Đoàn Nhã Văn  

Lá Rơi Trong Cõi Hoang Vu – Đọc Miền Lặng Của Phạm Chi Lan

 

Không khí trong Miền Lặng, tác phẩm đầu tay của Phạm Chi Lan, làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của loài cây sống trên vách đá: lẽ loi, đơn độc, cả đời trơ trọi nghe tiếng gió va vào vách rồi vọng lại.  Mỗi âm vọng của gió như một tiếng gọi ngút ngàn từ xa thẳm, làm cho đời sống vốn hiu hắt lại càng hắt hiu hơn. 

 

            Hai mươi truyện ngắn, bao nhiêu mảnh đời, nhưng rất hiếm thấy những hạnh phúc, dù rất nhỏ nhoi, trên trang sách của chị.  Hạnh phúc, nếu có, là những điều hết sức bình thường.  Như ông cụ ngồi bên lề đường, nhận được 50 xu của một kẻ đi qua, cười móm mém.  Đó là niềm hạnh phúc. Một đứa bé tát nước bên bờ cát, nghe văng vẵng bên tai tiếng hát của người ngư phủ đã bị sóng giận dữ cuốn đi năm nào.  Nhìn ra khơi, thấy mặt biển êm dịu lạ thường.  Nó mỉm cười. Hạnh phúc. Rồi nghe đôi chim hót.  Nhìn đôi chim rù rì âu yếm cạnh nhau.  Mẹ như vui lên.  Hạnh phúc. Hai người gặp nhau ở công viên, một ở tuổi trung niên nhưng sống trong thân thể và suy nghĩ của đứa trẻ vị thành niên và một cụ già bị bệnh đãng trí. Họ ngồi bên nhau, chia xẻ mẩu bánh mì, uống cùng một lon nước.  Rồi về.  Nhưng về đến nhà, cả hai đều hân hoan.  Cái “gặp gỡ” của họ là hạnh phúc. Những niềm hạnh phúc trong truyện Phạm Chi Lan đơn giản, nhỏ nhoi.  Mà thực ra, Phạm Chi Lan không chủ tâm viết về hạnh phúc, dựng lại những niềm vui.  Qua những trang sách, người đọc thấy chị chú tâm vào những cái khác. Một trong những cái khác đó, là một trong hai điều lớn lao của cuộc đời: cái chết.

 

 

***

 

 

Ở Miền Lặng, chị nhiều lần nói về cái chết, của nhiều nhân vật khác nhau, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, và ở từng lứa tuổi khác nhau.  Chết như một nỗi ám ảnh không rời.

 

Bắt đầu là cái chết của Đạt, người họa sĩ mắc chứng bệnh nan y trong truyện Tâm Hồn Hải Đảo.  Đến cái chết của Barbara, người đồng nghiệp của “tôi”, cũng trải qua những ngày tháng trị liệu hóa học trong truyện Barbara.  Rồi cái chết của ngư ông trong Tiếng Hát Ngư Phủ, rồi nhà điêu khắc trong truyện Kiều Tiên, rồi ông lão giữ vườn chết dưới một gốc cây, trên người chỉ phong phanh một manh áo mỏng trong Nấm Mộ Lá.  Rồi hình ảnh ngôi mộ mang tên Pham-Nhan, rồi những ngôi mộ, hằng hằng những ngôi mộ trong nghĩa trang, chập choạng vào nhau ở những buổi chiều. 

 

Cái chết không chỉ ở người, mà còn ở loài vật xung quanh, như chim chóc.  Con trống chết, để lại con mái bơ vơ lạc lỏng. Và không chỉ chim chóc, thú vật, mà còn là cái chết, cái lìa cành của những chiếc lá, những chiếc lá vàng rơi rắc réo, những chiếc lá khô, và lớp lớp những tầng lá ẩm mục ở nhiều truyện ngắn, trên nhiều trang sách, như khơi dậy cái nhỏ nhoi, cái vô thường của cuộc đời.

 

Đây là một vài hình ảnh về lá:

“Cánh rừng xơ xác phía sau quán trông tiêu điều thảm đạm như một bức tranh đầy cảm tính.  Những cành cây khô gẫy và lá chết nằm lẫn lộn với tuyết ngập đầy trên mặt đất.  Lá trên cây se sắt khô lạnh.  Có lẽ lá đang đau bệnh những ngày đổi màu, những cơn gió lạnh của mùa thu xứ tuyết đang xoi mòn dần từng tế bào sống của lá .(...).Chu kỳ tàn úa của lá nhanh như một cơn gió nhẹ thổi qua, đổi màu rồi rùng mình rơi về nguồn gốc. (Mùa Mưa)

“Chỉ qua một trận lạnh mầu lá đã rùng mình chuyển sang mầu tê tái.  Từ mầu tê tái chuyển sang mầu đỏ hực.  Thêm vài luồng gió lạnh nữa là lá rũ mình chuyển sang mầu nâu xám xịt, rồi rùng mình tìm về cội nguồn, im lìm như đất” (Nấm Mộ Lá)

Hình ảnh của lá được lập đi, lập lại như một nỗi ám ảnh: đời người-chiếc lá.

 

 

***

 

Nhưng điều làm tôi chú ý nhiều nhất ở Miền Lặng không phải là niềm hạnh phúc cũng không phải là cái chết.  Mà là khoảng đời sống trước khi chết, khoảng thời gian cô đơn cùng cực, nỗi cô đơn bao trùm lấy mỗi “nhân vật” như một định mệnh.  Và nhân vật ở đây có thể là một họa sĩ, một phụ nữ, một ông cụ, một ngư phủ, một chiếc lá.  Hay to tát hơn, là Biển, là Trời.  Lạ, biển và trời cũng cô đơn?  Chứ sao!

 

Hầu như nhân vật nào trong truyện của Phạm Chi Lan cũng đều mang một định mệnh: cô đơn.  Nỗi cô đơn của tuổi già, đã đành.  Nỗi cô đơn của tuổi trẻ, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau làm cho độc giả thấy có một cái gì đó bất toàn, trúc trắc trong đời sống.  Những nỗi cô đơn trống vắng đó như gắn liền vào mỗi cuộc đời, làm nổi bật hai thái cực: đời người hữu hạn, mà cô đơn thì vô cùng. Viết về cô đơn, Phạm Chi Lan đã truyền sức sống vào những dòng chữ của mình.  Nên những trang viết của chị thường sắc và lạnh, tạo nên những vùng trống vắng và bao khoảng chênh vênh.

 

Bắt đầu là nỗi cô đơn của Đạt, một họa sĩ trên một hải đảo.  Hải đảo, tự thân nó đã cô đơn.  Muôn đời bị vây bốn phía bởi nước và nước. Người sống trên hải đảo như bị cách lìa khỏi cuộc sống.  Sống, như đang chuẩn bị để đi về cõi vô cùng. Bởi thế, nên anh để hết tâm trí mình vào hội họa, vẽ những bức tranh cuối cùng của cuộc đời.  Vẽ, cũng chỉ là hành động để che giấu nỗi cô liêu. Rồi đến những nhân vật khác như Nhẫn, như “tôi”, như mẹ, như cha, như Barbara, như người khách trên chuyến taxi vào lúc 3 giờ sáng, từ giã nơi chốn thân yêu, bước vào viện dưỡng lão để tiếp tục những chuỗi ngày đơn độc khác, trước khi về với đất v.v.  Còn nữa, hình ảnh con chim mái quay tới, quay lui tìm kiếm một cái gì đó, có thể là một tiếng kêu, có thể là một cái rũ cánh của chim trống làm người quan sát cũng đau lòng. Nó làm ta liên tưởng tới cảnh đau lòng hơn khi nhìn cảnh cụ bà đơn côi, đi ra đi vào, nhìn góc bàn, nhìn chiếc ghế, nhớ một dáng ngồi sau khi cụ ông đi vào miền miên viễn, chấm dứt mấy mươi năm ăn ở với nhau.

 

Trong những nỗi cô đơn đó, ta bắt gặp những hình ảnh rất ít khi xuất hiện trên những trang sách của nhà văn khác.  Đây là hình ảnh của một người đàn ông, làm nghề chăm sóc vườn tược ở công viên thành phố:

 

“Có nhiều buổi chiều, người ta thấy ông già gầy gò ngồi ở một góc vườn, dưới một gốc cây mở gói thức ăn ông đem theo cho buổi cơm chiều. Ông lặng lẽ ngồi ăn một mình, khuôn mặt chìm lặng và ẩn kín như một bức tượng câm nín.  Ông thầm lặng lắm bởi vì ông chẳng hề nói chuyện với ai.  Nếu có muốn nói điều gì, ông thường làm hiệu bằng cử chỉ. Có  người nghĩ chắc ông tàn tật không nói hay nghe được.  Lại có người khác bảo thường trông thấy ông đứng ngẫng mặt nhìn trời lẩm bẩm điều gì, mắt nhìn đăm đăm vào cõi xa xăm như tìm kiếm nghe ngóng hay đang nói chuyện với các vì sao. (...)

Ông là người đầu tiên đến mở cửa công viên thành phố, và là người ở lại sau cùng khi chiếc cổng sắt khép lại khi công viên đã đến giờ đóng cửa và thành phố đã lên đèn.  Rồi ông quay lưng lầm lũi đi vào bóng đếm mất hút.” (Nấm Mộ Lá)

 

Từ hình ảnh ông già đơn độc ngồi dưới gốc cây đến những hình ảnh khác, đặc biệt hơn, là ở thế ngồi: ngồi trong bóng tối. Ngồi trong bóng tối, lặng im, lâu lâu dõi mắt nhìn ra ngoài ánh sáng. Có khi ngồi thật lâu, ngồi hàng giờ hay hằng mấy giờ liền, nhưng không nghĩ ngợi điều gì lớn lao, có khi chẳng chiêm nghiệm gì cả. Tính cách ngồi trong bóng tối đã là một tính cách bất thường.  Bất thường ở chỗ: cô đơn nhưng muốn lẫn vào bóng tối để không muốn ai biết mình cô đơn. Đây là hình ảnh một người cha:

 

“Ông có cảm giác thế nào khi chìm đắm trong vùng tối, tôi không rõ.  Ông suy nghĩ về những điều gì tôi không thể nào biết được.  Cha tôi mang một vẻ mặt bình an phẳng lặng.  Chỉ có điều khi bắt gặp cha tôi ngồi trong bóng đêm, tôi tức giận vô cớ và bực bội một cách vô lý. (...) Cha tôi thường ngồi cho đến thật khuya, khi không còn một tiếng động nào chung quanh, ngay cả tiếng còi xe lửa từ xa vọng lại.  Những tiếng tầu chở hàng xuyên bang đi qua mỗi đêm. (...). Tôi không chịu được hình ảnh cha tôi cô độc ngồi trong bóng đêm.  Nhưng tôi tôn trọng sự cô độc và những điều riêng tư của cha, tôi mặc ông ngồi trong bóng tối gần gũi quen thuộc của ông.” (Đoạn Rời)

 

Đây là hình ảnh một người cha khác, ở một truyện ngắn khác:

 

“Cha ngồi yên đấy bất động trên chiếc ghế lắc đu ở cạnh cửa sổ phòng ăn.  Bóng cha ngồi nhỏ thó, gọn gàng trong lòng ghế, như một khối đen hòa lẫn với bóng tối.  Tôi giật mình, rồi định thần rằng cha còn thức với ánh mắt mở tỉnh táo nhìn tôi từ bóng tối. (...)

 

Cha không hút thuốc mà chỉ ngồi im trên ghế mây có lẽ đã từ lâu lắm.  Cha nhìn vào vùng bóng tối ở khoảng trời bên ngoài cửa sổ.  (...) Mắt cha không chớp, cha nhìn vào khoảng không, chắc cha không nhìn thấy tôi đang bối rối ngắm cha.  Ít khi tôi có dịp nhìn cha kỹ trước mặt như vậy. (...)

 

Dường như thời gian ngừng trôi, tôi cảm thấy không khí hơi nặng, không rõ là mấy giờ sáng mà trăng đã lên thật cao khuất sau bóng cây.  Có lẽ tôi đã ngủ được một giấc dài từ tối.  Ý nghĩ cha đã ngồi hàng giờ thế này một mình làm tôi nao nao trong lòng. Thắc mắc bật lên trong đầu tôi, cha có việc gì lo lắng hay trong người không khỏe.  Hai cha con ngồi im trong bóng tối, một lúc sau tôi cất tiếng rụt rè hỏi:

 

Thầy có khỏe trong người không? hay Thầy có chuyện gì phải suy nghĩ?

 

Tiếng cha tôi trầm trầm trong bóng tối, vẫn không động.

 

Không có gì cả con à.  Thầy vẫn thích ngồi trong bóng tối thế này, chỉ ngồi không vậy thôi.  Không có gì quan trọng! (...)

 

Không biết nói gì làm gì để gợi cho cha thêm về ý nghĩ trong đầu của cha, cha tôi như quên có tôi đang ngồi đối diện.  Cha lại như chìm vào một cõi khác. (...)

 

Cha vẫn ngồi trong bóng tối một mình một thế giới riêng.” (Ký Ức Dòng Sông)

 

 

Cũng có thể hình ảnh hai người cha, trong hai truyện ngắn khác nhau, là một.  Sao không?  Nếu ở truyện này cái cô đơn chưa đẩy đến cùng cực, thì ở một truyện khác hình ảnh được lập lại, nhưng không khí truyện được đẩy đi xa hơn, bẩy lên cái thế ngồi rõ ràng hơn, sắc nét hơn, đưa cái cô độc vào chốn tận cùng.

 

Và đây là hình ảnh “Tôi”, một người trẻ, trong một truyện ngắn khác, cũng với tư thế ngồi trong bóng tối, nhưng “tôi” giải thích phần nào “tôi” quyết định làm như vậy:

 

“Từ lúc nào không nhớ, tôi chợt sinh thói quen ngồi trong bóng tối. (...) Ở trong bóng tối, tôi cảm thấy yên ổn và bình an trong lòng. Trong bóng tôi, tôi có thể nhìn rõ hơn vào suy nghĩ của tôi.  Trong bóng tối quây quanh, tôi cảm thấy tự nhiên, tôi yên tâm thưởng thức sự cô độc không còn mang nhiều mặc cảm như khi tôi ở ngoài ánh sáng. Bóng tối chấp cánh cho tôi bay ra khỏi thực tại.” (Đoạn rời)

 

 Cái cô đơn không ở chỉ con người, cô đơn trong truyện của Phạm Chi Lan còn như lan sang những vật vô tri vô giác khác, như cỏ cây, như sông lạch, như biển, như trời.  Vâng, biển cũng cô đơn. Nỗi cô đơn của biển là nỗi cô đơn lớn. Và để đẩy nỗi cô đơn ấy đến kỳ cùng, Phạm chi Lan đã nhân cách hóa, cho biển thao thức, cho biển trầm tư, và có khi lắng nghe, chịu đựng và cũng như con người, có lúc biển xúc động tột cùng.

 

   “Một vùng biển lặng và trầm tư.  Đêm hôm trước, sóng thao thức đến quá khuya cho đến khi ánh trăng ràn rụa đắp trên mặt sóng những ý nghĩ lấp lánh, lăn tăn mặt nước như vầng trán nhăn của nhà thông thái mất ngủ hằng đêm. (...)

 

 Biển cảm thấy vô cùng trống trải và cô đơn, bờ cõi đất liền xa xôi kia mỗi ngày mỗi cách chia, lục địa tản mác, con người phân hóa, chiến tranh làm người ta lạ mặt không còn nhận ra nhau. (...)

 

Biển nín thở lắng nghe (...)

 

Biển bối rối chịu đựng.

 

Rồi dường như biển xúc động.  Những con sóng òa vỡ, ập lên ôm trọn chiếc thuyền bé tí vào lòng.” (Tiếng Hát Ngư Phủ)

 

 

Thế giới của Miền Lặng là thế giới nội tâm của nhân vật.  Những hoạt động thường ngày hay sở thích của họ như vẽ, đọc, viết, và ngay cả ngồi trong bóng tối v.v. đều để chỉ cái nội tâm.  Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, Phạm Chi Lan “chừng mực” quá.  Điều tôi muốn nói là có khi Phạm Chi Lan như kềm hãm lại cảm xúc của mình, không dám đẩy hết xuống câu văn, để đưa câu văn bay bỗng. Bởi thế, ngoài thế ngồi cô đơn rất thành công, vài hình ảnh nhân vật có chỗ chưa được đẩy hết chất sống vào trong mỗi dáng đi, mỗi ánh mắt nhìn, mỗi cử động, để bẩy lên niềm ưu tư sâu thẳm, cái cô độc ngút ngàn bên trong tâm hồn, của những kẻ cô đơn. 

 

 

***

 

 

Ở Phạm Chi Lan, thân phận người như những chiếc lá.  Có những lá xanh, có những lá vàng.  Dù lá màu gì đi nữa, thì thân phận mỏng manh của nó vẫn chới với trước những cơn gió cuộc đời.  Lá phải rơi về cội. Và như lá, con người cũng phải về cõi vô cùng.  Có những cái chết là điều tự nhiên, không là gì cả, lại có những cái chết ám ảnh nhiều người, trong nhiều ngày.  Cái chết của những nhân vật trong Miền Lặng của Phạm Chi Lan không là dấu chấm hết.  Nó dấy lên trong lòng người đọc những đợt sóng. Bởi Phạm Chi Lan viết về cái chết của nhiều nhân vật không phải để triết luận về cái chết.  Mà vì chị quá đỗi yêu cuộc sống này, như họ Trịnh từng viết “tôi là ai mà yêu quá đời này”.  Vì yêu cuộc sống, và tôn vinh sự sống nên chị đã bày tỏ giùm tấm lòng của lá: “Lá chết nhẹ nhàng bình yên, nhưng sứ mạng của lá để cho những sinh vật biết rằng sự sống là một hạnh phúc.”

 

Vâng, sống là một niềm hạnh phúc.  Và sống cho đáng sống thì niềm hạnh phúc đó nhân đôi.

 

 

 Đoàn Nhã Văn