Jean-Pascal Bassino

PH�T TRIỂN KINH TẾ TẠI

VIỆT NAM, NHẬT BẢN, H�N QUỐC V� Đ�I LOAN,

1900-1945:

Hội Tụ v� Ph�n Kỳ

Tại V�ng Ngoại Vi Trung Hoa

Ng� Bắc dịch

 

***

 

Dẫn Nhập

 

���� Từ cuối thập ni�n 1980, sau gần bốn mươi năm chiến tranh v� tr� trệ, Việt Nam đang trải qua c�c sự cải c�ch kinh tế mạnh mẽ, kể cả việc mở cửa cho đầu tư ngoại quốc v� hội nhập cấp miền với c�c quốc gia khối ASEAN.� C�c sự thay đổi định chế n�y đ� đi liền với sự tăng trưởng kinh tế li�n tục.� Tiếp theo sau c�c thập ni�n ph�n c�ch về mặt sản lượng tr�n mỗi đầu người hay lợi tức với m�i lực tương đương, Việt Nam cuối hết đ� hội tụ với c�c mức độ được đạt tới bởi c�c quốc gia Đ�ng � tăng trưởng mau lẹ.� Tuy nhi�n, một khoảng c�ch to lớn vẫn c�n hiện hữu, ngay cả khi so s�nh với Trung Hoa.� Tầm mức lớn lao của c�c chấn động g�y ra bởi cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương v� Chiến Tranh Việt Nam, v� c�c kh� khăn trong việc đạt tới sự t�i th�ng nhất kinh tế giải th�ch, ở một quy m� rộng lớn, cho l� do tại sao Việt Nam đang l� bước đ�ng sau c�c nước l�ng giềng như Th�i Lan hay Nam Dương.� Trong suốt thời cuối của thập ni�n 1940 v� đầu thập ni�n 1950, lợi tức đầu người tại Việt Nam v� c�c nước n�y vẫn c�n tương tự nhau. 1� Khoảng c�ch với c�c nước Đ�ng � đ� gia tăng trong suốt thời Chiến Tranh Việt Nam, cũng như v�o l�c kết th�c cuộc chiến tranh n�y, trong khung cảnh t�i thống nhất ch�nh trị của hai miền Bắc v� nam Việt Nam dưới sự cai trị của Cộng Sản.�

���� Mục đ�ch của b�i nghi�n cứu n�y nhằm kh�m ph� v� giải th�ch khoảng c�ch lợi tức hiện tại qua việc khảo s�t sự ph�t triển kinh tế của Việt Nam trong quan điểm lịch sử v� bởi việc so s�nh c�c th�nh quả kinh tế của n� với c�c th�nh quả của c�c nước Đ�ng �.� Điều cũng được kỳ vọng rằng một cuộc nghi�n cứu như thế sau rốt c� thể g�p phần v�o sự lượng gi� tiềm năng của Việt Nam cho một sự bắt kịp kinh tế trong c�c thập ni�n sắp đến, nhưng kh�a cạnh n�y vượt qu� khu�n khổ trực tiếp của cuộc nghi�n cứu n�y.� Người ta c� thể lập luận rằng sự so s�nh hệ trọng nhất sẽ phải l� với c�c nước Đ�ng Nam � hay với Trung Hoa, v� rằng n� phải đặt ti�u hướng v�o c�c thập ni�n gần đ�y.� Ch�ng t�i chấp nhận một quan điểm ho�n to�n kh�c biệt.� Tiền đề đầu ti�n của ch�ng t�i l� ch�ng ta cần trở l�i lại thời kỳ tiền Thế Chiến II nhằm x�c định c�c căn nguy�n của sự ph�n kỳ giữa th�nh quả kinh tế của Việt Nam với th�nh quả của c�c nước � Ch�u kh�c.� Theo đ�, cuộc nghi�n cứu sẽ chỉ chuy�n t�m v�o giai đoạn 1900-1945.� Tiền đề thứ nh� l� sự so s�nh quan hệ nhất l� với c�c nước kh�c trong v�ng ngoại vi của Trung Hoa: Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan. 2

���� Việt Nam r� r�ng thuộc v�o Đ�ng Nam � về mặt m�i trường vật l�, sự li�n hợp cấp miền trong c�c mạng lưới mậu dịch, v� ngay cả trong c�c gi� trị văn h�a truyền thống, c�c kỹ thuật, v� c�c sự tổ chức.� Nhưng Việt Nam cũng l� một nước thuộc v�ng ngoại vi Trung Hoa, c�ng với Nhật Bản, H�n Quốc, v� Đ�i Loan, v� chia sẻ c�ng với c�c xứ sở n�y, v� Trung Hoa, một di sản văn h�a chung đ� được thụ đắc v� th�ch ứng với c�c điều kiện địa phương v� c�c gi� trị d�n tộc.� Ảnh hưởng h�ng ngh�n năm n�y đ� ph�t sinh từ c�ng cuộc mậu dịch quốc tế về c�c sản phẩm văn h�a v� c�c kỹ thuật, vốn từng l� nguồn ảnh hưởng quan trọng nhất đối với Nhật Bản v� H�n Quốc, c�ng với sự du h�nh của c�c học giả, nghệ nh�n, v� c�c đại biểu t�n gi�o. 3 �Một c�ch l� tưởng, cuộc nghi�n cứu phải bao gồm một sự so s�nh rộng r�i hơn với đa số c�c nước Đ�ng Nam � v� Đ�ng Bắc �, kể cả Trung Hoa.� Trong trường hợp so s�nh với Trung Hoa, c�c kh� khăn sẽ gia tăng gấp đ�i: một mặt, sự cung ứng c�c dữ liệu; mặt kh�c, sự th�ch hợp về mặt quy m�. �Cứu x�t đến k�ch thước của xứ sở, một sự so s�nh với Trung Hoa �m chỉ việc xem Việt Nam như tương đương với một trong c�c tỉnh miền Nam Trung Hoa; nhận x�t n�y cũng đ�ng với Nam Dương.

���� Ngo�i c�c sự cứu x�t thực tế n�y, c�c l� do của việc d�nh sự ch� � đặc biệt đến một sự so s�nh với Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan li�n quan đến c�c điều kiện khởi đầu v� c�c m� h�nh ph�t triển kinh tế.� Khoảng c�ch thu nhập hiện tại giữa Việt Nam v� Đ�ng Nam � h�y c�n khổng lồ; nhưng với Nhật Bản, H�n Quốc, v� Đ�i Loan, khoảng c�ch n�y giờ đ�y bao la.� Người ta phải nhớ lại rằng c�c điều kiện khởi đ�u giống nhau như thế n�o tại c�c nước n�y cho đến hậu b�n thế kỷ thứ 19.� Việt Nam c�ng chia sẻ nhiều t�nh chất chung với phần ngoại vi c�n lại của Trung Hoa: canh t�c l�a gạo th�m canh v� n�n n�ng nghiệp đa trạng h�a (tr�, b�ng vải, lụa), ng�nh cho c�ng nh�n l�nh thầu sản xuất tại nh� (cottage industry) năng nổ, việc đ�ng t�u v� c�c kỹ nghệ đ�ng t�u hữu hiệu.� V�ng n�y c� truyền thống nhập cảng c�c kỹ thuật từ Trung Hoa, nhưng cũng từ T�y Phương, th� dụ như ng�nh ấn lo�t, vũ kh�, hạ tầng cơ sở về qu�n sự, v� quay tơ.� Việt Nam cũng c� một cảm thức mạnh mẽ về c� t�nh tập thể v� quyền lợi d�n tộc, một sự t�ch lũy đ�ng kể về nguồn vốn nh�n lực (th� dụ, về mặt gi�o dục v� y tế đại ch�ng), v� một hệ thống h�nh ch�nh tinh vi của nền thư lại theo Khổng học.

���� Như một kết quả của sự ph�t triển kinh tế của Nhật Bản hồi cuối thế kể thứ 19, v� bắt kịp c�c nước c�ng nghiệp phương t�y trong nửa phần đầu của thế kỷ thứ 20, sự so s�nh hệ trọng nhất sẽ phải l� với H�n Quốc v� Đ�i Loan.� Song, c�c mức sinh hoạt tại Nhật Bản vẫn c�n rất tương tự với c�c ti�u chuẩn ở Việt Nam, H�n Quốc v� Đ�i Loan trong thời khoảng 1900-1940.� Ngo�i ra, Nhật Bản cung cấp một chuẩn mực hữu �ch cho việc lượng gi� khoảng c�ch về mặt thời gian chậm trề, được đo bằng số năm, để đạt tới c�ng mức độ về mặt xuất lượng tr�n mỗi đầu người, v� sự thu ngắn hay gia tăng khả hữu trong khoảng thời gian chậm trễ n�y.� Một l� do kh�c cho sự so s�nh với Nhật Bản rằng quốc gia n�y kh�ng chỉ l� một m� h�nh hiển nhi�n cho sự ph�t triển kinh tế của H�n Quốc v� Đ�i Loan dưới sự cai trị của thực d�n, m� c�n cho cả Việt Nam.

���� B�i nghi�n cứu n�y được chia l�m bốn phần: phần một thảo luận về c�c nguồn cung cấp dữ liệu, phương ph�p, v� khung cảnh định chế trong nửa phần đầu của thế kỷ thứ 20.� Phần hai đề nghị một sự thẩm định theo số lượng khoảng c�ch của Việt Nam trong sự ph�t triển kinh tế.� Phần ba điều tra nhiều yếu tố khả dĩ giải th�ch cho sự ph�n kỳ trong c�c th�nh quả kinh tế của Việt Nam.� Phần bốn sẽ t�m lược v� kết luận.

 

I. C�C SỰ THAY ĐỔI KINH TẾ TẠI VIỆT NAM, V� TẠI NHẬT BẢN, H�N QUỐC V� Đ�I LOAN PHẢI ĐƯỢC SO S�NH NHƯ THẾ N�O?

���� Như một điều kiện ti�n quyết cho việc khảo s�t c�c th�nh quả kinh tế của Việt Nam, khi so s�nh với c�c th�nh quả của Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan, ch�ng ta phải x�c định c�c sự kh�c biệt trong khung cảnh định chế của ch�ng v� trong c�c tin tức định lượng được cung cấp.� Ch�ng ta cũng phải xem x�t đến t�c động khả hữu của c�c sự thay đổi d�n số v� tr�nh b�y c�c thủ tục đ� được thi h�nh cho việc ước lượng v� so s�nh c�c chi số định lượng.

 

1. Khung Cảnh Định Chế V� C�c Nguồn Cung Cấp Dữ Liệu: T�i Dựng C�c Chỉ Số Kinh Tế Lịch Sử

���� Khi gắng sức để giải th�ch sự ph�n ly trong c�c th�nh quả kinh tế, một trong c�c giả thuyết đầu ti�n c� thể l� sự ph�n ly c� li�n hệ đến c�c khung cảnh định chế, như hậu quả của sự thiết lập chế độ cai trị của Ph�p ở Việt Nam.� Nhưng c� vẻ l� Ph�p v� Nhật Bản đ� đưa ra c�c khu�n khổ h�nh ch�nh thuộc địa v� c�c � thức hệ về sự đồng h�a tiệm tiến kh�ng kh�c nhau trong nền tảng.� Tại v�ng ngoại vi của Trung Hoa, hai quyền lực đế quốc n�y đ� bị đối đầu với c�c khu�n khổ định chế v� kinh tế thời tiền thực d�n giống nhau, tại H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam.� Hai nước đ� th�ch ứng với c�c điều kiện n�y bằng việc li�n kết với giới tinh hoa Khổng học địa phương v�o ch�nh quyền thuộc địa, đặc biệt trong l�nh vực c�c hệ thống thuế kh�a, kiểm so�t ngoại thương, v� trong ch�nh s�ch kinh tế rộng lớn hơn.

���� C�c hệ thống thực d�n Nhật Bản v� Ph�p tương tự trong nhiều kh�a cạnh kh�c nhau, kể cả sự lựa chọn việc cai trị trực tiếp ở Việt Nam v� sự thu thập c� hệ thống c�c số thống k� trong nhiều kh�a cạnh của sự sản xuất, vận tải, t�i ch�nh c�ng, c�c gi� cả v� mậu dịch quốc tế.� Mặc d� c�c nguồn dữ liệu về Việt Nam trước năm 1945 kh�ng được bao qu�t như đối với Nhật Bản hay c�c thuộc địa của Nhật Bản, một khối lượng lớn c�c tin tức đ� được ghi ch�p v� ấn h�nh trong c�c ni�n gi�m thống k� v� c�c bản b�o c�o ch�nh thức kh�c.� Cứu x�t c�c nguồn dữ liệu cung ứng, điều g�y ngạc nhi�n khi thấy rằng trong khi sự ph�t triển kinh tế của Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan đ� được nghi�n cứu s�u rộng, cả từ quan điểm định lượng lẫn định chế, sự thẩm định định lượng c�c th�nh quả kinh tế của Việt Nam, cho đến nay, thu h�t �t sự quan t�m hơn.� Hậu quả l� một sự cung ứng giới hạn c�c thống k� v� c�c sự ph�n t�ch về c�c sự thay đổi định chế, kinh tế, v� d�n số thời trước Thế Chiến II.

���� C�c điều kiện kinh tế của Việt Nam dưới thời Ph�p thuộc được khảo s�t sau Thế Chiến II nhưng trong khung cảnh c� c�c thi�n kiến nặng về � thức hệ.� Phần lớn c�c học giả tham dự l� c�c kẻ theo M�c-X�t, hoặc l� ở Phương T�y, Nhật Bản, hay c�c nước cộng sản, như một quy lệ, đ� chấp nhận quan điểm ch�nh thức của Việt Minh (hay � thức hệ ch�nh thức của Bắc Việt sau n�y).� Họ đ� nh�n sự b�c lột kinh tế của Ph�p như nguy�n do ch�nh của sự suy giảm trong c�c điều kiện kinh tế, sau c�ng đưa đến sự xuất hiện của một cuộc nổi dậy c�ch mạng.� Khảo hướng n�y k�o d�i ngay đến đầu thập ni�n 1980 (th� dụ trong t�c phẩm của Murray (1980), bất kể một c�i nh�n c�n bằng hơn sau hết đ� thắng thế sau khi t�i thống nhất, ngay trong c�c học giả trước đ�y đ� ủng hộ cho cuộc đấu tranh của Bắc Việt (Brocheux and Hemery (1995)).

���� Một c�ch mỉa mai, ch�nh quyền Hoa Kỳ đ� chia sẻ c�ng loại th�nh kiến � thức hệ trong suốt cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương v� Chiến Tranh Việt Nam.� Cả hai ph�a đều c� � kiến rằng kh�ng cần thiết dể điều tra về c�c động lực kinh tế vĩ m� d�i hạn.� Sự kết th�c của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, trong năm 1975, v� sự t�i thống nhất, trong năm 1976, đ� kh�ng kh�ch lệ cho một cuộc t�i khảo s�t th�nh quả kinh tế của Việt Nam trước Thế Chiến II.� Một c�ch nghịch l�, c�c quan điểm cộng sản v� chống thực d�n của Hoa Kỳ c�ng c� chung nhận thức về người d�n Việt Nam ho�n to�n chỉ như c�c nạn nh�n, l�m t�i sinh c�c th�nh kiến thực d�n trước đ�y trong � nghĩa rằng họ đ� l�ng qu�n vai tr� của người Việt Nam như c�c t�c nh�n trong lịch sử của ri�ng họ trước khi thu hồi sự độc đập to�n diện trong năm 1954.

���� Sự thiếu s�t tương đối trong sự quan t�m về lịch sử kinh tế định lượng của Việt Nam cũng được giải th�ch bởi c�c kh� khăn trong việc ước lượng c�c trương mục quốc gia hay c�c thống k� kh�c của Việt Nam.� Bởi Việt Nam được ph�n chia th�nh ba miền, lại nằm trong năm xứ thuộc Li�n Hiệp Đ�ng Dương (Đ�ng Dương thuộc Ph�p), c�c thống kế ch�nh thức của Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương cũng bao gồm cả Căm Bốt v� L�o.� Cuộc nghi�n cứu n�y dựa tr�n nhiều kết quả sơ khởi thu thập được bởi Dự �n Thống K� Lịch Sử � Ch�u (Asian Historical Statistics Project), mục đ�ch sau c�ng l� nhằm t�i dựng c�c trương mục quốc gia của c�cnước � Ch�u, kể cả Việt Nam.

 

2. C�c Sự Thay Đổi D�n Số: Ngoại Sinh To�n Bộ Hay Nội Sinh Cục Bộ?

���� Thoạt nh�n, người ta c� thể lập luận rằng t�c động của sự thay đổi d�n số tr�n sự ph�t triển kinh tế của Việt Nam c� thể bị l�ng qu�n, �t nhất trước Thế Chiến II, khi khảo s�t sự tăng trưởng của c�c khu vực canh t�c tại miền nam v� miền trung Việt Nam (được gọi l� Nam Kỳ (Cochinchina) v� Trung Kỳ (An Nam) dưới thời Ph�p thuộc. trong nhiều b�o c�o ch�nh thức kh�c nhau, về c�c điều kiện kinh tế tại miền bắc (được gọi l� Tonkin dưới thời Ph�p thuộc) sự tăng trưởng d�n số qu� mức đ� được nhấn mạnh như một trong c�c yếu tố quan trọng nhất trong t�nh trạng đ�nh trệ sản lượng n�ng nghiệp tr�n mỗi đầu người.� Bất kể sự đầu tư c�ng lớn lao v�o c�c đập nước, đ� điều v� c�c mạng lưới dẫn nước, đ� kh�ng thể cải tiến số thu hoạch trong việc trồng l�a gạo, hay trong nhiều loại c�y kh�c, ở c�ng tốc độ với sự tăng trưởng d�n số.� Theo đ�, d�n số kh�ng thể bị ng� lơ như l� ho�n to�n ngoại sinh.� Nhưng người ta kh�ng n�n kỳ vọng ở một sự giải th�ch đơn giản, theo một m� thức duy nhất.

���� Theo sự hiểu biết của ch�ng t�i, kh�ng c� bằng cớ rằng th�i độ vị tha, tương ứng với sự tương t�c giữa d�n số v� sự tăng trưởng được tr�nh b�y bởi c�c t�c giả Barro v� Becker (1988), c� thể giải th�ch cho c�c sự thay đổi trong tỷ suất sinh sản của Việt Nam trong suốt thế kỷ thứ 20.� Nếu c� một th�nh tố nội sinh trong sự thay đổi d�n số, chắc chắn n� phải bao gồm sự di d�n nội địa v� quốc tế.� Ngay trước thời kỳ tiền thuộc địa, sắc d�n Việt Nam ưa phi�u lưu thường quen tự động di chuyển từ c�c khu vực miền bắc đ�ng đảo xuống bi�n giới l�a gạo phương nam, nơi m� đất khả canh đầy rẫy v� mật độ d�n cư rất thấp.� Sự nhập cảnh của d�n gốc Trung Hoa, thường c�c c�ng nh�n c� tay nghề, cũng l� một đặc điểm truyền thống tại Việt Nam.� Mặc d� c�c tr�o lượng n�y c� thể được mở rộng bởi ch�nh s�ch thực d�n của người Ph�p, ch�ng vẫn c�n bị hạn chế rất nhiều so với ở M� Lai hay Th�i Lan.� C�c nhận x�t n�y về d�n số nội sinh v� sự di d�n cũng đ�ng với Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan.

���� Ngay nếu ch�ng ta c� thể bỏ lơ t�c động của c�c sự thay đổi d�n số tr�n c�c th�nh quả kinh tế, việc ước lượng chuỗi thống k� d�n số l� một điều kiện ti�n quyết để t�nh to�n c�c chỉ số kinh tế theo đầu người.� C�c cuộc kiểm k� d�n số của Việt Nam đ� kh�ng c� c�ng phẩm chất hay sự ch�nh x�c như c�c cuộc kiểm k� được thực hiện tại Nhật Bản v� Đ�i Loan, hay ngay cả ở H�n Quốc.� Một ngoại lệ khả hữu duy nhất l� Nam Kỳ, nơi c�c dữ liệu ch�nh thức c� vẻ khả s�nh, về mức độ đ�ng tin cậy, với c�c cuộc kiểm k� d�n số của H�n Quốc thời trước Thế Chiến II.� Sự thiếu s�t ch�nh x�c trong c�c cuộc kiểm k� d�n số thời trước Thế Chiến II ở Trung Kỳ v� Nam Kỳ, ở mức độ n�o đ�, l� một di sản thời tiền thuộc địa; hậu quả của sự miễn cưỡng về ph�a d�n ch�ng n�ng th�n để chấp nhận, trong c�c giới hạn của x� th�n tự trị, c�c sự thăm d� ch�nh thức bởi c�c nh�n vi�n của ch�nh quyền trung ương. 4

 

H�nh 1: D�n Số Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1900-1945

����

Sự t�i thiết lập d�n số Việt Nam bởi t�c giả Banens (1999), dựa tr�n cơ cấu tuổi, cho thấy một sự ước lượng thấp d�n số bởi c�c cuộc kiểm k� d�n số ch�nh thức thời trước Thế Chiến II, �t nhất l� tại Trung Kỳ v� Bắc Kỳ.� Sự tăng trưởng d�n số v� thế thấp hơn nhiều so với giả định trước đ�y.� Tr�i với quan điểm ch�nh thức của ch�nh quyền thuộc địa về sự gia tăng qu� mức trong d�n số Việt Nam, c� vẻ rằng tỷ số tăng trưởng thấp hơn tỷ số tại Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan (H�nh 1).� Trị gi� hay khối lượng tr�n mỗi đầu người kh�ng nhất thiết phản ảnh tr�nh độ ph�t triển trong giai đoạn ban đầu của cuộc kỹ nghệ h�a, khi một phần quan trọng của d�n số vẫn c�n sống trong x� hội n�ng nghiệp cổ truyền.� Ch�ng ta sau hết c� thể so s�nh c�c con số tổng gộp đối với Việt Nam v� H�n Quốc, c� d�n số n�i chung tương đương, nhưng, trong trường hợp Nhật Bản v� Đ�i Loan, sự sai biệt trong tổng số d�n số th� qu� lớn.� V� l� do n�y, ch�ng t�i sử dụng c�c chỉ số tr�n đầu người chỉ ri�ng cho cuộc nghi�n cứu n�y.

 

3. Điểm Hội Tụ Hay Ph�n Kỳ? β hay σ ?

���� Mặc d� bằng cớ định lượng vẫn chưa được cung ứng, ch�ng ta c� thể kỳ vọng một tiến tr�nh ph�n kỳ trong thu nhập tr�n đầu người tại Đ�ng � trong giai đoạn ban đầu của cuộc kỹ nghệ h�a của Nhật Bản (tương ứng với c�c thập ni�n sau c�ng của thế kỷ thứ 19 v� c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ 20).� Ch�ng ta cũng biết rằng Đ�i Loan v� Đại H�n đ� t�m c�ch giảm bớt khoảng c�ch thu nh�p với Nhật Bản, đặc biệt trong c�c thập ni�n 1980 v� 1990.� Giữa c�c thời khoảng, c� thể c� c�c giai đoạn hội tụ v� ph�n kỳ trong số thu nhập theo đầu người.� Khảo s�t c�c sự tương đồng trong c�c điều kiện khởi đầu nơi c�c nước trong v�ng ngoại vi Trung Hoa, ch�ng ta c� thể kỳ vọng, trong trường hợp Việt Nam, một khuynh hướng hội tụ trong số thu nhập tr�n đầu người với Nhật Bản, v� sau hết với H�n Quốc v� Đ�i Loan, trong tiền b�n thế kỷ thứ 20.

���� Một c�ch l� tưởng, ch�ng ta mong muốn điều tra vấn đề hội tụ trong một khu�n mẫu tương tự như trong c�c cuộc nghi�n cứu của Barro v� Sala-i-Martin (1992) v� Baumol (1986) dựa tr�n Tổng sản Lượng Quốc Gia Gộp (GDP) t�nh theo đầu người của c�c nước đ� kỹ nghệ h�a.� Nếu c�ng loại dữ liệu được cung cấp, ch�ng ta c� thể x�c định c�c ph�n đoạn được tượng trưng bởi� điểm hội tụ β (hay ph�n kỳ σ) v� điểm hội tụ β� (hay ph�n kỳ σ).� Trong trường hợp đầu ti�n, sự hội tụ �m chỉ một sự giảm trừ trong số thu nhập theo đầu người với nền kinh tế dẫn đầu.� Trong khung cảnh Đ�ng �, ch�ng ta c� thể ước định điểm hội tụ β như một kết quả của sự phổ biến c�c kỹ thuật v� m� h�nh tổ chức mới, th� dụ sự phổ biến c�c kỹ thuật v� c�c sự canh t�n tổ chức Nhật Bản th�ch hợp đến một số nước bắt kịp Nhật Bản.� Trong trường hợp thứ nh�, ch�ng ta c� thể ước định điểm hội tụ σ , tương ứng với một sự s�t giảm trong sự ph�n ph�t c�c lợi tức theo đầu người, sẽ xuất hiện như hậu quả của sự t�i ph�n chia quốc tế c�c yếu tố trong v�ng ngoại vi Trung Hoa, hay rộng hơn trong khu vực � Ch�u.� Điều n�y �m chỉ c�c vi ph�n sai biệt trong tỷ số ph�t triển giữa c�c nước ngh�o nhất v� gi�u nhất, với sự thuận lợi nghi�ng c� nước kể trước [nước ngh�o].

���� C�c tham vọng của ch�ng t�i bị hạn chế do sự thiếu s�t c�c tin tức cung ứng.� Ch�ng t�i kh�ng c� chuỗi chi số GDP tr�n đầu người cho Việt Nam, sẽ cho ph�p điều tra về điểm hội tụ β.� Ngo�i ra, mẫu nghi�n cứu của ch�ng t�i qu� nhỏ.� Điều tra điểm hội tụ σ� sẽ đ�i hỏi việc nới rộng tầm khảo s�t bao tr�m c�c nước Đ�ng nam �, bởi chuỗi GDP tr�n đầu người của khối chỉ được t�i thiết lập một phần cho thời trước Thế Chiến II.� Trong b�i viết n�y, mục đ�ch của ch�ng t�i nhắm v�o hai điểm: trước ti�n, để x�c định khuynh hướng tiền Thế Chiến II trong sự ph�t triển kinh tế của Việt Nam, về �điểm hội tụ v� ph�n kỳ với Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan, qua việc sử dụng c�c chỉ số định lượng.� Thứ nh�, để điều tra về mối quan hệ với sự thay đổi định chế, nhằm x�c định c�c kh�c rẽ khả hữu trong tiến tr�nh ph�t triển của Việt Nam.� Trong quan điểm của ch�ng t�i, vấn đề then chốt kh�ng phải nhịp độ hội tụ m� l� khả t�nh, v� trong trường hợp đ�, sự ấn định thời biểu, của một sự biến đổi từ một khuynh hươớg hội tụ th�nh một khuynh hướng ph�n kỳ giữa c�c năm 1900 v� 1945.� C�c sự kiện được định thức h�a về sự ph�t triển kinh tế của Việt Nam, như được tr�nh b�y một c�ch sơ lược bởi Brocheux v� Hemery (1995), cho thấy rằng năm 1930 l� một kh�c rẽ.� Sự ph�n t�ch định lượng dựa tr�n sự đại biểu của số GDP v� c�c chỉ số kỹ nghệ c� thể cung cấp bằng chứng nhiều hơn.

 

II. C�C TH�NH QUẢ KINH TẾ GIỮA C�C NĂM 1900 V� 1945: MỘT SỰ THẨM ĐỊNH ĐỊNH LƯỢNG

���� Để c� một sự so s�nh định lượng tr�n c�c th�nh quả kinh tế tại v�ng ngoại vi Trung Hoa giữa c�c năm 1900 v� 1945, ch�ng ta c� thể dựa tr�n c�c cuộc nghi�n cứu trước đ�y về Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan. 5� Chuỗi chỉ số GDP theo đầu người vẫn chưa được cung cấp trong trường hợp Việt Nam, nhưng ch�ng ta c� thể dựa tr�n một loạt c�c chuỗi ước lượng gồm cả c�c chỉ số về d�n số, t�i ch�nh c�ng, ngoại thương, v� c�c chỉ số kỹ nghệ kh�c nhau.� Bởi ch�ng ta kh�ng quan t�m đến c�c chu kỳ kinh doanh, nhưng trong c�c khuynh hướng d�i hạn, sự so s�nh sẽ sử dụng sản lượng t�nh theo đầu người hay vật �liệu (stock) (cho hạ tầng cơ sở) thay v� c�c con số chỉ tỷ số tăng trưởng.� Sự tr�nh b�y theo ph�p t�nh lũy thừa (logarithmic scale) sẽ cho ph�p c� được một sự x�c định trực tiếp tiến tr�nh hội tụ hay ph�n kỳ, v� điểm rẽ kh�c trong c�c khuynh hướng n�y.

 

1. C�c Chỉ Số Kinh Tế Vĩ M�: Kinh Ph� C�ng Như L� Một Chỉ Số Đại Biểu Cho Lợi Tức Quốc Gia v� Số Xuất cảng Như Một Đại Biểu Cho Chỉ Số GDP

���� C�c số ước lượng kinh tế vĩ m� cung ứng về t�i ch�nh c�ng v� mậu dịch quốc tế của Việt Nam c� thể được d�ng như c�c số liệu thay thế cho GDP.� Kh�ng c� l� do để giả định rằng c�c kinh ph� c�ng hay c�c số xuất cảng mang lại một tỷ số bất biến của GDP nhưng, mặt kh�c, c�c khuynh hướng d�i hạn của c�c biến số n�y cung cấp một sự chỉ dẫn cho sự ph�t triển kinh tế. 6 Bởi c�c con số n�y để chỉ trị gi�, ch�ng t�i phải ho�n đổi tiền tệ Việt Nam (đồng bạc Đ�ng Dương) sang tiền Yen của Nhật Bản với tỷ số hối đo�i lưu h�nh (trung b�nh h�ng năm của tỷ suất thị trường ở S�ig�n), với việc xem x�t rằng bi�n độ thay đổi của tỷ số hối đo�i được giới hạn. 7

����

H�nh 2: Kinh Ph� C�ng tại Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1900-1945

 

Mức độ kinh ph� c�ng (H�nh 2) c� thể so s�nh được tại Việt Nam v� tại H�n Quốc trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930.� Một khoảng c�ch đ�ng kể hiện diện với Nhật Bản v� Đ�i Loan, mặc d� trong trường hợp sau, c� thể l� kết quả của sự gộp chung cả t�i ch�nh c�ng của trung ương lẫn địa phương trong c�c con số của ch�ng t�i.� Mức độ t�i ch�nh c�ng tại H�n Quốc thấp hơn nhiều trong c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ 20, với một khuynh hướng hội tụ chậm lại sau Thế Chiến I.� Khu�n mẫu n�y cho thấy H�n Quốc bắt kịp Việt Nam, �t nhất về mặt t�i ch�nh c�ng, v� do đ�,� nhiều phần l� khoản đầu tư c�ng v�o hạ tầng cơ sở, sau khi c� sự chiếm đ�ng v� ch�nh s�ch thực d�n h�a ch�nh thức của Nhật Bản.

���� T�nh trạng n�y, ở giữa Đ�i Loan v� H�n Quốc, cho thấy tr�nh độ ph�t triển kinh tế của Việt Nam c� thể so s�nh với c�c thuộc địa của Nhật Bản.� X�t đến ngạch số đầu tư v�o hạ tầng cơ sở tại H�n Quốc dưới sự cai trị của Nhật Bản, người ta c� thể nghi ngờ rằng vai tr� của t�i ch�nh c�ng trong tiến tr�nh tạo lập tư bản tại Việt Nam dưới thời Ph�p thuộc lại l� một vai tr� thiết yếu.� Trong thập ni�n 1930, Việt Nam kh�ng bước sau H�n Quốc nhưng đ� trải qua một thập ni�n tương đối tr� trệ, như tại Đ�i Loan, trong khi kinh ph� c�ng đang l�n cao tại H�n Quốc v� Nhật Bản.� Sự co r�t trong c�c kinh ph� c�ng, như được t�nh theo đồng Yen của Nhật Bản, thực sự tương ứng với một sự giảm gi� trong thực tế trong tiền tệ Việt Nam trong thập ni�n 1930.� Điều đ� c� thể l�m phồng lớn sự suy tho�i tại Việt Nam, trong khi Nhật Bản chấp nhận một ch�nh s�ch kinh tế kh�c biệt th�c đẩy bởi Bộ Trưởng t�i Ch�nh Takahashi (Nakamura, 1994).

 

H�nh 3: Xuất cảng từ Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1900-1945

Mậu dịch quốc tế c� thể được d�ng như một đại biểu cho GDP, trong trường hợp c�c số xuất cảng. 8� Ở đ�y cũng vậy, kh�ng c� l� do để giả định một phần chia cố định.� Đ�ng hơn, ch�ng ta c� thể ước định một khuynh hướng gia tăng trong số xuất cảng v� nhập cảng t�nh theo đầu người trong thời kỳ n�y, đặc biệt v� c�c chuỗi số của ch�ng ta t�nh bằng đồng Yen lưu h�nh.� Ch�ng ta nhận thấy tr�n c�c chuỗi mậu dịch quốc tế (H�nh 3) nhiều đặc điểm đ� sẵn được quan s�t tr�n c�c chuỗi số t�i ch�nh c�ng, nhưng với một sự khuếch đại c�c khuynh hướng.� Tổng số xuất cảng của Việt Nam chỉ đang gia tăng một c�ch chậm chạp về mặt lưu h�nh, trong khi c�c con số đang gia tăng một c�ch vững chắc hơn cho ba nước kia trước thời Thế Chiến II.� Như về mặt t�i ch�nh c�ng, H�n Quốc đang bắt kịp trong thập ni�n 1910, từ một mức độ khởi đầu thấp hơn Việt Nam nhiều.� Trong thập ni�n 1930, ch�ng ta c� thể quan s�t một sự suy giảm v� sau đ� sự tr� trệ tại Việt Nam, trong khi c�c con số của H�n Quốc v� Đ�i Loan tiếp tục tăng cao cho đến khi c� sự b�ng nổ Thế chiến II.

���� Dưới thời Ph�p thuộc, c�n c�n mậu dịch của Việt Nam được tượng trưng bởi một khoản thặng dư trong cơ cấu do kết quả của c�c sự xuất cảng c�c số lượng gạo lớn lao, cả c�c nguy�n liệu kh�c chẳng hạn như ng� (bắp), cao su, c� v� than đ�, phần lớn sang thị trường Đ�ng �.� Điều n�y đi liền với một sự hao hụt của Ph�p tương ứng với một khoản th�m thủng khổng lồ trong c�n c�n c�c dịch vụ.� Tầm mức to lớn của sự sụt giảm trong c�c số xuất cảng của Việt Nam hồi đầu thập ni�n 1930 cho thấy một sự chấn động kh�ng c�n xứng (sự sụt giảm bị giới hạn tại H�n Quốc v� Đ�i Loan).� Sự ho�n đổi c�c chuỗi số Việt Nam sang đồng Yen hiện h�nh của Nhật Bản l�m hạ bớt t�c động của sự suy giảm về xuất cảng, vốn thực sự gắt gao hơn nhiều khi t�nh theo đồng bạc Đ�ng Dương.

���� Sự so s�nh cơ c�u xuất cảng theo sản vật cho thấy một sự tương phản giữa Việt Nam v� H�n Quốc (Bassino and Bui, 1999; Hori, 1995).� Trong thập ni�n 1930, H�n Quốc trải qua một sự gia tăng trong phần đ�ng g�p của c�c chế tạo phẩm trong số xuất cảng, như được nh�n thấy trong trường hợp Nhật Bản v�o cuối thế kỷ thứ 19 v� đầu thế kỷ thứ 20.� Trong trường hợp Việt Nam, c�c số xuất cảng của c�c chế tạo phẩm h�y c�n kh� hạn chế, mặc d� ch�ng c� bao gồm xi măng, một số sản phẩm thủ c�ng l�m tại nh� c�ng nh�n, v� c�c sản phẩm biến chế kh�c như thiếc, kẽm v� cao su.� Li�n quan đến sự ph�n t�ch c�c vật phẩm nhập cảng, sư gia tăng trong tỷ lệ của c�c tư bản phẩm v� c�c sản phẩm trung gian trong số nhập cảng của của H�n Quốc v� Đ�i Loan kh�ng c� số tương đương ở Việt Nam.� Ch�nh v� thế, kiểu mẫu c�ng nghiệp h�a của c�c thuộc địa của Nhật Bản trong thập ni�n 1930 (c�c kỹ nghệ thực phẩm tại Đ�i Loan, c�c kỹ nghệ nhẹ v� nặng tại H�n Quốc) đ� kh�ng c� số tương đương trong trường hợp của Việt Nam.

 

2. Bằng Chứng Từ C�c Chỉ Số Kỹ Nghệ: Kiễu Mầu Quốc Gia Của Sự Ph�t Triển Kinh Tế

���� Đề b� đắp cho sự thiếu s�t c�c chuỗi số kinh tế vĩ m�, ch�ng t�i phải dựa v�o c�c phương ph�p gi�n tiếp để lượng định sự hội tụ của lợi tức tr�n mỗi đầu người v� phải x�c định c�c kiểu mẫu quốc gia.� C�c chuỗi số kỹ nghệ với khối lượng lớn, khi được t�nh như sản lượng theo đầu ngừi hay cổ phần vốn đầu tư theo đầu người, c� thể cung cấp một sự đại biểu khả dĩ chấp nhận được cho việc đo lường tr�nh độ ph�t triển của H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, v� thời khoảng tụt hậu đối với Nhật Bản.� Sự tuyển chọn c�c

H�nh 4: Sản Lượng Than Đ� T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1900-1945

***

H�nh 5: Sản Lượng Điện Lực T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1907-1945

***

H�nh 6: Sản Lượng Bia T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam,

1900-1945

***

H�nh 7: Sản Lượng Xi-Măng T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản, H�n Quốc, Đ�i Loan v�

Việt Nam, 1905-1945

***

H�nh 8: Chiều D�i Vận Chuyển Bằng Đường Xe Hỏa T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản,

H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1900-1945

***

H�nh 9: Số Xe Gắn Động Cơ (Xe Hơi, Xe Vận Tải, v� Xe Bu�t) T�nh Theo Đầu Người tại Nhật Bản,

H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam, 1910-1945

***

H�nh 10: Tỷ Số Ghi Danh Tại Bậc Tiểu Học (Con Trai v� Con G�i) tại Nhật Bản, H�n Quốc.

Đ�i Loan v� Việt Nam, 1910-1945

 

dữ liệu bao gồm c�c chỉ số thường được xem l� li�n hệ chặt chẽ với lợi tức tr�n mỗi đầu người, với một khung cảnh địa dư, �lịch sử v� kỹ thuật hạn định n�o đ�.� Mẫu khảo s�t bao gồm sồ khai th�c mỏ than (H�nh 4), điện lực (H�nh 5), �sản lượng chế tạo phẩm (bia v� xi măng, H�nh 6 v� H�nh 7), vận tải (xe hỏa v� xe gắn động cơ, H�nh 8 v� H�nh 9), v� gi�o dục (H�nh 10).

���� Điện lực hiển nhi�n l� một chỉ số tốt hơn sản lượng khai th�c than đ� bởi n� kh�ng t�y thuộc v�o c�c t�i nguy�n thi�n nhi�n của xứ sở.� Tuy nhi�n, chuỗi số liệu sản lượng điện lực vẫn chưa được cung ứng cho suốt thời kỳ 1900-1945, trong khi tất cả bốn nước của mẫu khảo s�t đều c� c�c mỏ than phong ph� dễ d�ng khai th�c.� Li�n quan đến ng�nh chế tạo, Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương ghi lại c�c con số sản lượng của một số vật phẩm hạn chế.� Sự lựa chọn bia v� xi măng li�n hệ đến sự cung ứng c�c chuỗi số li�n tục, nhưng l� do quan trọng nhất cho việc tuyển chọn hai sản phẩm n�y l� v� mối tương quan của ch�ng với mức độ ph�t triển kinh tế.� Bia c� thể được xem như một chỉ số tốt cho sự ph�t triển của một tầng lớp trung lưu tại � Ch�u.� N� kh�ng phải l� một loại thức uống quốc gia, d� cho c�c thế lực thực d�n, hay cho số d�n bản xứ tại c�c thuộc địa, nh�m người kể sau c� truyền thồng của ch�nh m�nh l� sản xuất rượu trắng bằng gạo.� Ch�nh v� thế, sự ti�u thụ bia kh�ng bị ảnh hưởng bởi c�c th�nh kiến văn h�a.� Chuỗi số sản lượng xi-măng theo khối lượng cung cấp một chỉ số đ�ng ch� � cho việc lượng gi� sự phổ biến c�c kỹ thuật mới trong ng�nh x�y dựng v� kiến thiết c�ng tr�nh c�ng ch�nh.� Để nghi�n cứu sự tiến triển của hoạt động kinh tế trong ng�nh vận tải, c�c chỉ số th�ch hợp nhất sẽ l� trị gi� v� khối lượng chuyển vận.� Tuy nhi�n, c�c dữ liệu được cung ứng hiện nay bị giới hạn v�o c�c số xấp xỉ của c�c vật dụng thuộc về vốn: số dậm đường đ� vận chuyển của c�c mạng lưới xe hỏa; số c�c xe gắn động cơ đang lưu h�nh.

���� C�c con số kỹ nghệ kh�c nhau mang lại rất nhiều cảm nghĩ nhưng, trong quan điểm của ch�ng t�i, c�c chỉ số đ�ng nhất của sự ph�t triển kinh tế trong khung cảnh � Ch�u hồi đầu thế kỷ thứ 20 l� c�c tỷ số ghi danh theo học tại bậc gi�o dục tiểu học v� trung cấp.� Trong l�nh vực n�y, Nhật Bản r� r�ng dẫn đầu từ thời trước khi bước sang thế kỷ thứ 19.� V� thế,nước n�y l� một chuẩn mực l� tưởng cho việc điều tra tiến tr�nh hội tụ.� Sự đầu tư ồ ạt v�o bậc gi�o dục tiểu học tại Đ�i Loan v�, ở một mức độ �t hơn, tại H�n Quốc, đ� l� một trong những t�nh chất nguy�n thủy nhất trong ch�nh s�ch đế quốc của Nhật Bản.� Sự so s�nh với t�nh trạng ở Việt Nam cho thấy rằng c�c số ghi danh c� thấp hơn đ�i ch�t so với hai l�nh thổ n�y, nhưng c�c khuynh hướng hội tụ với tr�nh độ của Nhật Bản c� hiện hữu tại cả ba nước trong v�ng ngoại vi Trung Hoa n�y (H�nh 10).� Sự cam kết của người Ph�p với gi�o dục tại Việt Nam kh�ng gặp mức tương đương n�o trong phần c�n lại của Đế Quốc thực d�n Ph�p.� N� đ� được khởi sự sớm sủa trong ch�nh s�ch thực d�n, trong thập ni�n 1860 tại Nam Kỳ, v� đ� đưa đến sự tạo lập một nh�m x� hội mới c� khả năng cạnh tranh với lớp tr� thức cổ truyền, tầng lớp quan lại tinh hoa, về mặt uy t�n v� sự li�n kết với ch�nh quyền của xứ sở.� T�c giả Osborne (1972) m� tả một c�ch th�ch hợp sự ph�t triển của một hệ thống gi�o dục, theo khu�n mẫu điển h�nh của Ph�p, như �một sự chiến thắng hạn chế�.

���� Khi so s�nh c�c sự kh�c biệt trong th�nh quả gi�o dục, ch�ng ta cần lưu � đến c�c khung cảnh tiền thuộc địa khởi đầu v� cơ cấu x� hội thời thuộc địa.� Tỷ lệ của c�c nh�m d�n tộc �t người trong d�n số Việt Nam tương đối cao trong khi số ghi danh đi học lại cực kỳ hiếm c� trong c�c d�n tộc n�y, ngoại trừ d�n gốc Hoa đ� c� tỷ lệ ghi danh rất cao.� Ngo�i ra, mạng lưới cổ truyền của c�c trường học tư nh�n địa phương, được t�i trợ bởi l�ng x�, đ� kh�ng sụp đổ tức thời sau khi c� chế độ thực d�n.� C�c định chế n�y, tương tự như c�c �trường học của c�c ch�a� [terakoỵa tiếng Nhật trong nguy�n bản, ND] hồi cuối thời Tokugawa v� đầu thời Minh Trị (Meiji) tại Nhật Bản, vẫn c�n chế ngự tại nhiều phần n�ng th�n sau Thế Chiến II, đặc biệt tại Trung Kỳ v� Bắc Kỳ (An Nam v� Tonkin).

���� C�c chỉ số theo đầu người kh�c cho thấy sự hội tụ bị hạn chế nhiều với tr�nh độ của Nhật Bản, mặc d� c� một số sự tương đồng giữa H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam.� Trong trường hợp sản lượng bia (H�nh 6), ch�ng ta c� thể nhận thấy gần như c�ng mức độ cho H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam trong thập ni�n 1930, với số ti�u thụ đầu người trung b�nh n�i chung tương đương với mức độ của Nhật Bản v�o năm 1913.� Về xe gắn động cơ (H�nh 9), Việt Nam r� r�ng đi trước H�n Quốc v� Đ�i Loan trong thập ni�n 1920, ở một mức độ tương đương với Nhật Bản.� Người ta c� thể lập luận rằng sự bất qu�n b�nh n�y c� lẽ r� n�t hơn tại Việt Nam (hay n�i rộng hơn tại Đ�ng Nam �), hơn l� tại Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan, v� rằng điều n�y c� thể giải th�ch cho tỷ suất cao về trang thiết bị tại Việt Nam thời trước Thế Chiến II. Tuy nhi�n, t�c giả Gourou (1936) cho thấy rằng ngay ở Bắc Kỳ tương đối ngh�o, sự vận tải đường bộ bằng xe bu�t cũng c� thể đ�i thọ được bởi một tỷ lệ gia tăng số n�ng d�n trong thập ni�n 1930.

���� Khi quan s�t c�c chỉ số kh�c, c�c chỉ số m� ch�ng ta c� c�c chuỗi thống k� d�i hạn, ch�ng t�i ngờ rằng một sự biến đổi n�o đ� d� xảy ra hồi cuối thập ni�n 1920 v� đầu thập ni�n 1930.� Trước năm 1930, Việt Nam đi trước H�n Quốc v� rất gần Đ�i Loan về sản lượng than đ� (H�nh 4), xi măng (H�nh 7) v� c�c mạng lưới đường xe lửa (H�nh 8) (trong thực tế, về đường sắt, dẫn đầu cho đến trước Thế Chiến I).� Một khuynh hướng tổng qu�t hướng đến điểm hội tụ với tr�nh độ của Nhật Bản đ� hiện hữu, mặc d� khoảng c�ch kh� lớn vẫn c�n.� Sau năm 1930, c�c chỉ số của Việt Nam đ�nh trệ v� c�n suy giảm nữa.� Trong khi đ�, H�n Quốc đ� bắt kịp từ một mức độ rất thấp (trước năm 1913), với tr�nh độ của Nhật Bản v� Đ�i Loan trong thập ni�n 1930.� Trong khi đ�, trong thập ni�n 1920, tiến tr�nh hội tụ cũng li�n can đến Việt Nam, xứ sở n�y lại trải qua một sự ph�n kỳ sau năm 1930.� C�c đặc điểm n�y cho thấy rằng một sự cất c�nh (take-off) đ� hiện hữu tại Việt Nam trước năm 1930, nhưng ch�nh khung cảnh định chế hay c�c ch�nh s�ch kinh tế đ� kh�ng cho ph�p khuynh hướng n�y được tiếp tục.� Trong khi đ�, H�n Quốc v� Đ�i Loan đang tr�n đường tiến tới c�ng cuộc kỹ nghệ h�a.� Thập ni�n 1920 tương ứng với thập ni�n sau c�ng của ưu thế trong c�c th�nh quả của Việt Nam đối với H�n Quốc.� Sau năm 1930, ch�ng ta nhận thấy một sự tương phản r� rệt giữa t�nh trạng tr� trệ v� suy giảm của Việt Nam, v� sự tăng trưởng với tốc độ nhanh của H�n Quốc đến tr�nh độ của Đ�i Loan v� Nhật Bản.

���� Điều n�y được x�c nhận bởi c�c chuỗi thống k� về sản lượng điện lực (H�nh 5), được cung ứng đồng thời cho H�n Quốc, Đ�i Loan v� Việt Nam từ cuối thập ni�n 1920 hay đầu thập ni�n 1930.� C�c mạng lưới điện được ph�t triển sớm hơn (v�o l�c kết th�c thế kỷ thứ 19 tại Việt Nam), nhưng bị giới hạn v�o sự ti�u thụ tư nh�n để thắp s�ng bởi c�c ch�nh quyền, v� v�o một �t gia đ�nh hay c�ng ty tư nh�n.� Trong c�ng thời khoảng, Nhật Bản đ� sẵn dấn m�nh v�o sự ph�t triển sự ti�u thụ đại ch�ng v� ph�t điện cho c�c nh� m�y (đ�o mỏ, in ấn).� Trong trường hợp Việt Nam, khoảng c�ch với Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan thật bao la trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930. �Tỷ lệ tăng trưởng ngọan mục của H�n Quốc r� r�ng li�n hệ với sự tạo lập c�c nh� m�y điện h�a học bởi c�c tổ hợp lớn nhất của Nhật Bản (Hori, 1955).� Kh�ng c� chỉ số tương đương tại Đ�i Loan, nơi m� sự ph�t triển kinh tế được đặt nền tr�n n�ng nghiệp (đường m�a) v� kỹ nghệ nhẹ.� Sự ph�t triển kinh tế khởi đầu tại Việt Nam, trong thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ, được đặt tr�n tập hợp kỹ thuật trước đ� gồm than đ�, đường sắt v�1 xi-măng, �Khoảng c�ch gia tăng giữa Đ�i Loan v� Việt Nam, nới m� c�c cơ cấu c�ng nghiệp tương đối giống nhau trước năm 1930, cho thấy một sự thất bại của nh� nước v�/hay thị trường trong sự ph�t triển kinh tế Việt Nam dựa tr�n một l�n s�ng mới của c�c kỹ thuật v� c�c s�ng kiến canh t�n.

 

III. TINH THẦN KINH DOANH V� C�C CH�NH S�CH KINH TẾ

���� Phần n�y sẽ cố gắng để x�c định c�c sự thay đổi định chế c� thể l� nguy�n do của sự suy giảm tương đối của Việt Nam sau năm 1930.� Ba sự giải th�ch khả hữu đ� được điều tra.� Trước ti�n, sự thiếu vắng sau rốt tinh thần kinh doanh c�ng v� tư nh�n, v� đặc biệt sự thiếu vắng sự quyết t�m về ph�a giới tinh hoa quản trị.� Thứ nh�, một sự bất ổn tương đối của giới tinh hoa địa phương v� c�c thẩm quyền ch�nh trị để chấp nh�n điều, v�o thời điểm đ�, xem ra đ� l� một m� h�nh ưu đẳng của sự ph�t triển kinh tế, tức m� h�nh Nhật Bản.� Thứ ba, t�c động của ch�nh s�ch kinh tế của Ph�p tr�n c�c th�nh quả kinh tế của Việt Nam.

 

1. Giới Tinh Hoa Doanh Nghiệp v� H�nh Ch�nh tại Việt Nam, tại Nhật Bản v� tại c�c thuộc địa Của Nhật Bản

���� Sự can dự của giới tinh hoa bản xứ trong guồng m�y h�nh ch�nh d�n sự v� vai tr� của họ trong sự ph�t triển c�c doanh nghiệp mới c� t�nh chất độc đ�o tại Việt Nam, đặc biệt trong khu�n khổ của Đế Quốc Ph�p.� Sự tự trị h�nh ch�nh hiển nhi�n l� một vấn về khoảng c�ch địa dư giữa Ph�p v� Việt Nam. �Nhưng khả năng của c�c thuộc vi�n d�n sự địa phương để khai triển v� thi h�nh ch�nh s�ch kinh tế với quyền tự trị tương đối cũng li�n quan đến phẩm chất v� sự cam kết của c�c c�ng chức, bất kể l� người Ph�p v� gốc Việt Nam, thuộc tầng lớp tinh hoa h�nh ch�nh.� Ngay từ 1901, b�i viết đầu ti�n bởi một vi�n chức Việt Nam đ� được đăng tải tr�n Tập San Bulletin Economique de l�Indochine (một ấn phẩm định kỳ ch�nh thức của Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương).� Ngay từ thập ni�n 1910, c�c vi�n chức cao cấp Việt Nam đ� tham gia v�o c�c ủy hội kinh tế được bổ nhiệm bởi vi�n To�n Quyền, một th� dụ về ủy hội đặc tr�ch ch�nh s�ch tiền tệ được tổ chức năm 1920, trong khi c�ng l�c d�n gốc Trung Hoa hay H�n Quốc vẫn chỉ c� một vai tr� rất hạn chế trong ch�nh quyền thuộc địa Nhật Bản.� Với sự quan t�m của họ về c�c số thống k� v� sự điều tra c�c thử nghiểm mới s�u rộng trong h�nh ch�nh c�ng, giới tinh hoa h�nh ch�nh Việt Nam c� thể được so s�nh với c�c sự canh t�n thư lại của Nhật Ban thời tiền Thế Chiến II.

���� Từ quan điểm c�c c�ng chức Ph�p, một kinh nghiệm trong guồng m�y h�nh ch�nh thuộc đia tại Việt Nam đ� được nh�n như một t�ch sản, trong khi c�c thuộc địa kh�c vẫn c�n kh�ng c� sức thu h�t mấy, �t nhất đối với c�c vi�n chức cao cấp phi qu�n sự.� R� r�ng, lương bổng cao v� mức sống đ� l� c�c kh�ch lệ m�nh liệt cho việc nạp đơn xin việc tại Việt Nam.� Nhưng cần ghi nhận rằng nhiều c�ng chức Ph�p đ� c� c�c chức nghiệp đ�ng kể trong ch�nh quyền trung ương hay trong ch�nh trị.� Trong một khu�n mẫu tương tự, nhưng nhiều cơ cấu hơn, H�n Quốc v� Đ�i Loan, v� M�n Ch�u Quốc sau năm 1930, đ� l� c�c l�nh vực quan trọng của sự thử nghiệm với c�c h�nh thức mới của sự hợp t�c giữa doanh nghiệp v� ch�nh quyền bởi c�c nh� thư lại trẻ nhiều tham vọng (Kobayashi, 1995).� C�ng loại nhận x�t n�y cũng đ�ng với Viện Đại Học H� Nội v� c�c trường trung học Ph�p tại H� Nội v� S�ig�n. 9� Viện Đại Học H� Nội c� t�nh chất độc đ�o trong khu�n khổ Đế Quốc Ph�p về tỷ lệ d�n bản xứ, phần lớn l� người Việt Nam, trong số nh�n vi�n học thuật hồi cuối thập ni�n 1930.� Con số sinh vi�n tại Viện Đại Học H� Nội tương đối �t trước năm 1940; đối với giới tinh hoa địa phương, gửi con em đi học tại Ph�p th� oai phong hơn.� Nhưng sự xuất hiện của một c�ng đồng học thuật bản xứ c� thể tương tự như sự ph�t triển c�c đại học c�ng v� tư tại Đ�i Loan v� H�n Quốc.

���� Một kh�a cạnh kh�c của t�nh năng động của giới tinh hoa bản xứ được l�m bằng bởi sự ph�t triển tinh thần kinh doanh trong sắc d�n Việt Nam trong tiền b�n thế kỷ thứ 20, kể cả trong l�nh vực c�c kỹ nghệ chế tạo mới.� Theo truyền thống, trong c�c thời tiền thuộc địa v� ban đầu thời thuộc địa, d�n Trung Hoa hay người Việt gốc Hoa từ c�c cuộc h�n nh�n tạp chủng chế ngự c�c x� nghiệp kinh doanh, mậu dịch, khai th�c hầm mỏ, v� ngay cả trong nhiều c�ng việc cho l�nh thầu tại nh� c�ng nh�n (th� dụ, đồ gốm) v� c�c đồn điền trồng c�y sinh hoa lợi (cash crops) (th� dụ, hạt ti�u).� Trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930, chủng tộc Việt Nam được tr�nh b�y trong c�c b�o c�o ch�nh thức l� ng�y c�ng t�ch cực hơn, v� c�n lấn lướt, cạnh tranh th�nh c�ng với sắc d�n Trung Hoa, những kẻ d� thế vẫn duy tr� th�nh tr� của họ trong ng�nh mậu dịch quốc tế, bu�n sỉ, v� t�i ch�nh.� Kết quả l� một sự thống trị khả dĩ của sắc d�n Việt trong trường hợp kinh doanh x� nghiệp mới trong ng�nh chế tạo, một sự kiện phần n�o được giải th�ch bởi c� c�c sự m�c nối với c�c c�ng chức ở thượng tầng phụ tr�ch ch�nh s�ch kinh tế, hay ch�nh s�ch kỹ nghệ c�n ph�i thai.� Tuy nhi�n, sự xuất hiện của một thế hệ mới c�c doanh nh�n tại Việt Nam chỉ l� một h�nh ảnh phản chiếu yếu ớt so với t�nh trạng tại Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan.

���� Trong khi đ�, giới thanh ni�n Việt Nam thuộc v�o tầng lớp tinh hoa cổ truyền hay mới đ� mất ảo tưởng về sự v� khả năng của c�c nh� d�n chủ v� x� hội chủ nghĩa Ph�p khi họ nắm giữ quyền h�nh trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930.� Họ bị nh�n như đ� thất bại, hay kh�ng c� khả năng, để chuyển h�a c�c quan điểm cấp tiến của họ v�o thực tế ch�nh trị v� c�c sự cải c�ch h�nh ch�nh tại Vi9ệt Nam.� Hậu quả, thế hệ mới của giới tinh hoa Việt Nam dần bị l�i cuốn bởi c�c � thức hệ ch�nh trị độc đo�n vay mươn từ b�n ngo�i, hoặc Quốc D�n Đảng Trung Hoa hay chủ nghĩa cộng sản Nga. T�nh trạng n�y đối nghịch với khả năng của ch�nh quyền Nhật Bản trong việc l�m cho � thức hệ đế quốc To�n � Ch�u (Pan-Asiatic imperialism) khả dĩ được chấp nhận, hợp thời hay hấp dẫn, tại Nhật Bản cũng như tại Đ�i Loan, hay ngay cả ở H�n Quốc v� M�n Ch�u.� N� khi�u gợi việc li�n kết c�c sự thay đổi trong b�u kh�ng kh� ch�nh trị v� sự ph�n kỳ� trong c�c th�nh quả kinh tế vĩ m�. Nhưng n� kh�ng n�i r� l� liệu sự ly dị n�y l� nguy�n do cho sự đ�nh trệ kinh tế của thập ni�n 1930 hay ngược lại, l� hậu quả.� Sự kh�c biệt trong việc ấn định thời biểu, sự b�nh trướng kinh tế nhưng ph�n c�ch ch�nh trị nhiều hơn trong thập ni�n 1920, cho thấy rằng lời giải th�ch đầu ti�n c� nhiều phần x�c xuất hơn. 10

 

2. Nhật Bản Như Một M� H�nh Cho Sự Ph�t Triển Kinh Tế

���� Nhật Bản thời Meiji (Minh Trị Thi�n Ho�ng) được xem như một m� h�nh bởi đ�ng đảo c�c ch�nh trị gia, doanh nh�n v� học giả tại Đ�i Loan, H�n Quốc v� Trung Hoa, trước, trong v� sau chế độ thực d�n, hay sự chiếm đ�ng qu�n sự trong trường hợp Trung Hoa.� Tại c�c nước n�y, phe theo chủ nghĩa d�n tộc c� khuynh hướng t�ch cực noi gương kinh nghiệm Nhật Bản, hoặc trong việc chiến đấu chống lại Nhật Bản hay cộng t�c với họ.� Trước năm 1930, m� h�nh Nhật Bản �t c� t�c động b�n ngo�i khu vực can thiệp của thời ban đầu chủ nghĩa đế quốc Nhật, ngoại trừ ở Việt Nam nơi m� ảnh hưởng c� thể so s�nh được về cường độ, với những g� được nhận thấy ở c�c nước kh�c trong v�ng ngoại vi Trung Hoa (hay ở Trung Hoa).� V� thế, c� vẻ l� Việt Nam (hay Đ�ng Dương)) kh�ng phải l� một ngoại lệ m�, ngược lại, đ� l� nước (hay thuộc địa) ở Đ�ng Nam � tiếp nhận nhiều nhất sự khuếch t�n của m� h�nh kinh tế Nhật Bản.� Nhưng m� h�nh được nh�n gần như chỉ từ mặt t�ch cực, như hậu quả của ch�nh s�ch cai trị của Ph�p. �Trong số c�c th�nh vi�n của giới tinh hoa Việt Nam cổ truyền, Nhật Bản được nh�n trước ti�n, v�o cuối thế kỷ thứ 19, như một đồng minh khả hữu cho việc chiến đấu chống lại nguời Ph�p tại Bắc Kỳ v� Trung Kỳ. 11

���� Ch�nh s�ch �Hương Về Ph�a Đ�ng: Look East� (Đ�ng Du, dịch s�t nghĩa l� du h�nh về ph�a Đ�ng, ph�a Đ�ng tất nhi�n l� Nhật Bản) được ph�t huy bởi c�c nh� l�nh tụ phe d�n tộc chủ nghĩa Việt Nam như Phan Bội Ch�u, đ� c� một kết cuộc kh� thất vọng.� Sau năm 1909, Nhật Bản đ� r�t lại sự hỗ trợ của n� d�nh cho phe d�n tộc chủ nghĩa Việt Nam, như một hậu quả của li�n minh Anh Quốc v� sự trung lập của Ph�p trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật.� Nhưng, một c�ch mỉa mai, ch�nh s�ch Đ�ng Du đ� c� một di sản quan trọng trong ch�nh quyền thuộc địa.� Sự ph�t triển kỹ nghệ của Nhật Bản trong Thế Chi�n I đ� thu h�t sự quan t�m đ�ng kể, dẫn đến cuộc điều tra về ch�nh s�ch thực d�n Nhật tại Đ�i Loan, v� t�c động kinh tế của n�.� C�c mối li�n kết trực tiếp giữa To�n Quyền Đ�ng Dương tại H� Nội v� Đại Sứ Ph�p tại Đ�ng Kinh, Paul Claudel, nhắm v�o việc kh�ch lệ sự hợp t�c kinh tế.� Nhật Bản được nh�n như một nước xuất cảng khả dĩ c�c sản phẩm đầu tư tương ứng với c�c kỹ thuật th�ch hợp, v� Việt Nam c� phần thặng dư về gạo, than đ�, v� c�c nguy�n liệu kh�c, cũng như xi-măng, c� thể xuất cảng sang Nhật Bản v� c�c thuộc địa của Nhật Bản.

���� Ch�nh Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương đ� l� kẻ tuy�n truyền hữu hiệu v� quả quyết nhất cho m� h�nh Nhật Bản.� Một sự minh họa tốt được cung cấp bởi một số b�i viết về Nhật Bản v� c�c thuộc địa của Nhật Bản trong Tập san Bulletin Economique de l�Indochine, khi so s�nh với số b�i viết về Xi�m La, Nam Dương, Phi Luật T�n, Ấn Độ, Singapore, hay M� Lai.� Nhưng, như tại c�c nước kh�c trong v�ng ngoại vi Trung Hoa, v� tại Trung Hoa, c�c sự diễn giải của ch�nh s�ch n�y mang lại c�c cảm nghĩ lẫn lộn.� Hợp t�c kinh tế với Nhật Bản bị xem l� một cơ hội để n�ng cao sự phổ biến kỹ thuật v� sự tăng trưởng sản lượng, v� mở rộng mậu dịch trong nội vi � Ch�u.� Mục ti�u cuối c�ng của mậu dịch gia tăng l� nhập cảng c�c tư bản phẩm nhiều hơn.� Mặt kh�c, Hải Qu�n Ph�p v� Phủ To�n Quyền Đ�ng Dương đều hay biết rất r� về c�c kỹ năng kỹ thuật của Nhật Bản (cựu đồng minh rất hữu dụng thời Thế Chiến I trong việc đẩy lui c�c t�u ngầm (U-boots) của Đức), v� Nhật Bản ng�y c�ng bị xem như một mối đe dọa tương lai.� Theo đ�, sự ph�t triển tiềm năng kỹ nghệ trong c�c c�ng nghiệp chế tạo mới, trang thiết bị kim loại, h�a học, điện lực hay viễn th�ng v� vận tải được xem l� một ưu ti�n chiến lược trong sự dự liệu cuộc tranh chấp qu�n sự c�ng khai với quyền lực đế quốc nhiều tham vọng n�y.

 

3. T�c Động Của Ch�nh S�ch Kinh Tế Ph�p Tr�n Sự Ph�t Triển Kinh Tế Của Việt Nam Trong Thời Tiền Thế Chiến II

���� C�c chỉ số định lượng cho thấy rằng v�o khoảng 1930, Việt Nam trải qua một kh�c rẽ trong th�nh quả kinh tế, từ sự ph�t triển kinh tế li�n tục sang t�nh trạng tr� trệ.� Năm 1930 tương ứng với sự lan tr�n của cuộc suy tho�i Thế Giới nhưng kh�ng c� l� do để giả định rằng n� c� d�nh liền với c�c chấn động bất thăng băng tại v�ng � Ch�u, v� rằng Việt Nam l� một trong bất kỳ nước n�o bị ảnh hưởng nhiều hơn c�c nước kh�c ở Đ�ng � hay Đ�ng Nam �.� Ch�nh v� thế, c�ng t�c của ch�ng t�i l� x�c định c�c sự thay đổi định chế, đặc biết đối với Việt Nam, đ� xảy ra trong thời gian đ�.� Sự cứu x�t c�c h�m � đối với Việt Nam (v� Căm Bốt hay L�o) trong ch�nh s�ch của Ph�p nhằm n�ng cao sự hội nhập kinh tế với Đế Quốc, cả tr�n vấn đề thương mại v� tiền tệ, l� một khởi điểm tất nhi�n.� Đ�ng ra điều n�y kh�ng chỉ giới hạn v�o nước Ph�p.� Người Anh đ� thực hiện gần như c�ng đường lối với c�i gọi l� �ưu đ�i Đế Quốc: Imperial Preference�, v� trong khi đ�, Nhật Bản ph�t huy một sự kết hợp kinh tế mạnh mẽ hơn với c�c thuộc địa.

���� Những điểm đặc biệt n�o đối với Việt Nam, trong khu�n khổ Đế Quốc Ph�p, c� thể được m� tả về mặt c�c m� h�nh hấp lực (gravity models).� Trong khi nước Ph�p l� đối t�c mậu dịch ch�nh với Việt Nam về mặt nhập cảng, điều n�y kh�ng đ�ng với số xuất cảng trước thập ni�n 1930.� Bất kể c�c sự b�p m�o trong mậu dịch đ� gia tăng trong thời k� đ�, Việt Nam kh�ng ho�n to�n đ�ng cửa đối với c�c nước xuất cảng chế tạo phẩm kh�c.� Khoản thặng dư c� thể xuất cảng của Việt Nam ch�nh yếu được nhắm đến c�c nước � Ch�u.� Sự bất c�n bằng n�y l� hậu quả của c�c sự b�p m�o đưa đến bởi sự vai trị của thực d�n trong hậu b�n thế kỷ thứ 19.� Nhưng, với thặng dư mậu dịch trong cơ cấu của Việt Nam, v� cứu x�t rằng c�c tư bản phẩm v� ti�u thụ phẩm của Ph�p kh�ng thua k�m về phẩm chất hay đắt gi� hơn nhiều, ch�ng ta c� thể giả định rằng c�c sự b�p m�o n�y đ� kh�ng c� t�c động quyết định.

���� Quan trọng hơn, Việt Nam l� một ngoại lệ, trước 1930, trong số c�c v�ng đất thuộc địa Ph�p về mặt ch�nh s�ch tiền tệ.� N� l� l�nh thổ duy nhất duy tr� tiền tệ quốc gia của m�nh, được gọi l� tiền đồng (piaster) bởi c�c nh� chức tr�ch thuộc địa Ph�p.� Ng�n bản vị của đồng bạc chứng tỏ l� một t�ch sản cho việc xuất cảng sang c�c khu vực c� bản vị bằng bạc tương tự, Hồng K�ng v� Trung Hoa.� Ngo�i ra, c�c tỷ số hối đo�i vẫn kh� ổn cố với c�c nước � Ch�u kh�c (Bassino v� Nakagawa, 1999).� Việt Nam tham dự s�u xa v�o mậu dịch nội vi � Ch�u v�, trước năm 1930, c� vẻ chỉ c� c�c tr�o lượng nhập cảng l� bị x�o trộn từ điều được định nghĩa l� tự nhi�n, theo quan điểm của c�c m� h�nh hấp lực (Linneman, 1966).

���� Sự mất gi� của dồng phật lăng (franc) với đồng bạc Việt Nam v� phần lớn c�c tiền tệ T�y Phương v� � Ch�u đ� l� một v�n may cho nền kinh tế Việt Nam trong thập ni�n 1920.� C�c kết quả sơ khởi về mậu dịch trong thời kỳ đ� cho thấy rằng c�c điều kiện được cải tiến to�n diện đối với Việt Nam, đặc biệt về tư bản phẩm, ch�nh yếu nhập cảng từ Ph�p (Bassino v� B�i, 1999).� Ngo�i ra, khối lượng khổng lồ của tư bản Ph�p được đầu tư tại Việt Nam, li�n quan đến c�c cơ hội kinh doanh mới , nhưng cũng l� một sự t�m kiếm c�c khoản lời tr�n vốn nơi đồng phật lăng của Ph�p.� Đ�ng Dương l� nơi ẩn n�u an to�n duy nhất cho c�c nh� đầu tư Ph�p tại Đế Quốc Ph�p.� Sự biến đổi r� rệt trong cơ cấu mậu dịch quốc tế của Việt Nam kh�ng phải l� kết quả của quan thuế biểu c� t�nh chất bảo vệ hay c�c h�ng r�o kỳ thị, m� l� hậu quả của ch�nh s�ch gắn li�n với đồng phạt lăng được thừa nhận cho đồng bạc Việt Nam hồi năm 1930, kết hợp với sự trở về kim bản vị của đồng phật lăng Ph�p.� Trong thập ni�n 1930, Việt Nam l� nước � Ch�u duy nhất duy tr� một tiền tệ mạnh (cho đến khi nước Ph�p từ bỏ Bản Vị bằng V�ng trong năm 1936).

���� Hậu quả l� c�c tư bản phẩm v� ti�u thụ phẩm nhập cảng từ Ph�p vẫn c�n ở mức gi� phải chăng, nhưng c�c khoản thăng dư v� gạo, than đ� v� xi-măng của Việt Nam trở n�n qu� đắt để xuất cảng sang c�c thị trường � Ch�u.�� Xi�m La v� Miến Điện, hai nước cạnh tranh quan trọng nhất của Việt Nam như c�c nước xuất cảng gạo sang c�c thị trường Trung Hoa v� Đ�ng Nam �, đ� l� c�c kẻ thắng cuộc trong sự thay đổi ch�nh s�ch tỷ số ngoại hối n�y.� Thị trường Đế Quốc Ph�p l� một nơi thay thế nhưng tương đối kh�ng hấp dẫn bởi n� kh�ng c� khả năng thu h�t nhiều gạo như c�c nước � Ch�u nhập cảng trước đ�y, v� cũng v� gi� cả bằng đồng bạc Việt Nam thấp hơn gi� trước năm 1930.� Nhưng c�c nh� xuất cảng Việt Nam (kể cả c�c c�ng ty Ph�p) kh�ng c� lựa chọn n�o kh�c.� Gi� cao cho sự tiếp cận thị trường Ph�p n�y phải trả bởi c�c người ti�u thụ của Việt nam l� c�c kẻ đ� phải chấp nhận sự bảo hộ hơn nữa hay sự tiếp cận dễ d�ng hơn đối với c�c sản phẩm nhập cảng từ Ph�p nay kh�ng c�n sức cạnh tranh nữa (Marseille, 1984).� C�c c�ng ty Ph�p xuất cảng sang Việt Nam c�c sản phẩm cần đến sự bảo hộ, như một quy luật, đ� tạo ra c�c sản phẩm với phẩm chất k�m trong c�c ng�nh cần nhiều sức lao động.� Đ� ch�nh ra l� loại sản lượng chế tao m� c�c nh� kinh doanh Việt Nam (gốc Việt, Trung Hoa, hay Ph�p) c� khả năng gia tăng sản xuất tại địa phương để thay thế cho h�ng nhập cảng, v� ch�ng lại kh�ng thể c� được c�c quan thuế biểu bảo hộ, ngay d� Phủ T�an Quyền c� đủ l� do tốt để th�c đẩy c�c nh� sản xuất địa phương v� c�c mục đ�ch chiến lược. �����

���� Trong � nghĩa đ�, sự kết hợp kinh tế ph�t huy bởi Đế Quốc Ph�p đ� kh�ng giống như sự bảo hộ được thực hiện tại Đế Quốc thuộc địa Nhật Bản.� Sự kết hợp cấp miền của Đế Quốc Nhật Bản, mặc d� được đặt tr�n c�c quan hệ bất b�nh đẳng, đ� th�ch hợp với c�c kiểu mẫu mậu dịch tự nhi�n như được ti�n đo�n trong một m� h�nh hấp lực.� Quan trọng hơn, n� được đặt phần lớn tr�n một sự gia tăng của mậu dịch trong nội vi c�ng nghiệp (intra-industry trade), đặc biệt trong trường hợp của H�n Quốc (Hori, 1995), trong khi khu�n khổ đế quốc Ph�p dựa tr�n mậu dịch li�n c�ng nghiệp (inter-industry trade).� Điều nghịch l� l� nỗ lực của Ch�nh Quyền Đ�ng Dương nhằm thương thảo một hiệp ước thương mại với Nhật Bản thực sự dựa tr�n một khảo hướng kết hợp c�p miền � Ch�u.� Điều n�y cho thấy rằng �giải ph�p của Ph�p� kh�ng phải l� một kh�i niệm khả thi khi ph�n t�ch c�c điều kiện kinh tế tại Việt Nam trước Thế Chiến II.� Đối với c�c c�ng chức ở cấp cao nhất, một tỷ lệ lớn lao c�c đại l� tư nh�n đ� kh�ng c� l� do để được hỗ trợ bởi sự ưu đ�i Đế Quốc.� C�c c�ng ty Ph�p th�nh lập tại v� xuất cảng từ Việt Nam, đ� l� c�c nạn nh�n của ch�nh s�ch gắn liền với đồng phật lăng Ph�p, cũng trong c�ng phương c�ch như c�c nh� kinh doanh Việt Nam v� Trung Hoa. Sự gia tăng số doanh nghiệp thất bại trong thập ni�n 1930 cho thấy đ� c� nhiều kẻ thua lỗ hơn l� người thắng lợi.

 

IV.� T�M TẮT V� C�C NHẬN X�T KẾT LUẬN

���� C�c kết quả ch�nh thu hoạch được khi so s�nh c�c thống k� kinh tế của Việt Nam, Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan c� thể được t�m tắt như sau:

���� N�i chung, tr�nh độ ph�t triển kinh tế của Việt Nam giữa năm 1900 v� 1945 c� vẻ hơi thấp hơn Đ�i Loan, thấp hơn nhiều so với Nhật Bản, nhưng tổng qu�t c� thể so s�nh với H�n Quốc.� Điều n�y được l�m bằng bởi c�c kinh ph� c�ng tr�n đầu người v� c�c con số xuất cảng, v� bởi c�c chỉ số kỹ nghệ. Sự so s�nh với Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan c� vẻ ho�n to�n x�c đ�ng.� Mặc d� sự điều tra th�m nữa sẽ cần c� như hậu quả của sự n�ng cao c�c số ước lượng thống k� kinh tế Việt Nam, xem ra kh�ng c� sự thay đổi mạnh mẽ n�o được chờ đợi.� V� thế, kết quả c� vẻ ho�n to�n vững chắc v� c� tầm quan trọng đ�ng kể cho c�c cuộc nghi�n cứu tương lai.

���� C�c kiểu mẫu quốc gia trong sự ph�t triển kinh tế th� r� r�ng kh�c nhau: đặc điểm nổi bật nhất l� sự suy tho�i v� tr� trệ m� Việt Nam trải qua trong thập ni�n 1930.� Việt Nam đ� tiến v�o con đường đ�nh trệ sau khi c� một sự ph�t triển kinh tế sớm sủa nhưng bị chết yểu, trải qua giữa c�c thập ni�n 1890 v� 1920.� Nhật Bản, H�n Quốc v� Đ�i Loan đ� ở tr�n con đường tăng trưởng với tốc độ nhanh (sau sự sụp đổ kinh tế tạm thời của thập ni�n 1940).� Về mặt khoảng c�ch lợi tức, Việt Nam c� lẽ đi trước H�n Quốc trong c�c thập ni�n 1910 v� 1920, mặc d� khoảng c�ch thu nhập n�y c� khuynh hướng giảm thiểu.� C� vẻ rằng giai đọan trước năm 1930 đ� chứng kiến một điểm hội tụ β trong v�ng ngoại vi Trung Hoa, tương ứng với một sự sụt giảm của khoảng c�ch lợi tức giữa Nhật Bản v� Việt Nam, Đ�i Loan hay H�n Quốc.� Trong thập ni�n 1930, ch�ng ta nhận thấy một sự tương phản giữa sự theo đuổi sự hội tụ trong trường hợp Đ�i Loan v� H�n Quốc v�, ngược lại, bước khởi đầu cho sự ph�n kỳ của Việt Nam về mặt lợi tức theo đầu người. 12

���� Kh�ng c� bằng cớ rằng một sự thiếu vắng của tinh thần kinh doanh hay h�nh vi sai lạc của giới thư lại địa phương c� thể giải th�ch cho sự suy giảm trong th�nh quả kinh tế của Việt Nam.� Ngược lại, giới tinh hoa Việt Nam đ� đ�p ứng một c�ch t�ch cực với c�c sự th�ch đố của sự hiện đại h�a kinh tế.� Tuy nhi�n, c� vẻ rằng sự v� khả năng của ch�nh phủ trung ương Ph�p trong việc du nhập c�c cải c�ch định chế tại Việt Nam v� quyết định của n� để thi h�nh c�c nguy�n tắc mới trong c�c ch�nh s�ch kinh tế Đế Quốc trong thập ni�n 1930 đ� c� một t�c động quyết định.� Điều n�y c� thể giải th�ch cho phần lớn c�c sự x�o trộn kinh tế v� ch�nh trị của thời kỳ đ�.� C�c sự kh�c biệt trong kiểu mẫu quốc gia của sự ph�t triển v� sự phổ biến kỹ thuật c� thể cung cấp c�c tin tức bổ t�c.� Nhiều chỉ số kỹ nghệ hoặc qu� thấp trong trường hợp Việt Nam, điện lực l� chỉ số tạo nhiều kinh ngạc nhất, hay rất cao, th� dụ, số xe hơi.

���� T�i dựng c�c trương mục quốc gia của c�c nước � Ch�u, hi�n đang được tiến h�nh bởi Dự �n Thống K� Lịch Sử � Ch�u, c� thể cho ph�p sự điều tra hơn nữa bằng một sự so s�nh mở rộng đến c�c nước Đ�ng Nam � kh�c.� Khảo hướng kh�c để ph�n t�ch sự ph�t triển kinh tế Việt Nam c� thể li�n can đến việc ph�n biệt hai miền Bắc v� Nam Việt Nam.� Một khoảng c�ch lợi tức đ� hiện diện thời trước Thế Chiến II; c�c gi� cả v� tiền c�ng, trung b�nh, tại H� Nội thấp hơn khoảng 20% so với S�ig�n.� Nam Kỳ c� thể so s�nh với Đ�i Loan: đ�y l� hai khu vực th�m canh đi liền với một sự ph�t triển kỹ nghệ nhẹ theo sau một sự mở rộng c�c khu đất trồng l�a gạo, c�c loại hoa m�u (cash crops: c�y b�n lấy tiền) v� c�c đồn điền.� Bắc Kỳ c� thể so s�nh với H�n Quốc, hai khu vực c� sự ph�t triển nhanh về khai mỏ v� kỹ nghệ nặng./- ���������������������������������������������

_____

* Cuộc nghi�n cứu n�y được thực hiện như một phần của Dự �n C�c Thống K� Lịch Sử của � Ch�u (Asian Historical Statistics Project: AHSTAT COE Project).� T�c giả xin tri �n c�c sự trợ gi�p bởi AHSTAT COE Project v� Hiệp H�i Japan (Japan Foundation) (Trợ Cấp Nghi�n Cứu, Đai Học Hitotsubashi University, M�a H� 1997), c�c sự b�nh luận v� � kiến tr�n một phi�n bản trước đ�y của b�i nghi�n cứu n�y từ Konosuke Odaka, c�c nhận x�t về khung cảnh định chế Việt Nam bởi Jean Dominique Giacometti, v� sự gi�p đỡ bi�n tập bởi Suzanne Clark.

** Ph� Gi�o Sư Kinh Tế, Đại Học Paul Val�ry University (Campus Vauban, 30000 Nimes, France), v� Phụ Khảo tại Trung t�m Kinh Tế v� t�i Ch�nh Quốc Tế (Center for International Economics and Finace: CNRS, Chateau La Page, 13290 Aix-en-Provence, France), email: bassino@smrl.univ-montp3.fr

CH� TH�CH

1. C�c nhận x�t n�y được x�c nhận bởi c�c bản b�o c�o ch�nh thức so s�nh m�i lực tương đương của c�c c�ng nh�n c�ng nhật, bằng việc h�an đổi tiền c�ng th�nh k�-l� gạo, tại S�ig�n, Đ�ng Kinh, v� Manila (Royer 1950).

2. Ch�ng t�i định nghĩa v�ng ngoại vi Trung Hoa như nh�m c�cnước bị ảnh hưởng s�u xa bởi Trung Hoa, nhưng c� c�c đặc t�nh hay c� t�nh d�n tộc nổi bật, v� thế gồm cả Đ�i Loan, được xem như một nh�nh của Trung Hoa, tương đương về mặt lịch sử với T�n Gia Ba.

3. C�c sự trao đổi tương tự đ� c� với Việt Nam nhưng, tại xứ sở n�y, ảnh hưởng Trung Hoa cũng l� hậu quả của một sự nhập cảnh kh� lớn.� T�nh trạng n�y c� thể so s�nh, ở một mức độ n�o đ�, với trường hợp của Đ�i Loan mặc d�, ở Việt Nam, c�c di d�n Trung Hoa theo truyền thống h�a nhập v�o d�n bản xứ sau hai hay ba thế hệ.

4. Việc ước lượng d�n số một c�ch ch�nh x�c hơn nhất thiết đ� c� c�c h�m � về mặt hệ thống thuế kh�a.� Một nguồn dữ liệu kh�c biệt kh�c l� về th�nh phần tỷ lệ của c�c chủng tộc �t người. �Họ chiếm một đa số d�n cư ở c�c v�ng thượng du Bắc Kỳ v� Trung Kỳ v� được ước lượng một c�ch rất đại kh�i.� Ngược lại, c�c con số đ� ghi ch�p c� thể được xem ho�n rất đ�ng tin cậy về sắc d�n Trung Hoa v� c�c chủng tộc �t người tại Nam Kỳ (người Khmer, M� Lai, Ch�m, v.v�)

5. Về Nhật Bản, s�ch do Ohkawa, Shinohara v� Umemura, đồng bi�n tập (1964-1988), Ohkawa, Shinohara, Meissner (1979), v� Nishikawa, Odaka, Saito, đồng bi�n tập, (1996); về H�n Quốc v� Đ�i Loan, Mizoguchi v� Umemura (1988), Hori (1995), Mitchell (1995).

6. Sự b�p m�o kh�c c� thể ph�t sinh từ sự kiện rằng c�c số ước lượng về chuỗi chỉ số mậu dịch quốc tế v� t�i ch�nh c�ng của Việt Nam nhất thiết đ� dựa tr�n c�c con số d�nh cho Đ�ng Dương (Bassino, 1999), Nassino & B�i, 1999).

7. Đ�y kh�ng thực sự l� trường hợp của thập ni�n 1930, một c�ch ch�nh x�c hơn từ 1930 đến 1936, một thời kỳ c� sự tăng gi� của đồng bạc Đ�ng Dương tr�n hầu hết c�c tiền tệ � Ch�u.� Một c�ch l� tưởng, ch�ng ta n�n �p dụng tỷ số hối đo�i của m�i lực tương đương của đồng bạc Đ�ng Dương so với đồng Yen của Nhật Bản.� Sự ước lượng n�y đang được x�y dựng như một phần của dự �n ASHSTAT.

8. C�c con số nhập cảng cung cấp sự đại biểu cho chỉ số GDP; bởi v� sự tiến triển tương tự như c�c số xuất cảng, n� c� vẻ kh�ng cần xuất tr�nh c�c dữ liệu n�y.

9. Trong số c�c nh� nghi�n cứu v� c�c gi�o sư, cả Việt Nam lẫn Ph�p, nhiều người đ� c� một vai tr� quan trọng trong học thuật hay ch�nh trị sau Thế chiến II..� Th� dụ nổi danh nhất l� Pierre Gourou, người m� chức nghiệp trong học thuật đ� l�n đến đỉnh cao sau Thế Chiến II, với tư c�ch gi�o sư tại trường Cao Đẳng Ph�p Quốc (College de France), định chế uy t�n nhất của Ph�p.� Phụ t� nghi�n cứu của �ng, V� Nguy�n Gi�p, c�n c� một vai tr� nổi tiếng hơn.� L� một l�nh tụ qu�n sự h�ng đầu của Việt Minh, �ng l� Tướng Lĩnh, trong năm 1954, đ� gi�ng một cuộc đả bại sau c�ng tr�n qu�n đội Ph�p tại Điện Bi�n Phủ.

10. Một c�ch mỉa mai, thời kỳ duy nhất trong đ� � thức hệ Ph�p đ� d�nh lại, một c�ch tạm thời, sự t�n nhiệm n�o đ�, l� Thế Chiến II.� Vi�n To�n Quyền kh�ng lựa chon n�o kh�c hơn việc thi h�nh một ch�nh s�ch cơ hội b�nh đẳng nghi�m ngặt trong sự tiếp cận của người Ph�p v� người Việt Nam với c�c chức vụ cao v� trung cấp trong guồng m�y h�nh ch�nh d�n sự.� Kh�ng thể xuất ngoại, v� từ đ� học tập tại nước Ph�p, đ� mang lại một nền tảng thuận lợi cho việc ph�t triển Viện Đại Học H� N�i.� Vi�n To�n Quyền đ� chấp nhận một phương c�ch cực kỳ quyết đo�n, việc thiết lập c�c tổ chức đại ch�ng cho thanh ni�n Việt Nam (v� người Ph�p sinh sống tại Đ�ng Dương, nhiều người trong họ lai �u-�) dập khu�n theo c�c chế độ to�n t�i.� Một số đ�ng kể c�c c�n bộ Việt Minh trong cuộc nổi dậy của cộng sản thời hậu Thế Chiến II thực sự đ� được huấn luyện trước ti�n trong li�n đo�n thanh ni�n n�y, đ� đua tranh thắng lợi đối với c�c tổ chức th�n Nhật Bản nhằm thu h�t giới trẻ Việt Nam theo chủ nghĩa d�n tộc (Dalloz, 1987).� Số phận của tầng lớp �tinh hoa Đ�ng Dương theo chủ nghĩa d�n tộc� n�y r� r�ng cho thấy sự thất bại của ch�nh quyền thực d�n Ph�p.

11. Trong thực tế, Nhật Bản c� cung cấp sự hậu thuẫn một c�ch k�n đ�o nhưng kh� lớn cho c�c tổ chức Việt Nam theo phe d�n tộc chủ nghĩa, đ�n nhận một ch�nh phủ lưu vong kh�ng ch�nh thức v� huấn luyện thanh ni�n Việt Nam tại c�c định chế qu�n sự tại Nhật Bản.

12. Nhưng một điểm hội tụ về lợi tức theo đầu người đ� xảy ra, một c�ch tạm thời, v�o l�c kết th�c Thế Chiến II, khi tất cả c�c nền kinh tế Đ�ng � đều bị sụp đổ (Royer, 1950).� Điều n�y cho thấy rằng c�c con số cho năm 1945 hay 1950 kh�ng cung c�p một chuẩn mực tốt cho sự so s�nh quốc tế, đặc biệt trong v�ng � Ch�u.

 

***

THAM KHẢO

 

Banes, M. 1999.� Vietnam Historical Data for Population Reconstruction.� AHSTAT COE Project, Workshop on the Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, June 18-19.

Banens, M., Bassino, J-P and Egretaud, E. 1998.� Estimating Population and labor Force of Vietnam Under French Rule, 1900-1954 (Asian Historical Statistics AHSTAT COE Project, http://www.ier.hit-u.ac.jp

Barro, R. J. and Becker G. S. 1989.� �Fertility Choice in a Model of Economic Growth�, Econometrica, 57-2 (March), 481-501.

Barro, R. J. and Sala-i-Martin, X. 1992.� �Convergence�, Journal of Political Economy, 100-102 (April), 223-251.

Bassino, J-P., 1999.� Public Finance In Vietnam Under French Rule 1895-1954.� AHSTAT COE Project,

Workshop on the Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, June 18-19.

Bassino, J-P. and Bui, T-L-H, 1999.� International Trade of Vietnam Under French Rule 1895-1954, AHSTAT COE Project, Workshop on the Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, June 18-19.

Bassino, J-P. and Nakagawa, H. 1999.� Exchange Rate and Excganhe Rate Policies in Vietnam Under French Rule, 1873-1954.� AHSTAT COE Project, Workshop on the Quantitative Economic History of Vietnam, Tokyo, June 18-19.

Baumol, W. J. 1986.� �Productivity Growth, Convergence and Welfare: What Do the Long-Run Data Show?�.� American Economic Review, 76, 5 (December), 1072-1085.

Becker, G. S., Murphy K. M. and tamura, R.� 1990.� �Human Capital, Fertility and Economic Growth�, Journal of Political Economy, 98-5 (October), Part II, S12-S37,

Brocheux, P. and Hemery, D. 1995.� Indochine l� colonization ambigue, 1858-1954.� Paris: La D�couverte.

Dalloz, J. 1987.� La guerre d�Indochine, 1945-1954.� Paris: Points-Seuil.

Giacometti, J-D.� 1997.� La question de l�autonomie de l�Indochine et les milieux coloniaux francais, Luận �n Tiến Sĩ, University Aix-Marseille I (France).

Gourou, P.� 1936.� Les Paysans de delta Tonkinois.� Hanoi: EFEO.

Hori, K.� 1995.� Chosen kogyoka no shiteki bunseki (Historical Analysis of Korean Industrialization), Tokyo: Yuhikaku.

Ishikawa, S.� 1967.� Economic Development In Asian Perspective.� Tokyo: Kinokuiya.

Kobayashi, H.� 1995.� Nihon Kabushiki Kaisha o tsukutta otoko.� Tokyo: Shogakkan.

Le, T. K. �1992.� Histoire du Vietnam des origins � 1858.� Paris: Sudestasie.

Linneman, H. 1966.� An Econometric Study of International Trade Flows.� Amsterdam: North Holland.

Madison, A.� 1995.� Monitoring the World Economy 1920-1992.� Paris: OECD.

Marseille, J.� 1984.� Empire colonial et capitalism francais, histoire d�un divorce.� Paris: Albin Michel.

Mitchell, B. R. 1995.� International Historical Statitics, Africa, Asia & Oceania 1750-1988 (ấn bản thứ nh�, c� tu sửa).� London: MacMillan.

Mizoguchi, T. and Umemura, M.� 1988.� Basic Economic Statistics of Former Japanese Colonies 1895-1938, Tokyo: Toyo Keizai.

Myers, R. H. and Peatitie, M. R. , đồng chủ bi�n, 1984.� The Japanese Colonial Empire, 1895-1945.� Princeton: Princeton University Press.

Murray, M. J.� 1980.� The Development of Capitalism in Colonial Indochina 1870-1940.� Berkeley: California University Press.

Nakamura, T.� 1994.� Lectures on Modern Japanese Economic History 1926-1994.� Tokyo: LTCB.

Nishikawa, S., Odaka, K. and Saito, O., đồng chủ bi�n, 1996.� Nihon Keizai no 200 nen (200 Years of the Japanese Economy).� Tokyo: Nihon Hyoronsha.

Ohkawa, K., Shinohara, M. and Umemura, M., đồng chủ bi�n.� 1964-1988.� Long-Term Economic Statistics of Japan.� Tokyo: Toyo Keizai (14 bộ s�ch).

Ohkawa, K., Shinohara, M. and Meissner, L., đồng chủ bi�n.� 1979.� Patterns of Japanese Economic Development.� New Haven and London: Yale University Press.

Osborne, M. E.� 1972.� The French Presence in Cochinchina and Cambodia.� Ithaca: Cornell University Press.

Oshima, H. T.� 1987.� Economic Development in Monsoon Asia.� Tokyo: University of Tokyo Press.

Royer, J.� 1950.� Note sur le niveau de vie de la classe ouvri�re vietnamienne.� Bulletin Economique de l�Indochine.� 130-133./-

_____

Nguồn: Jean-Pascal Bassino, Economic Development in Vietnam, Japan, Korea and Taiwan, 1900-1945; Convergence and Disvergence in the Chinese Periphery, Journal of International Econpomic Studies The Institute of Comparative Economic Studies, Hosei University, Japan, (2000), No. 14, c�c trang 127-146.

 

Ng� Bắc dịch

10/8/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009