T�c Giả: (b) (3) (c) Chưa Được Giải Mật

Cơ Quan T�nh B�o Trung Ương Hoa Kỳ

 

Đ� Chấp Thuận Cho Phổ Biến: 2014/07/29 COO620600

 

 

TI�N ĐO�N SỰ RẠN NỨT

 

GIỮA TRUNG QUỐC V� VIỆT NAM

 

 

 

Ng� Bắc dịch

 

������

Theo sau sự sụp đổ của Nam Việt Nam hồi Th�ng Tư 1975, cộng đồng t�nh b�o cắt giảm quyết liệt c�c t�i nguy�n v� c�c nỗ lực ph�n t�ch của n� tại Đ�ng Dương, khi c�c ch�nh quyền li�n tiếp t�m c�ch tự t�ch xa m�nh ra khỏi ph�n cảnh đ� trong lịch sử Hoa Kỳ.� Khi c�c ch�nh quyền Ford v� Carter tiến tới việc đầu tư v�o s�ng kiến Trung Quốc khởi sự từ thời Nixon, Hoa Kỳ đ� tho�i lui từ một ch�nh s�ch được x�c định r� r�ng tại Đ�ng Nam �; �t sự ch� � được d�nh cho cơn b�o �m ỷ b�n trong Căm Bốt của Pol Pot, đến hố s�u được kho�t rộng giữa Việt Nam v� Trung Quốc g�y ra bởi n� [Căm Bốt], hay đến nỗ lực của S� Viết để khai th�c sự rạn nứt g�y thiệt hại cho Trung Quốc trong c�c sự hy vọng gi�nh được một b�n đạp vữnh mạnh hơn nhiều tại Cộng H�a X� Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới t�i thống nhất.� B�i viết n�y khảo s�t c�c nỗ lực của cộng đồng t�nh b�o để cảnh b�o c�c nh� lập ch�nh s�ch về c�c sự căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc v� Việt Nam, v� ghi nhận c�c sự lượng định t�nh b�o n�y đ� kh�ng c� t�c động đầy dủ ra sao, do m�i trường ch�nh trị của thời khoảng đ�.

***

������ Từ 1975 đến hết 1977, khối lượng c�c b�o c�o t�nh b�o ho�n chỉnh về Đ�ng Dương sụt giảm một c�ch mạnh mẽ.� Sự s�t giảm n�y trong việc lượng định đ� phản ảnh cả một sự giảm bớt r� rệt c�c nguồn lực ph�n t�ch về miền n�y lẫn một sự ch� � t�n lụi bởi số người sử dụng t�nh b�o tại một phần đất của thế giới nơi m� Hoa Kỳ bị nhận thức l� đ� phải g�nh chịu một sự thất bại qu�n sự nhục nh�.� Sau sự chấm dứt sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong năm 1975, c�c ch�nh quyền Ford v� Carter đ� t�m c�ch gột rửa Việt Nam ra khỏi k� ức của ch�ng ta � n� được thừa nhận l� một hồi đen tối m� c�c ch�nh quyền kế tiếp hy vọng tự t�ch rời ch�ng ra xa.� Khi, trong năm 1976, c�c đồng minh Th�i Lan của ch�ng ta y�u cầu ch�ng ta đ�ng cửa c�c căn cứ kh�ng qu�n của ch�ng ta ở đ� v� rời đi, Hoa Kỳ đ� thi h�nh, nhưng lại kh�ng ph�t triển một ch�nh s�ch thay thế tại Đ�ng Nam �, thay v�o đ� ưa th�ch để nh�n c�c sự ph�t triển ở đ� dưới kh�a cạnh một sự qu�n bằng khả dĩ chấp nhận được giữa một b�n l� c�c chế độ cộng sản Trung Quốc v� Việt Nam, v� b�n kia, c�c ch�nh phủ tự do của khối ASEAN.� C�c b�o c�o lọt ra ngo�i Căm Bốt (khi đ� l� Kampuchea) về sự t�n bạo v� diệt chủng của chế độ Pol Pot trong thực tế g�y bối rối, nhưng �t c� sự nh�n nhận ch�nh thức v�o l�c đ� rằng c�c sự ph�t triển ở đ� sẽ sau hết dẫn đến một sự sắp xếp mới, quan trọng của c�c li�n minh trong v�ng.� Căm Bốt, sau hết, đ� từng, v� vẫn c�n � d�ng từ ngữ của William Shawcross � l� một �m�n phụ diễn: sideshow�.� Ch�nh quyền Ford hướng sự ch� y của n� đ�n Căm Bốt chỉ đủ l�u để thu hồi t�u chở th�ng h�ng của Hoa Kỳ bị bắt c�c, chiếc SS Mayaguez, ra khỏi ch�nh phủ Khmer Đỏ trong Th�ng S�u 1975.� Trong suốt thời gian của ch�nh quyền Carter kế tiếp, sự theo đuổi c�c quan hệ tốt đẹp hơn với Trung Quốc đ� trở th�nh mục đ�ch ch�nh s�ch ch�nh yếu tại Hoa Thịnh Đốn.

������ Trong quan điểm của t�i, m�i trường ch�nh trị đ� c� một sự li�n quan trực tiếp tr�n sự ph�n t�ch t�nh b�o.� Số lượng c�c ph�n t�ch vi�n t�nh b�o Hoa Kỳ c�ng t�c về Đ�ng Dương đ� sụt giảm mạnh mẽ sau năm 1975.� Theo lời của một cựu đồng sự -- một đại �y lục qu�n c� căn bản t�nh b�o qu�n sự chuy�n nghiệp được chỉ định c�ng t�c về Đ�ng Dương tại DIA (Cơ Quan T�nh B�o Quốc Ph�ng: Defense Imtelligence Agency) hồi đầu thập ni�n 1980 � nếu l� một sĩ quan lục qu�n được chỉ định l�m việc về chuyện Việt Nam trong năm 1976, 1977, hay 1978, đ� sẽ l� sự việc �kết liễu chức nghiệp: kiss to death�.� Vết nhơ gắn liền với Đ�ng Dương sau thảm họa Th�ng Tư 1975 đ� th�c đẩy một số ph�n t�ch vi�n chuy�n nghiệp cứu x�t đến việc thuy�n chuyển từ Việt Nam sang c�c l�nh vực đ�ng ch� � hơn, v� theo sự tường thuật, đ� c� kh�ng �t chuy�n vi�n chuyển sang c�ng t�c về Trung Quốc, Th�i Lan, v� ngay cả Brunei.� Trong một b�u kh�ng kh� như thế, điều chắc chắn rằng �t c� c�c chuy�n vi�n qu�n sự muốn b�m đến c�ng c�c c�ng t�c t�nh b�o được giao ph� cho họ; n�i đến c�ng, nỗi nguy hiểm cố hữu gắn liền với việc l�i xe thiết gi�p vẫn c� �t rủi ro hơn sự nguy hiểm nghề nghiệp gắn liền với một đại �y lục qu�n được giao ph� việc lập trận liệt tr�n đất Việt Nam trong năm 1977.

������ Sự kết hợp n�y của m�i trường ch�nh trị với một sự sụt giảm đột nhi�n trong c�c nguồn lực ph�n t�ch đ� c� một t�c động tương ứng tr�n sự sản xuất t�nh b�o.� Số lượng c�c sự lượng định t�nh b�o d�i v� ngắn hạn ho�n chỉnh về Đ�ng Dương bởi cộng đồng ti�nh b�o Hoa Kỳ -- ch�nh y�u CIA, DIA v� Bộ Ngoại Giao � giảm từ 58 trong năm 1975, năm cuối c�ng của Chiến Tranh Việt Nam, xuống c�n 17 trong năm 1976.� Trong năm 1977 con số xuống c�n 7.� Trong năm 1978 con số bản lượng định ho�n chỉnh l�n cao một ch�t, đến 10 b�o c�o.

������ Trong khi số lượng c�c sự b�o c�o về Đ�ng Dương sụt giảm một c�ch r� rệt, chất lượng của c�c bản lượng định được ho�n th�nh vẫn cao.� T�nh chuy�n nghiệp v� sự tận tụy của một số �t ph�n t�ch vi�n đ�, c�c kẻ d�nh liền với vấn đề Đ�ng Dương, được phản ảnh nơi sự x�c thực của c�ng t�c của họ.� Sự b�o c�o của họ về c�c sự ph�t triển qu�n sự v� ch�nh trị trong v�ng v�o giữa thập ni�n 1970, v� sau hết sự ti�n đo�n của họ về sự rạn nứt Trung Quốc � Việt Nam v� đưa đến li�n minh S� Viết � Việt Nam được xem như một sự th�nh c�ng về t�nh b�o.� Sự kiện rằng c�c sự lượng định của họ đ� kh�ng c� được sự t�c động m� ch�ng cần phải c� v� nhiều phần do m�i trường ch�nh trị hơn bất kỳ yếu tố n�o kh�c.� Một sự khảo s�t c�c biến cố trọng yếu trong v�ng từ 1975 cho đến đầu năm 1979, v� c�c sự ph�n đo�n m� c�c ph�n t�ch vi�n chuyển đến c�c nh� lập ch�nh s�ch khi c�c sự căng thẳng leo thang trong năm 1978, cho thấy t�nh b�o nhắm đ�ng mục ti�u (on the target).

 

C�c Biến Cố

������ Việt Nam x�m lăng Căm Bốt trong Th�ng Mười Hai năm 1978.� Trong Th�ng Hai 1979, Trung Cộng đ� ph�ng ra một cuộc tấn c�ng v�o s�u tỉnh bi�n giới ph�a bắc của Việt Nam.� C�c quan hệ giữa Việt Nam v� Trung Quốc đ� suy tho�i một c�ch li�n tục từ 1975:

         Trong Th�ng Ch�n 1975, Trung Quốc đ� từ chối kh�ng cấp cho Việt Nam số viện trợ m� Việt Nam y�u cầu.

         Trong Th�ng Mười 1975, Tổng B� Thư Đảng CSVN, L� Duẩn, sang Moscow nơi �ng nhận được viện trợ đ�ng kể của S� Viết v� nơi �ng ta ủng hộ c�c lập trường ch�nh s�ch ngoại giao của S� Viết.

         Cho đến Th�ng Mười Hai 1975, S� Viết đ� can dự v�o việc trợ gi�p Việt Nam với khoảng 40 dự �n kinh tế.

         Suốt năm 1977 v� trong phần lớn năm 1978, c�c cuộc đụng độ bi�n giới đ� diễn ra giữa c�c bộ đội Việt Nam v� c�c binh sĩ của ch�nh quyền Kampuchea D�n Chủ của nh�m Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn � ch�nh phủ Pol Pot.

         Trong Th�ng Ba 1978, ch�nh phủ Việt Nam đ� quyết định �quốc hữu h�a thương nghiệp tư nh�n khắp nước.� H�nh động n�y đ� ảnh hưởng nhiều nhất tầng lớp thương gia [gốc] Hoa, đưa đến một cuộc tỵ nạn ồ ạt ra khỏi đất nước bởi c�c Hoa Kiều hải ngoại.

         Trong Th�ng S�u 1978, Việt Nam đ� gia nhập khối CEMA, hiệp hội mậu dịch v� kinh tế của khối S� Viết.

         Trong Th�ng Mười Một 1978, Việt Nam v� Li�n Bang S� Viết đ� k� kết một bản hiệp ước hữu nghị v� hợp t�c.

         Trong Th�ng Mười Hai 1978, H� Nội loan b�o sự th�nh lập một �Mặt Trận Quốc Gia tại Căm Bốt, b�y tỏ dấu hiệu về một � định x�m lăng nước d�.

Những g� xảy ra giữa c�c năm 1975 v� 1978 l� một sự triệt tho�i ki�n quyết của Việt Nam ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc.� Đối với Trung quốc, kẻ đ� ủng hộ vững chắc Bắc Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh của n� với Hoa Kỳ, cử chỉ n�y l� một sự sỉ nhục, đưa đến sự mất thể diện v� mất uy t�n trong v�ng.� Điều cũng ảnh hưởng đến t�nh trạng căng thẳng n�y l� sự tan băng trong c�c quan hệ giữa Hoa Kỳ v� Trung Quốc thời ch�nh quyền Carter.� Lập trường mới của Bắc Kinh rằng Li�n Bang S� Viết � chứ kh�ng phải Hoa Kỳ -- l� mối đe dọa ch�nh yếu cho an ninh thế giới.� Khi c�c quan hệ giữa H� Nội v� Bắc Kinh xấu hơn, ph�a Trung Quốc đ� kh�ng thể ngăn cản Việt Nam di chuyển v�o khu vực ảnh hưởng của S� Viết, v� điều n�y đ� l� một sự đương đầu trực tiếp với c�c mục ti�u ch�nh s�ch ngoại giao của Trung Quốc.

C� l� do để tin tưởng rằng cả hai b�n sẽ ưa th�ch một sự giải quyết c�c sự kh�c biệt hơn l� một sự cắt đứt ho�n to�n c�c quan hệ.� Quan điểm n�y được ủng hộ bởi c�c lời tuy�n bố của Ph� Thủ Tướng Trung Quốc, Đặng Tiểu B�nh, với b�o ch� trong Th�ng S�u 1978, khi �ng ta ph�c họa c�c h�nh động của Việt Nam như một loạt �10 bước� chống lại Trung quốc.� Theo họ Đặng, chỉ khi H� Nội thực hiện �bước thứ 11� � trục xuất c�c Hoa Kiều hải ngoại � khi đ� t�nh thế mới bước sang một kh�c ngoặt.� Ch�nh v�o thời điểm n�y m� c�c nh� l�nh đạo Trung Hoa đ� bắt đầu cảnh c�o rằng H� Nội, theo từ ngữ của họ, phải bị �trừng trị�.� Họ Đặng c�n ph�t biểu th�m nữa rằng trừ khi H� Nội điều h�a ch�nh s�ch của n� tr�n người gốc Hoa, Bắc Kinh sẽ trả đũa.� Trung Quốc sau đ� đ� ra lệnh ba t�a l�nh sự của Việt Nam tại miền nam Trung Quốc phải đ�ng cửa, v� khởi sự c�c cuộc thao diễn qu�n sự quy m� nhỏ gần bi�n giới Việt Nam.

 

Ph�n T�ch

������ Ph�ng Ph�n T�ch V�ng v� Ch�nh Trị của Cơ Quan CIA đ� soạn thảo một Bản Lượng Định T�nh B�o trong Th�ng S�u 1978.� Trong số c�c nhận định c� hai điều nhận thức được, trong khi kh�ng ti�n đo�n một c�ch trực tiếp một sự đ�p ứng qu�n sự của Trung Quốc đối với Việt Nam, đ� ghi nhận rằng c�c quan hệ giữa H� Nội v� Bắc Kinh nhiều phần trở n�n tồi tệ hơn nữa, v� rằng sự đối đầu qu�n sự ho�n to�n l� điều c� x�c suất cao:

Mặc d� cả hai b�n đều nhận thức rằng kh�ng b�n n�o c� nhiều x�c suất hưởng lợi từ một cuộc đối đầu to�n lực, sự chua ch�t th� s�u sắc đến nỗi t�nh h�nh c� thể c�n trầm trọng hơn nữa, đặc biệt nếu sự giao tranh Việt Nam � Căm Bốt gia tăng.

Mối quan hệ giữa Bắc Kinh v� H� Nội đ� sẵn bước sang một giai đoạn mới v� c� lẽ k�o d�i của cuộc chiến tranh ch�nh trị c�ng khai v� c�c sự căng thẳng qu�n sự d�ng cao c� thể đe dọa tới sự qu�n bằng mới, vốn được ph�t triển tại Đ�ng Nam � kể từ khi kết th�c cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương �

Ngo�i ra, bản lượng định c� ti�n đo�n rằng �Bắc Kinh c� thể v� c� lẽ sẽ vận dụng đến một số biện ph�p kh�c để nhắc nhở H� Nội về ảnh hưởng v� c�c năng lực của Trung Quốc trong v�ng.� Ch�ng nhiều phần bao gồm c�c sự cắt giảm hơn nữa sự trợ gi�p kinh tế v� mậu dịch, ph� trương uy thế qu�n sự dọc theo bi�n giới, gia tăng c�c mưu t�nh ngoại giao để thuyết phục c�c nước kh�c � đặc biệt tại Đ�ng Nam � � giảm bớt c�c sự giao dịch với Việt Nam, v� c� lẽ một sự khẳng quyết hung hăng hơn về c�c sự tuy�n nhận của n� đối với c�c h�n đảo tại Biển Nam Trung Hoa, vốn bị tranh chấp bởi Việt Nam v� c�c nước kh�c�.

C�c sự căng thẳng dọc bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam đ� gia tăng trong suốt m�a thu năm 1978.� Trong Th�ng Ch�n v� Th�ng Mười, [bị x�a mất khoảng 1/7 d�ng, ND] đ� ph�t hiện rằng ph�a Việt Nam đang gia tăng c�c sự ph�ng thủ địa thế dọc bi�n giới với sự tăng bổ c�c b�nh điện cho d�n ph�o ph�ng kh�ng v� c�c b�nh điện cho hỏa tiễn địa-đối-kh�ng SA-3.� Một b�o c�o nhận được hồi Th�ng Mười c� n�i rằng đ� c� c�c sự di chuyển qu�n sự Việt Nam gia tăng dọc bi�n giới, kể cả c�c sự tăng cường binh sĩ v� c�c sự bố tr� hỏa tiễn SAM.

Khoảng giữa Th�ng Mười, Vi�n Chức T�nh B�o Quốc Gia về Đ�ng � v� Th�i B�nh Dương c� phổ biến một Th�ng Tư T�nh B�o Li�n Cơ Quan (Interagency Intelligence Memorandum: IIM) về sự cạnh tranh Trung Quốc � S� Viết tại Căm Bốt.� Th�ng Tin IIM n�u r� khả t�nh về một h�nh động qu�n sự đ�nh Việt Nam.� Bản th�ng tư c� n�i rằng một khi t�nh h�nh Việt Nam � Căm Bốt tồi tệ hơn đến một mức độ xem ra đe dọa đến sự độc lập v� ổn định của ch�nh phủ Phnom Penh, Trung Quốc sẽ c�n lại ba sự lựa chọn:

Trung Quốc c� thể gia tăng lớn lao số viện trợ cho Phnom Penh � Điều n�y ,,, c� sự rủi ro � l�m giới l�nh đạo Căm Bốt cứng rắn hơn trong việc khi�u kh�ch H� Nội th�m nữa.� N� cũng c� thễ dẫn đến sự lệ thuộc của Việt Nam v�o Li�n Bang S� Viết (LBSV) về sự ủng hộ qu�n sự v� ch�nh trị v� do đ�, sự d�nh l�u lớn lao hơn của S� Viết tại Việt Nam.

Trung Quốc c� thể cố gắng l�m chuyển hướng sự ch� � của Việt Nam khỏi Căm Bốt bằng một sự biểu dương lực lượng dọc bi�n giới với Việt Nam.� Trong khi điều n�y chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nhịp độ giao tranh dọc bi�n giới Việt Nam � Căm Bốt, n� cũng sẽ đặt ra loại đe dọa an ninh đối với Việt Nam, c� thể dẫn dắt H� Nội đến việc cho ph�p một sự gia tăng r� rệt sự hiện diện qu�n sự của S� Viết tại Việt Nam v� cũng c� thể dẫn đến một sự biểu dương lực lượng của S� Viết dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết.� Trung Quốc tuy thế c� thể cứu x�t đến một sự chuyển động như thế nếu Việt Nam được giả định l� đ� sẵn vượt qu� điểm kh�ng trở lui trong việc trui r�n một mối quan hệ qu�n sự chặt chẽ với LBSV.

Nhiệm � thứ ba của Trung Quốc sẽ l� kh�ng l�m g� th�m nữa cho Phnom Penh, để cho con cờ rơi xuống nơi ch�ng c� thể sụp đổ v� hy vọng khai th�c về mặt ch�nh trị v� ngoại giao trong trường kỳ �

Như ch�ng ta hay biết, giải ph�p thứ nh� trong ba nhiệm � được đưa ra trong sự ước t�nh n�y đ� ti�n đo�n một c�ch ch�nh x�c diễn tiến tương lai của c�c biến cố trong v�ng.� Điều c�n lại cho c�c ph�n t�ch vi�n l� theo d�i t�nh h�nh Căm Bốt, t�nh to�n sự đ�p ứng của Trung Quốc, v� ấn định một thời biểu cho bất kỳ phản ứng qu�n sự khả dĩ n�o của Trung Quốc.� Như đ� được ghi nhận, Việt Nam đ� tiến h�nh với một cuộc x�m lăng to�n diện v�o Căm Bốt trong Th�ng Mười Hai 1978.� Sự kiện rằng Việt Nam đ� sử dụng v�i sư đo�n bộ binh � kể cả một số thuộc ba qu�n đo�n chiến lược � v� rằng một số đ� được kh�ng vận đến chiến đấu từ miền bắc Việt Nam, cho thấy rằng đ�y kh�ng phải l� một chiến dịch qu�n sự trừng phạt ngắn hạn.� Mặc d� m�i cho đến đầu Th�ng Một, c�c ph�n t�ch vi�n sau hết mới b�o c�o về c�c sự bố tr� hỏa tiễn SAM của Việt Nam dọc bi�n giới Trung Quốc v� tư thế ứng chiến gia tăng của H� Nội, họ đ� b�o c�o s�u th�ng trước đ� rằng tiềm năng cho c�c sự giao tranh c�ng khai giữa hai nước rất cao. (b) (1) (b) (3) (n)\.

V�o khoảng giữa Th�ng Một 1979, [x�a trắng khoảng 1/6 d�ng, ND] đ� cung cấp bằng chứng vững chắc về một sự củng cố qu�n sự Trung Quốc to lớn dọc bi�n giới Việt Nam. [X�a trắng hơn 8 d�ng một ch�t, ND].� V�o ng�y 17 Th�ng Hai � [x�a trắng khoảng 5/6 d�ng, ND] -- Qu�n Đội Trung Quốc đ� tấn c�ng dọc bi�n giới Việt Nam tại 25 vị tr�.� Trong cuộc x�m nhập 30 ng�y theo đ�, ph�a Trung Quốc đ� t�m c�ch chiếm cứ �t nhất năm tỉnh lỵ của Việt Nam v� gi�ng v�i trận đ�nh trừng phạt tr�n cựu đồng minh của họ.� Tuy nhi�n, sự ph�n t�ch sau đ�, v� c�c lời tuy�n bố của ch�nh ph�a Trung quốc, cho thấy rằng Việt Nam đ� l�m nhiều hơn sự ph�ng thủ v� c� lẽ đ� g�y ra c�c sự tổn thất nghi�m trọng cho Qu�n Đội Giải Ph�ng Nh�n D�n Trung Quốc, v� ch�nh từ đ� khiến cho c�c ph�n t�ch vi�n am tường hơn đặt c�u hỏi rằng liệu Trung Quốc sau rốt c� thực sự dạy được cho Việt Nam một b�i học n�o hay kh�ng.

Bất kể c�c sự lượng định hợp thời v� sự cảnh c�o về chiến tranh được cung cấp cho c�c nh� lập ch�nh s�ch bởi cộng đồng t�nh b�o nhiều th�ng trước ng�y xảy ra sự việc, một số c�c vi�n chức Hoa Kỳ đ� phản ứng với sự ho�i nghi khi Đặng Tiểu B�nh � trong một cuộc thăm viếng nơi đ�y � đ� th�ng b�o cho họ về c�c � định của Trung Quốc hồi Th�ng Một 1979.� Mặc d� c�c ph�n t�ch vi�n đ� nhận thấy một c�ch r� r�ng rằng sự đối đầu giữa Trung Quốc v� Việt Nam sắp xảy ra, một số vi�n chức c� thể -- hay sẽ -- kh�ng tin rằng Bắc Kinh sẽ thực hiện một sự đoạn tuyệt ho�n to�n với H� Nội.� Sự từ khước của họ trong việc chấp nhận khả t�nh n�y c� lẽ l� v� một v�i yếu tố, mặc d� c� hai điều hiện ra r� rệt.� Trước ti�n, sự suy đồi trong c�c quan hệ giữa hai nước đ� xảy ra trong một thời khoảng k�o d�i đến nỗi c�c nh� lập ch�nh s�ch c� thể bị ru ngủ v�o sự tin tưởng rằng Trung Quốc đang phỉnh phờ; điều n�y được pha trộn th�m bởi thiếu sự ch� � đến c�c sự vụ ở Đ�ng Dương trong ba năm trước đ�.� Thứ nh�, cuộc thăm viếng nơi đ�y của họ Đặng hồi đầu năm 1979 khiến c�c nh� lập ch�nh s�ch kh�, nếu kh�ng phải l� kh�ng thể, tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ h�nh động chống lại Việt Nam ở bất kỳ thời gian sớm sủa n�o.

Sự ti�n đo�n của cộng đồng t�nh b�o về một sự đổ vỡ trong c�c quan hệ giữa Trung Quốc v� Việt Nam v� sự cảnh b�o chiến thuật kế tiếp về chiến tranh th� x�c thực v� hợp thời.� Nhưng hiệu quả đ� bị thui chột một c�ch đ�ng kể bởi kh�ng c� sự ch� � đến Đ�ng Dương của Hoa Thịnh Đốn, v� bởi một sự theo đuổi nhiệt t�nh c�c quan hệ ch�nh trị v� kinh tế tốt đẹp hơn với Bắc Kinh, l�m phương hại đến một ch�nh s�ch ngoại giao mới v� quyết đo�n đối với Đ�ng Nam �.

 

T�i B�t

Sự rạn nứt giữa Trung Quốc v� Việt Nam v� cuộc chiến tranh bi�n giới k�m theo được ti�n đo�n một c�ch thật ch�nh x�c bởi c�c ph�n t�ch vi�n t�nh b�o Hoa Kỳ trong suốt năm 1978 đ� g�y ra sự ch� � được kh�i phục đến c�c sự vụ Đ�ng Nam � sau Th�ng Hai 1979.� Cộng đồng t�nh b�o đ� ph�ng ra một nỗ lực mới, quan trọng để nghi�n cứu về Việt Nam, Căm Bốt v� L�o v� c�ng t�c về Qu�n Đội Trung Quốc đ� gia tăng.� C�c ph�n t�ch vi�n mới được tuyển dụng, v� Nh�m C�ng T�c C�c Lực Lượng Khu Vực Việt Nam (Vietnam Ground Forces Working Group) li�n cơ quan cũ � nằm y�n kể từ khi c� sự kết th�c sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam năm 1975 � đ� được t�i lập.� C�c ph�n t�ch vi�n được chỉ định để lượng định kết quả của cuộc chiến tranh bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam, v� để ti�n đo�n rằng liệu Trung Quốc sẽ thi h�nh c�c lời đe dọa nhằm dạy Việt Nam �một b�i học thứ nh� hay kh�ng.� C�c ph�n t�ch vi�n kh�c được giao ph� nhiệm vụ ph�n t�ch trận liệt v� c�c năng lực của Qu�n Đội Việt Nam; họ đ� sớm kh�m ph� rằng phần lớn c�c hồ sơ đ� được đ�ng th�ng gửi đi mất, v� rằng họ đ� phải khởi sự lại từ số kh�ng.� Trong ba năm rưỡi sau đ�, một to�n c�c ph�n t�ch vi�n từ CIA, DIA, NSA (National Security Agency: Cơ Quan An Ninh Quốc Gia), Bộ Ngoại Giao v� Trung T�m T�nh B�o Th�i B�nh Dương (Intelligence Center, Pacific: IPAC) đ� nh�m họp thường lệ để t�m ra một loạt c�c t�i liệu trận liệt của NIE [National Intelligence Estimate, ND], SNIE [Special National Intelligence Estimate, ND] , IIM v� c�c trận liệt kh�c.� V�o khoảng cuối 1982, phần lớn c�c sự bất đồng trận liệt của Việt Nam đ� được giải quyết, * cho ph�p c�c ph�n t�ch vi�n giải đ�p c�c c�u hỏi li�n quan đến c�c năng lực của c�c lực lượng tại khu vực, sự chỉ huy v� kiểm so�t, v� tương lai của Căm Bốt.� Trong suốt thời kỳ n�y, c�c ph�n t�ch vi�n cũng giữ một sự theo d�i chặt chẽ sự can dự của S� Viết tại Đ�ng Dương, v� trong khi l�m như thế, họ chứng kiến lời ti�n tri hồi Th�ng Mười 1978 đ� xảy ra .� Trong suốt 1979, cộng đồng t�nh b�o Hoa Kỳ đ� sản xuất ra một tổng số 35 sự lượng định ho�n chỉnh về Đ�ng Dương, 30 bản trong đ� trong mười th�ng sau c�ng của năm đ� � sau khi c� cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam.� Giống như c�c số lượng ấn phẩm thấp của c�c năm 1976, 1977, v� 1978 đ� phản ảnh một sự suy giảm trong c�c nguồn lực ph�n t�ch v� sự ch� � của th�nh phần tiếp thụ, số lượng cao hơn nhiều của năm 1979 chỉ cho thấy c�c nguồn lực ph�n t�ch nhiều hơn v� một sự ch� � được hồi phục nhắm đến v�ng đất n�y.� Mặc d� một số trong ch�ng ta, những kẻ đ� d�nh l�u v�o nỗ lực sau n�y về Đ�ng Dương tin tưởng rằng Hoa Kỳ vẫn c�n l�u mới ph�t triển một ch�nh s�ch r� r�ng về Đ�ng Nam �, �t nhất ch�ng ta cảm thấy được an ủi khi biết rằng ch�ng ta đ� c� một khối độc giả quan t�m đọc c�c bản lượng định của ch�ng ta một c�ch kỹ lưỡng � kh�c xa với c�c ph�n t�ch vi�n theo d�i Đ�ng Dương trong suốt thời kỳ kh�ng được t�n thưởng từ giữa cho đến cuối thập ni�n 1970./-

_____

Nguồn: (b)(3)(c), Forecasting The Sino-Vietnamese Split, Studies In Intelligence, Volume 30, Issue; Winter, 1986, c�c trang 67-72

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

04.07.2016

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2016