Anthony Reid

 

C�C CĂN NGUY�N

CỦA SỰ NGH�O Đ�I

CỦA MIỀN Đ�NG NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

���� B�i dịch dưới đ�y l� Chương 10 của quyển khảo cứu nhan đề Charting The Shape of Early Modern Southeast Asia, của Anthony Reid, do nh� xuất bản Silkworm Books ấn h�nh tại Chiang Mai, Thailand, 1999, trong đ� t�c giả đ� n�u ra c�c nhận định quan trọng như sau:

 

1.    Sự ngh�o đ�i của Đ�ng Nam � hiện đại, đặc biệt l� của v�ng Việt Nam, L�o, Cam Bốt �v� Miến Điện l� một t�nh trạng bi thảm.

 

2.    Căn nguy�n ch�nh yếu của sự ngh�o đ�i của Đ�ng Nam � l� do (c�c ch�nh quyền thực d�n đ� đến) triệt hủy c�c căn bản sản xuất c�ng nghiệp, ngăn cản sự tạo lập tư bản, v� ch�nh s�ch bần c�ng h�a đại đa số d�n ch�ng c�c xứ Đ�ng Nam � �

 

3.    Giới cầm quyền bản xứ cũng g�p phần kh�ng nhỏ trong việc tạo ra sự ngheo đ�i n�y qua ch�nh s�ch bế quan tỏa cảng, ngăn cấm d�n ch�ng bu�n b�n hay l�m gi�u để giừ quyền kiểm so�t ch�nh trị tr�n d�n ch�ng, kh�ng ch� trọng đến việc đầu tư v�o đất đai hay c�c phương tiện sản xuất m� chỉ nhắm v�o việc b�c lột sức lao động của người d�n��

 

Người đọc dễ d�ng r�t ra kết luận rằng c�c ch�nh quyền ng�y nay phải chịu mọi tr�ch nhiệm về t�nh trang ngh�o đ�i k�o d�i cho đến hiện tại, bởi c�c chế độ thực d�n đ� c�o chung cả hơn nửa thế kỷ./-

 

 

***

����

 

���� Sự ngh�o đ�i của Đ�ng Nam � hiện đại l� một sự kiện bi thảm.� N�i một c�ch tương đối, GNP tức Tổng Sản Lương Quốc Gia Gộp tr�n mỗi đầu người của Indonesia, Miến Điện v� Đ�ng Dương bằng nửa con số của Trung Hoa, một phần năm của Thổ Nhĩ Kỳ, một phần ba mươi của �c Đại Lợi hay T�n T�y Lan.� Về mặt nh�n sinh, một tỷ lệ đ�ng kể trong d�n số của ch�ng sống trong t�nh trạng y tế tồi tệ, nh� cửa tạm bợ, kh�ng c� đất đai hay cơ hội l�m việc để tự cung cấp cho m�nh đầy đủ thức ăn. 1

 

���� C�c nguy�n do của sự ngh�o đ�i thường được thảo luận bởi c�c nh� kinh tế, đ�i khi bởi c�c nh� x� hội học.� C�c sử gia c� khuynh hướng n� tr�nh c�c nguồn cội trường kỳ của vấn đề, c� lẽ bởi sự giả định rằng vấn đề kh�ng c� thực.� C�c căn nguy�n của chủ nghĩa tư bản v� của cuộc c�ch mạng kỹ nghệ nằm ở �u Ch�u, v� v� thế c�c duy�n cớ cho một khoảng c�ch m�nh m�ng trong c�c ti�u chuẩn sinh hoạt giữa �u Ch�u v� nam � Ch�u trong thế kỷ thứ hai mươi cũng được giả định l� nằm ở �u Ch�u.� Sự vươn dậy của chủ nghĩa tư bản �u Ch�u l� một chủ đề của một nền văn chương sống động, mặc d� n� kh� c� thể được n�i l� sẽ giải quyết được c�u hỏi rằng liệu ch�ng ta c� cần phải nh�n v�o sự tăng trưởng của c�c th�nh phố thời trung cổ, đến một sự thặng dư lao động tại v�ng th�n qu� thời phong kiến, đến c�c s�ng kiến của triều đ�nh hay [c�c kẻ được] tước phong, hay đến c�c yếu tố của văn h�a Thi�n Ch�a Gi�o để t�m kiếm mấu chốt trung t�m hay kh�ng.� Sự giả định đằng sau c�i nh�n đơn phương n�y rằng sự động lực của sự thay đổ năm ở �u Ch�u trong khi phần lớn v�ng c�n lại của thế giới, kể cả miền Đ�ng Nam �, đ� l� một loại t�nh trạng thường xuy�n � tương đối bất động v� kh�ng thay đổi.

 

���� Trong thực tế, sự thay đổi đ� l� quy luật tại Đ�ng Nam � y như l� ở �u Ch�u, v� ch�ng ta phải nh�n v�o m� thức của sự thay đổi n�y để hiểu được cả c�c k�ch thước tương đối lẫn tuyệt đối của sự ngh�o đ�i.� Để hiểu hoặc sự gi�u c� gia tăng của �u Ch�u hay sự ngh�o đ�i gia tăng của Đ�ng Nam �, ch�ng ta phải nh�n v�o cả hai vế của phương tr�nh � kh�ng phải bởi v� ch�ng nhất định lệ thuộc v�o nhau (mặc d� một số người c� tranh luận về điều đ�), m� bởi v� ch�ng ta chỉ c� thể nh�n thấy điều g� l� quan trọng v� điều g� c� t�nh c�ch độc đ�o trong sự ph�t triển của một g�c n�y của thế giới qua việc so s�nh với c�c phần đất đ� ph�t triển một c�ch kh�c biệt kia.

 

���� Ai cũng biết l� ch�ng ta kh�ng c� c�c số thống k� đ�i chiếu cho thế kỷ thứ mười s�u hay sớm hơn trước, v� c�c sự ph�n đ�an chỉ c� thể được đưa ra dựa tr�n căn bản c�c cảm tưởng của người du h�nh.� May mắn ch�ng ta được thừa hưởng kh� đầy đủ c�c sự tường thuật như thế cho thời kỳ khoảng 1600, v� k�m hơn đ�i ch�t cho thế kỷ trước đ�.� Ch�ng ta c� thể giả định rằng c�c bản tường thuật của Trung Hoa v� �u Ch�u được viết d�nh cho c�c độc giả ở trong nước vốn c� khuynh hướng ch� t�m đến c�c sự việc đập v�o họ như chuyện kh�c thường.� Khi c� sự im lặng về một kh�a cạnh của cuộc sống h�ng ng�y, điều đ� thường c� thể được giả định bởi v� kh�ch du h�nh thấy n� kh�ng c� g� ngạc nhi�n v� tương tư như c�c t�nh trạng ở qu� nh�. �

 

���� Tr�n căn bản n�y, xem ra c� thể ức đ�an rằng v�o khoảng 1600 người d�n Đ�ng Nam � miền biển cũng cao v� sống l�u gần như c�c người �u Ch�u, v� nếu c� điều g� kh�c lạ ch�nh l� sự �khoẻ mạnh hơn.� Trong một �t trường hợp nơi m� c�c kh�ch du h�nh đề cập đến khổ người của d�n Đ�ng Nam �, một c�ch điển h�nh họ thường ghi nhận họ c� chiều cao �trung b�nh nhưng với v�c d�ng cường tr�ng v� rất c�n đ�i một c�ch kh�c thường.� Sau t�m năm tại đảo Sumatra trong thế kỷ thứ mười t�m, Marden �hiếm c� thể nhớ lại l� đ� nh�n thấy một người dị dạng trong c�c d�n bản xứ�, v� c�c b�o c�o sớm hơn x�c nhận m� thức n�y (Marden 1811, 44; Goens 1956, 185).� Khi khoảng sinh thời của người Phi Luật T�n hay Nam Dương được n�i đến, gần như l�c n�o cũng c� sự ganh tỵ về viễn ảnh r� r�ng kh� hơn c�c người d�n �u Ch�u.� �Người d�n đảo Java n�i chung dần trở n�n rất thọ, đ�n �ng cũng như đ�n b�, t�c giả van Goens đ� b�o c�o trong năm 1656, trong khi một người T�y Ban Nha đ�ng tin cậy ghi nhận rằng c�c người Visayans �ở tuổi l�o ni�n với một sức khỏe tuyệt hảo�.� Maluku đ� c� danh tiếng về tuổi thọ đặc biệt trong thế kỷ thứ mười s�u d� rằng nạn t�n s�t, ph� hủy v� đ�i k�m diễn ra khi người H�a Lan đặt ch�n đến Banda v� với mức độ k�m hơn ở Ambon đ� l�m thay đổi tiếng tăm n�y một c�ch quyết liệt v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười bẩy (Reid 1988, 48).

 

���� Bởi v� sinh thời trung b�nh của c�c người �u Ch�u trong giai đoạn n�y thường được ước lượng chỉ v�o khoảng hai mươi hay ba mươi tuổi, ch�ng ta kh�ng cần giả định về một mức độ đ�ng kể trong tuổi thọ về ph�a người d�n Đ�ng Nam �.� Tuy nhi�n, điều m� ch�ng ta biết được rằng c�c phương thức y tế của thời kỳ đ� c� g�p phần v�o sức khoẻ tương đối l�nh mạnh của họ.�� C�c người �u Ch�u đ� lấy l�m kinh ngac về sự ph� b�y c�c phương thuốc bằng dược thảo, cũng như bằng c�ch xoa b�p, trong việc chữa trị bệnh tật, trong khi người � Ch�u ngại ngần trước sự tin tưởng đương thời của �u Ch�u v�o việc để cho rỉ m�u v� dựa nhiều v�o thuật giải phẫu vụng về.� Cho m�i đến đầu thế kỷ thứ mười ch�n, t�c giả Crawfurd h�y c�n ngạc nhi�n về sự vắng mặt của sự sưng tấy hay nhiễm độc đi liền với c�c vết thương � được nghĩ l� nhờ ở sự hữu hiệu của c�c dược thảo s�t tr�ng (Crawfurd 1820, I: 31-2).

 

���� Điều nổi bật hơn nữa l� sự vắng mặt của bất kỳ sự đề cập n�o đến t�nh trạng ngh�o khổ nơi c�c du kh�ch ban đầu đến thăm v�ng Quần Đảo.� C� c�c sự tham chiếu đến sự tương đối đơn giản v� t�nh sơ khai của c�c cộng đồng xa xăm hơn; v� đến một tỷ lệ l�n lao trong d�n ch�ng bị xem ở v�o t�nh trạng n� lệ.� Đồ đạc trong nh� người ngh�o được ghi nhận rất đơn giản, với t�i sản ch�nh yếu của c�c tầng lớp thấp k�m c� vẻ được đầu tư v�o c�c đồ trang sức bằng v�ng v� c�c vũ kh�.� Tuy nhi�n, t�i kh�ng t�m thấy bằng cớ n�o về nạn thiếu thực phẩm, chết đ�i, v� t�nh trạng tang thương, như thường xảy ra tại Ấn Độ, Trung Hoa, hay trong thực tế tại �u Ch�u v�o thời buổi đ�.� Hiển nhi�n, c�c l� do của t�nh trạng n�y th� kh� r� r�ng.� C�c trận mưa tương đối ổn định; �p lực d�n số rất thấp; v� nếu số thu hoạch n�ng sản chinh về l�a gạo c� bị mất m�a, đ� c� nhiều thực phẩm thay thế kh�c để dựa v�o, bao gồm c�y cọ, chuối, dừa, c� v� một loạt c�c loại củ v� tr�i c�y, tất cả c�c thứ đều c� được tiếp cận hầu như bởi mọi người.� Chỉ ở trong t�nh trạng di cư g�y ra bởi chiến tranh ch�ng ta mới nh�n thấy một số lượng lớn người bị chết đ�i � hoặc l� c�c t� nh�n hay như người tỵ nạn.

 

���� Ở đối cực kia của quang cảnh l� c�ng sự phong ph� v� sự ti�u d�ng xa hoa như được nhận thấy nơi c�c triều đ�nh v� c�c trung t�m mậu dịch của c�c phần đất kh�c thuộc thế giới � Ch�u v� Địa Trung Hải.� Tại Aceh v� tại Brunei nh� vua đ�i kh�ch với những bữa tiệc trong đ� h�ng t� c�c đĩa dọn thức ăn l�n đều l�m bằng v�ng.� L�nh Ch�a v�ng Ternate l�m Drake kinh ngạc với quần �o sang trọng may bằng chỉ v�ng v� �x�u chuỗi bằng v�ng tuyệt hảo� đeo quanh cổ �ng ta (Drake 1580, 70) [? kh�ng thấy ghi t�n t�c phẩm trong nguy�n bản, ch� của người dịch], trong khi quần �o lộng lẫy v� c�c con dao găm quăn lưỡi cẩn ngọc của giới qu� tộc tại Banten, Makasar, v� c�c trung t�m kh�c thường được ghi nhận.� C�c thương nh�n gi�u c� nhất của Melaka nổi tiếng l� c� nhiều v�ng; L�nh Ch�a Iskandar Muda của v�ng Aceh nu�i d�ng ba trăm thợ bạc trong cung điện của �ng ta; một nh� giải phẫu Đức Quốc được tặng thưởng bởi một thương gia biết ơn ở Banten đến ba trăm đồng rijksdaalders (Sejarah Melayu, 184; Beaulieu 1666, 90; Fryke 1692, 133).

 

���� Sự gi�u c� n�y ph�t sinh trực tiếp hay gi�n tiếp từ c�ng cuộc mậu dịch.� Trong kh�a cạnh n�y c�c th�nh phố v� quốc gia-th�nh phố của Đ�ng Nam � trong thế kỷ thứ mười s�u v� đầu thế kỷ thứ mười bẩy giống Venice, Genoa v� Antwerp hơn l� Delhi hay ngay cả Golconda.� C�n nổi bật hơn cả v�ng Đia Trung Hải, đ�y l� một miền �d�nh cho h�ng h�a� muợn c�ch diễn tả của Tom� Pires về Melaka.� N� nằm x�o ngang c�c con đường mậu dịch giữa Trung Hoa với một b�n l� Nhật Bản v� b�n kia l� Ấn Độ v� phưong t�y.� Ngo�i c�c gia vị của v�ng Maluku v� hạt ti�u đảo Sumatra, n� c� cung cấp c�c sản phẩm với số cầu lớn nhất tr�n c�c thị trường thế giới.� Nhiều người d�n của n� sống tr�n nước, bằng nghề đ�nh c� hay bu�n b�n, v� việc đ�ng thuyền v� l�i thuyền thuộc trong c�c kỹ năng được ph�t triển nhiều nhất.� Như Pyrard đ� ghi nhận v�o l�c đầu thế kỷ thứ mười bẩy, nguy�n cả miền li�n thuộc (interdependent) với nhau, đến nỗi �c�c d�n tộc n�y bị b� buộc phải duy tr� sự giao tiếp li�n tục với một d�n tộc kh�c, nh�m d�n n�y cung cấp những g� nh�m d�n kia kh�ng c� (Pyrard 1619, II: 169).� C�c th�nh phố như Melaka v� Aceh, v� c�c đảo như Ternate v� Tidore, hầu như ho�n to�n lệ thuộc v�o số gạo nhập cảng, việc m� ch�ng c� thể dễ d�ng trả tiền xuy�n qua hoạt động xuất cảng v� mậu dịch của ch�ng. �����������

 

���� Về mặt d�n số v� tầm mức mậu dịch của ch�ng, c�c th�nh phố thuộc Đ�ng Nam � c� vẻ đứng s�nh vai với c�c th�nh phố nhộn nhịp nhất của �u Ch�u trong thế kỷ thứ mười s�u.� Thất kh� để chạy trốn khỏi sự kết luận, nếu ch�ng ta so s�nh mọi con số ước lượng đương thời c� được, rằng Melaka đ� c� một d�n số gần một trăm ng�n người v�o khoảng 1500, rằng Aceh v� Brunei c� �t nhất ph�n nửa d�n số đ� v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười s�u, v� rằng Aceh, Banten, Ayudhya v� Makasar trong miền đều c� một trăm ng�n d�n v�o khoảng tiền b�n thế kỷ thứ mười bẩy.� Tại �u Ch�u trong thế kỷ thứ mười s�u chỉ c� Paris v� Naples l� chắc chắn c� d�n số ở mức tr�n một trăm ng�n người, v� nhiều trung t�m thực sự của hoạt động mậu dịch v� ph�t triển số nh� tư bản, kể cả London, Amsterdam, Genoa, v� Lisbon c� vẻ c� �t hơn năm mươi ng�n d�n trong thế kỷ thứ mười s�u. 2� �

 

���� Về mặt chuy�n chở bằng t�u, sự ước lương của Ruy de Araujo rằng đ� c� khoảng một trăm chiếc thuyền buồm tại Melaka, trong đ� �t nhất 30 chiếc l� của vị L�nh Ch�a v� c�c thương nh�n địa phương (S� 1954, I: 22), so ra vượt trội hơn đội thương thuyền của th�nh phố Venice, vốn được ước lượng thay đổi từ mười hai đến ba mươi lăm chiếc thuyến �lớn�, n�i chung c� sức trọng tải nhỏ hơn năm trăm tấn m� c�c chiếc thuyền buồm � Ch�u đ� đạt tới (Lane 1973, 480).� Một thế kỷ sau đ�, hạm đội chiến thuyền của Aceh bao gồm một trăm t�u đ�y bằng (galleys), một phần ba trong đ� được n�i l� lớn hơn bất kỳ chiếc thuyền n�o được đ�ng tại �u Ch�u (Beaulieu 1666, 106; Blair and Robertson 1903-9, IV: 134, 151, 161, 186).� Dĩ nhi�n, c�c prahu của M� Lai c� số lượng lớn gấp nhiều lần c�c t�u loại lớn n�y � qu� nhiều để c� thể ước lượng d� chỉ ở mức xấp xỉ.

 

���� Ngay d� ch�ng ta kh�ng thể x�c nhận sự ph�t biểu của Barbosa (1518, II: 175) rằng Melaka đ� l� �hảỉ cảng gi�u c� nhất với khối lượng thương nh�n bu�n sỉ đ�ng đảo nhất v� sự nhộn nhịp về hải vận v� mậu dịch tr�n to�n thế giới�, chắc chắn n� thuộc v�o h�ng ngũ hảỉ cảng quan trọng.� C�c con số của Tom� Pires về trị gi� số nhập cảng h�ng năm từ Ấn Độ kh�ng th�i tổng cộng v�o khoảng s�u trăm ng�n cruzados (Pires 1515, 269-72); Meilink-Roelofsx 1969, 87-8).� Con số n�y �t nhất phải được gấp đ�i để c� được tổng số nhập cảng h�ng năm của th�nh phố, hay gấp bốn lần tức 2.4 triệu cruzados để c� tổng số mậu dịch (nhập cảng + xuất cảng).� Nếu t�c giả Braudel (1972, I: 439-41) đ� ước lượng đ�ng về khối lượng m�ụ dịch của Valladolid l� 594,600 ducats = 560,000 cruzados (220 triệu maravadis) trong năm 1576; của Seville l� 4.297 triệu ducats = bốn triệu cruzados (1,590 triệu maravadis trong năm 1597; khi đ� điều r� rệt l� mậu dịch của Melaka v�o l�c bắt đầu thế kỷ trước khi c� nạn lạm ph�t khởi ph�t, đ� l� một trong những trung t�m mậu dịch lớn nhất tr�n thế giới.

 

���� Tuy nhi�n, tầm mức v� sự gi�u c� biểu thị của c�c th�nh phố n�y kh�ng n�n để dẫn dắt ch�ng ta đến việc kh�ng đếm xỉa đến một v�i sự kh�c biệt s�u xa với c�c th�nh phố của �u Ch�u, hay trong thực tế của Trung Hoa v� miền Trung Đ�ng.� C�c th�nh phố � Ch�u trong thế kỷ thứ mười s�u n�i chung đều lớn hơn c�c th�nh phố của �u Ch�u � Bắc Kinh, Edo (Tokyo), v� Constantinople đều lớn hơn bất kỳ th�nh phố n�o tại �u Ch�u � nhưng ch�ng ta biết rằng kh�ng phải từ c�c th�nh phố lớn n�y m� chủ nghĩa tư bản hiện đại được khai sinh ra.� C� một v�i sự kh�c biệt rất nổi bật đối với c�c th�nh phố thuộc Đ�ng Nam �, chắc chắn c� mang một dấu t�ch về th�nh quả tương đối của ch�ng trong một sự cạnh tranh kinh tế gay gắt hơn sắp xảy ra.

 

���� Trước ti�n, đ� kh�ng c� h�ng r�o ngăn c�ch giữa th�nh phố v� n�ng th�n.� �t th�nh phố của Đ�ng Nam � c� bức tường th�nh bao quanh th�nh phố, v� nơi ch�ng c� dựng l�n cốt yếu để bao quanh l�i cốt trong c�ng nơi m� kẻ cầm quyền v� giới đại qu� tộc của �ng ta thiết triều.� C�c th�nh phố trong bất kỳ trường hợp n�o hầu như kh�ng tr�nh khỏi việc trở th�nh c�c kinh đ� với trọn vẹn � nghĩa của từ ngữ đ�.� Trong phần lớn c�c ng�n ngữ của Đ�ng Nam �, kh�ng c� chữ để ph�n biệt giữa th�nh phố v� quốc gia � ch�ng l� một v� c� c�ng nghĩa.� Tr�n hết, như hậu quả của to�n thể t�nh trạng n�y, th�nh phố kh�ng thể l� một thế giới tự trị với c�c quyền tự do v� tr�ch nhiệm ri�ng của n�, ho�n to�n kh�c biệt với v�ng n�ng th�n.

 

���� Thứ nh�, kh�ng dễ d�ng để vạch ra một đường ranh giữa giới qu� tộc địa chủ với giới tư sản th�nh phố.� Đ� c� một sự thăng tiến lớn lao trong c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u, như ch�ng ta nh�n thấy từ gốc g�c của ba nh�n vật uy thế v�o l�c c� sự cập bến của người Bồ Đ�o Nha.� Nh�n vật Lakasama của Melaka v� kế đ� của Johor l� ch�u nội của một n� lệ tại v�ng Palembang trở th�nh người được sủng �i bởi L�nh Ch�a Mansur của Melaka; nh� cai trị quốc gia-th�nh phố ph�t đạt v�ng Japara l� ch�u của �một người lao động tại quần đảo Laue (Pontianak) với một sự d�nh d�ng rất �t với giới qu� tộc v� kh�ng gi�u c�, kẻ đ� tạo lập sự nghiệp mậu dịch của m�nh tại Melaka cho đến khi �ng ta đủ mạnh để thiếp lập một quốc gia-th�nh phố mới tại Java (Pires 1515, 187, 249).� Tương tự, kẻ l�nh đạo gốc Java tại Melaka, Utama di Raja, được n�i c� s�u ng�n �n� lệ� v� t�i sản khổng lồ, đ� đến Melaka v�o khoảng năm mươi năm trước đ� như một kẻ ngh�o kh� �thuộc tầng lớp hạ lưu� (Albuquerque 1557, III: 151).� Song ngay cả sự lưu động của c�c nh�n vật n�y như c�c nh� mậu dịch �ngoại quốc� tại Melaka mang lại một khoảng c�ch n�o đ� với nh� nước, họ đ� chỉ c� thể duy tr� sự gi�u c� v� quyền lực của m�nh trong nhiều thế hệ bằng c�ch h�a nhập với giới qu� tộc của th�nh phố v� nắm giữ hoạt động của một triều đ�nh � nếu kh�ng phải l� th�nh lập một quốc gia nhỏ b� của ch�nh họ.� Gi�u c� kh�ng th�i vẫn chưa đủ an to�n tr�nh khỏỉ sự tịch thu của kẻ cầm quyền, v� sự nổi danh chỉ c� thể được bảo vệ bởi một số đ�ng đệ tử c� vũ trang, hay bởi việc biến m�nh th�nh kẻ kh�ng thể thiếu được đối với nh� cầm quyền � hay trong thực tế cả hai.

 

���� Hệ thống phụ thuộc, thường được gọi l� t�nh trạng n� lệ bởi c�c người �u Ch�u, trong thực tế nằm ngay ở trọng t�m của sự điều h�nh c�c th�nh phố to lớn n�y.� Đất đai th� thừa thải v� bị xem l� kh�ng c� gi� trị nội tại trong c�c bộ luật của ph�n lớn c�c d�n tộc Đ�ng Nam �.� Thời tiết, sự bất an, v� giả thuyết về sự lưu động thường trực, tất cả chống lại sự t�ch lũy tư bản cố định dưới h�nh thức nh� cửa x�y dựng v� đồ đạc trong nh�.� Ch�nh nh�n lực đ� được xem như một nguồn t�i nguy�n khan hiếm v� như ch�a kh�a cho sự gi�u c�, quyền lực, v� vị thế [x� hội].� Tại Melaka, tại Banten, in Maluku, v� tại Phi Luật T�n, ch�ng ta được đoan chắc bởi c�c nguồn t�i liệu �u Ch�u rằng �sự gi�u c� của họ ho�n to�n nằm nơi c�c n� lệ�, v� sự lưu � d�nh cho vị thế của c�c n� lệ trong c�c bộ luật bản xứ x�c nhận điều n�y (Scott 1606, 142; Blair and Robertson 1903-9, III: 54, 197; Liaw Yock Fang 1976, 70-123).� Kh�ng phảỉ� chỉ c� c�c quan s�t vi�n �u Ch�u mới l� c�c kẻ bị sửng sốt bởi sự ho�nh h�nh của nạn �n� lệ�.� Một người Banten dược dẫn sang Amsterdam năm 1597 đ� b�y tỏ sự ngạc nhi�n của m�nh �rằng mọi người đều c� t�n ri�ng của ch�nh m�nh, v� đ� kh�ng c� một n� lệ hay người bị bắt giữ trong khắp nước�; trong khi đ� v�o t�m mươi năm sau Evelyn� ghi ch�p l� hai sứ giả của Banten tại London đ� �qu� sững sờ về c�ch thức m� luật ph�p của ch�ng ta đ� trao cho ch�ng ta đất đai gồm trong t�i sản của ch�ng ta, v� như thế nghĩ rằng ch�ng ta đều l� c�c �ng vua, bởi họ kh�ng thể n�o hiểu được l�m sao m� c�c thần d�n lại c� thể sở đắc được bất kỳ điều g� ở b�n ngo�i sự thỏa thuận của �ng Ho�ng của họ, họ tất cả đều l� n� lệ�.� (�Một B�o C�o Ch�n Thật về Chuyến Du H�nh Thuận Lợi, Ph�t Đạt v� Nhanh Ch�ng đến đảo Java v�ng Đ�ng Ấn Độ, được thực hiện bởi một đo�n 8 chiếc t�u của Amsterdam�, 1599, trong: De tweede schipvaart, I: 36-37; Evelyn 1955, 286).

 

���� Sau c�ng ch�ng ta phảỉ lập lại điểm cho rằng sự gi�u c� của c�c th�nh phố mậu dịch đ� kh�ng đ�ng g�p g� v�o sự t�ch lũy tử bản cố định hay tư bản thanh hoạt, ngoại trừ [những g�] nằm trong tay của c�c nh� cầm quyền hay một nh�m tuyển chọn (orang kaya) đủ mạnh để kh�ng cự lại được c�c đ�i hỏỉ của kẻ cầm quyền.� C�c nh� cầm quyền mạnh đưa ra �p lực to lớn tr�n c�c nh� mậu dịch thường tr�, tuy�n x�c quyền tịch thu t�i sản của họ khi từ trần, v� đ�i khi c�n h�nh quyết cả c�c thần d�n gi�u c� nhất hầu tịch thu t�i sản của họ, như được b�o c�o về L�nh Ch�a Mahmud của Melaka v� L�nh Ch�a Iskander Muda của v�ng Aceh (De tweede schipvaart 1942, II: 33; Blair and Robertson 1903-9, IV: 149; Beaulieu 1666, 108-9; Pires 1515, 258-9; La Loub�re 1691, 42; Vliet 1636, 51, 96).� Bởi thế, ngoại trừ một thiểu số được ưu đ�i trong v�ng tay triều đ�nh, c�c nh� mậu dịch Đ�ng Nam � học c�ch điều h�nh m� kh�ng c� c�c sự t�ch lũy lớn lao về tư bản.� Tom� Pires đ� giảỉ th�ch thời khoảng l�u hơn của c�c chuyến du h�nh bu�n b�n của M� Lai so với c�c chuyến đi của người Bồ Đ�o Nha với một nhận x�t bao qu�t rằng �bởi họ c� �t vốn liếng v� c�c thủy thủ l� c�c n� lệ, họ đ� thực hiện c�c chuyến du h�nh d�i hơn v� c� thể mang về lợi nhuận� Pires 1515, 220).� Tai Aceh, điều được ghi nhận trong năm 1643 rằng �c�c người mua h�ng h�a với số lượng lớn chỉ gồm như người thuộc Sở Quan Thuế �� Họ kh�ng c� sẵn tiền mặt để trả [cho bất kỳ thứ g�], v� kẻ sẽ h�an trả lại ch�nh m�nh bằng tiền mặt đ� phảỉ b�n cho c�c chủ tiệm l� c�c kẻ chỉ mua theo lố (corge; hai chục đơn vị) hay nửa lố, sao cho họ c� thể b�n lại trong c�ng ng�y tại cửa h�ng tạp h�a� (IOL, ẻ3/18, f. 282v).� Người H�a Lan, người Anh, người Trung Hoa mau ch�ng nhận thấy rằng phương c�ch duy nhất để thực hiện cuộc mậu dịch đ�ng kể tại phần lớn khu vực l� ứng trước vải v�c cho c�c thương nh�n, l� c�c kẻ sẽ ho�n lại sau m�a gặt trị gi� tương đương bằng sản phẩm xuất cảng.

 

���� V� thế, ch�ng ta kh�ng thể v� kh�ng n�n tiến h�nh từ khu�n khổ v� sự gi�u c� của c�c trung t�m mậu dịch Đ�ng Nam � để cố gắng đặt ch�ng v�o trong một v�i thước đo theo đường thẳng của sự thăng tiến đến chủ ngh�a tư bản kiểu t�y phương.� Th�nh phố Đ�ng Nam � thuộc một loại ho�n to�n kh�c biệt, v� ch�ng ta kh�ng thể n�i với sự tin tưởng rằng đ�u l� con đường n� tiến triển v�o l�c đạt đến đỉnh cao của sự thịnh vượng của n� trong c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bẩy.�

 

���� Điểm quan trọng nhất n�u ra ở đ�y l� một sự kh�c biệt.� Một t�ch sản then chốt m� thị trường thương mại của giai đọan n�y đ� c� nhưng c�c quốc gia kế thừa ch�ng lại thiếu mất, nằm nơi bản chất của sinh hoạt th�nh phố, c� t�nh chất đ� thị, hướng về thương mại.� C�c th�nh phố n�y c� sự tiếp x�c với c�c điểm tăng trưởng nhất của thế giới thời phục hưng, v� mở rộng cửa đối với c�c tư tưởng mới từ b�n trong lẫn b�n ngo�i.� Ch�ng đ� chuẩn bị để tiếp nhận c�c kỹ thuật v� c�c c�ng nghệ mới khi c�c kỹ thuật n�y phơi b�y ưu điểm trong việc đ�p ứng c�c nhu cầu của ch�ng.

 

���� Sự thay đổi văn h�a v� x� hội mau ch�ng tượng trưng bởi sự Hồi Gi�o h�a c�c trung t�m mậu dịch quan trọng của Quần Đảo trong thời kỳ khoảng giữa năm 1300 v� 1600 l� sự biểu trưng ngoạn mục nhất cho sự cởi mở n�y.� Chữ viết, ph�p t�nh, sự ph�n t�ch ch�nh trị, v� một loạt c�c kiểu thức văn học được vay mượn từ người Ả Rập.� Giấy viết đến từ Trung Hoa v� sau đ� từ �u Ch�u, mặc d� c�c hệ thống ph�t sinh tư` Ấn Độ của việc đ�ng một quyển s�ch nhỏ bằng l� dừa bởi một sợi chỉ thắt lại xuy�n qua một lỗ thủng ở giữa vẫn c�n được tiếp tục trong một thời gian.� Hệ thống c�n v� trọng lượng bị ảnh hưởng nhiều bởi c�ch t�nh của Trung Hoa, trong khi c�c phương ph�p kế to�n c� vẻ đến từ Ấn Độ đặc biệt từ v�ng Gujerat.� Tiếng Ả Rập được n�i v� học một c�ch rộng r�i, v� v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười bẩy tiếng Bồ Đ�o Nha cũng được n�i tại mọi th�nh phố quan trọng � mặc d� tiếng M� Lai dĩ nhi�n vẫn l� ng�n ngữ kết hợp [lingua franca, ti�ng � trong nguy�n bản, chỉ ng�n ngữ hỗn hợp được sử dụng giữa người �u Ch�u với người phương đ�ng ở ph�a đ�ng Đia Trung Hải, ch� của người dịch] trong v�ng.� C� lẽ yếu tố đ�ng n�i nhất trong mọi sự việc ph�t sinh từ c�c ni�n gi�m của triều đ�nh v� nền văn học t�n gi�o của thời kỳ n�y, vốn thường xuy�n nhận thức về k�ch thước quốc tế trong một c�ch kh� được lập lại tại hoặc �u Ch�u hay Trung Hoa trong giai đoạn c�ng thời.� Trong c�c văn bản ph�t xuất từ c�c th�nh phố hảỉ cảng, một chỉ số về sự thịnh vượng v� tư c�ch ch�nh quyền ch�nh đ�ng thường được r�t ra sẽ l� một mức độ to lớn của ngoại thương v� sự chuyển vận h�ng h�a về kinh đ�.

 

���� Ngoại trừ l�nh vực về dược thảo, ch�ng ta kh�ng thể n�u ra c�c sản phẩm c� kiến thức hay kỹ thuật thực dụng trong đ� Đ�ng Nam � dẫn dầu so với c�c phần đất kh�c của thế giới.� Nhưng điều r� r�ng l� c�c sự kh�m ph� ở nơi kh�c đ� mau ch�ng t�m được con đường của ch�ng để đến c�c th�nh phố trong miền.� Một thương gia v�ng Florence ghi nhận về người v�ng Gujeratis tại Melaka trước khi c� sự chinh phục của người Bồ Đ�o Nha: �Họ l� c�c thương gia tinh kh�n v� kh�o l�o, kh�ng kh�c g� ch�ng ta trong mọi vấn đề kinh doanh; c�c quyển sổ c�i ghi h�ng h�a vận chuyển của họ với c�c kiện h�ng được bốc v� dỡ đều trong trạng th�i tuyệt hảo� (Gubernatis 1875, 375-7).

 

���� Kỹ thuật qu�n sự l� điều nhanh nhất sẽ được vay mươ.n bởi v� nếu kh�ng l�m như thế, sẽ c� c�c hậu quả tại hại tức thời nhiều nhất.� Từ người Trung Hoa v� Gujeratis, nhiều trung t�m Đ�ng Nam � đ� sẵn học hỏi nghệ thuật đ�c s�ng đại b�c bằng đồng trước khi c� sự xuất hiện của người �u Ch�u tại hiện trường.� Người Bồ Đ�o Nha tuy�n bố tịch thu được ba ngh�n đại b�c tại Melaka trong năm 1511, v� người T�y Ban Nha cho hay bắt được 170 khẩu tại Brunei trong năm 1578, số vũ kh� kể sau c� gi� trị to lớn đối với người T�y Ban Nha đang bị th�c b�ch tại Manila (Albuquerque 1557, III: 127-8; Sande: IV: 126).� Việc đ�c c�c s�ng lớn hơn nhiều được học hỏi bởi người d�n Aceh từ c�c quan hệ ngoại giao của họ với Thổ Nhĩ Kỳ trong thập ni�n 1560.� L�nh Ch�a Selim II đ� gửi một số thợ đ�c chuy�n nghiệp đến Aceh ngo�i c�c binh sĩ v� ph�o thủ.� Bởi v� Thổ Nhĩ Kỳ v�o thời kỳ n�y đang chế tạo s�ng đại b�c kh�c thường lớn hơn d� k�m hiệu quả hơn c�c loại s�ng của �u Ch�u, điều kh�ng g�y ngạc nhi�n rằng c�c s�ng đại b�c m� John Davis đ� nh�n thấy tại Aceh l� �c�c khẩu s�ng lớn nhất t�i chưa hề thấy� (Davis 1905, II: 321; Reid 1969a, 395-414).� Để đ�p ứng với sự th�ch đố v� kiểu mẫu của �u Ch�u, sự chế tạo c�c s�ng hỏa mai đ� trở n�n rất được ph�t trỉển tại Miền T�y Sumatra, Bali, Java, v� Sulawesi; nhiều th�nh phố đ� chấp nhận một hệ thống x�y dựng th�nh lũy bằng đ�; v� �o gi�p bằng x�ch đan h�nh s�ng lượn của Bồ Đ�o Nha, nhẹ hơn v� linh động hơn �o gi�p của Nhật Bản vốn được d�ng trước đ�y, đ� được đ�n nhận bởi một số d�n tộc.� Một th� dụ duy nhất ch�ng ta biết được về sự phi�n dịch ban đầu từ văn bản �u Ch�u, tr�i với văn bản viết bằng tiếng Ả Rập, Sanskrit hay Pali, kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n, nằm trong l�nh vực chuy�n m�n của �u ch�u đ� được thừa nhận � c�c loại s�ng bắn.� Một bản văn bằng tiếng T�y Ban Nha về thuật bắn đại b�c c� nhật kỳ từ năm 1563 đ� được t�m lược bằng tiếng Makasarese trong năm 1635, v� được phi�n dịch đầy đủ mười bảy năm sau đ� (Matthes 1875, 54, 58; Ricklefs and Voorhoeve 1977, 29, 31).� Bản dịch tồn tại trong nhiều phi�n bản bằng tiếng Makasarese kh�ng mấy ho�n chỉnh v� c�c phi�n bản tiếng Bugis với những nhật kỳ muộn hơn nhiều, thường kết hợp với c�c b�i viết về c�ng đề t�i bởi c�c t�c giả Ba Tư, Thổ� Nh� Kỳ v� M� Lai.

 

���� Th�nh kiến của ch�nh ch�ng ta c� khuynh hướng khiến ch�ng ta t�n thưởng nhiều sự vay mượn văn h�a v� khoa học từ phương t�y hơn l� từ c�c truyền thống Trung Hoa hay Ả Rập, v� v� l� d� n�y �t nhất ch�ng ta phảỉ n�u ra th� dụ về nh�n vật Karaeng Pattingalloang v� nh�m th�n cận của �ng ta tại xứ Makasar hồi thế kỷ thứ mười bẩy.� Như được m� tả nơi chương 7 [của nguy�n t�c , ch� của người dịch] , �ng đ� thu thập một thư viện đ�ng kể c�c s�ch viết bằng tiếng Bồ Đ�o Nha v� T�y Ban Nha, n�i tiếng Bồ Đ�o Nha �tr�i chảy như người d�n ở ngay Lisbon�, l� một chuy�n vi�n về to�n học, v� c� lẽ đ� khởi xướng cho c�c bản dịch n�u tr�n.� Ngo�i ra, �ng c� thể l� người đưa ra sự cảỉ c�ch của Makasar trong việc lưu giữ c�c sự ghi ch�p ch�nh x�c c�c sự vụ của nh� nước dưới h�nh thức một quyển nhật k� h�ng ng�y � một điều g� đ� m� kh�ng văn h�a Đ�ng Nam � n�o kh�c c� vẻ đ� l�m như thế v�o l�c sớm sủa như vậy.

 

���� Tuy nhi�n, sống với c�ng cuộc mậu dịch l� sống một c�ch nguy hiểm, �t nhất trong c�c t�nh huống biến đổi của thế kỷ thứ mười bẩy.� Chừng n�o m� hệ thống thương mại c�n được ph�p ph�t triển, người Đ�ng Nam � nghi�ng về việc mua kỹ thuật mới hơn l� v�o việc học hỏỉ để tự m�nh chế tạo ra s�ng ống v� m�y m�c.� Hơn nữa, c�c quốc gia-hảỉ cảng thịnh vượng nhất, vẫn chưa hướng đến hệ thống chiến tranh đẫm m�u tại v�ng đất bao la giũa �u-�.� Truyền thống chiến tranh tại v�ng Quần Đảo đặc biệt c� khuynh hướng tiết kiệm sinh mạng, bởi nh�n lực l� t�i nguy�n ch�nh yếu của sự gi�u c�, sẽ phảỉ được bảo vệ.� Sau hết, c�c quốc gia-th�nh phố đ� được trang bị tốt nhất nhằm thu h�t v� bảo vệ mậu dịch � Ch�u, bằng v�o cơ cấu tương đối đa nguy�n của ch�ng nơi m� quyền lực của nh� cầm quyền được giữ chắc bởi một loạt c�c triều đại orang kaya oai h�ng, lại kh�ng phải l� nhừng th�nh phố được trang bị tốt nhất để kh�ng cự lại một sự c�ng k�ch qu�n sự của �u Ch�u.� C�c quốc gia n�y quen thuộc việc x�c lập quyền chủ tể của ch�ng tr�n c�c quốc gia yếu hơn bởi một sự kết hợp �p lực thương mại với qu�n sự, nhưng kh�ng quen đối ph� với sự bao v�y trực tiếp v� c�c chiến thuật tấn c�ng của người Bồ Đ�o Nha.

 

���� Th�nh phố ph�t triển nhất trong c�c th�nh phố mở ngỏ n�y đ� l� th�nh phố đầu ti�n trở th�nh nạn nh�n cho sự tấn c�ng của �u Ch�u.� Melaka thất thủ trước người Bồ Đ�o Nha năm 1511, ngay d� sức mạnh thực sự của người Bồ Đ�o Nha tại � Ch�u trong thế kỷ thứ mười s�u kh�ng c� mang một sự li�n hệ n�o đến tầm mức trọng đại của chiến t�ch kh�c thường n�y.� Người T�y Ban Nha trong năm 1578 đ� ph�ng ra một cuộc tấn c�ng v�o Brunei khiến cho quốc gia n�y kh�ng c�ch n�o tiếp tục được vai tr� của n� như một trung t�m hoạt động thương mại tại Borneo v� Phi Luật t�n.� C�c quốc gia-th�nh phố Đ�ng Nam � bị bắt buộc phảỉ chấp nhận một tư thế nặng về ph�ng thủ hơn để đ�p ứng mối đe dọa qu�n sự mới n�y.� Một v�i th�nh phố h�ng mạnh hơn, đặc biệt tại v�ng bờ biển ph�a bắc của đảo Java, đ� tiếp nhận hệ thống c�c bức tường ph�ng thủ bằng gạch hay đ� như ch�nh người d�n ở Iberia [b�n đảo nằm giữa T�y Ban Nha v� Bồ Đ�o Nha, ch� của người dịch] đ� x�y dựng.� C�c th�nh phố kh�c, như Johor v� Sulu, đ�p ứng trước sự đe dọa trong một cung c�ch mang nhiều truyền thống Đ�ng Nam � hơn bằng c�ch di chuyển kinh đ� của ch�ng v�o s�u trong nội địa hơn, xa c�ch nhiều hơn c�c hạm đội cướp b�c của �u Ch�u nhưng cũng t�ch biệt với hệ thống mậu dịch mang lại sự sống.� Tinh thần chống lại cuộc viễn chinh của c�c v�ng Aceh v� Japara trong thế kỷ thứ mười s�u, v� c�c cuộc đột k�ch của hảỉ tặc từ v�ng Sulu v� Mindanao c�ng gia tăng v�o cuối thế kỷ, đ� l� c�c loại c�u trả lời trước phương thức �u Ch�u về việc sử dụng chiến tranh như một phương tiện để mậu dịch.

 

���� D� thế, quyền lực qu�n sự v� thương mại của người Iberia đặc biệt kh�ng mạnh, v� hệ thống mậu dịch Đ�ng Nam � đ� mau ch�ng phục hoạt v� mở rộgn dưới một h�nh th�i kh�c biệt đ�i ch�t.� Ứng trước tiền mặt � thu về số thu gặt để xuất cảng [mua l�a non, n�i theo th�nh ngữ của Việt Nam, ch� của người dịch], v� hệ thống mậu dịch nhiều lợi nhuận dựa tr�n đ�, vẫn tiếp tục l� c�c c�ng việc hấp dẫn v� l� căn bản của sự gi�u c� nhất, ngay ở Maluku l� nơi m� t�c động của người Bồ Đ�o Nha xảy ra mạnh nhất.� Chỉ ở Luzon v� ở một mức độ nhẹ hơn tại Visayas, tiến tr�nh bắt đầu trong thế kỷ thứ mười s�u mới hướng c�c cư d�n t�ch ra khỏi c�c hoạt động hướng v�o sự xuất cảng v� thương mại.� Hệ thống của T�y Ban Nha về việc đ�nh thuế một phần đ�ng g�p nặng nề tr�n bất kỳ hoạt động sản xuất n�o chẳng hạn như đ�o mỏ v�ng hay sản xuất vảỉ v�c mau ch�ng mang về b�i học rằng người Phi Luật T�n cảm thấy an to�n hơn để b�m lấy một cung c�ch sản xuất nặng về sự sinh tồn hơn.

 

��������������������������������������������� Người H�a Lan trong thế kỷ thứ mười bẩy lại l� một vấn đề ho�n to�n kh�c biệt.� Sự s�i động của hoạt động thương mại của H�a Lan hồi đầu thế kỷ thứ mười s�u, v� kỹ năng c�ng quyết t�m với ch�ng họ theo đuổi mục đ�ch của m�nh nhằm giữ độc quyền c�c ng�nh xuất cảng then chốt của Đ�ng Nam �, l� điều chưa từng c� tiền lệ kh�ng chỉ ở Đ�ng Nam � m� cả tr�n thế giới.� Hai năm sau hạm đội đầu ti�n của H�a Lan lui tới v�ng Quần Đảo năm 1596, hai mươi hai chiếc thuyền H�a Lan đ� trương buồm chỉ trong một năm.� Trong năm 1601 con số l�n tới s�u mươi lăm chiếc thuyền.� Trong năm kế tiếp, c�c nỗ lực của H�a Lan tại � Ch�u được tập trung v� phối hợp nơi c�ng ty cổ phần đ�ng lưu � đ�, c�ng ty VOC, với một số vốn ban đầu l� 6.5 triệu đồng guilders v� với mục ti�u c�ng bố nhằm d�nh độc quyền c�c ng�nh sinh lợi nhất của c�ng cuộc mậu dịch tại � Ch�u. V�o năm 1622 To�n Quyền H�a Lan tại Batavia đ� c� dưới quyền điều động của �ng t�m mươi ba chiếc thuyền tại hải phận � Ch�u, gộp chung đ� tạo th�nh lực lượng hữu hiệu nhất v�o thời đại của ch�ng trong việc kết hợp hải chiến với m�ụ dịch (Meilink-Roelofsz 1969, 194-5; Masselman 1963, 133-50).� C�c th�nh phố tư bản tiến bộ nhất của �u Ch�u đ� kết hợp để tạo ra một c�ng cụ kh� hữu biệu nhằm nghiền n�t bất kỳ chủ nghhĩa tư bản ph�i thai n�o xuất hiện tại Đ�ng Nam �.� Chiến thuật được ưa th�ch của người H�a Lan trong c�c thập kỷ đầu ti�n của họ l� đưa ra một đề nghị với một nh� cầm quyền bản xứ để mua hết hạt ti�u hay đồ gia vị của �ng ta với điều kiện mọi nh� mậu dịch cạnh tranh �u Ch�u v� Đ�ng Nam � bị gạt bỏ.� X� hội kh� khăn nhất m� người H�a Lan gặp phảỉ l� việc thương thảo với v�ng Banda, vốn kh�ng c� một nh� cầm quyền m� đ�ng hơn một chế độ quả đầu thương mại kh� chịu, tương tự như t�nh trạng của H�a lan.� Đ�y l� những nh�n vật Hồi Gi�o thuộc giới orang kaya, l� kẻ t�i trợ cho sự sản xuất v� xuất cảng hạt nhục đậu khấu (nutmeg), v� l� c�c người tồn tại như một tầng lớp cầm quyền cấu kết một c�ch đặc sắc trong hơn một thế kỷ.� Người H�a Lan sớm thất vọng về việc hối lộ hay dọa nạt tất cả bọn họ k� kết v�o c�c hợp đồng độc quyền, v� đ� kết luận rằng �người ta kh�ng thể hy vọng bất kỳ điều g� chắc chắn từ d�n tộc đ�, trừ �khi họ một lần dứt kho�t bị đặt dưới sự kiểm so�t bằng chiến tranh� (Coen được tr�ch dẫn bởi Leur 1934, 183).� Banda bị chinh phục trong một trận chiến đẫm m�u năm 1621, tất cả bốn mươi lăm nh�n vật giới orang kaya bị bắt đ� bị xử tử, t�m trăm người d�n Banda bị chở sang Batavia l�m n� lệ, v� h�ng ng�n người kh�c bị để cho chết đ�i tại v�ng nội địa trơ trụi của đảo lớn.� Quốc gia �cộng h�a� nhất tại Đ�ng Nam � đ� trỏ th�nh nạn nh�n đầu ti�n của quyền lực của C�ng H�a H�a Lan.� Tại Ambon v� v�ng Bắc Maluku cuộc chiến tranh người H�a Lan ph�t động với người T�y Ban Nha v� d�n Hồi Gi�o d�nh quyền kiểm so�t c�c trung t�m sản xuất gia vị, v� sự trấn �p sau rốt mọi sự sản xuất ngoại trừ những g� m� người Hoa Lan kiểm so�t, đ� bảo đảm rằng �n sủng c� được một m�a thu họach sản phẩm c� nhu cầu tr�n thế giới v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười bẩy đ� trở th�nh một tại họa.� Người d�n Maluku đ� phảỉ hướng sự ch� � của họ đến lương thực v� sự sống s�t kinh tế thuần t�y.

 

���� C�ng hiện tượng của thương mại đường biển tại � Ch�u trở n�n chua ch�t với sự xuất hiện của c�c hạm đội �u Ch�u g�y hấn, đặc biệt của H�a Lan, hiện ra r� rệt khắp miền.� C�c yếu tố chắc chắn phức tạp dẫn đến c�c sự đ�p ứng tương tự ở những phần đất kh�c trong miền: Nhật Bản bề m�n với mậu dịch hải ngoại trong thập ni�n 1630 v� cấm đo�n c�c c�ng d�n của n� đi ra nước ngo�i hay đ�ng c�c thuyền cỡ lớn; sự quan t�m của Trung Hoa về thế giới b�n ngo�i sụt giảm một c�ch đều đặn trong suốt thế kỷ thứ mười bẩy; ở cả Miến Điện lẫn đảo Java, gần như c�ng một l�c trong c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ mười bẩy, một triều đại mạnh, đặt căn bản tr�n n�ng nghiệp, [đ�ng đ�] trong nội địa v� nghi�ng về chủ ngh�a c� lập đ� nổi dậy trong c�c thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ mười bẩy, trong khi quốc gia-hảỉ cảng một thời ph�t triển tại v�ng duy�n hảỉ rơi v�o t�nh trạng x�o trộn.� Chỉ cần n�i sơ qua rằng li�n quan đến kinh nghiệm của v�ng Đ�ng Nam � thuộc biển, quyết định nghi�ng về ch�nh s�ch c� lập bởi Trung Hoa v� đặc biệt bởi Nhật Bản, kh�ng mang vẻ tại họa về mặt lịch sử như thường được tr�nh b�y.� Ch�nh s�ch c� lập to�n diện, nếu c� thể đạt được, �t nhất cho ph�p kinh tế nội bộ của xứ sở được ph�t triển trong một cung c�ch tường đối qu�n bằng.

 

���� Tại c�c trường hợp Đ�ng Nam � được n�u ra � Miến Điện v� Java � �t c� sự nghi ngờ rằng vai tr� thương mại v� qu�n sự đ�ng giữ bởi người �u Ch�u đ� l�m nhiều điều để l�m suy yếu khả năng của v�ng Pegu tại Miến Điện v� của c�c hải cảng ven biển tại Java hầu chống đỡ lại cơn tức giận t�n ph� của v�ng Toungoo v� Ava một b�n, v� b�n kia từ Mataram.� Tuy nhi�n, tại phần lớn Đ�ng Nam �, điều kh�ng thể n�o l�m được, theo c�ch n�y, l� việc loại bỏ ho�n to�n �u Ch�u.� Mậu dịch qu� quan trọng v� đầy quyến rũ.� Cuộc thi đua tiếp diễn cho đến gần cuối thế kỷ thứ mười bẩy, với c�c quốc gia-th�nh phố chẳng han như Aceh, Banten, Ayudhya, v� Makasar cố gắng đ�nh bại người H�a Lan với trận thế ri�ng của ch�nh ch�ng.

 

���� C�c l�nh ch�a của c�c quốc gia như thế dĩ nhi�n cho thấy kh�ng dễ bị mua chuộc hay dọa dẫm tr�n đường d�i như người H�a Lan c� thể đ� kỳ vọng.� B�i học từ Jakarta (Jacatra) kh�ng bị qu�n đi tại c�c quốc gia kh�c.� Ở đ�, tr�i với v�ng Banten l�n cận, vị thế của nh� cầm quyền xem ra đủ mạnh để bảo đảm cho người H�a Lan v� người Anh c�c điều kiện độc quyền m� ch�ng muốn c�, v� vấn đề ch�nh ch�ng đối diện lại l� việc gi�nh giựt cạnh tranh giữa ch�ng với nhau.� Người H�a Lan tuy thế c� nhiều điều hơn l� trị gi� tiền bạc của họ, bởi th�nh lũy m� họ bắt đầu x�y dựng ở đ� được chứng tỏ l� kh�ng thể bị phả hủy bởi ngừoi Java sau đ�.� Như L�nh Ch�a Agung của v�ng Mataram được thuật đ� c� nhận x�t:

 

Jacatra c� một gai nhọn trong b�n ch�n của n�, m� tự n� phải chịu đau để nhổ ra, v� lo sợ to�n thể cơ thể bị nguy hiểm.� Gai nhọn n�y, t�a l�u đ�i của c�c người H�a Lan, những kẻ giờ đ�y tự củng cố họ (qua sự hối lộ) đến mức họ kh�ng đếm xỉa đến nh� vua hay xứ sở của �ng ta, m� c�n đem �ng ta ra để miệt thị (Martin Pring 1619, trong IOL, ẻ3/6, f. 292).

 

���� Kh�ng nh� cai trị n�o phạm phải lỗi lầm n�y một lần nữa.� Tuy thế, hệ thống nỗ lực mua chuộc hay cưỡng bức c�c nh� cầm quyền loại bỏ mọi thương nh�n ngoại trừ người H�a Lan đ� c� ảnh hưởng trong việc cổ vũ một khuynh hướng chuy�n chế, tập trung quyền h�nh tại c�c quốc gia Đ�ng Nam �.� Một sồ nh� cai trị, chẳng hạn như L�nh Ch�a tại Mataram khi �ng ta chưa giao chiến với người H�a Lan, tin rằng �ng c� thể ti�u diệt sức mạnh của c�c đối thủ cạnh tranh v� qu�n nổi lọan bằng việc hạn chế tất cả c�ng cuộc mậu dịch ở mức giữa ch�nh �ng ta với c�ng ty VOC kh�ng th�i.� C�c l�nh ch�a kh�c, như Iskander Muda của v�ng Aceh (1607-37), Prasat Thong của Ayudhya (1629-56), hay Hasanuđin của v�ng Makasar, tự m�nh �p đặt c�c thị trường độc quyền tr�n nhiều loại h�ng xuất cảng hay nhấn mạnh rằng c�c nh� mậu dịch �u Ch�u phaỉ thương thảo với họ ở c�c mức gi� cố định trước khi đi ra thị trường ngỏ.� C�c l�nh ch�a kh�c, nổi bật l� L�nh Ch�a Abufatah của Banten (1651-83) v� Narai của Ayudhya (1656-88), c�n sử dụng rộng r�i c�c thương nh�n người Anh, Ph�p, Đan mạch v� Trung Hoa để thực hiện c�ng cuộc mậu dịch quốc tế s�u rộng nh�n danh ho�ng gia.

 

���� Trong một � nghĩa ti�u cực hơn, sự theo đuổi mậu dịch bằng chiến tranh của người H�a Lan đ� buộc c�c đối thủ của họ cũng phải đặt sự nhấn mạnh v�o bạo lực qu�n sự hơn l� tr�n sự mậu dịch h�a b�nh.� Th� dụ, Makasar chỉ c� thể sống s�t như một trạm trung chuyển đến mức độ m� c�c nh� mậu dịch của n� c� thể t�m được đường đi xuy�n qua c�c hạm đội tuần cảnh của H�a Lan tại Maluku.� Banten cũng phải chịu đựng c�c cuộc phong toả từng hồi của H�a Lan trong gần hết thế kỷ thứ mười bẩy, khiến cho việc m�ụ dịch trong h�a b�nh v� việc ứng tiền mặt trước � thu m�a gặt sau trở th�nh một sự kinh doanh nhiều nguy hiểm.� Sự nhấn mạnh lớn hơn phảỉ được đặt v�o ph�o binh, v�o c�c t�u lớn được trang bị nặng nề, v�o l�nh đ�nh thu�, c�c ph�o thủ, v� c�c người l�i t�u ngoại quốc, tất cả đều phục vụ để củng cố vị thế của vị l�nh ch�a đối với thần d�n của �ng ta.� Xem ra kh�ng c� mấy nghi ngờ rằng, ngay ở c�c quốc gia h�y c�n t�ch cực cạnh tranh về mậu dịch đường biển, c�c khuynh hướng n�y g�p phần l�m suy yếu c�c phần tử của tư bản tư nh�n v� hoạt động thương mại kh�ng phảỉ của ho�ng gia trong ng�nh mậu dịch tại Đ�ng Nam �.

 

���� Trong bất kỳ trường hợp n�o, kh�ng một trong c�c quốc gia thương mại lớn lao n�o c�n tồn tại cho đến cuối thế kỷ.� Quyết t�m loại trừ c�c đối thủ thương mại, c�ng ty VOC của H�a Lan đ� tung mọi nguồn lực của n� v�o trong một chiến dịch thắng lợi chống lại Makasar trong c�c năm 1666-9, v� chống lại Banten trong c�c năm 1682-4.� Cả hai chiến dịch đều cực kỳ tốn k�m về sinh mạng v� tiền của, v� kh�ng chiến dịch n�o lại c� thể c� xảy ra m� kh�ng c� khả năng của H�a Lan nằm chờ c�c dấu hiệu của sự ph�n h�a nội bộ tại c�c quốc gia n�y.� To�n bộ cuộc chinh phục dĩ nhi�n đ� được thực hiện bởi c�c đồng minh người Indonesia của C�ng Ty, người Bugis của Aru Palaka v� người Ambon của Thuyền Trưởng Jonker, nhưng th�nh tố mới của cuộc chiến tranh l� sự tổ chức vững chắc v� bền bỉ của người H�a Lan, nắm giữ mọi nhược điểm nơi c�c đối phương của n�.� Ayudhya rơi v�o ảnh hưởng của một th�nh phần ngoại quốc �t ki�n quyết hơn nhiều ở Ph�p, v� đ� c� thể, xuy�n qua một cuộc c�ch mạng chống ngoại quốc năm 1688, �để loại bỏ người �u Ch�u trong hơn một thế kỷ.� Tuy n hi�n, gi� phải trả l� một sự triệt tho�i giống như của Miến Điện về một t�nh trạng c� lập v� tr� trệ.� Chỉ c� Aceh c� thể trụ lại như một trung t�m mậu dịch độc lập quan trọng, nhưng v�o khoảng 1700 sức mạnh qu�n sự v� kinh tế của n� bị s�t giảm nhiều, kh�ng c�n c� khả năng để điều h�nh to�n bộ c�ng cuộc ngoại thương của Sumatra xuy�n qua hải cảng của n�.

 

���� Với c�c sự thất trận n�y, c�c kẻ ph�ng vệ lớn lao cuối c�ng cho mậu dịch bản xứ trong giới ch�nh trị bị triệt hạ, y như c�c trung t�m bản xứ to lớn của nếp sống th�nh thị.� Lời nhắn nhủ hiện r� n�t rằng đặt một quốc gia tr�n căn bản ho�n t�an dựa v�o mậu dịch ngoại quốc v� hệ thống ứng tiền � thu nợ bằng m�a gặt để xuất cảng l� mời gọi sự ph� huỷ tối hậu, hoặc một c�ch trực tiếp từ b�n tay của người H�a Lan hay xuy�n qua c�c sự bấp b�nh của một thị trường giờ đ�y trở n�n qu� quặt bởi t�nh trạng độc quyền của người H�a Lan.� Như đ� xảy ra mỗi khi c� sự phong tỏa của H�a Lan đối với v�ng Banten, c�c c�y hồ ti�u đ� bị chặt bỏ để ph�t triển lương thực bằng l�a gạo.� C�c nh� cai trị chuy�n chế của Aceh hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy đ� thực sự ngăn cấm việc trồng trọt c�y hồ ti�u tại khu vực miền trung trong vương quốc của họ, được giả định l� nhằm tạo lập một t�nh trạng ch�nh trị v� kinh tế ổn định hơn (Beaulieu 1666, 948-9; Broecke 1634, 175).� Ni�n sử thế kỷ thứ mười bẩy của triều đ�nh v�ng Banjarmasin, cũng ch�nh l� một trung t�m to lớn của sự canh t�c v� xuất cảng hồ ti�u, c� vẻ để b�y tỏ quan điểm của một nh� cầm quyền mệt mỏi về vị thế bất ổn v� dễ bị tấn c�ng m� phương thức ứng tiền mua trước vụ gặt c� vẻ đ� đặt �ng v�o trong đ�:

 

Đừng để d�n ch�ng ở bất kỳ nơi đ�u trong xứ sở n�y trồng c�y hồ ti�u; như đ� được thi h�nh tại Jambi hay Palembang.� C� lẽ c�c xứ sở đ� trồng c�y hồ ti�u để kiếm tiền, hầu trở n�n gi�u c�.� Kh�ng c� g� phảỉ ngờ vực rằng cuối c�ng c�c xứ sở n�y sẽ bị hủy hoại; v� nhiều �m mưu v� thực phẩm đắt đỏ � Ch�nh quyền sẽ bị rối lọan bởi c�c người cư ngụ ở kinh đ� sẽ kh�ng được k�nh trọng bởi c�c thần d�n của họ; c�c quan chức ho�ng triều kh�ng c�n được nể sợ bởi d�n trồng hồ ti�u (Hikayat bandjar, 330-1; cũng xem, Siegel 1979, 101-2).

 

���� Ni�n gi�m ghi nhận sau đ�: �c�c chỉ thị sẽ kh�ng được tu�n h�nh bởi v� quần ch�ng (orang banyak) sẽ trở n�n hỗn xược đối với vị l�nh ch�a� (Siegel 1979, 442-3).

 

���� Điều đ�ng kể rằng c�ng ni�n sử bảo thủ đ� đ� cảnh c�o rằng người d�n Nanjar phảỉ chấp nhận mọi nghi lễ v� c�ch thức của triều đ�nh Java, v� kh�ng được bắt chước y phục hay c�c th�i quen của c�c thương nh�n ngoại quốc sống trong họ -- người Makasar, Aceh, M� Lai hay H�a Lan.� Bởi ch�nh c�c nh� l�nh đạo của Java đ� l� c�c người đ� nghiền n�t một c�ch nhiệt th�nh nhất v� th�nh c�ng nhất tinh thần thương mại nơi thần d�n của họ.� Vị L�nh Ch�a Agung đầy uy quyền (1613-45), kẻ đ� ki�u h�nh n�i với người H�a Lan, �T�i l� một �ng ho�ng v� một chiến sĩ, chứ kh�ng phải l� một thương nh�n như c�c vị l�nh ch�a kh�c tại Java� (được tr�ch dẫn trong Masselman 1963, 313), đ� cương quyết chuyển đổi vị tr� của quyền lực bằng c�ch triệt hủy hay đặt xuống vai tr� phụ thuộc mọi th�nh phố duy�n hảỉ đang ph�t triển, tập trung quyền h�nh v�o trong tay của ch�nh m�nh, v� giữ độc quyền sản phẩm xuất cảng ch�nh của đất nước, gạo.� Về người kế nhiệm của �ng ta, vua Amangkurat I, t�c giả van Goens cho ch�ng ta biết:

 

�ng qua mặt cha của �ng về thuật ch�nh trị.� �ng đ� cấm đ�an bất kỳ thần d�n n�o của �ng được ch�o thuyền ra ngoại quốc, bắt buộc mọi ngoại kiều phải đến xứ sở của �ng để mua gạo, với sự nhận thức rất r� rằng bởi v� Mataram l� b�t gạo của của v�ng Batavia, mọi h�ng h�a đến Batavia sẽ đến với �ng, kh�ng c� bất kỳ thần d�n n�o của �ng lại c� thể trao đổi cho d� chỉ l� một xu �� Một lần t�i mạnh bạo cố vấn nh� Vua rằng �ng ta n�n cho ph�p c�c thần d�n của �ng được trương buồm ra khơi, để trở n�n gi�u c�, nhưng đ� nhận được c�u trả lời, �Người d�n t�i kh�ng c� c�i g� của ri�ng m�nh như �ng đang c�, m� mọi vật g� của họ đều d�ng về t�i, v� kh�ng c� một ch�nh quyền mạnh, t�i sẽ kh�ng phảỉ l� vua d� chỉ một ng�y� (Goens 1956, 200-1).

 

���� Bởi v� c�c nh� cai trị của Banten, Makasar, v� Ayudhya đ� tập trung với một tầm mức lớn lao đến thế c�c t�i nguy�n kinh tế v�o trong tay của ch�nh họ, sự t�n lụi của c�c quốc gia n�y như c�c trung t�m mậu dịch đ� l� một tai họa vĩ đại hơn nhiều so với sự sụp đổ của Melaka.� Tầng lớp thương mại �M� Lai� của th�nh phố đ� đ� di chuyển một c�ch th�nh c�ng c�c hoạt động của n� đến một số hảỉ cảng kh�c � Patani, Brunei, Aceh, v� Pahang trước ti�n � trong khi kh�ng c�n lại bao nhi�u một tầng lớp như thế v�o cuối thế kỷ thứ mười bẩy.� Chỉ c� Aceh c�n tồn tại đến thế kỷ thứ mười t�m như một trung t�m th�nh thị quan trọng của mậu dịch quốc tế, nhưng ngay ở đ�y sự thay đổi kh�ng kh� đ� được ghi nhận bởi sự chế ngự gia tăng của một tầng lớp th�n h�o n�ng th�n dựa tr�n sự canh t�c l�a gạo, bởi sự xuất hiện của văn chương Aceh hơn l� của M� Lai, v� bởi sự c� lập tương đối của ngay ch�nh th�nh phố đ� với c�c trung t�m thế giới quan trọng về mặt ph�t minh kỹ thuật v� tr� thức.

 

���� V�o khoảng 1700 sự ngh�o đ�i của Đ�ng Nam � đ� trở th�nh một sự kh� khăn ngay cả cho người H�a Lan l� những kẻ đ� l�m nhiều điều nhất để đưa đến t�nh trạng đ�.� Ng�nh mua b�n nhiều lợi nhuận về vải v�c Ấn Độ v� Trung Hoa lu�n lu�n ph�t triển kh�ng phảỉ v� người d�n Đ�ng Nam � kh�ng c� khả năng sản xuất vải v�c của ch�nh họ, m� vi họ c�n c� thể mua c�c sản phẩm ngoại quốc xa xỉ.� Mỗi khi c� cuộc phong tỏa v�ng Banten trong thế kỷ thứ mười bẩy v� sự sụt giảm g�y ra trong số sản xuất hạt ti�u, người d�n Banten lại quay về sản xuất vảỉ v�c của ch�nh họ.� Một quan s�t vi�n người H�a Lan trong năm 1703 đ� ghi nhận: �kh�ng c� g� kh�c hơn sự ngh�o kh� đ� l� nguy�n nh�n thực sự khiến cho sự lưu th�ng vảỉ v�c tốt nhất của v�ng Surat v� bờ biển [Coromandel] Coast sụt giảm h�ng ng�y trong khi ngược lại vaỉ dệt của ch�nh họ ng�y c�ng nhiều hơn bởi c� sự gia tăng nhiều lần số người ngh�o� (Chastelein, được tr�ch trong Rouffaer 1904, 3).� Người H�a Lan v� người Anh giờ đ�y fđ� phải cố gắng buộc d�ng vải Ấn Độ tr�n một d�n ch�ng �t gi�u c� hơn bằng c�c quan thuế biểu kỳ thị đ�nh tr�n c�c h�ng vải Ấn Độ [? c� lẽ l� Trung Hoa th� đ�ng hơn, ch� của người dịch] hay b�ng nguy�n liệu, hoặc cấm đo�n thẳng thừng c�c mặt h�ng n�y.

 

���� V�o khoảng thế kỷ thứ mười t�m, đ� c� một khoảng c�ch kinh tế c�ch xa giữa người d�n Đ�ng Nam � v� c�c ngườI d�n �u Ch�u sống ở đ�.� C�c ni�n gi�m của Java bắt đầu h�nh dung c�c người �u Ch�u l� th� bạo v� tham lam, nhưng như một kết quả của sự tham lam của họ, �họ cực kỳ gi�u c� v� sống trong c�c th�nh phố giống như thi�n đường, với mọi thứ xa hoa kh�ng thể diễn tả được ngay d� mất cả ng�y [để n�i đến]� (Kumar 1979, 197).

 

���� Trong thực tế, đa số người d�n Đ�ng Nam � của thế kỷ thứ mười t�m v� đầu thế kỷ thứ mười ch�n, theo mọi ti�u chuẩn, chưa phảỉ l� ngh�o, khi so s�nh với c�c phần đất kh�c của thế giới hay với c�c t�nh trạng của thế kỷ thứ hai mươi.� Van den Bosch tin rằng người ngh�o của c�c th�nh phố ở H�a Lan m� �ng đ� khảo s�t c�n khốn kh� nhiều hơn c�c n�ng d�n đảo Java năm 1830 (Vlekke 1959, 288; Crawfurd 1820, I: 40), v� c�c quan s�t vi�n đầu thế kỷ thứ mười ch�n vẫn c�n c� khuynh hương nghi�ng về việc ghi nhận sức khỏe l�nh mạnh v� c�c nguồn cung cấp thực phẩm phong ph� của c�c cộng đồng Đ�ng Nam � hơn l� về sự ngh�o đ�i của họ.� Điều đ� xảy ra trong thế kỷ thứ mười bảy l� người d�n Đ�ng Nam � đ� bị xua đuổi ra khỏỉ c�c cao điểm kinh tế nơi m� họ đ� kiểm so�t mậu dịch, điều khiển c�c nguồn t�i nguy�n chủ yếu cho sự vận chuyển h�ng h�a, v� chủ tr� tr�n c�c kho trung chuyển quốc tế ph�t đạt.� Chỉ c� �t người Đ�ng Nam � gi�u c� nằm ngo�i c�c triều đ�nh cai trị, v� c�c triều đ�nh n�y hoặc đ� ho�n to�n r�t lui khỏi c�ng cuộc mậu dịch (Java, Siam, Ava) hay đ� trở n�n qu� yếu để đối đ�p với c�c nh� mậu dịch �u Ch�u tr�n một căn bản b�nh đẳng về văn b�a hay kinh tế.

 

���� Tỷ lệ d�n bản xứ tại c�c trung t�m đ� thị phảỉ suy giảm trong c�c thế kỷ n�y � trong thực tế rất c� thể đ� c� sự sụt giảm ngay trong con số tuyệt đối của c�c cư d�n tại th�nh thi.� Trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười ch�n c�c th�nh ph� lớn nhất trở th�nh c�c trạm trung chuyển của thực d�n � Batavia, Manila, v� sau n�y, Singapore, Rangoon, Surabaya v� Penang.� Người d�n Java ho�n to�n kh�ng được ph�p bước ch�n v�o v�ng Batavia trong thế kỷ thứ mười bẩy, v� c�c th�nh phố n�y c� khuynh hướng giữ sự xa c�ch về văn h�a với v�ng nội địa s�u xa của ch�ng, với c�c người �u Ch�u v� Trung Hoa đ� khống chế c�c l�nh vực thương mại v� sản xuất, như họ đ� từng l�.� Bangkok, tr�n danh ngh�a được độc lập, họat động hơi kh�c biệt.� Người Th�i đ�ng một vai tr� nhỏ trong đời sống kinh tế của n�.� Bởi v� c�c trung t�m bản xứ tr� trệ trong t�nh trạng c� lập, c�c nh� sản xuất bản xứ dừng lại ở tr�nh độ m� họ đ� c� hồi thế kỷ thứ mười s�u.� Ng�nh l�m đồ bạc v� đồng tỉ mỉ, chế tạo dao găm quăn lưỡi (kris), v� dệt tr�n c�c chiếc khung cửi nhỏ, k�m hiệu năng h�y c�n được thực h�nh trong thế kỷ thứ mười ch�n tại c�ng c�c địa điểm v� với c�ng c�c phương ph�p đ� được ph�t triển từ thời cực thịnh của sự tăng trưởng đ� thị ba thế kỷ trước đ�.� Sự sản xuất như thế c�ng xa rời hơn nữa khỏi c�c sự ph�t triển ở c�c phần kh�c của thế giới, ng�y c�ng mang phong th�i d�nh cho c�c chức năng nghi lề, v� ng�y c�ng �t khả năng để cạnh tranh về mặt gi� cả với c�c nh� sản xuất ngoại quốc.� Ch�ng ta đ� chứng kiến trong thế kỷ thứ mừi bẩy, l�m thế n�o m� sự sản xuất vảỉ v�c bản xứ đ� cung cấp cho khu vực rẻ tiền hơn của thị trường,� nhưng đ� phảỉ mở rộng khi giới thượng lưu bản xứ trở n�n kh� c� thể đ�i thọ cho c�c h�ng nhập cảng.� Sự ph�t triển của sự sản xuất h�ng loạt được cơ kh� h�a tại Lancashire đ� l�m thay đổi t�nh trạng n�y một c�ch to�n diện.� Như một thương nh�n người Anh đ� l�m chứng, khi sự chiếm đ�ng của Anh Quốc tại đảo Java bắt đầu trong năm 1811, �C�c d�n bản xứ mặc quần �o được sản xuất bởi ch�nh họ, một phần, v� phần kia, từ c�c nh� sản xuất tại Ấn Độ thuộc Anh � trong năm 1828, khi t�i rời khỏỉ Java, c�c d�n bản xứ hầu hết chỉ mặc quần �o của c�c nh� sản xuất Anh Quốc� (Parliamentary Papers, House of Commons 1830, 238).� C�ng sự chuyển h�a đ� đ� xảy ra trong �t thập ni�n kế tiếp tại mọi phần đất trong v�ng, người Phi Luật T�n l� d�n tộc cuối c�ng từ bỏ kỹ nghệ dệt bản xứ thịnh đạt của n� trong thập ni�n 1870.� Sự sản xuất bản xứ kh�ng bao giờ được cải tiến, ngoại trừ ở Phi Luật T�n nơi m� người T�y ban Nha kh�ng quan t�m đến vải v�c nhập cảng.� Thay v�o đ� n� bị gạt sang một b�n nhường chỗ cho mậu dịch lớn hơn với �u Ch�u, cho đến khi n� chỉ c�n � nghĩa như một �thủ c�ng nghệ� kh�c lạ sử dụng c�c phương ph�p d�ng nhiều sức lao động cổ lỗ, phục vụ cho một thị trường thu nhỏ, phần lớn d�nh cho nghi lễ.� Cũng đ�ng như thế l� ng�nh chế t�c kim loại, đồng v� v�ng c� thời nổi tiếng, được tập trung điển h�nh tại khu c�n s�t lại của c�c th�nh phố c� thời to lớn nay bị c� lập khỏi d�ng ch�nh của nền thương mại.

 

���� Cho đến thế kỷ thứ hai mươi, sự việc đ� chỉ diễn ra theo chiều hướng n�y, với c�c nh� mậu dịch �u Ch�u v� sau n�y l� c�c ch�nh quyền thuộc địa đ� l�m hết sức để cổ vũ chiều hướng đ�.� Trường hợp thường hay được n�u ra l� Ấn Độ, l�m thế n�o m� c�c nh� sản xuất� Anh Quốc được trợ gi�p bởi �p lực [của ch�nh quyền] thuộc địa đ� trục xuất c�c nh� sản xuất bản xứ.� Điều kh�ng được nhận thức một c�ch đầy đủ rằng tầm quan trọng lớn hơn nhiều của ngoại thương trong nền kinh tế Đ�ng Nam � khiến n� dễ bị x�m hại hơn trong tiến tr�nh n�y, v� ở một nhật kỳ sớm hơn, so với c�c phần đất kh�c của � Ch�u.� Ngay từ 1830 John Crawfurd đ� c� thể tuy�n bố với sự m�n nguyện rằng �ng kh�ng biết c� d�n tộc n�o kh�c �lại ti�u thụ c�c sản phẩm Anh Quốc nhiều hơn [người Xi�m La], trong số d�n được khảo s�t, c� lẽ ngoại trừ c�c cư d�n của đảo Java� (từ phần viết về �China Trade�, Parliamentary Papers, House of Commons 1830, 312).

 

���� M� thức khi đ� sẽ l� một khu�n mẫu theo đ� người d�n Đ�ng Nam � ng�y c�ng bị �p v�o hoạt động canh n�ng thuần t�y nơi họ chỉ c� �t vốn hay sự k�ch th�ch để thử nghiệm.� Ngay trong bức tranh tổng qu�t n�y dĩ nhi�n vẫn c� một số c�c th� dụ về sự th�ch nghi đầy s�ng tạo đối với một cơ hội của thị trường, với sự thịnh vượng nhất thời như l� một kết quả.� Ch�ng ta c� thể n�u th� dụ về sự sản xuất hạt ti�u khổng lồ của v�ng Aceh độc lập trong thế kỷ thứ mười ch�n, việc trồng l�a thương mại để xuất cảng tại c�c đồng bằng tr�n v�ng lục địa v�o l�c bước sang thế kỷ thứ mười ch�n, sự thịnh vượng đ� xảy ra cho v�ng Java ph�a đ�ng thưa d�n trong c�c giai đoan ban đầu của hệ thống canh t�c, hay sự bộc ph�t ng�nh trồng c�y cao su của c�c tiểu điền chủ hồi thập ni�n 1920 tại nhiều nơi b�n ngo�i Indonesia.� Đối với phần lớn, sự gi�u c� từ c�c hoạt động n�y nhất thiết đ� thất bại trong việc đảo ngược khuynh hướng trường kỳ, hay l�m ph�t sinh c�c trung t�m bản xứ về vốn v� sự sản xuất hiện đại tr�n quy m� lớn.� Trong phần lớn c�c trường hợp điều n�y xẩy ra bởi v� khu�n khổ thuộc địa hay bản thuộc địa bảo đảm rằng sự gi�u c� n�y sẽ được r�t xuống c�c tầng lớp b�n tr�n của x� hội đa nguy�n � c�c nh� tư bản �u Ch�u v� Trung Hoa v� giới qu� tộc bản xứ kh�ng sản xuất.� Nơi m� cuộc kinh doanh thương mại như thế xảy ra tại khung cảnh độc lập, dẫn dắt c�c nh� mậu dịch hạt ti�u Aceh v� c�c nh� l�nh đạo Xi�m La hay Lombok đầu tư v�o thuyền hai buồm hay c�c t�u chạy bằng hơi nước, sự việc n�y đưa đẩy c�c quốc gia như thế đến sự tranh chấp trực tiếp với c�c quyền lực thực d�n.� Sự bần c�ng h�a xảy ra cho giới thượng lưu của Aceh, Lombok, Ava v� Việt Nam l� kết quả của giai đoạn cuối c�ng trong sự x�m lược của �u Ch�u tại Đ�ng Nam � v�o l�c kết th�c thế kỷ thứ mười ch�n, c� t�nh c�ch tức thời v� ngoạn mục � gợi nhớ lại sự sụp đổ của Makasar v� Banten trong thế kỷ thứ mười bảy.� Người H�a Lan �p buộc khoản bồi thường khổng lồ l� bốn trăm ng�n đồng rijksdaalders tr�n xứ Lombok ngay trước khi c� sự x�a bỏ cuối c�ng vương quốc đ� năm 1893.� Tại Aceh ch�ng ta được cho hay rằng d�n ch�ng đ� nấu chảy tất cả đồ trang sức bằng v�ng để cung cấp ng�n khoản cho cuộc kh�ng chiến, v� tầng lớp gi�u c� vốn đ� t�i trợ cho chương tr�nh ứng tiền mặt � thu về vụ gặt sau, cho c�ng cuộc mậu dịch v� c�c ng�nh thủ c�ng nghệ đ� bị ph� sản v�o l�c kết th�c chiến tranh.

 

���� Tuy nhi�n ch�ng ta sẽ xuy�n tạc lịch sử nếu ch�ng ta toan t�nh đặt tất cả gảnh nặng tr�ch� nhiệm trong lịch sử về sự ngh�o đ�i của Đ�ng Nam � nơi b�n ch�n của nh� mậu dịch v� chinh phục �u Ch�u.� Ch�ng ta sẵn chứng kiến rằng một số quốc gia n�o đ� đ� lựa chọn việc nỗ lực c� lập d�n ch�ng của họ khỏi hệ thống ứng tiền mua vụ gặt trước v� khỏi hoạt động thương mại khi sự việc n�y trở n�n thua lỗ, trong khi c�c kẻ cầm quyền lu�n c� sự nghi ngờ bất kỳ thần d�n n�o của họ trở n�n gi�u c� độc lập.� Hơn nừa c�c điểm n�u tr�n kh�ng đủ để giải th�ch sự thất bại của bất kỳ tầng lớp thương nh�n hay nh� tư bản c� thực lực n�o trổi dậy được, �t nhất từ sau thế kỷ thứ mười bẩy, bất kể một v�i sự tiếp truyền của cảỉ lớn lao xuy�n qua hệ thống ứng tiền � mua trức vụ gặt (đ�ng nhớ l� khoảng một triệu đ� la T�y ban Nha / Mễ T�y Cơ một năm v�o kỹ nghệ hạt ti�u ở Aceh cho phần lớn thế kỷ thứ mười ch�n) (Reid 1969b, 14-15).

 

���� Ch�ng ta kh�ng thể kh�ng biết đến một sở th�ch văn h�a ki�n tr� của việc sử dụng của cải để thụ tạo một sự t�ng phục c� nh�n hơn l� cho một sự t�ch lũy tư bản d�nh mua đất đai.� Về mặt lịch sử ch�ng ta c� thể giaỉ th�ch điều n�y bởi sự khan hiếm tương đối sức lao động tại Đ�ng Nam � thời ban sơ khi so s�nh với c�c phần đất kh�c của � Ch�u hay �u Ch�u, v� sự phong ph� về đất đai, v� thế khiến bị cho l� kh�ng c� gi� trị nội tại.� Sự thay đổi trong c�c th�i độ n�y c� lẽ đ� bắt đầu xảy ra tại c�c th�nh phố mậu dịch lớn của thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u, lại bị yểu tử khi c�c th�nh phố n�y bị chinh phục hay chiếm đ�ng.� Ngay d� khi �p lực d�n số bắt đầu l�n cao trong thế kỷ thứ mười ch�n, t�nh ưu ti�n của sự r�ng buộc lệ thuộc c� nh�n ch�nh v� thế vẫn c�n in dấu.� Đối với người chủ, một lực lượng lao động phu thuộc tiếp tục c�n l� một điều then chốt tượng trưng cho tư thế, quyền lực v� sự thoải m�i.� Đối với kẻ l�m c�ng, sự bất an của đất đai, v� thường của ch�nh đời sống tước đoạt khỏi người đ� gi� trị của sự bảo vệ của một nh�n vật nhiều thế lực hơn.

 

���� Bởi thế, trong th� dụ cuả t�i về việc trồng hồ ti�u tại Aceh, hay việc trồng c�y hồ ti�u cuả phần lớn người d�n đảo Sumatra kh�c, chỉ c� độc người chủ mới l� người cung cấp vốn cho c�c sự trồng trọt mới.� Ngược lại người cung cấp vốn phảỉ l� người chủ, nh� cai tri thực tế của khu vực đ� với danh hiệu raja (�ng ch�a tể).� Ch�ng ta c� thể lập lại một c�ch v� tận sự m� tả dưới đ�y về c�c người M� Lai v�ng Đ�ng Sumatra v�o thời đầu thế kỷ thứ mười ch�n: �V�o l�c m� một người M� Lai trở n�n sở hữu một m�n tiền nhỏ, anh ta khoản đ�i c�c nguời hầu đến mức anh ta c� thể l�m được, v� được kể l� gi�u c� v� được nể trọng theo số đầy tớ của anh ta� (Anderson 1972, 268).� Mặt kia của hiện tượng n�y l� sự tr�nh b�y của Clifford (1897, 19) về sự từ chối tuyệt đối của người M� Lai ở Pahang kh�ng chịu l�m để lấy tiền c�ng, trong khi đối với một kẻ n�o đ� m� họ xem l� �ng chủ, họ sẽ l�m việc thực sự cần mẫn, �một mạch 60 tiếng đồng hồ`�, kh�ng được trả tiền c�ng g� cả v� mang theo đồ ăn của ch�nh họ.� Tại nước Xi�m hồi thế kỷ thứ mười ch�n cũng thế, c�c kẻ n� lệ được đ�nh gi� cao hơn tư bản.� C�c chủ nợ ưa th�ch chấp nhận ch�nh con nợ hơn l� đất đai của con nợ l�m vật bảo đảm cho một m�n vay � đến nỗi t�nh trạng n� lệ v� nợ dưới h�nh thức n�y hay h�nh thức kh�c vẫn tiếp tục được nẩy nở.� Một số người đ� lập luận rằng ph�n nửa d�n số Xi�m ở v�o vị thế bảo đảm cho m�n nợ đối với một kẻ kh�c khi hệ thống bắt đầu được b�i bỏ khoảng năm 1870 (Terwiel 1983a).� Ngay ở trong thế giới sản xuất b�n đ� thị của v�ng Surabaya, một quan s�t vi�n giữa thế kỷ thứ mười ch�n bị thuyết phục rằng c�c nghệ nh�n tay nghề cao sẽ kh�ng bao giờ trở n�n gi�u c� bởi vi họ chỉ l�m việc tr�n căn bản một khoản tiền vay trước từ người mua: �Khi người c�ng nh�n kh�ng c� m�n nợ n�o kh�c, anh ta xem mối quan hệ bị đứt đoan, v� sẽ kh�ng l�m việc lại cho đến khi anh ta lại cảm thấy c� nhu cầu để mang m�nh đi vay c�c m�n nợ mới� (Hageman 1859, V: 142).

 

���� Kh�ng kh� khăn để nh�n thấy l�m sao m� Hệ Thống Canh T�c H�a Lan, sử dụng lao động cưỡng b�ch kh�ng lương để sản xuất c�c n�ng phẩm xuất cảng, đ� thu lợi từ sở th�ch văn h�a n�y, đ� tăng cường n�, v� theo đ� bảo đảm rằng Java sẽ l� nơi �t được trang bị nhất so với bất kỳ x� hội Đ�ng Nam � n�o trong việc đối đầu với sự du nhập cuả chủ ngh�a tư bản hiện đại.� T�c giả Onghokham gần đ�y mở rộng lập luận của Geertz cho rằng hệ thống củng cố một c�ch giả tạo sự chế ngự của giai cấp qu� tộc tr�n một đại khối n�ng d�n kh�ng kh�c biệt nhau về mặt kinh tế.� Hội Đồng Ấn Độ (Council of the Indes) đ� phản đo�n trong năm 1865, khi hệ thống gần đi dến sự kết liễu của n�, rằng �c�c Nhiếp Ch�nh l� nh�m duy nhất c�n s�t lại trong x� hội Java với một lợi tức cao, v� điều kh�n ngoan l� người H�a Lan vẫn giữ n� như thế� (được tr�ch dần trong Onghokham 1976, 1430).� Một c�ch đ�ng lưu �, tại Java, trong thập ni�n 1840, người ta t�m được bằng chứng đầu ti�n của nạn đ�i nguy kịch v� chết đ�i.

 

���� V�o năm 1830 c�c nhiếp ch�nh qu� tộc Java r� r�ng đ� khước tư` một đề nghị của H�a Lan nhằm cung cấp cho họ phần đất đai ri�ng tư, ưa th�ch hệ thống cổ truyền của việc t�nh thuế lao động v� cống phẩm từ to�n thể d�n ch�ng hơn (Onghokham 1976, 139ff, 341).� Trong trường kỳ, họ v� thế trở n�n ho�n to�n lệ thuộc v�o ch�nh quyền thuộc địa H�a Lan, v� dễ d�ng bị biến đổi th�nh một tầng lớp thư lại m� kh�ng c� quyền lợi thương mại g� cả.� C�c �ng ho�ng độc lập hơn ở c�c đảo v�ng ngo�i, ở M� Lai, v� ở Xi�m La, vẫn tiếp tục dầm m�nh v�o thương mại như họ đ� từng l�m trong qu� khứ, nhưng họ cũng kh�m ph� ra rằng sự lệ thuộc v�o sự bảo trợ đ� mang lại cho họ một căn bản rất yếu ớt để từ đ� toan t�nh tiến v�o thế giới tư bản, hoặc như c�c thương nh�n hay như c�c đại điền chủ.

 

���� V� thế thế giới M� Lai đặc biệt nhận thấy ch�nh m�nh tiến v�o thế kỷ thứ hai mươi với b�n tay trắng, kh�ng c� vẻ g� giống, d� rất mơ hồ, với tầng lớp trung lưu, hay tư sản.� Sự kiểm so�t nền h�nh ch�nh đ� phảỉ l� ch�a kh�a cho sự sống c�n của c�c tầng lớp cai trị cồ truyền tại c�c nước M� Lai v� Indonesia độc lập, v� sự việc đ� chứng minh như thế.� Tầng lớp điều h�nh trung gian, theo một � nghĩa về kinh tế, được nắm giữ khắp nơi bởi một th�nh phần ngoại quốc, nổi bật l� người Trung Hoa, th�nh phần tại c�c nước Hồi Gi�o đ� chỉ c� một sự giao tiếp tối thiểu với c�c hệ thống gi� trị v� c�c tiến tr�nh ch�nh trị của nh�m d�n bản xứ.� Người Trung Hoa tại Phi Luật T�n, v� ở một mức độ thấp hơn ở Xi�m La, một mặt c� kết h�n với giới qu� tộc địa chủ bản xứ v�o cuối thế kỷ thứ mười ch�n, sản sinh ra một tầng lớp thống trị mới h�a nhịp nhiều hơn với chủ nghĩa tư bản v� kh�o l�o trong việc v�n dụng n� theo c�c cung c�ch quen thuộc đối với ch�nh ch�ng ta.� Song ngay ở những quốc gia n�y, gi�u c� gần gấp đ�i Indonesia, to�n khối n�ng d�n h�y c�n bị c� lập một c�ch đ�ng lưu � với chủ nghĩa tư bản đang bộc ph�t của c�c th�nh phố, v� nếu c� điều g� đ� [đang diễn ra], l� vẫn phảỉ bận t�m hơn bao giờ hết với cuộc tranh đấu th� lương cho sự sống c�n h�ng ng�y./-

 

 

-----

 

Ghi Ch� Của T�c Giả:

 

1.       C�c d�ng chữ n�y được viết hồi năm 1979.� Sự cải thiện sau đ� trong mức sinh hoạt may mắn thay đ� khiến ch�ng �t th�ch họp hơn đối với to�n thể Đ�ng Nam �, ngoại trừ Đ�ng Dương v� Miến Điện.

2.       C�c sự ước lượng n�y được sắp đặt một c�ch c� hệ thống hơn trong to�n cảnh t�c phẩm của Reid (1993a: 67-77.�� ���������������� �����

 

 

S�CH THAM KHẢO

 

 

Albuquerque, Braz de, 1557.� The Commentaries of the Great Afonso Dalboquerque, trans. W. de Gray Birch, 3 tập, s�ch in lại, London: Hakluyt Society, 1877-1880.

 

Anderson, B. 1972.� �The Idea of Power in Javanese Culture�, trong quyển Culture and Politics in Indonesia, ed. Claire Holt.� Ithaca: Cornell University Press.

 

Barbosa, Duarte, 1518.� The Book of Duarte Barbosa.� An Account of the Countries Bordering on the Indian Ocean and their Inhabitants, trans. M. Longworth Dames, 2 vols., S�ch in lại, London: Hakluyt Society, 1918.

 

Beaulieu, Augustin de, 1666.� �Memoires du voyage aux Indes Orientales du G�n�ral Beaulieu, dress�s par luy-mesme�, trong Relations de divers voyages curieux, vol. II, ed. Melchisedech Th�venot.� Paris: Cramoisỵ

 

Blair, E. H. and J. A. Robertson, eds. 1903-9.� The Philippine Islands, 1493-1898, 55 tập.� Cleveland: Arthur Clark.

 

Braudel, Fernand, 1972.� The Mediterranean and the Mediterranean World in the Age of Philip II, trans. S. Reynolds, 2 vols., New York: Harper and Row.

 

Broecke, P. van den, 1634.� Pieter van den Broeke in Asie, ed. W. Ph. Coolhaas, 2 vols.� The hague: Nijhoff for Linschoten-Vereniging, 1962-3.

 

Clifford, H. 1897.� In Court and Kampong.� S�ch in lại.� London: Richard Press, 1929.

 

Crawfurd, J., 1820.� History of the Indian Archipelago, 3 tập.� Edinburgh: Constable.

 

Davis, John, 1905.� �Voyage to the Easterne India�, trong Hakluyt Posthumus, or Purchase His Pilgrimes, Vol. II.� Glasgow: James Maclehose for Hakluyt Society.

 

De tweed schipwaart der Nederlanders naar Oost-Indi� onder Jacob Cornelisz van Neck en Wybrant Warwijck, 1598-1600, ed. J. Keuing.� The Hague: Nijhoff for Linschoten-Vereeniging, 1942.

 

Drake, 1580 [?]

 

Evelyn, John, 1955.� The Diary of John Evelyn, Vol. IV: 1673-1689, ed. E. S. de Beer.� Oxford: Clarendon.

 

Fryke, C. 1692. �A Relation of a Voyage Made to the East Indies�, trong Voyages to the East Indies, Christopher Fryke and Christopher Schweitzer, ed. C. E. Fayle, London: Case and Company, 1929.

 

Goens, Rijklof van, 1956.� �Da samenvattende geschriften�, trong De viif gezantschapsreizen van Rijklof van Goens naar het hof van Mataram, 1648-1654, ed. H. J. de Graaf.� The Hague: Nijhoff for Linschoten-Vereeniging.

 

Gubernatis, A. de, 1875.�� Storia dei viaggiatori italiani nelle Indie Orientali.� Livorno.

 

Hageman, J. 1859.� �Aantekeningen nopens de Industrie, Handel en Nijverheid van Soerabaja� Tijdschrift voor Nijverheid en Landbouw in nederlandsch-Indi�, v.

 

Hikayat Banjar.� A Study in Malay Historiography, ed. J. J. Ras.� The Hague: Nijhoff for KITLV, 1968.

 

Kumar, Anne. 1979.� �Javanese Historiography in and of the �Colonial Period�: A Case Study�, trong s�ch bi�n tập bởi Reid and Marr.

��

La Loub�te, Simon de, 1691.� A New Historical Relations of the Kingdom of Siạm.� London: Tho, Horne.� S�ch in lại.� Kuala Lumpur: Oxford University Press, 1969.

 

Lane, F. C. 1973.� Venice: A Maritime Republic.� Baltimore: John Hopkins University Press.

 

Leur, J. C. van 1934.� �On Early Asian Trade�, trans. J. S. Holmes and A. van Marle, trong van Leur 1955.

 

Liaw Yock Fang, 1976.� Undang-undang Melaka.� The Laws of Melaka.� Bibliotheca Indonesica 13, The hague: Nijhoff for KITLV.

 

Marsden, William, 1811.� The History of Sumatra, ấn bản lần thứ ba.� London: s�ch in lại; Kuala Lumpur: Oxford University Press, 1984.

 

Masselman, George, 1963.� The Cradle of Colonialism.� New Haven: Yale University Press

 

Matthes, B. F. 1875.� Korte Verslag aangaande alle mij in Europa bekende Makassaarsche en Boeginesche Handschriftien, vooral die van her Nederlandsch Bijbelgenoottschap te Amsterdam.Amsterdam: C. A. Spin.

 

Meilink-Roelofsz, M. A. P. 1969.� Asian Trade and European Influence in the Indonesian Archipelago between 1500 and about 1630.The Hague: Nijhoff.

 

Onghokham, 1976.� �The Residency of Madiun.� Priyayi and Peasant in the Nineteenth Century�, Luận �n tiến sĩ, Yale University.

 

Pires, Tom�, 1515.� The Suma Oriental of Tom� Pires, trans. A. Cortesao, 2 vols.� London: Hakluyt Society, 1944.

 

Pyrard, Francis, 1619.� The Voyage of Francis Pyrard of Laval to the East Indies, the Maldives, the Moluccas, and Brazil, trans. A. Gray, 2 vols.� London: Hakluyt Society, 1887-89.

 

Reid, Anthony, 1969a.� �Sixteenth Century Turkish Influence in Western Indonesia�, JSEAH 10 (iii): 395-414.

 

Reid, Anthony, 1969b.� �The Contest for North Sumatra: Atjeh, the Netherlands, and Britain, 1858-1894�.� Kuala Lumpur: Oxford University Press and University of Malaya Press.

 

Ricklefs, M. C. and P. Voorhoeve, 1977.� Indonesian Manuscripts in Great Britain: A Catalogue of Manuscripts in British Public Collections.� Oxford University Press.

 

Rouffaer, G. P. 1904.� De voornaanaamste industrie�n der inlandsche bevolking van Java en Madoera.� The hague: Nijhoff.

 

Sande, F. de, 1903-9.� �Relation of the Filipinas Islands 7 June 1576�, trong bộ s�ch của Blair and Robertson 1903-9, IV: 21-97.

 

Scott, E. 1606.� �An Exact Discourse of the Subtilties, Fashions, Policies, Religion, and Ceremonies of the East Indians, as well Chyneses as Javans, there Abyding and Dweling, 1606�, trong quyển The Voyage of Sir Henry Miđleton to the Moluccas 1604-1606, ed. William Foster.� London: Hakluyt Society, 1943.

 

Sejarah Melayu, ed. W. G. Shellabear.� 10th ed.� Singapore: Malaya Publishing House: 1961.

 

Siegel, J. 1979.� Shadow and Sound.� The Historical Thoughts of a Sumatran People.� Chicago: University of Chicago Press.

 

Terwiel, B. 1983.� �Bondage and Slavery in Early Nineteenth Century Siam�, trong tuyển tập bi�n tập bởi Reid 1983a.

 

Vleke, B. H. M. 1959.� Nusantara.� A History of Indonesia.� The Hague: Van Hoeve

 

Vliet, Jeremias van, 1636.� �Description of the Kingdom of Siam�, trans. L. F. van Ravenswaay, Journal of the Siam Society 7 (i) 1910: 1-105.

 

 

___

 

Nguồn: Anthony Reid, Charting The Shape of Early Modern Southeast Asia, nh� xuất bản Silkworm Books :Chiang Mai, Thailand, 1999, Chapter Ten: The Origins of Southeast Asian Poverty, c�c trang 217-234.

 

 

 

Ng� Bắc dịch

30/8/2008

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2008 gio-o