THI VŨ

 

Cao B� Qu�t,
những d�ng thơ đẹp

 

Thế n�o l� thơ đẹp ? Thơ l� g� ? Những c�u hỏi như thế đ�nh l�n nhiều lần. Được c�c nh� bi�n khảo, ph� b�nh trả lời nhiều bận. Đặc biệt c� một số thầy đồ văn chương h� hửng ba hoa, � a c� kệ, say sưa theo từng cơn đồng nhập. Triệu chứng nghĩa địa ấy ng�y c�ng ch�n cất rất tử tế c�c nh� thơ. Chưa kể nạn độc đo�n ch�nh trị hay b� lũ trong văn học chợ trời quyết tuyệt diệt v� thảm s�t những Người Thơ.

Ai trong ch�ng ta kh�ng nghe danh Cao B� Qu�t, kh�ng từng học thơ Cao B� Qu�t thời trung học ? Thế nhưng Cao B� Qu�t c�n lại g� trong mỗi ch�ng ta ngo�i chữ NG�NG với v�i ba giai thoại coi như �ngang t�ng� ? Sức ngang t�ng kh�ng ngang t�ng nổi cuộc đời tẻ lạnh, đơn điệu, buồn hiu v� bế tắc của mỗi ch�ng ta ! C�n d�ng thơ lớn của Cao B� Qu�t ? ��t người c�n nhớ. Thế l� v� t�nh hay cố �, ch�ng ta đồng l�a thảm s�t một nh� thơ. Thảm s�t những nh� thơ, nh� văn, nh� nghệ thuật trong đời sống, tuy vẫn b� b� đề cao văn học tr�n s�ch b�o !

Chấm dứt những định nghĩa, những đ�m tiếu, những giai thoại. Đến gặp thẳng người thơ bằng c�ch đọc thơ người, cho thơ t�i sinh v� người thơ sống lại. Ta sẽ c� th�m bằng hữu giữa cuộc đời chợ b�a, quạnh hiu.

Thơ l� thực hay mộng ? Lại hỏi !

Tr�n mặt đất c� g� kh�ng thực đ�u. Kể cả mộng. Mộng cũng từ người sinh ra. Huyễn hay thực, chỉ l� vấn đề đ�nh gi�. �Nếu kh�ng thấy s�ng d�ng h�ng tr�ng, l�m sao biết tấm l�ng ngh�n phương ?� :

Bất kiến ba đ�o tr�ng

An tri vạn l� t�m ?

Thanh tr� phiếm ch�u nam hạ (từ Thanh-tr� bu�ng thuyền xu�i nam)

Trong số những nh� thơ được ra nước ngo�i, theo những đo�n sứ c�c thế kỷ trước, c� lẽ Cao B� Qu�t l� người c� c�i nh�n quan s�t kỹ nhất. Quan s�t những điều mới lạ c� t�nh thức tỉnh v� s�ng tạo cho qu� hương con người.

Giữa bốn bức tường đen, thơ mở c�nh cửa x�a nắng hay trăng v�o những thi�n h� v� bốn m�a cỏ c�y mu�n th�. Giữa c�c chấn song xiềng x�ch bản năng, thơ l� ch�a kh�a tr� tuệ th�o cũi sổ lồng cho người về ph� hội với thần linh.

C�c nh� thơ của ta xưa khi ra nước ngo�i thường vẫn tiếp tục vịnh cảnh, vịnh người, cảm đề, ho�i niệm c�c chốn cũ của những vĩ nh�n hay thi h�o sống trước. Thơ an cư lạc nghiệp với điển cố. Kh�ng như Cao B� Qu�t thường tự tỉnh tr�n đường : �Đi l�m quan xa mới biết c� lo�i c� lớn ngh�n dặm (1). Kiến thức hẹp h�i kh�c chi nh�n con b�o chỉ thấy một vằn (2) (Hoạn du tỉnh thức ngư thi�n l�, Ngu kiến ch�n th�nh b�o nhất ban).

Một nh� thơ c�ch mạng v� t�n thời được ca tụng ồn �o, như �ng Hồ, cũng kh�ng vượt khỏi d�ng thơ tự sự. Chưa tho�t khỏi tường v�y s�o ngữ. Một ngục t� chữ nghĩa.

Một phần khối lượng thơ xưa, đẹp th� c� đẹp. Nhưng bấy nhi�u h�nh ảnh trau qua chuốc lại như một gian h�ng b�n đồ cổ : phong, hoa, tuyết, nguyệt, Hạng V�, Ngu Cơ, Kinh Kha, Nghi�u Thuấn, B� Di, Th�c Tề... Để tiếp tục với X�t ta lin, L� nin...

�t c� nh� thơ như Cao B� Qu�t biết nh�n sự lạ, v� d�m đưa v�o thơ chuyện lạ. D� chuyện lạ ấy đ�i khi chẳng thơ ch�t n�o. Như chiếc �T�u thủy Hồng Mao� �ng thấy tr�n đường đi Nam Dương. C�c thi sĩ kh�c, c� lẽ sẽ kh�ng nh�n khối sắt phun kh�i n�y, v� thơ họ bận tả s�ng, m�y, ch�n trời, g�c bể...

Hẳn nhi�n, ng�y nay ta đ�u cần đọc thơ Cao mới biết t�u thủy l� g�. Tuy nhi�n, cha �ng ta đ� phản ứng thế n�o, cảm gi�c ra sao, khi thấy lần đầu một ph�t minh T�y phương ? Đ�y l� điều l� th� m� nh� thơ ghi lại cho ta :

Kh�i �n l�n trời xanh

Tỏa cao h�ng trăm thước

Uốn lượn như rng sa

Kh�ng tan khi gi� thổi

Chủ thuyn sửng sốt, thủy thủ đứng l�n theo

Huy�n thuy�n cười n�i

Ta xốc �o đứng nh�n về hướng đ�ng

Đ�y l� hỏa thuyền T�y dương đang v�n vụt tiến lại

Cột t�u cao ngất, con quay gi� đứng im

Ống kh�i nằm giữa nhả kh�i ng�n ngụt

Hai guồng quay ph�a dưới đập v�o s�ng dồn

Guồng quay, s�ng vỗ, ầm ầm như sấm ran

Đi ngang, chạy ngược, nhanh như ngựa phi

Kh�ng buồm, kh�ng ch�o, kh�ng người đẩy

Từ đảo Nanh Rồng, hang Đả Đỏ xa ngo�i trăm dặm

B�ng ng�n tay đ� vượt mọi lớp s�ng kinh người

Đầu b�i Lặc Tử (3) m�y đen phủ k�n

Nước triều chiều l�n nhanh trước ghềnh Bạch Thạch (4)

Họ gọi trẻ đến, vểnh mũi cười n�i

Quần trắng mũ cao, đứng v�y quanh cột buồm

C�c ng�i c� thấy kh�ng :

Khi nước vũng Vỹ Lư r�t v�o tảng đ� Ốc ti�u (5)

Lửa sẽ dữ dội bốc l�n thẳng m�y xanh

Mở la b�n sang phương đ�ng n�n cẩn thận d� chừng !

Kh�ng như biển t�y sớm h�m nước triều đều đặn.

B�i ca T�u thủy Hồng Mao

 

Cao y�n qu�n thanh kh�ng

Tả t�c b�ch x�ch đ�i

Y�u kiều th�y thi�n long

Cương phong xuy bất khai

Đ� sư kinh khởi thủy thủ lập

Tứ bi�n tiếu ngữ ph�n huy�n h�i

Ng� diệc l�m y hướng đ�ng vọng

Đạo thị dương phi�n hỏa thuyền l� dĩ lai

Nguy tường ngật lập ngũ lạng tĩnh

Tu đồng trung trĩ ph�n tắc y�n tồi ng�i

Hạ hữu song lu�n triển chuy�n đạp cấp l�ng

Lu�n phi�n l�ng ph� ẩn kỳ sinh nội l�i

Hữu thời ho�nh h�nh đảo tật b�n m�

V� ph�m v� lỗ v� nh�n th�i

Long Nha, X�ch Khảm b�ch l� ngoại

Đ�n chỉ tảo khước kinh lan hồi

Lặc Tử ch�u đu hắc v�n hợp

Bạch Thạch than tiền mộ tr�o cấp

Ho�n nhi ủng tị đ�m tiếu lai

Tuyết kh�a nga c�n nhiễu tường lập

Qu�n bất kiến :

Vỹ Lư chi thủy hối Ốc ti�u

Kiếp hỏa trực thướng thanh v�n ti�u

Khai ch�m đ�ng khứ thận tự giới

Bất tỷ t�y minh tri�u mộ tr�o.

Hồng Mao hỏa thuyền ca

Chất cơ kh� của t�u dạt v�o thi tứ theo kh�i rồng uốn lượn, s�ng vỗ sấm ran, trước đ�i mắt ngạc nhi�n người d�n Nam ngơ ng�c. Tuy nhi�n niềm tự h�o của nh� thơ phương đ�ng kh�ng để cho m�nh thất thần. Bốn c�u thơ cuối diễn tả � ch� bất khuất long trời lở đất trước cường bạo hay x�m lược. Nước vũng Vỹ Lư bạo cuồng tới đ�u, tảng đ� Ốc ti�u kh� ph�ch sẽ cản ngăn đốt ch�y. C� la b�n đi tới biển đ�ng, nhưng n�n cẩn thận. Th�i b�nh dương kh�ng l� Địa Trung Hải. C�c ng�i c� thấy kh�ng ?

Đọc 112 b�i thơ trong �Ngục trung nhật k�� của �ng Hồ Ch� Minh qua 18 nh� lao, nhận ra t�m sự, lao lung v� thương t�m lắm. Nhưng thơ nhạt nhạt v� vụn vặt thế n�o ! Người t� ấy c�n rất cậu.

Chẳng thấm th�a l� bao so với người t� Cao B� Qu�t suốt ba năm bị tra tấn v� giam h�m tại lao Thừa Phủ ở Huế. Hai người đều v� � ch� m� bị t�. Nhưng sao Cao B� Qu�t kh� ph�ch thế ? Kh� ph�ch bằng thơ v� qua th�i độ. �ng Hồ mượn thơ để l�m quan. Cao sống thơ giữa đời.

Chỉ một b�i �Đằng ti�n ca� của Cao đủ x�a 112 b�i tự sự vụn kia. Qua b�i n�y, �Người thi sĩ nằm t� giữa trời đất� (Thi�n địa nhất thi t� � Độc dạ cảm ho�i) đ� tả chiếc roi song đ�nh m�nh như sau :

Sau rằm th�ng ch�n, kh� m�t dịu

Trời u �m, ban mai thiếu nắng

Người t� đầu rối, ngi tr�n giường g�y

Gi� buốt lộng thốc v�o �o quần

Chợt l�nh bộ đến, tiếng vang lanh lảnh

Th�t gọi giục l�n c�ng đường

Mang g�ng đứng dậy bước theo

Khăn sổ, ch�n vội v�ng

Đến cổng thấy l�nh canh hai h�ng

Người kinh đ� ngơ ng�c k�n tường đứng

Quan lớn một h�ng, thầy biện ngồi dưới

Truyền đem h�nh cụ b�y la liệt

C� chiếc roi song d�i v�t

Da t�a, m�nh cứng, uốn cong liền bung thẳng

Người t� nằm sấp, sợ t�i người

Đầu quay nghi�ng như con d� hốt hoảng

Ch�n tay căng thẳng, đ�i mắt thất thần

Mưa vừa dứt, hơi độc bốc tới h�ng

Tra hỏi giờ l�u, miệng cứng đờ

K�u trời m� than : oan ! oan !

Quan th�t như sấm chuyển rung nh�

Roi quất v�t bay như �nh chớp

Khi tung như hai con thuồng luồng quật bờ ao lở

Khi dừng tựa nước lạnh đổ v�o nồi nước s�i

Đ�i cọc sừng sững vững chắc

Tiếng r�n x� d�y h�nh lang

Than �i, c�nh hải đường đương xu�n

Chẳng v� hương cũ x�m Xương Ch�u (6) m� bẻ n�t

Bấy giờ trời sẩm tối

Kh� sương nơi g�c điện tỏa ng�t v� ta

Roi song bớt giận rủ xuống

Tay chắp, ruột quặn cuốn được ng�n tay (7)

Được, mất do mệnh l� sự thường

Mặt m�y như mọi người, sao phải đau thương ?

Ơn nh� nợ nước chưa đền đ�p

Kẻ dũng cảm đ�u cam chết nơi văn tự !

Chao ơi, chiếc roi song !

M�y kh�ng thấy :

Ở ph�a nam s�ng Đức giang

Tr�n đỉnh n�i Nguyệt hằng

C� c�y t�ng c�y b�ch th�n t�n một nửa

Vẫn hi�n ngang đứng giữa trời đ�ng r�t

Nếu c� người thợ giỏi biết d�ng

Th� s� g� loại bồ kết, chương n�o kh�ng đ�ng kể kia

Nỡ v�o c�n đốn chặt ?

B�i ca c�i roi song

 

Cửu nguyệt vọng hậu thi�n kh� lương

Bạch nhật ảm thảm thần v� quang

Cơ nh�n b�ng ph�t tọa đoạn s�ng

Bi phong t�p t�p xuy y thường

Bộ đinh yết lai thanh lang lang

Ho�n thủ th�c x�c ph� sảnh đường

Phi�n thần hạ giới t�y nhạn h�ng

Tệ c�n bất chỉnh tẩu thả mang

Nhập m�n ngục tốt hiệp lưỡng b�ng

Đ� nh�n h�i quan như đổ tường

Đại quan liệt tọa hạ nhất lang

H� xuất ngục cụ la tr� tương

Cự đằng chi ti�n trường thả trường

Phu t nhục ngạnh nhụ như cương

Cơ nh�n yển ngọa h�nh thương ho�ng

H�i đầu trắc cố như kinh dương

Thủ th�n cước trực lưỡng nh�n hoang

Vũ hậu th�p độc chưng b�ng quang

Lương cứu vấn tấn khẩu bất trương

Khổ đạo khuất khuất h�o khung thương

Quan thanh t�ch lịch t�i đ�i lương

Điện hỏa thiểm thiểm giao phi tường

H�n như song giao b�c hoại đường

B�i như l�nh thủy qu�n cấp thang

Lưỡng mốc tr�c lập thế quật cường

Th�n thanh thập nhị hi tu lang

� h� nht chi xu�n hải đường

Tồi chiết b�t biện Xương Ch�u hương

Thử thời mộ thi�n qu�nh thương mang

Đ�i gi�c vị ng� phi thanh sương

Đằng ti�n th�y th�y kh� bất dương

Củng lập nhiễu chỉ hồi nhu trường

Đắc tng mệnh d� nh�n chi thường

My mục như nh�n h� th�ch thương ?

Quốc �n gia trạch vị thiu thường

Dũng phu na tử h�n mặc trường !

Ta tai đằng ti�n !

Nhĩ bắt kiến : Đức giang chi dương

Nguyệt hằng chi cương

Thượng hữu b�n tử chi t�ng b�ch

Đột ngột đổng cửu nhi tương vương

Cẩu phất kh� vu tiết tượng

Cố v� thủ hồ k� th� dữ dự chương

Nhi h� tiễn phạt chi đương ?

Đằng ti�n ca

Cao B� Qu�t từng ch� trong c�c b�i thơ l�m thời gian ở t� : �L�c bị tra tấn, thịt da r�ch n�t, m�u chảy đầm đ�a, khi�ng về th� ngất đi, đến hai trống canh mới hồi lại�.

Biệt c�ch với nh�n gian l� cảnh t�. Nhưng cảnh t� cay đắng nhất khi bạn b�, thế nh�n biệt c�ch với m�nh :

Sấm gầm chớp giật th�n trơ trọi

Bạn hữu kinh nh�n giả tr�nh ngơ

Ng�y 17 th�ng 10, sau khi bộ Lễ tra tấn nghi�m ngặt,
gượng đau viết lu�n bốn b�i

Cấp l�i b�n điện nhất th�n c�

Thức hữu kinh khan bất cảm h�

Thất nguyệt thập nhất nhật, thừa lễ bộ nghi�m tấn hậu,
cưỡng bệnh mạn ch� tử thủ.

C� ai ngờ một người n� bộc lại giữ vẹn t�nh xưa :

C�m ơn chủ bộc Ti�u gia cũ

Gạt lệ �m thm với chủ xưa

n.t.

Đa tạ Ti�u gia cựu thời bộc

Khấp tương �n ngữ �y vi tu

n.t.

Hoặc an ủi phần n�o, trong cảnh t� đ�y, khi chợt c� kẻ y�u thơ, biết t�i thơ của m�nh, d�m đem giấy mực tới xin thơ. Hầu như ng�y nay y�u th�ch thiết tha với thơ, với chữ như thế kh�ng c�n nữa ?! Nhờ c� người y�u thơ, Cao đ� v� họ l�m thơ trong t�, v� để lại cho ta nhiều b�i. Như ba b�i �Trường giang thi�n� (Một thi�n vịnh c�i g�ng d�i) m� Cao đ� ch� dẫn : �C�ng nh� giam, c� �ng chủ sự họ Nguyễn coi kho vũ kh�, đem c�i g�ng d�i xin ta vịnh thơ. Tự nghĩ v� m�nh dại dột ng�ng cuồng, bị tội l� đ�ng, c�n d�m n�i g� ? Chỉ mừng rằng đ�m khuya l�ng tự hỏi l�ng, c� điều kh�ng thẹn với vật n�y m� th�i. Trong l�c vắng vẻ ngồi buồn, thường thường t�nh hiện ra lời, kh�ng thể nhịn được. Nay được �ng n�y gợi ra, ta cười m� cho ngay. G�ng d�i ! G�ng d�i ! M�y biết ta chăng ? Ta cũng chẳng hợp g� với m�y đ�u ! Thi�n n�y c� ba b�i�.

Ba năm t� tội, hơn một lằn roi song đ�nh x� da. Thế m� thơ trầm tĩnh, như nhi�n đến rợn người. Nỗi đau đớn c�ng cực đ� vượt khỏi phản ứng căm th�. V� kh�ng chịu hạ m�nh ngang với kẻ �p bức. Bận t�m chi những kẻ thừa h�nh �c độc kh�ng đ�ng ấy. Người thơ như tảng n�i trước phong ba b�o t�p. Sức đ�n nhận h�ng tr�ng n�y đẹp biết bao, hơn hẳn những lời đấu tố tầm thường. C�i đ� xấu, đ� gian �c, cần chi tố c�o th�m ? Chỉ cần dẹp vứt. L�m lớn m�i mối tr�ng ch�, h�o t�m của con người, v� l� người thơ, bằng ch�nh th�i độ vươn m�nh đứng thẳng, đứng cao, đứng một m�nh. Như mặt trời giữa qun sao li ti.

Khuynh hướng thi ca hiện thực x� hội chắc chắn sẽ ch� �Đằng ti�n ca� thiếu lập trường. V� kh�ng chỉ ra đối tượng giai cấp đấu tranh, chế độ phải đập. Nghe như c� l� luận. Song chỉ l� l� luận huyễn h�a, so le trước sự thực ngh�n đời. C�ng l� luận kiểu đ�, c�ng đặt ngang v�ng với thau. Dần d� v�ng biến mất, chỉ c�n lại thau, thiết, th�p, ch�.

Kh�ng đ�u, c�c thi sĩ nước ta xưa chẳng đợi c� chủ nghĩa hiện thực x� hội của tư tr�o Mắc dịch t�y phương th� mới biết l�m thơ. Đ� c� một d�ng thơ Như Thật chảy từ l�ng dạ những nh� thơ Việt, chuyển h�a mỹ học Việt Nam v�o con đường nh�n đạo v� văn minh. D�ng thơ Như Thật ấy hướng thượng trong nghĩa chuyển h�a nh�n sinh theo hướng đẹp, tốt v� thật. Kh�c hẳn d�ng hiện thực x� hội gần đ�y, chỉ hướng viễn trong nghĩa huyễn tượng h�a nh�n sinh.

Cao B� Qu�t l� một trong những nh� thơ đ� vun trồng d�ng thơ Việt tựa như hoa mai nở sớm trước mọi cơn đ�ng gi�. �Hạt mai vứt l�n triền n�i, một nắm sinh s�i gửi đ� xanh� (Th� tương mai tử trịch sơn gian, Nhất �c thanh tư k� b�ch loan � T�i mai [trồng mai]).

Tr�n đ�y ta mới chạm tr�n với c�i nh�n của Cao B� Qu�t ph�ng tới thế giới b�n ngo�i : t�y phương ; v� thế giới b�n trong đất nước : t� tội. Nhưng thơ �ng l� c�i nh�n v� sức sống nh�n đạo ở bất cứ nơi n�o �ng gh� mắt. Từ cảnh đến người, v� l� người d�n đen, bằng hữu, gia đ�nh. Sự quyến luyến rất thơ ấy l�m �ng kh�c hẳn với nhiều nh� thơ nho nghi�m khắc.

H�nh ảnh người phụ nữ trong thơ �ng rất được tr�n trọng v� c� đặc t�nh. Kh�ng chung chung như đồ vật, d� l� đồ vật đẹp.

Hầu như ta chưa hề thấy người đ�n b� t�y phương trong thi ca Việt ở c�c thế kỷ trước. Cao B� Qu�t l� thi sĩ đầu ti�n mi�u tả :

Thiếu phụ phương t�y �o như tuyết

Dựa vai chồng dưới �nh trăng trong

Nh�n thuyn Nam treo giăng đ�n s�ng

N�u �o chồng r�u r�t n�i năng

Tr�n tay ly sa biếng cầm

Gi� khơi thổi lạnh se thầm m�nh run

Nghi�ng m�nh chồng đỡ đứng l�n

Biết đ�u c� kẻ Nam buồn biệt ly !

Người đ�n b� T�y dương

T�y dương thiếu phụ y như tuyết

Độc bặng lang ki�n tọa thanh nguyệt

Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh

Bả duệ nam nam hướng lang thuyết

Nh�t uyển đề hồ thư l�n tr�

Dạ h�n v� n� hải phong xuy

Phi�n th�n c�nh thiến lang ph� khởi

Khởi thức Nam nh�n hữu biệt ly !

Dương phụ h�nh

C� lẽ đ�y l� ly sữa đầu ti�n xuất hiện trong văn chương ch�ng ta ? V� lần đầu ta mới thấy ngo�i �nh s�ng cảnh người đ�n b� �nghi�ng m�nh đ�i chồng n�ng dậy� (Phi�n th�n c�nh thiến lang ph� khởi). Sự nũng nịu v� s�t m�nh hầu như vắng b�ng trong x� hội khổng gi�o xưa. Nh�n cảnh ấy, thi sĩ chạnh nhớ tới vợ : Biết đ�u c� kẻ Nam buồn biệt ly ! (Khởi thức Nam nh�n hữu biệt ly). Đằm thắm lắm. H�nh ảnh vợ hiện ra kh� nhiều trong thơ văn Cao B� Qu�t. Qua những b�i ấy, ta biết th�m sự dịu d�ng, k�n đ�o, nhưng kh�ng k�m thiết tha của đ�i cặp thời trước :

T ng�y anh ra đi

Đ�m đ�m giường trống lạnh

Mộng lẻ b�ng trăng khơi

Trời chiều s�ng gi� thổi,

H�nh em gương đ�y tr�p

A� r�t giữ d�nh hơi

Vật xưa an ủi nhớ

Kh�ng l�m ta qu�n nhau.

T ng�y anh ra đi

 

Tự qu�n chi xuất hỹ

Dạ dạ thủ kh�ng s�ng

Hải nguyệt chiếu c� mộng

Giang phong sinh mộ lương

Tiểu k�nh k viễn khiếp

H�n y lưu cố ph�ng

Tr� thử c�c tự �y

Bất khiển lưỡng tương vong !

Tự qu�n chi xuất hỹ

Chiếc gương nhỏ người đ�n b� bỏ v�o đ�y tr�p cho chồng trước l�c ra đi (Tiểu k�nh k� viễn khiếp) kh�ng chỉ để chồng soi mặt. B�ng d�ng v� h�nh của vợ sẽ thấp tho�ng tr�n mặt thủy l�m vấn vương l�ng kẻ đi xa. V� người chồng cũng k�n đ�o để lại cho vợ chiếc �o r�t nơi c� ph�ng (H�n y lưu cố ph�ng). Kh�ng chỉ để chống lạnh. C�n cả m�i da thịt l�m tổ k�n y�u đương bao bọc người vợ trẻ. Hơi h�m ấy khiến biết bao đ�i cặp xoắn x�t trong đời ? Mai sau chết đi tr�n mặt đất, để bay m�i v�o c�i thinh kh�ng. Những cặp t�nh nh�n t�m lại được nhau chăng, đều nhờ hơi h�m ấy : m�i da thịt trần gian diệu vợi.

Chiếc gương nhỏ trong tr�p người thi sĩ long đong đ�y đọa v� miếng cơm manh �o, c�n được nhắc nhở qua nhiều b�i thơ kh�c. �Ly biệt l�u ng�y mảnh gương cũ vẫn phong k�n trong g�i, buồn đến rũ rượi cũng kh�ng th�nh b�ng để bạn với ngọn đ�n lẻ loi�. (Nại biệt hữu giam t�ng cựu k�nh, C�ng sầu v� ảnh bạn c� đăng � Dữ gia nh�n t�c biệt thị dạ dư bệnh chuyển ph�t). Gương soi bộ mặt hữu h�nh của m�nh, soi lu�n cả v� h�nh l� b�ng người y�u. Chiếc h�n y�u dấu ng�n đời ấy đọng m�i tr�n gương.

Tuy nhi�n người thi sĩ của ta kh�ng chỉ nh�n m�i ph�a l� tưởng. Thi sĩ cũng biết tự cười cợt với những h�nh ảnh vụng về của vợ con. Vụng về nhưng th�n t�nh, thực, lưu luyến v� tr�n trọng :

Từ xu�n sang, t�m v� lực đ�ng ph�n n�n

V�ng lưng s�t, gầy kh�ng siết kể

V�o đời, th�n như ngựa ngh�n dặm

Xem s�ch, đ�i mắt l� ngọn đ�n mu�n năm

Người vợ vụng về tựa gối chải t�c rối

Con trẻ ng�y thơ k�o �o đ�i khoanh tay để gối đầu

Cười x�a một tiếng : muốn nh�n nhưng chưa được

Nh�m l� nhỏ pha tr�, thanh đạm như nh� sư.

Trong l�c ốm

 

Xu�n lai t�m lực lưỡng kham tăng

Tổn tận y�n vi sấu bất thăng

Nhập thế ch�ch th�n thi�n l� m�

Khan thư song nh�n vạn ni�n đăng

Chuyết th� ỷ chẩm sơ bng mấn

Trĩ tử khi�n y tạ kh�c quăng

Nhất tiếu na tri nh�n vị đắc

Tiểu l� ti�n m�nh đạm như tăng.

Bệnh trung

Nhờ tr�n trọng mới cảm thấu hết t�nh cảm của người phụ nữ. D� khi họ đ� h�a đ� v� chờ mong, v� sắc son chung thủy :

Đỉnh cao m�nh đứng một m�nh th�i

Son phai phấn lạt hết ai rồi

Người đ�u tin tức kh�ng c�n lại

Trời biển kh�ng m�u mấy dặm phơi

M�u lệ h�a trăng un kh�i đẫm

Dầm m�y r�u biếc t�c thơm ngời

Trời gi�, đất cỗi, t�nh kh�ng n�t

Động biếc chu�ng đ�m đổ mấy hời.

� tr�ng chng

 

Độc lập sơn đầu đệ nhất phong

Chu đi�u phấn tạ vị th�y dung

�m thư cửu đoạn nh�n h� xứ

Thi�n hải v� nhai lộ kỷ tr�ng

Huyết lệ y�n h�a minh nguyệt thấp

Hương ho�n v�n t�ch lục đ�i phong

Thi�n hoang địa l�o t�nh do tạc

Dạ dạ xao t�n b�ch đỗng chung.

Vọng phu thạch

Đ� l� Người đẹp trong đ� tr�ng chồng. Người đẹp ngo�i đời th� sao ? Đ�y l� h�nh ảnh Cao B� Qu�t gặp dưới �nh trăng :

Trời cao sao l�c đ�c

Trăng s�ng trong như nước

Lanh lảnh s�u m�a k�u

Gi� v�ng l�n hiu hắt

Người đẹp thoảng tr�n lầu

Tựa lan can kh�ng n�i

Dậy xem canh mấy rồi

Ch�n ngập ngừng gieo bước

Kể g� đ�m lạnh se

Chỉ lo trăng t�n �nh

Thuở thiếp mười s�u tuổi

Đy đặn kh�c g� trăng

Lớn l�n y�u sắc đẹp

Tưởng dung nhan m�i c�n

K�o �o đ�m trăng s�ng

Cắt viết bức t�nh thư

Gửi người y�u t�m sự.

Đ�m mười bảy dưới �nh trăng viết gấp gửi bạn

 

Thi�n cao ch�ng t�nh hy

Minh nguyệt tĩnh như thủy

Tức tức hậu tr�ng minh

Sắt sắt kim phong khởi

Đường thượng hữu giai nh�n

Ỷ lan sầu bất ngữ

Khởi thị dạ h� kỳ

Bộ bộ h�nh ph�c chỉ

Bất ưu trường dạ h�n

Đ�n t�ch nguyệt tương mỹ

Thiếp ni�n nhị b�t thời

Doanh doanh ch�nh tương tự

Trưởng đại �i dư nghi�n

Thượng tưởng dung nhan mị

Noa y hiệt kỳ quang

Bất nhẫn nh�n phao tr�

T�i t�c hợp hoan thư

Kỷ tử t�m trung sự.

Thập thất dạ thừa nguyệt tẩu b�t k� hữu nh�n

 

Trăng đẹp qu�. Mở �o hứng trăng (Noa y hiệt kỳ quang), cử chỉ của người đẹp l�m �nh trăng th�m đẹp. Đẹp hơn nữa, khi trăng được cắt ra một mảnh để viết bức hoan thư cho người y�u (T�i t�c hợp hoan thư). Trăng với đẹp l� một. Đẹp với người đ�n b� kh�ng hai. Nhưng sắc đẹp rồi cũng t�n phai, như trăng tr�n rồi khuyết. Nỗi l�ng ưu �i ấy x�t thương cho người phụ nữ. Tuổi mười s�u qua mau. Giờ đ�y, nh�n mảnh trăng mười bảy, nhớ xưa đ�nh vớt v�t ch�t đẹp xưa v�o vạt �o. Ho�i niệm mới thơ l�m sao ! Sắc t�n phai bỗng mang một vẻ đẹp kh�c. Chỉ người thi sĩ mới thấy v� qu�. Hỡi c�c người đẹp, trong đời n�n y�u thi sĩ th�i. Thi sĩ, kẻ tụng ca t�nh y�u, ngay cả thời phai �a. Thi sĩ, nơi cất giữ �nh trăng mười s�u. Vĩnh viễn cho trần gian.

Sở dĩ trăng, gi�, hoa, tuyết... trong thi ca xưa c� khi th�nh s�o ngữ, l� v� c�c nh� thơ kh�ng hiện th�n được sức diệu kỳ của nhan sắc thi�n nhi�n. Họ chỉ đem gi�, trăng, hoa, tuyết v�o lấp c�c vế trầm bổng cho c�u thơ. Họ c� biết đ�u, gi� tả như trong b�i �Bắc phong kỳ lương� l� c�i r�t buốt phương bắc d�ng b�u riếu kẻ bạo ngược. Mưa tuyết bay trong b�i �Vũ tuyết kỳ phi� l� để bộc lộ đời sống gian khổ của binh sĩ nơi bi�n ph�ng. Hoa trong b�i �Đường đệ chi hoa� l� mượn n�i tới sự nương tựa đ�m bọc giữa anh em. Cỏ trong b�i �Th�i th�i ph� dĩ� mi�u tả hạnh ph�c người phụ nữ khi sinh con đẻ c�i. Đấy l� những điều Bạch Cư Dị viết trong thư cho Nguy�n Chẩn n�i l�n bề s�u ẩn của thơ. Gi�, trăng, hoa, tuyết kh�ng đơn thuần sự mi�u tả s�o ngữ, m� l� bối cảnh bộc lộ t�nh v� t�m của người theo từng cuộc sống phũ ph�ng hay hạnh ph�c.

Trăng trong thơ Cao B� Qu�t ở b�i tr�n l� sắc đẹp kiều diễm người đ�n b�. Nhưng trăng c�n l� s�ng nước, l� người tri kỷ liếng l�u như một tr� tuệ biết u mặc bỡn đ�a, m� ta gặp qua �B�i ca Trăng thu tr�n s�ng Tr� :

Trăng s�ng Tr� !

V� ai trăng trong xanh đ�m nay ?

Mu�n dặm quan san một m�u trắng

Ở đ�u kh�ng vướng biệt ly t�nh ?

Cất ch�n uống mời trăng

Trăng bước v�o l�ng ch�n

Toan uống, trăng bốc bay

Để b�ng người chao lộng

Ngừng ch�n đặt l�n b�n

Trăng long lanh trở về

Hỏi trăng sao quyến luyến kh�ng rời

Kẻ Tr�c L�m (8) c�ng đường như ta, t�n l�nh bộ ?

Đ�m nay thu tới đầu s�ng

Nghi�ng bầu chuốc rượu c�ng trăng n�i :

Ta về thăm bạn cũ Tồn Ch�n ở cửa Đ� Nẵng

S�ng mai th�c ngựa vượt Cần Giờ

Đ�m qua gi� v�ng trời thổi xuống

M�c trắng sương trong buốt tận xương

Trong đời đ�u ở m�i c�ng nhau được

Rượu đ�y,

H�y uống với trăng s�ng Tr�

Trăng s�ng Tr� !

Gương dầm đ�y nước d�ng d�ng bạc

Trượng phu chống kiếm đi như suốt

Đ�u l�ng nhi nữ l�c ph�n kỳ !

B�i ca Trăng thu s�ng Tr�

 

Tr� giang nguyệt

Kim dạ vị th�y thanh ?

Quan sơn vạn l� hạo nhất sắc

H� xứ bất hệ ly nh�n t�nh ?

Cử b�i th� y�u nguyệt

Nguyệt nhập b�i trung h�nh

H�m b�i dục yết c�nh phi khứ

Chỉ hữu nh�n ảnh tương tung ho�nh

Đinh b�i thả phục tr�

Hựu kiến c� quan sinh

Vấn qu�n h� sự luyến luyến bất nhẫn xả ?

Ng� thị Tr�c L�m c�ng đồ chi Bộ binh !

Giang đầu thử tịch ph�ng thu tiết

Tửu m�n tu khuynh vị quan thuyết :

Đ� m�n cựu lữ Tồn Ch�n �ng

Cần hải minh ti�n hiểu tương biệt

Tạc dạ kim phong h� thi�n khuyết

Bạch lộ thanh sương sảo x�m cốt

Nh�n sinh hội ngộ an khả thường ?

Hữu tửu thả ẩm Tr� giang nguyệt !

Tr� giang nguyệt !

Như k�nh h� ng�n lưu

Trượng phu �n kiếm khứ tiện khứ

Kỳ lộ v� vi như nữ sầu !

Tr� giang thu nguyệt ca

Trăng ở đ�y kh�ng gi� cỗi với Chị Hằng, ray rứt t�nh đơn chiếc. Trăng nhanh nhảu tới lui bằng hữu. Giỡn đ�a với thi nh�n như những c�u hỏi đ�p triết học. Cất ch�n rượu mời trăng, trăng lọt v�o l�ng ch�n ch�o đ�n (Cử b�i th� y�u nguyệt, Nguyệt nhập b�i trung h�nh). Nhưng toan uống th� trăng lại bốc bay, để lại h�nh người uống chao lộng với b�ng m�nh (H�m b�i đục yết c�nh phi khứ, Chỉ hữu nh�n ảnh tương tung ho�nh) B�ng v� h�nh, tr� chơi c�t bắt của nh�n sinh v� triết l�.

Trăng v� s�ng. Hai c�i �nh v� ướt l�m mướt m�i đ�m nơi hồn người.

S�ng, trong thơ Cao B� Qu�t c� khi mi�u tả như dải khăn xanh người g�i đẹp (Giang tự mỹ nh�n thanh luyện đ�i � Ninh B�nh đạo trung), khi như lưỡi trường kiếm giữa trời xanh (Trường giang như kiếm lập thanh thi�n � Hiếu qu� Hương giang).

Trăng v� s�ng, những ảnh h�nh v� hạn trong kh�ng gian thơ. Những chi hữu hạn, c� giới tuyến, mới bị Cao B� Qu�t thu nắm trong tay :

Sớm l�n đứng n�i Ho�nh sơn

Chiều xuống tắm khe B�n thạch

Nhặt mỗi nơi một vi�n đ�

Non s�ng kh�ng đầy vốc tay.

Tắm ở khe B�n thạch

Tri�u đăng Ho�nh sơn lập

Mộ h� B�n k�nh dục

Huề thủ lưỡng phiến thạch

Giang sơn bắt dinh c�c.

B�n thạch kinh

Cũng thế �m�y kh�i mười s�u ngọn n�i tr�o ra đầu ngọn b�t, nước non mu�n ngh�n dặm thu v�o kh�e mắt th�i� (Nh�n trung sơn thủy vạn thi�n l�, B�t để v�n y�n thập lục phong � V�n du S�i sơn...).

Giới tuyến nước non, l�ng cũ... s�t với nh�n sự, n�n trong thơ Cao B� Qu�t �t khi vui. Về l�ng cũ thấy ngậm ng�i, v� theo với thời gian người v� cảnh ng�y c�ng thưa thớt, t�n suy :

Đầu s�ng ng�ng mắt qu� nh�

V�i ba bước nữa, sao đ� thối ch�n

Bước đi bước lại tần ngần

Chẳng v� đợi bạn, c�ng đ�u thiếu người

Bởi chưng th�n chước lụy đời

M�u nồng thuở nọ nửa vời ti�u tan

Đường đời m�y kh�i ph� v�n

Việc người n�ng lạnh b�ng ho�ng tấm th�n

Mũ treo l�ng vẫn ph�n v�n

Mai sau biết dựng cổng trn về đ�u

Vườn xưa ruộng cắm năm s�o

Cỏ lan rậm ng�t ai v�o dấu ch�n

C�ng lưa th�n th�ch xa gn

C�ng chưa dịp tiệc đ�i đằng thịt ngon

Tiền đồ ly biệt đau buồn

Lặng thầm kh�ng n�i chiều h�m tối trời

Bước ch�n v� định bồi hồi

Qu� nh� gang tấc qu� người tr� th�n.

Đường bộ về l�ng Đ�ng dư, tối trời phải ngủ trọ

 

Giang đầu vọng cố hương

Cố hương vị tu trở

Như h� h�nh bất tiến

Nhất bộ nhất di�n trữ

Phi quan phạp dư lệ

Ninh vị đẳng tr� lữ

Cận lai phụ tục lụy

Tr�ng đồ b�n ti�u tử

Thế lộ c�nh y�n v�n

Nh�n sự như h�n thử

Vị hữu quải quan kỳ

S�i m�n tại h� hử

B�n mẫu cựu điền vi�n

Vu uế dĩ bất cử

Th�n th�ch nhật dĩ sơ

H� thường tốc ph� trữ

Niệm biệt trướng tiền đ

Mặc mặc bất dục ngữ

Nhật mộ v� định tung

Do vi dị hương xứ

Sa h�nh để Đ�ng dư, k� mộ lưu t�c

Bước ngập ngừng kh�ng tiến về qu� được, chẳng v� chờ đợi bạn hay thiếu người v�ng c�n (Nhất bộ nhất di�n trữ, phi quan phạp dư lệ, ninh vị đẳng tr� lữ). M� chỉ v� v�ng tục lụy mang lấy v�o người l�m cho h�ng kh� hăng h�i thuở xưa ti�u tan mất một nửa (Cận lai phụ tục lụy, tr�ng đồ b�n ti�u tử). Khiến tới s�t n�ch b�n l�ng, kh�ng chỗ dừng ch�n, đ�nh ngủ trọ (Nhật mộ v� định tung, do vi dị hương xứ).

Bước ch�n v� định bồi hồi

Qu� nh� gang tấc qu� người tr� th�n

Đ� c� l� t�m trạng của tất cả ch�ng ta h�m nay ? Người tr�n qu� hương, cũng như người nơi hải ngoại.

Nhớ l�ng, nhớ nước. Nhưng l�ng nước c� nhớ ta kh�ng ? L�ng nước chỉ l� t�n gọi. Qu� hương, đất nước lu�n bị bọn con bu�n ch�nh trị chiếm đ�ng. Khi th� con bu�n kh�c giống, khi th� con bu�n c�ng giống. Từ thời Cao B� Qu�t cho tới nay vẫn thế. Cao B� Qu�t đ� nh�n đi xem người Thanh diễn kịch m� th�t lời l�m thơ chỉ tr�ch triều đ�nh v� giới sĩ phu nhu nhược thời bấy giờ :

Tr�n đ�i cao, đ�n s�ng như ng�y

Một tiếng th�t lớn, gi đ�m ớn lạnh

Ch�ng tr�ng sĩ r�u tua tủa ngh�nh ngang trong bộ gi�p

Vị tướng trừng mắt ngồi tr�n lưng ngựa chễm chệ

Ra đời lẽ n�o kh�ng c� bộ mặt thật

Để v�o cuộc vui đ�a giỡn với mũ �o xưa

Việc ở Hổ M�n gần đ�y anh biết kh�ng ?

Đ�ng than cho những kẻ vểnh mũi ngồi xem.

Đ�m xem người Thanh diễn kịch

 

Liệt cự th�i minh tối thượng đ�n

Nhất thanh h�m khởi dạ phong h�n

K�ch tu tr�ng sĩ phương ho�nh gi�p

Nộ mục tương qu�n dĩ cứ an

Xuất thế khởi v� ch�n diện mục

Ph�ng trường l�ng tiếu cổ y quan

Hổ M�n cận sự qu�n tri phủ ?

Th�n tức h� nh�n ủng tỵ khan !

Dạ quan Thanh nh�n diễn kịch trưởng

Việc ở Hổ M�n l� việc nh� Thanh đem hết thuốc phiện của l�i bu�n Anh đốt ở Hổ M�n (1840). Ch�nh phủ Anh xua t�u chiến bắn ph�, uy hiếp triều đ�nh nh� Thanh, bắt k� �điều ước Nam kinh� bồi thường binh ph�, mở 5 cửa bể, v� cắt Hương Cảng cho Anh. Mở đầu việc T�y phương chinh phục Trung quốc.

Sự trợ gi�p v� h�nh m� căn bản cho T�y phương x�m lược ch�nh l� t�nh ươn h�n v� dốt n�t của c�c triều đ�nh v� sĩ phu � ch�u thời ấy. Kh�ng ri�ng v� chủ nghĩa đế quốc, v� sức ph�t triển tư bản của T�y phương m� th�i. Những người c� h�ng t�m, tr�ng ch� v� khả năng như Cao B� Qu�t đ�u được d�ng ?

Đời mấy kẻ mắt xanh ?

Trắng đầu cơn s�ng dữ

Ng�y 16, neo thuyền ở bến Lữ Thuận,
họa thơ Trần Ngộ Hi�n

Ph� thế th�y thanh nh�n

Kinh ba tự bạch đầu

Thập lục nhật yết đĩnh Lữ thuận, thứ Trần Ngộ Hi�n

Từ một chức quan, bị t� xu�t mang �n tử h�nh, bị biếm l�m t�n phục dịch cho đo�n sứ ra nước ngo�i, rồi đ�y đi dạy học. Nơi Cao đ� tự than : �M� phạm dăm ba thằng mặt trắng ; Đỉnh chung chiếc rưỡi c�i lương v�ng !�. Đấy l� c�ch d�ng người t�i của Nh� nước. Cao bị t� chỉ v� muốn thu dụng nh�n t�i cho đất nước. �o le v� m�u thuẫn ! Nguy�n l�m Sơ khảo trường thi Thừa thi�n, �ng c�ng bạn Phan Nhạ d�ng muội đ�n h�a son chữa cho 24 quyển văn ưu t� đ�ng đỗ m� chỉ v� �phạm h�y� n�n đ�nh trượt. C�i lối �học t�i thi l� lịch� ấy từ triều Nguyễn tới triều Hồ vẫn chưa thay đổi. Gọi l� �nh�n t�i� những ai giỏi nhớ hết t�n h�y gia đ�nh vua, hoặc thuộc l�u kinh M�c L�, thay v� ch� kh� v� khả năng thực ! Cao B� Qu�t muốn cứu 24 nh�n t�i. Nhưng triều ch�nh lại d�m đ�, đ�nh hỏng. Giết hại lu�n cả kẻ cứu nh�n t�i. Tất cả đ� đều nh�n danh �trẫm� v� �đại sự quốc gia� !

Nh�n những con chim c� sức bay cao m� bị nhốt trong lồng... Nh�n g�ng với c�m, kh�c cạn từng d�ng lệ m�u (Nh�n khan cao điều độc ph�n lung... Lệ s�i h�nh dương huyết b�nh kh�ngTức sự).

Trước triều đ�nh v� bọn quan lại như thế, Cao chỉ biết kh�c, hoặc dấy binh lật đổ. Nhưng việc kh�ng th�nh, v� đa số sĩ phu v� quần ch�ng chỉ biết ch� chửi, chẳng ai d�m ra tay hay tiếp tay h�nh động ! Buồn chăng ? �- Chẳng c� chi buồn, đời l� như thế. V�o đời l� chọn lựa : hoặc c� đơn của kẻ trượng phu, hay c� độc của kẻ giữ ri�ng cho m�nh gi�u sang v� quyền b�nh.

C�u chuyện t�m sự giữa Cao B� Qu�t v� một người bạn ngoại quốc ở T�n Gia Ba (Singapore) cho ta biết nỗi l�ng v� quan điểm ch�nh trị thức thời của �ng trước biến động T�y phương v�o � ch�u. Đ�y l� b�i �C�ng với Ho�ng Li�n Phương n�i chuyện việc hải ngoại, c� điều cảm x�c, viết gấp đưa bạn� :

Quạnh hiu dưới trướng chức tham qu�n (9)

Ng�m tiếng �tu ngu� ng�n bội phần (10) !

Kh�i s�ng qu� người th�n vạn dặm

Gi� trăng t�nh bạn cảnh ba xu�n

Dong b� những rắp l�m Trương Sứ (11)

Kho�t mắt ai người viếng Ngũ Vi�n (12)

Ta cũng như người Trung Thổ cũ (12)

Gi� t�y ngoảnh lại lệ đầm khăn

Ho�ng Tạo dịch

 

Ti�u ti�u li�n mạc nht tham qu�n

Ng�m đ�o tu ngu bất nhẫn văn

Vạn l� y�n ba do t�c kh�ch

Tam xu�n phong nguyệt thặng th�ng qu�n

Phiếm s� mạn tự đ�m Trương Sứ

Quyết nh�n bằng th�y điếu Ngũ Vi�n

Ng� thị Trung Nguy�n cựu nh�n vật

T�y phương hồi thủ lệ ph�n ph�n

Dữ Ho�ng Li�n Phương ngữ cập hải ngoại sự,
triếp hữu sở cảm, tẩu b�t dữ chi

Th�n muốn l�m Trương Sứ (11), Ngũ Vi�n (12) gi�p nước, nhưng ai nghe, ai d�ng ? Biết m� kh�ng l�m g� được. Cảm thức n�y đeo đẳng m�i l�ng Cao :

Đ�nh nỗi hạc g� chung chỗ đậu

C�ng đau s�ng gi� c�i người ta

N�ng ch�n viết gấp tặng �ng Đo�n T�nh l�c sắp l�n đường

Cố ưng k� hạc đồng th� địa

Cộng chứng phong ba hiện tại th�n

Đo�n T�nh l�m h�nh bả tửu vi biệt tẩu b�t dữ chi

Hoặc :

N�ng rượu toan hỏi trời

Trời cao kh�ng thể hỏi

Rằm th�ng s�u dưới �nh trăng Viết gửi c�c bạn cũ

Ba tửu dục vấn thi�n

Thi�n cao bất khả vấn

Lục nguyệt thập ngũ dạ nguy�t
hạ t�c phụng k� chư cố nh�n

Cao thường để � chuyện thời sự, v� sống kh�ng rời với d�n đen khổ �ch. Bao n�t khổ đau chấm ph� trong thơ �ng th�nh nỗi lo toan kh�n dứt. Lo toan trong �, trong thơ, trong h�nh động chống kh�ng. Cao thi sĩ như tr�i đất xanh biếc mỹ miều. Nhưng giữa l�ng l� khối lửa s�ng sục ngất trời. Ngọn lửa lo toan cho nh�n thế. Ngọn lửa Bồ t�t. Giữa c�i đời đ�i lạnh :

Khổ lạnh so ra thua khổ đ�i

C�m cao như ngọc, �o cam mua

Sương gi� qua cầu qu�n r�t buốt

Nghĩ người tựa cửa ng�ng ta về.

Tr�n cầu chiều c� g�i trở về

 

Tư lương h�n khổ vị đương ky

Khang ngột như ch�u khước điển y

Phong lộ qu� kiều hồn bất �c

Ỷ m�n ưng hữu vọng n�ng quy

Mộ kiều quy nữ

 

Sương nặng gầu đ�i mới k�o l�n

M�i run, bụng l�p, chiếc tơi qu�n

Người t�t nước tr�n đồng cao buổi s�ng
Khương Hữu Dụng dịch

 

Vụ l� song cao tấn thủ khi�n

Ph�c hi�u, thần chiến, đoản xoa xuy�n

Hiểu lũng qu�n phu

H�nh ảnh �Người v�c h�m�, �Người ăn m�y�, �Dọc đường gặp người đ�i�, ��ng gi� Ph�c L�m (ở H� nội)� dưới triều Tự Đức kia c� phải vẫn l� chuyện h�m nay ?

Thất thểu ch�ng v�c h�m

M�i bước lại than thở

Bỗng gặp người quan nh�n

Nắm tay, nước mắt gi�n giụa

Hỏi : �Anh nay l�m nghề g�

Mười năm rồi kh�ng gặp ?�

Ch�ng thưa : �Th�i hết rồi !

C� ai thu� mướn đ�u

Xưa c� ruộng ở ch�n đ�

i mẫu coi tạm đủ

Năm Mậu T� mất m�a

Lang thang đi kiếm ăn

L�c về ruộng bỏ hoang

Chức dịch đ�i tiền thuế

Thuế nộp vẫn hạn kỳ

Ruộng rẻ cố kh�ng được

Than �i ! bạn cũ của �ng

Đ�nh b�n sức cho nh� bu�n

Việc đời thường ngang tr�i

Ba năm kh�ng t�nh th�n

Ai chả muốn khỏe mạnh

Nhưng cứ bị đ�nh mắng

Tr�n nh� đy của ngon vật lạ

Dưới (bếp) người ở gầy giơ xương

Nh� n�o kh�ng c� chủ

Muốn bỏ biết đi đ�u ?

Nợ thuế đ� l�u ng�y

Tiền ở d�nh được mấy

S�ng nay b�y tiệc rượu

Lỡ tay vỡ b�nh ngọc !

Người v�c h�m

 

Vũ vũ phụ tương tử

Nhất bộ nhất hồi th�n

Hốt ph�ng y quan nh�n

�c thủ lệ doanh nh�n

Vấn tử kim h� cư ?

Thập ni�n bất tương ph�ng

Tự v�n trường dĩ hỹ

Hề hữu nh�n gia dong ?

T�ch giả đ� hạ điền

Thập mẫu phả dĩ phong

Tự thất Mậu T� thu

Lữ thực v� t�y đ�ng

Qui lai điền cửu vu

L� tư vấn th�u cang

Th�u cung hữu trnh k

Tiện trị điển bất đắc

� h� qu�n cố nh�n

Mại đắc thương gia lực

Nh�n sự lũ quai ngộ

Tam tải v� th�n t�nh

Khởi bất dục thường kiện

Xuy cấu nhật giao tinh

Đường thượng sung phi cam

Hạ tận sấu lộ t�ch

Th�y gia v� chủ nh�n

Khứ thử dục h� th�ch

T� tr�ch nhật dĩ cửu

Dong tiền dư sổ m�u

Tri�u lai l� tửu tịch

Ngộ ph� lưu l� t�n !

Phu tương lử

 

Tần ngần đứng ăn xin

Kh�ng k�u ca đ�i lạnh

N�n r�ch kh�p che m�nh

Mạng đời, đồng xu b�

Giữa thời thuế sưu đe

Tội đồ hay phi�u t�n

Bất t�i cũng người th�i

C�c em đừng tr�u nghịch !

Người ăn m�y

 

C�i tử lập tr� tr�

Cơ h�n bất cảm h�

Y khi�n song lạp ph�

Mệnh đ�i nhất tiền t�

Trưng liễm thời phương cấp

Phi�u lưu nhữ hạt c�

Bất t�i diệc nh�n d�

Nhi nữ mạc khi�u du

C�i tử

 

Một người đi thất thểu

Ảo n�n r�ch tả tơi,

Từ ph�a Nam tiến lại,

Đến trước ta than ho�i.

Ta gạn hỏi n�ng nỗi,

Rằng : �Gian nan m�i th�i.

L�m nghề thuốc, nghề b�i,

Đến kinh kỳ sinh nhai.

Kinh kỳ chẳng ai ốm

Thầy lang mọc khắp nơi.

Muốn quay về l�ng cũ

Ngh�n dặm đường xa x�i.

Ng�y thứ hai b�n tr�p

Ng�y thứ ba đ�i nho�i.

Gặp người những mừng hụt,

Muốn n�i kh�ng ra lời.�

�Than �i ! H�y ngừng lệ,

Một bữa ta tạm mời.

Đời người như qu�n trọ,

Ung dung n�o mấy ai ?

Thong thả đừng nuốt vội,

No ứ dễ hại người !�

Dọc đường gặp người đ�i Ng� Lập Chi dịch

 

Vũ vũ th�y gia tử

Y ph� lạp bất ho�n

Thức t�ng Nam phương lai

Hương ng� tiền đầu than

Vấn : �Tử h� sở ưu ?�

Tự v�n : �Trường gian nan.�

Gia bần, nghiệp y bốc

Ng� lai tẩu Trường An

Trường An v� bệnh nh�n

Quần y như kh�u san

Linh đinh vọng quy lộ

Cực mục v�n man man

Nhị nhật điển kh�ng n�p

Tam nhập xuyết ung xan

Ph�ng nh�n đ�n ngộ hỉ

Dục ng�n thanh lũ can.�

Y ! Tử thả hưu lệ !

Nh�t qũy dữ tử hoan.

Du du nghịch lữ trung

B�ch ni�n th�y tự khoan ?

Mạn d� ! Mạc sậu yết

Bạo doanh phi tr�ng nhan.�

Đạo ph�ng ng phu

 

S�ng t�nh cờ qua chợ Ph�c L�m

Mọi người x�n xao chạy trốn

Lớn trẻ giục nhau chuồn

�Nhanh, nhanh l�n ! c�ng sai về đấy !�

Hỏi �ng l�o đứng gần

�ng l�o gh� tai đ�p :

�T�i ngh�o chạy đi đ�u

Đ�m ng�y trốn như chuột

�ng chẳng nghe ư, năm nay cấp kỳ đi bắt tr�ng ?

Hết hạn kh�ng c�n ai, bắt tứ tung

Huyện quan như cha mẹ kh�ng cần x�t

Nha lại đ�nh d�n như chẻ tre

Sống trong hai huyện đ� l�u đời

Ai kh�ng c� tổ nghiệp, ruộng nương, nh� cửa

Năm ngo�i năm nay th�c l�a mất

Bỏ đi, biết về phương n�o

X�m t�y di tản, x�m đ�ng đ�i

Kẻ sống mười phần c�n một hai

Khổ phu, khổ l�nh, chưa hết khổ

Ch�u ngh�o, con dại bỏ l�ng đi

Thuế t�i ngạch cũ v� c�ng kh�

Chiếu lệ c�n tăng, t�i chết th�i

Năm năm lăm tuổi, tăng một suất

Năm t�i s�u mươi, tăng suất nữa

Huống chi c�n tăng bao loại kh�c

Tăng tới sang năm đ�o tiền đ�u ?

Nghĩ c�c đời vua trước

Chiếu lệ lấy của d�n

Quan lại kh�ng phiền d�n

L�ng x�m chẳng phi�u t�n

D�n hết lo lắng, quan c�ng vui

�Than �i, t�i gi� rồi !�

(Miệng n�i) tay chỉ bức tường đổ.

�ng gi� Ph�c L�m

 

Tri�u h�nh ngẫu bạc Ph�c L�m tứ

Ph�c L�m phường nh�n k�nh tẩu ty

Nam đồng tương khiếu cấp c�o b�n

Cấp cấp quan c�u kim thả ch�

Đ� thanh vấn l�n �ng

L�n �ng tiền tri ngữ :

C�ng l�o kim h� th�ch ?

Tr� dạ tho�n như thử

Qu�n bất văn, kim tuế c�ng đinh nhật trưng đốc ?

Kỳ m�n v� nh�n tứ truy trục

Huyện quan phụ mẫu phất ng� s�t

Tuyn t�o ti�n ph�t như chiết tr�c

Thả ng� nhị huyện th�y thế cư

Th�y v� tổ nghiệp v� điền lư ?

Khứ ni�n thất cốc kim thất h�a

Thệ tương khứ thử tr� y dư

Đ�ng gia cơ ngọa, t�y gia tỷ

Suyễn tức vị vong thập nhất nhị

Binh đ�o, dịch trọng khổ vị trừ

Tử nhược điệt bần kh� hương l�

Thủ thường cựu ngạch ng� dĩ nan

Lệ phục chiểu tăng ng� tử hỹ

Ng� ngũ thập ngũ tăng nhất suất

Ng� chi lục thập hựu tăng nhất

H� huống số ngoại tăng phục tăng

Tăng tận hậu ni�n h� t�ng xuất

Ng� quan tiền thời vương

Thủ d�n duy tại thường

Hữu lại bất thức d�n

Tinh ấp mỹ tản vong

D�n v� ưu hoạn, quan diệc lạc

Hu ta l�o hỹ ! ch bại tường.

Ph�c Lm l�o

Than �i,

Mặt trời đỏ trốn đ�u

Để d�n đen than thở ?

Nh�n mưa

X�ch nhật h�nh h� đạo

Thương sinh th�n kỷ hồi

Đối vũ

L�m người ở x� hội nhiễu nhương, tham nhũng, sao khổ qu�. C� phải l� � than khi Cao B� Qu�t l�m b�i thơ Vịnh chim s�o :

Chim s�o vẫn tự đắc l� kh�n sớm

Đem th�n sống gửi trong lồng son

Chỉ v� c� thể n�i được tiếng người

Đến nỗi cụt mất đầu lưỡi !

H�n cao căng tảo tuệ

Th� th�c tại chu lan

Ch vị năng nh�n ngữ

Phi�n giao tổn thiệt đoan

Vịnh c� dục

V� chưng học n�i tiếng người

Lưỡi xưa cắt lưỡi khiến đời hư hao !

Biết bao loại tiếng người đ� l�m cho người khổ ? Những tiếng, những h�nh, những điều tưởng như nghe, thấy, sờ m� được, ta đem l�m sự thật. Với Cao B� Qu�t, nh� thơ, nh� h�nh động, v� cũng l� nh� tư tưởng, th� kh�ng thế. �ng răn đe ta : Coi chừng ! Tạo vật xưa nay kh�ng b�m v�o h�nh tướng. N�i s�ng sừng sững tưởng như chắc nịch kia, mới chi l� một nửa của nguy�n trạng th�i. Đừng chấp nửa n�y để mất nửa căn nguy�n kia.

Ai người r�t rượu hỏi trời xanh ?

Ma ni (14) ngời chiếu rạng mu�n trời (15)

Tạo vật từ xưa kh�ng b�m tướng

N�i s�ng hiển hiện nửa h�nh th�i

Đ�m 23 tr�ng trăng

 

H� nh�n chước tửu vấn thanh thi�n

Th� bả ma ni chiếu đại thi�n

Tạo vật bản lai v� trước tướng

Chỉ lưu nhất b�n tại sơn xuy�n

Nhị thập tam dạ kh�n nguyệt

Kh�ng chấp v�o h�nh tướng, kh�c với quay lưng bỏ biệt. Nh� tu quay lưng. Nh� thơ kh�ng chấp. Nh� tu quay lưng với đời, để y�n t�m học tập c�i kh�ng chấp. Nh� thơ tu thẳng giữa đời bằng sự kh�ng chấp � kh�ng b�m tướng.

H�nh h�i thế gian tuy mới nửa, nhưng qua thơ Cao B� Qu�t đẹp xiết bao. Y�n ả một cảnh chiều, gi� g�o tr�n biển lộng hay hung h�n những cơn mưa nhiệt đới... Lối tả c� khi đạt tới nghệ thuật phim ảnh. Từng hoạt cảnh khi ph�ng lớn khi d�n trải, gọn, đập mắt, g�y ấn tượng động chấn. Người đọc th�i đọc, v� thoắt thấy, nghe, cảm, th�t m�nh.

Ngo�i giậu kh�i xanh tre r�nh b�ng

Kh�c ca gi� gạo, tiếng đ� rong

Kh�ch về chia s�ch chung c�ng đọc

B� gối ng�m tr�n thơ mới xong

S�ng Hương nước xuống bờ n�ng dạt

H�n Ch�n chiều sa nắng nhạt hồng

Gi� nồm thổi lại hồn thư th�i

Động chiếc r�m treo nhẹ nửa l�ng.

Cảnh chiều th�n qu�

 

Ly ngoại nh�n y�n tr�c ngoại �m

Thung ca thanh yết trạo ca th�m

Truy du kh�ch chi ph�n thư kh�n

Tức sự thi th�nh b�o tất ng�m

Hương thủy mộ tr�o sinh thiển lại

Trản sơn hi chiếu đạm kh�ng l�m

Hu�n phong đa dữ nh�n phương tiện

Xuy khởi c� li�m nhất b�n t�m.

Th�n cư v�n cảnh

 

Bạn thấy kh�ng :

Biển xanh s�ng trắng như đầu bạc

Mu�n hộc thuyền tan dưới gi� g�o

Sấm ran chớp giật người kinh h�i

Điểm nước chim �u nổi chập chờn

Kh�i biển x�ng tr�n tay n�i chởm

Bạt ng�n Nam Bắc n�i tr�ng xa

C�ng danh đường ấy ai nh�n nhĩ ?

Mũ lọng dềnh dang ta bước đi.

Đứng ở Đ�o Ngang nh�n ra biển

 

Qu�n bất kiến :

Hải thượng bạch ba như bạch đầu

Nộ phong h�m ph� vạn hộc ch�u

L�i khu điện b�c h�i nh�n mục

Trung hữu điểm đim ph� khinh �u

Hải kh� quyn sơn sơn như chi

Sơn Bắc sơn Nam thi�n vạn l�

C�ng danh nhất lộ kỷ nh�n nh�n

Quan c�i ph�n ph�n ng� h�nh hỹ !

Ho�nh Sơn vọng hải ca

 

Mưa dữ đổ nghi�ng trời

S�ng t�p tr�n lan đt

Man m�c một m�u s�ng

Tiếng đ�m h�a gi� on

Mặt trời đỏ trốn đ�u

Để dn đen than thở

Kh�ch chờ khan giọng đọc

Hơi thu giục gi� l�ng.

Nh�n mưa

 

Bạo vũ khuynh thi�n lậu

Phi đ�o t�p địa lai

Thế li�n giang sắc tr�ng

Thanh nhập dạ phong ai

X�ch nhật h�nh h� đạo

Thương sinh kh�n kỷ hồi

Kh�ch tnh ng�m vọng viễn

Thu kh� ch�nh tương th�i

Đối vũ

 

Sấm dữ ầm vang tiếng

Kh�ch nửa đ�m giật m�nh

Sầm sập gi� tung m�nh

Mưa bay như t�n bắn

Đẫy gối dậy kh�u đ�n

Đọi dầu pha nửa nước

Tranh giọt nhảy tong tong

Dưới s�n ch�n đy ngập

Sấm gầm giận ai đ�y

Mưa về sao gấp thế

Trời đất dựng mu�n lo�i

Th�i đừng l�m như thế !

Nửa đ�m

 

Bạo l�i điền nhất thanh

Kh�ch tử trung dạ khởi

T�p t�p phong đả li�m

Phi vũ tẩu vạn th

Th�i chm tật m�n đăng

Đăng du b�n nhập thủy

Cấp lựu tranh t�ng t�ng

Hạ giai nhi một ch

L�i hống đắc v� nộ

Vũ lai nhất h� sử

Thi�n địa th�nh vật t�m

Bất ưng phục vi nhĩ

Trung dạ thập tứ vận

 

Thơ Cao B� Qu�t c� khi đ�a bỡn, tự nhi�n. Tho�t ly khỏi sự nghi�m trọng b� tiểu, kiểu hủ nho, đại c�n hay tiểu c�n con con :

N�y b�c s�ng, mời xơi ch�n rượu

Trẻ xưa t�i th�ch chọc cười chơi

B�c l�i d�m n�i phương t�y lại

San phẳng th�nh đ�ng, sẽ tuyệt vời

Chơi Hồ T�y (b�i 3)

 

Khuyến nhĩ trừng ba tửu nhất chi

Thiếu ni�n dư tối giải nh�n di

Khi�n lai t�y bạn sơn vưu hảo

Sản khước đ�ng bi�n qu�ch c�nh nghi

Du T�y Hổ b�t tuyệt

Gọi s�ng l� b�c, xem s�ng như bạn. L� Bạch y�u s�ng nước v� �nh trăng. Cao đ�nh bạn với mọi sự trước mắt m�nh. Cao mời s�ng uống rượu. Hai thứ nước ấy h�a nhau ra g� nhỉ ? Một thứ đậm đ�, thứ kia trong trẻo. Bạn mới c�ng nhau n�i hết nỗi niềm ri�ng. Cao t�m sự với s�ng rằng t�nh m�nh chỉ muốn chọc cười thi�n hạ. Thi�n hạ trang nghi�m qu�. Nh�n đi, nh�n đi, chung quanh ta to�n một lũ đạo mạo. Quan trọng h�a tới hề kịch v� đạo đức giả. Lột hết �o quần ra c�n lại g� ? Ngo�i x�c th�n, c�n c�i trần truồng kh�ng thần tr�. Bỏ qua đi, mời b�c s�ng uống rượu chơi. B�c c� tiện tay, xin l�i d�m d�y n�i ph�a t�y lại đ�y c�ng nhau ch�n th� tốt qu�. V� nếu b�c san phẳng hộ cho bức th�nh ở ph�a đ�ng l�m cho�ng mắt ta, th� hay biết bao nhi�u. B�i thơ kh�ng ng�ng đ�u. Đ� l� t�nh bầu bạn giữa vũ trụ với con người.

Đ�a rồi rong chơi : Đem chiếc cần kh�ng lưỡi c�u dạo tr�n d�ng nước biếc. Chẳng c� � chi, tạm mượn giải buồn ng�y xu�n th�i. Thế m� lũ c� kh�ng tin m�nh chẳng phải l� �ng ch�i, cứ nhớn nh�c sợ mắc phải lưỡi c�u như những người d�n sợ sệt kia :

Cần kh�ng, d�ng biếc dạo rong chơi

Chẳng ỷ g� đ�u, xu�n giải sầu

Lũ c� cứ ngờ ta ngư phủ

Nhớn nh�c như d�n sợ mắc c�u

Chơi Hồ T�y (b�i 5)

 

Dục bả kh�ng can phiến b�ch lưu

Vong t�nh tạm tả khiển xu�n sầu

Ngư nhi vị t�n phi ngư phủ

Đạp đạp như d�n khiếp thụ c�u

Du T�y H b�t tuyệt

Rong chơi đ�nh l� cốt để ti�u sầu. Nhưng với Cao B� Qu�t, kh�ng chỉ thế th�i. Rong chơi l� cởi bỏ bộ �o quan c�ch, v� tấm l�ng trĩu nặng chữ nghĩa, niệm, �, để thong dong nơi v� niệm thảnh thơi chốn trời đất. Nơi trống kh�ng sự vướng mắc.

Ta kh�ng thấy đ� sao ?

Tr�n khoảng non s�ng từng qua trăm trận đ�nh, nay chỉ thấy một chiếc thuyền c�u

Bao kh�ch anh h�ng mu�n thuở, nay chỉ c�n đ�m bụi !

 

B�ch chiến giang sơn thặng ngư đĩnh

Vạn cổ anh h�ng nht tụ trần !

Ta kh�ng thấy đ� sao ?

Ngẩng mặt l�n, cất lời gọi k�u thời th�i cổ

Chỉ thấy ngọn c�y d�o dạt, gi� thổi lạnh l�ng

 

Ngưỡng diện cao thanh khiếu th�i cổ

H�n sao t�p t�p phong linh linh

Ta kh�ng thấy đ� sao ?

Đời buồn hay vui t�y từng l�c

Nơi kẻ n�y y�u th�ch, người sau lại ngậm ng�i

Ln t�m, liễu nghĩa l� chuyện ngu si !

Ngồi thừ ra tham thiền, để l�m g� ?

 

Nh�n thế bi hoan bắt đồng th�

Kim nh�n du thưng hậu nh�n bi

Tức t�m liễu nghĩa ch�n như si

Ngột tọa c�ng thiền hề dĩ vi !

To�n những kẻ chưa hề biết rong chơi. Chưa từng thong dong. Sao d�m b� b� hai chữ tự tại ? y cũng bởi :

Kh�ch đi kh�ng hiểu l�ng du tử

Đem thin n�i m�i với nh� sư

 

H�nh kh�ch bất tri du tử

Mạn hướng sơn tăng thuyết thiền l�

Kh�c chi con k�t trong cuốn phim kia được chủ dạy cho hai tiếng chửi Hitler : �Hitler caca !� Nhưng khi đứng trước mặt Hitler, con k�t chẳng biết l�m g� kh�c ngo�i hai tiếng chửi v� vọng.

Hớp hết từng hơi Phật đưa v�o cuộc sống oanh liệt, người thơ Cao B� Qu�t từng c� l�c răn đe giới Phật tử từ chương m�i m�p, chỉ than thở m�i chuyện tương chao :

Cứ bảo đời l� nh� lửa

C�n ai d�m học chuyển ph�p lu�n ?

 

L�ng truyền thế đế giai hỏa trạch

C�nh hữu h� nh�n th�m ph�p lu�n ?

V�i c�u tr�ch tr�n đ�y r�t từ b�i thơ �C�n Sơn h�nh� Cao s�ng t�c khi l�n chơi n�i C�n sơn với �ng bạn thơ Phạm Long Tr�n. Đi chơi n�i, m� kỳ thực l� cuộc h�nh hương về dấu t�ch t�m linh d�n tộc, với thơ, với tư tưởng Việt. Tư tưởng đ� cổi tr�i khỏi mọi r�ng buộc n� lệ, bay l�n như chim Hồng vượt thắng. Thong dong tự tại. Phải chăng đ� l� niềm tự do, an vui tối hậu của con người ? M� Cao B� Qu�t đ� chứng đắc. Nhờ sống m�nh liệt từng gi�y khắc một. Kh�ng loạn t�m dự ph�ng. Qu� khứ với tương lai đều nằm trong hiện tại.

Ng�y xu�n, ta h�y s�nh bước c�ng Cao trở lại rong chơi C�n Sơn :

Trời xu�n m�nh m�ng

N�i xu�n mu�n tr�ng

Chiu mang bầu rượu

Kh�ch hứng vượt lưng trời

Bạn n�i : đỉnh C�n Sơn thanh t

Ta c�ng đi thăm dấu cũ

Tr�o cao, vượt hiểm, v�ng lối rậm

Xa xa ch�m cổ thụ xanh um

Phanh �o, giang tay, đủng đỉnh đi

Th�ng reo thổi v�t mối t�nh xa

Tam Thanh, B�t cảnh (16) như theo đến

Đỗng T�n, L� Bạch (17) rộn r�ng đưa

Ngẩng mặt cất lời k�u th�i cổ

C�y rạt r�o gi� thổi vi vu

Thấp giọng ng�m b�i Tử phủ

X�a t�c bước v�o ch�a tr�n n�i

Ch�a c� đ�i Phạm vương (18)

Dấu cổ lờ mờ r�u biếc phủ

Xưa Trần C�ng (19) thường đến dạo

Kh� n�i nay c�n đẹp

Hoa lấm tấm b�n cầu Thấu Ngọc (20)

Chim l�u lo trong động Thanh (21)

B�i ph� c Trai (22) c�n đ�, nhưng biết c�ng ai n�i ?

Danh cao mu�n thuở ph� trời xanh

Duy c�c thiền sư đời Trần (23) th�n kh�ng n�t

Đ�i mắt tuệ (24) s�ng ngời nh�n người h�m nay

Cứ bảo đời l� nh� lửa (25)

C�n ai d�m học chuyển ph�p lu�n (26)

Kh�ch đi kh�ng hiểu l�ng du tử

Đem thiền n�i m�i với nh� sư

C� v� rượu trước mắt, cứ uống đi

Ta sẽ v� bạn ca b�i H�n Sơn tử (27)

Dưới th�nh Cổ Phao bến Lục Đầu (28)

H�y quay nh�n phương bắc nhớ người xưa

Tr�n khoảng non s�ng từng qua trăm trận đ�nh, nay chỉ thấy một chiếc thuyền c�u

Bao kh�ch anh h�ng mu�n thuở, nay chỉ c�n đ�m bụi !

Uống, uống nữa đi ! chớ từ chối !

Đời buồn hay vui t�y từng l�c

Nơi kẻ n�y y�u th�ch, người sau lại ngậm ng�i

Lọn tm, liễu nghĩa, chuyện ngu si

Ngồi thừ ra tham thiền, để l�m g� ?

Uống, uống nữa đi ! chớ từ chối !

K�a tr�n đầu non, c�y t�ng cao đ�m nhiu nh�nh

Tr�o l�n nh�n ra t�m c�i

M�y bay b�t ng�t trời

Chim xa rủ nhau về

L� rụng bay phất phới

Kh�ch du v hay ở ?

C�n Sơn h�nh

 

Xu�n thi�n h� minh m�ng !

Xu�n sơn li�n vạn tr�ng !

Du tử v� huề hồ

H�o hứng lăng trường kh�ng

Kh�ch đạo C�n Sơn chi thượng thanh thả u.

Dữ tử tương tương phỏng cố du

Kh�a cao độ hiểm nhiễu la k�nh,

Dao chỉ �m �m thương thụ đầu.

Giải y ph�n thủ tản bộ h�nh,

T�ng đ�o vị ng� trữ viễn t�nh.

Tam thanh, b�t cảnh như truy t�y,

Đỗng T�n, Th�i Bạch ph�n tống nghinh.

Ngưỡng diện cao thanh khiếu th�i cổ

H�n sao t�p t�p phong linh linh.

Đ� thanh phục ng�m Tử phủ chương,

Phi�n nhi�n phi ph�t đăng sơn quynh.

Sơn quynh thượng hữu Phạm vương đ�i.

Cổ t�ch thương thương ế lục đ�i.

Kiến thuyết Trần c�ng cựu du thưởng

Ch� kim sơn kh� y nhi�n giai,

Thấu Ngọc kiều bi�n d� hoa tiểu

Thanh Hư động l� văn đề điểu.

�c Trai ph� tại dữ th�y lu�n ?

Thi�n cổ cao danh ph� t�nh hiệu.

Duy hữu Trần triều thiền giả bất hoại th�n,

Y y tuệ nh�n chiếu kim nh�n

L�ng truyền thế đế giai hỏa trạch,

C�nh hữu h� nh�n th�m ph�p lu�n ?

H�nh kh�ch bất tri du tử

Mạn hướng sơn tăng thuyết thiền l�.

T�n tiền hữu tửu qu�n thả ẩm.

Vị qu�n nhất ca H�n Sơn tử

Cổ Phao th�nh hạ Lục Đầu t�n,

Thỉnh qu�n bắc vọng khan t�ch nh�n

B�ch chiến giang sơn thặng ngư đĩnh,

Vạn cổ anh h�ng nhất tụ trần.

Chước chước qu�n mạc tử.

Nh�n thế bi hoan bất đồng th�.

Kim nh�n du thưởng hậu nh�n bi,

T�c t�m liễu nghĩa ch�n như si.

Ngột tọa c�ng thiền hề dĩ vi ?

Chước chước qu�n mạc từ

Sơn ti�u phục hữu cao t�ng tam lưỡng chi.

Phan trắc diếu b�t hoang,

Minh v�n thi�n ngoại phi.

Chinh điểu tương dữ ho�n,

Lạc diệp ph�n ph�n nhi.

Du nh�n qui bất qui ?

Dữ thi hữu Phan Lung Tr�n du C�n Sơn,
nh�n t�c C�n Sơn h�nh v�n.

 

THI VŨ

Paris, 9.1.1992

 

Ch� th�ch :

1. Liệt tử n�i : �Ở bể Điền Hải c� lớn ngh�n dặm, chiều d�i cũng tương xứng� (Điền hải ngư quảng thi�n l�, kỳ trường xứng chi).

2. Trong Tấn thư, chuyện Vương Huy Chi viết : �Quản trung khuy b�o, thời kiến nhất ban� (nh�n con b�o qua chiếc ống, thấy được một c�i vằn). � n�i kiến thức hẹp h�i.

3. Địa danh ở Singapore.

4. Thuộc hải phận Nam Dương.

5. T�ch xưa n�i ở bể Đ�ng c� vịnh nước lớn, gọi l� Vỹ Lư. Mu�n d�ng nước đổ v�o. C� tảng đ� lớn gọi l� c ti�u. Khi nước dồn đến th� bốc ch�y dữ dội, thi�u hủy mọi vật, nước cũng kh� kiệt.

6. Hoa hải đường kh�ng thơm. Chỉ ri�ng c�y của �n Đ�nh Qu�n trồng ở Xương Ch�u l� c� m�i thơm.

7. Nhiễu chỉ : cuốn ng�n tay. Thơ Lưu C�n tặng Lữ Thẩm đời Tấn c� c�u : �H� � b�ch luyện cương, h�a vi nhiễu chỉ nhu� (Ngờ đ�u thứ th�p cứng trăm lần t�i luyện lại mềm yếu cuốn v�o ng�n tay được).

8. Nguyễn Tịch đời Tấn, t�nh ph�ng đạt, thường uống rượu li�n mi�n. Nghe ở trại bộ binh c� nhiều rượu ngon, liền xin v�o l�m hiệu �y để được uống. V� thế c� t�n Nguyễn Bộ binh (Nguyễn l�nh bộ). Tịch c�ng với c�c bạn kh�c (K� Khang, Sơn Đ�o, v.v...) gồm 7 người thường đi chơi ở Rừng Tr�c (Tr�c L�m). Người đời gọi l� Tr�c L�m thất hiền, bảy người bạn hiền ở Rừng Tr�c. Tịch thường đi chơi rất xa, thấy c�ng đường th� kh�c m� về.

9. Ma ni (tiếng Phạn) kinh Phật hay d�ng, l� ngọc rất s�ng để v�o nước đục, nước h�a ra trong. Ở đ�y t�c giả v� mặt trăng như ngọc Ma ni.

10. Dịch tho�t chữ Tam thi�n, tức tam thi�n đại thi�n thế giới. Theo thế giới quan Phật gi�o, một ngh�n thế giới họp th�nh một �tiểu thi�n�. Một ngh�n �tiểu thi�n� họp th�nh một �trung thi�n�. Một ngh�n �trung thi�n� họp th�nh một �đại thi�n�. Vậy một đại thi�n thế giới t�nh ra bằng một ng�n triệu thế giới (1.000.000.000).

11. Tham qu�n, chức giữ văn thư trong qu�n đội.

12. Tu ngu : � n�i tiếng nước ngo�i. Đời Tấn Ho�n c�ng, H�c Long l�m chức tham qu�n, coi ri�ng việc rợ Nam, c� vịnh c�u thơ rằng : �Tu ngu dược thanh tr� (Tu ngu nhảy v�o ao trong). Ho�n c�ng kh�ng hiểu hỏi, H�c Long đ�p : Người Nam Man gọi c� l� tu ngu.

13. Trương Sứ, tức Trương Khi�n đời H�n, cỡi b� đi sứ nước Nhục Chi dọc đường 2 lần bị người Hung n� bắt giam. Mười năm sau mới trốn về được. Nhờ chuyến đi ấy, người H�n mới biết địa thế v� tinh h�nh c�c nước T�y vực.

14. Đời Chiến Quốc, Ngũ Vi�n tự l� Tử Tư l�m tướng gi�p vua Ng� đ�nh bắt được vua nước Việt về giam. Vua Việt d�ng n�ng T�y Thi, vua Ng� tha vua Việt. Ngũ Vi�n can kh�ng nghe, c�n nghe lời gi�m pha đem giết Ngũ Vi�n. Khi l�m h�nh, Ngũ Vi�n dặn rằng : �Sau khi ta chết, kho�t mắt ta đem treo ở cửa th�nh, để ta nh�n thấy qu�n Việt k�o v�o nước Ng�.

15. Nh�n vật ở Trung Nguy�n, � Cao B� Qu�t chỉ Trương Khi�n v� Ngũ Vi�n, cốt n�i l�n t�m sự m�nh.

16. Tam Thanh l� thắng cảnh nổi tiếng ở ph�a bắc Lạng sơn gồm ba động (Nhất thanh, Nhị thanh v� Tam thanh). B�t cảnh l� 8 cảnh đẹp n�n thơ quanh Hồ T�y tả trong �T�y Hồ b�t cảnh� của một nh� thơ thời L� Vinh Hựu. T�m cảnh ấy l� : 1. Bến tr�c Nghi T�m (bến tắm của ch�a Trịnh Giang dưới d�y tr�c ng� ở l�ng Nghi T�m). 2. Rừng b�ng Y�n Th�i, tr�n v�ng đất l�ng Y�n Th�i do Trịnh Giang cho trồng. 3. Đ�n thề Đồng cổ, do vua L� Th�i T�ng (1028 - 1054) x�y để h�ng năm quần thần đến thề tỏ l�ng trung hiếu. 4. Phật say l�ng Thụy, pho tượng Phật chống gậy, d�ng đi như người say rượu ở ch�a l�ng Thụy Chương. 5. S�m cầm rợp b�ng, nghề săn chim s�m cầm quanh Hồ T�y. 6. Đng hoa Nghi T�m, l�ng trồng hoa. 7. Chợ đ�m Kh�n Xu�n, Ch�a Trịnh thường họp c�c cung nữ mở chợ đ�m tại phường Kh�n Xu�n mua vui. 8. Tiếng đ�n h�nh cung, sau khi họ Trịnh đổ, những cung nữ c�n lại ở h�nh cung vẫn gảy những điệu đ�n rất du dương.

17. Đỗng T�n v� L� Bạch tức Lữ Đỗng T�n v� L� Th�i Bạch, hai thi h�o đời Đường. Lữ Đỗng T�n c�n gọi l� Lữ Tổ, một trong 8 vị ti�n (b�t ti�n). L� Th�i Bạch được gọi l� Tr�ch ti�n, �ng ti�n bị đ�y xuống trần.

18. Phạm vương, vị Hộ Ph�p thường thấy trước c�c ch�a thờ Phật. Đ�y l� ở ch�a Thi�n Ph�c tr�n n�i C�n Sơn, nơi thờ ba vị Tổ ph�i Tr�c L�m đời Trần : Trần Nh�n T�ng, Ph�p Loa v� Huyền Quang.

19. Tức Trần Nguy�n Đ�n, t�n thất đời Trần, l�m quan đến chức Nhập nội ki�m hiệu tư đồ, B�nh chương sự, Quốc thượng hầu, l�c về gi� về nghĩ ở C�n Sơn. �ng ngoại của Nguyễn Tr�i.

20. T�n chiếc cầu ở C�n Sơn dưới động Thanh Hư.

21. Thanh Hư, t�n động thờ Phật ở C�n Sơn, do Trần Nguy�n Đ�n sửa sang l�m mới để tỉnh dưỡng l�c về gi�

22. Ức Trai t�n hiệu của Nguy�n Tr�i, khai quốc c�ng thần đời Hậu L�. �ng c� l�m b�i �C�n Sơn Ca� nhắc lại c�ng ơn của �ng ngoại Trần Nguy�n Đ�n. Cao B� Qu�t c� c�ng t�m sự Nguyễn Tr�i, n�n n�i gặp lại b�i ph� nhưng chẳng biết c�ng ai chia sẻ.

23. Tức Tr�c L�m tam tổ : Trần Nh�n T�ng, Ph�p Loa, Huyền Quang.

24. Tuệ nh�n, con mắt của tr� tuệ b�t nh� nh�n thấu suốt thực tướng của sự vật.

25. Nh� lửa l� hỏa trạch. Kinh Phật thường v� dụ c�i đời phiền n�o như ng�i nh� lửa, để th�c đẩy mọi người tinh tấn tu học, sống đạo, cứu đời. Nay mở miệng cứ ba hoa than thở, một điều đời l� bể khổ, một điều thế giới l� nh� lửa, th� kh�ng thể n�o chuyển ph�p độ người cho được.

26. Ph�p lu�n l� b�nh xe ph�p. Sau khi th�nh đạo, Phật Th�ch Ca thuyết ph�p lần đầu n�i về Tứ đế, gi�p con người diệt khổ n�o, chứng đạo an vui giải tho�t, gọi l� Phật chuyển b�nh xe Ph�p. Xem th�m (25).

27. H�n Sơn tử t�n một cao tăng đời Đường, tu ở động H�n Nham tr�n n�i Thi�n Thai, kh�ng ai r� tung t�ch. Lư Chỉ Dận, l�m quan ở Đan Kh�u nghe tiếng đến thăm, nhưng H�n Sơn tử kh�ng tiếp, l�nh chạy v�o động. Cửa động tự nhi�n đ�ng lại.

28. Th�nh Cổ Phao, t�a th�nh cũ ở ch�n n�i Phao Sơn, tỉnh Hải Dương, nh� Mạc sửa sang v� x�y dựng th�m. Bến Lục Đầu, tr�n s�ng thuộc huyện Ch� Linh, Hải Dương, v� c� 6 ngọn s�ng đổ về n�n gọi như thế.

 

 

http://www.gio-o.com/ThiVu.html

 

 

 

� gio-o.com 2014