Bob Drury

& Tom Clavin

 

 

NHỮNG NGƯỜI MỸ SAU C�NG

 

R�T RA KHỎI VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

 

***

 


T�a Đại Sứ Hoa Kỳ ở S�i G�n, 1975

 

HỒI KẾT CUỘC

 

TR�N CHIẾN HẠM USS OKINAWA,

 

08:45 S�NG, 30 TH�NG TƯ 1975

 

Khi mọi việc đ� xong xu�i, t�i kh�ng chắc l� liệu

t�i sẽ được một phần thưởng hay một c� đ� đ�t thật mạnh.

-- Thiếu T� Jim Kean, Thủy Qu�n Lục chiến Hoa Kỳ

 

������ Bản th�n Jim Kean lấy l�m ngạc nhi�n.� �ng đ� kh�ng nghĩ rằng m�nh c�n đủ năng lực để ph� l�n cười.� Song nơi đ�y �ng đang cười toa to�t như một con ma trơi khi �ng đứng tr�n s�n con t�u tấn c�ng thủy lục USS Okinawa.� Họ đ� kh�ng thể vươn tới chiếc USS Blue Ridge, nơi m� To�n Swift 22 được chờ đợi đ�p xuống � chiếc so�i hạm của Đo�n Đặc Nhiệm 76 th� qu� xa ngo�i khơi v� chiếc trực thăng đ� kh�ng c�n đủ nhi�n liệu.� V� giờ đ�y Kean ngắm nh�n với một c�i cười to�t miệng khi mười l�nh bảo vệ an ninh Thủy Qu�n Lục Chiến quần �o tả tơi của �ng bước ra khỏi chiếc trực thăng, lần lượt từng người l�nh, để rồi bị tước vũ kh� bởi một đội Thủy Qu�n Lục Chiến Của Hạm Đội.

������ Kean đ� sẵn trao khẩu s�ng trường M-16 loại ph�t cho Thủy Qu�n Lục Chiến của ch�nh �ng, một khẩu s�ng lục tự động 0.9 milim�t m� �ng đ� nhặt được gần hồ tắm của t�a đại sứ, v� khẩu s�ng Colt 45 Gold Cup c� nh�n của �ng.� Song một số l�nh Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến (PVANTQLC) của �ng, miễn cưỡng giao nạp c�c s�ng ống của họ, đ� kh�ng ho�n to�n sốt sắng như thế.� Kean nhận thức rằng C�c Thủy Qu�n Lục Chiến Hạm Đội đ� c� lệnh của họ: mọi vũ kh� mang theo bởi bất kỳ ai đặt ch�n l�n một t�u Hoa Kỳ sẽ bị vứt sang một b�n.� Song, �ng đ� nhận thấy quang cảnh th� kỳ qu�i.� Kh�ng kể c�c lựu đạn n�m bằng tay, �ng đếm được ba mươi s�u s�ng trường v� s�ng lục đủ loại v� k�ch thước kh�c nhau bị tịch thu từ c�c l�nh của �ng v� bị n�m xuống Biển Nam Hải [sic], kể cả hai khẩu s�ng lục tự động do Tiệp Khắc chế tạo m� l�nh của �ng đ� nhặt được từ những nơi m� chỉ c� Trời mới biết v� ngay cả một khẩu s�ng .32 mạ chất chromium.� C� một l�c �ng đ� nghĩ m�nh c� thể phải can thiệp, khi �ng nhận thấy Steve Schuller c�i nhau d�y dưa với một Thủy Qu�n Lục Chiến Hạm Đội.� Nhưng trước khi �ng c� thể ra tay, Schuller đ� đổi th�i độ, sải bước đến cạnh sườn của s�n bay, v� quăng c�c vũ kh� của ch�nh m�nh từ tr�n mạn t�u.� Nếu ch�ng sẽ bị ch�m xuống, anh ta sẽ tự m�nh l�m việc đ�.

������ Đ�ng, Kean nghĩ lại, đ�ng l� qu�n cướp của Pancho Villa.

������ Tất cả l�nh PVANTQLC, h�ng trăm d�n tỵ nạn Nam Việt Nam, qu�n sự v� d�n sự, đứng xếp h�ng l�m thủ tục.� H�ng t� c�c chiếc trực thăng của Kh�ng Qu�n Ho�ng Gia [Royal?] Nam Việt Nam tiếp tục lảng vảng tr�n đầu, nhất định sẽ bị n�m xuống c�ng nấm mồ tr�n biển như c�c khẩu s�ng của l�nh PVANTQLC, bất luận l� ch�ng c� t�m được khoảng trống tr�n s�n t�u để đ�p xuống hay kh�ng.� Một số thủy qu�n lục chiến của Kean c�n ở tr�n khoang t�u để ngắm nh�n hoạt cảnh, nhưng vi�n thiếu t� đ� qu� kiệt sức.� �ng đ� l�m xong thủ tục nhập cảnh tr�n t�u, t�m thấy một giường nơi boong t�u b�n dưới, v� ch�m v�o một giấc ngủ say trong s�u tiếng đồng hồ.

������ Trước 3 giờ chiều một ch�t, một thủy thủ đ� lay �ng thức giấc.� Tướng Carey đ� triệu hồi �ng đến chiếc so�i hạm USS Blue Ridge.� Khi chiếc trực thăng nhấc m�nh khỏi chiến hạm USS Okinawa cho một chuyến bay mười lăm ph�t, Kean thắc mắc khong r� �ng ta sẽ gặp rắc rối tới đ�u về việc bố tr� hơi gas l�m chảy nước mắt tr�n m�i nh� [t�a đại sứ].� Ừ, m�nh đ� c� một binh nghiệp tốt k�o d�i đến nay.� C� thể sẽ l� một sự tổn thất sau c�ng của cuộc chiến tranh Việt Nam.

������ T�i sản duy nhất của �ng l� một điếu x� g� đ� h�t một nửa, v� khi Tướng Carey tra hỏi �ng, Kean vẫn c�n đang mặc chiếc �o đ�nh golf hiệu Arnold Palmer v� quần t�y m�u xanh.� Vi�n thiếu t� thấy nhẹ khi Tướng Carey ch�c mừng �ng ta về c�ng việc được thi h�nh tốt, v� kế đ�, Kean tiếp tục đến gặp �The Bulls: Những Con B� Mộng� kh�c � tiểu đo�n trưởng v� sĩ quan h�nh qu�n của lực lượng đổ bộ Thủy Qu�n Lục Chiến, cũng như trưởng to�n đổ bộ của trung đo�n, Đại T� Al Gray.� Ch�nh trong phi�n họp n�y �ng ta hay biết rằng thi thể của Hạ Sĩ� (Corporal) Charles McMahon v� Binh Nhất (Lance Corporal) Darwin Judge vẫn c�n ở đ�u đ� trong S�ig�n v� rằng Đại t� Gray đang cầm đầu một cuộc điều tra về việc kh�ng thu hồi được thi h�i của họ.

������ Mẫu tin tức dữ tợn n�y đ� khuấy động lại sự tức giận của �ng về việc đ� phải ph�n t�n l�m đ�i to�n biệt ph�i của �ng ba ng�y trước đ� v� gửi nh�m đ� đến DAO [Văn Ph�ng T�y Vi�n Qu�n Sự].� Nhưng �ng đ� kh�ng n�i g� cả.� C�n g� để n�i nữa.� Kean c�n kh�m ph� th�m rằng c�c đại t� Lục Qu�n Hoa Kỳ Madison v� Summers, c�c kẻ cũng l�n t�u USS Blue Ridge, đ� tố c�o c�c Thủy Qu�n Lục Chiến tại t�a đại sứ hoảng loạn �v� để lại đ�ng sau những người m� một c�ch n�o kh�c c� thể được cứu vớt�, kể cả c�c người Đại H�n say rượu.� Kean bực m�nh về điều �ng xem l� một sự vu khống nhưng c�n nhắc lời n�i của �ng một c�ch thận trọng.

������ �Ch�ng t�i c� lẽ đ� c� thể di tản hết mọi người trong khu�n vi�n t�a đại sứ�, �ng n�i với Đại T� Gray.� �Nhưng ch�ng t�i sẽ phải phớt lờ c�c mệnh lệnh của Tổng Thống để l�m việc đ�.

������ Trong khi đ�, mặc d� l�nh PVANTQLC của �ng kh�ng c� c�c thủ tục h�nh ch�nh nhi�u kh� hay sự �bắn sẻ� li�n binh chủng để đối ph�, họ thấy rằng họ gặp phải một v�n đề: c�c thủy thủ Hải Qu�n, nhận thức được cơ hội lịch sử,� thường t�m c�ch để thuổng những đồ d�ng c� nh�n lặt vặt m� họ mang theo, kể cả quần �o của họ, l�m kỷ niệm.� Sau khi họ đ� l�m xong thủ tục nhập t�u v� được đưa xuống c�c boong t�u b�n dưới, họ đ� cởi bỏ c�c y phục h�i h�m v� lảo đảo đi t�m c�c trận tắm đầu ti�n của họ trong một tuần lễ.� Schuller th�o c�c chiếc tất ra � c�c mảnh thịt dứt ra giữa ch�ng � khi anh nhận thấy một thủy thủ chụp lấy chiếc �o của Terry Bennington.� Anh ta chặn người thủy thủ lại, v� từ khi đ� trở đi, c�c l�nh PVANTQLC đ� t�m c�ch thay nhau v�o buồng tắm, canh g�c cho qu�n phục của người kia.

������ To�n thể to�n biệt ph�i an ninh Thủy Qu�n Lục Chiến S�ig�n đ� đến được căn cứ hải kh�ng qu�n tại Subic Bay, Phi Luật T�n h�m 6 Th�ng Năm.� Tại T�a Đại Sứ Mỹ ở Manila, họ được biệt tr� v� được cấp ph�t dao cạo r�u, b�n chải đ�nh răng, v�, một lộc trời, c�c bữa ăn n�ng hổi.� Tuy nhi�n, điều l�m họ buồn phiền, với c�c sở th�ng h�nh, c�c giấy tờ c�ng vụ, v� sổ lĩnh lương bị mất từ l�u, những ng�y kế đ� đ� phải ngồi tại c�c chiếc b�n đặt tr�n gi� k� để điền h�ng đống mầu đơn từ --- �sự đ�n tiếp về qu� ch�nh thức của họ trước sự vui mừng của chế độ thư lại.

������ Cuối c�ng, sau một cuộc nổi loạn nhỏ, Kean đ� d�n xếp để ph�t ng�n vi�n ch�nh của t�a đại sứ ứng trước $200 mỹ kim cho mỗi l�nh của �ng, v� họ được ph�p ra ngo�i căn cứ để đi mua sắm quần �o sạch sẽ.� Đương nhi�n, sau khi mua sắm giầy, quần jean xanh, v� �o thung T-shirts, phần lớn x�m x�t về �Hẻm Con heo: Pig Alley� nổi tiếng của th�nh phố thủ đ� � phi�n bản đường Tự Do của Manila.� Tuy nhi�n, mọi nơi trong th�nh phố m� họ đi đến, họ bị theo sau bởi c�c th�ng t�n vi�n la h�t đ�i nghe �c�u chuyện thực sự� của những khoảnh khắc sau c�ng tr�n n�c t�a đại sứ.� Cuối c�ng, sau một trong qu� nhiều cuộc chạm tr�n với c�c nh� b�o d� hỏi, phần lớn trong to�n biệt ph�i đ� trưng dụng một qu�n rượu, trả cho chủ nh�n của qu�n để thảy ra ngo�i những ai kh�ng phải l� l�nh PVANTQLC, v� đ� trải qua t�m tiếng đồng hồ ăn, uống, v� sống lại điều m� nhiều người đ� giả định sẽ l� c�c khoảnh khắc sau c�ng trong cuộc đời của họ.� Đ�ng đảo c�c c� g�i qu�n rượu Phi Luật T�n ở trong số c�c kh�n giả hiếu kỳ b�n ngo�i qu�n rượu ng�y người nh�n v�o, v� tin đồn rằng số tiền m� c�c Thủy Qu�n Lục Chiến được ứng trước đ� kh�ng được chi trả ho�n to�n cho thực phẩm v� rượu bia.

������ Tromg bữa tiệc, Trung Sĩ Nhất Juan Valdez đ� trải qua phần lớn buổi tối thu m�nh suy tư ở một g�c nh�.� Sau hai ng�y đ�p l�n chiến hạm USS Okinawa, Valdez cũng được chở tới chiến hạm USS Blue Ridge để được tra hỏi bởi Tướng Carey v� Đại T� Gray, v� ch�nh nơi đ� anh ta, giống như Kean, kh�m ph� ra rằng thi h�i của Hạ Sĩ McMahon v� Binh Nhất Judge vẫn chưa hề rời khỏi S�ig�n.

������ Thoạt ti�n Valdez tức giận s�i sục với Trung Sĩ Xạ Thủ (Gunnery Sergeant) Vasco Martin, người m� anh ta đ� cắt cử phụ tr�ch đội l�nh PVANTQLC được ph�i sang DAO (Văn Ph�ng T�y Vi�n Qu�n Sự).� Tuy nhi�n, cơn tức giận của anh đối với Martin đ� sớm giảm xuống, khi anh tự đặt m�nh v�o vai tr� vi�n đội trưởng v� suy nghĩ về c�c sự hỗn loạn ho�n to�n đ� bao phủ Văn Ph�ng DAO trong v� sau khi c� c�c sự ph�o k�ch của Qu�n Đội Bắc Việt.� Martin đ� kh�ng thể l�m g� để mang thi h�i của c�c thanh ni�n đ� về nước, v� v�o l�c c�c l�nh PVANTQLC đến Manila, cơn thịnh nộ của Valdez đ� quay trở ngược v�o b�n trong.� Sau hết, anh ta l� Trung Sĩ �Cao Cấp Nhất� cũng như thuộc trường ph�i cổ điển: anh ta đ� tin tưởng s�u xa trong t�m hồn m�nh t�n điều rằng c�c người l�nh TQLC kh�ng bao giờ bỏ s�t một bạn đồng ngũ của ch�nh họ đ�ng sau lưng.� Biến cố sẽ �m ảnh anh ta trong nhiều năm.

������ Ng�y kế tiếp, trở lại t�a đại sứ tại Manila, Kean đang sửa soạn cho chuyến quay trở lại Hồng K�ng khi anh gặp gỡ [Đại Sứ] Graham Martin tại văn ph�ng vi�n đại sứ Mỹ tại Phi Luật T�n.� Đ� l� lần cuối c�ng họ gặp nhau.� Hai b�n trao đổi cuộc n�i chuyện lặt vặt mo6t. c�ch vụng về -- Martin vẫn c�n xanh xao v�ng vọt v� ủ rũ một c�ch thảm thiết � v� Kean cảm thấy nhẹ nh�m khi hướng đến phi trường sau khi cuộc đối thoại ngắn ngủi của họ được kết th�c.� Kh�ng l�u sau đ�, trở lại Hồng K�ng, anh ta đ� bắt đầu c�ng t�c đ�nh m�y lại từ tr� nhớ một bản b�o c�o sau khi thi h�nh c�ng t�c d�i ch�n trang, c�ch nhau một h�ng, cũng như thảo c�c sự tường thuật đề bạt sẽ tạo th�nh căn bản cho bốn mươi hai huy chương Hải Qu�n Chiến C�ng v� Hải Qu�n Tuy�n Dương sau n�y được tưởng thưởng cho c�c l�nh Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến thuộc c�c to�n biệt ph�i ở S�ig�n, Cần Thơ, Phnom Penh, Nha Trang, Đ� Nẵng v� Bi�n H�a.

������ Khi anh ta r�p nối c�c chiến c�ng của c�c l�nh Thủy Qu�n Lục Chiến của anh ta lại với nhau, anh đ� nghĩ về Napol�on, kẻ c� lần từng ghi nhận rằng c�c h�nh vi can đảm m� c�c người l�nh sẽ thực hiện để c� được một dải huy chương nhỏ b�.� C�u hỏi của ch�nh �ng cũng đ� được trả lời khi, thay v� một c� đ� mạnh v�o đ�t, anh được ban thưởng Huy Chương Sao Đồng về c�ng trạng do c�c h�nh động của anh ta tại S�ig�n trong tuần lễ cuối c�ng của Th�ng Tư 1975.

 

������ Chiếc thương thuyền SS Pioneer Contender, l�i theo sau hai chiếc b� đổ bộ được biến cải của Terry McNamara, đ� đến được b�n đảo Vũng Tầu v� c�c chi�n thuyền v�ng ngo�i của Hạm Đội Thứ Bảy khoảng 9:30 s�ng ng�y 30 Th�ng Tư, 1975.� Việc đầu ti�n m� vi�n cựu [tổng] l�nh sự Mỹ tại Cần Thơ v� vi�n hạ sĩ quan phụ tr�ch l�nh PVANTQLC Cần Thơ của �ng, Trung Sĩ Tham Mưu (Staff Sergeant) Steve Hasty, nhận thấy bao quanh họ, d�ng nước xanh của Biển Nam Hải [sic] bừa b�i với mảnh vỡ của t�u bị đắm v� đồ vật tr�i dạt của c�c chiếc thuyền tỵ nạn chạy trốn.� Hai người đ� chia nhau một bữa điểm t�m lạnh tr�n s�n chiếc thương thuyền khi một người đưa tin th�ng b�o McNamara rằng hai chiếc b� LCM tơi tả của �ng sẽ kh�ng c�n cần thiết để di tản người Việt Nam từ bờ biển của b�n đảo.

������ Kh�ng l�u sau buổi trưa, McNamara v� Hasty được di chuyển bởi t�u cứu nạn Nhật Bản sang một chiếnc t�u lớn hơn được thu� mướn bởi người Mỹ, chiếc LST Đại H�n được x�y dựng để đổ bộ c�c chiếc xe tăng, c� khả năng đi biển.� Họ đ� trải qua một tối lạnh lẽo nằm ngủ dưới sao đ�m v� hai mươi bốn tiếng sau, một đội phi cơ trực thăng Thủy Qu�n Lục Chiến đ� đến vớt McNamara v� c�c c�ng d�n Mỹ của �ng c�ng Hasty v� nh�m l�nh Thủy Qu�n Lục Chiến nhỏ b� của anh ta v� đ� chở họ đến chiếc USS Blue Ridge.� Cuộc phi�u lưu tự bi�n tự diễn của họ đ� qua. [Phần tường thuật của ch�nh Terry McNmara sẽ được dịch v� đăng tải sau n�y tr�n Gi� O, ch� của người dịch].

������ Khi chiếc trực thăng Huey chở McNamara bay cao b�n tr�n Hạm Đội Thứ Bẩy, vi�n chức ngoại giao kỳ cựu quan s�t chiều d�i v� chiều rộng của hạm đội.� �ng đ� c� một � nghĩ: L�m sao m� một quốc gia với một sức mạnh lớn lao như thế lại kết th�c một cuộc chiến tranh bằng việc bỏ rơi đồng minh của n� v� cứu vớt c�c c�ng d�n của ch�nh n� trong một t�nh huống � nhục đến thế? Trong khi chiếc t�u USS Blue Ridge l�i đến Phi Luật T�n, Mcnamara đ� gửi một điện văn về Bộ Ngoại Giao tại Hoa Thịnh Đốn về nơi chốn của �ng v� c�c nh�n vi�n của �ng v� đ� t�m c�ch đưa c�c ghi nhận của ch�nh �ng về h�nh tr�nh theo đường s�ng [từ Cần Thơ ra biển, ch� của người dịch].

������ Trong khi đ� Steve Hasty đ� t�m thấy Jim Kean, sĩ quan chỉ huy của anh, tại khu biệt tr� của Thủy Qu�n Lục Chiến tr�n t�u.� Khi Kean miệng cười to�t nhận ra vi�n trung sĩ tham mưu trẻ tuổi của m�nh, �ng h�t to, �Anh đ� thi h�nh c�ng việc tốt đẹp m� ch�ng t�i kỳ vọng ở anh�.� Hasty sau đ� đ� được đẩy l�n phần thượng tầng của chiếc t�u để được tra hỏi bởi đ�ch th�n Tướng Carey, một kinh nghiệm l�m cho�ng v�ng cho một người l�nh �o xanh như thế.� Qua c�c ly tr� đ�, vi�n tướng đ� c�m ơn vi�n trung sĩ tham mưu về c�ng t�c tốt đẹp m� anh ta đ� l�m.� Một triệu � nghĩ chạy ngang qua đầu của Hasty.� Sự phản bội của cơ quan CIA.� Việc leo l�n t�u của Hải Qu�n VNCH.� Cuộc tấn c�ng tr�n s�ng.� Trận mưa b�o m� trời nhiều phần đ� cứu vớt mạng sống của họ.� Nỗi tuyệt vọng của họ khi kh�ng t�m thấy một chiếc t�u Hải Qu�n Hoa Kỳ chờ đợi họ tại v�ng ch�u thổ của con s�ng.

������ Song khi vi�n tướng hỏi về cuộc h�nh tr�nh, vi�n trung sĩ tham mưu biết giữ c�c � kiến ri�ng của m�nh v� chỉ tr�nh b�y c�c sự kiện kh�ng th�i.� Anh ta đ� bước ra khỏi ph�ng ri�ng của vi�n tướng với � nghĩ.� �ng kh�ng biết một nửa sự việc, thưa Ng�i.

 

������ V�o l�c ho�ng h�n ng�y 30 Th�ng Tư, một lẽ thủy t�ng truyền thống đ� được thực hiện tr�n s�n t�u USS Hancock.� C�c quan t�i th� trống rỗng.� Thi h�i của Đại �y William Nystul v� Trung �y Michael Shea kh�ng bao giờ được thu hồi từ chiếc trực thăng của họ, chiếc Swift 14, đ� bị vỡ v� ch�m dưới nước s�u khoảng bảy mươi bộ Anh.

������ Sau khi trưởng đo�n phi h�nh chiếc Swift 14, Stephen Wills, v� nh�n vi�n cơ kh� bậc nhất của n�, Richard Scott, được cứu vớt từ Biển Nam Hải [sic], c�c vật phẩm duy nhất kh�c được thu hồi từ chiếc m�y bay l� bốn chiếc mũ của phi h�nh đo�n, v� thanh ngang ch�n đ�p xuống ph�a trước của chiếc trực thăng, với c�c b�nh xe vẫn c�n gắn v�o đ�.� Nguy�n nh�n của tai nạn kh�ng bao giờ được x�c định, như như c�c sử gia Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến, Thiếu T� George Dunham v� Đại T� David Quinlan sẽ viết sau n�y, �sự thiếu kinh nghiệm của phi h�nh đo�n v� sự kh�ng quen thuộc với nhiệm vụ c� thể đ� l� c�c yếu tố�.

 

������ Cựu qu�n nh�n trở th�nh nh� b�o Bắc Việt, Đại T� B�i T�n, ph� tổng bi�n tập tờ b�o ch�nh thức của Qu�n Đội Bắc Việt, tờ Qu�n Đội Nh�n D�n, đi c�ng với đội xe tăng dẫn đầu đ� ủi xuy�n qua c�nh cửa tr�ng như tấm vỉ sắt nướng thịt của c�c chiếc cổng dẫn v�o Dinh Tổng Thống ở S�ig�n v�o s�ng ng�y 30 Th�ng Tư.� Trong khi �ng T�n leo l�n c�c bậc thang tới t�a kiến tr�c hoa h�e giữa c�c l�nh bộ binh Bắc Việt đ�ng sợ, c�c kẻ điều khiển c�c xe tăng ngơ ng�c, v� c�c sĩ quan cấp thấp từ Qu�n Đo�n 2 của Tướng [Văn Tiến] Dũng, �ng ta bị nhận lầm l� một nh� l�nh đạo Cộng sản.� �ng ta được hướng dẫn bởi một vi�n phụ t� tổng thống đến một văn ph�ng ri�ng của Tướng Dương Văn Minh, mặc một chiếc �o ngắn tay v� được bao quanh bởi c�c bộ trưởng của �ng.� �ng Minh đ� sẵn n�i chuyện với người d�n v� qu�n đội Nam Việt Nam qua đ�i ph�t thanh � hạ lệnh họ ngừng chiến đấu v� đoan chắc với họ rằng �một sự h�a giải v� h�a hợp d�n tộc� đang trong tầm tay.

������ Giờ đ�y �ng đ� ch�o đ�n �ng T�n với một lời loan b�o ngắn ngủi kh�c: �T�i đang chờ đợi từ s�ng sớm h�m nay để chuyển giao quyền h�nh cho �ng�.

������ �ng T�n sửng sốt.� �ng hỏi một người chỉ huy xe tăng QĐBV về nơi chốn của Tướng Dũng.� Kh�ng ai hay biết.� Như thế, �ng T�n nắm lấy t�nh h�nh.�

����� �Kh�ng c� vấn đề chuyển giao quyền h�nh của �ng�, �ng ta n�i với Tướng Minh.� �Quyền h�nh của �ng đ� sụp đổ.� �ng kh�ng c� g� trong tay để giao lại, v� do đ� �ng kh�ng thể giao lại những g� �ng kh�ng thể c�.

������ Như thể để h�an tất diễn tiến, ngay l�c đ� một tiếng ph�t nổ của sự khai hỏa vũ kh� tự động l�m rung chuyển c�c cửa sổ.� C�c bộ trưởng của Tướng Minh xao động, ph�a qu�n Bắc Việt kh�ng nh�c nh�ch.� �Qu�n l�nh ch�ng t�i chỉ đang ăn m�ng�, �ng T�n n�i với c�c người trong ph�ng.� �Giữa người Việt Nam kh�ng c� người thắng v� kh�ng c� người bị khuất phục.� Chỉ c� người Mỹ bị đ�nh bại�.

������ L� cờ của Mặt Trận D�n Tộc Giải Ph�ng Miền Nam Việt Nam, tức Việt Cộng, được treo cao tr�n Dinh Tổng Thống l�c 12:15 trưa, v� khi ng�y n�y tr�i qua, B�i T�n đ� đi thăm th�nh phố bị bại trận.� �ng ta đ� chụp ảnh c�c kh�c to lớn của c�y me rải khắp mặt đất của khu�n vi�n T�a Đại Sứ Mỹ, v� đi theo một to�n qu�n Bắc Việt l�n tr�n n�c t�a đại sứ, đang trống kh�ng, ngoại trừ sự vứt vung v�i c�c vũ kh� bị thải hồi, c�c chiếc mũ sắt, v� c�c chiếc �o gi�p chống đạn.� Từ ở đ�, tr�n n�c t�a kiến tr�c cao nhất tại S�ig�n, �ng ta c� thể nh�n thấy c�c đ�m lửa vẫn c�n đang ch�y chung quanh th�nh phố, kể cả ở Phi Trường T�n Sơn Nhứt v� khu�n vi�n Văn Ph�ng DAO b�n cạnh.

������ Muộn hơn v�o buổi tối h�m đ�, �ng T�n đ� biến mất v�o một văn ph�ng nhỏ trong Dinh Tổng Thống để viết bản tin điện cho tờ b�o của �ng.� �ng đ� viết một b�i bốn trang giấy nhưng kh�ng biết l�m sao để gửi n� đi cho c�c chủ bi�n của �ng tại H� Nội.� �ng đ� xin qu� giang một chuyến xe đi đến văn ph�ng DAO, hy vọng t�m thấy một m�y viễn ấn c�n hoạt động, nhưng kh�m ph� rằng mọi trang thiết bị truyền tin đều đ� bị l�m hỏng bởi to�n ph� hủy thuộc Thủy Qu�n Lục Chiến Hoa Kỳ.

������ Với một sự ức đo�n, �ng ta bước qua một t�a nh� nhỏ, nằm v�ng ngo�i của quần thể, một trong những kiến tr�c đầu ti�n được dựng l�n bởi người Mỹ tại S�ig�n khi căn cứ được biết đến l� Trại Davis.� N� được chiếm ngụ bởi một to�n truyền tin QĐBV để l�m trụ sở.� �ng ta đ� để lại bản tường thuật b�o ch� cho họ, v� sau c�ng n� đ� được chuyển ra H� Nội.�����

������ Những d�ng mở đầu b�i tường thuật của �ng ta v� thế đ� ghi: �T�i đang viết b�i b�o n�y khi ngồi tại một b�n giấy tr�n tầng thứ nh� của Phủ Tổng Thống tại S�ig�n.� Cuộc chiến tranh l�u d�i đ� qua đi�.

 

������ Frequent Wind: Trận Gi� Thường Xuy�n, cuộc h�nh qu�n Hoa Kỳ sau c�ng tại Việt Nam, đ� l� một cuộc di tản lớn nhất v� th�nh c�ng nhất chưa từng được thực hiện.� N� đ� kh�ng được lập lại lần n�o kể từ đ�.� Trong c�c tuần lễ trước khi chiến dịch Frequent Wind được ph�ng ra h�m 29 Th�ng Tư, c�c m�y bay với c�nh cố định đ� di tản được 50,493 người, kể cả 2,678 c� nhi, từ Phi Trường T�n Sơn Nhứt của Saig�n.� Con số ch�nh x�c d�n tỵ nạn được đưa ra biển bởi c�c trực thăng Kh�ng Qu�n Ho�ng Gia [?] [Nam]Việt Nam, c�c m�y bay tư nh�n, c�c chiếc� x�-lan (barges), t�u đ�nh c� k�o lưới (trawlers) v� c�c chiếc thuyền kh�c trong Th�ng Tư đ�, v� bao nhi�u người đ� đến nơi an to�n, th� kh�ng thể t�nh to�n được.

������ Với bầu trời đ�ng đ�c tr�n S�ig�n, c�c sĩ quan t�nh b�o của Tướng Dũng chứng tỏ kh� ch�nh x�c trong sự lượng định của họ về điều m� nhiều người đ� sẵn mệnh danh như �Cuộc H�nh Qu�n Di Tản Dunkirk của Mỹ�.� C�c phi c�ng m�y bay trực thăng của Thủy Qu�n Lục Chiến Hoa Kỳ đ� bay 682 phi vụ v�o S�ig�n trong Chiến Dịch Trận Gi� Thường Xuy�n.� Tổng số 395 người Mỹ v� 4,475 người Việt Nam v� c�ng d�n nước thứ ba đ� được di tản từ Văn Ph�ng DAO, với 978 người Mỹ v� 1,220 người Việt Nam v� những người kh�c đ� được cứu vớt từ T�a Đại Sứ Hoa Kỳ.� Tổng cộng, hơn 7,000 người đ� được bốc ra khỏi rh�nh phố trước khi n� bị chiếm cứ bởi binh si Bắc Việt v� Việt C�ng.� Trong số 420 người bị bỏ lại đ�ng sau tại t�a đại sứ, hơn 100 người l� c�ng d�n Nam H�n.

������ Trong 1.054 giờ bay bởi c�c phi c�ng m�y bay trực thăng Thủy Qu�n Lục Chiến trong c�c h�m 29 v� 30 Th�ng Tư, Đại �y Gerry Betty trong chiếc CH-46 Lady Ace 09 ghi nhiều giờ nhất, đ� bay 18.3 giờ trong thời khoảng 20 tiếng đồng hồ.� Trước khi c� sự quay trở về của chiếc t�u mẹ của họ, chiếc USS Dubuque, từ Vịnh Th�i Lan, phi đội của Berry vẫn kh�ng c� một �phi cảng gốc�, v� �ng c�ng phi h�nh đo�n của �ng đ� trải qua hai mươi bốn tiếng kế tiếp qu� giang tr�n chiếc USS Duluth cho tới, h�m 1 Th�ng Năm, khi chiếc t�u Dubuque xả hơi quay về lại Biển Nam Hải.� Bốn chiếc trực thăng của Berry sau đ� quay về chiếc Dubuque, v� au đ� l�i sang Okinawa.� V� nỗ lực anh h�ng của họ trong cuộc di tản, Phi Đội Sea Knights của Berry được vinh danh l� Phi Đội của Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến trong năm v�o năm 1975.

������ Một ghi nhận nữa về m�y bay trực thăng: chiếc trực thăng m� Steve Schuller nhận thấy đang đậu tr�n n�c t�a nh� tr�n đường Gia Long chiều ng�y 29 đ� trở th�nh một h�nh tượng m� cho đến ng�y nay được tin tưởng một c�ch sai lạc l� biểu trưng cho c�c người Mỹ cuối c�ng rời S�ig�n.� Văn Ph�ng h�ng th�ng tấn UPI nằm ở tầng tr�n c�ng của Kh�ch Sạn Peninsula Hotel, c�ch Pittman Apartments bốn khu phố. Trưởng ph�ng UPI l� Alan Dawson, v� c� v�i nh�nh vi�n c�ng th�ng t�n vi�n tự do như Hubert van Es, một nhiếp ảnh gia H�a Lan đ� quyết định ở lại v� tường tr�nh sự chiếm giữ bởi qu�n Bắc Việt v� Việt Cộng.

������ Van Es vừa mới trở về sau khi đi chụp ảnh v� đang ở trong ph�ng tối rửa phim.� Anh ta nhận thấy được một chiếc trực thăng tr�n n�c một t�a nh�.� Anh chụp lấy một chiếc m�y ảnh v� một ống k�nh 300 mm, ống k�nh d�i nhất trong văn ph�ng, v� ph�ng ra bao lơn.� Anh đ� chụp được mười tấm h�nh của O. B. Harnage, một nh�n vi�n của Cơ Quan CIA, đang gi�p c�c thường d�n leo l�n chiếc trực thăng.� Sau khi rửa phim, Van Es đ� lựa chọn một ảnh được in ra để chuyển bởi c�c t�n hiệu ph�t thanh đến Tokyo từ văn ph�ng điện b�o S�ig�n.� Tấm ảnh đen trắng khổ 5 x 7 ph�n Anh cần đến mười hai ph�t để gửi đi.� Van Es đ� đi xuống mồ anh ta năm 2009, quả quyết rằng anh ta đ� ghi xuống tin tức ch�nh x�c trong lời ch� th�ch tấm ảnh, nhưng ch�nh� c�c nh� bi�n tập đ� giả định một c�ch lầm lẫn rằng n� l� n�c nh� của T�a Đại Sứ Hoa Kỳ v� l� chiếc m�y bay trực thăng Mỹ cuối c�ng để di tản S�ig�n. [Phần tường thuật của ch�nh Van Es về bức ảnh lịch sử n�y sẽ được dịch v� đăng tải tr�n Gi� O, ch� của người dịch]

 

������ Trong hồi k� của m�nh, A Time to Heal, [Tổmg Thống] Gerald Ford đ� suy tưởng về sự th�nh c�ng kh�ng được quảng b� của Mỹ trong những giờ ph�t kết th�c của Chiến Tranh Việt Nam.� �Khi mọi việc đ� xong xu�i, t�i cảm thấy sự thỏa m�n v� nhẹ nh�m s�u đậm rằng cuộc di tản đ� l� một sự th�nh c�ng�, �ng đ� viết như thế. ��Tuy nhi�n, vấn đề về những g� cần l�m đối với c�c người tỵ nạn vẫn c�n tồn tại.� Hơn 120,000 người trong họ đ� t�m c�ch vượt tho�t, nhưng họ đ� kh�ng c� nơi để đi đến.� Th�i Lan kh�ng muốn họ.� M� Lai, Nam Dương v� Phi Luật T�n cũng thế.� T�i cảm thấy Hoa Kỳ c� một nghĩa vụ đặc biệt với họ, v� v�o ng�y 30 Th�ng Tư t�i đ� y�u cầu Quốc Hội chấp thuận một dự luật sẽ cung cấp 507 triệu cho sự chuyển vận v� chăm s�c họ.� Hạ Viện đ� b�c bỏ lời y�u cầu của t�i h�m 1 Th�ng Năm.� Kh�ng thể tin được! Sau Thế Chiến II ch�ng ta đ� mở c�c cổng của ch�ng ta v� cung cấp một đời sống mới cho 1.4 triệu người di cư c�ng 50,000 người nữa sau cuộc c�ch mạng Hung Gia Lợi trong năm 1956 v� nửa triệu người Cuba sau khi Castro l�n nắm quyền h�nh.� Trong năm 1975, c�c trại tỵ nạn đ� được thiết lập khắp nước.� Với sự gi�p đỡ của c�c c�ng d�n địa phương v� c�c tổ chức thiện nguyện, 120,000 người Việt Nam đ� bắt đầu một cuộc sống mới tại Hoa Kỳ, như những người tỵ nạn trước họ đ� l�m.�

������ Những kẻ kh�c đ� kh�ng may mắn như thế.� Mặc d� kh�ng c� g� được hay biết một c�ch ch�nh thức về số phận của khoảng 300 người tỵ nạn Việt Nam bị bỏ rơi trong khu�n vi�n t�a đại sứ -- c�c người d�n Nam H�n bị bỏ lại đ�ng sau cuối c�ng đ� hồi hương về xứ sở của họ -- theo ch�nh phủ H� Nội, hơn 200,000 c�c vi�n chức ch�nh phủ, c�c sĩ quan qu�n đội, c�c binh sĩ Nam Việt Nam đ� bị gửi đến �c�c trại cải tạo�, nơi sự tra tấn, bệnh tật, v� thiếu dinh dưỡng lan tr�n.

������ Cựu tổng thống Nam Việt Nam, Tướng Dương Văn Minh, được đối xử kh� hơn.� V�i ng�y sau sự sụp đổ của th�nh phố thủ đ� của �ng, �ng được ph�p quay trở về ng�i biệt thự của m�nh.� �ng đ� sống ở đ� trong t�m kế tiếp trong sự ẩn dật, nu�i chim v� chăm s�c c�c giống hoa lan ngoại nhập.� Trong năm 1983 �ng được chấp thuận cho xuất cảnh sang Ph�p, nơi �ng sống gần Paris cho đến khi lại xuất cảnh lần nữa, sang Pasadena, California, nơi trong Th�ng T�m 2001 �ng bị bệnh v� mất đi ở tuổi 85.

������ �ng Minh đ� sống đủ thọ để nh�n thấy Hoa Kỳ t�i thiết lập c�c quan hệ ngoại giao ch�nh thức với Việt Nam dưới thời Tổng Thống Bill Clinton trong Th�ng Bẩy 1995.� T�i sản t�a Đại Sứ Hoa Kỳ cũ đựoc ho�n trả cho Hoa Kỳ, v� chiếc cầu thang dẫn l�n b�i đ�p trực thăng tr�n n�c nh� được cứu vớt v� giờ đ�y được trưng b�y tại Bảo T�ng Viện Gerald R. Ford ở Grand Rapids, Michigan.

 

������ V�o s�ng ng�y 29 Th�ng Tư, 1975, l�c 9 giờ s�ng giờ Ti�u Chuẩn Miền Đ�ng � mười bảy tiếng sau khi loạt ph�o k�ch của qu�n Bắc Việt v�o Phi Trường T�n Sơn Nhứt bắt đầu � Đại �y Thủy Qu�n Lục Chiến hai mươi t�m tuổi Michael Maloney nhận được một cuộc điện thoại tại một căn ph�ng k�o d�ng l�m một văn ph�ng tuyển mộ của Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến đ�ng sau Chi Nh�nh Bưu Điện dưới phố Boston, Massachusetts.� Ngo�i c�c nhiệm vụ của anh ta như một sĩ quan tuyển mộ, Maloney cũng l� sĩ quan phụ tr�ch số qu�n nh�n bị tổn thất trong khu vực.

������ �T�i c� một th�ng b�o về sự tổn thất, KIA: Killed In Action: Bị hạ s�t trong khi c�ng t�c�, người gọi từ Ban Tổn Thất của Quận Hạt Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến Thứ Nhất tại Garden City, New York bắt đầu n�i.� �Anh c� sẵn s�ng để ghi lại chưa?�

������ Maloney đ� sẵn s�ng với một chiếc b�t ch� v� tập giấy.

������ �T�n � McMahon, Charles�, giọng n�i tiếp tục.� �Cấp bậc � Hạ Sĩ.� C�c vết đạn bắn ph� tung th�nh nhiều mảnh.�

������ Trong v�ng ch�n mươi ph�t, Đại �y Maloney v� Trung Sĩ Xạ Thủ Hilliard Crosswhite đ� đến bằng một chiếc xe đến ng�i nh� d�nh cho hai gia đ�nh sơn m�u hồng v� trắng của Edna v� Charles McMahon, Sr., ở Woburn.� Charles McMahon Sr., một c�ng nh�n cơ xưởng phi�n ban đ�m, đang ngủ v� kh�ng nghe thấy tiếng g� cửa của họ.� Sau khi tham khảo với cảnh s�t địa phương, hai qu�n nh�n Thủy Qu�n Lục Chiến đ� quay trở lại ng�i nh� của McMahon đ�ng l�c Edna McMahon v� đứa con trai trẻ hơn của b�, Scott, một Thủy Qu�n Lục Chiến vừa mới được tuyển mộ song vẫn c�n trong thời gian chưa c� nhiệm vụ cụ thể, đang tiến v�o ng�i nh�.� Scott McMahon dừng ch�n để n�i với họ -- �T�i c� thể gi�p g� được c�c �ng, thưa ng�i?� C� việc về anh của t�i phải kh�ng?� � nhưng Maloney v� Crosswhite đ� y�u cầu được ph�p v�o trong nh�.� Edna McMahon đ�nh thức người chồng thức dậy, v� gia đ�nh tụ tập tại ph�ng bếp.�

������ Maloney thu hết can đảm.� �Thưa �ng b� McMahon�, anh ta n�i, �t�i tiếc phải th�ng b�o với �ng b� rằng con trai của �ng b�, Charles, đ� bị giết chết tại Việt Nam�.

������ Maloney đ� kh�ng n�i � bởi anh ta kh�ng biết � rằng x�c của đứa con trai cả của Charlie v� Edna Mcmahon vẫn c�n ở S�ig�n.

����� C�ch nửa đất nước, v�o 11:30 s�ng Giờ Tiểu Chuẩn Miền Trung trong c�ng ng�y, một chiếc xe Chevrolet m�u đen chở hai qu�n nh�n Thủy Qu�n Lục Chiến đ� chặn Henry Judge khi �ng ta sắp kết th�c c�c đợt đưa thư buổi s�ng của �ng tại Marshalltown, Iowa.� Chiếc xe đậu s�t v�o lề đường, c�c Thủy Qu�n Lục Chiến bước ra, v� một người trong họ đ� th�ng b�o cho �ng hay rằng con trai của �ng, Darwin, đ� bị hạ s�t tại Việt Nam.� Họ đ� đi bộ c�ng với �ng về ng�i nh� v�n gh�p m�u trắng v� đợi b�n ngo�i trong khi Henry n�i cho b� vợ hay rằng con trai của họ đ� chết.� Chiều h�m đ�, �ng b� Judges đ� n�i với to�n đầu ti�n của c�c th�ng t�n vi�n bắt đầu cắm trại tại s�n trước của họ.

������ �Tẩt cả điều t�i c� thể n�i rằng Darwin đ� cảm thấy n� đ� phải c� mặt ở đ� để ngăn chặn Cộng Sản khỏi đến đ�y, Ida [?Edna] đ� n�i với c�c nam nữ k� giả tụ họp trong khi chồng của b�, Henry, đứng im lặng cạnh b�.� �Ch�ng t�i h�nh diện về đứa con đ�.� Ch�ng t�i l� người ngoan đạo Thi�n Ch�a, như qu� vị thấy, v� vị Ch�a tốt l�nh sẽ chăm s�c ch�ng t�i.� T�i y�u thương đứa con trai của t�i, nhưng khi đến giờ con phải ra đi ��

������ L� thư �thăm hỏi tr�n t�u� m� Juan Valdez đ� viết cho gia đ�nh McMahon đến tay họ �t ng�y sau khi họ hay biết được về c�i chết của con trai họ.� Hạ Sĩ Charles McMahon, Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC), v� Hạ Sĩ Nhất Darwin Judge, USMC, Đại �y William Nystul, USMC, v� Trung �y Michael Shea, USMC, đ� l� bốn người sau c�ng trong số 58,151 người Mỹ bị chết trong Chiến Tranh Việt Nam, cuộc chiến cũng đ� l�m thương t�ch 300,000 người Mỹ v� tốn ph� $670 tỷ mỹ kim đ� điều chỉnh theo lạm ph�t.� Cuộc chiến đ� chứng kiến c�i chết của h�ng triệu người Việt Nam kh�ng được n�i tới.

������ Với t�m năm, năm th�ng, v� ba ng�y � từ Nghị Quyết Vịnh Bắc Phần năm 1964 hồi Th�ng T�m 1964 cho đến khi k� kết c�c Hiệp Định H�a B�nh Paris trong Th�ng Một 1973 -- Chiến Tranh Việt Nam cũng giữ kỷ lục cuộc xung đột qu�n sự ch�nh thức d�i nhất của Mỹ cho đến Th�ng S�u 2010, khi n� bị qua mặt về thời gian bởi Chiến Dịch Enduring Freedom tại A Ph� H�n.

 

������ V�o ng�y 1 Th�ng Năm 1975, Đại Sứ Graham Martin, kẻ đ� đồng � tổ chức một cuộc họp b�o tại phần nổi tr�n chiếc USS Blue Ridge, đ� nhận được một điện t�n sau c�ng qua đường d�y b� mật từ Bộ Trưởng Ngoại Giao Henry Kissinger.� Bức điện t�n viết: �T�i nghĩ cần khuyến c�o rằng �ng n�n tr�nh đưa ra mọi � kiến c�ng khai cho đến khi �ng lập xong bản b�o c�o l�n Tổng Thống�.

������ C�c lời từ trước l�u của Kissinger chạy ngang qua đầu �c của Martin.� �ng phải l�i lại ra khỏi nơi đ� bởi v� d�n ch�ng Mỹ phải c� một người n�o đ� để quy tr�ch.� Martin đ� b�i bỏ cuộc họp b�o.� Song khi bị bắt gặp bởi c�c th�ng t�n vi�n ở boong t�u b�n dưới, vị đại sứ Hoa Kỳ cuối c�ng tại Nam Việt Nam đ� tuy�n bố, �T�i nghĩ người Mỹ c� quyền h�nh diện về cuộc di tản n�y.� T�i tuyệt đối kh�ng c� g� phải xin lỗi cả�./-���������

 

***

 

HẬU TRUYỆN

 

V�o ng�y 30 Th�ng Tư, 2010, nhiều l�nh Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến c� mặt trong những giờ cuối c�ng của sự hiện hữu của đất nước Nam Việt Nam đ� tụ họp tại Quantico, Virginia, để kỷ niệm 35 năm biến cố lịch sử.� Cuộc di tản h�o h�ng ba thập ni�n rưỡi trước đ�y đ� được khởi động một c�c biểu trưng bởi c�i chết của Darwin Judge v� Charles McMahon, v� cuộc họp mặt kỷ niệm biến cố sẽ kết th�c với sự tưởng nhớ buồn thảm về hai người l�nh Thủy Qu�n Lục Chiến trẻ tuổi bởi những người đ� từng phục vụ với họ v� đến những người m� số phận đ� ban cho họ tặng phẩm của tuổi trung ni�n.� Giữa v� trong số nhiều lễ tiết kh�c, c�c Thủy Qu�n Lục Chiến tụ họp đ� tham dự buổi lễ m�n kh�a Trường Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến năm 2010 với tư c�ch c�c kh�ch danh dự, v� thăm viếng Đ�i Tưởng Niệm C�c Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn, nơi họ t�m thấy danh t�nh của Judge v� McMahon tr�n một kiến tr�c bằng đ� trầm mặc.

Mặc d� đ� ph�n t�n khắp nơi sau c�c cuộc phi�u lưu nhiều gian tru�n của họ, phần lớn c�c Thủy Qu�n Lục Chiến đ�ng ở S�ig�n vẫn c�n l� c�c bạn c� nh�n hay giữ li�n lạc xuy�n qua Hiệp Hội Về Biến Cố Sụp Đổ Của S�ig�n (Fall of Saigon Association), được đồng th�nh lập v� hợp thức h�a bởi luật sư Doug Potratz trong năm 2000.� Một số kh�ng �t tiếp tục từ qu�n vụ của họ tại Việt Nam để x�y dựng một binh nghiệp trong Binh Chủng.� Kh�ng phải tất cả mọi ngườiu đều c� thể c� mặt trong buổi t�i ngộ n�y � ba trong �Mười Một Người Sau C�ng: Final Eleven�, kể cả Jim Kean, đ� từ trần trước đ� � nhưng như người đứng ra tổ chức cuộc họp mặt, cựu l�nh Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến S�ig�n, Ken Crouse, đ� ghi nhận, �Họ vẫn c�n ở với ch�ng ta, trong tr�i tim v� đầu �c của ch�ng ta�.

Mặc d� hiếm được n�i tới, hai sự hiện diện như b�ng ma treo lơ lửng tr�n cuối t�i ngộ cuối tuần kỷ niệm ba mươi lăm năm đ�.� Người đầu ti�n l� vị đại sứ sau c�ng tại S�ig�n, Graham Martin.� Tiếp theo sự trở về từ Việt Nam, Martin, kẻ kh�ng hề một lần nữa lại phục vụ ở hải ngoại trong bất kỳ tư c�ch n�o của Bộ Ngoại Giao, được bổ nhiệm l�m phụ t� đặc biệt cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Henry Kissinger.� �ng đ� về hưu kh�ng l�u sau đ�, trong năm 1977, mắc chứng bệnh kh� thủng (emphysema) v� phải thở bằng một b�nh oxygen.� �ng v� người vợ, Dorothy, đ� quay trở về qu� qu�n của họ tại Winston-Salem, North Carolina, nơi họ ăn uống nơi nh� một trong c�c người anh em họ trẻ tuổi hơn của Martin, người đang theo học đại học trong khu vực.� Martin đ� mất trong năm 1990 ở tuổi bảy mươi bảy.� Trong năm 2002, người anh em họ, y�u cầu được giấu t�n, c� viết một l� thư cho trang mạng của Hiệp Hội Fall of Saigon Association trong đ� �ng c� ghi, �T�i trải qua từng đ�m n�y sang đ�m kh�c nghe c�c sự hồi tưởng của �ng, sự tường thuật giải b�y của �ng về những g� xảy ra kh�ng như mong đợi v� c�c niềm hối tiếc của �ng.� Theo b� Dorothy, Grahm chưa bao giờ ho�n to�n hồi phục từ c�c biến cố trong Th�ng Tư 1975.� B� n�i ch�ng đ� dằn vặt �ng đ�n chết trong 15 năm.�

Một sự hiện diện trong buổi họp mặt kh�c kh�ng hề được thảo luận tới, nhung được cảm nhận trong nội tạng, l� sự hiện diện của Tướng Văn Tiến Dũng, vi�n tư lệnh Cộng Sản trong năm 1975 đại diện cho tất cả mọi điều m� Thủy Qu�n Lục Chiến Hoa Kỳ chiến đấu chống lại tại Việt Nam.� Quyển s�ch của �ng Dũng, Đại Thắng M�a Xu�n, được viết trong một văn phong th� vị một c�ch ngạc nhi�n, đ� trở th�nh t�c phẩm ti�u chuẩn từ quan điểm của Bắc Việt về chiến tranh v� những ng�y cuối c�ng của n�, v� c�c qu�n nh�n Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến kỳ cựu đ� kh�ng ngạc nhi�n khi hay biết rằng tiếp theo sau sự chiếm cứ S�ig�n, �ng Dũng đ� chỉ huy cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt cũng như cuộc xung đột bi�n giới ph�t sinh năm 1979 với Trung Quốc.� Trong năm kế, �ng ta trở th�nh bộ trưởng quốc ph�ng của Việt Nam, một chức vụ �ng nắm giữ trong bảy năm cho đến khi bị loại bỏ.� Sau đ�, �ng Dũng đ� sống im lặng cho đến khi từ trần trong Th�ng Ba 2002.

Một c�ch mỉa mai, tại một bữa ăn tối Thứ Bẩy trong một m� h�nh rập khu�n Qu�n Rượu Tun Tavern nổi tiếng tr�n nền của Bảo T�ng Viện Quốc Gia về Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến, cả c�c � nghĩ lẫn c�c ly rượu được n�ng l�n trong sự tưởng nhớ đến một nh�n vật nổi tiếng kh�c đ� từ trần, kẻ m� c�c cảm t�nh ch�nh trị c� thời từng bị nh�n bởi nhiều Thủy Qu�n Lục Chiến l� kh�ng mấy kh�c biệt với c�c l�nh tụ Cộng Sản tại Bắc Việt Nam.� Bởi ch�nh cố Thượng Nghị Sĩ Edward M. Kennedy của Tiểu Bang Massachusetts l� kẻ, bắt đầu từ Th�ng Năm 1975, mở đầu cho c�c cuộc thương thảo mạnh mẽ, sau hậu trường với H� Nội đưa đến sự giải tho�t c�c di cốt của Hạ Sĩ McMahon v� Hạ Sĩ Nhất Judge, được ho�n trả cho hai phụ t� của thượng nghị sĩ tại Th�nh Phố S�ig�n trong Th�ng Ba 1976 v� được chở về Hoa Kỳ để mai t�ng theo nghi lễ qu�n c�ch.

Tương tự, một nh�n vật d�n sự nữa đ� chiếm giữ một vị thế đặc biệt trong tr�i tim v� đầu �c của c�c cựu Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến: cựu [tổng] l�nh sự Mỹ tại Cần Thơ, Francis Terry McNamara.� Mặc d� nh�m ở S�ig�n xa lạ v�o l�c đ� �cuộc giang h�nh� nổi tiếng của McNamara, c�c chiến c�ng của �ng từ l�u đ� đi v�o c�c ni�n sử kh�ng ch�nh thức của Bộ Ngoại Giao v� Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến.� Trung th�nh với l�ng y�u m�n của �ng d�nh cho Việt Nam v� người d�n của n�, theo sau cuộc di tản S�ig�n, McNamara xung phong l�m gi�m đốc Ban Đặc Nhiệm để T�i Định Cư D�n Tỵ Nạn Đ�ng Dương tại Bộ Ngoại Giao.� Từ chức vụ đ�, �ng tiếp tục phục vụ l�m tổng l�nh sự tại Quebec, Csanada, ph� trưởng ph�i bộ tại T�a Đại Sứ Hoa Kỳ tại Beirut, Lebanon; v� phụ t� thứ trưởng ngoại giao đặc tr�ch c�c sự vụ c�ng ch�ng.� McNamara cũng phục vụ với tư c�ch th�nh vi�n chuy�n về ngoại giao tại Viện Hoover Institution của Đại Học Stanford v� l� nh� nghi�n cứu cao cấp tại Đại Học Quốc Ph�ng (National Defense University).� Sau ba mươi bảy năm c�ng vụ, �ng về hưu tr� tại McLean, Virginia, trong năm 1993, để viết hồi k� của �ng, thuật lại cuộc phi�u lưu của �ng xu�i d�ng s�ng Cần Thơ (River of Poems).

Khi một v�i người tại cuộc họp mặt hỏi Steve Hasty khi n�o anh ta sẽ ngồi xuống để viết lại c�u chuyện đi biển của ch�nh anh về �C�u Lạc Bộ Du Thuyền Cần Thơ: Cần Thơ Yatch Club�, anh mỉm cười một c�ch buồn b� v� n�i, �C� thể khi t�i c� th� giờ trong kiếp sau của t�i�.� Anh c� thể kh�ng n�i dỡn chơi.� Trước khi về hưu trong Th�ng Hai 2009 sau một binh nghiệp bốn mươi mốt năm xuất sắc, Hasty đ� trở th�nh một đại t� hiện dịch lớn tuổi trong to�n thể Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến, cũng như l� Thủy Qu�n Lục Chiến hiện dịch phục vụ l�u d�i nhất.� Một năm sau khi rời khỏi Cần Thơ, Hasty được tuyển chọn cho một sự bổ nhiệm l�m một chuẩn �y, v� ngay sau đ� đ� bắt đầu một h�nh tr�nh bao gồm c�c sự bổ nhiệm trong ng�nh t�nh b�o qu�n đội, Trường Trinh S�t � Bắn Tỉa (Scout-Sniper School), v� phản khủng bố.� Trong năm 1988, anh đ� tốt nghiệp hạng b�nh (magna cum laude) từ Đại Học George Washington University với cấp bằng về Trung Đ�ng học v� c�c quan hệ quốc tế, v� hai năm sau đ� đ� t�nh nguyện cho nhiệm vụ chiến đấu trong Chiến Dịch Tấm Khi�n Sa Mạc (Operation Desert Shield) v� tiếp tục trong khả năng đ� trong suốt Chiến Dịch Trận B�o Sa Mạc (Operation Desert Storm).

Anh đ� trau dồi sự tinh th�ng chống khủng bố v� thu thập t�nh b�o trong c�c nhiệm sở sau đ� tại Turkey, v�ng Kurdistan ở ph�a bắc của Iraq, Somalia, Cairo, Haiti, Bosnia, Cuba, Peru, Norway, v� Kosovo, v� ba tuần trước khi c� c�c cuộc tấn c�ng ng�y 11 Th�ng Ch�n, anh đ� đảm tr�ch chỉ huy tất cả c�c linh Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến tại c�c cơ sở ngoại giao Hoa Kỳ tr�n to�n thế giới.� Tiếp theo sau việc chỉ huy n�y, anh lại một lần nữa t�nh nguyện cho nhiệm vụ chiến đấu, tại Iraq, v� theo sau sự cử nhiệm đ� với hai sự điều động đến A Ph� H�n.�� Chiếc rương của Hasty đầy c�c huy chương bao gồm Huy Chương C�ng T�c Ưu Việt Quốc Ph�ng, Chiến C�ng Bội Tinh (Legion of Merit), Huy Chương Ng�i Sao Đồng với Huy Hiệu Anh Dũng v� ba Ng�i Sao V�ng, Huy Chương C�ng Trạng Quốc Ph�ng với ba B� L� C�y Sồi, Huy Chương C�ng Trạng, Huy Chương Tuy�n Dương C�ng T�c Hỗn Hợp, Huy Chương Tuy�n Dương Hải Qu�n với Huy Hiệu Anh Dũng v� Ng�i Sao v�ng, huy chương Th�nh T�ch C�ng T�c Hỗn Hợp, Huy Chương Giải Thưởng C�ng Lao Danh Dự Bộ Ngoại Giao, v� mười bẩy bằng tuy�n dương của c�c đơn vị Hoa Kỳ v� ngoại quốc.

Trong c�ng bữa ăn tối kỷ niệm đ� tại Qu�n Tun Tavern, khi kh�ng �t lời đ�m thoại tất nhi�n hướng đến c�c c�u chuyện di tản từ khu�n vi�n T�a Đại Sứ Hoa Kỳ, t�n của Gerry Betty được nhắc lại bởi �t người.� V�o đ�ng l�c ấy, Betty, kẻ được mời tới Quantico bởi hiệp hội, ở c�ch xa một lục dịa, đang được chi�u đ�i như kh�ch danh dự tại Bảo T�ng Viện Flying Leatherneck Aviation Museum tại Miramar, California, nơi chiếc m�y bay cũ của anh ta, chiếc CH-46 Sea Knight, Lady Ace 09, được đặt để trưng b�y thường trực.

Tiếp theo sau sự sụp đổ của S�ig�n, Betty đ� thăng tiến một c�ch vững chắc qua c�c cấp bậc của binh chủng, phục vụ tại c�c nhiệm sở quanh thế giới v� đ� theo học tại cả Trường Cao Đẳng Tham Mưu v� Chỉ Huy Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến v� Cao Đẳng Chiến Tranh Hải Qu�n, từ đ� anh đ� đạt được một bằng cao học về nghi�n cứu chiến lược.� Tại nhiệm sở cuối c�ng của anh, khi đ� đ� được thăng cấp đại t�, Betty đ� chỉ huy hơn s�u mươi m�y bay v� 3,000 Thủy Qu�n Lục Chiến v� thủy thủ yểm trợ c�c hoạt động của hạm đội trong Chiến Dịch Tấm Khi�n Sa Mạc.� Trong khi phục vụ, anh cũng t�m giờ để kiếm được một bằng cao học từ trường Salve Regina College, điều tốt hơn nữa, c� lẽ, l� việc th�n phục c�c họa kiểu phức tạp tr�n ba Huy Chương Phi H�nh Xuất Sắc, hai huy chương Chiến C�ng, hai Huy Chương Kh�ng Qu�n Phi Vụ Đơn Th�n, một Huy Chương Tuy�n Dương Hải Qu�n, v� D�y Biểu Chương Hoạt Động Chiến Đấu v� bốn mươi s�u Huy Chương Kh�ng Qu�n.� V�o l�c hồi hưu khỏi Binh Chủng trong năm 1993 sau hai mươi lăm năm phục vụ, Betty đ� thu thập được hơn 4,800 tổng số giờ bay.� Ng�y nay, Betty, kẻ đ� tiến tới việc th�nh lập một c�ng ty an ninh phi h�nh, chia đ�i thời giờ giữa Florida v� tiểu bang qu� qu�n của anh ở Montana.

Số phận của c�c Thủy Qu�n Lục Chiến l� những kẻ sau c�ng r�t ra khỏi S�ig�n bao gồm từ vui vẻ đến chua ch�t.� Tại cuộc t�i ngộ, c�c lời cầu nguyện im lặng được khấn cho hai �Bobbys� đ� từ trần � Schlager v� Frain.� Người kể t�n trước, kẻ m� c�ng t�c tại S�ig�n l� lần c�ng t�c thứ ba của anh ở Việt Nam, đ� phục vụ hai mươi ba năm trong Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến trước khi hồi hưu v� trở th�nh gi�m thị kiểm tra phẩm chất cho một c�ng ty tại tiểu bang Washington.� Anh vẫn c�n l� một kẻ th�ch hoạt động ngo�i trời nhiệt th�nh, đi bộ v� cắm trại khắp v�ng T�y bắc Pacific cho đến khi đời sống của anh bị cắt ngắn bởi chứng ung thư, trong Th�ng Hai 2003, ở tuổi s�u mươi hai.

Trong trường hợp của Frain, anh đ� ra khỏi Thủy Qu�n Lục Chiến kh�ng l�u sau S�ig�n, v� c�c chiến hữu của anh đ� mất sự tiếp x�c với anh ta cho m�i đến 1992, trước khi c� sự từ trần của anh kh�ng l�u.� �The Body Beautiful� [ức đo�n l� biệt hiệu của anh ta, ch� của người dịch] đ� vươn ra ngo�i trong một l� thư gửi cho vi�n trung sĩ cao nhất ng�y trước của anh, Juan Valdez.� Frain đ� viết rằng sau khi anh xuất ngũ khỏi Binh Chủng trong năm 1975, anh đ� di chuyển về lại v�ng T�y Bắc Th�i B�nh Dương [Pacific Northwest, tức v�ng Tiểu Bang Washington, ch� của người dịch], theo học đại học, đ� đỗ bằng cử nh�n về t�i ch�nh doanh nghiệp v� quản trị doanh nghiệp, v� đ� khởi sự một chức nghiệp d�n sự như một ph�n t�ch vi�n ng�n s�ch cho Bộ Năng Lượng Tiểu bang Washington.� Trong c�c thập ni�n kế tiếp, anh đ� l�m cha bốn �đứa con g�i xinh đẹp�, song cũng trải qua ba mươi cuộc giải phẫu v� bệnh ung thư v� chứng bệnh Crohn.

�Ch�ng ta tất cả đều bị n�m m�nh v�o một thời điểm v� kh�ng gian sẽ tồn tại như một phần của lịch sử�, Frain đ� đ� kết th�c bức thư của anh gửi cho Valdez.� �C� một mối r�ng buộc kh�ng thể n�o diễn tả bằng từ ngữ sẽ m�i m�i nối kết ch�ng ta�.� Nỗi đau đớn của c�c bệnh tật n�y th� qu� nhiều để nhận l�nh, Frain đ� tự tử trong năm 1993.

Cả hai Bobby Frain v� Bobby Schlager đều đ� được ch�n tại Nghĩa Trang Quốc Gia Willamette tại Richland, Washington.

Tương tự, bất kỳ khi n�o t�n của �Silent� Phil Babel được n�u l�n tại cuộc họp mặt, n� lu�n lu�n được n�i trong giọng điệu n�n lặng.� Kh�ng l�u sau cuộc di tản, c�c đồng sự Thủy Qu�n Lục Chiến của anh đ� mất tiếp xục với Babel, v� để trả lời c�c sự tra hỏi của họ, anh ta n�i r� r�ng anh đ� kh�ng muốn d�nh d�ng g� với họ.� Sau khi hay biết được sự từ trần của Frain, Valdez đ� thực hiện một nỗ lực phối hợp để vươn tới Babel bằng c�ch du h�nh đến nh� anh ta ngoại � San Antonio.� Babel đ� từ chối gặp anh, v� Valdez đ� bị xua đuổi ra khỏi cổng trước bởi b� vợ của Babel.

Mặt kh�c, t�n của Duane Gevers, chỉ mang lại c�c nụ cười mỉm v� tiếng cười lớn.� Sau khi Gevers rời khỏi Thủy Qu�n Lục Chiến trong năm 1977, anh dường như đ� biến mất khỏi mặt đất cho m�i đến trong thập ni�n 1980, c�c cựu đồng sự PVANTQLC bắt đầu nhận được c�c c� điện thoại từ anh n�i nỉ họ gia nhập c�ng với anh ta tại Saudi Arabia, nơi Vua Chợ Đen [Black Market King, biệt hiệu của Gevers, ch� của người dịch] đ� đạt được một hợp đồng từ một �ng ho�ng Saudi nổi tiếng để cung cấp an ninh.� Ng�y nay, Gevers vẫn c�n đang đảm tr�ch v� vận tải h�ng h�a như một người l�i xe tải đường d�i.

Kh�ng �t c�c PVANTQLC ở S�ig�n tiếp nối sự phục vụ trong Thủy Qu�n Lục chiến của họ bằng c�c chức nghiệp trong sự chấp h�nh luật ph�p.� �Big� John Ghilain, người đ� rời khỏi S�ig�n tr�n chiếc trực thăng thứ nh� ngay trước chiếc sau c�ng, đ� giải ngũ trong năm 1977 v� gia nhập Ph�ng Cảnh S�t Medford, Massachusetts, nơi anh ta vẫn c�n đang phục vụ với tư c�ch sĩ quan tuần cảnh cũng như một th�nh vi�n của Đội Ph�ng Vệ Danh Dự của Ph�ng n�y.� Ghilain cũng l� ph� chủ tịch của Hiệp Hội The Fall of Saigon Association v� vẫn c�n t�ch cực trong c�ng việc cấp ph�t học bổng d�nh cho sự tưởng nhớ McMahon v� Judge.

Dave Norman đ� r�i khỏi Binh Chủng trong năm 1976 để t�m kiếm một cấp bằng đại học, v� khi l� một sinh vi�n, anh đ� được tuyển dụng bởi Văn Ph�ng Cảnh S�t Trưởng Quận Greene County (tiểu bang Ohio), l�m việc trong c�c c�ng t�c ch�m chống nha phiến.� Ba năm sau, anh được tuyển l�m một sĩ quan to�n thời gian bởi ph�ng cảnh s�t Piqua, Ohio, v� bốn năm sau được thuy�n chuyển đến Văn Ph�ng Cảnh S�t Trưởng Quận Miami, cũng thuộc tiểu bang Ohio.� Anh đ� đỗ bằng cao học ng�nh tư ph�p h�nh sự v� vẫn c�n l� một th�m tử của Quận Miami.

Steve Bauer đ� đi một v�ng quanh co hơn đến ph� hiệu thi h�nh luật ph�p của anh.� Anh đ� phục vụ trong hai mươi năm trong Binh Chủng, theo sau sự bố tr� to�n PVANTQLC S�ig�n với c�c nhiệm sở tại San Diego, Alaska, Okinawa, v� Coronado, California, trong c�c chức vụ thay đổi như trung sĩ trung đội bộ binh, giảng vi�n huấn luyện, li�n lạc Thủy Qu�n Lục Chiến với Lục Qu�n Hoa Kỳ, v� H� Sĩ Quan Phụ Tr�ch [NCOIC: Non-Commisioned In Charge, ch� của người dịch] của một Đơn Vị Th�m Th�nh Thủy Bộ.� Anh được tuyển cho l�n chuẩn �y v� trong Chiến Dịch Trận B�o Sa Mạc đ� phục vụ với tư c�ch sĩ quan [vũ kh�] h�a chất, sinh học, hạt nh�n của Sư Đo�n Thủy Qu�n Lục Chiến Thứ Nhất.� Theo sau Chiến Dịch Trận B�o Sa Mạc, anh đ� quay trở lại Trại Camp Pendleton với tư c�ch vi�n chức chấp h�nh của một c�ng ty giảng huấn v� đ� hồi hưu trong năm 1992.� Trong khi phục vụ, Bauer đ� lấy một nữ thủy thủ Hải Qu�n, v� khi c� vợ được chuyển về Newport, Rhoda Island, anh đ� di chuyển sang miền đ�ng v� bắt đầu đi học trường luật.� Nhưng khi vợ anh lại được thuy�n chuyển một lần nữa, về Pensacola, Florida, anh đ� bỏ trường luật v� đ� khởi sự một chức nghiệp thứ nh� với Ph�ng Cảnh S�t Pensacola, nơi anh vẫn c�n phục vụ với tư c�ch một trung sĩ tuần cảnh.

Terry Bennington, kẻ c� mặt trong cuộc t�i ngộ, đ� chuyển từ S�ig�n sang một nhiệm sở Ph�ng Vệ An Ninh Thủy Qu�n Lục Chiến tại Vienna, �o Quốc.� Anh đ� l� một trong c�c PVANTQLC đang c�ng t�c trong năm kế tiếp khi Tổng Thống Ford bị trượt t� nổi tiếng xuống từ thang m�y bay trong cuộc thăm viếng nước �o của �ng.� Khi Tổng Thống Ford hay biết rằng Bennington đ� l� một trong c�c Thủy Qu�n Lục Chiến sau c�ng rời khỏi S�ig�n, tổng thống đ� mời vi�n hạ sĩ quan gặp �ng một c�ch ri�ng tư trong một cuộc đ�m thoại ba mươi ph�t trong đ� Bennington �đ� c�m ớn �ng đ� lấy ch�ng t�i ra khỏi đ�.� Sau đ� trong buổi tối, Betty Ford [vợ Tổng Thống Ford, ch� của người dịch] đ� điện thoại cho anh lấy địa chỉ bố mẹ anh để b� c� thể gửi cho họ một bức ảnh chụp của anh với �ng Ford.

Bennington đ� hồi hưu khỏi Binh Chủng với cấp bực thượng sĩ (sergeant major) trong năm 1995, sau khi đ� phục vụ hai mươi bốn năm.� Anh đ� trở th�nh một huấn luyện vi�n L�nh Trừ Bị Junior ROTC tại Quận Henrico, tiểu bang Virginia, v� bốn năm sau đ� đ� bắt đầu l�m việc cho ch�nh quyền li�n bang tại Quantico với tư c�ch một ph�n t�ch vi�n c�c sự giả c�ch (simulations).� Bennington hiện l� ph� gi�m đốc Ban Huấn Luyện C�c Sự Giả C�ch, Huấn Luyện v� Gi�o Dục Chỉ Huy, nhằm ph�t triển c�c phương ph�p để cứu sinh mạng của nh�n vi�n Mỹ đang phục vụ tại A Ph� H�n v� Irap, nơi con trai của anh đ� phục vụ hai lần với tư c�ch một Thủy Qu�n Lục Chiến.

Steve Schuller đ� đ�ng g�p hai mươi năm (v� hai mươi bốn ng�y) cho qu�n vụ v� về hưu từ Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến v�o năm 1991 với cấp bậc trung sĩ xạ thủ (gunnery sergeant) � nhưng kh�ng phải trước khi thực hiện được giấc mơ của anh v� được điều động sang Okinawa với tư c�ch một �bộ binh si�u tuyệt� (super grunt) của tổ Trinh S�t Sư Đo�n Thủy Qu�n Lục Chiến Thứ Ba.� Anh c� n�i m�nh �đ� trải qua c�c năm tốt nhất của cuộc đời� khi sống ở bụi c�y �phục k�ch� c�c đại đội đi bộ Thủy Qu�n Lục Chiến thay nhau lu�n phi�n đi xuy�n qua rừng của Okinawa, nhưng cảnh huống gần nhất với chiến đấu l� việc huấn luyện với đạn thật c�ng C�c Thủy Qu�n Lục Chiến Đại H�n D�n Quốc.� Nằm giữa nhiệm vụ Trinh S�t l� sự bố tr� PVANTQLC cuối c�ng hậu S�ig�n sang New Delhi, Ấn Độ, v� sau n�y thi h�nh v�i c�ng t�c trong nước, từ giảng vi�n huấn luyện tr�n Đảo Parris đến vi�n chức tuyển mộ tại cả tiểu bang qu� qu�n của anh ở Connecticut lẫn ở tổng h�nh dinh Thủy Qu�n Lục Chiến tại Hoa Thịnh Đốn.

Như một người d�n sự, Schuller đ� khởi lập một c�ng ty x�y dựng tu bổ nh� cửa v� trong năm 2001, gần ba mươi năm ng�y sau khi anh rời n�ng trại của mẹ anh để bắt đầu cuộc phi�u lưu trong Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến, anh đ� quay trở về mảnh đất tại v�ng t�y bắc Connecticut nơi m� anh c�ng người vợ di chuyển v�o ng�i nh� m� họ x�y dựng đối diện với c�nh đồng của trang trại thuộc gia đ�nh anh, chỗ họ vẫn đang sinh sống.

Mike Sullivan tiếp tục ở lại trong Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến v� hồi hưu trong Th�ng Một 1988 sau khi phục vụ trong hai mươi mốt năm.� Anh đ� quay lại trường đại học v� đỗ bằng cao học về h�nh ch�nh c�ng quyền c�ng l�c khi anh đang l�m việc tại Đại Học National University với tư c�ch cố vấn t�i ch�nh cho c�c sinh vi�n.� Sau khi nhận được văn bằng, Sullivan đ� l�m việc cho hệ thống t�a �n thuộc Quận Orange County, California, ở cả c�c ban h�nh sự lẫn khiếu nại nhỏ nhặt.� Anh đ� rời c�ng việc trong năm 1993 để trở th�nh người chăm s�c to�n thời gian cho đứa con trai, Sean, bị mắc ch�ng loạn dưỡng bắp thịt (muscular dystrophy).� Anh đ� l�m c�ng việc n�y cho đến Th�ng Mười Hai, 2009, khi Sean bị mất.� Theo Sullivan, �Kể từ đ� vợ t�i v� t�i vẫn c�n đang cố gắng để b�m giữ lấy cuộc sống kh�ng c� ch�u Sean�.

Tiếp theo sau cuộc di tản của S�ig�n, Jim Kean ở lại trong Binh Chủng trong t�m năm nữa, hồi hưu với cấp bậc trung t� trong năm 1983 sau hơn hai mươi ba năm qu�n vụ.� Anh đ� sử dụng sự lưu lo�t Hoa ngữ v� kinh nghiệm của anh tại Đ�ng Nam � để th�nh lập ra Yankee Traders, một c�ng ty xuất-nhập cảng c�c sản phẩm � Ch�u, v� đ� đ�nh cuộc sự th�nh c�ng của sự kinh doanh đ� v�o việc mua lại một c�ng ty kh�c, Pacific Grinding Wheel, tại Marysville, tiểu bang Washington.� Trong năm 1998, anh đ� về hưu khỏi c�ng việc d�n sự v�, với tất cả năm đứa con đ� trưởng th�nh của họ v� đều đ� tự lập, anh v� Rosanne đ� dọn đến Cummaquid, Massachusetts, nơi anh ta dự định viết quyển tự truyện của m�nh.� Sinh hoạt h�ng ng�y của anh bao gồm c�c v�ng bơi buổi s�ng tại một hồ tắm địa phương, v� v�o ng�y 5 Th�ng Năm, 2008, khi ra khỏi hồ tắm, anh bị cơn đau tim g�y chết người.� Anh được ch�n cất tại Nghĩa Trang Quốc Gia Massachusetts ở Bourne.

Được nhớ nhung da diết tại cuộc t�i ngộ 2010 l� Trung Sĩ Juan Valdez.� Ở tuổi bẩy mươi hai, bộ r�u m�p dầy, rậm rạp của �Frito Bandito� giờ đ�y đ� ho�n to�n ngả bạc nhưng c�ch n�o kh�c, anh vẫn c�n trong t�nh trạng sẵn s�ng chiến đ�u.� Valdez, kẻ điều khiển với tư c�ch chủ tịch Hội The Fall of Saigon Association từ ng�i nh� của anh tại Miền Nam California, đ� dự định tham dự biến cố cuối tuần sau khi ngừng ch�n ngắn ngủi tại th�nh phố qu� qu�n của anh ở San Antonio, Texas.� Nhưng anh đ� ng� bệnh v� cảm c�m tr�n chuyến xe hỏa chở anh sang miền đ�ng v� đ� miễn cưỡng quay trở về California.� Anh đ� ho�n to�n hồi phục.

Vi�n Trung Sĩ Thượng Đẳng đ� trải qua ba mươi năm trong Binh Chủng Thủy Qu�n Lục Chiến y�u dấu của anh, kể cả c�c nhiệm vụ PVANTQLC tại Vienna v� Brusseks.� Anh cũng đ� phục vụ như một Qu�n Cảnh (MP) lưu th�ng bằng xe gắn m�y tại Hawaii, v� trong một c�ng t�c biệt tr� tại Trại Pendleton trong Th�ng S�u 1985 anh đ� được thăng l�n cấp bậc cao nhất d�nh cho qu�n nh�n đăng l�nh của Binh Chủng, ch�nh trung sĩ ph�o thủ (master gunnery sergeant).� Anh đ� ho�n tất chức nghiệp qu�n sự hiện dịch tại Trại Camp Pendleton trong Th�ng S�u 1985 v� đ� chọn v�ng s�t ph�a bắc của San Diego l�m nơi ở.� Trong mười hai năm sau ng�y hồi hưu, Valdez đ� l�m phụ t� quản l� nh� ở của Cơ Quan Gia Cư Cho C�c Gia Đ�nh Trong Trại của Trại cho đến khi hồi hưu sau c�ng khỏi c�ng việc d�n sự trong năm 1997.

L� một người học hỏi th�m ni�n về bất kỳ v� mọi điều k�ch th�ch anh ta, trong suốt chức nghiệp l�u d�i của m�nh, Valdez đ� đỗ c�c bằng cao đẳng về lịch sử nghệ thuật v� quản trị v� gi�m s�t tư ph�p h�nh sự, địa ốc, v� quản trị kh�ch h�ng.� Anh đang tiếp tục theo học c�c Trường Cảo Đẳng Cộng Đồng tại Palomar v� MiraCosta, với c�c dự định chuyển tiếp l�n Đại Học Uinersity of California tại San Marcos �trong tương lai gần�.

Sau bữa ăn tối tại Qu�n Tun Tavern v�o đ�m ng�y 1 Th�ng Năm 2010, một số c�c bạn chưa sẵn s�ng về nh�.� Khoảng một t� đ� lang thang đến Command Post (Qu�n Đồn Chỉ Huy), một qu�n rượu được ưa th�ch tại căn cứ Quantico, nơi c�c chiếc b�n được lại lại s�t nhau để mọi người c� thể ngồi v� n�i chuyện.� C�c tấm ảnh mới được chụp v� c�c ảnh cũ được chuyền quanh, c�c k� ức được chia sẻ v� tranh luận, c�c ly rượu được gọi (v� t�i gọi).� Đ� c� đầy tiếng cười khi c�c người nhắc lại sự t� điểm việc chiến đấu từ l�u của họ [?, đoạn n�y viết kh� hiểu, sai văn phạm v� kh�ng r� nghĩa, ch� của người dịch] được ph�ng đại cho nhau về một biến cố định h�nh đời sống của họ ba mươi lăm năm trước đ�y.

Đến l�c kết th�c cuộc họp mặt ngẫu nhi�n n�y, th�i độ đột nhi�n trở n�n buồn rũ khi John Ghilain v� Dwiight McDonald, ngồi ở đầu dẫy b�n nối d�i, b�y tỏ sự hối tiếc rằng ti�an biệt ph�i PVANTQLC S�ig�n đ� để lại hai người khi họ rời khỏi th�nh phố.� �Cho đ�n ng�y h�m nay, t�i vẫn mong muốn rằng ch�ng ta đ� mang được c�c Thủy Qu�n Lục Chiến đ� về nước với ch�ng ta�, McDonald th� thầm, v� c�c chiếc đầu quanh b�n đ� gật g� một c�ch im lặng.

Sau đ� kh�ng c�n g� để n�i.� Đ� đến l�c quay về nh� , v� để cho c�c cựu Thủy Qu�n Lục chiến n�y tiếp tục đời sống của họ./-

--

Nguồn: Bob Drury & Tom Clavin, Last Men Out, The True Story of America�s Heroic Final Hours in Vietnam, Free Press: New York, London, Toronto, Sydney, 2011, chapter Epilogue, c�c trang 251-262; Postscript, c�c trang 263-271..�

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

15.04.2013    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2013