Claire Hirshfield

 

CUỘC TRANH GI�NH

C�C BỜ S�NG CỬU LONG, 1892-1896

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Đ�y l� b�i dịch thứ Năm  trong loạt b�i c� chủ đề về sự x�m chiếm, s�p nhập v� chia cắt l�nh thổ tại Đ�ng Dương của thực d�n Ph�p để lập th�nh c�c nước Việt Nam, L�o v� Căm Bốt thuộc Ph�p bắt đầu từ hậu b�n thế kỷ thứ 18, sẽ lần lượt được đăng tải tr�n gio-o:

 

B�i 1. Sự Thiết Lập Chế Độ Bảo Hộ Ph�p Tr�n Căm Bốt, của R. Stanley Thomson.

B�i 2.  Xi�m La v� Ph�p, 1863-1870, của R. Stanley Thomson.

 

B�i 3.  Aubaret v� Hiệp Ước Ng�y 15 Th�ng Bảy năm 1867 giừa Ph�p v� Xi�m La, của Lawrence Palmer Briggs

 

B�i 4.  Hiệp Ước Ng�y 23 Th�ng Ba năm 1907 giữa Ph�p v� Xi�m La v� Sự Ho�n Trả Battambang v� Angkor cho Căm Bốt, của Lawrence Palmer Briggs

 

5.  Cuộc Tranh Gi�nh C�c Bờ S�ng Cửu Long, 1892-1896, của Claire Hirshfield

 

6. Sự Tranh Chấp Bi�n Giới Ph�p-Th�i Năm 1940 v� Sự Cam Kết của Phibuun Sonkhraam với Nhật Bản, của E. Thadeus Flood.

 

-----

 

 

���� Mối quan hệ của Anh v� Ph�p trong hai thập ni�n cuối c�ng của thế kỷ thứ mười chin l� một tương quan kh�ng h�i h�a, được đ�nh dấu bởi sự chua cay, bất đồng v� nghi ngờ lẫn nhau.� Mặc d� c�c quốc gia Ph�p v� Anh đều l� c�c th�nh tr� ch�nh yếu của thể chế nghị viện T�y �u Ch�u, c�c sự tương đồng vế � thức hệ hiếm khi đủ để trung h�a được một truyền thống l�u d�i của �c cảm.� Sự chua ch�t đ� khởi sự l�m � nhiễm b�u kh�ng kh� c�c quan hệ Anh-Ph�p v�o l�c c� sự chiếm đ�ng của Anh tại Ai Cập năm 1892 [Ph�p chắc hẳn đ� phải chua ch�t về th�i độ của Anh tr�n vấn đề kinh đ�o Suez ở Ai Cập, v� khi Ph�p nhận được giấy ph�p đ�o kinh, Anh v� c�c nước kh�c tẩy chay kh�ng mua cổ phiếu đầu tư khi được b�n tr�n thị trường quốc tế.� Đến khi Ph�p đang x�y dựng kinh đ�o, Anh đứng ra tố c�o dự �n đ� cưỡng b�ch lao động v� x�i dục c�ng nh�n nổi dậy chống ph� dự �n.� Sau khi kinh đ�o Suez ho�n tất năm 1869, Ch�nh Phủ Ai Cập mắc nợ nhiều, Anh lấy cớ bảo vệ đầu tư, đem qu�n chiếm giữ Ai Cập v� nắm giữ quyền kiểm so�t kinh đ�o Suez v� tr�n cả ch�nh phủ Ai Cập v�o năm 1882.� Sau đ�, Anh đ� tuy�n bố thiết lập chế độ bảo hộ tr�n Ai Cập v�o năm 1914, ch� của người dịch], v� trong những năm tiếp theo sau cảm t�nh th� gh�t người Anh (Anglophobia) c� vẻ đ� vươn tới mức độ chứng bệnh đặc hữu ở Ph�p,� Th�i độ của Anh nghi�ng về Li�n Minh Tam Cường [Đức � �o&Hung, v� �, th�nh lập năm 1882 cho đến Thế Chiến I, ch� của người dịch] bị ch� mục dưới mắt người Ph�p đến nỗi Anh thường bị xem l� �nước thứ tư trong tố chức� (1).� Quan điểm n�y đ� g�p phần lớn lao cho t�nh trạng n�ng bỏng của c�c quan hệ Anh-Ph�p.

 

���� Tại sao Anh v� Ph�p c� vẻ cố thủ ở hai b�n đối nghịch ng�y nay xem ra, khi nh�n b�n ngo�i, th� kh� hiểu.� C�c quyền lợi của ch�ng tr�n lục địa �u Ch�u kh�ng đụng chạm nhau.� Kể từ sau trận đ�nh Waterloo [trận đ�nh cuối c�ng của Napol�on v�o năm 1815 tại Waterloo, gần Bruxelles ng�y nay.� Napol�on bị thất trận trước li�n qu�n Anh v� Đức, bị bắt v� đầy ra đảo St. Helena v� chết ở đ�, ch� của người dịch], đ� kh�ng c� c�c cuộc giao chiến vũ trang; kh�ng c� c�c tỉnh hạt bị mất l�m ph�n h�a ch�ng.� Song �chiều hướng lịch sử đ� đặt sự th� nghịch giữa Anh v� Ph�p từ chuỗi ng�y vụ Cressy [(?) c� lẽ �m chỉ vụ Creesy, nguy�n l� một ng�i l�ng c�ch Melbourne, Victoria, �c Đai Lợi, khoảng 140 c�y số, đ� được người Anh ghi tr�n bản đồ của �c từ năm 1836.� Năm sau đ� (1837), một người Ph�p t�n l� Jean Duverney vượt s�ng Woady Yaloak, tuy�n nhận đất đai dọc hai b�n bờ s�ng v� con s�ng thuộc về Ph�p, lập ra một l�ng cũng gọi l� Cressy, n�i l� lấy từ t�n l�ng anh ta c� danh xưng Crecy tại Ph�p, ch� của người dịch] l�i lại cho đến trận chiến Waterloo,� (2) tiếp tục chảy với c�ng cường độ khi thế kỷ thứ mười chin đi dần đến hồi kết th�c của n�.� Nằm s�u b�n dưới l� sự rạn nứt lớn lao g�y ra bởi sự chiếm đ�ng Ai Cập.� Nhưng khi cuộc chạy đua để chiếm hữu thuộc địa được gia tốc trong những năm cuối c�ng của thế kỷ, c�c điểm đụng độ đ� nhiều l�n gấp bội. Khi l�n s�ng của Ph�p d�ng tr�o v�o Phi Ch�u v� � Ch�u, n� c�ng ng�y c�ng nhận thấy m�nh bị chặn đứng bởi c�c sự tuy�n nhận c� trước bởi c�c nh� th�m hiểm Anh Quốc v� bởi c�c độc quyền thương mại của c�c c�ng ty Anh Quốc.� Mặc d� kh�ng c� quyền lợi sinh tử n�o tr�n lục địa �u Ch�u l�m ph�n c�ch Ph�p v� Anh, cuộc tranh gi�nh thuộc địa gia tăng v�o cuối thế kỷ đ� dẫn đến một loạt c�c sự tranh chấp ngoại giao.� C�c tranh chấp n�y gộp lại đ� l�m lớn hơn sự bội t�n nguy�n thủy của việc chiếm đ�ng Ai Cập.� Nếu người ta muốn đi t�m c�c nguy�n do của sự� thiếu vắng t�nh hữu nghị vốn ti�u biểu cho c�c quan hệ Anh Ph�p hồi cuối thế kỷ thứ mười chin, khu vực c�c sự tranh gi�nh tại thuộc đia phải được khảo s�t.� C� lẽ ngoạn mục v� quan trọng nhất trong tất cả c�c cuộc khủng hoảng của sự tranh gi�nh như thế l� sự tranh chấp nổ ra dọc theo c�c bờ s�ng Cửu Long tai đ�ng nam � ch�u v� sau đ� đ� chế ngự nền ngoại giao giữa Anh v� Ph�p trong c�c năm 1892-1896. (3)

 

���� Cuộc khủng hoảng ở Đ�ng Nam �, vươn đến đỉnh cao của n� trong c�c năm 1892-1896,thực ra đ� c� c�c căn nguy�n từ c�c sự ph�t triển trước đ� tại khu vực.� V�o năm 1887, c�c đế quốc thực d�n Ph�p v� Anh tại Đ�ng Nam � đ� phồng lớn bởi c�c cuộc chinh phục thời cận đương, bắt đầu tiếp x�c với bi�n giới của nhau.� Qu�n sĩ Ph�p đ� chiếm đ�ng Bắc Kỳ v� đ� thiết lập một chế độ bảo hộ tr�n đề quốc An Nam sau một cuộc chiến tranh ngắn với Trung Hoa trong năm 1885.� Sự đ� hộ của Anh, vốn sẵn được thiết lập tại đồng bằng s�ng Irrawađy, đ� lan tr�n tại Miến Điện v� c�c bang quốc d�n Shan c� s�ng Cửu Long chạy qua tiếp theo sau sự thất trận của Vua Theehaw năm 1886.� Ch�nh v� thế, trong khi quyền lực bản xứ khắp c�i Đ�ng Nam � c� vẻ ở trong một tiến tr�nh tan r� mau lẹ, sự d�ng cao ảnh hưởng ph�t sinh bởi đ� của cả Anh v� Ph�p trong khu vực hứa hẹn đưa đến việc ph�t triển một sự tiếp gi�p nguy hiểm của c�c ranh giới trong tương lai gần kề.� Từ sự gần gủi n�y, sự tranh chấp v� khủng hỏang c� thể chờ đợi sẽ bộc ph�t, đ�ng theo l� luận.

 

���� C�c kh�a cạnh g�y b�o động của sự lấn chiếm của Ph�p về ph�a t�y từ bi�n cảnh Bắc Kỳ v� Trung Kỳ hướng đến s�ng Cửu Long chỉ được nhận thức một c�ch lờ mờ tại Anh quốc.� Tai họa ở Bắc Kỳ v� sự sụp đổ ph�t sinh bởi đ� của ch�nh phủ Ferry năm 1884 c� vẻ biểu lộ sự lạnh nhạt của người Ph�p đối với sự b�nh trướng thuộc địa.� Hơn nữa, nước Ấn Độ v� Miến Đi�n thuộc Anh r� r�ng c�n được bảo bọc chống lại c�c sự nguy hiểm của một bi�n giới tiếp gi�p với c�c thuộc địa của Ph�p về ph�a Đ�ng bởi sự hiện hữu của vương quốc độc lập Xi�m La.� Xi�m La c� vẻ c� c�c quyền hạn mạnh mẽ đối với cả hai b�n bờ s�ng Cửu Long ở v�ng hạ v� trung lưu, chạy từ Luang Prabang xu�i xuống nam cho tới bi�n giới Căm Bốt.� Nhưng ch�nh s�ch của Anh tất yếu bị sụp đổ một c�ch th� thảm bởi ngay từ đầu n� đ� kh�ng lưu t�m th�ch đ�ng đến hai yếu tố quan trọng trong t�nh h�nh.� Yếu tố thứ nhất l� sự gia tốc mau lẹ tại Ph�p nhiệt t�nh thực d�n, bị mờ nhạt nhưng kh�ng tắt lịm bởi thảm họa ở Bắc Kỳ v� nhất thiết lại bừng ch�y để phục sinh trong v�i năm ngắn ngủi.� Thứ nh� l� sự suy sụp mau lẹ trong quyền lực bản xứ tr�n khắp b�n đảo Đ�ng Dương.� Quốc Vương Xi�m La kh�ng c� khả năng để duy tr� vị thế của �ng chống lại một nước Ph�p ng�y c�ng năng động hơn Nh� Vua Theehaw đ� từng gắng sức để ph�ng vệ Miến Điện trước đ�y bao nhi�u.� Xi�m La sẽ chỉ c�n l� một tr�i độn hữu hiện chừng n�o m� Anh Quốc c�n giữ n� với việc chống đỡ một c�ch giả tạo.� Nhưng Xi�m La th� kh�ng khả năng để chặn đứng sức năng động của Ph�p nếu kh�ng c� sự trợ lực của Anh Quốc.� Một sự nơi rộng v� giới hạn sự hỗ trợ như thế k�o theo một rủi ro đ�ng kể v� một khả t�nh của sự đối đầu tối hậu giữa Anh v� Ph�p b�n bờ s�ng Cửu Long cấu th�nh một bong đen đe dọa tr�n c�c cuộc thương thảo m� xuy�n qua đ� c�c nh� ngoại giao tại Paris v� London đ� cố gắng giải quyết c�c vấn đề nơi xa xăm thuộc b�n đảo Đ�ng Dương.

 

���� C� lẽ yếu tố địa dư c� � nghĩa nhất để cứu x�t trong bất kỳ sự lượng gi� n�o về c�c sự tranh chấp bi�n giới trong phạm vi Đ�ng Nam � ch�nh l� vị tr� của con s�ng Cửu Long.� Từ l�c khởi đầu, triều s�ng Ph�p đ� d�ng tr�o l�n theo chiều hướng của con s�ng đ� c�ng với bờ s�ng của n�.� S�ng Cửu Long được nhận thức như l� một th�ng lộ mang nhiều tiềm năng của Ph�p nối liền Nam Kỳ (Cochin-China) v� Căm Bốt với Trung Kỳ (An Nam) v� Bắc Kỳ (Tonkin), nhờ đ� thống nhất c�c mảnh v� thuộc địa th�nh một đế quốc Ph�p vĩ đại tại Đ�ng Nam �.� Con s�ng cũng được xem c� tầm quan trọng kh�ng k�m như một con đường mậu dịch khả hữu tiến v�o c�c tỉnh miền nam Trung Hoa, một khu vực của sự x�m nhập kinh tế tiềm năng đối với Ph�p.� Đo�n th�m hiểm s�ng Cửu Long nổi tiếng trong c�c năm 1866-1868 chỉ huy bởi Doudart de Lagr�e v� Francis Garnier đ� chứng minh rằng s�ng Cửu Long th� kh� khăn để hải h�nh v� đ�ng ngờ vực c� thể trở th�nh như một thủy lộ th�nh thang từ S�ig�n đến V�n Nam.� Song người Ph�p �v� một số l� do x�c cảm đ� nhấn mạnh đến giấc mơ khai th�ng thương mại với V�n Nam v� miền t�y nam Trung Hoa tr�n con s�ng (le fleuve, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] m� họ đ� nh�n một c�ch tr�u mến như con s�ng của ch�nh họ.� (4) V� thế, điều kh�ng mấy ngạc nhi�n khi thấy cuộc tranh gi�nh ngoại giao tay đ�i về sự sở hữu c�c bờ s�ng Cửu Long lại được chiến đấu một c�ch dai dẳng như thế bởi nước Ph�p, bởi kết quả của n� th� gắn liền với số phận của ảnh hưởng của Ph�p tại � Ch�u.

 

���� S�ng Cửu Long, trước khi tiến v�o Căm bốt, đ� chảy một đọan kh� d�i trong gi�ng nước của n� xuy�n qua c�c tỉnh của d�n L�o thuộc đế quốc Xi�m La.� Thế đất như h�nh giải băng (ribbon) của L�o từ l�u đ� l� khung cảnh của sự tranh gi�nh giữa Miến Điện, Xi�m La v� An Nam, nhưng v�o cuối thế kỷ thứ mười t�m, n� đ� rơi v�o trong quỹ đạo của Xi�m La.� Sau một cuộc nổi dậy bất th�nh, bang quốc d�n L�o tại Vientian (Vạn Tượng) đ� bị s�p nhập trực tiếp bởi Xi�m La v�o năm 1828, v� ảnh hưởng của Xi�m La ng�y c�ng trở n�n ưu thắng tr�n phần c�n lại của khu vực.� Trong thực tế L�o kh�ng g� kh�c hơn một tập hợp nhiều l�nh địa của c�c �ng ho�ng (principalities) bao gồm ch�nh yếu c�c mường. c�c nh�m l�ng x� độc lập nằm dưới quyền vị tộc trưởng của ch�nh họ.� L�nh địa rộng lớn nhất trong c�c cương thổ n�y l� Luang Prabang, một vương quốc tương đối phức tạp nằm kẹp hai b�n bờ v�ng trung lưu của s�ng Cửu Long.� Mặc d� Xi�m La r� r�ng đ� xem Luang Prabang l� một bang quốc chư hầu nằm dưới quyền b� chủ của n�, nước Ph�p đại diện bởi August Pavie, ph�i vi�n kh�ng biết mệt mỏi của họ, đ� ng�y c�ng t�ch cực trong khu vực b�nh vực một c�ch nhiệt t�nh c�c tuy�n nhận cổ xưa của Việt Nam cũng như cung cấp sự trợ gi�p cho những người L�o bất m�n từ l�u đối với sự x�m chiếm của Xi�m La. (5)

 

���� Vế hướng bắc của L�o, con s�ng cắt xuy�n qua cao nguy�n lởm chởm tr�n đ� tọa lạc c�c bang quốc d�n tộc Shan, c�c bang quốc triều cống l�u đời của Miến Điện mặc d� cư d�n c� quan hệ gần gũi về chủng tộc với người Th�i, nh�m chủng tộc chế ngự tại cả Xi�m La lẫn L�o.� Trải d�i về hướng đ�ng từ Mandalay tr�n bốn trăm dặm cho tới bi�n giới Bắc Việt, c�c nang quốc Shan c� d�n số v�o khoảng hai triệu rưỡi người, rải r�c tr�n một diện t�ch gần bằng t�m ng�n dặm vu�ng đất đai gồ ghề.� Bang quốc lớn nhất trong c�c bang miền nam cua d�n Shan, bang Kiang Cheng, bị cắt đ�i bởi s�ng Cửu Long.� Đa số phần của bang quốc nằm giữa con s�ng Cửu Long v� con s�ng Salween về hướng t�y l� v�ng hoang dại thiếu đường x� lưu th�ng, một chuỗi c�c rặng n�i dốc khiến cho việc du h�nh ngay cả bằng đo�n xe cũng trở n�n kh� nhọc nhất.� Nhưng v�ng đất k�o dọc c�c bờ s�ng Cửu Long v� chạy qu� con s�ng về hướng đ�ng th� khả quan hơn: nơi đ�y, bao quanh tỉnh lỵ của Mường Sin l� c�c c�nh đồng thoai thoải d�nh cho việc canh t�c v� chăn nu�i tr�u b�.� Trong thực tế, từ c�i nh�n của một bang quốc d�n Shan, Kiang Cheng l� �một v�ng đất sở hữu nhỏ, thoải m�i, trồng trọt được qu� nhiều th�nh quả hơn n� mong muốn, đến nỗi d�n ch�ng đ� c� thể mặc quần �o lộng lẫy, l�m chủ đ�n tr�u b�, tổ chức c�c tiệc t�ng định kỳ, v� x�y cất c�c ng�i ch�a v�o dịp đặc biệt, trong khi vị bang trưởng c� thu nhập đủ để gi�p �ng ta nu�i dưỡng bầy voi, duy tr� một ban nhạc ri�ng, v� để mua c�c đồng hồ của H�a Lan, đồ d�ng bằng thủy tinh đ�ng nể, v� c�c dị phẩm Trung Hoa m� người Shan ham th�ch.� (6)

 

���� Trận chiến tranh gi�nh bờ s�ng Cửu Long sẽ li�n can đến đất đai k�o d�i từ Căm Bốt cho tới gần bi�n giới Trung Hoa.� C�c tỉnh của L�o thuộc Xi�m La, đặc biệt l� Luang Prabang, sẽ l� vấn đề tranh c�i.� Cũng c� t�nh chất cốt yếu l� vị tr� v� sự giải quyết chung cuộc bang quốc d�n Shan tại Kiang Cheng m� Anh quốc đ� thụ đắc c�ng với Miến Điện.� Ch�nh v� thế nước Ph�p sẽ bị đối đầu bởi hai đối thủ trong nỗ lực của n� nhằm gi�nh quyền sở hữu c�c bờ con s�ng v� lẽ cả Xi�m La v� Anh quốc sẽ ở v�o vị thế mất đi l�nh thổ trong trường hợp c� sự tiến bước của Ph�p.�

 

���� Đầu năm 1892 Ph�p đ� thực hiện sự chuyển động ti�n khởi trong chiến dịch ngoại giao gi�nh quyền sở hữu c�c bờ s�ng.� Loạt s�ng mở m�n được khai hỏa nhẹ nh�ng bởi William Waddington, đại sứ Ph�p tại London, kẻ đ� đề nghị một c�ch kh�ng ch�nh thức với Lord Salisbury, bộ trưởng ngoại giao Anh, h�m 16 th�ng Hai năm 1892 rằng Anh cũng như Ph�p �tự nguyện kh�ng vượt qu� s�ng Cửu Long.� (7)� Lord Salisbury chuyển đạt nội dung của đề nghị cho Văn Ph�ng [thuộc Bộ Ngoại Giao Anh] tại Ấn Độ (India Office) để c�n nhắc gi� trị của n� một c�ch kỹ lưỡng. (8) Sự ph�c đ�p của Văn Ph�ng Ấn Độ b�o trước điều sẽ trở th�nh ch�nh s�ch ch�nh thức của Anh li�n can đến v�ng trung lưu của s�ng Cửu Long.� Về trường hợp c�c bờ s�ng của phần trung lưu s�ng Cửu Long, �Ch�nh Phủ Ho�ng Gia Anh kh�ng thể đảm đương việc ngăn cản sự tiến bước của Ph�p một khi họ t�m c�ch đẩy ảnh hưởng của họ sang chiều hướng n�y, g�y thiệt hại cho Xi�m La.� (9) N�i c�ch kh�c, Anh sẽ kh�ng t�ch cực chống đối một sự tiến qu�n của Ph�p s� thu nhỏ nước Xi�m La.� Xi�m La, ngay d� bị đẩy l�i khỏi bờ b�n phải của con s�ng Cửu Long, vẫn c�n cấu th�nh một tr�i độn th�ch nghi giữa c�c thuộc địa Ph�p b�n ph�a đ�ng với nước Miến Điện thuộc Anh b�n ph�a t�y.� Sự mất đi dải đất ven b�n ph�a đ�ng con s�ng thực ra c� thể lại tăng cường cho quốc gia Xi�m La bởi việc cung cấp cho n� một bi�n giới tự nhi�n của con s�ng v� bởi việc khuyến kh�ch một sự củng cố c�c lực lượng trong phạm vi phần l�nh thổ c�n lại gọn ghẽ v� dễ được bảo vệ về mặt đia dư.� Xi�m La sẽ được cắt bỏ tay ch�n để tồn tại một c�ch tốt hơn.

 

���� Nhưng t�nh trạng ho�n to�n kh�c hẳn đối với v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long nơi Anh đ� đưa ra sự tuy�n nhận v�ng Kiang Cheng vốn c� con s�ng Cửu Long chạy xuy�n qua v� l� nơi m� một sự tiến qu�n của Ph�p sẽ dẫn đến một bi�n giới chung đụng giữa Anh v� Ph�p.� Văn Ph�ng Ấn Độ vạch ra rằng giới hạn ph�a t�y của Ph�p trong khu vực thượng lưu s�ng Cửu Long c�n c�ch xa con s�ng.� Nếu đề nghị của Waddington được chấp nhận, Văn Ph�ng Ấn Độ giả thiết như vậy, �v� Ph�p di chuyển đến con s�ng, khi đ� ch�ng ta c� thể n�i g� về việc n�y?� (10)

 

���� Trong th�ng Năm năm 1892, Waddington nhắc lại đề nghị trước đ�y của �ng ta, giải th�ch rằng� �ng kh�ng c� � �m chỉ l� khu vực hiện tại của Anh hay Ph�p sẽ thực sự vươn tới con s�ng Cửu Long.� Đề nghị của �ng kh�ng phải l� �một sự x�c định c�c quyền hạn hiện tại, m� như �ng đ� diễn tả về n�, l� một phương thuốc ph�ng bệnh.�(11) Văn Ph�ng Ấn Độ lại c�n nhắc một lần nữa đề nghị v� quyết định chống lại sự t�n th�nh n� bởi v� một sự đồng � như thế c� thể nghi�ng về việc tạo sự thuận tiện hơn cho sự tiến bước của Ph�p về hướng t�y kể từ Bắc Kỳ �bất kỳ khi n�o m� họ c� thể quyết định muốn đẩy xa bi�n giới của họ.� (12)

 

���� Trong th�ng T�m năm 1892, Waddington một lần nữa đề cập đến sự đ�ng ao ước của việc ph�n định c�c khu vực ảnh hưởng tại Đ�ng Nam �.� Lord (Ng�i) Rosebery kế nhiệm �ng Salisbury tại Bộ Ngoại Giao tức thời mời gọi sự cố vấn của Văn Ph�ng Ấn Độ li�n quan đến sự ph�c đ�p ch�nh thức sẽ được gửi đến Waddington.� �ng vạch ra rằng kể từ khi Waddington đề cập lần cuối c�ng khả t�nh của một sự ph�n ranh giữ Anh v� Ph�p, t�nh h�nh tại Đ�ng Nam � đ� thay đổi.� Như một kết quả của sự giải quyết bi�n giới của Miến Điện gần đ�y, Xi�m La đ� được ban cho bang Kiang Cheng nằm ở cả hai b�n bờ s�ng Cửu Long.� Rosebery cảm thấy rằng sự giải quyết bi�n giới đ� c� lẽ đ� l�m thay đổi nguy�n trạng (status quo) tại miền nam � Ch�u v� rằng do đ� Văn Ph�ng Ấn Độ c� thể t�i cứu x�t đề nghị của Waddington. (13) Văn Ph�ng Ấn Độ trả lời rằng bất kể đến thỏa hiệp mới với Xi�m La, một sự ph�n định ranh giới giữa Anh v� Ph�p vẫn kh�ng đ�ng mong ước bởi n� c� thể l�m đảo lộn c�c cuộc thương thảo với Trung Hoa hiện đang diễn ra.� Hơn nữa, một sự thỏa thuận với Ph�p sẽ kiềm chế nghi�m trọng sự tự do h�nh động của Anh trong trường hợp c� sự tiến qu�n của Ph�p về ph�a t�y.� Văn Ph�ng Ấn Độ vẫn tin tưởng rằng kh�ng c� nhu cầu hiện hữu �cho c�c sự cam kết cụ thể giữa Anh v� Ph�p� v� đ� cố vấn Lord Resobery như thế. (14) V� thế Rosebery đ� từ chối tiến tới bất kỳ sự sắp xếp n�o với Ph�p.� �ng th�ng b�o cho Waddington rằng �ng phải tr�nh n� bất kỳ sự cam kết cụ thể n�o v�o l�c n�y bởi v� một sự cam kết như thế �sẽ bị mở ngỏ cho sự giải th�ch sai lạc v� sẽ � nhiều phần sẽ kh�ch động sự b�o động v� nghi ngờ về ph�a Xi�m La hơn l� để t�i bảo đảm cho Xi�m La � định của hai cường quốc (Anh-Ph�p) l� t�n trọng sự to�n vẹn của n�.� (15) Điều cần ghi nhận l� cả Salisbury lẫn Rosebery đều kh�ng tra hỏi một c�ch nghi�m chỉnh về c�c � đồ của Ph�p đối với L�o.� Trong thực tế cả hai b�n r� r�ng cảm thấy rằng c�c � đồ như thế chỉ hiện hữu đối với v�ng trung lưu s�ng Cửu Long bất kể sự đề cập của Waddington về sự kh�n ngoan của việc ấn định s�ng Cửu Long như một ranh giới của khu vực ảnh hưởng tại thung lũng miền thượng lưu, nơi Anh quốc chắc hẳn phải quan t�m bởi c� sự thụ đắc trước đ� của n� c�c v�ng đất chiếm hữu tr�n c�c bang quốc d�n tộc Shan.

 

���� V�o ng�y 13 th�ng Một năm 1893, bộ trưởng ngoại giao Ph�p, Ribot, bị thay thế bởi �ng Develle.� Nhiều người kỳ vọng rằng Develle sẽ �t ngần ngại hơn trong việc đối đầu với Đại Anh C�t Lợi, đặc biệt l� tại � Ch�u. (16)� Vấn đề c�c bờ s�ng Cửu Long đ� bị ngưng treo trong nhiều th�ng.� Đ�ng Nam � xem ra nhiều phần l� một khu vực tiến bước an to�n hơn nhiều so với Ai Cập. (17)

 

���� Trong th�ng Hai năm 1893, vấn đề c�c bờ s�ng Cửu Long bắt đầu nổ ra trong c�ng luận tại Ph�p.� Th�ophile Delcass�, trưởng ph�ng Ph�ng Thuộc Địa (Colonial Office), tuy�n bố tại viện d�n biểu rằng� �tả ngạn của s�ng Cửu Long� l� giới hạn ph�a t�y của khu vực ảnh hưởng của Ph�p, v� rằng � kiến của �ng dựa tr�n �c�c quyền hạn bất khả kh�ng nghị của An Nam vốn đ� từng được h�nh xử trong nhiều thế kỷ.�� Delcass� c�n chủ trương rằng �kh�ng c� quyền lực quốc tế n�o can dự v�o nội vụ trong khi chỉ c� một vấn đề tranh c�i với Anh Quốc về v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long nơi đ� tạo th�nh ranh giới giữa Bắc Kỳ v� c�c bang quốc sắc d�n Shan của Miến Điện.� (18)

 

���� Sau đ� kh�ng l�u, đại sứ Anh tại Paris, Hầu Tước Dufferin and Ava, đ� viết thư ri�ng cho Rosebery rằng �chủ đề lớn lao giờ đ�y hiển nhi�n l� s�ng Cửu Long.� (19)� Mặc d� ch�nh sự sở hữu của Xi�m La c�c bờ s�ng v�ng trung lưu s�ng Cửu Long l�m tức giận phe thực d�n to�n diện (pan-colonialists) tại Ph�p, Anh Quốc cũng bị tấn c�ng một c�ch chua ch�t bởi b�o ch� phe chủ trương b�nh trướng.� Tại Ph�p c� sự tin tưởng rộng r�i rằng Bộ Ngoại Giao Anh đ� cổ vũ ch�nh phủ Xi�m La trong sự kh�ng cự của n�.� Trong thực tế, Lord Rosebery đ� th�c dục sự thận trọng với người Xi�m La trong suốt m�a đ�ng v� m�a xu�n năm 1893.� Nếu c�c bờ thuộc v�ng giữa s�ng Cứu Long cấu th�nh c�i gi� m� Xi�m La phải trả để duy tr� được chủ quyền tr�n phần l�nh thổ c�n lại của n�, khi đ� trong quan điểm của Rosebery, người Xi�m La tốt hơn cả l� n�n �thỏa hiệp.� (20) Tuy nhi�n, người Xi�m La đ� tỏ ra cứng đầu một c�ch bất ngờ, từ chối kh�ng nhượng bộ đ�ng theo lịch tr�nh c�c sự đ�i hỏi của Ph�p.� Quốc Vương Chulalongkorn may mắn được phục vụ bởi hai vi�n bộ trưởng c� kiến thức ngoại hạng, cả hai đều quen thuộc với c�c phương ph�p quản trị v� ngoại giao �u Ch�u, �ng Ho�ng Devawongse, bộ trưởng ngoại giao, v� �ng Ho�ng Damrong, bộ trưởng nội vụ.� Bất kể c�c nỗ lực thuyết phục của Auguste Pavie, sứ thần-tr� sứ của Ph�p tại Vọng C�c, v� sự miền cưỡng hiển nhi�n của Rosebery, �ng Ho�ng Devawongse v� �ng Ho�ng Damrong tiếp tục th�c dục sự kh�ng cự với Quốc Vương Chulalongkorn.� Trong khi họ c� thể được kh�ch lệ trong hoạt động của họ bởi th�i độ th� gh�t người Ph�p của c�c đại diện kinh doanh người Anh tại Vọng C�c v� ngay cả bởi sự cố vấn ri�ng tư, �kh�ng ch�nh thức của sứ thần-tr� sứ Anh, Đại �y Jones (21), sự d� dặt cẩn trọng của Rosebery mang lại rất �t hy vọng ở sự trợ gi�p sắp đến m� nếu kh�ng c� n�, sự kh�ng cự của Xi�m La chắc hẳn chỉ l� v� �ch. (22)

 

���� V�o ng�y 12 th�ng Năm t�nh h�nh tại Đ�ng Nam � trở n�n trầm trọng hơn.� V�o ng�y đ� một lực lượng c�c binh sĩ Xi�m La đ� tấn c�ng đội qu�n Ph�p tại Đảo Kh�ne (Ile de Kh�ne), một h�n đảo ph�a hạ lưu s�ng Cửu Long nguy�n bị chiếm đ�ng bởi người Ph�p hồi th�ng Tư.� Trận đ�nh đưa đến sự tử vong của một số l�nh An Nam v� c�c sĩ quan Ph�p cũng như sự bắt giữ vi�n chỉ huy Ph�p bởi ph�a Xi�m La. (23)� Tiếp theo sau l� một loạt c�c trận đụng độ vũ trang như ước đo�n giữa c�c to�n l�nh biệt ph�i của Ph�p t�m c�ch x�m nhập v�ng đất tranh chấp nằm kề cận tả ngạn s�ng Cửu Long m� người Ph�p tuy�n nhận l� của An Nam v� qu�n đội Xi�m La đ� cố thủ một c�ch vững chắc trong một chuỗi c�c đồn ph�ng thủ ki�n cố thuộc khu vực.� V�o giữa th�ng Năm, c�c cuộc đụng độ giữa qu�n đội Ph�p v� Xi�m La b�n tả ngạn v�ng trung lưu s�ng Cửu Long diễn ra hầu như h�ng ng�y v� đến cuối th�ng, ba tiền đồn ch�nh của Xi�m La b�n ph�a đ�ng gi�ng s�ng đ� rơi v�o tay c�c đội qu�n Ph�p.� Dufferin viết ri�ng cho Rosebery rằng b�o ch� Ph�p đang trở n�n �kh�ng c�n �n h�a một c�ch r� rệt trong ng�n từ của họ về c�c rắc rối từ Xi�m La v� c�ng khai tố c�o ch�ng ta đ� x�i giục người Xi�m.� (24)� Cố gắng n� tr�nh bất kỳ sự khi�u kh�ch n�o kh�c đối với người Ph�p, Dufferin đ� y�u cầu Wilberforce Wyke, một người quốc tịch Anh trong đo�n nh�n vi�n của sứ qu�n Xi�m La tại Paris, đừng c� đến thăm viếng t�a đại sứ Đại Anh C�t Lợi nữa.� Bất kể lời y�u cầu n�y, Wyke đ� gọi đến t�a đại sứ h�m 3 th�ng S�u với tin tức nghi�m trọng.� Ch�nh phủ Xi�m La, �ng ta th�ng b�o cho Dufferin hay, đ� quyết định khước từ c�c đ�i hỏi của Ph�p về v�ng đất tranh chấp nằm b�n tả ngạn s�ng Cửu Long.� Bởi v� c�c đề nghị của Xi�m La để đệ tr�nh vấn đề cho sự trung gian điều giải đ� li�n tiếp bị b�c bỏ bởi Ph�p, phương s�ch duy nhất giờ đ�y mở ngỏ cho Xi�m La l� vũ lực.� Một khi qu�n sĩ Ph�p tiến s�u hơn nữa, đặc biệt khi ch�ng vượt qua con s�ng ở bất kỳ điểm n�o, chiến cuộc sẽ tức thời được tuy�n chiến.� Ba mươi ng�n l�nh Xi�m La đồn tr� dọc theo bi�n giới sẵn s�ng chống trả người Ph�p.(25)� Sự ph�c đ�p của Lord Rosebery đối với tin t�nh b�o n�y l� �bản tin thực sự nghi�m trọng.�� �ng lo sợ rằng Xi�m La đang tr�n �bờ vực tuy�n chiến với Ph�p.�� Một cuộc chiến tranh như thế c� thể đưa đến sự biến dạng ho�n to�n nước Xi�m La như một quốc gia độc lập v� bị thu hấp v�o trong đế quốc Ph�p đang tăng trưởng tại Đ�ng Nam �.� (26)� Khu tr�i độn Xi�m La sẽ biến mất, v� đề quốc Ph�p trong một bước tiến vĩ đại duy nhất sẽ đứng sừng sững ngay tại ch�nh bi�n giới của Miến Điện thuộc Anh.� Ch�nh v� l� do n�y, quan điểm của Rosebery l� một c�i nh�n lo lắng, �thay đổi h�ng giờ v� đ�i hỏi sự theo d�i cặn kẽ nhất của �ng ta .� (27)

 

���� Th�ng S�u cũng chẳng c� bất kỳ sự giảm thiểu mối căng thẳng n�o.� C�c biến cố tiếp tục gia tăng gấp bội.� Trong diễn tiến một cuộc chạm s�ng với qu�n Xi�m La, một vi�n chức Ph�p bị hạ s�t v� một sự n�o động đ� xẩy ra tại Paris. (28) Devele th�ng b�o Dufferin rằng c�c khoản bồi thường phải được trả bởi Xi�m La kh�ng chỉ cho sự hạ s�t �ng Grosgurin m� c�n cho tất cả c�c tổn hại đ� bị g�nh chịu bởi l�nh Ph�p v� An Nam trong suốt c�c cuộc giao chiến qu�n sự trong th�ng Năm.� Nếu Xi�m La từ chối, c�c bước tiến xa hơn sẽ được thực hiện.� C� thể sự cưỡng b�ch bằng hải qu�n đ� được �m chỉ, bởi Develle đặc biệt th�ng b�o cho Dufferin rằng c�c sự chuyển động hơn nữa của hạm đội Ph�p sẽ được th�ng tin cho ch�nh phủ Anh Quốc. (29)� Rosebery từ chối kh�ng cho ph�p Maha Yotha, đại sứ Xi�m La tại London, đến Bộ Ngoại Giao Anh v�o l�c n�y bởi c� �t�nh trạng tế nhị� trong sự việc. (30)� Nhưng điệu bộ giả vờ c�ng khai của �ng về sự thờ ơ c� t�nh to�n cũng bị giao động với sự quan ngại m� �ng b�y tỏ một c�ch ri�ng tư khi tin tức loan b�o về một sự gia tăng trong c�c sự chuyển động hải qu�n Ph�p tại v�ng Vịnh Xi�m La. (31) Tin tức như thế cho thấy t�nh h�nh đang trở n�n một trường hợp �cực kỳ nghi�m trọng.� (32)������

 

���� Sự hiện diện của ba t�u chiến Anh Quốc nằm ngo�i cửa s�ng M�nam để bảo vệ t�i sản Anh Quốc tại Vọng C�c đ� l� một yếu tố l�m phức tạp hơn nữa trong một t�nh trạng c� tiềm năng b�ng nổ.� Rosebery giải th�ch cho Estournelles de Constant, xử l� thường vụ t�a đại sứ Ph�p tại London, rằng c�c chiếc t�u n�y đ� được ph�i đến s�ng M�nam để bảo vệ c�c thương nh�n Anh trong trường hợp c� �một sự nổi dậy của d�n bản xứ.� (33) Nhưng với sự xuất hiện kế đ� của c�c t�u vũ trang Ph�p tr�n s�ng M�nam, Rosebery tự m�nh chuyển sang vị thế leo thang một c�ch mau ch�ng.� Kh�ng c� sự cảnh b�o trước n�o được chuyển đến �ng li�n quan đến c�c sự di chuyển của c�c t�u vũ trang Ph�p, bất kể c� lời hứa của Develle trước đ�y với Dufferin. (34) Hơn thế, khi ch�nh phủ Xi�m La từ chối kh�ng cho ph�p c�c t�u chiến vượt qu� c�c đồn qu�n Xi�m La tại Paknam, cửa s�ng M�nam, vi�n chỉ huy Ph�p đ� cưỡng b�ch mở đường tiến v�o con s�ng.� Qu�n Xi�m La đồn tr� đ� khai ph�o chặn đứng được một thuyền vũ trang, nhưng hai chiếc kh�c đ� đến được Vọng C�c v� thả neo ở đ�.� C�c biến cố n�y c� l�c khiến cho Rosebery bị bối rối nặng nề v� �ng đ� phải xin khất c�u trả lời khi bị chất vấn về biến cố Paknam tại Nghị Viện.� �Mặc d� Develle đ� bảo đảm với Phipps, xử l� thường vụ Anh Quốc tại Paris rằng đ� c� sự nhầm lẫn v� ����������������rằng vi�n chỉ huy Ph�p đ� hiểu lộn c�c chỉ thị d�nh cho �ng ta, Rosebery vẫn ở v�o một vị thế kh� khăn. �ng ta lo sợ c�c cuộc điều tra c� thể xảy ra tại Nghị Viện li�n quan đến ch�nh s�ch ch�nh thức: �Sự ph�c đ�p duy nhất của ch�ng ta l� đưa ra một bản tuy�n bố đầy đủ về c�c lời hứa hẹn m� ch�ng ta đ� nhận được từ Ph�p c�ng sự tin tưởng ho�n to�n của ch�ng ta nơi họ.� T�i sợ rằng bản tuy�n bố n�y sẽ đưa đến một hiệu quả nghiệm trọng�. (35)� Nhưng mặc d� �ng đ� t�m tr� ho�n tại London v� Paris, c�c chỉ thị của �ng gửi cho �ng Jones th� r� r�ng.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, người Xi�m La kh�ng thể giả định rằng c�c t�u vũ trang Swift v� Pallas của Anh hiện đang ở Vọng C�c sẽ cung cấp cho Xi�m La sự trợ gi�p nếu xảy ra một sự đụng độ với Ph�p.� �Ch�nh phủ Ho�ng Gia Anh kh�ng chấp thuận th�i độ của ch�nh phủ Xi�m La, m� đối với họ [ch�nh phủ Anh], l� v� �ch v� c� ph�n đo�n sai lầm v� được �m giữ tr�i ngược một c�ch trực tiếp với sự cố vấn m� họ đ� đưa ra.� (36)

 

���� Bởi việc khai hỏa v�o c�c chiếc t�u Inconstant v� Com�te tại Paknam, người Xi�m La đ� mang lại cho người Ph�p l� do biện minh cho h�nh đ�ng tiếp đ�.� Cũng hay biết về sự miễn cưỡng hiển nhi�n của bản th�n Rosebery, kh�ng muốn đưa ra bất kỳ cử chỉ r� rệt n�o nhằm hỗ trợ cho lập trường của Xi�m La, Develle đ� mau lẹ h�nh động.� V�o ng�y 13 th�ng Bẩy năm 1893, �ng ta đ� thực hiện một h�nh động c�ng khai l� tống đạt cho Xi�m La một tối hậu thư trong một cuộc chất vấn tại quốc hội.� Tối hậu thư đ� được trao cho �ng Ho�ng Devawongse hai ng�y sau đ� bởi Pavie, ngay v�o l�c hai t�u vũ trang của Ph�p lảng vảng tr�n s�ng M�nam.� Ngo�i một v�i điều khoản n�i về c�c khoản bồi thường phải được trả cho c�c c�ng d�n Ph�p tr�n những tổn hại g�y ra bởi binh sĩ Xi�m La, điều quan trọng nhất l� đoạn mục đầu ti�n. �Để khỏi bị một cuộc phong tỏa tất cả bờ biển của n�, Xi�m La được y�u cầu nh�n nhận c�c quyền hạn của An Nam v� Căm Bốt đối với bờ tả ngạn s�ng Cửu Long v� c�c h�n đảo của con s�ng, v� phải di tản tất cả c�c đồn b�t ra khỏi khu vực n�y trong v�ng một th�ng.� C�c điều khoản của tối hậu thư c� vẻ chỉ li�n quan đến v�ng trung lưu s�ng Cửu Long.� Kh�ng c� sự đề cập cụ thể n�o được đưa ra về v�ng thung lũng thượng lưu s�ng Cửu Long, một khu vực c� tiềm năng tranh chấp với Anh Quốc.� Nhưng c� vẻ l� người Ph�p đ� x�c tiến việc giải quyết với Xi�m La một c�ch tức thời sao cho vấn đề trung lưu s�ng Cửu Long sẽ được kết th�c dứt kho�t, c�c điều tranh c�i với Anh Quốc sau đ� c� thể được triển khai một c�ch trực tiếp hơn. (37)

 

���� Một hậu quả tức thời của tối hậu thư của Ph�p l� sự quay sang Paris của Lord Dufferin, kẻ bị giữ lại tại Anh Quốc trong nhiều tuần lễ trước đ�.� Rosebery lo �u về việc l�m s�ng tỏ nh�m chữ �bờ b�n tr�i s�ng Cửu Long�, v� �ng đ� chỉ thị về điểm n�y cho Dufferin l� phải c� một �cuộc thảo luận đầy đủ v� th�n hữu với Bộ Trưởng Ngoại Giao [Ph�p].� (38) Dufferin đ� gặp Develle h�m 22 th�ng Bẩy. �ng đ� tức thời n�u l�n c�c lời tuy�n nhận của Ph�p đối với tả ngạn s�ng Cửu Long m� Develle đ� cho thấy c� bao gồm cả Luang Prabang.� Waddington trước đ�y c� thề thốt về Luang Prabang trong khi n�i chuyện với Lord Salisbury v� c� cho hay rằng Ph�p chỉ quan t�m đến khu vực ở ph�a nam. (39)�� Nhưng Develle b�nh luận rằng c�c sự tuy�n nhận tr�n v�ng Luang Prabang đ� được c�ng bố s�u rộng v� giờ đ�y kh�ng thể r�t lại được, bởi n� sẽ tạo ra vẻ l� Ph�p bị khuất phục trước ��p lực hiển hiện� từ Anh Quốc.� Tuy nhi�n, sau n�y, trong diễn tiến c�c cuộc thương thảo xa hơn �sự chấp thuận nguy�n tắc chế xung (tr�i độn) bởi hai Ch�nh Phủ chung cuộc c� thể mở ra một c�nh cửa cho c�c sự d�n xếp đuợc đề nghị hiện nay c� thể sẽ được sửa đổi trong thực tế.�(? 40) [trong nguy�n bản kh�ng đ�nh dấu nơi c� ch� th�ch số 40, v� người dịch theo mạch văn, suy đo�n ở cuố� c�u tr�ch dẫn n�y]. Một c�nh cửa mở xuất hiện m� Lord Dufferin đ� mau lẹ nhận ra.� Nếu Đại Anh C�t Lợi kh�ng phản đối sự thụ tạo của Ph�p c�c bờ s�ng Cửu Long về phương bắc cho tới Luang Prabang, khi đ�, r� r�ng h�m � của Develle l� sau n�y Ph�p sẽ đồng � về sự thiết lập một v�ng �tr�i độn� ở miền thượng lưu thung lũng s�ng Cửu Long, được đặt nằm giữa c�c phần chiếm hữu của Ph�p v� của Anh trong khu vực đ�.� Điều cũng được �m chỉ trong ng�n từ của Develle về khả t�nh rằng tỉnh Luang Prabang c� thể l� phần đ�ng g�p của Ph�p v�o v�ng tr�i độn mặc d� điều n�y đ� kh�ng thể n�i t�ch bạch ra như thế.� Lord Dufferin ra về sau cuộc n�i chuyện với một giải ph�p được nh�n thấy v� tin rằng Develle l� một con người biết điều nhưng bị x� đẩy qu� chủ định của �ng ta bởi b�o ch� qu� kh�ch. (41)� Trong một thư ri�ng gửi bộ trưởng ngoại giao, Dufferin b�nh luận rằng Develle c� vẻ ở trong một �t�nh trạng sợ h�i ho�n to�n�, bởi �đằng sau �ng ta l� một nh�m nhỏ c�c kẻ cuồng t�n đẩy �ng đến chỗ cực đoan.� (42)� Lord Rosebry t�n thưởng đại sứ của m�nh về cung c�ch theo đ� vi�n đại sứ đ� ứng xử trong buổi n�i chuyện đầu ti�n, ghi nhận rằng �đường hướng tranh luận theo đuổi bởi �ng Đại Sứ r� r�ng tuyệt hảo, đặc biệt khi ma �ng Đại Sứ cảnh c�o Develle chống lại việc nghe theo c�c chuy�n vi�n l� c�c kẻ thường sẵn s�ng liều lĩnh l�i k�o cả thế giới v�o việc chiếm giữ một v�ng đầm lầy chẳng c� gi� trị n�o.� (43)� Nhưng vấn đề v�ng Luang Prabang, điểm then chốt của v�ng thung lũng thượng lưu s�ng Cửu Long, vẫn chưa được giải quyết, v� v� mặc d� Develle c� �m chỉ về sự ưng thuận của Ph�p về sự tạo lập một v�ng tr�i độn tại miền bắc, �ng ta kh�ng đưa ra một sự cam kết chắc chắn n�o. �����

 

���� Kh�ng l�u sau đ� tin tức loan ra cho hay Bộ Ngoại Giao Ph�p đ� từ khước c�c sự nhượng bộ m� �ng Ho�ng Devawongse sẵn l�ng đưa ra l� kh�ng th�ch đ�ng.� Xi�m La trong suốt th�ng Bẩy đ� thực hiện một số nỗ lực xuy�n qua đại diện của họ tại London, �ng Maha Yotha, để tranh thủ sự ủng hộ của Anh Quốc.� Nhưng Rosebery từ chối kh�ng gặp mặt Maha Yotha v� đ� chỉ thị �ng Jones �n�i r� một c�ch r�nh mạch rằng [Xi�m La] đừng c� hy vọng về sự trợ gi�p n�o lại được đưa ra bởi Ch�nh Phủ Ho�ng Gia Anh.� (44)� Tr�n căn bản một lập trường dứt kho�t như thế, người Xi�m La đ� đưa ra c�c sự nhượng bộ, nhưng sự kh�ng chấp nhận tối hậu thư �một c�ch v� điều kiện� khiến cho Develle cắt đứt c�c quan hệ với Xi�m La h�m 24 th�ng Bẩy. (45)� Sự dổ vỡ mở rộng giữa Ph�p v� Xi�m La g�y ra một sự b�o động lớn lao tại Anh Quốc.� Rosebery buồn b� ghi nhận rằng Anh v� Ph�p �đang tiến đến một vị thế nguy hiểm v� kịch liệt nhất.� (46)� Nhưng ở một điểm �ng vẫn c�n cương quyết: �Ch�ng ta kh�ng thể c� một bi�n giới chung đụng với Ph�p tại Miến Điện đuợc.� Điều đ� li�n can đến c�c kinh ph� khỏng lồ cho cả hai nước v� c�c tuyến đồn b�t vũ trang được tr� đ�ng bởi c�c binh sĩ �u Ch�u.�� Mặc d� Lord Rosebery sẵn l�ng bỏ rơi c�c bờ s�ng b�n ph�a L�o kể cả c� thể ch�nh th�nh phố Luang Prabang, tại phương bắc �ng nhấn mạnh đến �một quốc gia tr�i độn th�ch ứng nằm giữa bi�n giới của ch�ng ta với c�c bi�n giới của Ph�p.� (47)� Khi Nữ Ho�ng Victoria phản đối chống lại việc để Xi�m La thương thảo với Ph�p bằng khả năng tốt nhất m� n� c� được, c�u trả lời của Lord Rosebery th� sắc b�n.� Cả Nội C�c Ch�nh Phủ cũng như viện D�n Biểu sẽ kh�ng ủng hộ �ng trong một cuộc chiến tranh với Ph�p v� vấn đề Xi�m La.� Tuy nhi�n, b�u nhiệt huyết c� thể s�i sục nhiều trong c�c cuộc thảo luận về Ph�p, �một quyền lợi chủ yếu của ch�ng ta trong trường hợp n�y l� lập được một v�ng tr�i độn giữa c�c bi�n giới của Ph�p với bi�n giới của Ấn Độ.� (48)

 

���� Trong cuộc n�i chuyến kế tiếp với Develle h�m 26 th�ng Bẩy, Dufferin đề cập ngắn gọn về Luang Prabang, phản đối sự tuy�n nhận của Ph�p rằng trước đ�y rằng n� l� một phần của Căm Bốt.� �ng n�i, �Anh Quốc như thế cũng c� thể đ�i hỏi sự ho�n trả c�c v�ng Normandy, Gascony, v� Guienne.�� Sau đ� �ng quay sang vấn đề quốc gia tr�i độn.� Develle cho hay rằng Ph�p sẽ tiến h�nh đến �một sự giải quyết mau lẹ miền thương lưu s�ng Cửu Long,� ngay khi c�c vấn đề được kết th�c với Xi�m La.� Tr�n căn bản của cuộc đối thoại n�y, Lord Dufferin cố vấn Rosebery l�m �p lực Xi�m La l� h�y chấp nhận tối hậu thư của Ph�p �kh�ng c� điều kiện g� cả v� đừng c� tr� ho�n một khoảnh khắc n�o nữa trừ khi �ng Gladstone [Thủ Tướng Anh khi đ�, ch� của người dịch] sẵn l�ng đe dọa, điều c� lẽ �ng ấy sẽ kh�ng l�m.�� Trong đường hướng n�y, Anh Quốc sẽ �tước đoạt Ph�p l� do để cướp ph� hơn nữa v� vẫn c�n một v�ng tr�i độn c�ch khoảng một trăm hay một trăm năm mươi dậm giữa ch�ng ta v� Ph�p.� (49)

 

���� Rosebery đ� nắm lấy sự mở cửa được đưa ra bởi Develle.� �ng th�ng b�o Dufferin �điều xem ra rất đ�ng mong ước nếu c� thể đạt được một sự trao đổi bằng văn thư ghi nhận c�c sự thỏa thuận của hai Ch�nh Phủ tr�n nguy�n tắc duy tr� một khu vực l�nh thổ trung lập v� độc lập giữa c�c v�ng đất chiếm hữu li�n hệ của hai nước. � (50)� Tuy nhi�n v�o ng�y 27, Develle đ� n� tr�nh một c�ch bực dọc khi Dufferin đề cập đến quốc gia tr�i độn.� �ng muốn rằng lời loan b�o sẽ được ho�n lại cho đến khi �Ph�p trước hết nhận được sự thi h�nh thỏa m�n từ Xiem La.�� Hơn nữa, �ng n�i th�m rằng c�ch h�nh văn của lời th�ng b�o về quốc gia tr�i độn đề nghị phải được viết �sao kh�ng kh�ch động sự chỉ tr�ch trong � nghĩ của c�ng luận Ph�p, đặc biệt v�o l�c sắp c� c�c cuộc b�u cử.� (51)

 

���� Rosebery cố vấn Maha Yotha rằng Xi�m La phải chấp nhận tối hậu thư v� điều kiện, sự từ chối sẽ �rơi v�o bẫy của c�c kẻ biện hộ cuồng t�n cho sự b�nh trướng thuộc địa ở cả Paris lẫn S�ig�n l� c�c kẻ cho rằng c�c điều kiện th� qu� nhẹ.� Lời khuyến c�o n�y cũng được gửi đến Vọng C�c xuy�n qua Đại �y Jones. (52)

 

���� Ghi nhận sự h�a h�an kh�c thường trong ch�nh s�ch của Anh Quốc, Develle v�o ng�y 28 đ� t�n th�nh �một văn thư k� kết đồng � về một v�ng đất độc lập nằm giữa c�c vị tr� li�n hệ của ch�ng ta, c� chiều rộng kh�ng k�m hơn một trăm d�m.� (53)� Điều kiện kh�ng c� kh�ng được (sine qua non) trong ch�nh s�ch của Anh quốc � sự tạo lập một v�ng tr�i độn nằm giữa Bắc Việt v� Miến Điện � ch�nh v� thế đ� được thể hiện.� Mặc d� c�c chi tiết địa dư được d�nh cho sau n�y, với điện văn d�i nhất, Rosebery đ� gửi cho Dufferin c�c � tưởng x�c định về c�c bi�n giới của quốc gia tr�i độn:

 

���� �Về khu vực trung lập, n� phải bắt đầu từ [s�ng] Nam U v� �ng cũng đ�ng bỏ �t th� giờ để cứu x�t việc liệu �ng c� thể sẽ kh�ng �m chỉ rằng Trung Hoa chứ kh�ng phải Xi�m La c� sự tuy�n nhận th�ch đ�ng hơn để chiếm hữu n� hay chăng, bởi danh từ Trung Hoa c� một hiệu quả lớn hơn danh từ Mesopotamia [chỉ quốc gia cổ xưa nằm giữa hai con s�ng Tigris v� Euphrate, c�n được gọi l� v�ng Lưỡng H�, nay thuộc nước Iraq, ch� của người dịch] từng c�.� Nhưng t�i cam đoan rằng ch�ng ta sẽ đồng � về khu vực trung lập đ�, v� nếu n� khởi đầu từ con s�ng Nam U, ch�ng ta c� thể chấp thuận để bao gồm v�o trong khu vực bang quốc Kiang Cheng �� Thế nhưng t�i sẽ kh�ng nhận lời hứa su�ng bằng miệng.� Cho d� cả d�n tộc Ph�p mở miệng thế thốt về bất kỳ điều g� dưới sự chứng gi�m của Kinh T�n Ước v� Cựu Ước, lẫn cả Ngụy Kinh (Apocrypha: kinh ngụy t�c), t�i vẫn phải đ�i hỏi bằng cứ chứng thực vững chắc. (54)

 

���� Giờ đ�y c� vẻ l� bi�n giới chung đụng của Ph�p v� Anh đ� n� tr�nh được, v� rằng vấn đề duy nhất c�n lại l� sự giải quyết c�c ranh giới của quốc gia tr�i độn.� Tr�n bề mặt của sự việc, Anh Quốc đ� nhượng bộ nhiều.� Sự �p đặt cuộc phong tỏa của Ph�p, mặc d� chỉ trong thời gian ngắn, đ� l� một sự sỉ nhục nhắm trực tiếp v�o nền thương mại Anh Quốc.� Ngo�i tối hậu thư thứ nh�, được tống đạt đ�n Xi�m La h�m 30 th�ng Bẩy để bảo đảm sự chấp nhận tối hậu thư thứ nhất, x�c định sự chiếm đ�ng của Ph�p tr�n hải cảng Chantaboun của Xi�m La v�, quan trọng hơn nữa, sự triệt tho�i tất cả c�c binh sĩ Xi�m La khỏi một khu vực hạn chế c� chiều rộng hai mươi lăm c�y số kề s�t b�n bờ s�ng Cửu Long ph�a Xi�m La.� Trong thực tế, người Ph�p đ� tiến h�nh việc củng cố sự kiểm so�t của họ tr�n cả hai bờ v�ng trung lưu s�ng Cửu Long bằng sự thiết lập một giải đất hạn chế, một v�ng đất kh�ng người tr�n đ� quyền chủ thể kỹ thuật, nước Xi�m La, bị cấm cửa. (55) Sau c�ng, r� r�ng rằng một sự x�c phạm trực tiếp đ� được thực hiện tr�n quốc kỳ Anh Quốc khi vị chỉ huy truởng chiếc t�u H.M.S. �Linner� đột nhi�n bị hạ lệnh h�m 30 th�ng Bẩy phải rời khỏi vị tr� của �ng trước Vọng C�c bởi Đ� Đốc Humann của hạm đội Ph�p.� Tiếp theo sau sự khi�u kh�ch mới nhất n�y, Rosebery đ� k�n đ�o th� nhận với Dufferin rằng �t�i đ� kiệt sức v� kh�ng thể n�o đưa ra c�c lời tuy�n bố h�a ho�n được nữa.�� C�c mối quan hệ của Ph�p v� Anh, �ng n�i th�m, kh�ng c�n g� tệ hơn, chỉ c�n thiếu một cuộc chiến tranh. (56) Mặc d� một lờo xin lỗi về biến cố chiếc t�u �Linner� đ� mau ch�ng được đua ra bởi người Ph�p, c�u chuyện xem ra đối với nhiều người c� t�nh c�ch biểu trưng cho cung c�ch theo đ� nước Anh bị đối xử trong suốt cuộc khủng hoảng.� N�i theo lời của Lord Curzon, �Nước Ph�p đ� h�nh động như một h�nh phạm, nước Anh th� cư xử một c�ch yếu đuối, v� nước Xi�m như một kẻ kh�ng; v� khi sự đi�n kh�ng, t�nh yếu nhược v� tội �c đua tranh với nhau, như một quy luật, yếu tố n�u danh cuối c�ng [tức tội �c, ch� của người dịch] sẽ chiến thắng.� (57)

 

���� Tuy nhi�n, mục ti�u ch�nh yếu của nền ngoại giao Anh Quốc đ� đạt được.� V�o ng�y 31 th�ng Bẩy, Dufferin đ� nhận được từ Develle một văn bản cam kết về một khu vực tr�i độn tại miền thượng lưu s�ng Cửu Long mặc d� sự ph�n ranh thực tế bị tr� ho�n cho tới khi kết th�c c�c cuộc b�u cử đang tiến h�nh.� Khi x�t đến c�c tỷ lệ m� tả ngạn s�ng Cửu Long đ� chiếm cứ, trong sự h�nh dung của d�n Ph�p, một �cảm tưởng xấu� c� thể được tạo ra nếu n� c� vẻ l� Develle đ� �đầu h�ng� trước một quốc gia tr�i độn dự ph�ng như l� một giải đất rộng đến mức sau rốt n� c� thể cần đến.� V� thế sự ph�n định ranh giới trong hiện thời được để ngỏ một c�ch mơ hồ. (58) Ch�nh v� thế, trong khi Xi�m La phải g�nh chịu một sự tổn thất đ�ng kể, n� vẫn c�n l� một nước độc lập.� Hơn nữa, Xi�m La r� r�ng vẫn c�n li�n minh chặt chẽ với Anh quốc bất kể sự từ khước của Rosebery để trợ gi�p Xi�m La trong cuộc tranh chấp.� Maha Yotha c� viết cho Rosebery rằng �t�nh hữu nghị của Anh Quốc đối với xứ sở của t�i kh�ng phải l� điều thuộc về qu� khứ, v� ch�nh phủ t�i đương nhi�n hướng đến Anh Quốc mong c� được t�nh cảm v� sự cố vấn trong một sự nghịch l� đau đớn như t�nh huống n�y, ngay d� khi Xi�m La kh�ng thể hy vọng g� ở một sự hỗ trợ cụ thể.� (59)� Ngay cả ở v�o t�nh h�nh n�y, Anh Quốc, dưới mắt người Xi�m La, vẫn c�n l� niềm hy vọng cuối c�ng về sự trợ gi�p chống lại c�c � đồ xa hơn của Ph�p.

 

���� Nhưng chừng n�o m� khu vực tr�i độn chưa được ấn định ranh giới, vấn đề Đ�ng Nam � vẫn chưa được giải quyết m� chỉ ngưng treo ở đ�.� Mặc d� sự tạm lắng m�a h� theo th�ng lệ phủ l�n c�c văn ph�ng ngoại giao của �u Ch�u, tại Xi�m La �t c� sự nghỉ ngơi.� Đầu th�ng T�m, ủy vi�n Ph�p, Le Myre de Vilers, đ� tới Vọng c�c để gi�m s�t sự thi h�nh tối hậu thư.� Ngay từ đầu, Le Myre de Vilers đ� tiết lộ một c�ch thẳng thừng một ước muốn đi xa hơn những g� m� ch�nh phủ Ph�p đ� đ�i hỏi nguy�n thủy.� Kh�ng h�i l�ng v� những chiến thuật tr� ho�n của người Xi�m La trong việc chấp h�nh c�c điều khoản của tối hậu thư, �ng ta đ� trao, trong thực tế, cho c�c giới chức thẩm quyền một số đ�i hỏi mới.� C�c y�u cầu n�y bao gồm sự thừa nhận c�c quyền hạn của Ph�p được tuần cảnh s�ng Cửu Long, sự di tản c�c đồn b�t qua�n sự của Xi�m La trong khu vực hạn chế tr�n hữu ngạn của gi�ng s�ng v� sự thiết lập bởi ch�nh phủ Ph�p trong phạm vi khu vực n�i tr�n �c�c cơ quan � phục vụ quyền lợi của c�c thuộc d�n của n� hay những người sống dưới sự bảo hộ của Ph�p.�� Ph�p cũng sẽ nhận được ph�p để x�y dựng c�c kho trữ than đ� tr�n hữu ngạn s�ng Cửu Long trong v�ng l�nh thổ của Xi�m La. (60) C�c b�o c�o gửi về từ Xi�m La g�y ra sự bất an t�m đến nỗi sự tức giận trong c�ng luận Anh bắt đầu d�ng cao một c�ch hiển hiện khi m�a thu đến.� Munro-Ferguson, thư k� ri�ng của Rosebery, n�u � kiến một c�ch ri�ng tư rằng �lưng ch�ng ta bị đẩy s�t v�o ch�n tường tại Anh Quốc giờ đ�y, v� nếu Ph�p mong muốn như thế, c� rất nhiều x�c xuất xảy ra chiến tranh trong m�a thu n�y.� (61)

 

���� Khi c�c cuộc thương thảo Anh-Ph�p li�n quan đến Đ�ng Nam � được t�i nh�m trong th�ng Ch�n, Develle đ� vội v� t�ch ch�nh phủ Ph�p ra khỏi c�c đie6`u kiện của Le Myre de Vilers.� Nhưng li�n quan đến quốc gia tr�i độn c� con s�ng Cửu Long chạy qua, Develle l�i n� tr�nh.� Cho đến khi một hiệp ước Ph�p-Xi�m được k� kết, �ng ta mới c� thể tiến h�nh để giải quyết kh�a cạnh sau c�ng của vấn đề.� Lord Dufferin� lấy l�m kinh động.� Mặc d� Develle đ� bảc bỏ [c�c điều kiện của] Le Myre de Vilers, Dufferin đặc biệt quan t�m bởi mưu toan của ủy vi�n Ph�p để tạo lập một �khu vực hạn chế: reserve zone� c� bề ngang d�i mười s�u dậm dọc theo to�n thể bờ b�n phải con s�ng Cửu Long từ bi�n giới ph�a bắc của Căm Bốt cho đến bi�n giới ph�a nam của Trung Hoa trong đ� Xi�m La sẽ chỉ c� c�c quyền chủ tể hạn chế.� Sau khi nhường bờ ph�a tr�i miền trung lưu s�ng Cửu Long cho Ph�p, Xi�m La c� hứa hẹn triệt tho�i tất cả binh sĩ khỏi một khu vực rộng hai mươi lăm c�y số (Km) gi�p ranh bờ s�ng b�n phải mặc d� n� vẫn c�n giữ chủ quyền tr�n danh nghĩa đối với khu vực n�y.� Nhưng sự tham chiếu thường trực bởi người Ph�p đến khu vực n�y như �giải đất hạn chế� v� c�c đ�i hỏi hơn nữa của Le Myre de Vilers tr�n đ� đ� khiến Dufferin lo sợ rằng Ph�p c� c�c � đồ x�c định tr�n đ�, v� sau c�ng sẽ s�p nhập n� v�o l�nh địa của họ, từ đ� tước đoạt Xi�m La sự bảo vệ thi�n nhi�n của bi�n cương s�ng Cửu Long. (62)

 

���� V� vậy, mọi nỗ lực đ� được thực hiện bởi Bộ Ngoại Giao Anh để �p lực Xi�m La h�y tức thời thi h�nh c�c điều khỏan nguy�n thủy trong tối hậu thư của Ph�p.� �Điều quan trọng nhất l� Xi�m La phải gắng sức t�i đa để thi h�nh c�c cam kết m� n� đ� k� kết với Ph�p với sự chuẩn x�c tỉ mỉ v� do đ� kh�ng để lại một duy�n cớ n�o gi�p cho Ph�p g�y sự th�m nữa với Xi�m La,� Rosebery đ� đ�nh điện cho Jones như thế.� �Lập trường của n� [Xi�m la] về việc kh�ng cự c�c đ�i hỏi mới đưa ra bởi Le Myre de Vilers sẽ được tăng cường một c�ch lớn lao bởi việc chấp nhận đường lối n�y,� �ng n�i th�m như thế. (63) Trong thực tế, Ph�p đ� tiến tới gi�ng s�ng, nhưng s�ng Cửu Long c� thể kh�ng tượng trưng cho trạm ch�t của cuộc xấm lấn v�o nội địa.� Xi�m La phải t�ng phục tức thời nếu n� muốn tr�nh sự tổn thất l�nh thổ hơn nữa.� �ng Ho�ng Devawongse r� r�ng đồng �, bởi v�o ng�y 1 th�ng Mười Hiệp Ước Ph�p-Xi�m La sau c�ng đ� được k� bao gồm c�c điều khoản của tối hậu thư nguy�n thủy v� c�c bảo đảm bổ t�c nhưng kh�ng c� sự đ�i hỏi của Le Myre de Vilers ngoại trừ điều khoản li�n hệ đến c�c kho chứa than đ� nằm tr�n hữu ngạn.� �t nhất một phần của vấn đề xem ra đ� được giải quyết. (64)

 

���� Ngay sau đ� Dufferin k�u gọi Develle h�y khởi sự một mạch c�c cuộc thảo luận �li�n quan đến một quốc gia tr�i độn bị ngưng treo từ đầu th�ng T�m.�� Bởi v� l� do của sự tr� ho�n � việc kh�ng thi h�nh của Xi�m La � đ� biến mất, xem ra kh�ng c� g� phải chờ đợi nữa.� Develle đồng � nhưng n�u đề nghị rằng c�c quyết định n�n chuyển cho một ủy hội bao gồm hai đại diện Ph�p v� hai đại diện của Anh.� Dufferin cảm thấy rằng �một cơ chế khai triển như thế xem ra kh�ng cần thiết,� v� rằng to�n thể vấn đề c� thể được giải quyết trong nửa tiếng đồng hồ đ�i thoại giữa ch�nh �ng ta v� t�i.�� Nhưng Develle tuy�n bố rằng sự tạo lập một ủy hội về quốc gia tr�i độn sẽ �mang lại một vẻ b�n c�i nhiều hơn trong c�c bi�n bản phi�n họp, sao cho kết quả kh�ng bị nh�n như một vật trao tay trong g�c ph�ng bởi c�c bộ trưởng.� (65)� Ở một kh�a cạnh thực tế, Develle đ� bị tấn c�ng tại viện d�n biểu một c�ch chua ch�t nhất v� t�nh chất �n h�a của Hiệp Ước Ph�p � Xi�m La; �ng ta c� thể kh�ng c�n sống s�t về mặt ch�nh trị nếu �ng c�ng l�c t�n th�nh lời y�u cầu của Anh Quốc về sự ph�n định ranh giới của quốc gia tr�i độn.� �Quốc gia l�m tấm băng đệm: �tat tampon� [tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ng�y c�ng trở n�n đối tượng của sự khinh miệt v� nhạo b�ng trong b�o chi Paris nơi n� bị nh�n đơn giản như một phần của �m mưu của Anh nhằm từ chối sự kiểm so�t của Ph�p tr�n gi�ng s�ng Cửu Long m� họ đ� tiến tới việc xem n�, một c�ch đầy x�c cảm, như �gi�ng s�ng của ch�ng ta: notre fleuve.� (66) [tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].

 

���� Từ khi khởi sự, điều trở n�n hiển nhi�n l� c�c phi�n họp của ủy hội sẽ kh�ng mang lại kết quả thực tế.� Địa dư chưa được x�c định v� địa thế th� m� mờ.� Vị tr� của bang Kiang Cheng cũng l� một nguồn tranh chấp.� Bởi vị tr� của n� nằm kẹp hai b�n con s�ng Cửu Long ở miền thượng lưu, Kiang Cheng c� một � nghĩa đặc biệt.� N� c� một ch�nh quyền trung ương đứng đầu bởi thủ l�nh ri�ng của n� hay c�n gọi l� myoza v� bởi một hội đồng c�c bộ trưởng.� C�c sắc thuế được quản trị bởi c�c thủ lĩnh địa phương, v� một số c�c khu định cư vĩnh viễn nằm rải r�c khắp bang quốc. (67)� Do sự thịnh vượng của n� cũng như bởi vị tr� chiến lược của n�, Kiang Cheng sớm hiện ra như ti�u điểm của c�c cuộc thương thảo về quốc gia tr�i độn đề nghị.� Bang Kiang Cheng đ� được nhượng một c�ch tạm thời bởi Đại Anh C�t Lợi cho Xi�m La đầu năm 1893 với điều kiện nếu n� kh�ng được giữ lại vĩnh viễn bởi Xi�m La, n� sẽ đương nhi�n trả về dưới quyền chủ tể của Anh Quốc.� Sự cắt nhượng cho Xi�m La sau đ� đ� bị hủy bỏ bởi Anh Quốc, v� giờ đ�y ch�nh phủ Anh đề nghị g�p phần lớn l�nh thổ của Kiang Cheng v�o v�ng tr�i độn với điều kiện rằng Ph�p, về phần m�nh, sẽ từ bỏ một phần của bang Luang Prabang. (68)

 

���� Từ khởi đầu, c�c ủy vi�n Ph�p c� vẻ ngoan cố, th� dụ, đ�i bằng cớ bằng văn bản bằng kho�n sở hữu của Anh Quốc đối với c�c bang quốc d�n tộc Shan v� nhấn mạnh rằng sự đ�ng g�p của mỗi nước v�o khu vực trung lập đề nghị phải c� diện t�ch bằng nhau.� Lord Dufferin tức thời nhận thấy rằng nếu nguy�n tắc một mẫu đất đổi lấy một mẫu đất được chấp nhận, Ph�p sẽ mau lẹ trục xuất Đại Anh C�t Lợi ra khỏi to�n thể l�nh thổ Kiang Cheng.� Trong khi Rosebery sẵn l�ng từ bỏ phần c� s�ng Cửu Long xuy�n qua (trans-Mekong) của bang quốc v�o khu vực tr�i độn, �ng muốn giữ lại ph�a b�n n�y s�ng Cửu Long (cis-Mekong).� Phần ph�a b�n n�y s�ng Cửu Long sau n�y c� thể được trao đổi cho một sự bảo đảm v� sự to�n vẹn của l�nh thổ Xi�m La.� Nhưng c�c ủy vi�n Ph�p cho rằng quyền sở hữu của Anh tr�n Kiang Cheng th� đ�ng ngờ vực v� rằng to�n thể bang quốc c� thể thuộc về Xi�m La.� V� thế, trong khi kh�ng đ�ng g�p phần n�o của ch�nh n� v�o v�ng tr�i độn, Anh quốc lại kỳ vọng Ph�p chia cắt Luang Prabang v� nhường phần lớn đất n�y v�o quốc gia trung lập.� Từ đ� trở đi n� đ� trở th�nh chiến lược của c�c ủy vi�n Ph�p đễ cưỡng �p Anh Quốc từ bỏ sự tuy�n nhận của n� tr�n v�ng Kiang Cheng bởi v�, như Dufferin đ� nhận thức, �vị tr� của n� đặt ch�ng ta cuỡi l�n gi�ng s�ng Cửu Long, cho ch�ng ta kiểm so�t được cả hai b�n bờ s�ng, v� gi�p ch�ng ta ngăn chặn bất kỳ con đường mậu dịch n�o c� thể chạy dọc theo thung lũng s�ng Cửu Long v� b�p nghẹt ho�n to�n hoạt động thương mại của Ph�p tr�n tuyến đ�.� (69)

 

���� Trong những ng�y sau đ� c�c ủy vi�n Ph�p b�m chặt lấy nguy�n tắc rằng Kiang Cheng ho�n to�n thuộc về Xi�m La v� rằng tr�n căn bản � niệm mẫu đổi mẫu, Anh Quốc phải nhường lại cho v�ng tr�i độn một bang quốc Shan kh�c, Kiang Tong, nằm ở bi�n giới t�y bắc của Kiang Cheng.� �Người Ph�p đơn giản muốn đuổi ch�ng ta ra khỏi s�ng Cửu Long,� Dufferin ph�n n�n c�ng Rosebery. (70)� Như thế trận đấu gi�nh quyền kiểm so�t phần thượng lưu s�ng Cửu Long tiếp tục m� kh�ng c� sự tiến triển trong suốt th�ng Mười.� Để ph� vỡ sự bế tắc ph�t sinh từ c�c cuộc thương thảo về quốc gia tr�i độn, Rosebery m�i rồi đ� x�c định về sự nhượng bộ, đề nghị gỡ bỏ c�c cuộc thương thảo về một quốc gia trung lập đổi lấy một sự bảo đảm của Ph�p cho sự to�n vẹn l�nh thổ của Xi�m La.� Một sự bảo đảm như thế sẽ ph�ng vệ chống lại khả t�nh của một sự chia cắt Xi�m La m� c�c đ�i hỏi của Le Myra de Vilers đ� b�o trước, hay tệ hơn nữa, sự tuy�n bố một chế độ bảo hộ của Ph�p [tr�n Xi�m La].� Kết cuộc n�o cũng đều đưa đến một bi�n giới chung Anh-Ph�p tại Đ�ng Nam �.� Phần chiếm hữu Ấn Độ v� Miến Điện của Đại Anh C�t Lợi v� l�nh địa An Nam v� Căm Bốt của Ph�p sẽ trở th�nh gi�p giới (limitrophe) dọc theo to�n thể chiều d�i của con s�ng Cửu Long, v� bất kỳ biến cố bi�n giới nhỏ nhặt n�o cũng c� thế dẫn đến đ�m ch�y lớn tại �u Ch�u.� Bất trắc lớn đủ để th�c �p Rosebery nhượng phần đất bang Kiang Cheng đổi lấy sự t�n trọng của Ph�p đối với sự bảo đảm dự ph�ng cho Xi�m La. (71)� Một khi Ph�p từ chối, ch�nh phủ Anh đe dọa sẽ �duy tr� v� củng cố sự kiểm so�t của họ tr�n bang quốc Kiang Cheng ở cả hai b�n bờ s�ng Cửu Long, v� tr�n Kiang Tong vốn cũng trải d�i một khoảng kh� xa dọc theo b�n tr�i của con s�ng đ� � v� trong thực tế, đảm nhận mọi sự kiểm so�t thực sự ch�nh gi�ng s�ng nơi n� chảy xuy�n qua c�c l�nh thổ của họ.� (72)

 

���� V�o khoảng cuối th�ng Mười, sự căng thẳng r� r�ng gia tăng cường độ v� những sự việc tại v�ng thung lũng thượng lưu s�ng Cửu Long.� B�o ch� Paris tr�n đầy c�c sự tham chiếu miệt thị đối với quốc gia tr�i độn.� Develle gặp kh� khăn trong việc giữ y�n c�c th�nh vi�n nhiều thế lực tại Văn Ph�ng Thuộc Địa l� những kẻ đang th�c dục một sự tiến qu�n đến c�c bờ s�ng để th�ch đố Anh Quốc.� Hậu quả, �ng ta đ� n� tr�nh như thường l�m, khi Dufferin đề cập đến vấn đề bảo đảm v� về quốc gia tr�i độn tại buổi n�i chuyện của họ h�m 30 th�ng Mười.� Dufferin tức tối bởi vẻ trơ l� của Develle v� v� thế đ� th�ng b�o cho bộ trưởng ngoại giao Ph�p rằng một khi Anh Quốc kh�ng nhận được sự [trả lời] thỏa đ�ng của Ph�p trong c�c cuộc thương thảo hiện thời, �ch�ng t�i sẽ phải gửi một đội qu�n đến Kiang Cheng, vạch bi�n giới Miến Điện nơi ch�ng t�i lựa chọn, b�p nghẹt gi�ng s�ng, v� kh�ng đếm xỉa đến bản Hiệp Ước của �ng ta.� (73)� C�c lời lẽ n�y tỏ ra c� hiệu lực bởi trong buổi họp kế tiếp của họ h�m 31, Develle hứa hẹn sẽ k� kết một sự bảo đảm khi Xi�m La đ� thi h�nh mọi cam kết chưa giải quyết.� Li�n quan đến quốc gia tr�i độn, Develle đề nghị rằng một ủy hội sẽ được thiết lập để ph�n định bi�n giới của khu vực đề nghị tại chỗ.� Điều n�y kh�ng thể n�o được l�m một c�ch ch�nh x�c tại London hay Paris m� chỉ c� thể thực hiện ở ngay ch�nh v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long.� ��ng ta sẵn s�ng,� Dufferin viết, �để chấp nhận như một nguy�n tắc rằng sự đ�ng g�p của Ph�p sẽ �t nhất ngang bằng với sự đ�ng g�p của Anh quốc, v� �ng ta sẵn s�ng để thừa nhận Kiang Cheng l� l�nh thổ của Anh Quốc, dựa tr�n �y tin của lời n�i của t�i, m� kh�ng c� c�u hỏi n�o về bằng kho�n sở hữu.� (74)

 

���� Việc n�y sau c�ng sẽ l� h�nh th�i của giải ph�p.� Nhưng sự tr� trễ qu� mức của Ph�p trong sự thi h�nh c�c đề nghị n�y khiến cho Rosebery bị đẩy đến việc bắt đầu c�c cuộc thương thảo với Trung Hoa li�n quan đến một sự bảo đảm k�p (dual guarantee) cho Xi�m La, đề nghị chủ quyền của Trung Hoa tr�n v�ng tr�i độn dự ph�ng đổi lấy sự t�n trọng một sự bảo đảm như thế.� Rosebery mường tượng rằng sự bảo đảm chung của Anh v� Trung Hoa như một �đ�n bẩy mạnh mẽ� sẽ cuỡng b�ch Ph�p thực hiện c�c lời hứa hẹn của Develle. (75)� Nhưng ủy hội khu vực tr�i độn được nh�m họp lại tại Paris vẫn vướng mắc một c�ch v� vọng v�o c�c sự nghi�n cứu địa dư, v� Develle một c�ch đơn giản kh�ng bị x� đẩy mau tiến tới việc thực thi c�c lời hứa hẹn m� �ng ta đ� đưa ra h�m 31.� Dufferin qu� bực bội với t�nh trạng tĩnh lặng của c�ng việc tại Paris đến nỗi �ng c� biểu lộ một � muốn kh�ng mấy �n h�a với Rosebery rằng �ngay khi mọi việc đ� đạt được với Trung Hoa, sẽ k� một khẩu s�ng lục ngay đầu Develle.�� Sau c�ng, đ�p lại sự th�c dục nhiều lần từ Dufferin, Develle đ� đồng � viết một văn thư kh�ng ch�nh thức cho Rosebery �tự hứa hẹn đối với � sự trung lập h�a Xi�m La.�� Văn thư, kh�ng c� t�nh c�ch ch�nh thức, đủ mang lại sự t�i bảo đảm đối với Rosebery, v� vấn đề đ� được tạm thời xếp lại. (76) C�c cuộc thương thảo kh�ng c�n được theo đuổi với Trung Hoa nữa, bởi thủ thuật đ� đạt được mục đ�ch của n�.� Dufferin giờ đ�y được chỉ thị �đ�ch th�n thảo luận chi tiết với Develle� về quốc gia tr�i độn.� Rosebery sẽ chấp nhận một khu vực c� chiều rộng năm mươi dậm bao gồm cả phần của Kiang Cheng b�n n�y s�ng Cửu Long (cis-Mekong) v� xuy�n qua s�ng Cửu Long (trans-Mekong).� Nhưng sự đ�ng g�p đ�ng kể n�y cảa Anh phải được c�n đố� bởi phần đ�ng g�p tương ứng [apport, ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ở ph�a bắc bang Luang Prabang �� Trong khi Anh Quốc từ bỏ Kiang Cheng, �một bang quốc được thừa nhận với một thủ đ� được thừa nhận�, Ph�p nhường v�ng đất hoang, đồi n�i v� kh�ng c� gi� trị.� Anh Quốc sẽ giữ lại phần lớn l�nh thổ Kiang Tong nhưng từ bỏ c�c l�ng x� của bang quốc n�y nằm s�t con s�ng Cửu Long.� Bất kỳ nơi n�o m� con s�ng Cửu Long gi�p cận l�nh địa của Anh Quốc, sự hải h�nh tự do sẽ được bảo tồn. (77)

 

���� Dufferin kh�ng để mất thời gian trong việc thi h�nh c�c chỉ thị cho m�nh.� V�o ng�y 18 th�ng Mười Một, �ng gặp Develle v� đề nghị rằng c� nh�n hai người sẽ �giải quyết điểm hắc b�a.�� Tiếp tục c�c cuộc thương thảo về quốc gia tr�i độn th�m nữa l� một sự ph� phạm th� giờ bởi c�c ủy vi�n Ph�p �l� một cặp ngỗng [nghĩa b�ng trong Anh ngữ để chỉ kẻ ngốc nghếch, ch� của người dịch] kh�ng thực tế m� ch�ng t�i c� l� do để ph�n n�n.�� Anh Quốc đề nghị v�ng tr�i độn nằm trong quyền lợi của cả hai nước, �bởi điều hiển nhi�n rằng, nếu c�c bi�n giới ch�ng ta chung đụng nhau, bất kỳ một sĩ quan bi�n giới nhiều chuyện hay trong t�nh trạng bệnh hoạn, bất luận l� Ph�p hay Anh, sẽ c� trong thẩm quyền của anh ta để ph�ng đại mọi chuyện vặt v�nh trở th�nh một vấn đề quốc tế nghi�m trọng sẽ được chuyển tiếp về �u Ch�u, v� từ đ� tăng trưởng th�nh một nguy�n do g�y bực tức giữa hai Ch�nh Phụ�� Nếu Ph�p từ chối một sự thỏa thuận về một �kế họach hợp l� v� kh�n ngoan,� nước Anh khi đ� sẽ củng cố vị thế của n� tại Kiang Cheng, ở cả hai b�n bờ s�ng, trong một �cung c�ch t�ch cực hơn v� hiệu quả hơn mức cho đến nay được xem l� cần thiết.� (78)

 

���� Ng�n ngữ mạnh mẽ n�y dẫn dến trong v�ng hai tuần lễ việc k� kết c�c nghị định thư (protocols).� Văn bản đầu ti�n chỉ đơn giản dự liệu sự thiết lập một ủy hội tại chỗ để điều tra tại v�ng thung lũng thượng lưu s�ng Cửu Long.� Văn bản thứ nh� bao gồm c�c chỉ thị cho c�c ủy vi�n, bản văn chỉ thị họ để � �đến gi�ng chảy của s�ng Cửu Long từ chỗ n� tiến v�o Kiang Cheng cho đến chỗ n� đổ v�o Luang Prabang.�� N� c�n chỉ thị rằng khu vực tr�i độn rộng t�m mươi c�y số �đến mức m� h�nh thể địa dư v� t�nh h�nh ch�nh trị của xứ sở sẽ cho ph�p.�� C�c nh�n vi�n kỹ thuật được y�u cầu ghi ch�p kỹ lưỡng �đ�u l� c�c giới hạn ch�nh trị v� địa dư để c� thể đạt được một c�ch tốt nhất mục ti�u n�y.� (79)

 

���� Khi để vấn đề quyết định cho c�c nh�n vi�n kỹ thuật, ch�nh phủ Ph�p nhất thiết bị th�c đẩy bởi c�c phản hồi c� thể c� từ viện d�n biểu.� V� l� do n�y, ng�n ngữ của c�c nghị định thư đ� được viết mơ hồ một c�ch cố t�nh, bởi bất kỳ �m hiệu n�o rằng Develle c� dự liệu sự chia cắt Luang Prabang sẽ dẫn đến một c�ng luận ồn �o tại Ph�p.� Nhưng c�c nh�n vi�n kỹ thuật được giao cho quyền để đề nghị phần đất của Luang Prabang sẽ được s�p nhập v�o khu vực tr�i độn nếu việc n�y x�t ra đ�ng l�m.� Jusserand, trong thực tế, n�i với Dufferin rằng bản văn thứ nh� trong hai nghị định thư đ� được thảo ra theo � c�c sự tr�nh b�y mạnh mẽ của Anh Quốc. (80)� Mặc d� Rosebery cảm thấy rằng c�c nghị định thư kh�ng gồm �tất cả những g� ch�ng ta mong muốn,� khi kết to�n Anh Quốc đ� đạt được nhuều như c� thể kỳ vọng được một c�ch hợp l�. (81)� Vấn đề c�c bờ s�ng mi�n thượng lưu Cửu Long ch�nh v� thế đ� được chuyển từ tay c�c nh� ngoại giao tại �u Ch�u v� v�o tay của c�c chuy�n vi�n kỹ thuật tại Đ�ng Nam �.

 

���� Điều sớm hiện r� l� c�c ủy vi�n tại miền thượng lưu s�ng Cửu Long sẽ chẳng th�nh c�ng g� hơn c�c người tiền nhiệm của họ tại Paris.� Phần lớn sự đụng chạm giữa Sir. J. George Scott v� Auguste Pavie, c�c ủy vi�n ch�nh của Anh v� Ph�p, ph�t sinh bởi vấn đề quyền sở hữu tr�n v�ng Kiang Cheng v� bởi sự ương ngạnh củ vi�n bang trưởng (myoza).� Khi một bi�n giới đ� được vạch ra giữa Miến Điện thuộc Anh v� Xi�m La, ch�nh phủ n�u t�n sau đ� được ban cấp một c�ch thử nghiệm v�ng Kiang Cheng; với sự xuất hiện mối đe dọa của Ph�p, sự d�n xếp n�y bị hủy bỏ bởi Anh Quốc.� Nhưng vi�n bang trưởng của Kiang Cheng tỏ ra cứng cỏi, ngoan cố duy tr� l�ng trung th�nh của �ng ta với Xi�m La cho đến khi ch�nh ch�nh phủ Xi�m La th�ng b�o �ng ta rằng sự trung th�nh của �ng phải được hướng về b�n Anh quốc.� Tuy nhi�n, Ph�p cho rằng chủ quyền của Anh tr�n Kiang Cheng th� kh�ng r� rệt, v� rằng, do đ� tỉnh n�y kh�ng thể tạo th�nh sự g�p phần tương ứng (apport) của Anh quốc v�o quốc gia tr�i độn.� (82)� Nhiều th�ng d�i của sự tranh luận chua ch�t về điểm n�y đ� tiếp diễn.

 

���� Trong suốt những th�ng n�y c�c sự thay đổi ch�nh phủ tại Ph�p đ� đưa Gabriel Hanotaux l�n l�m Bộ Trưởng Ngoại Giao.� Điều sớm trở n�n hiển nhi�n l� Hanotaux cho thấy �t dễ d�i hơn trong vấn đề c�c bi�n giới Đ�ng Nam � như Develle đ� từng thể hiện.� Ngay từ đầu, Hanotaux cho rằng c�c sự tuy�n nhận của Anh Quốc tr�n v�ng Kiang Cheng l� �đ�ng tranh nghị� v� �m chỉ rằng trong vấn đề bằng kh�an sở hữu tỉnh hạt đ�, �đ� c� một số m�nh kh�e lừa bịp trong sự việc.� (83)� N�i vắn tắt, Hanotaux quyết t�m vứt bỏ � tưởng về một quốc gia tr�i độn l� nơi trong c�i nh�n của �ng sẽ �trở th�nh một khu nghi ngơi d�nh ri�ng cho c�c kẻ ngược ngạo m� kh�ng c� bất kỳ loại kiểm so�t th�ch đ�ng n�o.� (84)� �ng kh�ng hiểu tại sao một bi�n giới chung đụng lại nhất thiết g�y ra sự kh� khăn v� trong một cung c�ch thẳng thừng biện hộ rằng s�ng Cửu Long l� đường ph�n chia tốt đẹp nhất giữa c�c khu vực ảnh hưởng của Ph�p v� Anh tại ph�a bắc. (84)

 

���� Tại Anh Quốc ch�nh phủ kh�ng hiệu quả của phe Cấp Tiến đ� gần đi đến hồi kết cuộc.� Cả Rosebery lẫn người kế nhiệm �ng l�m bộ trưởng ngoại giao, Lord Kimberley, đ� kh�ng thể giải quyết vấn đề miền thượng lưu s�ng Cửu Long.� Trong th�ng Bẩy năm 1895, Lord Salisbury quay trở lại l�m bộ trưởng ngoại giao.� Một trong những vấn đề th�c b�ch nhất sẽ phải đối đầu ch�nh l� vấn đề của Đ�ng Nam � m� Dufferin đ� đề cập đến trong một bản tổng kết c�c quan hệ Anh-Ph�p như l� �một sự tranh chấp nguy nhiểm nhất v� th�i th�c nhất trong c�c tranh chấp chưa được giải quyết của ch�ng ta.� (85)

 

���� Lord Salisbury đ� được trợ gi�p ban đầu trong sự cứu x�t của �ng về vấn đề bởi một điện văn d�i từ Scott.� Scott v� c�c chuy�n vi�n của �ng ta đ� khảo s�t mọi kh�a cạnh của t�nh h�nh v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long trong vai tr� của họ như c�c ủy vi�n về quốc gia tr�i độn.� Tr�n căn bản c�c sự quan s�t bản th�n, Scott thấy ch�nh m�nh bị bắt buộc, mặc d� miễn cưỡng, phải khuyến c�o sự từ bỏ � niệm quốc gia tr�i độn để nghi�ng về một bi�n giới trực tiếp giữa Anh v� Ph�p.� �ng đ� khảo s�t một số giải ph�p thay thế v� lần lựợt gạt bỏ từng đề nghị một.� Một quốc gia tr�i độn c� thể được thiết lập dưới l�nh tụ của ch�nh n�, nhưng người c� vẻ l� ứng vi�n nhiều nhất, Bang Trưởng của bang Kiang Cheng, �xem ra gắn b� với Ph�p hơn l� với ch�ng ta.�� Đặt một v�ng tr�i độn dưới sự cai trị của Trung Hoa th� kh�ng thực tế bởi c� �sự th� nghịch hiển nhi�n kh�ng thể đ�nh bại được của ch�nh phủ Ph�p.�� Ph�p cũng phản đối sự nới rộng quyền b� chủ của Xi�m La đến khu vực tr�i độn tr�n căn bản rằng �sự cai trị của Xi�m La sẽ l� điều bất hạnh cho cư d�n ở đ�.�� Sau nhiều năm thương thảo v� khảo s�t, Scott sau c�ng đ� �p dụng trắc nghiệm của chủ nghĩa thực tế v�o t�nh h�nh.� Đại Anh C�t Lợi phải mất cho Ph�p phần đất của bang Kiang Cheng nằm b�n ph�a đ�ng s�ng Cửu Long.� Mặc d� Kiang Cheng th� thịnh vượng theo ti�u chuẩn của bang quốc d�n tộc Shan, từ một c�i� nh�n của �u Ch�u, Scott ghi nhận, n� �hầu như chẳng đ�ng gi� g� cả.�� S�ng Cửu Long trong gi�ng chảy của n� xuy�n qua bang quốc th� kh�ng c� gi� trị về mặt thương mại.� Trong sự k�o d�i l�nh thổ tr�i độn dự ph�ng, Scott bổ t�c, �gi�ng s�ng vượt qu� sự mạo hiểm ngay cả của c�c l�nh thủy mặc �o kh�ac m�u xanh gốc Breton [v�ng Brittany, ch� của người dịch].�� C�c th�c lớn v� nước xiết vượt qu� v�ng Luang Prabang ngăn trở con đường kinh doanh thương mại l�n ph�a bắc; kh�ng con t�u chạy bằng hơi nước n�o c� thể chạy được l�n tới đ� �bởi bất kỳ ai trừ �ng Astor [? c� lẽ để chỉ người Mỹ gốc Đức được xem l� kẻ gi�u c� nhất của Mỹ thời bấy giờ, ch� của người dịch] n�o đ� hay Đại T� Phương Bắc (Colonel North) [?].�� Ch�nh v� thế, kh�ng c� sự phản đối thực sự lớn lao n�o trước việc chấp nhận c�c bi�n giới s�t nhau.� Mọi giải ph�p thay thế khả hữu đ� được khảo s�t v� thấy trống kh�ng.� Anh Quốc trong việc nhường v�ng Kiang Cheng c� s�ng Cửu Long chạy xuy�n qua sẽ l� việc cắt bỏ điều m� Scott gọi l� �một cục bướu nhỏ v� dụng.� ��Nhưng đối với Ph�p, sự sở đắc cục bướu nhỏ, dư thừa đ� c� nghĩa rằng giấc mơ một đế quốc li�n tục tại Đ�ng Nam � bao quanh chỉ bởi con s�ng Cửu Long sau c�ng sẽ trở th�nh một thực tế. (87)

 

���� Bản b�o c�o của Scott r� r�ng đ� x�c t�n trong đầu �c của Salisbury rằng � tưởng về một quốc gia tr�i độn th� kh�ng thực tế v� kh�ng khả thi, một quan điểm m� người Ph�p đ� t�n th�nh gần như ngay từ l�c khởi đầu.� Salisbury kh�ng cảm thấy gắn b� với kh�i niệm quốc gia tr�i độn như c�c bộ trưởng phe Cấp Tiến trước �ng đ� mường tượng về n�.� Do đ�, c�c cuộc thương thảo nghi�m chỉnh về một sự giải quyết chung cuộc tại Đ�ng Nam � đ� khởi sự t�i nh�m trong th�ng T�m năm 1895.� V�o ng�y 13 th�ng T�m, Salisbury v� Nam Tước Courcel, đại sứ Ph�p tại London, đ� c� một cuộc thảo luận kh� thẳng thắn về t�nh h�nh dọc theo s�ng Cửu Long.� Salisbury thừa nhận một c�ch kh�ng ch�nh thức rằng thung lũng s�ng Cửu Long l� mạch sống hiển nhi�n của Ph�p tại Đ�ng Dương kh�ng kh�c g� thung lũng s�ng Irrawađy [ở Miến Điện] đối với Anh.� H�m � th� r� rệt: �� niệm quốc gia tr�i độn đ� chết.� Vấn đề duy nhất c�n lại l� đi đến một sự kết th�c t�nh trạng sự vụ chưa được giải quyết tại b�n đảo bằng việc thừa nhận một c�ch ch�nh thức con s�ng Cửu Long ở v�ng thượng lưu l� đường ph�n ranh giữa c�c v�ng chiếm hữu của Anh v� của Ph�p.� V� thế, trong lời n�i thốt ra kế tiếp, Salisbury đề nghị một sự trao đổi v�ng Mong Sin lấy sự từ bỏ giải đất hạn chế rộng hai mươi lăm c�y số v� cho một sự bảo đảm chung về quy chế trung lập của Xi�m La.� Courcel c� cảm tưởng tốt bởi t�nh hữu nghị của Salisbury v� quyết t�m hiển nhi�n của �ng ta muốn đem vấn đề Đ�ng Nam � dai dẳng đến một sự giải quyết. (88)

 

���� Salisbury quay trở lại vấn đề v�o ng�y 29 th�ng T�m.� Trong khi �ng thừa nhận rằng quốc gia tr�i độn l� một danh từ chết v� chấp nhận với �t sự lưỡng lự viễn ảnh một bi�n giới cạnh nhau của Anh v� Ph�p, �ng t�i x�c định tầm quan trọng của việc bảo đảm �một sự hiện hữu ổn cố� đối với Xi�m La.� Salisbury cũng đề nghị Ph�p đưa ra sự bảo đảm rằng khu vực rộng hai mươi lăm c�y số sẽ kh�ng bị s�p nhập. (89)� Trong khi nhượng bộ c�c đ�i hỏi ch�nh của Ph�p, Salisbury hiển nhi�n đ� cố gắng cứu vớt c�ng nhiều c�ng tốt.� �ng đ� x�m nhập một c�ch sắc b�n v�o trọng t�m của t�nh h�nh trong khi Rosebery kh�ng thể l�m như thế; một sự bảo đảm cho Xi�m La th� đ�ng gi� nhiều hơn, kh�ng chỉ so với c�c nhượng bộ đ�t đai tại v�ng bắc xa x�i m� ngay cả đối với sự chấp nhận của Anh Quốc sự hiện hữu của giải đất hạn chế.

 

���� Hanotaux ngần ngại đưa ra c�c lời tuy�n bố c�ng khai m� Salisbury đề nghị li�n quan đến giải đất rộng hai mươi lăm c�y số, v� lo sợ phản ứng tại Quốc Hội.� Hơn nữa, trong khi bộ trưởng ngoại giao Ph�p sẵn l�ng đưa ra sự bảo đảm bằng miệng li�n quan đến sự vẹn to�n l�nh thổ của Xi�m La, �ng phản đối việc đưa ra một văn bản tuy�n bố ch�nh thức về vấn đề n�y. (90)

 

���� Salisbury gặp gỡ Courcel h�m 23 th�ng Mười để tiếp tục cuộc thảo luận của họ.� Trong t�m của sự tranh chấp, như xuất hiện giờ đ�y, li�n can đến vấn đề bảo đảm.� Nếu kh�a cạnh n�y của vấn đề được giải quyết, sự thỏa thuận tr�n c�c điểm kh�c sẽ tiếp theo sau.� Salisbury khi đ� đ� thực hiện điều được chứng minh sẽ l� bước chuyển động chủ yếu.� Khi nh�n thấy sự chống đối mạnh mẽ tại Ph�p để bảo đảm cho �c�c bi�n cương hiện hữu� của Xi�m La, Salisbury đ� tung ra � tưởng �rằng lưu vực s�ng M�nam c� thể l�m chủ đề thay thế trong một sự bảo đảm như thế thay v� cho to�n thể đế quốc Xi�m La.� (91)� Trong thực tế, Salisbury đ� t�m được ch�a kh�a cho giải ph�p tố� hậu.� Sự bảo đảm thung lũng s�ng M�nam được k�m theo, như Salisbury th�ng b�o cho Courcel, bởi một sự tuy�n bố chung của Anh v� Ph�p rằng �kh�ng c� � định của một b�n ch�nh phủ n�o nhằm k� kết một sự d�n xếp n�o đ� để gieo rắc bất kỳ sự nghi ngờ n�o tr�n sự an ninh của c�c l�nh địa kh�c của Xi�m La nằm ngo�i n�, hay để b�y tỏ bất kỳ xu hướng muốn soi m�n sự to�n vẹn của ch�ng.� (92) Nhiều chi tiết của c�ch đặt c�u văn c�n phải được tiến h�nh, nhưng bước ngoặt sau hết đ� được thực hiện.� Quốc Hội Ph�p c� thể sẵn s�ng để chấp nhận hơn một sự bảo đảm cục bộ giới hạn v�o thung lũng s�ng M�nam, trong khi lời tuy�n bố đi k�m sẽ khiến người Anh dễ chấp nhận hơn c�c nhượng bộ đ� được đưa ra.

 

���� C�c cuộc thương thảo tiếp tục trong th�ng Mười Một.� Salisbury thực hiện một số nỗ lực để t�m c�ch đạt được sự từ bỏ giải đất hạn chế rộng hai mươi lăm c�y số chạy dọc theo bờ b�n phải của con s�ng Cửu Long. �Tất cả� những nỗ lực n�y đều cho thấy l� v� �ch.� Cuối c�ng �ng chấp nhận sự kiểm so�t của Ph�p tr�n s�ng Cửu Long như một khoản của c�i gi� trả cho sự bảo đảm từng phần.� Nhưng v�o cuối th�ng Mười Một, Salisbury đ� r�n đ�c được một sự giao ước v� loại bỏ được một trong ung nhọt nhức nh�i nhất trong tất cả c�c sự tranh chấp Anh-Ph�p.� Kh�ng giống như c�c kẻ tiền nhiệm phe Cấp Tiến, Lord Salisbury đ� t�m c�ch �giải quyết� vấn đề c�c bờ s�ng Cửu Long v� trong tiến tr�nh đ� g�n giữ được cả sự độc lập của Xi�m La lẫn c�ng cuộc kinh doanh thương mại của Anh Quốc tập trung tại thung lũng s�ng M�nam.

 

���� Trong th�ng Mười Hai sự thỏa thuận sau c�ng đ� đạt được.� Salisbury to�n t�m to�n � thừa nhận b� quyền (hegemony) của Ph�p tr�n c�c bờ s�ng Cửu Long chạy từ bi�n giới Căm Bốt l�n ph�a bắc cho đến gần bi�n giới Trung Hoa.� �ng cũng nhường hải cảng Chantaboun cho Ph�p v� thừa nhận c�c đặc quyền của Ph�p tr�n giải đất hạn chế rộng hai mươi lăm c�y số thuộc bờ v�ng trung lưu s�ng Cửu Long.� Đổi lại, Ph�p đồng � bảo đảm sự độc lập v� sự vẹn t�an l�nh thổ của lưu vực luồng nước s�ng M�nam. (93)� �Chắc chắn đ� l� điều vĩ đại, trong tất cả c�c trường hợp, khi hạt nh�n của Xi�m La được bảo vệ bởi một sự bảo đảm,� Dufferin đ� viết cho Salisbury sau khi khảo s�t bản dự thảo nghị định thư. (94)

 

���� Sự sống c�n của Xi�m La như một quốc gia độc lập trong một thập ni�n khi m� tr�o lưu của chủ nghĩa đế quốc l�n đến cực điểm của n�, ch�nh v� thế, l� một kết quả tối hậu của t�nh trạng rắc rối giữa Anh v� Ph�p v� của sự thương nghị giữa Salisbury v� Courcel nhằm chấm dứt t�nh trạng đ�.� C�c đề quốc thuộc đia của Anh v� của Ph�p trở n�n gi�p giới với nhau tại thung lũng v�ng thượng lưu s�ng Cửu Long với con s�ng l� bi�n giới.� Nhưng về ph�a nam một ranh giới tiếp gi�p tương tự bị ngăn trở bởi sự bảo đảm lưu vực s�ng M�nam.� Như Dufferin đ� b�nh luận, �ch�ng ta đ� tạo ra �một quốc gia tr�i độn, sau hết, mặc d� kh�ng ch�nh x�c như quốc gia m� Lord Rosebery đ� tr� hoạch. � (95)� Ch�nh Xi�m La đ� trở th�nh v�ng tr�i độn, một nước Xi�m bị tước đoạt thủy lộ Cửu Long nhưng giờ đ�y �t nhất c� được một sự bảo đảm phần n�o l�nh thổ.

 

���� Dufferin tại Paris đ� bị thất vọng bởi sự giải quyết cuối c�ng.� �Người Ph�p hay biết,� �ng viết ri�ng cho Munro-Ferguson, thư k� của Rosebery, �rằng ch�ng ta sẽ kh�ng đ�nh nhau với họ v� v�ng thung lũng s�ng Cửu Long, v� họ l� qu�n đểu giả v� lương t�m đến nỗi họ sẽ lu�n lu�n chiếm phần tốt hơn ch�ng ta bởi họ kh�ng c� li�m sỉ khi kh�ng t�n trọng chữ k� của c�c đại diện của họ hay trong việc ph� bỏ c�c sự cam kết.� (96) �Bất kể sự ph�n đo�n n�y, nhiều người tin rằng Anh đ� d�nh được phần mặc cả tốt nhất c� thể đ�i được.� Trước ti�n, khu vực tranh chấp nhường lại cho Ph�p th� cằn cỗi, kh�ng sản xuất v� kh� tiếp cận.� Đ�ng qu�n trong khu vực sẽ cho thấy đ� l� một g�nh nặng g�y phiền h� cho Ch�nh Phủ Ấn Độ.� Hơn nữa, khi đ�nh đổi v�ng Kiang Cheng c� s�ng Cửu Long xuy�n qua, Bộ Ngoai Giao Anh đ� đạt được một sự bảo đảm cho v�ng đất gi�u c� nhất của Xi�m La v� khu vực nơi m� c�c quyền lợi thương mại của Anh tập trung v�o đ�.� Nước Ph�p thực ra đ� được mua chuộc bằng c�c v�ng đất rộng �t c� gi� trị kinh tế trong khi trọng t�m thực sự của xứ sở v� khu vực ch�nh yếu cho sự mua b�n của Anh Quốc được bảo to�n.

 

���� Xi�m La, n�i cho đ�ng, đ� mất đi một số tỉnh hạt ngoại vi n�o đ� vốn được duy tr� bằng l�ng trung th�nh kh�ng vững chắc.� Nhưng trong việc nhường bỏ phần ven bi�n của c�c l�nh địa triều cống, Xi�m La đ� c� thể duy tr� một quy chế độc lập với vai tr� tr�i độn của n� được bảo đảm bởi c�c cường quốc thực d�n cạnh tranh nhau tại Đ�ng Nam �.� Như Lord Dufferin ghi nhận, �đ� l� một vấn đề trọng đại để c� được người Ph�p đồng � tr�n sự trung lập h�a Vọng c�c v� v�ng thung lũng s�ng M�nam.� (97)

 

���� Bởi c� c�c sự c�n nhắc như thế n�y m� Lord Salisbury đ� sẵn l�ng d�nh cho Ph�p �sự chiến thắng� của họ, một sự chiến thắng v�o l�c đ� xem ra gồm cả tr�n mặt l�nh thổ lẫn biểu tượng.� Chỉ ri�ng về mặt l�nh thổ thuần t�y kh�ng th�i, Ph�p đ� gia tăng một c�ch lớn lao phần kiểm so�t của n� tại b�n đảo.� C�c thuộc địa chiếm hữu của n� giờ đ�y k�o căng phần đất liền từ bờ biển cho đến s�ng Cửu Long tại ph�a bắc v� mười s�u dậm qu� gi�ng s�ng ở khu vực trung lưu s�ng Cửu Long.� Đối với c�c thuộc địa Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam Kỳ (Cochin-China) v� Căm Bốt, nay lại được bổ sung bởi L�o như một hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hỏang k�o d�i trong những năm chin mươi [thập ni�n 1890, ch� của người dịch].� C�c v�ng đất kiểm so�t rải r�c của Ph�p tại Đ�ng Dương đ� c� được k�ch thước của một đế quốc, được mang lại cho sự th�ng nhất v� li�n th�ng nhờ sự sở đắc c�c bờ s�ng Cửu Long.

 

���� Hơn nữa, người Ph�p cũng đ� đạt được một chiến thắng c� t�nh c�ch biểu tượng.� S�ng Cửu Long trong phần gi�ng chảy thuộc về họ một c�ch r� r�ng.� Scott trước đ�y đ� b�nh luận về sự nhiệt th�nh đ�ng kể của người Ph�p đối với s�ng Cửu Long: �Họ n�i về n� một c�ch nhất thống l� �gi�ng s�ng: le fleuve� [tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] như thể kh�ng c� con s�ng n�o kh�c c� thể so s�nh với n�. �� Ch�nh Scott đ� v� t�nh g�y ra một sự x�c phạm lớn lao khi n�i �tr�n c�ng vĩ độ s�ng Salween [của Miến Điện, ch� của người dịch] l� một con s�ng tốt hơn nhiều.�� Lef�vre-Pontalis, một phụ t� của Pavie trong ủy hội quốc gia tr�i độn, đ�p lại một c�ch giận dữ rằng con s�ng Cửu Long c� nhiều thư hơn nữa nơi cửa khẩu của n�.� �T�i kh�ng nghĩ cần phải trả lời rằng ch�ng c� c�ng chiều d�i t�nh từ nguồn gốc của ch�ng,� Scott ghi nhận như th�.� �C� lẽ đ� l� mũi ch�m ch�ch chọc v�o �con s�ng Rhein tự do thuộc Đức [?, nguy�n văn: perhaps it is a pique about der freie Deutsche Rhein�, c� cả tiếng Ph�p v� tiếng Đứcc trong c�u văn tiếng Anh trong nguy�n bản.� Đ�y ch�nh l� một sự ch�m chọc v�o giấc mơ từ thời trung cổ của Ph�p muốn s�p nhập phần l�nh thở ở ph�a đ�ng cho tới gi�ng s�ng Rhin, trong khi gi�ng s�ng Rhin n�y trở th�nh biểu tượng bảo vệ sự tự do của người Đức, ch� của người dịch], c� lẽ bởi v� người Ph�p kh�ng du lịch nhiều v� kh�ng biết một con so6ng thực sự tốt l� g�,� �ng kết luận. (98) �Nhưng bất kỳ với l� do n�o, người Ph�p đ� đạt được một chiến thắng t�m l� vĩ đại khi �gi�ng s�ng: le fleuve� trở th�nh �con s�ng của ch�ng ta; notre fleuve.�

 

���� Nếu vấn đề c�c bờ s�ng Cửu Long đ� được giải quyết phần lớn, Thỏa Ước năm 1896 kh�ng c� nghĩa đ�nh dấu sự chấm dứt c�c cuộc tranh chấp tại Đ�ng Nam �.� Trong năm 1903 v� một lần nữa v�o năm 1907, Ph�p sẽ tiến qu�n để mở rộng sự kiểm so�t của n� v� để củng cố vị thế của n� tại Đ�ng Dương.� Nhưng c�c sự thụ tạo n�y sẽ xảy ra trong một b�u kh�ng kh� kh�c biệt � b�u kh�ng kh� của sự li�n minh h�a hợp th�n hữu (entente cordial) của thế kỷ thứ hai mươi chứ kh�ng phải b�u kh�ng kh� �thiếu vắng sự h�a hợp: entente manqu� của thế kỷ thứ mười chin.� Thỏa ước tổng qu�t năm 1896 giữa Đại Anh C�t Lợi v� Ph�p xem ra xa x�i, đặc biệt sau khi cuộc tranh chấp Xi�m La đ� xả hết được nồng độ chua cay của n� v�o b�u kh� quyển của c�ng luận. (99) Song một sự thỏa thuận Anh-Ph�p r� r�ng l� điều khả hữu.� Sự giải quyết của Salisbury-Courcel th�ng Một năm 1896 đ� phơi b�y một c�ch kh� quan trọng rằng � ch� muốn thỏa hiệp, mặc d� n� kh� c� thể được chấp nhận bởi c�ng luận đến đ�u đi nữa, c� thẻ ảnh hưởng đến sự h�a giải giữa Anh v� Ph�p.� Vấn đề c�c bờ so6ng Cửu Long đ� được giải quyết một c�ch h�a b�nh bất kể c�c tư thế chiến đấu được thể hiện bởi cả Đại Anh C�t Lợi v� Ph�p hồi th�ng Bẩy năm 1893.� Kết quả của cuộc khủng hoảng Xi�m La ch�nh v� thế đ� ti�n b�o một sự thỏa hiệp tương tự, nếu kh�ng muốn n�i l� lớn hơn v� c�c ảnh hưởng s�u xa hơn, �t năm sau đ� giữa hai đại cường của T�y �u./-

 

���� �������������������������������������������

___

 

 

CH� TH�CH:

 

1.       Dufferin gửi Rosebery, Paris, May 3, 1892, thư ri�ng, Public Record Office, Belfast, Dufferin papers (từ giờ trở đi, ghi tắt l� DP), D. 1071H/01/3.

2.       C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Nov. 3, 1893, Public Record Office, London, Foreign Office, France (27), 3121 (từ giờ trở đi ghi tắt l� PRO, FO/27/�������� ), no. 450c.

3.       B�i nghi�n cứu n�y t�m c�ch soi s�ng vấn đề to lớn hơn về sự bất đồng Anh-Ph�p hồi cuối thế kỷ thứ mười chin bởi việc đặt ti�u điếm v�o sự tranh chấp tại Đ�ng Nam �.� Ngo�i c�c hồi k� v� c�c t�c phẩm tự thuật, nguồn t�i liệu ch�nh yếu của t�i l� c�c t�i liệu của Bộ Ngoại Giao Anh lưu trữ ở Ph�ng T�i Liệu C�ng (Public Record Office) tại London.� �nh s�ng bổ t�c cũng được chiếu rọi bởi c�c tư liệu v� thư t�n của Hầu Tước Dufferin and Ava, đại sứ tại Paris trong suốt cuộc khủng hoảng Xi�m La.� C�c t�i liệu ri�ng tư của �ng chưa từng đựoc khảo s�t trước đ�y vừa mới đựợc cung ứng tại Belfast; ch�ng l� một nguồn tin tức c� gi� trị cao li�n quan đến sự tiến triển v� giải ph�p sau c�ng của cuộc khủng hoảng.

4.       Sao Saimong, Magrai, The Shan states and the Bristish annexation, Data paper no. 57 (Ithaca, 1966), trang 243.

5.       Virginia Thompson, French Indo-China (New York, 1942), c�c trang 365-67.

6.       G. E. Milton (ed.), Scott of the Shan hills (London, 1936), c�c trang 209-13.

7.       Salisbury gửi Egerton, London, Feb. 16, 1892, PRO, FO, Siam (422), 34/no. 34.

8.       Foreign Office to India Office, Feb. 19, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 37.

9.       India Office to Foreign Office, March 4, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 39.

10.   C�ng nơi dẫn tr�n.

11.   Salisbury to Dufferin, London, May 10, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 43.

12.   India Office to Foreign Office, May 27, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 45.� V�o l�c n�y Văn Ph�ng India Office d�nh l�u đến việc giải quyết bi�n giới của Miến Điện với cả Xi�m La lẫn Trung Hoa.� Sự b�m chặt lấy c�c đề nghị của Waddington gặp phải sự nguy hiểm của việc đặt ra c�c kh� khăn xen v�o c�c cuộc thương thảo n�y với Xi�m La v� Trung Hoa (c�ng nơi dẫn tr�n).

13.   Rosebery to Dufferin, London, Oct. 26, 1892, (c�ng nơi dẫn tr�n, no. 53); Foreign Office to India Office, Nov. 7, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 55.� Cũng xem văn thư cu/a Rosebury đ�nh k�m trong thư của Waddington gửi Ribot, London, Dec. 24, 1892, France, Minist�re des affaires �trang�res, Documents diplomatiques francais, 1871-1914, 1st series (Paris, 1934), (từ giờ trở đi ghi tắt l� DDF), X, trang 121-123.

14.   India Office to Foreign Office, Nov. 17, 1892, PRO, FO 422/34/no. 58.

15.   Rosebury to Waddington, London, Dec. 23, 1892, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 64; Waddington to Ribot, London, Dec. 24, 1892, DDF, X, 121-123.

16.   Dufferin to Rosebury, Paris, Jan. 13, 1893, PRO, FO 27/3118/ no. 20.

17.   George Curzon, �India between two fires�, Nineteen century, XXXIV (Aug. 1893), 177; Alfred Vagis, �William II and the Siam episode�, American historical review, XLV (July 1945), 834.

18.   Dufferin to Rosebury, Paris, Feb. 7, 1893, PRO, FO 422/35/no. 11.

19.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Feb. 20, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/3.� Cũng xem Waddington to Develle, London, March 9, 1893, DDF, X, 262-63.

20.   Rosebury to Haba Yotha, London, May 5, 1893, PRO, FO 422/35/no. 68.

21.   Vai tr� của Jones trong suốt cau chuyện c� phần lờ mờ.� Điều r� rệt l� Jones c�ng khai chống đối�� �cuộc x�m lăng t�n bạo v� bất c�ng v�o một l�ng giềng h�a b�nh của Ph�p.� Hơn nữa, �ng chuyển đạt một c�ch c�ng khai đến Rosebery cảm nghĩ của �ng rằng Anh quốc c� c�c quyền lợi trực tiếp trong cuộc v� kh�ng thể giữ im kh�ng quan t�m đến �sự vi phạm c�ng khai nền h�a b�nh v� luật ph�p quốc tế sẽ được thực hiện tại phần đất n�y của thế giới.� (Jones gửi Rosebery, Bangkok, April 28, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 36.

22.   Đ�y l� kết luận của D. G. E. Hall, A history of southeast Asia (London, 1964), trang 656.

23.   Estournelles de Constant gửi Develle, London, May 12, 1893, DDF, X, 344146; Dufferin gửi Rosebery, Paris, May 20, 1893, PRO, FO. 422/35/no. 93.

24.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, may 25, 1893, thư ri�ng, DP, D.1071H/10/3.

25.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, June 3, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.

26.   Rosebery gửi Dufferin, London, June 4, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/02/2.

27.   Rosebery gửi Victoria, London, June 5, 1893, Letters of Queen Victoria, ed. G. E. Buckle (London, 1931), 3rd series, II, 259.

28.   Rosebery gửi Dufferin, London, June 19, 1893, PRO, FO. 422/35/no. 118.

29.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, June 19, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 120.

30.   Rosebery gửi Maha Yotha, London, June 21, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 124.

31.   Rosebery gửi Phipps, London, June 29, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 146.

32.   Phipps gửi Rosebery, Paris, June 30, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 149; Rosebery gửi Phipps, London, July 14, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 36.

33.   Rosebery gửi Estournelles de Constant, London, July 3, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 9.

34.   Rosebery gửi Phipps, London, July 14, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 36.

35.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, July 15, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 48.

36.   Rosebery gửi Jones, London, July 15, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 47.

37.   France, Annales de la chambre des deputes, D�bats, parlementaires, 5i�me legislature, session ordinaire (Paris, 1893), Pt. II, July 18, 1893, 1246; Rosebery gửi Phipps, London, July 20, 1893, PRO, FO. 3422/36/no. 86; Develle gửi Estournelles de Constant, Paris, July 20, 1893, DDF, X, 447.

38.   Nhật k�, July 20, 1893, DP, D. 1071H/V/27; Rosebery gửi Dufferin, London, July 20, 1893, PRO, FO. 422/38/no. 90; Estournelles de Constant gửi Develle, London, July 21, 1893, DDF, X, 447.

39.   Salisbury gửi Lytton, London, April3, 1889, PRO, FO. 422/34/no. 11.

40.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, July 22, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 111.

41.   C�ng nơi dẫn tr�n.

42.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, July 23, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071/01/1.

43.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 23, 1893, PRO FO. 422/35/no. 115.� Cũng xem Estournelles de Constant gửi Develle, London, July 24, 1893, DDF, X, 456-57.

44.   Maha Yotha gửi Rosebery, London, June 21, 1893, PRO, FO. 422/35/no. 124; Rosebery gửi Jonse, London, July 15, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 47; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, July 20, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 89.

45.   Develle gửi cho tất cả c�c đại diện ngoại giao của Ph�p, July 24, 1893, DDF, X, 454-55.� Develle tin rằng Anh quốc phải chịu tr�ch nhiệm về sự cương quyết của Xi�m La đ�i sửa đổi c�c đ�i hỏi về đất đai.� Sứ thần Ph�p tại Vọng C�c, Auguste Pavie, cho hay rằng nếu kh�ng v� ảnh hưởng của Jones v� ảnh hưởng của vị cố vấn người Bỉ, t�n Rolin-Jacquemins, tr�n �ng Ho�ng Devawongse, bộ trưởng ngoại giao, Xi�m la sẽ chấp nhận nguy�n vẹn (in toto, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tối hậu thư v� kh�ng lưỡng lự (Develle gửi Estournelles de Constant, Paris, July 24, 1893, DDF, X, 455).

46.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 25, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 145.� Cũng xem, Estournelles de Constant gửi Develle, London, July 25, 1893, DDF, X, 457-59.

47.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 25, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 145.

48.   Rosebery gửi Victoria, London, July 26, 1893, điện văn đ�nh bằng mật m�, Letter of Queen Victoria, 3rd series, II, 285.

49.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, July 26, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 157; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, July 26, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.

50.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 27, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 163; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, July 28, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/02/2.

51.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, July 27, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 174; Develle gửi Estournelles de Constant, Paris, July 27, 1893, DDF, X, 461.

52.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 28, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 194; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, July 28, 1893, thư ri�ng DP, D. 1071H/02/2.

53.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, July 28, 1893, điện t�n ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/01/1; cũng xem Dufferin gửi Develle, Paris, July 28, 1893, DDF, X, 465-66.

54.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 28, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/02/2.

55.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, July 30, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 239; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, July 31, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.� Cũng xem Estournelles de Constant gửi Develle, London, July 31, 1893, DDF, X, 469-70.

56.   Rosebery gửi Dufferin, London, July 30, 1893, điện t�n ri�ng, DP, D. 1071H/02/2; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, July 31, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.

57.   Curzon gửi Miss. Leiter, London, Aụg 3, 1893, được tr�ch dẫn trong s�ch của B� Tước Earl of Ronaldshay, Life of Lord Curzon (New York, 1927), I, 197.

58.   Dufferin gửi Tosebery, Paris, July 31, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 240.

59.   Maha Yotha gửi Rosebery, London, Aug. 5, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 272.

60.   Phần đ�nh k�m, Rosebery gửi Dufferin, London, Sept. 5, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 388.

61.   Munro-Ferguson gửi Dufferin, Hamburg, Aug. 26, 1893, thư ti�ng, DP, D. 1071H/03/3.� �� kiến của Anh th� lo ngại về ch�ng ta v� nhận thấy ch�ng ta đang đe dọa.� C� sự lo sợ rằng ch�ng ta sẽ kh�ng bị chặn lại bởi sự th�nh c�ng của ch�ng ta.� (Estournelles de Constant gửi Develle, London, Aug. 29, 1893, DDF, X, 511-13).

62.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Sept. 7, 1893, PRO, FO. 422/36/ no. 390.� Cũng xem, Estournelles de Constant gửi Develle, London, Sept. 12, 1893, DDF, X, 528-29.

63.   Rosebery gửi Jones, London, Sept. 15, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 402.

64.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Ọct 2, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 430.

65.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Oct. 3, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 434; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Oct. 4, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 436.

66.   Phần đ�nh k�m, c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris. Oct .10, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 446.

67.   Scott gửi Salisbury, Bangkok, Aụg 1, 1895, PRO, FO. 422/43/no. 18.

68.   Về sự m� tả c�c cuộc thương thảo n�y, xem Memorandum on communications with the French government respecting Kyaing Cheng, PRO, FO. 422/42/no. 156.

69.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Ọct 17, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.

70.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Oct. 22, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.

71.   Rosebery gửi Dufferin, London, Oct. 27, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D 1071H/02/2.

72.   C�ng nơi dẫn tr�n.

73.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Oct. 29, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/01/1; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Oct. 30, 1893, điện t�n ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.� Cũng xem, Develle gửi Estournelles de Constant, Paris, Oct. 31, 1893, DDF, X, 606-07.

74.   Dufferin gửi Rosebery, Oct. 31, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.� Về một sự tường thuật kh�c tr�n cuộc n�i chuyện n�y, xem; Develle gửi Estournelles de Constanrt, Paris, Oct. 31, 1893, DDF, X, 608.

75.   O�Conor gửi Rosebery, Pekin, Ọct 30, 1893, PRO, FO. 442/36/no. 492; Rosebery gửi Dufferin, London, Nov. 2, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/02/2; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, Nov. 4, 1893, điện t�n ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.� Cũng xem Dufferin gửi Develle, Paris, Nov. 2, 1893, DDF, X, 610-11.

76.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Nov. 11, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.

77.   Rosebery gửi Dufferin, London, Nov. 14, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 558.

78.   Dufferin gửi Rosebery, Paris, Nov. 19, 1893, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Nov. 21, 1893, PRO, FO. 422/36/no. 570.

79.   Phần đ�nh k�m, c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Nov. 20, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 569.

80.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Nov. 20, 1893, thư ri�ng, DP, D.1071H/01/1; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Nov. 21, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n.

81.   Rosebery gửi Dufferin, London, Nov. 28, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/02/2; Dufferin gửi Rosebery, Paris, Dec. 2, 1893, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/01/1.� Về một c�u chuyện b�n lề th� vị tr�n sự miễn cưỡng của Ph�p để k� kết, xem Dvelle gửi Estournelles de Constant, Paris, Nov. 28, 1893, DDF, X, 657-58; Estournelles de Constant gửi Develle, London, Nov. 29, 1893, c�ng nơi dần tr�n, 659.

82.   Memorandum on communications with the French government respecting Kyaing Cheng, PRO, FO. 422/42/no. 156.

83.   Dufferin gửi Kimberley, Paris, Jan. 31, 1895, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.� Về quan điểm của Hanotaux, xem Hanotaux gửi Courcel, Paris, Feb. 12, 1895, DDF, XI, 569-70; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Feb. 18, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 570-71.

84.   Kimberley gửi Dufferin, London, Feb. 22, `895, PRO, FO. 422/40/ no. 47.

85.   Dufferin gửi Kimberley, Paris, May 22, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 129; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, June 7, 1895, thư ri�ng, DP, D. 1071H/10/1.� Về quan điểm của Ph�p, xem Courcel gửi Hanotaux, London, April 2, 1895, DDF, XI, 649-50; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, April 3, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 656; Hanotaux gửi Courcel, Paris, May 20, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, XII, 25; Courcel gửi Hanotaux, London, May 21, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 29.

86.   Dufferin gửi Salisbury, Paris, July 9, 1895, thư ri�ng, DP, D. 1071H/01/1.

87.   Scott gửi Salisbury, Bangkok, Aug. 1, 1895, PRO, FO. 422/43/no. 18.

88.   Salisbury gửi Howard, London, Aug. 13, 1893, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 28; Courcel gửi Hanotaux, London, Aug. 14, 1895, DDF, XII, 167-69.

89.   C�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, Aug. 29, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 196-7; Hanotaux gửi Courcel, Paris, Aug. 30, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 198-99.

90.   Hanotaux gửi Courcel, Paris, Sept. 28, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 217-19; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, Paris, Oct. 15, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, 242-43; Salisbury gửi Dufferin, London, Oct. 18, 1895, PRO, FO. 422/44/no. 82.

91.   Courcel gửi Hanotaux, London, Oct. 23, 1895, DDF, XII, 258-59; Salisbury gửi Dufferin, London, Oct. 23, 1895, PRO, FO. 422/44/no. 95.

92.   C�ng nơi dẫn tr�n.

93.   Salisbury gửi Howard, London, Nov. 6, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 114; c�ng người gửi cho c�ng người nhận, London, Nov. 12, 1895, c�ng nơi dẫn tr�n, no. 116.� Cũng xem Sandersonn gửi Dufferin, London, Dec. 20, 1895, thư ri�ng, DF, D. 1071H/02/1.� Dự thảo của bản thỏa hiệp được bao gồm trong l� thư n�y c�ng với một điện t�n giải th�ch từ Salisbury.� Bản thỏa hiệp dự thảo cũng được bao gồm trong văn thư của Courcel gửi Hanotaux, London, Dec. 20, 1895, DDF, XII, 359-61.

94.   Dufferin gửi Salisbury, Paris, Dẹc 24, 1895, thư ri�ng, DF, D. 1071H/01/1.

95.   Dufferin gửi Sanderson, Paris, Jan. 16, 1896, thư ri�ng, c�ng nơi dẫn tr�n, D. 1071H/03/6.� Thung lũng s�ng M�nam với c�c yếu tố theo đ� Salisbury đ� x�c định Xi�m La bao gồm bốn phần năm d�n số l� sắc d�n Xi�m La v� l� một trọng t�m kinh tế của xứ sở (Hall, trang 662).� Ch�nh v� thế, n� tượng trưng cho một v�ng tr�i độn đ�ng nể.

96.   Dufferin gửi Munro-Ferguson, Paris, March 6, 1896, thư ri�ng, DF, D. 1071/H/03/6.� C�c kẻ kh�c cũng tố c�o giải ph�p, nổi bật l� Lord Rosebery, [rằng] bất kể sự thừa nhận của Anh quyền b� chủ của Xi�m La tr�n �khu vực d�nh ri�ng: reserved zone,� điều c� vẻ kh�ng tr�nh khỏi đối với nhiều người l� Ph�p sẽ sớm tiến bước để bổ t�c �khu vực� n�y vốn bao gồm cả lưu vực ph�a t�y s�ng Cửu Long thuộc Xi�m La v�o phần đất chiếm hữu của Ph�p. (Xem Saimong Mangrat, trang 259).

97.   Dufferin gửi Munro-Ferguson, Paris, March 6, 1896, thư ri�ng, DF, D. 1071H/03/6.

98.   Scott gửi Salisbury, Bangkok, Aug. 1, 1895, PRO, FO. 422/43/no. 18.

99.   Diễn văn của Lord Dufferin, Paris, March 5, 1894, như được tr�ch dẫn bởi Sir Alfred Lyatt, The Life of the Marquis of Dufferin and Ava (London, 1903), II, 276.� Cũng xem, diễn văn của �ng đề ng�y 2 th�ng S�u, 1896, c�ng nơi dẫn tr�n, 291.���

 

Nguồn: Hirshfield, Claire. "The Struggle for the Mekong Banks, 1892-1896," Journal of Southeast Asian History [Singapore], 9, No. 3, March 1968, 25-52.:

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

���������

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

������

 

���� �