Alexander Woodside

University of British Columbia, Canada

 

C�C VẤN ĐỀ GI�O DỤC TRONG

 

C�C CUỘC C�CH MẠNG

 

TRUNG QUỐC V� VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

***

������ �t sử gia sẽ lấy l�m ngạc nhi�n bởi sự kiện rằng gi�o dục � v� c�c cuộc tranh luận về c�c h�nh thức gi�o dục kh�c nhau � đ� cấu th�nh một chiến trường trung t�m quan trọng cho c�c ch�nh trị gia c�ch mạng tại Trung Quốc v� Việt Nam trong phần lớn thế kỷ thứ hai mươi.� Ch�nh trị v� gi�o dục, sau hết, đ� h�a trộn v�o nhau một c�ch mật thiết hơn rất nhiều trong lịch sử Trung Quốc v� Việt Nam so với phần lớn lịch sử T�y Phương thời tiền hiện đại, đ�i khi tạo ra một sự ổn định thư lại tự gi�c, kh�o l�o.� Cho d� ch�ng ta c� thể khinh thị đến đ�u sự hạn hẹp tr� thức của c�c hệ thống kh�o hạch phục vụ h�nh ch�nh c�ng quyền theo Khổng học vốn đ� gi�p v�o việc tuyển chọn giới tinh hoa cai trị tại Trung Quốc v� Việt Nam trong hơn t�m thế kỷ, ch�ng ta phải nh�n nhận rằng chưa bao giờ tầng lớp cầm quyền tại bất kỳ quốc gia T�y Phương thời trung cổ hay sơ kỳ hiện đại n�o lại đạt được vị thế cao qu� của n� nhờ ở c�c th�nh t�ch gi�o dục của m�nh một c�ch hiển hiện như đối với giai cấp sĩ-n�ng (scholar-gentry: sĩ phu-điền chủ cỡ nhỏ), những kẻ m� sự sở hữu sự gi�u c� bằng ruộng đất thường l� cần thiết nhưng bản th�n chưa đủ cấu th�nh một phương c�ch để gi�nh được quyền lực ch�nh trị.� Mặt kh�c, sự giải th�ch n�y đ�i khi l�m ph�t sinh c�c sự xung đột man rợ: th�nh tr� giới tinh hoa của nền gi�o dục Khổng học c� thể bị bọc quanh v� bao v�y bởi c�c tầng lớp thấp hơn m� n� đ� trực tiếp hay gi�n tiếp cắt đứt sự th�ng c�ng.� Ch�nh v� thế, Chang Hsien-chug, một n�ng d�n-khủng bố Trung Hoa thế kỷ thứ mười bẩy, từng thiết lập một c�ch ngắn ngủi một ch�nh quyền tại Vũ H�n v�o năm 1643, đ� tiến h�nh cuộc nổi loạn đẫm m�u của anh ta sau khi bị trục xuất ra khỏi một ng�i trường l�ng tại Shensi (Thiểm T�y?) v� tội đ�nh chết một bạn c�ng trường; Li Wen-ch�eng, kể nổi loạn gi�o ph�i Bạch Li�n Gi�o m� cuộc tấn c�ng dữ dội v�o c�c cung điện Bắc Kinh trong năm 1813 đ� để lại c�c dấu vết vẫn c�n được tr�ng thấy nơi c�c cổng dinh thự, cũng đ� th�c đẩy sự phản kh�ng của anh ta v� bị đuổi khỏi trường học, v� đ� trả th� bằng việc lục so�t nhiều kịch t�nh c�c học viện Khổng học tại H� Nam.

������ Trong địa h�nh bấ định giữa hai th�i cực của sự ổn định v� sự xung đột, c�c x� hội Khổng học thừa nhận sự hiện hữu của một truyền thốg quan trọng của người th�y gi�o-sĩ phu ngh�o khổ, nhiều l� tưởng ở v�ng xa x�i hẻo l�nh, kẻ mơ mộng thực hiện, v� đ�i khi c� thực hiện được, một sự can thiệp quyết liệt trong ch�nh trị.� C�c người T�y Phương (đặc biệt người thuộc chủng Anglo-Saxons), vốn quen thuộc với một hố s�u ngăn c�ch đ�ng kể trong c�c x� hội của ch�nh họ, giữa, th� dụ, thế giới của c�c kẻ hoạt động ch�nh trị với thế giới của người th�y gi�o trung học v�ng qu�, đ� kh�ng được chuẩn bị cho một truyền thống như thế, nhưng sức mạnh của n� th� rất hiển nhi�n tại Trug Quốc v� Việt Nam hiện đại.� Một số lượng đ�ng ngạc nhi�n c�c nh� c�ch mạng v� c�c văn gia c�ch mạng Trung Hoa nổi tiếng đến từ h�ng ngũ c�c trợ gi�o, c�c th�y gi�o trung v� tiểu học, v� c�c nh� quản trị gi�o dục.� Danh s�ch bao gồm ngay ch�nh Mao Trạch Đ�ng, Ch�u Ch�iu-pai, P�eng P�ai, Lu Hsun, Yeh Shao-chun v� Sung Chiao-jen, như một th� dụ g�p nhặt t�nh cờ.� Tại Việt Nam, c�u chuyện cũng tương tự.� Từ một số quan điểm, V� Nguy�n Gi�p l� một cựu th�y gi�o trung học đ� l�m việc hữu hiệu nhất của thế giới.� Một t�a �n thực d�n Ph�p, điều tra đảng c�ch mạng Việt Nam Quốc D�n Đảng trong năm 1929, đ� kh�m ph� với sự buồn rầu của n� rằng hai �cột trụ� của Đ�ng Dương, c�c binh sĩ v� c�c gi�o vi�n tiểu học, cũng l� c�c cột trụ của phe Quốc Gia chống Ph�p. 1

Kh�ng may, sự c�ng nhận t�nh trạng thuận lợi năng động với n� ch�nh trị v� gi�o dục đ� trộn lẫn v�o nhau tại Việt Nam v� Trung Quốc thế kỷ thứ hai mươi l� một việc; sự hiểu biết tầm mức theo đ� gi�o dục, v� c�c tiến tr�nh gi�o dục, vốn đ� thực sự kh�ch động c�c cuộc c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam, hơn l� chỉ phản ảnh ch�ng, lại l� một chuyện kh�c.� Tại Trung Quốc, c�c trường học c� thể đ� l�m trầm trọng hơn c�c sự căng thẳng giữa c�c tầng lớp x� hội kh�c nhau, kh�ng nhất thiết bởi v� c�c trường học lu�n lu�n l� c�c khu vực bảo vệ đặc quyền đ�ng gh�t của một tầng lớp x� hội, m� bởi v� ch�ng c� thể mở cửa tương đối cho c�c th�nh vi�n của c�c tầng lớp x� hội kh�c biệt v� v� thế đặt cạnh nhau c�c kẻ vốn đ� sẵn đối nghịch với nhau v� nay gi�nh được c�c cơ hội mới để tinh chế sự th� hận của họ.� Cuộc phỏng vấn m� Hsu Hai-tug, con trai một người thợ gốm đ� trở th�nh vi�n tư lệnh Qua6n Đo�n Hồng Qu�n Thứ 15, d�nh cho Edgar Snow trong thập ni�n 1930, mang lại một th� dụ sống động: cậu thiếu ni�n họ Hsu, ngồi �c�ng b�n� với con c�c địa chủ v� thương gia; khi ch�ng chửi rủa anh ta bởi anh mặc quần �o r�ch rưới hay �hi�m� khi đi giầy, anh ta nhận thấy rằng anh ta �kh�ng thể tr�nh kh�ng đ�nh nhau với ch�ng.� 2

Song, c�c nh� c�ch mạng v� c�c nh� cải c�ch Trung Hoa đ� c� khuynh hướng ngang bằng, trước năm 1949 v� chắc chắn trước năm 1935, để nhấn mạnh đến c�c trở ngại m� c�c hệ thống gi�o dục Trung Hoa hiện hữu đ� đặt ra tr�n con đường c�ch mạng, cũng như để nh�n hau h�u đến c�c tiềm năng của c�c ng�i trường Trung Hoa như c�c vườn ương mầm phản kh�ng ch�nh trị v� x� hội.� Ch�nh từ đ�, quyển lịch sử nổi tiếng về tư tưởng gi�o dục Trung Hoa hiện đại m� nh� canh t�n v� l� thuyết gia gi�o dục Shu His-ch�eng đ� ấn h�nh trong những năm đầu của ch�nh phủ Quốc D�n Đảng tại Nam Kinh chứa đựng c�c sự ph�n t�ch sầu muộn về việc l�m sao gi�o dục Trung Hoa hiện đại đ� triệt hủy chủ nghĩa d�n tộc Trung Hoa hơn l� t�n trợ n�.� Trong số nhiều điều kh�c, họ Shu than v�n sự ưa th�ch đại ch�ng cố chấp về tư tưởng đại đồng �kh�ng tưởng� trong c�c giới gi�o dục Trung Hoa đương thời, chỉ giới hạn l�ng y�u mến của họ cho c�c kh�i niệm quốc gia � d�n tộc; sự truyền b� một nền gi�o dục truyền gi�o T�y Phương tự phụ khắp Trung Hoa đề cao sự sử dụng c�c s�ch gi�o khoa ngoại quốc v� tước đoạt c�c c�ng d�n Trung Hoa cơ hội để vun xới một sự tự � thức về d�n tộc; v� sự k�o d�i phi l� �hệ thống� sinh vi�n hải ngoại, đ� cướp đoạt c�c tr� thức Trung Hoa một tinh thần th�ch đ�ng của sự s�ng tạo độc lập, v� l�m nản l�ng sự tăng trưởng c�c khả năng �p dụng sự lĩnh hội hiện đại đối với c�c vấn đề đặc th� Trung Hoa. 3

Ngay từ năm 1923, phong tr�o Cộng Sản Trung Hoa � hay, một c�ch cụ thể hơn, n�ng hội Haifeng của P�eng P�ai tại Quảng Đ�ng � đ� lập ra �Bộ Gi�o Dục� ri�ng của n� để điều khiển sự quản l� c�c trường học miễn ph� d�nh cho c�c n�ng d�n.� Đảng đ� giải t�n một guồng m�y gi�o dục tư nh�n đ�ng kể kh�ng muộn hơn hồi đầu thập ni�n 1930.� Nhưng c�c l� thuyết gia gi�o dục Cộng Sản Trung Quốc ban đầu, trong đ� Yang Hsien-chiang (1895-1931) ở trong số c�c nh�n vật quan trọng nhất, cũng đ� lo sợ viễn ảnh rằng gi�o dục c� thể trở th�nh một suối nguồn của c�c ảnh hưởng v� c�c t�m l� phản c�ch mạng ngấm ngầm.� Trong quyển s�ch tiền phong của �ng, T�n Gi�o Dục Đại Cương (Hsin chiao-yu takang) ấn h�nh trong năm 1930, họ Yang đ� cảnh c�o tất cả c�c kẻ M�c-X�t Trung Quốc rằng niềm tin Trung Hoa l�u đời nơi sự to�n năng của gi�o dục (theo s�t từng chữ, �gi�o dục vạn năng thuyết� Trung Hoa, chiao-yu wanneng shuo) đ� l� một sự nguyền rủa cũng như một sự �n sủng, bởi n� đ� đe dọa l�m lạc hướng sự ch� � của c�ng chug khỏi nhu cầu của cuộc đấu tranh của Trung Hoa chống lại chủ nghĩa phong kiến v� chủ nghĩa đế quốc, v� khuyến kh�ch c�c kẻ y�u nước tin tưởng rằng Trung Hoa c� thể được cứu vớt xuy�n qua c�c sự biến đổi gi�o dục kh�ng th�i.� Sự l�ng t�ng như thế về vai tr� của gi�o dục trong c�ch mạng vẫn đang gi�y v�, hay l�m phong ph� th�m, Chủ Nghĩa Cộng Sản Trung Quốc trong năm 1976; ng�y nay, n� mang h�nh thức của dự cảm rằng c�c trường học, bởi bản chất của ch�ng, c� thể trợ lực v�o việc đẩy ng� một sự �phục hồi tư bản chủ nghĩa� ngay d� sau khi c�c sự sắp xếp kinh tế tư sản đ� bị trấn �p.

Việt Nam, kh�ng giống như Trung Quốc, đ� l� một x� hội thuộc địa ho�n to�n cho tới năm 1954.� Song sự kiện n�y kh�ng nhất thiết gi�p ta dễ d�ng hơn để nhận biết c�c khu�n mẫu gi�o dục như động lực ch�nh yếu của c�ch mạng Việt Nam.� Thoạt nh�n, sự ph�t biểu n�y c� thể l�m giật m�nh: trong thực tế mọi �phong tr�o đấu tranh� theo chủ nghĩa d�n tộc Việt Nam chống lại sự cai trị của người Ph�p trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930 được tr�n ngập bởi học sinh v� c�c th�y gi�o của họ, từ phong tr�o ở Nam Kỳ d�ng việc b�i kh�a như một phương c�ch đ�i hỏi sự ph�ng th�ch �ng Nguyễn An Ninh, cho đến c�c tang lễ c�ng khai cho nh� l�nh tụ phe d�n tộc chủ nghĩa bị từ trần đột ngột, �ng Phan Chu Trinh, trong năm 1926, cho đến cuộc đấu tranh đ�i �n x� cho một l�nh tụ vĩ đại kh�c của phe d�n tộc chủ nghĩa, �ng Phan Bội Ch�u.� Sự bất ổn trong c�c trường học ở Đ�ng Dương đ� kh�ng chỉ xuất hiện m� c�n bị được khuếch đại bởi sự đ�n �p vụng về của người Ph�p m� n� đ� khi�u dẫn.� Ch�nh v� thế, khi một học tr� tại Trường Bảo Hộ ở H� Nội, �ng Phạm Tất Đắc, đ� viết một bản văn tuy�n truyền d�n tộc chủ nghĩa cho thanh thiếu ni�n, b�i Chi�u Hồn Nước trong năm 1925, chế độ thực d�n đ� kết an �ng ba năm t�; v� khi c�c học tr� tại Trường cao tiểu (tiểu học cao cấp) tại Vinh b�y tỏ cảm t�nh với phong tr�o �s� viết� l�ng x� m� Đảng Cộng Sản Việt Nam sơ khai tổ chức tại miền bắc trung phần Việt Nam trong năm 1930, năm trăm người trong họ đ� bị đuổi học.

Dĩ nhi�n, nhiều học sinh v� th�y gi�o Việt Nam trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930, với tư c�ch th�nh vi�n của c�c gia đ�nh quan lại đầy ki�u h�nh hay c�c l�ng x� trở th�nh nạn nh�n bởi cuộc chinh phục của Ph�p, đ� sẵn l�ng để kh�ng cự ngay cả trước khi họ đặt ch�n đến c�c ng�i trường.� V� thế, trong phạm vi bản th�n c�c ng�i trường, chủ nghĩa d�n tộc Việt Nam c� thể kh�ng được nhận thức l� được củng cố nhiều bởi chủ nghĩa tinh hoa c� tinh c�ch chủng tộc v� chủ nghĩa b�nh trướng văn h�a vốn biểu thị kh�ng ngừng cho hệ thống gi�o dục thực d�n.� Ngay trong năm lớp sau c�ng [sic] của trường tiểu học, đừng n�i đế c�c tr�nh độ cao hơn của nền gi�o dục, c�c th�y gi�o v� học tr� Việt Nam bị buộc phải n�i tiếng Ph�p chứ kh�ng phải tiếng Việt; sự ph�n chia giai tầng ng�n ngữ như thế đ� cắt họ rời khỏi giới n�ng d�n v� qu� khứ cổ điển của ch�nh họ, v� khiến cho họ cảm nhận một c�ch m�nh liệt về những ai gi�nh thắng v� những ai thua thiệt về mặt ch�nh trị từ sự đoạn tuyệt n�y.� C�c th�y gi�o trường tiểu học Việt Nam đ� bị ra lệnh giảng dạy lịch sử Ph�p từ thời lập quốc, nhưng chỉ dạy lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ mười s�u về sau; v� sự bất qu�n bằng c�n bị l�m tổn thương hơn bởi sự kiện rằng c�c ng�y nghỉ lễ của trường học tưởng nhớ c�c c�u chuyện trong lịch sử Ph�p hơn l� lịch sử Việt Nam.� Nhiều tr� thức Việt Nam c�n sống ng�y nay c� thể nhớ lại sự bất xứng nhục nh� của việc phải đứng dậy v� h�t �Ch�ng ta l� con ch�u giống d�n Gauls� tại c�c lớp học của họ tại Sa�gon hay H� Nội nh�n dịp lễ kỷ niệm h�ng năm b� Joan of Arc.� C�c nh� c�ch mang. Trung Hoa, ngay cả c�c kẻ đ� tốt nghiệp từ c�c cơ sở truyền gi�o T�y Phương như �Đại Học Yale� tại Trường Sa, nơi m� c�c m�n học Th�nh Kinh c� t�nh chất bắt buộc cho đến cuối thập ni�n 1920, đ� kh�ng c� kinh nghiệm ho�n to�n tương tự.

Tuy thế, chưa đến 3 phần trăm d�n số Việt Nam đ� c� bất kỳ sự tiếp x�c n�o với c�c trường c�ng lập thực d�n ngay ở những năm cao độ nhất của c�c sĩ số theo học của ch�ng.� Ngay trong năm 1942, hơn 98 phần trăm của tổng s� d�n Việt Nam (chưa đến 550,000) đ� đ�nh kết với c�c định chế gi�o dục bị hạn định với c�c h�nh thức kh�c nhau của c�c trường tiểu học; c�c ng�n s�ch của c�c ch�nh quyền Đ�ng Dương kh�c nhau cho năm 1941-1942 đ� d�nh 10.7 phần trăm tổng số thu của ch�ng cho c�c t�a �n v� c�c nh� t�, nhưng chỉ d�nh 4.4 phần trăm s� thu cho gi�o dục của bất kỳ loại n�o. 4 Tổng kết, khối lượng bao la của d�n số Việt Nam vượt ra ngo�i bất kỳ sự li�n can trực tiếp n�o trong c�c sự đối đầu văn h�a v� chủng tộc vốn l� c�c nơi chốn thường dễ g�y chết người biết đ�n trong thế giới gi�o dục; v� điều cần phải ghi nhớ rằng nhiều người Việt Nam đ� chịu đựng c�c sự đối đầu như thế c� thể đ� hướng, kh�ng phải đến c�ch mạng, m� đến điều m� Max Gluckman đ� gọi l� �c�c nghi thức của sự nổi loạn,� hay c� thể bịa đặt ra c�c sự tưởng tượng văn chương ao ước c� thể gi�p v�o việc l�m ngu�i ngoai c�c sự uất ức của họ.

������ Một th� dụ của trường hợp kể sau c� thể được nh�n thấy nơi c�c truyện trinh th�m được ưa th�ch m� nh� thơ huy ho�ng Thế Lữ, một trong những văn gia quan trọng nhất của Việt Nam hồi thập ni�n 1930, đ� s�ng t�c ra sau khi �ng rời (m� kh�ng tốt nghiệp) Trường Mỹ Thuật H� Nội, vốn phải mang tai tiếng khi đ� v� sự gi�m pha của n� đối với c�c truyền thống nghệ thuật v� thẩm mỹ Việt Nam cổ k�nh hơn.� Trong thực tế, c�c truyện của �ng đ� nỗ lực một c�ch đ�ng ghen gh�t để bắt chước chuyện d�n gian x� hội c�ng nghiệp của T�y Phương, c� rất l�u trước khi c� bất kỳ sự kỹ nghệ h�a thực sự n�o tại Đ�ng Dương.� Một c�ch cụ thể, �ng đ� khởi đầu để tạo ra một th�m tử Sherlock Holmes Việt Nam, vốn được nhắm một c�ch h�o hiệp để tạo ra một biểu tượng văn chương bản địa c� thể đại diện một c�ch th�nh c�ng cho c� nh�n chủ nghĩa T�y Phương (�t c� nh�n vật trog văn chương lại c� nhiều t�nh c�ch c� nh�n chủ nghĩa cho bằng Sherlock Holmes), v� c�c sự �p dụng x� hội của c�c phương ph�p �khoa học,� đối với khối độc giả Việt Nam, trong sự cạnh tranh với c�c thực d�n �u Ch�u trong đời sống thực của Việt Nam.� Ch�ng ta c� một cảm nhận về khao kh�t bị �p chế sơ s�i để l�m chủ mọi ti�u chuẩn cư xử mu�n m�u của c�c x� hội c�ng nghiệp T�y Phương trong một đoạn văn từ một trong c�c tiểu thuyết của �ng trong đ� vi�n th�m tử tư Việt Nam của �ng, L� Phong, đ� tự l� luận về bản chất của người đ�n b� huyền b� đ�ng nghi ngờ, Mai Hương, kẻ c� �m mưu buộc anh ta phải điều tra.� Vi�n th�m tử Sherlock Holmes Việt Nam n�i: �Mai Hương, Henriette Mai Hương � một c� g�i Việt Nam đ� trở th�nh một c�ng d�n Ph�p � một khả t�nh l� c� ta l� kẻ �m mưu ch�nh của vụ n�y, v� một khả t�nh thứ nh� l� c� ta l� một nh�n vi�n quỷ quyệt của c�c kẻ s�t nh�n.� Một nh�m c�c kẻ s�t nh�n c� c�c hoạt động rất im tiếng, được thực hiện rất ho�n hảo, rất b� mật, kh�ng kh�c g� với một hội v� c�ng t�i t�nh của tội phạm c� tổ chức tại những nước T�y Phương.� V� người thiếu nữ n�y đ�ng l� như thế.� Thực kỳ lạ, thực nguy hiểm, v� c�ng với c�c cử chỉ kh�c thường giống như c�c cử chỉ của một nữ găng-tơ tại Mỹ hay tại Anh Quốc.� Ai l� kẻ đ� từng nghĩ rằng tại nước Việt Nam ch�ng ta, c�c qu�i vật gh� gớm như thế lại sẽ xuất hiện. 5

Ch�nh từ đ�, sợi d�y li�n kết giữa gi�o dục thực d�n v� c�ch mạng vẫn c�n l� điều g� đ� của một c�u đố.� Kh�ng t�m c�ch giải quyết n� ở đ�y, người ta c� thể đưa ra một sự tổng qu�t h�a so s�nh hiển nhi�n về gi�o dục trong c�c cuộc c�ch mạng Trung Hoa v� Việt Nam.� Lịch sử gi�o dục cao cấp tại Trung Quốc từ năm 1949 đ� bị x�o trộn v� nung nấu (hay �bị gi�n đoạn một c�ch li�n tục,� trong cung c�ch của mọi cuộc c�ch mạng v� sản đ�ch danh, theo Karl Marx trong The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte) bởi c�c sự bất đồng trung t�m giữa c�c nh� l�nh đạo Cộng Sản Trung Quốc về c�c mục đ�ch v� c�c thể thức của n�, cũng như về chiều s�u của sự nối kết mong ước của c�c mục đ�ch v� c�c thể thức n�y với c�c ti�u chuẩn kỹ thuật v� khoa học của T�y Phương (v� Nga).� Lịch sử của gi�o dục cao cấp c�ng sản Việt Nam chưa bao giờ được biểu thị bởi c�c sự bất đồng tương đương v� sự xung đột � thức hệ.� C�c gốc rễ lịch sử của sự ph�n kỳ nổi bật n�y th� thật xứng đ�ng cho một số sự suy x�t, với sự kiện rằng di sản gi�o dục thời tiền hiện đại tại Trung Hoa v� Việt Nam đ� chia sẻ chung một nền tảng Khổng học.

Đến mức độ n�o c�c hệ thống gi�o dục thiết yếu cho việc khởi hứng c�c x� hội c�ng nghiệp �p đặt c�c đ�i hỏi kỹ thuật v� tr� thức vượt qu� c�c � thức hệ ch�nh trị cụ thể? Dĩ nhi�n, kh�ng nh� c�ch mạng Trung Quốc hay Việt Nam n�o lại sẽ chấp thuận sự giải trừ ho�n to�n � thức hệ ch�nh trị ra khỏi giao dục cao cấp bao giờ.� Nhung c�ch mạng Trung Quốc đ� chứa chấp một loạt c�c phe ph�i bị đẩy lui bởi � niệm về một sự t�i x�y dựng phi � thức hệ nền gi�o dục Trung Hoa ở c�c mức độ biến đổi lớn lao (v� dễ b�ng nổ).

Th� dụ, trong năm 1958, Lu Ting-I [Lục Định Nhất?], trưởng ban Tuy�n Truyền của Đảng, đ� tố c�o �l� thuyết� m� �ng n�i được loan truyền rộng r�i trong c�c giới gi�o dục Trung Quốc: rằng trong khi mọi nh� gi�o dục Trung Quốc phải chấp nhận sự l�nh đạo của đảng Cộng Sản tr�n l� thuyết, họ phải tiếp thụ c�c �sự chỉ dẫn cốt yếu� cụ thể hơn cho c�ng việc của họ xuy�n qua sự học hỏi lịch sử gi�o dục thế giới.� Họ Lu đ� đ�p lại rằng mong ước đặt gi�o dục Trung Quốc c�ch mạng tr�n sự học hỏi về �lịch sử gi�o dục� thế giới chỉ l� một duy�n cớ cho việc chấp nhận c�c ch�nh s�ch gi�o dục �tầng lớp tư bản chủ nghĩa� v� đặt ch�ng v�o một hệ thống x� hội chủ nghĩa. 6 (Một thập ni�n sau đ�, trong cuộc C�ch Mạng Văn H�a, ch�nh Lu Ting-I đ� bị trừng phạt v� tước bỏ quyền lực về việc được nghĩ đ� ph�t huy một hệ thống gi�o dục song h�nh vốn kỳ thị chống lại đại ch�ng, bằng việc d�nh gi�o dục cao cấp cho một thiểu số c�c chuy�n vi�n thuộc tầng lớp thượng v� trung lưu, trong khi dồn tất cả c�c sinh vi�n kh�c v�o gi�o dục �sản xuất lao động�, đ�ng theo c�c l� thuyết của l� thuyết gia gi�o dục S� Viết Ivan A. Kairov.) Trong năm 1976, c�c kẻ th� của cuộc c�ch mạng gi�o dục ph�i Mao trong đảng đ� cảnh c�o r� r�ng rằng c�c tham vọng của phe Mao nhằm tạo lập c�c đại học được điều h�nh bởi c�c c�ng nh�n v� c�c n�ng d�n phản lại c�c nhu cầu kh�ng thể thay đổi được của chương tr�nh �tứ hiện đại h�a� về n�ng nghiệp, c�ng nghiệp, quốc ph�ng Trung Quốc v� kỹ thuật khoa học.� N�i c�ch kh�c, ngay ch�nh từ ngữ �hiện đại h�a,� từng c� thời được y�u mến biết bao bởi c�c nh� khoa học x� hội Mỹ, giờ đ�y đang trở th�nh một vấn đề ch�nh trị tại Bắc Kinh, một �ng ba bị (trong qua điểm phe theo Mao) m� với n� giới kỹ thuật gia đang t�m c�ch để �dọa dẫm� c�c nh� c�ch mạng ch�n thực. 7 Phe theo Mao trả lời rằng c�c nh� gi�o dục Trung Quốc n�i về �tứ hiện đại ho� kh�ng nối kết ch�ng với sự cần thiết của sự cai trị của tầng lớp v� sản, m� thảo luận ch�ng trong sự t�ch biệt thanh thản khỏi c�c mệnh lệnh ch�nh trị của x� hội chủ nghĩa; 8 t�m tắt, rằng sự t�n s�ng l�y lan sự �hiện đại h�a� trong thực tế đ� vượt qu� � thức hệ đối với �t nhất một số đảng vi�n Cộng Sản Trung Quốc.

C� lẽ chủ đề ch�nh của cuộc c�ch mạng gi�o dục theo phe Mao đ� l� sự thiết lập �quyền tối thượng� của giai cấp c�ng nh�n v� c�c th�nh vi�n của n� trong ch�nh trị cũng như trong �l�nh vực kỹ thuật�. �C�c nỗ lực lớn lao đ� được thực hiện để bảo đảm rằng c�c đ�n khoa học gia v� c�c chuy�n vi�n kỹ thuật trẻ tuổi m� Trung Quốc phải đ�o tạo ra để trở th�nh một đại cường sẽ kh�ng được tuyển mộ h�ng loạt từ c�c hậu duệ của giai cấp thượng lưu thời tiền c�ch mạng.� (Điều đ�ng ghi nhận rằng �c�c đại học c�ng nh�n 21 Th�ng Bẩy� đ� được khuyến kh�ch để ph�t triển đặc biệt ở c�c tỉnh ph�a nam v� đ�ng nam Trung Quốc -- trung t�m của c�c gia đ�nh sĩ phu-điền chủ cổ xưa với c�c trường học gi�ng d�i Khổng học v� (sau n�y) c�c đại học theo kiểu T�y Phương.� V�o Th�ng S�u 1975, đ� c� khoảng 360 c�c Trường Đại Học 21 Th�ng Bẩy n�y, hay c�c đại học t� hon do x� nghiệp điều h�nh, tại Thượng Hải kh�ng th�i, vốn l� th�nh tr� của giới tr� thức Trung Hoa trong thời khoảng từ 1911 đến 1949 cũng như l� qu� hương của một giới v� sản tập trung.) Ngay ch�nh mục ti�u của c�c trường đại học của c�c c�ng nh�n l� cải tạo c�c c�ng nh�n Trung Quốc th�nh �c�c kẻ v� sản được tr� thức h�a� c�ng l�c với ch�nh c�c nh� tr� thức phục vụ như c�c c�ng nh�n.� Tiến tr�nh n�y, n� đ� hy vọng, sẽ cắt giảm một c�ch thiết yếu c�c sự kh�c biệt giữa c�c c�ng nh�n tr� �c v� c�c c�ng nh�n tay ch�n, song trong một hồi kh�c của cuộc đấu tranh đ�ng t�n k�nh của c�c nh� c�ch mạng Trung Quốc chống lại di sản đ�ng t�n k�nh hơn nhiều của Mạnh Tử.

Như một phần của sự th�nh h�a c�c nhu cầu, c�c gi� trị, v� c�c kinh nghiệm của c�c giai cấp thấp k�m của Trung Quốc, c�c nh� khoa học Trung Quốc kh�ng c�n được t�m c�ch viết c�c quyển s�ch gi�o khoa sẽ gi�nh đoạt �c�c �m vang của sự danh tiếng� cho họ trong giới c�c học giả ngoại quốc, m� phải t�i định hướng sự ch� � của họ đến �c�c kinh nghiệm thực h�nh� của kỹ nghệ Trung Quốc, bất kể sự th� sơ đến đ�u của c�ng nghiệp n�y so với c�c ti�u chuẩn của c�c khoa học kỹ nghệ ngoại quốc.� Th� dụ, chuy�n vi�n xuất sắc về vật l� chất b�n dẫn tại Đại Học Bắc Kinh, Huang K�un, gần đ�y được khuyến kh�ch bởi c�c sinh vi�n c�ng nh�n v� n�ng d�n để �t�i x�y dựng thế giới quan của �ng,� v� để viết lại quyển s�ch gi�o khoa năm 1957 của �ng về đề t�i của �ng sao cho c�c độc giả Trung Quốc của n� sẽ kh�ng c�n nhận thấy ch�nh họ bị thu hẹp trong một �khu�n khổ ngoại quốc.� 9 Trong thực tế, sự t�n s�ng khối đại ch�ng trong gi�o dục Trung Quốc thỏa m�n d�n tộc chủ nghĩa cũng như b�nh đẳng chủ nghĩa: n� được sử dụng như một liều thuốc giải độc cho sự hỗn hợp nhiều m�u sắc của c�c ảnh hưởng ngoại quốc vốn đ� ngự trị tr�n nền gi�o dục cao cấp Trung Hoa trong phần lớn thế kỷ thứ hai mươi.

Kh�ng c� chỗ để thảo luận ở đ�y một loạt c�c c�u hỏi v� c�c sự hồ nghi, c� tinh chất l� tưởng hay giễu cợt, m� một cuộc c�ch mạng như thế sản sinh ra, trong cũng như ngo�i nước Trung Hoa.� Chắc chắn trong nỗ lực của n� để thay đổi c�c khả năng giao tiếp c� chủ t�m của c�c tr� thức Trung Quốc v� c�c khối th�nh giả m� họ l�i cuốn, nền gi�o dục phe Mao kh�ng n�ng cao qu� mức địa phương chủ nghĩa cho bằng việc biến đổi bản chất của n�: n� tăng cường điều đ� một mặt bằng việc đối xử thế giới chủ nghĩa chuy�n nghiệp của c�c khoa học gia Trung Quốc như (trong c�c t�nh huống kh�ng kiểm so�t được) một mối đe dọa đến cộng đồng c�ch mạng, m� cũng l�m suy yếu n� bằng việc nhấn mạnh, một c�ch kịch liệt hơn bất kỳ trật tự gi�o dục thế giới n�o kh�c, tầm quan trọng của việc bảo đảm sự tiếp cận của đại ch�ng với c�c c�ng việc khoa học.� Tuy nhi�n, điều n�y n�u ra rằng dưới một trật tự gi�o dục như thế, � niệm �chuy�n m�n h�a� tr� thức trở n�n dễ g�y tranh luận.� Một sự chấp nhận kh�ng ph� ph�n c�c tuy�n x�c của �c�c chuy�n vi�n,� �một số nhưng kh�ng phải tất cả c�c đảng vi�n Cộng Sản Trung Quốc lo sợ, đặc biệt trong c�c l�nh vực kiến thức nơi m� sự nghi�n cứu ngoại quốc thụ hưởng một thẩm quyền thời hiệu đầy uy lực bởi t�nh trạng sinh tồn d�i l�u hơn� của n�, sẽ mở c�nh cửa cho một chế độ chuy�n chế kỹ trị (technocratic tyranny) trong đ� c�c b�i học hỗn tạp của �lịch sử gi�o dục thế giới�, hay c�c y�u s�ch của lực t�n ph� to�n cầu si�u ch�nh trị của sự �hiện đại h�a� sẽ được sử dụng l�m c�c c�ng cụ để trấn �p mọi giấc mơ về sự c�ng bằng x� hội.� Ch�nh từ đ�, phe theo học thuyết họ Mao, trong m�a xu�n năm 1976, ph�n biệt giữa điều họ gọi l� �bạch chuy�n: white specialization� (tri thức chuy�n m�n phục vụ c�c tham vọng kinh tế v� ch�nh trị của �giai cấp tư bản�) với �hồng chuy�n: red specialization� (thực sự phục vụ c�c quyền lợi c�ch mạng). 10

Như được biết rất r�, sự gh�t cay gh�t đắng của phe theo Mao về c�c mối nguy hiểm ch�nh trị của c�c sự t�n s�ng kh�ng kiềm chế �sự chuy�n m�n hoa� trở n�n căng thẳng nhất, v� c� � đồ lạnh lẽo nhất, trong c�c sự mi�u tả của Trung Quốc về sự suy đồi của Li�n Bang S� Viết.� Trong c�c dịp n�y, từ ngữ �chuy�n gia: specialist� trở th�nh một mật ngữ trong tiếng H�n để chỉ một phần tử tinh hoa x� hội phản động, v� hoạt động như một hung thần chiến tranh lạnh kh�ng kh�c g� một loại được m� tả.� (Điều đ�ng nhớ rằng c�c cố vấn v� c�c quan s�t vi�n S� Viết đến thăm viếng c�c đại học v� trường học Trung Quốc hồi đầu thập ni�n 1950 thường được gọi đơn giản trong b�o ch� Trung Quốc bởi từ ngữ viết tắt �c�c chuy�n gia�, chứ kh�ng phải l�c n�o cũng l� �c�c chuy�n gia S� Viết�, bởi điều n�y được hiểu ngầm); do đ� tại những nơi như Trường Cao Đẳng Sư Phạm Đ�ng Trung Quốc trong năm 1955, �chuy�n gia� c� nghĩa �người Nga�.) Trong việc lập luận rằng c�c trường học của Nga trở th�nh c�c c�ng cụ của một sự phục hồi giai cấp tư bản, c�c t�c giả Trung Quốc biến đại học của S� Viết, đặc biệt, th�nh ti�u mốc của sự ung thối� của c�ch mạng Nga, khẳng định rằng c�c đại học S� Viết đ� trở th�nh �c�c chiếc thang thăng tiến� v�o một giai cấp ưu quyền đặc lợi.� Trong một số chi tiết, họ đoan chắc rằng c�c mảnh bằng đại học tại Li�n Bang S� Viết (LBSV) đ� trở th�nh �ti�u chuẩn quyết định cho sự tuyển chọn c�c c�n bộ� tại LBSV, trong nhiều l�nh vực kh�c nhau như qu�n đội, đảng đo�n, c�c quan hệ ngoại giao, v� sự quản trị kinh tế; v� rằng tầm quan trọng của tấm bằng đại học như điều kiện ti�n quyết cho việc gi�nh đoạt được c�c chức vụ ch�nh thức cao cấp v� c�c mức lượng bổng hậu hĩ tại Li�n Bang S� Viết đ� trở n�n th�i qu� đến nỗi �thị trường gi�o dục� S� Viết giờ đ�y đ� sinh s�i ra �c�c ng�nh kinh doanh mới� � ng�nh dạy k�m tư nh�n, c�c tổ chức b�n b�i viết, c�c tổ chức đi thi hộ-- để đ�p ứng với c�c nhu cầu săn đuổi bằng cấp của c�c con em c� tiền nhưng kh�ng c� t�i năng của �c�c gia đ�nh vinh danh giai cấp tư bản� tại S� Viết.

Nhung c�c triệu chứng gay gắt nhất trong tất cả c�c sự rữa n�t như thế (theo c�c t�c giả phe Mao) l� c�c ch�nh s�ch của S� Viết d�nh cho �c�c chuy�n gia điều h�nh c�c trường học�, thiết lập �c�c trường thiền t�i� c� tinh chất tinh hoa với học tr�nh ti�n tiến đặc biệt d�nh cho �con em giai cấp tư bản� c� năng khiếu, v� việc tuyển mộ c�c người tốt nghiệp từ c�c trường như thế v�o c�c h�ng ngũ � c�c chuy�n gia� cao cấp, c�c kẻ sẽ phục vụ y như tầng lớp qu� tộc của c�c �t�n sa ho�ng�.� C�c chuy�n gia sư phạm S� Viết kh�ng g� kh�c hơn tầng lớp �học phiệt: intelligentsia cliques: hsueh-fa�, được sắp đặt bởi Khrushchov v� Brezhnev, tại �thượng đỉnh� của Bộ Gi�o Dục ở Mạc Tư Khoa, từ đ� họ đ� biến c�c trường học S� Viết th�nh c�c th�nh tr� của giai cấp thượng lưu với ưu quyền đặc lợi. 11 C�c t�c giả phe� Mao đặc biệt y�u th�ch việc so s�nh c�c th�nh t�ch gi�o dục được biểu thị bằng thống k� của c�c cư d�n th�nh thị S� Viết với c�c kết quả của c�c n�ng d�n v�ng T�y B� Lợi �.

Dĩ nhi�n, đối với người Trung Quốc, sự s�p nhập của Trung Quốc hai loại �chuy�n gia� v� tầng lớp học phiệt của giai cấp tư bản� n�y tượng trưng cho một loại chủ nghĩa v� ch�nh phủ x� hội nhắm v�o họ.� C�c nh� b�t chiến tại Học viện Viễn Đ�ng Học (Institute of Far Eastern Studies) thuộc H�n L�m Viện Khoa Học LBSV, bị tố gi�c về việc ngăn chặn sự sụp đổ của c�c ch�n l� M�cx�t-Leninn�t vốn được y�u mến tr�n bờ biển hoang dại của l�n bang � Ch�u c�ch mạng hơn, đ� kh�ng ph� th� gian để trả lời.� Theo họ, Mao Trạch Đ�ng đ� ấp ủ �� tưởng kh�ng tưởng phản động� của việc kết hợp �c�c chức năng sản xuất nhiều tầng v�o một tế b�o duy nhất của x� hội v� ngay trong người của mỗi nh� sản xuất c� biệt;� 12 �Họ Mao đ� phạm lỗi lầm của một �chủ nghĩa thực dụng� tự bu�ngthả trong c�c sự sử dụng của �ng ta � thức hệ M�cx�t-Leninn�t (ở đ�y ph�a người Nga mang lại một sự tương phản mỉa mai với c�c nh� quan s�t Mỹ về Trung Quốc� ham m� gọi c�c đối thủ Trung Quốc bảo thủ hơn của họ Mao l� �c�c kẻ thực dụng: pragmatic�).� Họ nhấn mạnh rằng họ Mao, ho�n to�n sai lầm, đ� kh�ng tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng Sản h�m � một �sự du nhập thường trực guồng m�y v� c�c kỹ thuật ng�y c�ng tinh vi, một trong c�c y�u cầu thường trực của Lenin�, m� đ�ng hơn, �đ� t�ch l�m đ�i� �căn bản kỹ thuật của chủ nghĩa x� hội� �với �c�c nền tảng đạo l�, ch�nh trị v� � thức hệ của n� đ�n mức �ng nh�n ch�ng l� đối nghịch nhau; �ng ta đ� phớt lờ sự kh�ng cự của �c�c phần tử s�ng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học� đối với c�c nỗ lực để ph�t huy �sự b�nh đẳng vật chất tổng qu�t� trước khi �tr�nh độ sản xuất cần thiết� được đạt tới. 13 Vượt qu� tất cả c�c học thuyết kinh viện n�y, ở cả hai ph�a, �t c� sự ngờ vực rằng c�c sự kh�c biệt văn h�a v� lịch sử s�u xa sẽ tiếp tục giữ c�c thế giới gi�o dục Trung Quốc v� Nga tương đối c�ch xa nhau.� Ch�ng thiếu c�c đường n�t căn bản chung, đặc biệt trong c�c l�nh vực tế nhị nhưng sinh tử như c�c t�m l� của giai cấp x� hội.� C�c t�i liệu lịch sử quan trọng từ thời đại được nghĩ l� c� sự cộng t�c Nga-Hoa mật thiết của thập ni�n 1950 cho thấy r� r�ng, ngay v�o l�c đ�, c�c trường học Trung Quốc đ� kh�ng bắt chước một c�ch th�nh c�ng c�c c�ng thức về ch�nh s�ch chuy�n m�n v� chuy�n biệt h�a việc dạy nghề m� c�c cố vấn Nga đ� binh vực.� B�o c�o nổi tiếng Th�ng Một 1955 của Liu Chih về c�c trường cao đẳng sư phạm của Trung Quốc, th� dụ, chiếu rọi c�c sự căng thẳng giữa �c�c chuy�n gia� S� Viết l� những kẻ đ� mong muốn c�c trường cao đẳng n�y sử dụng c�c trường trung học gắn li�n với ch�ng như c�c nơi ương trồng vun xới �c�ng t�c nghi�n cứu khoa học�, v� c�c nh� quản trị trường học Trung Quốc l� c�c kẻ đ� sử dụng một c�ch ngang bướng c�c trường trung học n�y cho c�c chương tr�nh phổ th�ng hơn cho việc huấn nghệ. 14

��C�c sự kh�c biệt n�y đ� được x�c định về mặt lịch sử ra sao?� Ch�ng ta đ� nhận thấy rằng cuộc c�ch mạng gi�o dục của Việt Nam c� một m�i trường lịch sử v� văn h�a c� nhiều điểm chung với m�i trường của c�ch mạng Trung Quốc.� Chắc chắn, sự li�n kết sự chuy�n m�n h�a tri thức được nghĩ được tập trung v�o bản th�n, hay �t nhất, chủ nghĩa tinh hoa tr� thức tự biệt lập, với h�nh dung từ c� t�nh chất nhạo b�ng �tập đo�n tr� thức [học phiệt]�, m� phe theo họ Mao giờ đ�y đang �p dụng chỉ nền gi�o dục Nga, nhưng khi được đặt ra đầu ti�n l� để n�i đến t�c phong b�c lột, tự c� lập lẫn nhau giống như c�c sứ qu�n của c�c nh�m tr� thức thượng lưu nội địa, c� một lịch sử l�u d�i trong cả hai cuộc c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam.� Ngay từ 1931, cựu l�nh đạo Cộng Sản Trung Hoa, Ch�u Ch�iu-pai, đ� lập luận rằng c�c tr� thức Trung Quốc, giống như c�c thợ mộc hay c�c th�nh vi�n của c�c phường nghề nghiệp kh�c, đ� c� một khuynh hướng kh�c thường, muốn tạo lập c�c độc quyền vị kỷ, kh�p kin về mặt x� hội tr�n kiến thức ngay d� c� ở b�n ngo�i tiến tr�nh c�ch mạng d�n tộc.� Ch�nh từ đ�, � nghĩa ch�nh yếu của sự xung đột tại Trung Quốc giữa văn chương cổ điển v� văn chương phổ th�ng hiện đại, như họ Ch�u nh�n n�, ch�nh l� [sự kiện rằng] �c�c c�nh học phiệt của c�c chuy�n gia ng�n ngữ vi�t� đ� khống chế v� điều khiển cả hai loại văn chương trong c�c phương c�ch k�n kẽ, kh�ng k�m xa c�ch. 15 Tại Việt Nam thời thuộc cđịa, v�o khoảng c�ng l�c, c�c tr� thức quan trọng như Phan Kh�i cũng kết �n sự th�nh lập �intelligentsia cliques: giới học phiệt� [học phiệt, ti�ng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], h�nh dung họ như sản phẩm tự nhi�n của một nền văn minh Khổng học vốn kh�ng quen thuộc với việc ứng dụng c�c tiến tr�nh của sự chứng thực khoa học kh�ch quan v�o c�c l� thuyết về kiến thức, bất kể ai l� những người đ� tiếp thụ ch�ng, v� do đ� những g� đ� tổ chức c�c nh� học giả theo c�c ti�u chuẩn chủ quan v� c� t�nh chất đẳng cấp của tiếng tăm về đạo đức, tuổi t�c, v� tư c�ch th�nh vi�n của giai c�p x� hội. 16

T�m lại, cả hai cuộc c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam, đều bị �c mộng �m ảnh ở c�c thời điểm kh�c nhau bởi c�c hồi ức của ch�ng về qu� khứ cận đại, trong đ� c�c nguồn t�i nguy�n về học tập v� kiến thức của x� hội của ch�ng dường như đ� bị giam cầm tại h�ng trăm đơn vị tự cung tự cấp tr� thức kh�ng truyền th�ng, tất cả bị gỡ bỏ một c�ch chết người khỏi đời sống của giới n�ng d�n cũng như khỏi sự tương t�c c� đủ � nghĩa giữa ch�nh ch�ng.� Hiển nhi�n sẽ l� điều lố bịch để nh�n lịch sử tr� thức T�y Phương như thể n� l� một cuộc hội thảo l�u d�i được tổ chức ho�n hảo trong đ� mọi � tưởng đều được truyền đạt một c�ch hữu hiệu v� li�n tục.� (Ngay trong thế kỷ của ch�nh ch�ng ta, người ta c� thể trưng dẫn sự thiếu vắng sững sờ sự tiếp x�c giữa hai nh�n vật đương thời như Emile Durkheim v� Max Weber).� Nhưng lịch sử T�y Phương hiện đại c� lẽ giống như một cuộc hội thảo như thế hơn l� lịch sử tr� thức của � Ch�u theo Khổng học, trong đ� c�c nh� tư tưởng c� tầm quan trọng vượt hẳn l�n nhưng kh�ng c� tư c�ch th�nh vi�n trong c�c li�n minh học thuật hay �tập đo�n học phiệt� � như T�sui Shu tại Trung Hoa thế kỷ thứ 18 � c� thể vẫn gần như ho�n to�n bị phớt lờ bởi giới văn nh�n đương thời.

Tuy thế, bất kể c�c sự lo lắng th�ng thường n�y của ch�ng, cuộc c�ch mạng gi�o dục Việt Nam cho đến nay kh�ng đi theo một con đường của chủ thuyết họ Mao.� N� đ� kh�ng sản xuất ra một nh�m quan trọng c�c nh� gi�o dục ho�n to�n c� cảm t�nh với c�c chiến lược của chủ thuyết họ Mao.� Sự t�n thờ sự chuy�n m�n h�a gi�o dục tại H� Nội th� kh�ng bị hạn chế, như tại Trung Quốc, bởi nỗi lo sợ rằng một số h�nh thức n�o đ� của sự chuy�n m�n h�a, qua việc cho ph�p sự xuất hiện của giới tinh hoa kh�ng thể bị th�ch đố, sẽ sắp xếp khung cảnh cho c�c sự từ bỏ ch�nh trị nền tảng hơn nữa.� Trong một b�i diễn văn h�m 22 Th�ng Mười Một, 1973 tại một hội nghị ch�o mừng c�c th�nh t�ch của c�c trường đại học v� trung học chuy�n nghiệp (miền Bắc), Phạm Văn Đồng đ� n�i r� rằng một hệ thống trường học �thường lệ, ch�nh quy�� v� �đương đại� đ�i hỏi �kỷ luật� v� �hệ cấp� trong đ� �th�y ra thầy, tr� ra tr� v� trong đ� ngay tinh thần t�n trọng thứ hạng tốt nghiệp danh dự [học vị, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] v� c�c ngạch trật kh�c nhau của c�c gi�o sư đại học [học h�m, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] đ� c� một kh�a cạnh cần thiết v� �t�ch cực�, c� nghĩa n� kh�ng thể bị đối xử trong một �cung c�ch m�y m�c�. 17 (Trong năm 1933, Đảng Cộng Sản Đ�ng Dương, dưới c�c t�nh huống kh�c biệt, đ� k�u gọi thanh ni�n học sinh Việt Nam đ�i hỏi từ người Ph�p quyền tự do để thiết lập c�c trường học của ch�nh họ trong đ� c�c học tr� c� thể b�u cử c�c th�y gi�o).

Định nghĩa bản th�n �sự chuy�n m�n h�a�, Phạm Văn Đồng đ� kh�ng đi ngược lại nỗi lo sợ �c�c giới học phiệt�.� Sự chuy�n m�n h�a, �ng ta khẳng định, c� nghĩa sự tăng cường kiến thức c� t�nh chất �căn bản� v� �đương đại� v� thực tiễn, nhưng đặc biệt c� nghĩa khắc s�u một quyết t�m nơi c�c sinh vi�n đại học Việt Nam h�y tận dụng c�c năng lực s�ng tạo của ch�nh m�nh.� Để l�m như thế, c�c th�y gi�o của họ phải nhồi nh�t v�o sinh vi�n �lịch sử� về c�c học giả vĩ đại của thế giới, c�c kẻ �như Marx, Lenin, Engels, v� Einstein�, tất cả những ai c� thể phục vụ như c�c th� dụ hay �tấm gương� cho c�c tr� thức Việt Nam. 18 Sự bao gồm t�n của Einstein trong lời kinh cầu nguyện n�y th� quan trọng: một tiến tr�nh �chuy�n m�n h�a�đ�i hỏi sự quốc tế h�a c�c gi� trị v� c�c th�i quen l�m việc của một Einstein, hay của c�c nh�n vật nổi danh phi Cộng Sản kh�c thuộc điều m� Lu Ting-I c� lần từng gọi một c�ch khinh bỉ l� �lịch sử của gi�o dục thế giới�, kh�ng phải l� một tiến tr�nh sẽ nhất thiết thu nhận nội dung của n� từ sự th�ng đạt với c�c giai cấp thấp hơn, hay c�c điều kiện ti�n quyết trung t�m của n� từ chiến tranh giai cấp theo học thuyết họ Mao.� Đường hướng của H� Nội với vấn đề chuy�n m�n h�a ở bậc đại học kh�ng c� vẻ thay đổi nhiều kể từ 1973.� Số Th�ng Một 1976 của tạp ch� d�nh cho c�c trường đại học v� trung học chuy�n nghiệp của Việt Nam c�n chứa đựng cả một tiểu sử t�n vinh Thomas Edison, một �c�ng nh�n học giả� v� một tr� thức điển h�nh.

Ch�ng ta sẽ đi đến kết luận rằng cuộc c�ch mạng gi�o dục Việt Nam th� �bảo thủ� hơn cuộc c�ch mạng của Trung Quốc hay kh�ng, hay ngay cả việc cho rằng n� l� một bản sao ch�p � Ch�u kh�ng ngượng ng�ng, v� s�ng tạo c�c chiều hướng gi�o dục n�o đ� của S� Viết chăng?� C�c yếu tố cấu tạo hố ngăn c�ch giữa kinh nghiệm S� Viết v� Việt Nam đ�i khi bị qu�n l�ng trong cuộc thảo luận, c� t�nh chất h�n lầm v� b�o ch� thời thượng về tương lai ch�nh trị của Đ�ng Nam �, nhưng ch�ng th� rất thực � c�c m�i trường v� c�c di sản văn h�a kh�c biệt bao la, c�c căn bản thuận lợi về kỹ thuật v� t�i nguy�n kh�c biệt bao la cho việc khởi sự c�ng cuộc kỹ nghệ h�a, ngay cả c�c mức độ kh�c biệt bao la của sự �m ảnh về chủ nghia d�n tộc v� c�c khẩu hiệu c�ng thực chất của sự độc lập ch�nh trị.� Như một sự biểu lộ thực tế luận điểm cuối c�ng, bản đồ thế giới ng�y nay m� nhật b�o Nh�n D�n ở H� Nội ấn h�nh h�m 11 Th�ng T�m, 1976, đ� xếp Việt Nam, Trung Quốc, Li�n Bang S� Viết, Đ�ng �u v� Cuba như l�nh vực của �c�c nước x� hội chủ nghĩa�; đ� m� tả Hoa Kỳ, Nam Phi, Anh, Eire [?], T�y Ban Nha, Ph�p, �, Thổ Nhĩ Kỳ, v� tất cả c�c nước Scandinavia (kể cả Thụy Điển) như �c�c nước đế quốc chủ nghĩa v� tư bản chủ nghĩa�; v� cho rằng Gia N� Đại, �c Đại Lợi, T�n T�y Lan, Nam Dương, Th�i Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Pakistan, Saudi Arabia, v� phần lớn Phi Ch�u v� Mỹ Ch�u La Tinh l� c�c nước mới �gi�nh� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] lại độc lập hồi gần đ�y.� N�i c�ch kh�c, với người Việt Nam nhiệt t�nh với d�n tộc chủ nghĩa, được dạy dỗ qu� nhiều bởi lịch sử hiện đại về sự cần thiết để tin tưởng rằng �kh�ng g� qu� hơn� độc lập ch�nh trị, c�c loại cơ cấu kinh tế v� x� hội đ�i khi cho ch�ng ta hay biết �t về ch�nh trị thế giới hơn tầm mức m� c�c nước giữa thế kỷ thứ hai mươi c�ng chia sẻ c�c sự t�m kiếm m�nh liệt nền tự trị của ch�nh ch�ng.� Ch�nh từ đ�, Canada v� Ấn Độ được nh�n l� thuộc v�o một loại, c�c người Thụy Điển v� d�n Mỹ thuộc một loại ho�n to�n kh�c biệt.� Thật kh� tưởng tượng rằng một bản đồ như thế được ấn h�nh tr�n một tờ nhật b�o của S� Viết v�o năm 1976.

Do đ� thực sự l� một triệu chứng của sự lạc hậu trong sự nghi�n cứu � Ch�u tại thế giới T�y Phương rằng ch�ng ta bị c�m dỗ một c�ch lấn �t để r�t ra một c�ch vội v� c�c kết luận về �chủ nghĩa bảo thủ� Việt Nam hay việc sao ch�p dễ d�i c�c m� h�nh Nga S�, rằng kiến thức của ch�ng ta về qu� khứ tại phần đất n�y của thế giới th� qu� n�ng cạn để cho ph�p ch�ng ta dự liệu c�c biến đổi tế nhị trong tương lại của c�c nước như Trung Quốc v� Việt Nam dựa tr�n một l� luận bản xứ thuần t�y.� Trong c�c điều kiện ri�ng của n�, cuộc c�ch mạng gi�o dục Việt Nam đ� cổ vũ một sự bộc ph�t lớn lao c�c năng lực đại ch�ng.� Trong năm 1942, đ� chỉ c� 546,000 học sinh trung học v� tiểu học tr�n to�n thể Đ�ng Dương, nhưng chỉ ở miền Bắc kh�ng th�i trong ni�n kh�a 1974-1975, đ� c� khoảng 6.7 triệu học sinh theo học tại c�c trường trung v� tiểu học phổ th�ng, c�c trường �bổ t�c văn h�a�, v� c�c trường mẫu gi�o.� Đối với c�c loại thay đổi x� hội kh�c, trong khi chỉ c� 5,451 người trong tổng số 44,401 gi�o vi�n phổ th�ng của VNDCCH trong năm 1961 l� phụ nữ, trong năm 1973, 71,587 tr�n tổng số gia tăng lớn lao số gi�o vi�n của VNDCCH 149,984 người l� phụ nữ. 19 Kh�ng c� g� sẽ bảo đảm cho sự suy giảm của chế độ phụ hệ theo Khổng học cổ xưa tại c�c l�ng x� Việt Nam lại chắc chắn hơn sự thay thế lớn lao n�y c�c nam gi�o vi�n l�ng x� bằng c�c nữ gi�o vi�n.� Khi đ�, đ�u l� những thứ để ch�ng ta tạo lập ra một chủ nghĩa bảo thủ r� r�ng của đại học Việt Nam, về sự kiện rằng nền gi�o dục tiền đại học Việt Nam xem ra c� phần giống như một kim tự th�p kỳ thị trong đ� c�c trường học ti�n tiến nhất � �trường phổ th�ng cấp III� [tiềng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] � tọa lạc tại c�c huyện lỵ chứ kh�ng phải ở c�c l�ng x�, kh�ng thể thu nhận mọi học sinh hội đủ điều kiện theo học, song cung cấp phần lớn c�c sinh vi�n đại học của VNDCCH từ tổ hợp h�ng năm nhỏ b� của khoảng 70,000 người tốt nghi�p? 20

Về c�c phương thức ph�n kỳ của c�c cuộc c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam ở bậc đại học, ch�ng ta c� thể lựa chọn trong số một loạt c�c lời giải th�ch: C�c sự ngờ vực của Việt Nam về Trung Quốc (trong Th�ng Mười Hai 1963, Đảng Ủy H� Nội đ� ph� ph�n c�c đảng vi�n kh�ng gột bỏ �tinh thần n� lệ ngoại bang được sản sinh bởi cặn b� của c�c ảnh hưởng bị đ� hộ trong một ngh�n năm�, bởi Trung Hoa); c�c sự kh�c biệt trong sở th�ch v� xu hướng c� nh�n giữa c�c nh� c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam, bắt đầu với họ Mao v� họ Hồ; c�c sự kh�c biệt trong bản chất v� k�ch cỡ của di sản văn h�a Khổng học ảnh hưởng v� k�ch th�ch c�c nh� c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam; hay c�c sự kh�c biệt trong cấu tr�c v� hiệu năng của c�c hệ thống gi�o dục tiền c�ch mạng �m� hai nh�m nh� c�ch mạng n�y đ� thừa kế.� Lời giải th�ch th� tư trong số c�c sự giải th�ch n�y c� vẻ đ�n nay c� t�nh chất thuyết phục nhất.

T�ch biệt khỏi c�c kh�a cạnh đấu tranh quyền lực hiển nhi�n của n�, Cuộc C�ch Mạng Văn H�a tại Trung Hoa đ� tấn c�ng sự chuy�n m�n h�a tr� thức kh�ng nhiều cho bằng c�c vai tr� nghề nghiệp v� l� lịch đ� sắp đặt ra c�c khu�n mẫu qu� khứ của sự ch� � đến tr� thức chuy�n m�n h�a tại Trung Hoa.� Bởi v� c� một thi�n hướng tổng qu�t tại thế giới T�y Phương để tin tưởng rằng sự chuy�n m�n h�a được ph�t sinh ho�n to�n bởi c�c sự gia tăng đ�ch thực trong kiến thức, chứ kh�ng phải bởi c�c yếu tố x� hội c� thể tự nguồn gốc kh�ng c� d�nh d�ng g� đến sự tiến triển của kiến th�c, c�c mục ti�u của Cuộc C�ch Mạng Văn H�a đ�i khi bị hiểu lầm.� Nhưng Việt Nam, trước năm 1954, thực sự kh�ng c� bất kỳ loại gi�o dục đại học chuy�n m�n h�a n�o � ho�n to�n kh�ng giống Trung Quốc.� C�c nh� c�ch mạng Việt Nam đ� phải khắc phục một khoảng trống kh�ng, kh�ng phải một cơ cấu nghề nghiệp h�n l�m đ� ph�t triển c� thể được tin tưởng c� năng lực khuynh đảo được cuộc c�ch mạng x� hội của họ.� H� Nội đ� kh�ng ngần ngại khai th�c c�c di sản h�n l�m �t ỏi m� thời kỳ thuộc địa Ph�p di tặng lại cho n�.� Nhu cầu th�ng tin kỹ thuật chắc chắn của c�ch mạng Việt Nam về x� hội của ch�nh n� th� qu� lớn đến nỗi c�c c�n bộ nghi�n cứu kinh tế tại Việt Nam ng�y nay c�n được cung cấp với c�c bản dịch sang Việt ngữ c�c chỉ số v� t�m lược b�i viết từ Tập San Kinh Tế Đ�ng Dương (Bulletin �conomique de l�Indochine) xa xưa, tạp ch� chuy�n về c�c vấn đề kinh tế Đ�ng Dương do chế độ thực d�n ấn h�nh giữa c�c năm 1898 v� 1950. 21 Nhưng Đ�ng Dương thuộc địa, trong những năm sau n�y của n�, đ� thiết lập đ�ng một trường đại học, được chia th�nh hai ph�n khoa kh� sơ s�i về y khoa v� luật.� Ngay giờ đ�y Việt Nam chỉ c� thể tập hợp được 300 chuy�n vi�n được huấn luy�n hậu cao học trong một l�nh vực ph�t triển trọng yếu như cơ giới h�a n�ng nghiệp, bất kể sự kiện rằng VNDCCH hiện c� 37 trường đại học v� 192 trường trung học chuy�n nghiệp.� Tổng kết, mối đe dọa ch�nh trị v� x� hội của sự trổi dậy của một bộ phận to lớn c�c khoa học gia trung lập về � thức hệ, thu m�nh về mặt x� hội v� c�c tr� thức chuy�n m�n kh�c phải xem ra �t g�y đau nhức đối với c�c nh� cầm quyền Việt Nam hơn nhiều như n� g�y ra cho một số (kh�ng phải tất cả) c�c nh� cầm quyền của Trung Quốc, ngay cả sau khi c�c sự kh�c biệt về k�ch thước giữa hai x� hội đ� được cứu x�t đến.

Dĩ nhi�n, c� những kh� khăn trong sự �p dụng loại giải th�ch lịch sử n�y cho c�c sự ph�n kỳ giữa Trung Quốc v� Việt Nam trong c�c chiến lược gi�o dục.� Đ�u l� kh� khăn lớn nhất? C� thể l� Chủ Nghĩa Cộng Sản Trung Quốc trong giai đoạn Di�n An của n� (1937-1945) đ� được h�nh dung bởi gần như ch�nh x�c c�ng với chu kỳ của sự xung đột giữa nền gi�o dục �thường lệ h�a� (kể cả sự chuy�n m�n h�a đa dạng) với nền gi�o dục �đại tr� m� CHNDTQ hay biết kể từ 1949. 22 Sự kiện rằng c�ng chu kỳ của c�c ch�nh s�ch gi�o dục v� c�c cuộc đấu tranh � sự �thường lệ h�a� với chu kỳ �đại tr� --� đ� xảy ra hai lần tại Trung Hoa (trước 1949 v� sau n�y) c� thể khiến ta nghĩ rằng Cuộc C�ch Mạng Văn H�a kh�ng phải l� một phản ứng trước c�c h�nh thức ch�n chắn nhưng bị tố gi�c l� ngoan cố của sự b�nh trướng gi�o dục của c�c thập ni�n 1940 v� 1950 ( điều m� Việt Nam kh�ng hề trải nghiệm) ngay cả một sự lập lại một cuộc đấu tranh quyền lực Trung Quốc trước đ� được ra lệnh bởi c�c xu hướng ki�n tr� của c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc kh�c nhau, đ� c� thể xảy ra trong một m�i trường sơ khai cũng như trong một m�i trường ti�n tiến về mặt học thuật. �Tuy nhi�n, ngay Di�n An đ� đ�n nhận c�c sự di tr� thời chiến của c�c nh� tr� thức với c�c số lượng v� phẩm chất m� Việt Nam sẽ phải ghen tị (v� đ� xảy ra như thế).

������ Để th�c đẩy một lập luận rất kh�c biệt, trong khi họ Mao v� c�c người ủng hộ �ng ta đ� tấn c�ng nền gi�o dục Khổng học (đặc biệt, chủ trương phục hồi chế độ qu�n chủ của n� (restorationism), sự khinh thường của giới tinh hoa của n� đối với c�c giai cấp thấp hơn, sự cắt giảm vị kỷ của n� c�c mục đ�ch của gi�o dục v�o c�c mục ti�u cung cấp một �c�i thang� bước l�n c�c chức vụ c� lương bổng cao d�nh cho con ch�u của c�c giai cấp thương lưu), c�c cuộc tấn c�ng của họ th� sai đường về mặt lịch sử bởi lẽ Khổng học l� một phần bất khả x�a bỏ của văn h�a Trung Hoa đến nỗi n� định h�nh đời sống v� tư tưởng của ngay cả c�c nh� c�ch mạng theo họ Mao.� Th� dụ, sự phục sinh T�n Khổng học thời Nh� Tống tại Trung Hoa v�o khoảng một thế kỷ trước đ�, vốn được tổ chức bởi c�c nh� tr� thức Trung Hoa bảo thủ để kh�ng cự lại suy đồi của triều đại, sự bất ổn của n�ng d�n, v� chủ nghĩa đế quốc ngoại lai, đ� được ca tụng về việc nhấn mạnh đến phản đề đạo l� căn bản giữa sự tham lam của giới chức nghiệp, chuy�n m�n một b�n, v� �c�i học thực tiễn� b�n kia; c�c nh� l�nh đạo của sự phục sinh n�y cũng đ� nổi tiếng v� c�c sự tố gi�c của họ về c�c l� thuyết thiếu thốn t�i năng c� tinh chất định mệnh, thường khẳng định rằng c�c người c� t�i năng th� đầy rẫy nhưng hệ thống gi�o dục v� ch�nh trị hiện hữu đ� kh�ng khuyến kh�ch họ.� C�c sự tố gi�c của phe theo chủ thuyết họ Mao về c�c sự quy kết của giới tư sản bi quan về t�i năng cho sự di truyền, v� c�c sự đối chiếu của phe theo Mao giữa chủ nghĩa xem trọng địa vị trong đảng Cộng Sản (careerism) với c�ng việc �thực tiễn� trong quần ch�ng, c� thể được xem như c�c sự biến dạng hay �m vang hiện đại của c�c kh�a cạnh n�y của chủ trương cải c�ch Khổng học.

������ Ngay trong mối quan hệ của sự chuy�n m�n h�a tr� thức với c�c � thức hệ ch�nh trị, cũng c� một v�i sự li�n tục, kh�ng ho�n to�n kh�ng hợp l�, giữa t�n điều của chủ thuyết họ Mao với (th� dụ) c�c � tưởng của th�y gi�o triết gia Khổng học thế kỷ thứ 11, Hu Yuan, một trong c�c vị th�nh bảo trợ của chủ nghĩa cải c�ch Khổng học một thế kỷ trước đ�y.� Họ Hu đ� đề xướng rằng gi�o dục phải kết hợp sự �tr�nh b�y c�c kinh điển� (� thức hệ) với �sự quản l� c�c sự việc� (đ�y kh�ng phải l� sự �chuy�n m�n h�a hay sao?� Bản th�n Hu Yuan muốn n�i mọi sự việc từ thuật quản trị d�n sự v� chiến lược qu�n sự cho đến sự kiểm so�t nguồn nước v� to�n học).� Tại Việt Nam, mặt kh�c, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực d�n Ph�p trong thế kỷ thứ 19 đ� khống k�o d�i đủ để c� h�nh thức của một sự t�i khẳng quyết hay t�m lược lại s�u rộng c�c gi� trị T�n Khổng học, do đ� th�m nhập v�o nền tảng của c�ch mạng Việt Nam �t hơn.� Hơn nữa, một số t�c giả Việt Nam sẽ nhấn mạnh, c�c gi� trị như thế chưa bao giờ c� t�nh chất Việt Nam s�u đậm bởi ch�ng c� t�nh chất Trung Hoa.� Việt Nam, cho tới chỉ v�i thế kỷ trước đ�y, l� một x� hội �t cứng ngắc, �t bị hệ cấp �m ảnh hơn Trung Hoa v� ch�nh v� thế đ� kh�ng c� nhu cầu lớn lao về sự x�o trộn triết l� kiểu Trung Hoa tr�n khoảng c�ch giữa sự ch�nh trực đạo đức v� chủ nghĩa xem trọng địa vị thư lại.� Ngay cho đến cuối thế kỷ thứ 15, người đứng đầu Viện Khảo Cổ Việt Nam h�nh diện khoe khoang trong Th�ng Ch�n 1975, quốc gia Việt Nam đ� c� �t hơn 5,000 vi�n chức, ba phần tư trong họ l� c�c vi�n chức qu�n sự v� t�y t�ng của họ. 23 C�c ảnh hưởng lịch sử thời tiền hiện đại đủ mạnh khiến cho c�c dấu ấn của ch�ng tr�n tư tưởng c�ch mạng Trung Quốc kh�ng đủ mạnh để l�m như thế tại Việt Nam.

������ Lập luận sau c�ng n�y c� thể dễ d�ng bị đ�nh đổ.� Điều sẽ dễ d�ng hơn để tuy�n bố rằng c�c nh� l�nh đạo cuộc c�ch mạng cộng sản Việt Nam th� đắm ch�m nhi�u hơn, chứ kh�ng phải �t hơn, v�o học thuyết Khổng Tử so với c�c đối t�c Trung Quốc của họ.� Sau hết, Hồ Ch� Minh, trong những năm đầu thập ni�n 1940, đ� đi xa đến mức phi�n dịch sang Việt ngữ một quyển s�ch Trung Hoa tr�nh b�y c�c học thuyết về thuật l�nh đạo của Khổng Tử v� Mạnh Tử.� �ng đ� đặt nhan đề c� � nghĩa cho bản dịch của �ng l� �C�c Phương Ph�p Huấn Luyện C�c C�n Bộ Qu�n Sự�. 24 Ho�ng Minh Gi�m, người đứng đầu Bộ Văn H�a của H� Nội v� do đ� l� một người l�m ch�nh s�ch gi�o dục Việt Nam quan trọng, đ� viết c�c tiểu thuyết về giới tr� thức Khổng học thời tiền hiện đại của Việt Nam.� Trong thực tế, c�c sự b�o chữa cho truyền thống Khổng học sẽ nhận được một sự lắng nghe nhiều cảm t�nh tại H� Nội trong năm 1976 hơn l� ch�ng sẽ nhận được ở Bắc Kinh.

������ V� thế, ch�ng ta h�y quay trở lại với sự giải th�ch đầu ti�n.� Trung Hoa, v�o năm 1937, đ� x�y dựng, với gi� phải trả l� nền gi�o dục ở l�ng x�, một mạng lưới lan tr�n phần lớn ở đ� thị 111 đại học v� trường cao đẳng, trong đ� 51 trường tại Thượng Hải, Bắc Kinh, hay tại tỉnh H� Bắc bao quanh Bắc Kinh.� T�nh kh�ng thực tiễn của gi�o dục trong bản chất nặng văn chương m� c�c trường đại học v� cao đẳng n�y cung cấp th� tai tiếng đến nỗi, ngay từ 1917, c�c nh� cải c�ch như Huang Yen-p�ei v� Wu T�ing-fang đ� lập ra �c�c hội gi�o dục nghề nghiệp� đặt tại Thượng Hải để t�m kiếm c�c phương thuốc giải trừ, v� bản th�n c�c sinh vi�n đại học Trung Hoa trong thập ni�n 1930 đ� th�nh lập �c�c li�n minh của c�c sinh vi�n thất nghiệp� đ�i hỏi ch�nh phủ Nam Kinh phải gia tăng nhiều lần số chức vụ cho họ trong ng�nh c�ng vụ của n�.� Đ�y l�, kh�ng c� g� phải đ�ng ngờ, một �si�u cơ cấu� gi�o dục c� đặc ưu quyền nhưng tr� trệ c� thể được nghĩ bởi một số người, [sẽ] đe dọa sinh mệnh của bất kỳ cuộc c�ch mạng n�o dựa tr�n n�ng d�n.

������ C�c nh� c�ch mạng Việt Nam, thừa hưởng một loại x� hội kh�c, trong đ� c� chưa đến 800 sinh vi�n ở tr�nh độ đại học thuộc bất kỳ loại n�o v�o giữa thập ni�n 1940, v� trong đ� ngay ng�n ngữ của bậc đại học l� tiếng nước ngo�i, đ� phải kh� khăn để đua tranh với bất kỳ địch thủ n�o b�n trong.� C�u hỏi lớn lao m� họ chắc chắn đ� phải nhắm đến sau năm 1954, khi họ ngắm nh�n sự ra đi của c�c nh� quản trị v� c�c khoa học gia người Ph�p l� những kẻ đ� từng điều h�nh bậc đại học tại Đ�ng Dương, đ� kh�ng phải l� một phi�n bản Việt Nam của c�u hỏi m� Mao Trạch Đ�ng được cho l� đ� mắng đứa ch�u trai non nớt của �ng ta, Mao Yuan-hsin, trong năm 1964 (�Tại sao ch�u lại ch� � đến t�nh chuy�n m�n trong nghề nghiệp của ch�u, m� kh�ng ch� � đến chủ nghĩa m�c-x�t, Le-nin-n�t?�) 25 Đ�ng ra, n� đ� phải l� một phi�n bản Việt Nam của một c�u hỏi cổ xưa hơn m� Saint Simon đ� hướng đến một khối th�nh giả người Ph�p trong năm 1819.� Những g� c� thể xảy ra cho một x� hội đột nhi�n mất đi 3,000 nh� khoa học v� chuy�n m�n h�ng đầu của n�? Sự thua k�m d�n tộc m� Saint Simon đ� ti�n đo�n sẽ xảy ra từ một sự mất m�t như thế đ�ch x�c l� số phận của cuộc c�ch mạng gi�o dục Việt Nam, th�m kh�t c�c chuy�n vi�n thuộc nhiều loại, được sắp xếp để n� tr�nh./-

University of British Columbia, September 1976. ��

_____

CH� TH�CH

1. Nhượng Tống, Nguyễn Th�i Học, 1902-1930, S�ig�n, ấn bản năm 1956, c�c trang 45-46.

2. Edgar Snow, Red Star Over China (New York: Grove Press, 1961, ấn bản s�ch b�a giấy mỏng), trang 328.

3. Taga Akigoro, Chugoku kyoiku shi (Một Lịch Sử Gi�o Dục Trung Hoa) (Tokyo, 1955), trang 263.

4. Nguyễn Anh, �V�i n�t về gi�o dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới lần thứ I đến trước c�ch mạng th�ng 8�, Nghi�n Cứu Lịch Sử, H� Nội, 102, Th�ng Ch�n 1967, c�c trang 42-43.

5. A. B. Woodside, Community and Revolution in Modern Vietnam (Boston: Houghton Mifflin, 1967), c�c trag 88-90.

6. B�i viết của Lu Ting-I trong Chung-hsueh chiao-shih (Gi�o Sư Trung Học), Nanking, 9 1958, 8-11.

7. B�i viết bởi c�c đại diện khoa tự động h�a Đại Học Thanh Hoa, trong Jen-min ih-pao [Nh�n D�n Nhật B�o], Peking, 12 Th�ng Hai, 1976, trang 2.� (T�i d�ng từ ngữ nhiều lỗ hổng v� phần n�o dễ bị tra vấn, Maoist: phe theo học thuyết họ Mao, phe Mao, phe th�n Mao� trong khảo luận n�y ho�n to�n v� sự thuận tiện; c�c độc giả kh�ng n�n suy luận rằng t�i thi�n vị trong cuộc đấu tranh Nga-Hoa bằng việc li�n tưởng, xuy�n qua sự sử dụng một từ ngữ đặc biệt m� ch�nh bản th�n người Trung Quốc kh�ng d�ng, rằng c�c t�n điều v� c�c phương ph�p của Nga c� tinh chất M�cx�t-Leninn�t ch�nh thống hơn những t�n điều v� những phương ph�p Trung Quốc hiện đang chế ngự.� Về vấn đề kh�ng thể giải quyết n�y, như một người ngoại cuộc, t�i duy tr� một vị thế trung lập theo thuyết kh�ng thể hay biết: agnostic neutrality.)

8. B�i viết bởi Futan University Great Criticism Collective (Đại Ph� Ph�n Tập Thể, Đại Học Futan), trong Hung-ch�i, 293, Th�ng Một 1976, c�c trang 44-48.

9. B�i viết bởi Huang K�un v� Tuan Hsueh-fu trong Hung-ch�i, Th�ng Một 1976, c�c trang 57-61.

10. B�i viết bởi ban Địa Dư , Đại Học Sư Phạm Thượng Hải, Sưu Tập Đại Ph� Ph�n, Hung-ch�i, 295, Th�ng Ba 1976, c�c trang 57-59.� C�c nh� gi�o dục theo học thuyết họ Mao, như vẫn thường được n�u ra, tuy�n bố kh�ng chống đối bản th�n sự chuy�n nghiệp h�a, nhưng chống c�c h�nh thức của sự chuy�n nghiệp h�a hợp thức h�a một ch�nh s�ch tinh hoa x� hội v� nghề nghiệp kh�ng thể thẩm thấu được.� Phe theo Mao sử d�ng từ ngữ �chuy�n gia� một c�ch t�n th�nh trong c�c khung cảnh chẳng hạn như những t�nh trạng được nghĩ được tạo lập ra bởi c�c trường n�ng trại �7 Th�ng Năm�, tại đ� c�c gi�o vi�n phải vừa l� c�c nh� kỹ thuật n�ng nghiệp c� khả năng vừa l� �c�c chuy�n gia địa phương�, c� nghĩa, c� sự hiểu biết về c�c vấn đề canh n�ng địa phương v� c�c nhu cầu của n�ng d�n.� Jen-min jih-pao, 10 Th�ng T�m, 1969, trang 3.

11. Tường thuật của T�n Hoa X� về gi�o dục S� Viết trong tờ Kwang-ming jih-pao, 29 Th�ng Hai, 1976, trang 3.

12. B. Zanegin v� c�c t�c giả kh�c, Development in China (Moscow, 1968), trang 27.

13. G. D. Sukharchuk, �Mao Tse-tung�s Socio-economic Views�, trong tập Present-Day China: Socio-Economic Problems (Moscow, 1975), c�c trang 134, 138-139, 140.� Phe theo Mao, một c�ch giả định, th� nhạy cảm hơn đối với sự tố c�o của Nga rằng họ thiếu �l� thuyết� hơn l� họ cảm thấy trong sự tố c�o của Mỹ rằng họ thiếu �t�nh thực dụng�.� ��

14. Bản văn của tờ b�o c�o của Liu Chih ở trong tập san Jen-min chiao-yu (Nh�n D�n Gi�o Dục), Bắc Kinh, Th�ng Ba 1955, c�c trang 11-18.

15. Ch�u Ch�iu-pai, �Hsueh-fa wa-sui� (�Học Phiệt Vạn Tuế�), trong Lun Chung-kuo wen hsueh ko-ming (Thảo Luận Về Trung Quốc Văn Học C�ch Mạng), (Hồng K�ng, bi�n tập 1947), trang 60.

16. Phan Kh�i, �Cảnh c�o c�c nh� học phiệt�, Phụ Nữ T�n Văn, S�ig�n, 24 Th�ng Bảy, 1930, c�c trang 9-12.

17. Tạp Ch� Hoạt Động Khoa Học, H� Nội, Th�ng Năm 1974, c�c trang 3-8.� Cột đầu ti�n, trang 6.

18. C�ng nơi dẫn tr�n, trang 7.

19. Nh�n D�n, H� Nội, 30 Th�ng T�m, 1973, trang 3.

20. B�i viết của Hồ Truc [?] về gi�o dục VNDCCH trong tờ Học T�p, Th�ng Ch�n 1975, c�c trang 30-31; cũng xem b�i viết của Tạ Quang Bửu, tr�n tờ Nh�n D�n, 10 Th�ng Ch�n, 1974, trang 1.� Khoảng 80,000 học sinh được ph�p dự c�c kỳ thi nhập học đại học tại miền Bắc của Cộng H�a X� Hội Chủ Nghĩa Việt Nam v�o Th�ng Bảy 1976.� N�i cho đ�ng, sự gia nhập đại học tại Việt Nam kh�ng chỉ giới hạn ho�n to�n v�o số người vừa tốt nghiệp cấp III của c�c trường phổ th�ng; số 80,000 ứng vi�n dự thi của năm 1976 bao gồm, nhưng với c�c tỷ lệ bao nhi�u th� kh�ng được c�ng bố, c�c binh sĩ, c�n bộ, thương binh, c�c đo�n vi�n hợp t�c x�, c�c c�ng nh�n, v� �Thanh Ni�n Tiền Phong�.� Nhưng c�c sự gắt gao c�n tồn tại của �bậc thang� gi�o dục thời tiền c�ch mạng vẫn c�n được quảng b� hơn l� b�i trừ bởi b�o ch� H� Nội, ch�nh từ đ� ch�ng ta được cho hay rằng chỉ c� 84 phần trăm c�c học sinh trung học dự c�c kỳ thi tốt nghiệp trường phổ th�ng trong năm 1976 tại miền bắc l� đ� tr�ng tuyển, gần một phần s�u c�c học sinh đ� thi rớt.� C�c tỷ lệ b�ch ph�n số học sinh d�n tộc �t người thi đậu trong năm 1976 th� qu� thấp để được c�ng bố (Nh�n D�n, 13 Th�ng Bẩy, 1976 v� ng�y 11 Th�ng Bẩy, 1976).� Tại miền Nam Việt Nam, nơi m� c�c sự kh�c biệt văn h�a chủng tộc lớn lao hơn, h�ng trăm c�c thanh ni�n được tuyển chọn từ c�c sắc d�n Bahnar, Jarai, Sedang, v� 17 nh�m d�n tộc �t người kh�c đ� theo học tại trường thanh ni�n lao động x� hội chủ nghĩa �lao động trong khi học tấp� mới th�nh lập ở Gia Lai-Kontum, nơi sẽ mang lại cho c�c học sinh sự huấn luyện thực tế về c�c kỹ thuật canh t�c sơ đẳng, v� c� �tr�nh độ văn h�a� v�o l�c tốt nghiệp, bằng với c�c học sinh tốt nghiệp trường phổ th�ng cấp I.� Ch�nh v� thế, trường đặc biệt n�y, hiện hữu như một trường thay thế cho c�c trường phổ th�ng, r� r�ng giả định rằng sẽ l� điều kh�ng thực tế về mặt kinh tế v� kh�ng khả dĩ về mặt tr� thức cho c�c học sinh d�n miền n�i Kontum học cao hơn lớp bốn của hệ thống trường học th�ng thường. (Nh�n D�n, 28 Th�ng S�u, 1976, trang 3).

21. Nh�n D�n, 17 Th�ng Một, 1976, trang 3.

22. B�i viết của Chou Erh-fu trong s�ch bi�n tập bởi Mao Ts�-tung v� c�c t�c giả kh�c, K�ai-chan ta-kuei-mo ti ch�un-chung wen-chiao yun-tung (Khai Triển Đại Quy M� Phong Tr�o Văn H�a Gi�o Dục Quần Ch�ng), (Hồng K�ng, 1947, bi�n tập). c�c trang 41-43.

23. B�i viết của Phạm Huy Th�ng trong tạp ch� Học Tập, Th�ng Ch�n 1975, đặc biệt trang 65.

24. Woodside, s�ch đ� dẫn, trang 224.

25. Stuart Schram, bi�n tập, Chairman Mao Talks to the People (New York: Pantheon, 1974), trang 249.

____

Nguồn: Alexander Woodside, Problems of Education in the Chinese and Vietnamese Revolutions, Pacific Affairs, Vol. 49, No. 4, Winter 1976-77, c�c trang 648-666. �������

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

01.04.2013    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2013