng đất Việt đ� chiến đấu chống lại sự s�p nhập v�o c�c đế quốc mới v� kh�ng sẵn l�ng khuất phục trước quyền lực trung ương mới, như c�c tỉnh của Trung Hoa vẫn thường l�m.

 

���� L� một d�n tộc đi biển, người Việt cổ xưa lu�n lu�n tạo dựng c�c khu định cư của họ tr�n c�c mảnh đất ph� nhi�u nơi c�c ch�u thổ v� cửa s�ng mang lại c�c khu vực khả dĩ canh t�c duy nhất tại c�c tỉnh đồi n�i ph�a đ�ng nam s�t biển của Trung Hoa.� Ch�nh v� thế, vương quốc Việt đầu ti�n đ� tập trung tại cửa s�ng Tiền Đường, quanh vịnh H�ng Ch�u trong tỉnh Triết Giang ng�y nay; M�n Việt, tại Ph�c Kiến, đặt nền m�ng tr�n v�ng đất ph� nhi�u ở cửa s�ng M�n, tại Ph�c Ch�u; Nam Việt chiếm cứ ch�u thổ s�ng T�y Giang, tại Quảng Đ�ng, v� sau đ� tr�n xuống ph�a nam để s�p nhập v� định cư tại ch�u thổ s�ng Hồng, miền Bắc Việt Nam ng�y nay.� Bốn v�ng cửa s�ng v� ch�u thổ n�y l� phần đất canh t�c tốt nhất� v� l� c�c khu vực rộng lớn nhất th�ch hợp với việc trồng l�a tại bờ biển đ�ng nam.� Đồng bằng thứ năm, ch�u thổ s�ng Cửu Long, sau hết sẽ l� khu định cư to lớn cuối c�ng của d�n Việt, v� tạo th�nh v�ng đất trọng t�m ng�y nay của Nam Việt Nam.� C�c v�ng đất ph� nhi�u c� nghĩa c� sự định cư mau lẹ v� tương đối đ�ng đ�c: trong khi nam tiến tại nội địa Trung Hoa, c�c di d�n Trung Hoa phương bắc chỉ t�m thấy một d�n số nhỏ dọc theo c�c thung lũng kh� chật hẹp của c�c phụ lưu s�ng Dương Tử, một d�n số dễ d�ng bị nuốt chửng hơn bởi c�c di d�n, dọc theo bờ biển, họ gặp phải c�c khu định cư của d�n Việt đ�ng đảo v� chiếm giữ c�c phần đất c� đọng c� khả năng cho một sự kh�ng cự c� tổ chức.� Nước Việt cổ thời tại Triết Giang hầu như tự m�nh hủy diệt, v� l�m d�n tộc của m�nh yếu đi bởi c�c cuộc x�m lăng kh�ng ngừng v�o c�c nước l�ng giềng, cho đến khi d�n số của n� thực sự bị ti�u hao đi.� H�n Vũ Đế đ� �p dụng thủ đoạn di chuyển cưỡng b�ch tr�n quy m� rất lớn s� d�n bị chinh phục khi �ng ta chiếm cứ M�n Việt tại Ph�c Kiến, cho họ t�i định cư tại miền trung Trung Hoa.� Nam Việt, tại Quảng Đ�ng, qu� hương của �c�c người n�i tiếng Quảng Đ�ng� duy tr� cho đến ng�y nay t�nh chất kh�c biệt v� th�i độ kh�ng ngu�i ngoai đối với sự cai trị của phương bắc, l�c n�o cũng tạo th�nh một v�ng g�y nhiều kh� khăn cho ch�nh quyền trung ương tại Trung Hoa, bất kể đến h�nh thức hay t�nh chất n�o đi nữa.

 

���� Tiếng Quảng Đ�ng, v� cũng như thổ ngữ của Ph�c Ch�u (Hokkiu) hay c�c thổ ngữ kh�c dọc duy�n hải đ�ng nam th� kh�c biệt một c�ch r� rệt với lối n�i Trung Hoa ti�u chuẩn ở bất kỳ biến thể n�o t�m thấy trong Hoa ngữ.� Một phần, sự kh�c biệt n�y tượng trưng cho c�c h�nh thức cổ xưa hơn của Hoa ngữ ti�u chuẩn, được �p đặt tr�n một sắc d�n kh�ng n�i tiếng Trung Hoa trong qu� khứ, v� như thường xảy ra, giữ lại trong c�c t�nh huống n�y một đặc t�nh nguy�n thủy m� mạch ch�nh của ng�n ngữ đ� để lại ph�a sau.� Điều c� thể nhận thấy l� tiếng Quảng Đ�ng ng�y nay gần gụi với ng�n ngữ n�i Trung Hoa ti�u chuẩn của thời nh� Đường (thế kỷ 7 đến 10, sau C�ng Nguy�n) l� thời kỳ trong đ� c� xảy ra cuộc nhập cư lớn lao của người Trung Hoa phương bắc đến Quảng Đ�ng.� Thổ ngữ Ph�c Ch�u được nghĩ l� gần với tiếng n�i ti�u chuẩn của thời nh� H�n, khi theo sau ch�nh s�ch di cư của H�n Vũ Đế, nhiều người Trung Hoa phương bắc đ� di chuyển v�o khu vực s�ng M�n.� Người ta c� thể so s�nh với� �m sắc Anh ngữ thế kỷ thứ mười t�m như được ph�t ng�n bởi d�n da đen tại v�ng West Indies, c�c sự kh�c biệt chỉ l� thời khoảng trải qua d�i hơn nhiều đối với c�c khu định cư của người Trung Hoa tại miền đ�ng nam.� Nằm dưới đặc th� ngữ học n�y l� yếu tố chủng tộc; th�nh phần ch�nh của d�n ch�ng tại Quảng Đ�ng, v� cũng như ở Ph�c Kiến, l� một chủng tộc nguy�n thủy kh�ng phải l� người Trung Hoa, m� phần lớn l� người Việt.� Ngay trong c�c bi�n cương của đế quốc như được ấn định tr�n c�c ranh giới tồn tại l�u d�i bởi H�n Vũ Đế hồi cuối thế kỷ thứ nh� trược C�ng Nguy�n, sự x�m nhập của Trung Hoa phần rất lớn chỉ l� sự �p đặt một nền văn h�a v� một văn minh đ� ph�t tirển hơn tr�n người d�n kh�ng phải l� Trung Hoa.

 

���� Ch�nh sự kiện n�y đ� gi�p giải th�ch đặc điểm v� c� t�nh c�ch biệt li�n tục của người Việt Nam.� Việt Nam, v� từ ngữ n�y khi đ� chỉ c� nghĩa chỉ v�ng ch�u thổ s�ng Hồng, l� giới hạn c�ng cực của đế quốc Trung Hoa, �Việt ở phương Nam: Yueh South�, nơi m� sự cai trị của Trung Hoa kh�ng c� nghĩa l� sự nhập cư của người Trung Hoa từ phương bắc, m� mang � nghĩa một ch�nh quyền của ngoại nh�n gồm c�c quan chức Trung Hoa từ phương bắc.� Đ� sẵn c� h�ng ngh�n n�ng d�n canh t�c tr�n đất đai, v� cung cấp khỏan thuế th�u cho ch�nh quyền Trung Hoa.� Kh�ng c� nhu cầu phải mang c�c số lượng lớn c�c n�ng d�n di cư Trung Hoa, v� đ� c� đầy đất đai gần nơi ở của c�c n�ng d�n như thế hơn, đang chờ đợi để được định cư tại thung lũng s�ng Dương Tử v� c�c phụ lưu của n�.� Người Trung Hoa t�m thấy nơi d�n Việt một d�n tộc gồm c�c n�ng d�n trồng l�a gao, giống như c�c n�ng d�n của ch�nh Trung Hoa; tương đối cũng dễ d�ng �p đặt sự cai trị của Trung Hoa tr�n họ, v� sau đ� thiết lập c�c định chế tương tự trong hầu hết c�c kh�a cạnh như c�c định chế của Trung Hoa.� Điều n�y đ� xảy ra; văn h�a Việt Nam mang đậm m�u sắc Trung Hoa, nhưng đặc t�nh chủng tộc của người d�n vẫn tiếp tục l� �Yueh�, tức l� �Việt�, v� họ đ� kế thừa v� ấp ủ � thức về sự kh�c biệt chủng tộc đ� c�ng kh�t khao một quốc gia ri�ng biệt trong đ� một h�nh thức biến cải đ� lu�n lu�n biểu thị đặc t�nh cho c�c người anh em bị đồng h�a hơn của họ, c�c người n�i tiếng Quảng Đ�ng.

 

���� Ngay tầng lớp cai tri Trung Hoa vẫn c�n �t về số lương; điều được nhận thấy rằng sẽ c� lợi hơn cho quyền lực đế quốc khi cho ph�p c�c thủ lĩnh bản xứ của c�c thị tộc v� c�c quận huyện [Việt] trở th�nh c�c địa chủ theo cung c�ch nh� H�n v� thiết lập tại tỉnh xa x�i mối quan hệ� điền chủ - t� điền� v� hệ thống chiếm hữu đất đai thay thế cho chế đố phong kiến thực thụ trước đ�y của Trung Hoa thời tiền đế quốc.� Được gi�o dục, v� được khuyến kh�ch để chấp nhận c�c phong tục v� c�c c�ch suy nghi của Trung Hoa, tầng lớp n�y c� thể được tưởng thưởng bằng việc l�m trong ngạch chức dịch của triều đ�nh, v� đổi lại sự cai trị của Trung Hoa đạt được sự sở hữu của m�nh tr�n phần đ� từng l� c�c v�ng đất c�ng của c�c thị tộc.� Một đặc điểm của lịch sử ban đầu của Việt Nam l� c�c cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Trung Hoa đ� được l�nh đạo kh�ng phải bởi tầng lớp qu� tộc tiểu địa chủ [sic], m� l� bởi c�c n�ng d�n.� Một đặc điểm kh�c kh�ng c� mang t�nh chất Trung Hoa, nhưng ph� hợp với phong tục Việt Nam, rằng một số trong c�c nh� l�nh đạo n�y phải l� phụ nữ.� C�c sự kiện n�y l�m li�n tưởng đến một sự c�ch biệt k�o d�i giữa tầng lớp qu� tộc tiểu địa chủ bị H�n h�a với giới n�ng d�n l� c�c kẻ, bị thất học, n�n �t thụ nhận ảnh hưởng văn h�a Trung Hoa hơn.� Nếu sự �p đặt sự cai trị v� văn h�a Trung Hoa tr�n người d�n Quảng Đ�ng, sau hơn hai ngh�n năm, vẫn c�n để lại tr�n sắc d�n n�y nhiều t�nh chất đặc biệt v� một sự kh� chịu dai dẳng đối với sự thống trị của phương bắc, kh�ng mấy kh� khăn để nhận thấy rằng c� t�nh d�n tộc của người Việt Nam lại c�n nổi bật một c�ch mạnh mẽ hơn nữa.� �Quảng Đ�ng l� của người Quảng Đ�ng� đ� l� một khẩu hiệu phổ biến trong thời kỳ đầu của nền Cộng H�a [Trung Hoa]; c�c người phương bắc đ�i khi đ� kinh ngạc tự hỏi l� liệu n� đ� kh�ng thực sự c� nghĩa rằng �Trung Hoa l� của người Quảng Đ�ng hay sao�.� Tại Việt Nam một ngh�n năm thống trị của người Trung Hoa cũng kh�ng thể x�a bỏ cảm thức �Việt Nam l� của người Việt Nam� như �thế -- mặc d� ở vị thế xa x�i của một tỉnh cũ, trong khi điều n�y gi�p cho kh�t vọng n�y trở n�n khả thi hơn, kh�ng c�ch n�o c� thể khơi dậy bất kỳ kỳ vọng n�o về sự chế ngự của Việt Nam đối với ch�nh quyền trung ương của ch�nh đế quốc.

 

���� Thế kỷ đầu ti�n của sự cai trị của Trung Hoa kh�ng ghi nhận bất kỳ cuộc nổi dậy quan trọng n�o bởi d�n ch�ng Việt Nam; Trung Hoa vẫn ở dưới một chế độ cai tri mạnh của nh� Tiền H�n, v� m�i cho đến c�c năm đầu ti�n của thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, c�c kh� khăn nội bộ mới l�m rung chuyển quyền lực đ�.� Giữa năm thứ 9 v� 23, ng�i vua bị tiếm đoạt bởi Vương M�ng (Wang Mang), v� sau khi �ng ta sụp đổ, Trung Hoa trong nhiều năm đ� bị x�o trộn bởi cuộc nổi loạn của phong tr�o n�ng d�n Hồng Mi (Red Eyebrows) v� c�c cuộc nội chiến giữa c�c kẻ kh�t khao ngai v�ng.� Nh� Hậu H�n, được th�nh lập bởi vị ho�ng tử b�ng hệ c� vương hi�u trị v� l� Ho�ng Đế Quang Vũ (Kuang Wu), đ� kh�ng củng cố được quyền lực trong một thập ni�n, v� ch�nh ở thời điểm n�y m� người Việt Nam đ� vươn l�n trong cuộc nổi dậy quan trọng đầu ti�n của ho/.� Trong năm 39, hai chị em, b� Trưng Trắc v� Trưng Nhị, l� th�nh vi�n của một gia đ�nh lạc tướng, đ� nổi dậy trong một cuộc khởi nghĩa v� duy tr� sự kh�ng cự của họ trong mười năm.� Sự đ�n �p cuộc nổi dậy n�y tr�ng hợp rất khắng� kh�t với sự củng cố quyền lực của triều đại Hậu H�n vừa mới được phục hưng v� được thi h�nh bởi một trong c�c vi�n tướng h�ng đầu của t�n Ho�ng Đế Quang Vũ.� Chị em b� Trưng, cho d� bị thất bại, vẫn l� c�c nữ anh h�ng đối với người d�n Việt Nam.� Họ c� dựng đền thờ Hai B� ở H� Nội, v� h�y c�n được t�n k�nh như c�c nh� �i quốc.� Chu �n Lai, Thủ Tướng Cộng Sản Trung Hoa, đ� l�m một cử chỉ kh�o l�o khi quỳ g�i trước b�n thờ Hai B� l�c �ng ta mở một cuộc thăm viếng cấp quốc gia ở Bắc Việt.� K� ức được lưu giữ l�u đời tại � Ch�u.

 

���� Sự tr�ng hợp giữa c�c thời kỳ suy yếu của Trung Hoa v� c�c cuộc nổi dậy của Việt Nam chống lại sự thống trị của Trung Hoa c� thể được quan s�t li�n tục tiếp diễn cho đến l�c c� sự chấm dứt sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa.� Trong năm 192, một cuộc nổi dậy với tầm mức rộng lớn kh�c đ� l�m rung động thẩm quyền của Trung Hoa, v� chỉ ba năm trước đ�, trong năm 189, đế quốc nh� H�n, với sự băng h� của Ho�ng Đế Ling [?], đ� bước v�o thời kỳ x�o trộn chung cuộc của n� với nội chiến v� t�nh trạng rối loạn căng thẳng c�n gia tăng bởi một cuộc nổi dậy lớn lao kh�c của n�ng d�n, phong tr�o Khăn V�ng (Yellow Turbans).� Cuộc nổi dậy năm 192 c� vẻ kh�ng mang t�nh chất chủ yếu l� Việt Nam, m� đ�ng hơn l� một đợt bộc ph�t đầu ti�n của người Ch�m, c�c kẻ đ� thiết lập vương quốc mới của họ tại v�ng đ� l� khụ vực vươn xa xuống cực nam của tỉnh hạt thuộc Trung Hoa, bộ chỉ huy ở Nhật Nam (Jihnan) (Ph�a Nam của Mặt Trời), tương ứng với đồng bằng duy�n hải nằm giữa Đ� Năng v� �Cửa Ải An Nam:� Annam Gate� (Porte d�Annam) ng�y nay, gần đường giới tuyến hiện tại giữa Bắc v� Nam Việt Nam.� Khu vực n�y đ� bị mất về tay Trung Hoa.� Đến năm 222, Trung Hoa bị chia cắt th�nh Tam Quốc, v� ch�nh nước Ng� (Wu), quốc gia ph�a đ�ng nam, đ� thừa kế thẩm quyền Trung Hoa tại ch�u thổ s�ng Hồng.� Mặc d� Trung Hoa vẫn x�c lập chủ quyền tr�n Nhật Nam, kh�ng c� bằng c� cho thấy bất kỳ thẩm quyền thực sự n�o đ� được t�i lập s�u v� ph�a nam đến thế.� Xứ Ch�m trong thực tế c� gửi c�c sứ đo�n đến triều đ�nh nh� Ng� trong năm 230, nhưng trong năm 248 một lần nữa đ� tấn c�ng tỉnh của Trung Hoa ở ph�a bắc v� sau khi d�nh đạt một chiến thắng đ�ng kể, đ� giữ lại khu vực ở s�ng Gianh [ghi l� s�ng Giang (sic) trong nguy�n bản, ND], ph�a nam ch�u thổ s�ng Hồng.� Sự suy yếu v� ph�n h�a của Trung Hoa đ� l� c�c nguy�n do ch�nh của c�c cuộc x�m lăng n�y của người Ch�m.� Trong năm 277, Tam Quốc được thống nhất ngắn ngủi bởi một triều đại mới, nh� Tấn (Tsin), thế nhưng chế độ n�y đ� l�m mất miền bắc Trung Hoa trước c�c cuộc x�m nhập của người Th�t Đ�t (Tatar)v�o năm 316, v� từ đ� chỉ cai trị miền nam kh�ng th�i.

 

���� Trong hai trăm năm kế đ�, dưới thời nh� Nam Tấn v� c�c triều kế thừa ở miền nam Trung Hoa, người Việt Nam đ� kh�ng nổi dậy.� C� thể rằng mối đe dọa mới đặt ra bởi quyền lực của nước Ch�m l� một l� do tại sao người Việt Nam lựa chọn sự cai trị của Trung Hoa hơn l� c�c sự mạo hiểm của cuộc nổi dậy, sẽ mang đến cho người Ch�m một cơ hội để x�m lăng hơn nữa.� M�i đến năm 543, cuộc nổi dậy của gia tộc họ L�, với nh� l�nh đạo L� B�n, đ� th�nh lập triều đại Việt Nam độc lập đầu ti�n, nh� Tiền L�, đ� tạm thời mang sự cai trị của Trung Hoa tại Việt Nam đến chỗ kết th�c.� V�o l�c đ�, nh� Lương (Liang) b�n Trung Hoa đ� tiến tới hồi chung cuộc của m�nh, v� sự rối loạn v� suy yếu đ� sớm lật đổ chế độ v� thay thế bằng nh� Ch�en (557-89), một triều đại ngắn ngủi v� yếu ớt, kh�ng c� khả năng kiểm so�t phần lớn miền nam Trung Hoa, v� ch�nh v� thế, kh�ng thể t�i thiết lập quyền lực của Trung Hoa tại Việt Nam.� Khi v�o năm 589, nh� T�y (Sui) t�i thống nhất đế quốc v� chấm dứt sự ph�n chia k�o d�i giữa c�c triều đại người Th�t Đ�t ở phương bắc v� c�c triều đại Trung Hoa ở phương nam, kh�ng l�u sau đ� họ đ� x�m lăng Việt Nam v� t�i �p đặt sự thống trị của Trung Hoa.� Sớm bị thay thế (618) bởi triều đại nh� Đường (Tang) vĩ đại, cuộc t�i chinh phục của nh� T�y n�y đ� được duy tr�.� C�c cuộc nổi dậy, trong đ� c� một cuộc khởi nghĩa quan trọng v�o năm 722, đ� bị trấn �p, v� nhu cầu đối với nh� Đường nhằm duy tr� một qu�n đội lớn lao trong nước để ph�ng thủ bi�n cương s�t vương quốc V�n Nam đang vươn l�n tại Nam Chiếu, đ� khiến cho nền độc lập của Việt Nam kh�ng đạt tới được.� Nh� Đường, sau cuộc chinh phục, đ� đổi t�n nước l� An Nan (c� nghĩa An Nam), �Miền Nam đ� được b�nh định: Pacified South�.

 

���� Trong hai trăm năm mươi năm sự cai trị của nh� Đường tại An nam kh�ng bị th�ch đố, v� thời kỳ d�i n�y trong đ� xứ sở nằm dưới ch�nh quyền Trung Hoa, một ch�nh quyền được tổ chức chặt chẽ đến mức chưa hề c� trước đ�y, v� triều đại trị v� n�y lại được hỗ trợ bởi điều c� lẽ l� thời đại tuyệt diệu nhất của văn h�a Trung Hoa, đ� tạo ra một ấn tượng s�u đậm tr�n người d�n Việt Nam.� N� đ� kh�ng, như c�c biến cố diễn ra cho thấy, khuyến dụ họ bỏ qua kh�t vọng của m�nh l� độc lập với Trung Hoa trong c�c vấn đề ch�nh trị, nhưng n� đ� tạo ra văn h�a Việt Nam trong khu�n mẫu Trung Hoa v� vẫn c�n ở trong khu�n mẫu đ� kể từ l�c ấy.� Giới thẩm quyền Trung Hoa trước đ� đ� khởi sự c�ng việc n�y, thời đại nh� Đường đ� ho�n tất n�.� Khi Việt Nam trở th�nh độc lập, Việt Nam cho thấy kh�ng c� y muốn phủ nhận di sản văn h�a m� nước n�y đ� thụ đắc từ nh� Đường.

 

���� Trong năm 868 qu�n đội Trung Hoa tại Việt Nam, tr� đ�ng nơi bi�n giới với vương quốc Nam Chiếu (giờ đ�y l� bi�n giới bị đổi ngược giữa Trung Hoa v� Bắc Việt Nam) nổi loạn.� Đội qu�n n�y đ� kh�ng được trả lương từ l�u, v� triều đ�nh xa x�i bị đắm ch�m v�o t�nh trạng v� khả năng v� lệ thuộc v�o c�c vi�n chỉ huy qu�n sự cấp tỉnh.� C�c kẻ nổi loạn đ� quay về qu� tại Trung Hoa v� khởi động một chuỗi nội chiến v� nổi dậy đi đến việc kết liễu triều đại nh� Đường trong v�ng chưa đến bốn mươi năm.� Trung Hoa khi đ� bị tan vỡ th�nh một số c�c quốc gia tranh liệt v� ri�ng biệt, tất cả đều tuy�n bố nắm trọn đế quốc, nhưng phần lớn chỉ kiểm so�t một hay hai tỉnh, hay ngay khi chỉ c� một tỉnh.� Ch�nh trong t�nh trạng hỗn mang của sự x�o trộn n�y m� d�n Việt Nam, noi theo khu�n mầu chung, đ� nổi dậy v� th�nh lập vương quốc ri�ng biệt của ch�nh họ, v�o năm 934.

 

���� Nh� Đinh, giờ đ�y đ� nắm giữ quyền b�nh tại Việt Nam, đ� l� triều đại đầu ti�n trong một chuỗi c�c triều đại duy tr� nền độc lập của xứ sở cho đến khi c� sự chinh phục của người Ph�p trong thế kỷ thứ mười ch�n, với một khoảng đứt đọan ngắn hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm.� Từ sự chấm dứt sự cai trị của Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười, Việt Nam trong thực tế đ� tự m�nh điều h�nh đất nước, cho d� một sự thừa nhận cẩn trọng quyền chủ tể của Trung Hoa c� được đưa ra bởi tất cả c�c triều đại Việt Nam.� Trong thực tế, điều n�y c� � nghĩa rất �t; c�c tặng phẩm qu� gi� được trao như c�c cống phẩm, v� c�c sứ giả đ� nhận lại được c�c tặng phẩm c�n xa hoa hơn để ph� b�y quyền lực v� sự h�o ph�ng của Ho�ng Đế Trung Hoa.� C�c nh� vua Việt Nam đ� t�m kiếm v� nhận được sự ph� chuẩn sự l�n ng�i của họ từ vị chủ tể của họ. Người Việt Nam chấp nhận d�ng lịch theo triều đại Trung Hoa trị v�, một h�nh vi c� v�i � nghĩa t�n gi�o, v� trong một v�i cung c�ch c� thể so s�nh với việc treo cờ Anh Quốc (Union Jack) trong một số dịp bởi c�c th�nh vi�n tự cai trị v� độc lập thực sự trong Khối Thịnh Vượng Chung Anh Quốc.� Trung Hoa đ� kh�ng đảm nhận tr�ch vụ bảo vệ Việt Nam, d� l� để chống lại c�c kẻ th� ngoại lai, hay để gi�p cho triều đại trị v� đập tan sự nổi dậy trong nội bộ.� Việt Nam cũng kh�ng c� nghĩa vụ phải trợ gi�p qu�n sự cho c�c cuộc chiến tranh của Trung Hoa.� Điều được th�ng hiểu l� quốc gia triều cống kh�ng được x�c tiến c�c � đồ hay cung cấp sự trợ gi�p cho một kẻ th� của vị Ho�ng Đế, v� điều n�y cũng �p dụng cho c�c c� nh�n ri�ng tư cũng như cho c�c nước ngo�i.

 

���� Thỏa ước (Modus Vivendi) n�y đ� kh�ng được đạt tới một c�ch tức th�: khi c�c sự x�o trộn tiếp diễn theo sau sự sụp đổ của triều đ�nh nh� Đường bị kết th�c bởi sự đăng quang của triều đại mới, nh� Tống, năm 960, một �t năm đ� tr�i qua trước khi t�n đế quốc được ho�n to�n củng cố bởi ch�nh s�ch kh�o l�o của kẻ s�ng lập triều đại.� C�c quốc gia phương nam nơi m� đế quốc bị giải t�n đ� lần lượt được khuyến dụ quay về �trung th�nh thực sự� hay sẽ bị trấn �p, thường với sự kh�ng cự rất yếu, nếu ch�ng c�n ngoan cố.� Cho đến mức c�ng t�c n�y đ� được ho�n tất, kh�ng c� g� thắc mắc về sự can thiệp của nh� Tống tại Việt Nam.� V�o năm 981 nh� Tống đ� trở n�n ho�n to�n được chấp nhận v� thiết định.� Một cuộc viễn chinh khi đ� được ph�ng ra để giải trừ �vương quốc chống đối� phương nam duy nhất c�n lại, Việt Nam.� C� thể l� ho�ng đế nh� Tống v� c�c cận thần cố vấn của �ng đ� kh�ng nh�n thấy sự kh�c biệt cụ thể n�o giữa tỉnh huyện cũ ở An Nam với c�c vương quốc kh�c � hay �đế quốc� kh�c như họ vẫn tự xưng � khởi l�n tại c�c tỉnh ph�a nam.� Tất cả đều l� một phần của đế quốc nh� Đường v� ch�nh v� thế tất cả phải quay về thần phục nh� Tống.� Nhưng Việt Nam th� kh�c; chỉ m�nh Việt Nam mới c� c� t�nh d�n tộc thực sự của m�nh mạnh hơn c�c sự r�ng buộc của n� với Trung Hoa, đặc biệt trong kh�a cạnh ch�nh trị của mối quan hệ đ�.� Việt Nam đ� kh�ng cự, v� với sự th�nh c�ng.� Cuộc x�m lăng của nh� Tống bị đẩy lui.� N� kh�ng bao giờ mưu toan x�m lăng nữa.� Việt Nam thừa �nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, v� c�c ho�ng đế nh� Tống đ� chấp nhận phương thuật giữ thể diện n�y.� Đ�y vẫn c�n l� ch�nh s�ch của Trung Hoa từ thời điểm đ� trở về sau, chỉ bị đảo ngược một lần duy nhất.� Nh� Tống trong thực tế đ� gặp c�c vấn đề kh�c g�y kh� khăn cho họ.� Bi�n cương ph�a bắc, bất an kể từ khi c� sự mất m�t c�c phần đất kiểm so�t c�c cửa ải xuy�n qua Trường Th�nh, m� họ đ� thất bại kh�ng t�i chinh phục được, l� kh� khăn thường xuy�n của họ.� Việt Nam l� vấn đề nặng về uy t�n hơn l� an ninh quốc gia, n� c� thể để y�n th�n một m�nh.

 

���� C�c sự thay đổi triều đại ở Việt Nam, diễn ra bởi c�c cuộc nổi dậy hay đảo ch�nh cung đ�nh, đ� kh�ng c�m dỗ nh� Tống nắm giữ lấy bất kỳ cơ hội n�o như thế.� Năm 1010, chỉ hai mươi năm sau sự đẩy lui cuộc x�m lăng của nh� Tống, một triều đại mới, nh� L�, đ� l�n nắm quyền b�nh ở Việt Nam.� N� tức thời t�i tục mối quan hệ chủ tể - cống nạp hi�n hữu với đế quốc nh� Tống, v� được chấp nhận.� Kế đ� khi bị di chuyển trong năm 1225, đế quốc nh� Tống đ� mất miền bắc Trung Hoa v�o tay người Kim Th�t Đ�t x�m lăng v� đ� được thiết lập tại miền nam, ở H�ng Ch�u, kiểm so�t thung lũng s�ng Dương Tử v� mọi l�nh thổ ph�a nam con s�ng đ�.� Trong những thời kỳ trước, sự di chuyển quyền lực trung ương của Trung Hoa xuống miền nam đồng nghĩa với một khuynh hướng mở rộng đất bi�n giới ph�a nam.� Điều được nghĩ trong thực tế rằng đ� c� một phong tr�o đ�ng kể của d�n ch�ng miền bắc xuống v�ng Nam Hoa l�c bấy giờ, nhưng được h�a nhập trong v�ng c�c bi�n cương hiện hữu của đế quốc nh� Tống.� Mi�n nam Trung Hoa đ� ph�t triển mau ch�ng trong thời kỳ n�y, nhưng �p lực kh�ng đủ mạnh để đẩy nh� Tống v�o c�c cuộc chiến tranh chinh phục ra ngo�� l�nh địa của n�.� Hơn nữa, Trung Hoa đ� phải ph�ng vệ một bi�n cương miền bắc mở ngỏ dọc theo bờ ranh kh�ng x�c định của dải đất viền ph�a bắc lưu vực s�ng Dương Tử, một v�ng kh�ng c� bi�n cương tự nhi�n, đặc biệt tại phần ph�a đ�ng.

 

���� Triều đại mới của Việt Nam, nh� Trần [ghi sai l� Tranh trong nguy�n bản, ch� của người dịch], được để y�n bởi nh� Nam Tống, nhưng kh�ng qu� l�u, đ� phải đối diện với nỗi nguy hiểm khổng lồ của c�c cuộc x�m lăng của M�ng Cổ.� Khi nh� Trần l�n nắm quyền b�nh, nh� Tống đ� sẵn bị tấn c�ng bởi c�c chủ nh�n mới của miền bắc Trung Hoa, v� của một đế quốc trải ngang qua � Ch�u cho đến trung t�m nước Nga.� Sự ch�nh phục nh� Nam Tống bởi người M�ng Cổ l� một tiến tr�nh chậm r�i, l�u d�i, bị kh�ng cự m�nh liệt trong bốn mươi năm.� Phải đợi m�i đến năm 1278 ham đội nh� Tống cuối c�ng mới bị triệt hạ ngo�i khơi Hồng K�ng v� triều đại sau rốt bị hủy diệt.� Năm năm sau đ�, trong năm 1284, Kubilai Khan, Ho�ng Đế người M�ng Cổ của Trung Hoa l� người m� người Trung Hoa nh�n nhận như nh� cai trị ch�nh thống đầu ti�n của đế quốc (mặc d� c�c tiền nh�n của �ng ta, trở l�i lại từ Genghiz, trong thực tế đ� đ� hộ miền bắc Trung Hoa trong bảy mươi năm), đ� x�m lăng Việt Nam.� Người Việt Nam, đối diện với uy thế của quyền lực qu�n sự lớn nhất tr�n thế giới v�o l�c bấy giờ, đ� dựa v�o phương s�ch chiến tranh du k�ch; c�c th�nh phố bị bỏ hoang cho qu�n x�m lược, cuộc kh�ng chiến tập trung tại v�ng rừng n�i.� C�c đội qu�n M�ng Cổ chủ yếu l� kỵ binh, v� kh� hậu cũng như địa thế của Việt Nam th� bất lợi cho c�c lực lượng của họ.� C�c cuộc x�m lăng đ� t�i diễn trong ba hay bốn năm, nhưng c�c sự tổn thất v� bệnh tật v� t�nh chất bất quyết của cuộc chiến tranh cuối c�ng khiến Kubilai quyết định rằng Việt Nam kh�ng đ�ng để khổ c�ng v� g�nh chịu sự tổn thất; �ng ta đ� chấp nhận cống phẩm của c�c nh� l�nh đạo triều Trần v� triệt tho�i c�c đội qu�n bị hao hụt của m�nh.� Ở thời điểm n�y, điều cần phải được nhấn mạnh, �Việt Nam�, hay An Nam như được gọi bởi người Trung Hoa, h�y c�n chỉ bao gồm ch�u thổ s�ng Hồng v� dải duy�n hải xu�i nam cho đến v�ng thuộc vĩ tuyến thứ 17.� Cuộc �Nam Tiến: March to the South� vĩ đại mới chỉ bắt đầu.� Triều đại� nh� Trần chỉ cai trị phần giờ đ�y l� Bắc Việt Nam.

 

���� Triều đại đ� k�o d�i hơn ch�nh triều đại nh� Nguy�n M�ng Cổ của Trung Hoa.� Trong năm 1400, khi n� bị sụp đổ, nh� Minh, tượng trưng cho sự phản c�ng của Trung Hoa, đ� đ�nh đuổi qu�n M�ng Cổ ra khỏi Trung Hoa v� dưới Ho�ng Đế Vĩnh Lạc dũng m�nh đ� th�c đẩy sự x�c quyết l�ng trung th�nh với n� v�o thế giới c�c vương quốc phương nam, bằng cả đường biển lẫn đường bộ.� Một �t năm sau khi c� sự sụp đổ của nh� Trần, năm 1407, Ho�ng Đế Vĩnh Lạc, được nghĩ đ� quyết định rằng �ng kh�ng cần nh�n nhận c�c kẻ kế ng�i nh� Trần, đ� x�m lăng v� chinh phục xứ sở.� Như sẽ được nhận thấy, vương quốc n�y đ� sẵn mở rộng về ph�a nam đến tận Đ� Nẵng, nhưng xem ra sự cai trị của Trung Hoa chưa hề được thiết lập một c�ch thực vững chắc tại c�c v�ng đất mới ph�a nam n�y.� D� sao đi nữa, sự thống trị đ� kh�ng k�o d�i.� Ch�nh Vĩnh Lạc đ� mất đi năm 1425, v� đ� c� một sự kế vị mau lẹ của c�c vị ho�ng đế vắn số tại Trung Hoa, l�m suy yếu ch�nh quyền.� Trong năm 1427, một cuộc nổi dậy đ� sẵn bị ph� tan chin năm trước v�o năm 1418 dưới sự l�nh đạo của L� Lợi, đ� đ�nh bại qu�n Trung Hoa gần th�nh phố biến giới, Lạng Sơn, thu đoạt được thắng lợi quyết định v� t�i chiếm kinh đ�, H� Nội.� C�c ho�ng đế nh� Minh, giống như c�c kẻ tiền nhiệm nh� Tống, sau đ� đ� chấp nhận cống phẩm d�ng tặng bởi L� Lợi, người đ� th�nh lập triều đại Việt Nam mới.� Cuộc x�m lăng của Vĩnh Lạc đ� l� nỗ lực sau c�ng bởi c�c nh� l�nh đạo Trung Hoa nhằm s�p nhập Việt Nam th�nh một tỉnh thuộc đế quốc Trung Hoa.� Khi c�c người M�n Ch�u thừa kế ngai v�ng trong thế kỷ thứ mười bảy, họ đ� thực hiện một v�i sự biểu dương qu�n sự với Việt Nam, nhưng đ� mau ch�ng chấp nhận mối quan hệ ch�nh trị hiện hữu được thiết lập trước ti�n dưới thời nh� Tống.� Ch�nh v� thế, trong hơn một ngh�n năm, kể từ khi th�u đạt được nền độc lập năm 939 cho đến cuộc chinh phục của Ph�p hồi cuối thế kỷ thứ mười t�m, Việt Nam trong thực tế l� một quốc gia độc lập, ngay d� n� vẫn l� một nước nằm dưới ảnh hưởng văn h�a mạnh mẽ v� li�n tục của Trung Hoa.

 

���� Sự cai trị của Trung Hoa đ� từng được �p dụng tr�n một khu vực nhỏ hơn nhiều của vương quốc ph�t sinh sau khi nền độc lập đ� đạt được.� Điều đ� c� lẽ l� một l� do tại sao nh� Đường v� trước đ�, c�c đế quốc yếu hơn chẳng hạn như c�c đế quốc miền nam Trung Hoa giữa thời nh� H�n v� nh� Đường, đ� c� thể duy tr� thẩm quyền của ch�ng tại tỉnh hạt xa x�i n�y.� Về ph�a người Việt Nam trong c�c thế kỷ n�y đ� bị ngăn trở khỏi cuộc mở rộng về ph�a nam bởi c� sự hiện diện của vương quốc Ch�m hiếu chiến mở c�c cuộc tấn c�ng cướp b�c bằng đường biển tr�n v�ng duy�n hải.� Sự bảo hộ của đế quốc Trung Hoa l� cần thiết v� đ� phải trả gi� với sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa.� Gần như tức thời sau khi nền độc lập đ� đạt được v�o đầu thế kỷ thứ mười sau C�ng Nguy�n, t�nh trạng n�y đ� thay đổi.� Một nguy�n do ch�nh l� sự gia tăng d�n số tại ch�u thổ s�ng Hồng ph� nhi�u dưới sự cai trị l�u d�i v� y�n ổn của nh� Đường.� �p lực đ�i hỏi c�c v�ng đất mới để định cư, v� trong bản chất l� một d�n tộc trồng l�a gạo, người Việt Nam đ� t�m thấy c�c mảnh đất n�y dọc theo dải duy�n hải ph� nhi�u, chứ kh�ng phải tại miền n�i ph�a t�y gi�p ranh với V�n Nam.� V�ng đồi n�i khi đ�, như b�y giờ, phần lớn được cư tr� bởi c�c bộ tộc kh�ng thuộc sắc d�n Việt Nam [sic], thường th� nghịch với d�n ở đồng bằng; điều đ�ng l�m hơn nhiều l� chiếm giữ khu đất tốt dọc duy�n hải hơn l� mở c�c cuộc chinh phục kh� khăn d�nh giựt đất xấu hơn tại miền n�i.

 

���� Trong năm 982 triều đại mới nh� Đinh, mới chỉ l�n nắm quyền b�nh khoảng bốn mươi năm trước đ�, đ� đủ mạnh để x�m lăng xứ Ch�m v� lục so�t kinh đ� của n�, khi đ� nằm ở ph�a bắc của xứ đ�.� Việt Nam c� giữ lại một v�i l�nh thổ đ� chinh phục, nhưng cuộc nam tiến được t�i tục bởi triều đại Việt Nam kế tiếp, nh� L� (1010-1225), v�o năm 1069, đ� s�p nhập tất cả v�ng đất của Ch�m s�u đến vĩ tuyến thứ 17, c� nghĩa, l� phần thuộc Bắc Việt Nam b�y giờ.� R� r�ng l� c�c cư d�n Ch�m đ� kh�ng chỉ bị chinh phục � hay hạ s�t � c�c kẻ sống s�t bị xua đuổi, đi t�m nơi ẩn n�u tại c�c phần đất ph�a nam qu� hương của họ. �Cuộc chinh phục của Việt Nam kh�ng chỉ l� một cuộc x�m lược để �p đặt quyền thống trị v� thu thuế, n� được tr� hoạch với chủ � d�nh đạt l�nh địa mới cho sự định cư của người Việt Nam.� Mục ti�u n�y được chứng tỏ l� động lực thống nhất v� kh�t vọng của chế độ mới độc lập.� C�c n�ng d�n, chen ch�c tại c�c khu đất thiếu hụt của ch�u thổ s�ng Hồng, muốn c� c�c v�ng đất mới để chạy trốn nạn ngh�o đ�i gia tăng tại c�c l�ng x� qu� đ�ng đ�c.� Tầng lớp địa chủ -- giới m� chế độ Cộng Sản ng�y nay gọi l� �phong kiến�, chỉ l� giới trung n�ng c� sở hữu đất đai trong thực tế phần lớn được tuyển dụng bởi ch�nh quyền l�m c�c vi�n chức giống như ở Trung Hoa � đ� muốn c� điền sản mới; cả hai tầng lớp v� thế hậu thuẫn cho c�c cuộc chiến tranh chinh phục v� định cư.� Đặc t�nh cuộc di d�n nam tiến của Việt Nam ch�nh v� thế rất giống với t�nh chất của cuộc nam tiến của Trung Hoa trong v�ng ng�y nay l� c�c tỉnh ph�a nam Trung Hoa.� Nhưng tại Việt Nam đ� kh�ng c� chỗ hay mong muốn sự c� mặt của d�n định cư Trung Hoa: người Việt Nam tự họ đ� qu� đ�ng đảo.� Họ mang văn h�a v� phong tục Trung Hoa c�ng với họ xuống miền nam, nhưng cuộc b�nh trướng vĩ đại đ� kh�ng mang t�nh chất Trung Hoa về mặt nh�n lực hay trong sự chỉ đạo.� Sự thống trị của Trung Hoa tại Việt Nam đ� kết liễu trước khi n� khởi sự.

 

���� Khi triều đại nh� L� sụp đổ, triều đại mới nh� Trần, 1225-1400, đ� đảm nhận nhiệm vụ v� theo đuổi c�ng ch�nh s�ch.� V�o khoảng năm 1306, họ đ� vươn tới Đ� Nẵng, giờ đ�y thuộc Nam Việt Nam.� Sự tr� ho�n tương đối trong việc đạt tới mục ti�u n�y c� thể l� một hậu quả của c�c cuộc x�m lăng ồ ạt của M�ng Cổ v�o năm 1284 v� sự t�n ph� m� ch�ng đ� g�y ra.� Việt Nam đ� kh�ng thể đ�p ứng được c�c cuộc mạo hiểm ph�a nam trong khi mối đe dọa n�y c�n tồn tại.� V�o năm 1306, Kubilai Khan từ trần, v� c�c người thừa kế �ng ta, c�c vị vua trị vị ngắn ngủi v� chết sớm, đ� từ bỏ giấc mộng chinh phục to�n thế giới của m�nh.� Trong triều đại nh� Nguy�n (M�ng C�) sau n�y, Trung Hoa đ� im lặng về đối s�ch với phương nam.� C�c vua nh� Trần của Việt Nam do đ� đ� c� thể t�i tục cuộc �Nam Tiến�, đến m�i tận Đ� nẵng, nhưng c� lẽ rằng bước tiến d�i n�y đ�i hỏi nhiều hơn những g� m� một triều đại đ� sẵn vượt qu� thời cực thịnh của m�nh c� thể đ�p ứng một c�ch an to�n.� Trong năm 1371, người Ch�m, trong một cuộc quật khởi hữu hiệu sau c�ng, đ� c�n qu�t miền bắc v� thực sự chiếm giữ v� lục so�t ch�nh H� N�i.� Tai họa n�y đ� đẩy triều đại nh� Trần v�o một t�nh trạng rối loạn từ đ� n� kh�ng bao giờ hồi phục.� Ba mươi năm sau đ� n� đ� bị thay thế v�o năm 1400 v� trong sự rối loạn tiếp theo sau, ho�ng đế Vĩnh Lạc của Trung Hoa đ� đạt được sự t�i ch�nh phục ngắn ngủi của �ng ta tại Việt Nam (1407-27).� Kế đ�, t�nh trạng n�y đ� được kết th�c với cuộc kh�ng chiến th�nh c�ng của triều đại mới, nh� L�, nhưng đ� phải mất năm mươi năm trước khi cuộc Nam Tiến c� thể tại tục tr�n một quy m� rộng lớn.� Cuộc phản c�ng của người Ch�m trong năm 1371, được hỗ trợ bởi c�c t�nh huống tr�ng hợp với cuộc tấn k�ch, đ� mang lại cho người Ch�m một �n hạn trong một trăm năm.

 

���� Trong năm 1471, nh� vua Việrt Nam đ� x�m lăng xứ Ch�m với thế mạnh v� đ� chiến thắng to�n diện.� Kinh đ� bị chiếm cứ, một cuộc t�n s�t quy m� c�c cư d�n đ� được thực hiện, v� vương quốc Ch�m đ� thực sự bị hủy diệt. Số người Ch�m c�n s�t lại ở m�i xa ph�a nam, v�ng ch�u thổ s�ng Cửu Long, miền đất đ� bị ph�n chia th�nh nhiều l�nh địa nhỏ, tất cả đều dưới quyền chủ tể củaViệt Nam.� Người Việt đ� đạt được phần lớn mục ti�u của họ, sự chinh phục miền nam, nhưng sự kiện n�y chứng tỏ sẽ tự n� trở th�nh một vấn nạn.� Sự b�nh trướng v�o c�c v�ng đất mới, nơi �t d�n hơn, c� nghĩa l� c�c di d�n c� khuynh hướng thụ đắc c�c đặc t�nh kh�c lu�n lu�n l�m cho c�c di d�n trở n�n kh�c biệt.� Họ trở n�n �t phục t�ng hơn đối với ch�nh quyền trung ương xa x�i, độc lập hơn trong c�ch nghĩ v� lối sống của họ.� Họ đ� kh�m ph� rằng bởi việc di chuyển về ph�a nam người ta c� thể để lại phần lớn một ch�nh quyền đ�n �p ph�a sau; nếu n� truy đuổi, người ta chỉ c�n c�ch di chuyển đến v�ng đất mới hơn, song lại ph� nhi�u hơn.� Kh�ng bao l�u ch�nh quyền ở H� Nội nhận thấy miền nam xa x�i kh� kiểm so�t được.� Triều đại nh� L� đ� đi qua thời cực thịnh của n� hồi giữa thế kỷ thứ mười s�u.� Hai gia tộc quan chức lớn đ� chế ngự triều đ�nh, v� c�c �m mưu v� sự th� nghịch lẫn nhau của họ đ� đe dọa đến chế độ.� Trong hai gia tộc, họ Trịnh c� quyền lực lớn hơn tại H� Nội, v� trong năm 1558 họ đ� �m mưu để tự loại bỏ đối thủ của m�nh, họ Nguyễn, bằng c�ch đẩy trưởng tộc họ Nguyễn được cử đi l�m tổng trấn miền nam, với tổng h�nh dinh tại Huế.� Việc n�y vừa d�nh cho họ Trịnh một thẩm quyền kh�ng bị đụng chạm tới tr�n c�c vua L� yếu ớt, vừa để c�c kh� khăn của miền nam cho đối thủ của họ giải quyết sao cho tốt nhất với khả năng của họ Nguyễn.

 

���� Nh� Nguyễn đ� chứng tỏ rất c� khả năng để đối ph� với c�c vấn đề n�y.� Giờ đ�y đ� c� điều tuơng đương, v� được ph�t triển vững chắc, như một ch�nh quyền trung ương mới tọa lạc tại ch�nh miền nam, ở Huế.� Ch�nh nh� Nguyễn quan t�m đến việc mở rộng th�m nữa, để gia tăng l�nh địa của họ v� tự m�nh củng cố để chống lại nh� Trịnh ở phương bắc. �Sự b�nh trướng sẽ mang c�c kẻ định cư mới từ phương bắc v�o, v� miền nam vẫn c�n thưa d�n hơn nhiều.� Chỉ trong v�ng hơn một thế kỷ, v�o khoảng 1692, c�c nh� l�nh đạo nh� Nguyễn tại Huế đ� ho�n to�n trấn �p c�c l�nh địa Ch�m c�n lại v� thực sự l�m quốc gia đ� tan biến đi.� Một số cộng đồng người Ch�m h�y c�n hiện diện dọc bờ biển s�u ph�a nam của Việt Nam, v� tại c�c quận huyện l�n cận ở Căm Bốt, nhưng nếu kể như một d�n tộc, người Ch�m đ� biến mất trong lịch sử.� Nh� Nguyễn đ� chiếm cứ S�ig�n trong năm 1691.� Biến cố n�y chỉ xảy ra v�i năm sau khi triều đại mới của Trung Hoa, M�n Ch�u, dưới thời Ho�ng Đế Khang Hi trẻ tuổi, mạnh bạo, sau hết đ� trấn �p tất cả c�c đối thủ gốc Trung Hoa của �ng ở miền nam Trung Hoa v� chinh phục to�n thể đế quốc (1688).� Sự kiện rằng nh� Nguyễn nhận thấy c� thể tiến h�nh cuộc chinh phục lớn lao sau c�ng ở miền nam, tức v�ng ch�u thổ s�ng Cửu Long, v�o một thời điểm khi m� đối thủ của họ tại H� Nội, nh� Trịnh, phải d� chừng tham vọng v� sự th� nghịch khả hữu của vị Ho�ng Đế Trung Hoa hiếu chiến v� say men chiến thắng chắc chắn c� � nghĩa quan trọng.� Sự l�ng t�ng của nh� Trịnh đ� l� cơ hội cho nh� Nguyễn.

 

���� Nh� Nguyễn đ� kh�ng mấy lo sợ về Khang Hi; họ thu nhận v�o c�c v�ng đất mới chinh phục kh�ng chi d�n di cư gốc Việt m� c�n cả c�c người tỵ nạn Trung Hoa trốn tr�nh sự chinh phục của M�n Ch�u thuộc miền Nam Trung Hoa; một số trong c�c người n�y đ� th�nh lập ra Chợ Lớn, th�nh phố chị em của S�ig�n vẫn c�n được cư tr� bởi người Trung Hoa.� C�c người kh�c định cư tại ch�u thổ s�ng Cửu Long.� Trong c�c thời đại sớm hơn, kh�ng chế độ Việt Nam n�o d�m chứa chấp c�c kẻ địch của Ho�ng Đế Trung Hoa.� Nh� Trịnh ở H� Nội vẫn c�n ở trong vị thế n�y, nhưng nh� Nguyễn miền nam c� thể coi thường sự cấm đo�n cổ xưa n�y v� kh�ng cần biết đến Trung Hoa; họ c� nh� Trịnh nằm ở giữa.� Sự kiện n�y soi s�ng sự thay đổi lớn lao m� cuộc Nam Tiến đ� mang lại trong c�c quan hệ giữa vương quốc Trung Hoa v� nước �triều cống� của n�, An Nam.� Nước triều cống giờ đ�y l� một vương quốc to lớn, v� nửa miền nam của n� ha6`u như kh�ng tiếp cận với quyền lực Trung Hoa trực tiếp.� Người M�n Ch�u, một d�n tộc đại lục, kh�ng bao giờ đi đường biển, cũng kh�ng duy tr� c�c lực lượng hải qu�n lớn v� hữu hiệu.� Đế quốc M�n Ch�u v�o ch�nh thời gian n�y đang sẵn sang dấn th�n v�o c�c chiến dịch xa xăm để chinh phục xứ M�ng Cổ, v�ng trung � Ch�u v� T�y Tạng.� Một thế kỷ sau đ� n� đ� thực hiện một kỳ c�ng đ�ng kể của việc vượt qua Hy M� Lạp Sơn v� chinh phục Nepal, nhưng n� kh�ng mưu toan t�i chinh phục Việt Nam, bắc hay nam, nh� Trịnh hay nh� Nguyễn.� Hệ thống, giờ đ�y đ� được thử nghiệm trong nhiều thế kỷ, theo đ� Việt Nam đ� sẵn nh�n nhận quyền chủ tể của Ho�ng Đế v� tham gia trọn vẹn v�o văn minh Trung Hoa đủ để thỏa m�n l�ng ki�u h�nh v� �t g�y tốn k�m cho hầu bao của c�c nh� cầm quyền Trung Hoa.

 

���� Sự loại trừ xứ Ch�m, v� sự sống s�t l�u d�i đến thế của n�, c� li�n hệ mật thiết với c�c sự may mắn của một đất nước m� Việt Nam đ� c� �t sự tiếp x�c trực tiếp trước đ�y, Căm Bốt.� Sự ngừng nghỉ l�u d�i trong cuộc Nam Tiến theo sau sự tiến bước tới v�ng vĩ tuyến thứ 17 năm 1609, trước bước tiến lớn lao đến Đ� Nẵng năm 1306, l� một phần trong c�ng thời kỳ m� nh� vua vĩ đại của Căm Bốt, Jayavarman VII đang theo đuổi cuộc chinh phục của �ng ta tại miền nam xứ Ch�m.� �ng ta đ� chiếm giữ nước đ� cho đến khi từ trần, v�o năm 1218, tuy thế Ch�m đ� d�nh lại được nền độc lập sau đ�.� Ngay trước thời trị v� của �ng, Việt Nam đ� phải d� chừng về quyền lực Căm Bốt như l� một kẻ tranh d�nh sự thừa kế di sản Ch�m.� Trong suốt thế kỷ thứ mười hai, từ 1123 trở về sau khi Nh� Vua Suryavarman II tấn c�ng ch�nh An Nam (như sẽ được lập lại một lần nữa v�o năm 1150), quyền lực Căm Bốt t�ch cực hoạt động tại ph�a nam của đất nước giờ đ�y l� Việt Nam, cả hai b�n đều chống lại người Ch�m, v� đ�i khi li�n minh với họ [người Ch�m].� Sự thụ động tương đối của nh� Tống ở Trung Hoa, đ�ng ra n�n khuyến kh�ch người Việt đẩy mạnh cuộc Nam Tiến, đ� được c�n đối bởi sự t�ch cực của Căm Bốt trong v�ng m� một cuộc Nam Tiến như thế sẽ nhắm tới.� Vua Jayavarman VII đ� l� nh� chinh phục Căm Bốt vĩ đại cuối c�ng; c�c chiến dịch của �ng, v� c�c kiến tr�c của �ng, đ� l�m kh� cạn c�c t�i nguy�n của vương quốc, v� trong thế kỷ thứ mười ba, Căm Bốt bước v�o trước ti�n một thời kỳ y�n tĩnh k�o d�i sang thế kỷ sau th�nh sự suy sụp. �Sự giảm bớt �p lực của Căm Bốt n�y cho ph�p người Ch�m ph�ng ra cuộc phản c�ng vĩ đại sau c�ng của họ v�o Việt Nam trong năm 1371 tương tự như thế, sau khi cuộc chinh phục của nh� Minh v�o Việt Nam bởi Ho�ng Đế Vĩnh Lạc bị kết th�c trong năm 1427, việc n�y đ� mang lại cho Việt Nam quy�n tự do h�nh động cần thiết để chinh phục nước Ch�m năm 1471.

 

���� V�o thời gian m� người Việt Nam tiến v�o ch�u thổ s�ng Cửu Long, Căm Bốt, dưới �p lực thường trực của người Th�i, c�c kẻ triều cống trước đ�y nay trở th�nh c�c kẻ địch h�ng mạnh, đ� bị bắt buộc từ b� Angkor; v� c�c vị vua của n� đ� được tạo lập một c�ch kh� bấp b�nh nơi hạ lưu s�ng Cửu Long, bao gồm phần lớn v�ng ng�y nay l� ch�u thổ ph�a tr�n.� Ch�nh v� thế, người Việt Nam sau khi hủy diệt c�c l�nh địa Ch�m đ� lập ra một bi�n giới chung với một nước Căm Bốt suy yếu v� bị quấy rối.� �p lực trước đ�y được đặt tr�n người Ch�m đ� được chuyển sang người Khmer, những kẻ dần d� bị buộc rời khỏi v�ng ch�u thổ.� Sự đối đầu giữa một Căm Bốt suy yếu v� một Việt Nam đang b�nh trướng dưới c�c ch�a nh� Nguyễn mang lại sự th� nghịch l�u d�i giữa hai d�n tộc.� Người Khmer lo sợ c�ng số phận của người Ch�m, v� nh�n thấy xứ sở lưu vực s�ng Cửu Long m�u mỡ của ch�nh họ như l� khu vực kế tiếp cho sự b�nh trướng của Việt Nam; người Việt Nam kh�ng ngừng cuộc Nam Tiến, v� dưới thời Ph�p thuộc, vẫn tiếp tục trong thực tế cho x�m nhập c�c người định cư v�o Căm Bốt.

 

���� Cuộc Nam Tiến, đặc biệt c�c giai đoạn về sau của n� khi một số tỷ lệ d�n số bị trị bị đồng h�a v�o d�n Việt Nam chiến thắng, đ� c� ảnh hưởng l�m lo�ng đi v� thay đổi một c�ch tế vi t�nh� chất văn h�a Trung Hoa m� người bắc Việt Nam đ� chấp nhận qu� l�u.� D�n ch�ng của c�c tỉnh miền nam �t bị x�m nhập v� kiểm so�t nặng nề bởi tầng lớp học thức � học tập Khổng Học Trung Hoa � so với miền bắc.� C�c điền sản th� lớn hơn, tỷ lệ c�c n�ng d�n cao hơn tỷ lệ c�c điền chủ.� Hậu quả, văn h�a Khổng học miền bắc bị th�ch đố bởi một phần c�c gi�o ph�i v� khuynh hướng tiền-Việt Nam, một phần bởi c�c gi�o ph�i v� khuynh hướng mới tự ph�t ở miền nam.� Đạo Phật nở rộ, v� mang t�nh chất một t�n ngưỡng b�nh d�n như đối kh�ng lại một t�n ngưỡng ch�nh thức.�� Chắc chắn n� đ� thu h�t sức mạnh từ t�nh chất Phật Gi�o của c�c phần tử Ch�m v� Căm Bốt trong d�n ch�ng.� Về sau c�c gi�o ph�o bản xứ đ� ph�t sinh, một số h�y c�n tiếp tục.� Sau sự du nhập Ki-t�-gi�o, đạo C�ng Gi�o đ� c� sự tiến triển mau lẹ.� C�c chuyển động n�y c� thể được nh�n một phần l� v� sự suy giảm t�c động của nền văn minh Trung Hoa thuần t�y ở một khoảng c�ch xa xăm hơn với nguồn cội, v� một phần v� c�c nguy�n do x� hội, t�nh chất độc lập của một d�n số n�ng d�n mở đường khai ph� đối lập với c�c sự cao ngạo của tầng lớp địa chủ. ��

 

���� Sự kiện rằng ch�nh miền nam đ� l� nơi m� c�c du kh�ch v� c�c nh� mậu dịch �u Ch�u đến đầu ti�n, mang theo họ c�c tư tưởng mới v� một t�n gi�o mới, đ� bổ t�c cho sự kh�c biệt cấp miền đang ph�t triển n�y.� N� diễn ra v�o khoảng hai mươi năm trước khi chức ph� vương kinh lược (hay tổng trấn: viceroyalty) miền nam được thiết lập dưới sự l�nh đạo của họ Nguyễn (1558), rằng chiếc t�u Bồ Đ�o Nha đầu ti�n đ� cập bến duy�n hải Việt Nam (1535).� C�c nh� truyền gi�o đ� sớm theo bước c�c kẻ hải h�nh ban đầu v� t�m thấy v�ng đất xa x�i ph�a nam, ch�u thổ s�ng Cửu Long, một c�nh đồng tương đối ph� nhi�u cho sự nỗ lực của họ.� C�c yếu tố ph�c họa ở tr�n l�m suy yếu sự chống đối phổ th�ng đối với một t�n gi�o mới, v� sự dễ d�ng v� tiến bộ của c�c việc cải đạo C�ng Gi�o tại miền nam chắc chắn phản ảnh một kh�a cạnh trong t�nh chất người d�n miền nam Việt Nam, trong thực tế, đến t�nh chất của mọi người Việt Nam, đ�nh dấu một sự kh�c biệt r� r�ng giữa họ v� ch�nh d�n tộc Trung Hoa.� C� thể l� một d�n tộc sẽ lu�n lu�n � thức một c�ch kh� chịu về sự kiện rằng nền văn h�a của họ mang t�nh chất ngoại lai v� nguy�n thủy bị �p đặt bởi sự chinh phục.� C�c truyền thống tương tự của sự chống đ�i, che dấu v� b�nh d�n hơn l� c�ng khai v� qu� tộc, đối với c�c nền văn h�a ngoại quốc bị �p đặt xuất hiện tại nhiều nơi tr�n thế giới (�i Nhĩ lan (Ireland) l� một th� dụ tốt).� Một sự biểu lộ của th�i độ n�y, c� tầm quan trọng lớn lao đến văn h�a tương lai của Việt Nam v� mối quan hệ của n� với Trung Hoa, đ� l� một hậu quả gi�n tiếp của nỗ lực truyền gi�o.

 

���� Đối diện với sự kh� khăn gấp đ�i của sự phức tạp v� phạm vi của văn tự biểu � (ideographic) của Trung Hoa v� sự kiện rằng phần lớn d�n ch�ng m� chữ, c�c nh� truyền gi�o đ� quyết định tạo ra một c�ch k� �m bằng mẫu tự la m� cho tiếng Việt (l� một ng�n ngữ cho ph�p l�m việc n�y) v� s�ng chế ra Quốc Ngữ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND],� bản k� �m bằng mẫu tự la m� cho ng�n ngữ n�i của Việt Nam.� Sau đ� họ đ� phi�n dịch c�c t�i liệu t�n gi�o th�nh tiếng Việt với sự sử dụng loại hệ thống chữ viết n�y.� Một sự ph�t triển như thế sẽ kh�ng bao giờ khả thi tại Trung Hoa: trước ti�n bản chất của một ng�n ngữ phần lớn l� từ đồng �m (homophonic) tự n� kh�ng th�ch nghi với sự k� �m bằng mẫu tự [la tinh]; thứ nh�, sự k�nh trọng của người Trung Hoa v� sự h�nh diện về hệ thống văn tự biểu � của ch�nh họ sẽ tức thời sỉ nhục bất kỳ sự k� �m mới n�o l� �man rợ�.� C�c nh� truyền đạo C�ng Gi�o ban đầu tại Trung Hoa, đ� đi theo một con đuờng đ�ng l� đối nghịch với c�c đồng sự của họ ở Việt Nam, đ� học tiếng Trung Hoa v� trở th�nh c�c học giả tinh th�ng về văn chương v� ng�n ngữ cổ điển.� Quốc Ngữ đ� được loan truyền một c�ch mau lẹ, v� vượt qu� phạm vi c�c khối người cải đạo Thi�n Ch�a.� N� đương nhi�n khơi l�n sự b�o động của giới quan chức học theo Khổng Học v� địa chủ, bởi n� đ�m thọc v�o c�c nền tảng thẩm quyền v� uy t�n của họ.� Ngo�i ra, n� kh�ng phải l� một hệ thống được chấp nhận để k� �m ng�n ngữ Trung Hoa cổ điển, v� v� thế kh�ng gi�p �ch g� cho c�c nh� gi�o dục cổ truyền.� Giống như b�n Trung Hoa, ảnh hưởng quan trọng tối hậu của sự rao giảng đạo Ki-t�, hiện diện ngay từ c�c gi�o sĩ D�ng T�n đầu ti�n được tuyển dụng bởi Triều Đ�nh như c�c nh� thi�n văn v� to�n học, ch�nh l� việc gieo những hạt mầm quan t�m đến khoa học tự nhi�n, tại Việt Nam cũng thế, ảnh hưởng quan trọng tối hậu l� sự tạo lập (cũng từ c�c gi�o sĩ đầu ti�n) một c�ng cụ th�ch hợp để phổ biến v� tăng cường văn h�a d�n tộc đối lập với văn minh ngoại lai c� nguồn gốc Trung Hoa.

 

���� Ảnh hưởng đạo Thi�n Ch�a kh�ng l�u cũng đ� được du nhập v�o phần ph�a bắc của Việt Nam, nhưng kh�ng c� vẻ ho�n to�n thật mạnh mẽ như l� tại miền nam.� N� cũng gắn liền với sự tăng trưởng mậu dịch v� sự xuất hiện của một tầng lớp thương nh�n tại c�c hải cảng v� c�c th�nh phố. Sự ph�n chia giữa c�c vị ch�a Nguyễn ở phương nam với c�c quan nhiếp ch�nh họ Trịnh chế ngự triều đ�nh miền bắc l�m mệt mỏi v� g�y cản trở cho c�c nh� mậu dịch, v� x�c phạm đến cảm thức thống nhất của to�n thể người d�n.� N� tiếp tục tạo kh� khăn cho xứ sở với c�c cuộc nội chiến v� ph�n tranh trong suốt thế kỷ thứ mười bảy cũng như phần đầu của thế kỷ thứ mười t�m.� Truyền thống Khổng học khinh miệt thương mại v� ch�nh quyền chỉ l�m �t điều để hỗ trợ thương mại v� nhiều điều g�y phiền nhiễu v� b�c lột tầng lớp thương nh�n.� C�c du kh�ch ngoại quốc ghi nhận về sự ngh�o khổ của giới n�ng d�n v� nhận x�t rằng c�c thương nh�n, mặc d� thường gi�u c�, đ� cố gắng tối đa để che dấu t�nh trạng của m�nh trước một ch�nh quyền th� nghịch.� Nơi đ�y, một lần nữa, sự nhấn mạnh th�i qu� tr�n một n�t của nền văn h�a nhập cảng c� thể được nh�n thấy ở Việt Nam.� Tại Trung Hoa, tầng lớp quan chức c� miệt thị về mặt tri thức c�c thương nh�n, nhưng trong thực tế thường cộng t�c với họ trong c�c cuộc kinh doanh b�o bở v� nhắm mắt l�m ngơ trước c�c sự n� tr�nh luật lệ chống lại việc tạo m�i đất đai v� mua chức tước.

 

���� C�c sự căng thẳng của x� hội Việt Nam, xảy ra một phần v� sự đ�nh chỉ thực sự Cuộc Nam Tiến sau khi s�p nhập ch�u thổ s�ng Cửu Long hồi cuối thế kỷ thứ mười bảy (1622) đ� b�ng nổ khoảng t�m mươi năm sau đ� trong cuộc nổi dậy rộng lớn của T�y Sơn (1771-1802), l�nh đạo bởi ba anh em họ Nguyễn, c�c kẻ xem ra đ� c� một căn bản thương nh�n.� Cuộc nổi dậy của họ ph�t khởi tại miền nam v� một phần dựa v�o v�ng n�i rừng che phủ ph�a t�y bắc ch�u thổ s�ng Cửu Long, từ đ� phong tr�o mang t�n l� T�y Sơn, c� nghĩa l� n�i ph�a t�y].� Cuộc nổi dậy cực kỳ th�nh c�ng trong nhiều năm.� S�ig�n được chiếm giữ trong năm 1776, v� mười năm sau đ� qu�n nổi dậy, đ� thực sự lật đổ c�c ch�a Nguyễn ở miền nam, đ� tấn c�ng miền bắc v� thu doạt kinh th�nh nh� vua ở H� Nội v�o năm 1786.� C�c quan nhiếp ch�nh họ Trịnh quẫn tr� v� c�c kẻ ủng hộ họ sau đ� đ� cầu cứu Trung Hoa sang gi�p đỡ họ.� Ho�ng Đế C�n Long của triều đại M�n Ch�u, vị vua thứ ba trong bộ ba l�nh đạo vĩ đại của triều đại M�n Ch�u, khi đ� đang tr�n ngai v�ng, vị thế �ng đ� chiếm ngự trong bốn mươi năm.� �ng ta quyết định rằng cuộc nổi dậy của T�y Sơn v� sự sụp đổ của tất cả quyền thế đ� được thừa nhận mở ra một cơ hội kh�c cho sự can thiệp của Trung Hoa.� C�c đội qu�n trong thời trị v� của �ng đ� ho�n tất cuộc chinh phục M�ng Cổ, Trung � thuộc Trung Hoa, v� T�y Tạng.� Trong năm 1789, �ng đ� ph�i một đội qu�n to lớn sang bắc Việt Nam, nhưng đ� đụng độ v� bị đ�nh bại bởi c�c lực lượng T�y Sơn gần bi�n giới.� Vua C�n Long đ� từ bỏ bất kỳ sự can thiệp n�o kh�c nữa.

 

���� Chỉ một hay hai năm sau đ� c�c lượng sẽ đ�nh bại phong tr�o T�y Sơn đ� khởi sự h�nh động.� Một người Ph�p phi�u lưu v� l� người xuất ngoại [�migr�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ND] trốn tr�nh cuộc C�ch mạng Ph�p, Pigneau de Behaine, đ� thu gom ở l�nh địa chiếm hữu ph�a đ�ng của Ph�p tại Ấn Độ, v�ng đất vẫn chưa chấp nhận cuộc C�ch mạng, một lực lượng hỗn hợp c�c kẻ phi�u lưu �u Ch�u dưới danh nghĩa phục vụ qu�n đội của Nguyễn �nh, người tuy�n nhận nối ng�i cuối c�ng của c�c vị Ch�a Nguyền ở miền nam đ� bị sụp đổ, đ� chạy trốn ra nước ngo�i.� C�c cuộc đột k�ch hải qu�n v� c�c cuộc x�m nhập quy m� nhỏ đ� được tổ chức bởi Pigneau de Behaine v� đồng minh người Việt của �ng tr�n bờ biển ph�a nam.� Họ nhận được v�i sự hỗ trợ phần lớn từ c�c người cải sang đạo Thi�n Ch�a.� Trong năm 1791, họ đ� t�i chiếm S�ig�n, v� từ căn cứ then chốt n�y đ� li�n tục theo đuổi mục đ�ch của họ, đột k�ch v� x�m nhập v�ng bờ biển trong mọi kỳ c� gi� m�a đ�ng nam (m�a h�).� Huế được chiếm giữ trong năm 1801; v� ch�nh H� Nội trong năm kế tiếp, 1802, một biến cố đ�nh dấu sự kết th�c của nổi d�y của T�y Sơn.� Cuộc nổi dậy đ� đ� được tượng trưng bởi một kh�a cạnh chống Khổng học v� mang t�nh d�n tộc r� rệt.� Quốc Ngữ trở th�nh ng�n ngữ ch�nh thức của n� thay cho tiếng H�n cổ truyền; một trong c�c anh em nguy�n thủy� đ� ph�t động cuộc nổi dậy l� một nh� sư Phật Gi�o, v� sự hậu thuẫn của c�c kẻ cải đạo theo Thi�n Ch�a cho cuộc phản c�ch mạng b�o trước một sự sắp xếp h�ng ngũ vẫn c�n tồn tại cho đến thời điểm hiện tại.

 

���� C�c sự kiện nổi bật kh�c về phong tr�o T�y Sơn l�, trước ti�n, t�nh chất to�n Việt Nam (pan-Vietnamese) đ� được � thức v� thắng lợi.� N� t�i thống nhất xứ sở, từ chối việc lưu giữ sự chia cắt của c�c ch�a miền nam, v� thiết lập kinh đ� của n� tại H� N�i., trung t�m ch�nh quyền cũ.� Trong cung c�ch n�y, n� chắc chắn tiượng trưng cho một cảm nghĩ thống nhất rất s�u đậm trong d�n ch�ng Việt Nam m� c�c sự chia cắt �p đặt li�n tiếp đ� kh�ng x�a nh�a được.� Thứ nh�, phong tr�o bị đ�nh bại bởi sự can thiệp b�n ngo�i, v� kh�ng phải bởi sự can thiệp của Trung Hoa, vốn đ� bị đẩy lui.� C�c hoạt động của c�c lực lượng tr�n biển của Pigneau de Behaine ch�nh v� thế đ� b�o trước cho sự chinh phục sắp đến của người Ph�p, v� sự chiến thắng bề ngo�i của Nguyễn �nh l� kh�c dạo mở m�n cho sự thống trị của c�c đồng minh của �ng.� Sự kiện rằng nh� Trịnh thua trận đ� nghi�ng về việc đ�nh liều với c�c hậu quả của cuộc x�m lăng của Trung Hoa hơn l� chấp nhận t�nh chất d�n tộc của phong tr�o T�y Sơn cũng minh họa cho một khuynh hướng mới trong sự ph�t triển của lịch sử Việt Nam.� C�c phong tr�o d�n tộc chủ nghĩa ng�y c�ng trở n�n đối nghịch với sự cai trị của c�c quan chức H�n h�a v� một văn h�a hướng về Trung Hoa; khi trong thế kỷ thứ mười chin quyền lực của Trung Hoa th�i kh�ng c�n l� một vấn đề cấp b�ch, v� sự x�m nhập của Ph�p đ� xảy ra, c�c phong tr�o d�n tộc nổi dậy v� phản kh�ng quay ra chống lại mối nguy hiểm ngoại lai mới.

 

���� C� c�c sự tương đồng giữa cuộc nổi dậy của T�y Sơn tại Việt Nam v� cuộc nổi loạn Th�i B�nh Thi�n Quốc tại Trung Hoa khoảng năm mươi năm sau đ�.� Cả hai đều l� c�c phong tr�o b�nh d�n dựa tr�n giới n�ng d�n v� đối nghịch với � thức hệ Khổng học đang thống trị, cả hai đều tiến s�t tới sự chiến thắng to�n vẹn v� sự t�i định hướng c� hậu quả s�u đậm tr�n văn h�a đất nước họ.� Cả hai đều phần lớn bị đ�nh bại bởi sự can thiệp của ngoại quốc dựa tr�n hải lực.� S�ig�n nằm trong tay Pigneau de Behaine b�o trước vai tr� của Thượng Hải như căn cứ qu�n sự cho �Qu�n Đội M�i M�i Chiến Thắng� của Tướng Gordon� v� cơ sở t�i ch�nh cho đội qu�n triều đ�nh ở An Huy kh� h�ng mạnh v� hữu hiệu tối đa của L� Hồng Chương.� Cả hai phong tr�o cũng hướng tới một th�i độ mới, trong khi dấu m�nh trong c�c h�nh thức cổ xưa, từ đ� c�c phong tr�o d�n tộc v� b�nh d�n sau n�y đ� lấy l�m cảm hứng.� T�y Sơn bao h�m l� tưởng của một Việt Nam thống nhất, c� t�nh c�ch d�n tộc về văn h�a v� b�nh d�n trong sự ủng hộ.� Phong tr�o Th�i B�nh Thi�n Quốc được nh�n nhận bởi Cộng Sản Trung Hoa ng�y nay như c�c tiền th�n, ngay d� thường đi sai đường, cho cuộc c�ch mạng thắng lợi của ch�nh họ [cộng sản].

 

���� Nguyễn �nh, người l�n ngai v�ng của một nước Việt Nam thống nhất, trong thực tế l� c�ng tr�nh của c�c đối thủ của �ng ta, đ� trị v� với vương hiệu Ho�ng Đế Gia Long của triều đại mới nh� Nguyễn.� C�c tổ ti�n của �ng đ� l� c�c vị ch�a miền nam, �ng đ�ch th�n dựng Huế l�m kinh đ� của m�nh, v� bỏ rơi H� Nội.� Gia Long đ� lập ra ch�nh s�ch của m�nh để tăng cường t�nh chất Trung Hoa trong sự cai trị của �ng trong mọi phương c�ch khả dĩ.� Tước hiệu mới của �ng l� Ho�ng Đế, điều c� thể hơi tự phụ trong mắt nh�n của Trung Hoa, đ� kh�ng g�y ra sự giận dữ t�ch cực của c�c kẻ kế ng�i bị quấy nhiễu của vua C�n Long, cũng kh�ng ngăn cản một sự thừa nhận ch�nh thức quyền chủ tể của Trung Hoa.� Ch�nh quyền được tập trung h�a một c�ch cứng ngắc; Nguyễn �nh, hậu duệ của c�c vị ch�a miền nam, đ� kh�ng chủ định rằng c�c kẻ kh�c n�n tranh d�nh lịch sử với gia tộc của ch�nh �ng.� Hệ thống khảo th� Trung Hoa tuyển chọn quan lại trong C�ng Quyền được t�i củng cố v� t�i dập khu�n theo c�c đường n�t gần gủi với c�ch thức của Trung Hoa.� Việc học tập Khổng học được nhấn mạnh, Phật gi�o bị hạn chế v� thường bị ngược đ�i, chế độ, bất kể đến m�n nợ của n� với c�c kẻ đ�nh thu� người Ph�p, trở n�n chống lại C�ng gi�o một c�ch r� rệt.� Tại miền nam, ch�nh s�ch thực d�n v�ng ch�u thổ được gia tăng bởi việc th�nh lập c�c khu khẩn hoang với binh sĩ l� n�ng d�n dọc theo bi�n giới Căm Bốt v� tại c�c v�ng đất mới thưa d�n dọc theo hạ lưu s�ng Cửu Long.� Sự kh�ng cự t�ch cực chống lại cuộc chinh phục của Ph�p m� c�c khu đồn điền đ� chứng tỏ sau n�y cho thấy rằng Ho�ng Đế Gia Long c� thể đ� sẵn hay biết l� c�c tỉnh miền nam của �ng bị mở ngỏ nhiều nhất trước hiểm họa ngoại bang, chứ kh�ng phải bi�n cương miền bắc với Trung Hoa dưới triều M�n Ch�u.

 

���� Bốn ho�ng đế kế tiếp nhau của Việt Nam đ� trị v� v� cai trị từ 1802 đến 1883, năm m� trong đ� cuộc chinh phục của người Ph�p hay chế độ bảo hộ cưỡng đặt, đ� chấm dứt nền độc lập thực sự của Việt Nam.� Vua Gia Long (1802-20) đ� kh�ng li�n hệ trực tiếp v�o sự tranh chấp với Ph�p, v� theo đuổi ch�nh s�ch độc đo�n v� cổ truyền nghi�m ngặt của m�nh, kể cả c�c biện ph�p chống lại C�ng gi�o, đ� kh�ng bị quấy nhiễu.� Hai người kế ng�i ngay sau �ng, Minh Mạng, băng h� năm 1841, v� Thiệu Trị, băng h� năm 1847, đ� c� thể kiềm chế c�c �p lực gia tăng một phần được ph�ng ra bởi c�c gi�o sỉ v� c�c kẻ cải đạo theo họ, phần kh�c ph�t sinh từ trạng th�i lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc �u Ch�u trong thế kỷ thứ mười chin, đang d�ng cao quanh hai �ng.� Cho đến khi chấm dứt sự trị v� của vua Gia Long c�c cuộc Chiến Tranh Napoleon v� sự kiệt quệ của nước Ph�p bởi sự giao tranh l�u d�i n�y khiến cho sự x�m lăng nước ngo�i từ v�ng đất đ� [Ph�p] trở n�n bất khả thi.� Cho đến khi Anh Quốc ph�t lộ nhược điểm nội tại của triều đ�nh M�n Ch�u tại Trung Hoa qua c�c chiến thắng dễ d�ng của Anh trong Cuộc Chiến Tranh Nha Phiến (1840-2), c�c d�n tộc �u Ch�u h�y c�n c� sự k�nh trọng đối với sức mạnh của c�c đế quốc phương đ�ng vốn c� thể được chứng minh trong thế kỷ thứ mười t�m, nhưng giờ đ�y đ� trở n�n lỗi thời.� Điều quan trọng l� sự khởi động qu�n sự đầu ti�n của Ph�p, một cuộc tấn c�ng v�o th�nh phố hải cảng Đ� Nẵng, xảy ra trong năm 1847, chỉ năm năm sau sự bại trận của Trung Hoa trong cuộc Chiến Tranh Nha Phiến.� Đ� l� một biến cố biệt lập, kh�ng c� c�c hậu quả l�u d�i, nhưng n� đ� diễn ra v�o năm m� Ho�ng Đế Thiệu Tri bị mất, người kế ng�i �ng, vua Tự Đức, vị qu�n vương độc lập cuối c�ng của Việt Nam, sắp phải chiến đấu suốt cuộc đời m�nh chống lại sự x�m lấn gia tăng.

 

���� Trong năm 1858, Đ� Đốc Rigault de Genouilly lại tấn c�ng Đ� Nẵng lần nữa, v� trong năm kế tiếp chiếm giữ S�ig�n.� Từ biến cố đ� đ� khởi sự một chuỗi c�c sự x�m lấn v� s�p nhập mang v�i n�t tương đồng với sự nghiệp của Pigneau de behaine v� ch�nh vua Gia Long trong cuộc chiến của họ chống lại qu�n T�y Sơn mới s�u mươi �ng.� Năm 1864 sứ giả Ph�p tại chỗ đ� bị khuyến dụ để đồng � một sự ho�n trả c�c năm trước đ�.� S�ig�n tr�n n�n căn cứ địa; khu vực chinh phục được mở rộng chung quanh n�, v� c�c v�ng nội địa bị cắt rời khỏi quyền cai trị của ch�nh quyền ở Huế.� Năm 1862, miền đ�ng của phần được gọi l� Nam Kỳ, S�ig�n, Mỹ Tho v� Bi�n H�a, đ� bị nhường cho Ph�p bởi Ho�ng Đế Tự Đức, người e sợ c�c sự x�m chiếm hơn nữa nếu �ng kh�ng cự, v� c�c hậu quả của ch�ng tr�n sự ổn định nội bộ của chế độ của khu vực n�y, v� đ� k� kết một văn kiện như thế.� H�nh vi của �ng ta bị b�c bỏ tại Paris, nơi m� một cuộc vận động ch�nh trị của phe thực d�n nhiều quyền thế đang th�nh h�nh.� Ba năm sau đ�, 1867 thống đốc Ph�p tại S�ig�n với đề xuất của m�nh đ� x�m lăng v� chiếm đ�ng, sau đ�, s�p nhập phần c�n lại của vung ch�u thổ của Nam Việt Nam đến tận biến giới Căm Bốt.� C�ng l�c một chế độ bảo hộ đ� được �p đặt l�n tr�n vương quốc yếu k�m Căm Bốt, xứ trong thực tế gần như ch�o đ�n sự bảo hộ n�y, tho�t ra khỏi c�c cuộc x�m lăng của Việt Nam v� Th�i Lan.

 

���� Điều c� thể nhận thấy rằng c�c sự tiến bước quan trọng n�y của người Ph�p đ� diễn ra đồng thời với sự suy giảm của quyền lực ch�nh trị của Trung Hoa bởi trước ti�n cuộc nổi dậy của Th�i B�nh Thi�n Quốc trong thập ni�n 50 v� những năm đầu của thập ni�n 60 của thế kỷ v� sau đ� bởi Cuộc Chiến Tranh Anh - Ph�p chống lại Trung Hoa từ 1858 đến 1860, đ� �p đặt c�c hạn chế mới v� rộng r�i hơn tr�n đế quốc đang suy yếu n�y.� Vua Tự Đức kh�ng thể hy vọng sự trợ gi�p của Trung Hoa trong thời kỳ kh� klhăn n�y.� Mặt kh�c, thảm họa chủa ch�nh nước Ph�p trong năm 1870 [thất trận trước Đức, ch� của người dịch] chỉ đ�i hỏi một sự đ�nh chỉ rất tạm thời tiến tr�nh chinh phục v� thống trị tại Việt Nam.� V�o năm 1873 ch�nh quyền tại S�ig�n đ� đủ mạnh để loại bỏ mọi t�n t�ch của ch�nh quyền Việt Nam v� mang lại chế độ cai trị thực d�n trực tiếp của người Ph�p.� C�c vi�n chức (�c�c quan lại�) của Tự Đức đ� từ chối hợp t�c, v� trong nhiều trường hợp, đ� r�t lui khỏi khu vực; v� thế người Ph�p tuy�n bố rằng sự kiện n�y đ� tạo ra một khoảng trống ch�nh quyền m� họ phải tự đảm nhận việc lấp đầy.� Họ đ� l�m; thuế kh�a đ� tăng gấp mười lần trong hai mươi năm kế đ�.� Kỷ nguy�n b�c lột của thực d�n đ� khởi đầu.

 

���� Trong c�ng năm, 1873, người Ph�p lần đầu ti�n đ� tiến h�nh chống lại miền bắc Việt Nam, nơi m� một sĩ quan h�nh động gần như độc lập với ch�nh phủ qu� nh�, nhưng kh�ng phải l� kh�ng c� sự hậu thuẫn ch�nh trị tại Ph�p, đ� chiếm đ�ng H� Nội.� Anh ta đ� bị hạ s�t ở đ� trong năm sau, v� người Ph�p đ� di tản khỏi th�nh phố để đổi lấy một hiệp ước mới được k� kết bởi vua Tự Đức chấp thuận mậu dịch mở ngỏ v� sư lưu h�nh tự do tr�n s�ng Hồng.� Trong khi đ� tại Trung Hoa đ� c� điều m� c�c sử gia Trung Hoa mệnh danh l� Cuộc Phục Hồi vua Đồng Trị (Phục Hưng l� một danh từ đ�ng hơn) theo sau sự trấn �p cuộc nổi dậy của Th�i B�nh Thi�n Quốc năm 1862 v� sự trấn �p kế tiếp c�c cuộc nổi loạn nhỏ hơn của người Niệm (Nien Fei) tại miền trung Trung Hoa v� của người Hồi Gi�o tại c�c tỉnh ph�a t�y v� tại V�n Nam.� Triều đ�nh một lần nữa đ� nắm được sự kiểm so�t t�nh h�nh, v� c�c ph� vương kinh lược phục hồi chế độ đ� thực hiện c�c nỗ lực thận trọng để hiện đại h�a qu�n đội v� thiết lập ở mức tối thiểu c�ng nghiệp t�n tiến, ch�nh yếu cho c�c sự trang bị vũ kh�.� Vua Tự Đức bị khuyến dụ để tin rằng Trung Hoa c� thể, sau hết, một lần nữa đưa ra một đối lực trước c�c sự x�m lược của Ph�p.� Trong năm 1880, �ng đ� ph�i đi một sứ bộ triều cống, kh�ng phải chỉ đến bi�n giới, như tập qu�n l�u nay, m� c�n đến tận Bắc Kinh.� Điều n�y hiển nhi�n l� một sự biểu lộ về mặt ch�nh trị l�ng tin tưởng nơi Trung Hoa v� một sự thỉnh cầu gi�n tiếp cho sự bảo hộ của Trung Hoa.� Sự việc n�y l�m tức giận phe thực d�n chủ nghĩa của Ph�p.

 

���� Trong v�ng hai năm người Ph�p, tố c�o ch�nh quyền Việt Nam đ� vi phạm Hiệp Ước (một duy�n cớ ti�u chuẩn cho h�nh động vũ lực tại khắp v�ng Viễn Đ�ng trong thời kỳ n�y), đ� chiếm giữ H� Nội (1882), lần n�y với � định ở lại đ�; v� mặc d� vi�n chỉ huy cuộc viễn chinh, Rivi�re, đ� bị hạ s�t trong năm kế tiếp, người Ph�p đ� kh�ng triệt tho�i.� Chiến tranh tại ch�u thổ S�ng Hồng đ� tiếp diễn trong gần hai mươi năm, người Ph�p đ� đụng độ với cuộc kh�ng chiến du k�ch được m� tả bởi c�c người đương thời bằng c�c từ ngữ c� thể được d�ng bởi người Hoa Kỳ ng�y nay.� Kẻ địch v� h�nh, biến dạng khi c� sự xuất hiện của c�c lực lượng h�ng mạnh, nhưng t�i hiện khi c�c lực lượng n�y ra đi, những kẻ kh�ng thể bị ph�n biệt khỏi giới n�ng d�n tr�n c�c c�nh đồng, bởi v� ch�nh anh ta l� một người trong họ.� Vua Tự Đức mất năm 1883 v� c�c kh� khăn của triều đại trong sự kế vị �ng đ� mở đường cho người Ph�p chiếm đ�ng Huế v� dựng l�n một vị ho�ng đế b� nh�n.� Một vị tuy�n nhận ng�i vị kh�c đ� chạy trốn để l�nh đạo cuộc kh�ng chiến du k�ch cho đến khi từ trần [sic, để chỉ vua H�m Nghi, sau bị bắt v� bị đ�y sang Phi Ch�u, ND].� Trong khi đ�, Trung Hoa đ� can thiệp, bằng cả hoạt động của qu�n du k�ch phi ch�nh quy được gọi l� qu�n Cờ Đen (tự họ l� thối th�n của c�c nh�m Th�i B�nh Thi�n Quốc tỵ nạn chạy trốn v�o c�c v�ng đồi n�i ở bi�n giới) lẫn c�c lực lượng ch�nh quy.� C�c lực lượng n�y đạt được một chiến thắng tr�n người Ph�p tại Lạng Sơn, nhưng bộ chỉ huy của Ph�p ở ngo�i biển, gi�p cho họ c� thể ph�o k�ch hải cảng Trung Hoa tại Ph�c Ch�u v� tấn c�ng c�c khu vực duy�n hải kh�c, cộng với c�c sự bận t�m của Trung Hoa tại H�n Quốc để đối ph� với Nhật Bản, khiến cho Triều Đ�nh Trung Hoa sẵn l�ng h�a giải, từ bỏ sự tuy�n nhận của n�, k�o d�i h�ng ngh�n năm, về quyền chủ tể tr�n Việt Nam.� Biến cố n�y đ� ch�nh thức chấm dứt bất kỳ loại thẩm quyền n�o tại xứ sở; sự �p đặt chế độ thống trị thực d�n trực tiếp của người Ph�p tại Bắc Kỳ năm 1887 v� quyền lực bảo hộ gia tăng tr�n đế quốc An Nam thu nhỏ� đặt tại Huế đ� kết liễu, trong hơn năm mươi năm, nền độc lập của ch�nh Việt Nam./- ���������������������

 

-----

 

Nguồn: C.P. FitzGerald, Chapter Two: Chinese Expansion By Land: Vietnam, c�c trang 19-38, The Southern Expansion of Chinese People, New York, Washington: Praeger Publishers, 1972

 

***

 

 

PHỤ CH� CỦA NG� BẮC

 

���� Tr�n đ�y l� bản dịch của một c�ng tr�nh nghi�n cứu quan trọng, tr�nh b�y một c�ch x�c t�ch tiến tr�nh h�nh th�nh của Việt Nam với c�c � nghĩa lịch sử then chốt theo nhịp biến thi�n trong t�c động của �p lực b�nh trướng thường trực xuống ph�a nam của Trung Hoa.� T�c giả, C.P. FitzGerald l� một gi�o sư người Anh, được nh�n nhận như học giả h�ng đầu v� đ� xuất bản nhiều t�c phẩm kinh điển về văn h�a v� địa lịch sử Trung Hoa trong thế kỷ thứ 20.� Với sự hiểu biết uy�n b�c, t�c giả đ� ghi lại một c�i nh�n thấu triệt khi đối chiếu c�c sự tương t�c, c�c điểm tương đồng v� dị biệt trong văn h�a v� lịch sử tư tưởng của Trung Hoa v� Việt Nam, nước thụ nhận gần như trọn vẹn văn h�a m� người Trung Hoa đ� �p đặt l�n họ.� Bản dịch hai Chương kh�c trong c�ng t�c phẩm của t�c giả c� li�n hệ nhiều đến Việt Nam, Sự B�nh Trướng Của Trung Hoa Tr�n Đất Liền: Trường Hợp V�n Nam v� C�c Viễn Ảnh Về Sự B�nh Trướng Xuống Ph�a Nam Của Trung Hoa, sẽ lần lượt được đăng tải nơi đ�y.

 

���� Về bản địa nguy�n thủy, đặc biệt về bi�n giới ph�a bắc của chủng tộc Việt, người dịch xin ghi lại c�c nhận x�t v� kh�m ph� mới của khoa học hiện đại, đặc biệt trong nh�n chủng học, đ� được c�ng bố gần đ�y như sau:

 

���� 1. T�c giả Trần Đai Sỹ, trong b�i Thử T�m Lại Bi�n Giới Cổ Của Việt Nam: Bằng Cổ Sử, Bằng Triết Học V� Hệ Thống ADN (hay DNA trong Anh ngữ) (đ� phổ biến v� c� thể truy cập dễ d�ng tr�n mạng internet), cho rằng:

 

[bắt đầu tr�ch] ��� C�n trong v�ng 5000 năm trước T�y lịch cho đến nay, th� tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải r�c từ ph�a nam s�ng Trường Giang, Đ�ng tới biển, T�y tới Tứ Xuy�n, Nam tới vịnh Th�i Lan.� Người Việt từ Ng�-Việt di cư xuống phương Nam.� Người M�n Việt đi xuống Giao Chỉ.� Người Việt di cư từ nam s�ng Trường Giang tr�nh lạnh xu�ng Bắc Việt đều đ�ng.� Đ� l� những cuộc di cư của tộc Việt trong l�nh thổ của họ, như cuộc di cư từ bắc v�o nam năm 1954; chứ kh�ng phải họ l� người Trung quốc di cư xu�ng Nam, lập ra nước Việt.� [hết tr�ch]

 

T�c giả cũng c� trưng dẫn c�c di t�ch c�n lại đến ng�y nay như đền c� c�c c�u đối thờ Hai b� Trưng tại Bồ Lăng (Fuling) thuộc th�nh phố Tr�ng Kh�nh, tỉnh Tứ Xuy�n, ở Trường sa, ở Động Đ�nh Hồ, tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa ng�y nay,� v.v� �Ch�ng ta cũng c�n c�c b�i thơ của L� Qu� Đ�n, Phan Huy �ch viết về c�c đ�n thờ Hai b� Trưng ở nam Trung Hoa khi c�c vị n�y biết đến trong dịp đi sứ sang Trung Hoa. C�c bằng chứng n�y cho thấy nhiều phần địa b�n tranh đấu của Hai B� Trưng nằm ở v�ng Hoa Nam ng�y nay hơn l� ở v�ng ch�u thổ s�ng Hồng như được lưu truyền.

 

T�c giả đ� đề cập đến c�c cuộc nghi�n cứu hệ th�ng DNA v� đ� đưa ra c�c kết luận như sau:

����

- (bắt đầu tr�ch) �Theo sự nghi�n cứu bằng hệ thống AND, từ cổ, giống người Trung Hoa, do giống người từ Đ�ng Nam � đi l�n.� Những người Đ�ng nam � lại đến từ ch�u Phi qua ngả nam � v�o thời gian hơn 20,000 năm trước.

 

- Người ch�u Phi đến Bắc Trung Hoa do ngả �u Ch�u rồi v�o Trung �, khoảng 15,000 năm.� Rồi hai giống người n�y tạo th�nh tộc Hoa.� (hết tr�ch)

 

���� Rất tiếc l� c�c kết quả nghi�n cứu hệ thống DNA đ� kh�ng được trinh b�y giống như trong c�c cuộc nghi�n cưu khoa học kh�c, v� đ�y l� những bằng chứng khả tỉn nhất, c� sức thuyết phục vũng chắc nhất.

 

���� 2. T�c giả W. W. Howells, trong b�i Origins of the Chinese People: Interpretations of the Recent Evidence, đăng tải trong quyển The Origins of Chinese Civilizations, University of California Press: Berkeley, California & London, 1983, đ� �p dụng c�c phương ph�p nh�n chủng học như đo sọ người thu thập được từ nhiều nơi tr�n đất Trung Hoa, để lấy số đo của chiều d�i, chiều ngang v� chiều cao của v�m sọ, chiều d�i từ xương chẩm đ�n đầu mũi; chiều d�i từ xương chẩm đến kẽ giữa răng cửa; chiều ngang v� chiều dọc của khu�n mặt; chiều d�i v� chiều ngang của mũi, ổ mắt) (Xem Bảng 11.1 v� 11.2 dưới đ�y).

 

 

Bảng 11.1: C�c Số Đo Trung B�nh Của C�c Loạt Sọ Người Trung Hoa

 

 

***

 

Bảng 11.2:� C�c Độ Sai Trệch Ti�u Chuẩn của Chuỗi Số Đo Sọ Người Tại Đảo Hải Nam

v� An Dương, Trung Hoa, So S�nh Với C�c Độ Sai Trệch Ti�u Chuẩn Trung B�nh

Tr�n Thế Giới Đ� Được Tổng Qu�t H�a

 

 

 

***

 

���� T�c giả cũng đ� �p dụng c�c sự ph�n t�ch ph�n biệt của c�c h�m số biện biệt tr�n c�c số đo c�c sọ người từ c�c v�ng quan trọng tr�n thế giới để đối chi�u với sọ người tại v�ng An Dương (đời nh� Thương) v� đảo Hải Nam, Trung Hoa, cũng như so s�nh với c�c chi số của c�c người đang sống từ nhiều nơi tại � Ch�u, dựa v�o c�ng tr�nh nghi�n cứu của t�c giả Bowles (1977), nhằm t�nh c�c khoảng c�ch tổng qu�t h�a v� �p dụng c�c kỹ thuật quy tụ, hầu x�c định t�nh khả t�n v� ổn định của cuộc th� nghiệm.

 

���� T�c giả Howells đ� t�m tắt như sau:

 

[bắt đầu tr�ch]�Theo c�c kết quả, được đơn giản h�a ở đ�y, c�c d�n sống ở v�ng Đ�ng � Ch�u thuộc v�o một loạt c�c khu vực theo trục bắc nam tổng qu�t sau đ�y:

 

1. Siberia (T�y B� Lợi �) v� miền đất rừng ph�a đ�ng (th� dụ, người Ainu; Ostyak, Yakut, Tungus,v� v.v�; Koryak, Chukchi, Eskimo)

 

2. Biển Caspian Sea đến M�n Ch�u (th� dụ, người Kalmuks, Uyghurs, Kazakhs, Mongols, Buriats)

 

3. Bắc Trung Hoa, H�n Quốc, Nhật Bản.� Được gọi l� �C�c D�n V�ng Ở Giữa, Trung Gian: Intermediate Populations�)

 

4. �Miền đ�ng, t�y, v� nam Trung Hoa (gi�p ranh với c�c d�n thuộc v�ng 3, nằm giữa c�c lưu vực của c�c con s�ng Ho�ng H� v� Dương Tử

 

5. V�n Nam, Qu� Ch�u, Việt nam (kẻ cả 3 ph�n chủng kh�c nhau trong c�c thổ d�n Đ�i Loan) [in đậm để l�m nổi bật bởi người dịch]

 

���� 6. Đ�ng Dương (trừ Việt Nam), Th�i Lan, M� Lai.

 

� V� t�c giả Bowles nh�n nhận người Bắc Trung Hoa như �d�n trung gian, ở giữa�: da họ trắng hơn c�c người phương nam, với mắt s�ng hơn; về c�c số đo, �ng nhận thấy số đo tương đương gần nhất l� với người Uyghurs v� T�y Tạng.� Người H�n quốc, �ng nhận thấy, l� trung gian giữa người Bắc Trung Hoa v� d�n Tungus.� Mặt kh�c, người Nam Trung Hoa gần cận với c�c l�ng giềng kh�ng thuộc chủng Trung Hoa của họ (người M�o v� Th�i-Shan) hơn l� với người phương bắc.� [hết tr�ch]

 

 

Điểm quan t�m ch�nh yếu của ch�ng ta l� theo c�c kết quả nghi�n cứu tr�n, chủng tộc Trung Hoa được ph�n biệt th�nh hai nh�nh, Bắc Trung Hoa v� Nam Trung Hoa, v� kh�c biệt với chủng tộc Việt c�ng c�c người bản xứ ở V�n Nam v� Qu� Ch�u.� Trong kh�i d�n thuộc tộc Việt ở miền số 5 n�y, phải cộng th�m c�c sắc d�n bản địa thuộc phần lớn tỉnh Tứ Xuy�n, c�c tỉnh Hồ Nam, Quảng T�y v� Quảng Đ�ng m� ch�nh người Trung Hoa ng�y nay vẫn c�n xem l� Việt nh�n, khi gọi l� Việt T�y v� Việt Đ�ng, như nhiều cuộc khảo s�t đ� n�u ra nhiều bằng chứng khả t�n.� Tuy nhi�n,� cần phải c� c�c cuộc nghi�n cứu khoa học s�u xa hơn nữa để c� được một kết luận quyết đo�n.

 

3. S�ch gi�o khoa về lịch sử văn minh thế giới tại Hoa Kỳ trong c�c thập ni�n g�n đ�y cũng đ� chấp nhận c�c kh�m ph� mới n�y, v� c� ấn h�nh bản đồ cổ xưa của Trung Hoa với sắc d�n H�n hay Hoa (Trung Hoa) ở ph�a bắc s�ng Ho�ng H�, c�n từ ph�a nam s�ng Dương Tử l� l�nh địa của sắc d�n Việt.� Xin tham khảo, th� dụ, quyển World Civilizations của Peter Sterns, Chapter 13, The Spread of Chinese Civilization: Japan, Korea, and Vietnam, c�c trang 286-309.�

 

Bản đồ Nam Việt cổ thời dưới đ�y được tr�ch từ quyển Shadow of the Dragon: Vietnam�s Continuing Struggle with China and the Implications for U.S. Foreign Policy của Henry J. Kenny, Washington: Brassey�s, 2002 l� một th� dụ kh�c./-

 

 

Bản Đồ 1: Bản Đồ Nam Việt Cổ Xưa, 111 trước C�ng Nguy�n,

trước khi bị chinh phục bởi Trung Hoa

 

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

17/8/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009