Anthony Reid

 

 

C�C V�NG ĐẤT

B�N DƯỚI LUỒNG GI� THỔI

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

���� Dưới đ�y l� bản dịch b�i đầu ti�n trong loạt b�i về Đ�ng Nam � như một to�n thể, với phần kết luận về vị thế đặc biệt của Việt Nam trong miền đất n�y của thế giới.� T�c giả, Anthony Reid, l� một nh� nghi�n cứu h�ng đầu về Đ�ng Nam � học hiện nay, đ� bi�n soạn nhiều c�ng tr�nh nghi�n cứu gi� trị về miền n�y, đặc biệt trong thời kỳ ngay trước khi c� sự xuất hiện của thực d�n T�y phương, được xuất bản bởi c�c trường như Đại Học Yale, Cornell Uiversity v� Đại Học Quốc Gia �c Đại Lợi.

 

B�i dịch kế tiếp của c�ng t�c giả c� nhan đề �C�c Căn Nguy�n Của Sự Ngh�o Đ�i Của Đ�ng Nam �� sẽ sớm được đăng tải tr�n Gi� O ./-

 

 

***

 

 

Phần lớn những g� nằm �Dưới C�c Luồng Gi� đều được hưởng một m�a xu�n li�n tục�

 

���� Như m�i m�i xảy ra tại c�c v�ng nằm �B�n Duới C�c Luồng Gi�, c�c vị thế hiện hữu kh�ng dựa tr�n bất kỳ uy lực hay thẩm quyền n�o cả.� Mọi việc chỉ đơn giản l� một m�n tr�nh diễn ��� C�c người bản xứ phỏng đo�n đẳng cấp cao thấp v� sự gi�u c� bằng số lượng c�c n� lệ m� một người sở hữu.

 

�-- Ibrahim 1688: 174-77

 

 

Đ�ng Nam � như một Đơn Vị Địa L� Tự Nhi�n

 

���� �t c� khu vực quan trọng n�o của thế giới lại bị ph�n ranh một c�ch qu� ngọan mục bởi thi�n nhi�n cho bằng v�ng Đ�ng Nam �.� R� r�ng được tạo th�nh bởi việc �p hai tầng đ�y biển Th�i B�nh Dương v� Ấn Độ Dương lại với nhau, v�nh ph�a nam của n� l� một c�nh cung địa chất đồ sộ, hay đ�ng hơn h�ng chuỗi c�c c�nh cung, bị đẩy l�n cao bởi tầng đ�y Ấn Độ Dương dồn tới. Hiển nhi�n nhất l� v�ng cung n�i lửa được tạo th�nh bởi Quần Đảo Sunda gồm đảo Sumatra, Java, Bali, Lombok, v� Sumbava, nhưng ngo�i c�c h�n đảo n�y l� một v�nh cung kh�c phần lớn ch�m dưới nước, chỉ tự hiện l�n ở d�y ph�a t�y đảo Sumatra, với một r�nh s�u ti�u biểu vượt qu� n�.� B�n v�nh ph�a đ�ng một c�nh cung ngọan mục kh�c c� hoạt động của n�i lửa được tạo th�nh bởi Phi Luật T�n, một lần nữa với một r�nh s�u nằm b�n ngo�i n�, nơi m� tầng đ�y của Th�i B�nh Dương c� vẻ như lần bước xuống thấp khi n� tr�i d�i ra.� Bi�n giới ph�a bắc của Đ�ng Nam � được tạo lập bởi một phức thể n�i non hầu như kh�ng thể x�m nhập được của ph�a đ�ng rặng Hy M� Lạp Son (Himalaya), nơi ph�t nguy�n của c�c con s�ng lớn nhất của miền n�y.

 

���� Nằm b�n trong c�c bi�n giới n�y c� tọa lạc phần m� c�c nh� địa dư học về v�ng đất cổ xưa (paleogeographers) gọi l� v�ng đất Sunda, v� c�c nh� địa l� đại dương gọi l� Thềm Lục Địa Sunda, c�c luồng nước n�ng chảy từ vịnh Xi�m La đến biển Java.� Mới chỉ mười lăm ngh�n năm trước đ�y, c�c mực nước thấp hơn hai trăm thước v� to�n thể thềm lục địa n�y l� một khối đất bao la nối liền Sumatra, Java, Bali, v� Borneo với v�ng đất liền � Ch�u.� C�c hệ thực vật v� động vật mạnh của miền đ� t�m đường đến c�c h�n đảo lớn hơn n�y trước khi c� sự chia tay của ch�ng với Lục Địa.� Ngay giờ đ�y, khi ch�m xuống nước, Thềm Lục Địa Sunda vẫn đ�ng một vai tr� trung t�m cho người d�n trong miền như l� một trong những khu vực phong ph� nhất về hải sản của thế giới.

 

���� Nước v� rừng l� c�c yếu tố vượt trội trong m�i trường của Đ�ng Nam �.� Mặc d� rất kh� để tiếp cận qua ngả đất liền, mọi nơi trong miền đều được x�m nhập bởi c�c thủy lộ.� Bởi thế một mặt n� tương đối tho�t khỏi c�c cuộc di d�n v� x�m lăng ồ ạt từ miền Trung � vốn ảnh hưởng đến Ấn Độ v� Trung Hoa, trong khi mặt kh�c, n� lu�n lu�n mở cửa cho c�c nh� mậu dịch đường biển, c�c kẻ phi�u lưu, v� c�c nh� truyền đạo nhiều hơn mức trung b�nh.� Kh�ng phải c�c hải lộ c� mặt ở khắp mọi nơi, ch�ng c�n tử tế một c�ch kh�c thường với người đi biển.� Gi� th� điều h�a v� c� thể ti�n đo�n được, với gi� m�a thổi từ ph�a t�y hay ph�a nam trong khỏảng th�ng Năm đến th�ng T�m, v� từ t�y bắc hay đ�ng bắc trong khoảng th�ng Mười Hai đến th�ng Ba.� Ngoại trừ trong v�ng đai b�o tố tại phần ngoại vi ph�a đ�ng của miền n�y, c�c cơn gi�ng kh�ng phải l� một bắt trắc lớn lao cho c�c thủy thủ, c�c kẻ tr�n to�n v�ng sẽ phải lo sợ về c�c luồng chảy xiết tại một số eo biển n�o đ�.� Nhiệt độ nước kh�ng thay đổi, với kết quả l� c�c chiếc t�u kh�ng thể sống s�t qua một cuộc h�nh tr�nh sang �u Ch�u hay Nhật Bản vẫn c� thể hoạt động một c�ch hiệu quả trong nhiều năm tại c�c hải phận Đ�ng Nam �.� Tất cả c�c yếu tố n�y đ� biến cho địa trung hải của Đ�ng Nam � th�nh một địa điểm gặp gỡ v� đại thủy lộ hiếu kh�ch v� hấp dẫn hơn v�ng Địa Trung Hải, s�u hơn v� nhiều gi�ng b�o hơn, của phương T�y.� Bổ t�c cho điều n�y l� sự phong ph� của gỗ tại bờ biển, th�ch hợp cho việc đ�ng t�u, cũng l� một sự tương phản r� rệt với v�ng Địa Trung Hải [�u Ch�u] trong suốt c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bẩy [Braudel 1966: 140-43], v� ch�ng ta c� một miền thuận lợi một c�ch độc đ�o cho hoạt động tr�n biển.� Một chiếc thuyền đ� l� một bộ phận th�ng thường của đồ trang thiết bị trong nh�.

 

���� Yếu tố kh�c, rừng, c� được ưu thế của n� kh�ng phải nhờ ở thổ nhưỡng, vốn c�ng chia sẻ sự tương đối đạm bạc của phần lớn c�c v�ng nhiệt đới, m� l� nhờ ở nhiệt độ v� vũ lượng cao một c�ch đ�ng tin cậy.� Đ�ng Nam � hưởng lợi tức thời từ c�c nhiệt đ�, trung b�nh quanh năm cao như bất kỳ miền n�o kh�c c� k�ch thước tương đương [Fisher 1966: 41-42].� Ngoại trừ tại c�c đầu mũi đ�ng nam v� ph�a bắc của miền (v�ng Quần Đảo Sunda Nhỏ Hơn (Lesser Sunda islands) v� miền bắc Đ�ng Dương v� Th�i Lan), nơi c� một m�a kh� r� rệt, vũ lượng th� kh� ổn định suốt năm, mang lại một lớp che phủ tươi tốt của rừng nhiệt đới lu�n lu�n xanh r�.� Mặc d� một tỉ lệ lớn lao c�y cối thuộc họ Dầu (dipterocarps: loại c�y to, c� nhựa, ch� của người dịch], rừng Đ�ng nam � phơi b�y �một sự phong ph� v� đa loại c�c h�nh dạng kh�ng hề thấy ở bất kỳ ni n�o kh�c tr�n thế giới� [c�ng nơi dẫn tr�n: 43], kể cả nhiều chủng loại c� gi� trị về mặt kinh tế.�� Ngay đến giờ đ�y, c�ng cuộc kỹ nghệ h�a v� sự gia tăng gấp hai mươi lần trong d�n số vẫn chưa th�nh c�ng trong việc chế ngự rừng n�y như �u Ch�u v� Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười s�u đ� l�m tr�n c�c rừng của họ.� Bốn thế kỷ trước đ�y, c�c khu vực canh t�c thường trực chỉ l� c�c khoảnh đất t� hon tại một miền mặt kh�c mọc đầy rừng.� Phổ biến hơn l� sự khai th�c c�c năng lực t�i sinh của ch�nh khu rừng xuy�n qua ph�p lu�n canh v� sự thu lượm c�c sản phẩm của rừng.� Ngay c�c trung t�m đ� thị lớn nhất c� vẻ như đ� hưởng dụng một sự phong ph� về gỗ, tre, v� c�y cọ (dừa) l�m vật liệu x�y cất, đến nỗi ch�ng chưa bao giờ được ghi nhận như c�c mục khoản đ�ng kể của số chi ti�u hay trao đổi tr�n đường biển.� Ven c�c th�nh phố v� c�c khoảnh đất n�ng nghiệp như thế rừng vẫn c�n tồn tại, [như] một t�i nguy�n th�ng thường v� một mối nguy hiểm th�ng thường � nơi tr� ẩn của qu�n thổ phỉ cũng như của hổ, voi, v� sự săn bắn.

 

 

Đ�ng Nam � như một Đơn Vị Nh�n Văn

 

���� Sự biến thi�n g�y sửng sốt của ng�n ngữ, văn h�a, v� t�n gi�o tại Đ�ng Nam �, c�ng với sự mở cửa lịch sử của n� cho thương mại đường biển từ b�n ngo�i miền, thoạt nh�n c� vẻ như th�ch thức bất kỳ nỗ lực n�o nhắm v�o c�c sự tổng qu�t h�a.� Song khi sự ch� � của ch�ng ta chuyển hướng từ ch�nh trị triều đ�nh v� �c�c truyền thống vĩ đại� về t�n gi�o sang c�c t�n ngưỡng d�n gian v� tập tục x� hội của thường d�n Đ�ng Nam �, căn bản chung dần dần trở n�n r� n�t hơn.

 

 


Bản Đồ t�i liệu của Anthony Reid

C�c Đặc T�nh Thi�n Nhi�n v� C�c Nh�m Ng�n Ngữ tại Đ�ng Nam �

 

����

Đối với nhiều hơn ph�n nửa số d�n m� ch�ng ta thảo luận đến � những người n�i c�c ng�n ngữ c� quan hệ chặt chẽ với d�ng Austronesian (Nam Đảo) khi đ� bao tr�m c�c phần giờ đ�y chung ta gọi l� Phi Luật T�n, Malaysia, Nam Dương, ngoại trừ mũi cực đ�ng của n�, v� phần đ�ng nam Việt Nam (nh�m d�n Ch�m) � sự kiện n�y c� thể được giải th�ch một phần bởi họ c� c�ng tổ ti�n [xem bản đồ 1].� C�c ng�n ngữ n�y được nghĩ đ� nảy sinh từ một tiếng mẹ chung [nguy�n mẫu] proto-Austronesian, v�o khoảng năm ngh�n năm trước đ�y, với c�c ng�n ngữ được ph�t �m rộng r�i, ph�n nh�nh hồi gần đ�y nhiều hơn ng�n ngữ [nguy�n mẫu] đ�.� Nh�m ng�n ngữ Mon-Khmer vẫn c�n đựoc n�i tại Pegu v� Căm Bốt trong c�c thời đại lịch sử, đ� được phổ biến c�n s�u rộng hơn nữa so với trước đ�y, tại �t nhất tr�n phần lục địa Đ�ng Nam �.� C�c �m sắc m� tiếng Việt v� nh�m d�n Tai (người Th�i Lan, Shan, L�o, v� c�c d�n kh�c) chia sẻ c�ng với tiếng Trung Hoa, đ� từng c� lần khiến cho c�c nh� ng�n ngữ học xếp loại c�c ng�n ngữ n�y v�o d�ng Hoa Tạng (Sino-Tibetan), nhưng c�ng tr�nh ngi�n cứu gần đ�y [Haudricourt 1953, 1954] đ� x�c định rằng tiếng Việt l� một ng�n ngữ d�ng Austro-Asiatic c� li�n hệ đến d�ng Mon-Khmer, v� rằng c�c �m sắc của n� được ph�t triển tương đối gần đ�y.� C�c nổ lực của Benedict [1942, 1975] để cho rằng ngữ hệ Tai thuộc d�ng Austronesian trong một nh�m Austro-Thai đ� �t được chấp nhận hơn.� C� vẻ ng�y c�ng c� nhiều khả t�nh rằng c�c yếu tố chung c� nhiều trong mọi ngữ tộc Đ�ng Nam � n�n được giải th�ch l� v� c� sự giao tiếp s�u rộng hơn giữa c�c người tiến xuống ph�a nam n�i tiếng Việt Nam, Tai, v� Miến Điện một b�n, v� c�c người n�i tiếng Austronesian v� Mon-Khmer định cư l�u hơn ph�a b�n kia.� Sự vay mượn tương tự n�y từ c�c người Mon, Khmer v� Ch�m vốn định cư l�u hơn phải giải th�ch cho nhiều sự tương đồng văn h�a x� hội kh�c giữa c�c di d�n tương đối gần đ�y với c�c người d�n Đ�ng Nam � kh�c.

 

���� Hai yếu tố kh�c đ� mang đến miền n�y một đặc t�nh chung.� Yếu tố thứ nhất l� sự th�ch ứng với một m�i trường tự nhi�n chung; thứ nh�, một mức độ cao của sự giao tiếp thương mại b�n trong phạm vi của miền.

 

���� M�i trường chung chịu tr�ch nhiệm về một sự dinh dưỡng bắt nguồn chủ yếu từ gạo, c�, v� nhiều loại dừa kh�c nhau.� Đ�ng Nam � kh�ng c� c�c c�nh đồng cỏ đ�ng kể, kh�ng c� truyền thống mục s�c, v� v� thế chỉ c� một sự hấp thụ rất hạn chế chất đạm từ s�c vật.� Gạo c� lẽ c� nguồn gốc bản địa ở Đ�ng Nam � v� trong nhiều ngh�n năm đ� l� lưong thực căn bản của đại đa số d�n ch�ng của miền n�y.� Tại c�c khu vực rải r�c m�i tận Luzon, Sulawesi, Java, Sumatra, v� c�c phần của Xi�m La v� Việt Nam, việc thu gặt được l�m bởi c�c phụ nữ sử dụng kh�ng phải lưỡi liềm m� l� một loại dao [gắn v�o] ng�n tay đặc biệt của Đ�ng Nam �, nhằm để t�n trọng vị thần gạo bằng c�ch chỉ cắt một nh�nh l�a mỗi lần. ��

 

���� Sự chế ngự của gạo v� c� trong sự dinh dưỡng, v� phần �t ti�u d�ng về thịt v� sản phẩm của sữa, l� n�t đặc th� của người d�n Đ�ng Nam �.� Do đ� mắm c� chưa dậy men hẳn đ� cung cấp gia vị ch�nh cho cơm, v� nước dừa cấu th�nh nước uống được ưa chuộng.� C�c c�y dừa cung cấp nhiều hương vị cho sự dinh dưỡng của Đ�ng Nam �, như thể c�c lối sống.� Tại một số �t khu vực, c�y dừa cọ l� nguồn lương thực chế biến th�nh tinh bột, nhưng ở mọi nơi c�y dừa v� dừa nước ngọt cung cấp đường v� nước dừa, y như một loại tr�i c�y.� C�y dừa cau, c� lẽ cũng l� thổ sản của miền, cung cấp hợp chất cốt yếu với l� trầu, đ� kh�ng chỉ l�, ở khắp Đ�ng Nam �, một k�ch th�ch tố th�ng dụng, m� c�n l� một phần tử then chốt trong c�c quan hệ x� hội v� c�c giao dịch về nghi lễ.

 

���� Sự bao tr�m của rừng v� nước tr�n một miền tương đối thưa d�n c�n chịu tr�ch nhiệm nhiều hơn nữa trong c�c lối sống của người d�n Đ�ng Nam �.� Gỗ, c�y dừa, v� tre đ� l� c�c vật liệu x�y dựng� được ưa th�ch, c� vẻ như được cung cấp v� tận bởi rừng bao quanh. �Bởi sự lựa chọn, người d�n Đ�ng Nam � th�ch sống trong c�c ng�i nh� được n�ng cao tr�n c�c cột, bất luận l� ở c�c đồng bằng duy�n hải, như một sự ph�ng bị chống lại c�c cơn lụt mỗi năm, hay tại c�c ng�i l�ng cao nguy�n xa x�i nhất, nơi sự an to�n chống lại c�c sự cướp ph� của con người hay th� vật c� thể l� động lực ch�nh.� Phần lớn c�ch kiến tr�c đặc th�, khu�n mẫu bố tr� trong nh�, v� ngay cả cơ cấu ch�nh trị x� hội ti�u biểu của Đ�ng Nam � c� thể ph�t sinh từ sự dễ d�ng trong việc x�y dựng v� t�i x�y dựng c�c ng�i nh� s�n bằng gỗ v� tranh như thế.

 

���� Tuy thế, kh�ng phải mọi đặc điểm chung của Đ�ng Nam � lại c� thể giải th�ch được bằng một m�i trường chung.� T�nh phổ biến của tục nhai trầu kh�ng thể ph�t sinh từ c�c sự đ�p ứng tự ph�t giống nhau trước sự hiện diện của c�y cau trong miền, bởi ba hợp chất của quả cau, l� trầu, v� v�i phải được mang lại c�ng với nhau trong một phương thức phức tạp trước khi hiệu ứng mong muốn được kinh qua.� Tưong tự, sự ph�t t�n dao [kẹp b�n] ng�n tay, l� r�n c� ống thụt, v� c�c m�n thể thao đặc trưng như đ� g� v� takraw (đ� một giỏ đan như tr�i b�ng l�n trời), hay c�c kiểu c�ch �m nhạc chế ngự bởi c�c chiếc cồng bằng đồng, hay c�ch kiểu mẫu tương tự của việc t� điểm l�n cơ thể hay việc ph�n chia giai cấp kh�ng c� g� d�nh d�ng đến m�i trường.� C�c đường n�t văn h�a v� x� hội căn bản ph�n biệt Đ�ng Nam � n�i chung với một hay cả hai l�ng giềng khổng lồ của n� � Trung Hoa v� Ấn Độ.� Trung t�m của c�c điều n�y l� � niệm về tinh thần �hay �phần hồn� tạo sự linh động của c�c sinh vật; vai tr� trội bật của phụ nữ trong sự truyền giống, c�c vấn đề nghi lễ, tiếp thị v� canh n�ng, v� tầm quan trọng của nợ nần như một yếu tố quyết định nghĩa vụ x� hội.

 

���� Liệu l� c�c hiện tượng chung như thế c� phải được giải th�ch bởi c�c khu�n mẫu di d�n thời tiền lịch sử hay bởi sự li�n tục trong c�c tiếp x�c ch�nh trị v� thương mại hay kh�ng nằm ngo�i cuộc nghi�n cứu n�y.� Điều t�i muốn nhấn mạnh ở đ�y l� sự giao tiếp đường biển đ� tiếp tục nối kết c�c d�n tộc của Đ�ng Nam � với nhau một c�ch chặt chẽ hơn l� c�c ảnh hưởng b�n ngo�i cho m�i đến thế kỷ thứ mười bẩy.� Sự kiện rằng c�c ảnh hưởng của Trung Hoa v� Ấn Độ đ� vươn đến phần lớn trong miền qua mậu dịch đường biển, kh�ng phải bằng sự chinh phục hay thực d�n h�a, c� vẻ bảo đảm rằng Đ�ng Nam � vẫn giữ lại c�c đường n�t độc đ�o của n� ngay cả khi vay mượn nhiều yếu tố từ những trung t�m lớn hơn n�y.� Điều đ� kh�ng xảy ra [ngoại trừ một phần của Việt Nam] l� bất kỳ phần n�o của miền lại đ� thiết lập c�c quan hệ gần cận với Trung Hoa hay Ấn Độ hơn l� với c�c nước l�ng giềng của n� tại Đ�ng Nam �.� Trung Hoa tiếp tục nh�n Đ�ng Nam � [trừ trường hợp đặc biệt của Việt Nam] như một to�n thể -- � v�ng biển ph�a nam� (nam dương: nanyang).� Người Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập v� M� Lai gọi miền n�y l� �c�c v�ng đất nằm b�n dưới c�c luồng gi� thổi� bởi v� c�c gi� theo m�a đ� mang c�c thuyền chở h�ng đến đ� xuy�n qua Ấn Độ Dương.� Cả hai th�nh ngữ nhấn mạnh đến sự kiện rằng phải đến nơi đ� bằng đường biển, bằng một cuộc h�nh tr�nh trong thực chất kh� khăn hơn chuyến đi m� ch�nh người d�n Đ�ng Nam � ca/m thấy cần thiết như khi đi đến c�c điểm tiếp thị trung t�m, chẳng hạn như Sri Vijaya, Melaka, hay Banten.� Như một quan s�t vi�n đ� nhận x�t v�o khoảng năm 1600, khi đề cập ch�nh y�u về v�ng Quần Đảo, rằng �c�c d�n tộc n�y bị bắt buộc phải duy tr� sự giao tiếp thường trực với một d�n tộc kh�c, b�n n�y cung cấp những g� m� b�n kia cần thi�t� [Pyrard 1619, II: 169].� Cho đến khi c� cuộc c�ch mạng mậu dịch của thế kỷ thứ mười bẩy, khi C�ng Ty Đ�ng Ấn của H�a Lan thiết lập được một mạng lưới vận tải s�u rộng v� thường xuy�n g�y kinh ngạc, đ� đảm tr�ch phần chia to lớn c�c sản phẩm xuất cảng của miền v�ng quanh Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope), tr�ng hợp với một sự gia tăng trong sự chuyển vận của Trung Hoa xuống miền biển phia nam (NamDương: Nanyang), c�c sự li�n kết mậu dịch b�n trong phạm vi miền vẫn tiếp tục c� ảnh hưởng nhiều hơn l� c�c quan hệ b�n ngo�i n�.

 

���� Thời kỳ m� t�i mệnh danh l� �kỷ nguy�n thương mại�, từ thế kỷ thứ mười lăm đ�n thế kỷ thứ mười bẩy, đ� l� một giai đoạn trong đ� c�c sự nối kết đường biển n�y đặc biệt s�i động.� T�i sẽ lập luận rằng c�c th�nh phố biển li�n thuộc th� vượt trội trong giai đoạn n�y nhiều hơn, hoặc trước hay kể từ đ�.� Hơn nữa, c�c trung t�m trung chuyển quan trọng nhất đ�i l�c đ� l� c�c nơi n�i tiếng M� Lai � trước hết l� Sri Vijaya v� sau đ�, c�c nơi kế nhiệm của n�, Pasai, melaka, Johor, Patani, Aceh, v� Brunei.� Theo đ� tiếng M� Lai đ� trở n�n ng�n ngữ ch�nh của c�ng cuộc mậu dịch khắp miền Đ�ng Nam �.� Tầng lớp bu�n b�n ở đ� thị của nhiều th�nh phố mậu dịch quan trọng của Đ�ng Nam � dần được xếp loại l� M� Lai bởi v� họ n�i ng�n ngữ đ� [v� theo đạo Hồi], ngay d� tổ ti�n của họ c� thể l� người gốc Java, Mon, Ấn Độ, Trung Hoa, hay Phi Luật T�n.� Điều c� thể đ� xảy ra l� n� lệ gốc Sumatra của Magellan c� thể tức thời hiểu được khi � g n�i với người d�n ở miền Trung Phi Luật T�n v�o năm 1521 [Pigafetta 1524: 136-37], v� gần hai thế kỷ sau đ� đối với c�c người gốc Anh đi theo Dampier đ� học hỏi tiếng M� Lai tại đảo Mindanao (miền nam Phi Luật T�n) v� d�ng lại n� tại Poulo Condore (Đảo C�n Sơn), ngo�i khơi ph�a nam Việt nam [Dampier 1697: 268].� Ch�nh trong thời kỳ n�y m� h�ng trăm từ ngữ M� Lai trong c�c thương mại, kỹ thuật v� c�c l�nh vực kh�c đ� được thu nhập v�o tiếng Tagalog [tiếng Phi Luật T�n] [Wolff 1976]; rằng c�c trung t�m bu�n b�n quan trọng của Căm Bốt đ� dần trở n�n được quen biết bởi từ ngữ ph�t sinh từ tiếng M� Lai, kompong, v� rằng tiếng Việt Nam đ� chấp nhận c�c chữ chẳng hạn như c� lao (từ tiếng M� Lai, pulau, để chỉ h�n đảo) [?].� Tương tự, c�c từ ngữ M� Lai như amok, gudang [nh� kho], perahu [thuyền], v� kris đ� được ghi nhận bởi c�c người �u Ch�u tại Pegu v� ngay cả ở bờ biển Malabar của Ấn Độ, như thể ch�ng l� c�c từ ngữ địa phương [Bausani 1970; 95-96].� �t nhất c�c kẻ l�m ăn trong c�c vấn đề mậu dịch v� thương mại tại c�c hải cảng quan trọng phải n�i được tiếng M� Lai cũng như ng�n ngữ của ch�nh họ.

 

���� Trong việc định nghĩa bất kỳ miền n�o, phần ngoại vi với vị tr� của n� [vẫn] l� một vấn đề kh� khăn. �Thoạt ti�n, t�i định nghĩa với � thức r� rệt một miền h�ng hải được nối kết bởi sự lưu th�ng tr�n biển, sao cho c�c d�n tộc miền n�i của v�ng lục địa ph�a bắc sẽ kh�ng đ�ng giữ một phần lớn n�o trong c�u chuyện của t�i, ngay d� nhiều người trong họ được li�n kết bởi văn h�a với người Th�i ở c�c đồng băng duy�n hải v� trung t�m.� Ở đầu mũi đối nghịch của miền, t�i c� khuynh hướng vạch ra một ranh giới giữa Maluku (Moluccas) v� New Guinea, băng qua đ� mức độ trao đổi tr�n biển v� sự tương đồng văn h�a [mặc d� kh�ng thể kh�ng đếm xỉa đến] trở th�nh một thứ bậc thấp hơn nhiều so với tầm hạn đ� li�n kết Maluku với c�c h�n đảo ở ph�a t�y v� ph�a bắc.

 

���� Việt Nam, kh�ng c� g� phải dị nghị, l� một diễn vi�n quan trọng tại Đ�ng Nam � như ch�ng ta x�c định về n� ng�y nay, tạo ra một vấn nạn nan giải hơn. �Ri�ng nơi đ�y t�i kh�ng thể n�i với sự tự tin rằng c�c th�nh tố chung của Đ�ng Nam � c�n nặng hơn c�c yếu tố đ� li�n kết Việt Nam với Trung Hoa, v� đặc biệt với c�c tỉnh cực nam của Trung Hoa.� Trong sự dinh dưỡng v� trong nhiều tr� giải tr� của họ -- nhai trầu, đ� g�, đ� quả cầu l� chiếc gỉỏ đan (takraw) � người Việt Nam r� r�ng c� chia sẻ một văn h�a chung của Đ�ng Nam �, giống như một v�i l�ng giềng của n� ở ph�a nam Trung Hoa trong thực tế. ��Phụ nữ của họ được tự do hơn một c�ch r� r�ng, c�ng nghệ của họ k�m ph�t triển hơn, so với Trung Hoa.� Song sinh hoạt tr� thức v� ch�nh trị của Việt Nam, v� ngay cả c�c th�i quen căn bản chẳng hạn như c�ch ăn (với đ�i đũa), vốn đ� sẵn được vay muợn s�u xa từ Trung Hoa v�o khoảng thế kỷ thứ mười lăm.� Hơn thế, d�n cư của ch�u thổ s�ng Hồng vốn gần gũi với m� thức đ�ng d�n của Trung Hoa so với khu�n mẫu thưa thơt hơn của Đ�ng Nam �.� Sự kiện n�y c� thể đ� l� l� do tại sao người Việt Nam đ� từ bỏ v�o một l�c n�o đ� trong thi�n ni�n kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n kiểu nh� s�n tr�n cọc của Đ�ng Nam � [?], giống như người Java v� Bali đ� l�m khi d�n số của họ gia tăng trong v�i thế kỷ sau đ�.� N� đ�i hỏi phải sự dụng qu� nhiều gỗ.

 

���� Căm Bốt v� Ch�m, c�ng chia sẻ nửa ph�a nam của Đ�ng Dương cho m�i đến thế kỷ thứ mười lăm, kh�ng c� g� phải nghi ngờ l� mang t�nh chất Đ�ng Nam � trong văn h�a v� định hướng thương mại.� Sự b�nh trướng của Việt Nam g�y tổn thất cho họ, đ� xảy ra rất nhanh trong suốt thời kỳ m� ch�ng ta đang khảo s�t, l� một tiến tr�nh hai chiều, trong đ� kẻ chinh phục Việt Nam kh�ng c� � định x�a bỏ văn

 

 



Bản Đồ t�i liệu của Anthony Reid

C�c Trung T�m Ch�nh Trị tại Đ�ng Nam �, v�o thời khoảng 1600

 

 

h�a đương hữu tại miền nam.� Cho đến thế kỷ thứ mười t�m, miền trung v� nam Việt Nam (khi đ� l� vương quốc do ch�a Nguyễn cai trị, được biết bởi người �u Ch�u l� Cochin-China � xem bản đồ số 2) tiếp tục, th� dụ, ưa th�ch kiểu nh� s�n Đ�ng Nam � dựng cao tr�n c�c cọc [Borri 1633 III: D; La Bissach�re 1812 I: 246).� Mặc d� quốc gia Việt Nam ph�a nam c� nhiều r�ng buộc chặt chẽ về thương mại cũng như về văn h�a với phần c�n lại của Đ�ng Nam � hơn l� với vương quốc cạnh tranh của ch�a Trụnh ở miền Bắc, n� lẽ l� điều phi l� để vạch ra một đường ranh giữa hai miền. �Cả hai trong thực chất l� người Việt Nam, v� cả hai đều hướng nh�n Trung Hoa như một khu�n mẫu văn h�a.� Mặc d� người Việt Nam c� vẻ c� trao đổi với phương nam từ thế kỷ thứ mười hai đến thế kỷ thứ mười lăm, �t nhất từ việc ph�n đ�an tr�n sự ph�n ph�t c�c đồ gồm �An Nam�, họ đ� kh�ng l�m như thế trong c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bảy: �Họ kh�ng l�i thuyền sang Malacca, m� đến Trung Hoa v� đến xứ Ch�m� [Pires 1515: 114; tham khảo Dampier 1699: 46; La Bissach�re 1812, I: 212-19].

 

���� T�m lại, vai tr� của Việt Nam như l� một bi�n giới giữa Đ�ng Nam � v� Trung Hoa, v� l� một vai tr� quan yếu.� Nếu Việt Nam đ� kh�ng học được thật cặn kẽ c�c b�i học về phương s�ch qu�n sự v� h�nh ch�nh Trung Hoa, v� đ� kh�ng chiến đấu thật gian khổ để duy tr� sự b�nh đẳng v� độc lập của n� với Vương Quốc Trung T�m, ảnh hưởng ch�nh trị Trung Hoa chắc chắn sẽ lan tr�n xa hơn nữa về ph�a nam, sử dụng cả c�c đường bộ cũng như c�c hải lộ.� Như đ� diễn ra, Việt Nam đ� buộc Trung Hoa chỉ đến được v�ng biển ph�a nam (Nanyang) bằng đường biển, v� hầu như kh�ng g� kh�c hơn c�c nh� mậu dịch h�a b�nh.� Trong một v�i kh�a cạnh quan trọng, Việt Nam sẽ c� vẻ như l� một phần của thế giới kẻ biển Đ�ng Nam �.� Ở phần lớn c�c kh�a cạnh kh�c, Việt Nam sẽ kh�ng phải l� như thế./- ���������

_____

 

T�I LIỆU THAM KHẢO

 

Bausani, A. 1970.� �Indonesia in the Work of Italians�, trong Lettera di Giovanni da Emploli, ed. A. Bausani, Rome: Istituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente, c�c trang 85-102.

 

Benedict, Paul K., 1942.� �Thai, Kadai, and Indonesian: A New Alignment in South-eastern Asia�, American Anthropologist 44, c�c trang 576-601.

 

Benedict, Paul K., 1975. Austro-Thai Language and Culture, with Glossary of Roots, New Haven, HRAF Press.�

 

Borri, Christoforo 1633.� Cochin-China, trans. R. Ashley.� London: Richard Clutterbuck.� S�ch in lại. London: Da Capo Press, 1970 [chia, đ�nh s� trang bằng mẫu tự].

 

Braudel, Fernand, 1966. The Mediterranean and the Mediterranean World in the Age of Philip II, trans. S. Reynolds, 2 vols. New York: Harper Colophone Books, 1976.

 

Dampier, William 1697.� A New Voyage round the World, ed. Sir Albert Gray, London: Argonaut Press, 1927.

 

Dampier, William 1699.� Voyages and Discoveries, ed. C. Wilkinson, London: Argonaut Press, 1931.

 

Fisher, Charles A., 1966. Southeast Asia: A Social, Economic, and Political Geography, London: Methuen.

 

Haudricourt, A. G. 1953.� �La place du Vietnamien dans les langues austroasiatiques�, Bulletin de la Soci�t� de Linguistique 49, c�c trang 122-28.

 

Haudricourt, A. G. 1954.� �De l�origine des tons en Vietnamien�, Journal Asiatique 242, c�c trang 69-82. �

 

La Bissach�re, de 1812.� �tat actuel du Tonkin, de la Cochinchine, et des royaumes de Cambodge, Laos, et Lac-Tho, 2 vols.� Paris: Galignani.

Pigafetta, Antonio 1524.� First Voyage around the World, trans. J. A. Robertson, Manila: Filipiniana Book Guild, 1969, c�c trang 1-101.

 

Pires, Tom� 1515.� The Suma Oriental de Tom� Pires, trans. A. Cortesao, 2 vols.� London: Hakluyt Society, 1944.

 

Pyrard, Francis 1619. The Voyage of Francis Pyrard of Laval to the East Indies, the Maldives, the Moluccas, and Brazil, trans. A. Gray, 2 vols. London: Hakluyt Society, 1887-89.

 

Wolff, J. O. 1976.� �Malay Borrowings in Tagalog, trong Southeast Asian History and Historiography: Essays Presented to D. G. E. Hall, ed. C. D. Cowan and J. M. Echols, Ithaca: Cornell University Press, c�c trang 345-67.

_____

 

Nguồn: Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce 1450 � 1680, Volume One, The Lands below the Winds, New Haven and London: Yale University Press, 1988, Chương I, c�c trang 1-10.

 

 

Ng� Bắc dịch

24/8/2008

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2008 gio-o