Những Thiên Thần Gãy Cánh

Tuệ Chương

 nguồn: con ong.com

(Thư gởi cho một người không quen năm mươi năm trước)

...

“ ... đi sâu vào tỉnh Quảng Trị, ghé vào La Vang xem nhà thờ công giáo cổ đã đổi thay đến đâu. Chúa mẹ ơi vừa dừng xe lại là một phái đoàn bà già con nít thanh niên xúm lại tưởng chúng tôi là người nhà trời hiện về, bu quanh mời mọc đủ thứ. Mua tượng đi cô. Mua hoa đi cô. Chụp ảnh đi cô. Thấy cảnh tượng như những lông nhím tự nhiên mọc tua tủa lên từ thánh địa, ai cũng ớn không muốn xuống xe.

“Một mình tôi làm thánh nữ xuống xe đi băng băng về hướng cung thánh. Tôi chú ý thấy rất nhiều nhi đồng các thánh áo quần rách rưới phần phật theo gió chạy theo tôi, cầm những bịch cao su dơ bẩn vàng sì bên trong chứa những chiếc lá khô queo gió Lào. Tôi vừa hỏi em bán cái gì trong đó vậy. Thế là cả bầy thiên sứ nhao nhao lên đồng thanh: lá chỗ Ðức Mẹ La Vang hiện ra. Lá nầy uống vào chữa bá bệnh. Hay lắm cô. Cô mua dùm cho em đi cô... Những người con Quảng Trị đứng bâu quanh tôi là những bà già ốm o mặt đen đúa xòe năm ngón tay hoa ra van vái: Cô cho xin vài đồng đi cô. Là những đứa bé trai bé gái đi chân trần áo quần rách rưới ngửa cong bàn tay năn nỉ: Cô cho em xin ít đồng đi cô. Cảnh tượng còn thảm thê hơn đoàn quân ăn mày Chùa Hương ở Hà Tây ngày nào tôi đến. Dù sao ăn mày Chùa Hương còn có vẽ gì đó chuyên nghiệp truyền thống trân tráo. Còn ăn mày La Vang Quảng Trị sao mà nó hiện thực cọng sản chủ nghĩa mới mẻ quá đi. Trong đời tôi chưa bao giờ thấy môt lực lượng ăn xin người Việt Nam hùng dũng tận đáy bần cùng như lần nầy.

“Mắt tôi bỗng dưng mờ. Tai tôi bỗng ù. Chân tôi không còn đứng vững. Tôi cố dạt hết bọn người cái bang ra và đi trở lại chỗ xe đậu phía ngoài kia. Ðám quần thần nghèo khó bám theo chân tôi reo hò không bỏ cuộc. Tôi leo lên xe và bảo người tài xế chạy. Tôi mở ví mở rương ra và vơ vét hết tất cả những xấp bạc 200, 500 mang theo dự trữ cho chuyến đi dự tính từ Bắc vô Nam. Tôi làm một chuyện chưa bao giờ làm trong đời: tôi thả tung tóe theo gió những xấp giấy bạc qua cửa kiếng xe. Ðiều làm tức khắc nầy khiến tôi liên tưởng đến cảnh những thánh cô thánh cậu lên đồng ở Phủ Giầy Nam Ðịnh. Những người lên đồng ở những buổi hầu đồng lúc họ phát lộc, họ vứt tiền, vứt trái cây, vứt tung xòe mọi thứ ra một cách hỉ hả. Họ uống tí rượu, họ ngậm tí trầu. Họ say thần thánh. Họ tươi say trong tiếng nhã nhạc. Còn tôi trong phút giây nầy thì đau trào nước mắt. Nước mắt tôi nhạt nhòe theo tiếng kêu lên thảng thốt của đứa con trai nhỏ, mẹ, mẹ sao mẹ làm cái gì dzậy.”

Tôi trích đoạn văn nầy trong "Người Việt, Giai Phẩm Xuân Giáp Thân- 2004, bài "Qua Ðèo Ngang, Ớ Ðang Nghèo" trang 117. Tác giả là bà Lê Thị Huệ, hiện là Giáo Sư Hướng Dẫn tại Ðại Học Cộng Ðồng Evergreen Valley College, tác giả một số tác phẩm thơ văn và bút ký. Bài bút ký trên đây thuật lại một chuyến hành trình xuôi nam của bà từ phía Bắc Việt Nam.

BS Nguyễn Thị Thanh thân mến!

Cũng như tác giả, đọc xong đoạn văn nầy, tôi đặt tờ báo xuống chiếc bàn con trong bệnh viện, mắt tôi mờ đi vì nước mắt, mặc dù lúc đó tôi vừa mới trải qua một cuộc giải phẩu, thân thể còn đau đớn vì vết mổ.

Tôi bỗng nhớ thời niên thiếu ở Quảng Trị và nhớ "Kiệu La Vang" năm 1953.

Buổi sáng hôm đó, khi tôi đang ngồi trước bàn học mà chẳng học hành gì cả, bỗng nghe tiếng trống tiểu, trống đại từ xa vọng lại: “Cắc, cắc, tùm... Cắc, cắc, cắc; cắc tùm...”. Tôi sực nhớ rằng hôm nay có “Kiệu La Vang”. Người dân thành phố Quảng Trị rất quen với “Kiệu Lang Vang” ba năm một lần. Ðó là một dịp “đại hội” của người theo đạo Thiên Chúa mà những người ngoại đạo như chúng tôi cũng có dịp vui lây. Tôi thay áo quần chờ đi xem Kiệu. Ðoàn Kiệu từ làng Trí Bưu sẽ theo đường cửa Hậu (*) ra tới bờ sông Thạch Hãn, (nhà tôi gần bờ sông), theo đường bờ sông để ngược lên phố. Tới “Ngã Tư Mụ Viên Bốn” (*) đoàn kiệu theo đường ga để vào Quốc lộ 1. Quá “ngã ba Long Hưng” họ đi theo con đường La Vang mà lên nhà thờ. Trước 1945, đoàn Kiệu thường đi xuyên qua Cổ Thành Quảng Trị, vào thành ở cửa Tả, ra thành ở cửa Hữu, thẳng tới bến Thuế (*), rồi theo đường bờ sông mà ngược lên phố.

Khi đoàn Kiệu bắt đầu đi ngang nhà tôi thì tôi đã mặc quần áo sẵn sàng đi theo đoàn Kiệu “coi chơi”. Năm ấy, tôi là thằng bé ham chơi hơn ham học.

Ðoàn Kiệu bao giờ cũng trang trí khá đẹp với những cái kiệu trang hoàng hoa lá và giấy màu rực rỡ, tín hữu các bà có lẽ mặc những bộ quần áo đẹp nhứt của họ mà người ta chỉ có thể thấy họ mặc trong các dịp lễ Tết. Các ông già thì khăn đóng áo đen, hoặc “sơ-mi” trắng quần tây. Ông nào “văn minh” hơn chút nữa thì thắt “cà-vạt”. Nhưng rất ít thấy người thắt “cà-vạt” như vậy. Toán trống kèn bát nhã rộn ràng với những bản nhạc xưa thường chỉ nghe trong các dịp lễ tết trong Ðại Nội như Ðăng Ðàn Cung, những bài trong cung cấm tấu lên khi rước vua, v.v... và đẹp nhứt là các em bé thiên thần của... chị. Năm ấy chị đang học ở Jeanne D’arc, Huế, có đứa nói với tôi chị đang chuẩn bị thi Bacc 1. Chị về Kiệu năm ấy, chỉ huy một bầy mấy chục em bé trên dưới mười tuổi làm “thiên thần”.

Có lẽ đây là lần đầu tiên các em được đánh phấn và tô hồng hai má. Các em không cần phải đánh son. Chúng nó còn ngây thơ, tâm hồn còn trong trắng, môi chưa từng nói ra những lời dối trá, lừa gạt ai, nên, nói như nhà văn Võ Thu Tịnh, môi các em còn hồng, chưa cần phải tô son cho đỏ như người lớn tuổi để che đậy những lời dối gian. Các em mặc những chiếc áo đẹp nhứt: màu thiên thanh, màu hoàng yến, màu hồng nhạt, đầu quấn một vành hoa tươi như trong hình Ðức Mẹ và vai các em mang đôi cánh chim. Khi bước đi, đôi cánh lay động, tưởng các em như là những con chim thật, sắp sửa vươn cánh bay lên trời cao, trên cõi Thiên Ðường, lìa xa cuộc đời dương thế. Tuy nhiên, đường đi đã khá xa, nhiều em má đã lấm tấm những giọt mồ hôi long lanh như giọt sương mai. Bước chân các em ngắn, đi chậm nên đôi khi các em bị toán đi trước bỏ một quãng xa. Các em vội vàng rủ nhau chạy theo cho kịp toán đi trước. Cảnh tượng vừa buồn cười vừa dễ thương! Tôi thường đi trên vệ cỏ, trên lề đường, bên cạnh các em đi giữa đường. Thỉnh thoảng chị bắt nhịp cho các em hát, trong đó có một bài hát rất quen: “Mẹ ơi! đoái thương cho nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn. Mẹ hãy giơ tay ban phút bình an, cho Việt Nam qua phút nguy nàn.”

Riêng về chị, bọn học trò Quảng Trị chúng tôi nhiều người biết. Hồi ấy chị đã nổi tiếng đẹp và học giỏi!

Cụ thân sinh chị, ông Thông Bỉnh là người giàu có ở Quảng Trị. Ông có một dãy phố dài nằm ở đường Trưng Trắc, hồi chiến tranh Pháp-Việt, ông cho Tây mướn làm Attendance. Sau hiệp định Genève 1954, ông cụ lên làm ăn trên Pleiku nhưng dân Quảng Trị thì cho rằng ông cụ khôn. Biết Quảng Trị thuộc vùng giới tuyến nên ông ỏdi tảnõ trước để sau nầy khỏi ỏchạy giặcõ như đồng hương của ông. Thời Ngô Ðình Diệm, ông cụ đắc cử dân biểu trên ấy.

Năm 1970, tôi là huynh trưởng Hướng Ðạo Sinh Quân Ðội, đến Cục Xã Hội liên hệ công tác, gặp anh Nguyễn Văn Diễn, em của chị đang phục vụ ở đấy. Chúng tôi thăm hỏi nhau vì chúng tôi biết nhau từ nhỏ, trong đoàn “Sói Con” của đoàn Hướng Ðạo Ái Tử, Quảng Trị. Hỏi thăm chị, tôi mới biết chị đã ra bác sĩ và chồng chị, GS Trần Văn T. là Viện Trưởng Viện Ðại Học Saigon. Anh Diễn biểu tôi đến nhà chơi trên đường Phan Thanh Giản Saigon. Chưa kịp đến thăm thì tôi bị đổi về miền Tây, lưu lạc tận Cà Mâu, Hà Tiên cho đến sau 30 tháng Tư/75 thì tôi đi “tù cải tạo”.

Nhắc tới Kiệu La Vang, ít khi tôi không nhớ đến chị dạo 1953 ấy. Tôi tự nhớ lại tôi, hồi ấy là một thằng bé ăn mặc khá ngộ nghỉnh. Ðầu đội mũ chóp hướng đạo, áo màu lam, quần kaki xanh đậm dài vì tôi đã biết mắc cở, sợ bày hai cái chân như hai ống sậy, giày “sandalle”. Tôi theo đoàn kiệu suốt cả buổi sáng đến quá trưa hôm ấy. Chị cũng thật ác, khi thấy tôi xuất hiện bên cạnh đoàn nhi đồng thánh thể thì chị lại bắt nhịp cho các em hát một bài. Dĩ nhiên những bài hát ấy để ca ngợi Thiên Chúa hay Ðức Mẹ Ðồng Trinh chứ chẳng phải để chào đón tôi. Vậy mà tôi thắc mắc hoài, từ đó cho tới bây giờ; tại sao mỗi lần tôi xuất hiện bên cạnh các em thì chị lại bắt nhịp cho các em hát một bài ca?

Tôi theo đoàn kiệu lên tới Quốc Lộ 1, qua khỏi ngã ba Long Hưng, khi đoàn kiệu bắt đầu rẽ vào con đường lên La Vang thì tôi đứng lại nhìn theo mà không đi theo nữa.

Tôi cũng muốn nói với chị rằng theo cuốn sách “Mùa Hè Ðỏ Lửa” của Phan Nhật Nam thì “Hùng Móm”, em út tôi “hy sinh” ngay tại chỗ gặp của con đường lên La Vang và đường xe lửa xuyên Việt. Chỗ ấy, thời ông Ngô Ðình Thục đã cho xây một cây cầu xe hơi vượt lên trên đường xe lửa, người dân Quảng Trị gọi nó là “Cầu Lòn”. “Hùng Móm” chỉ huy Ðại Ðội Dù 112 của nó, đánh từ sông Mỹ Chánh ra tới “Ðồi Ðức Mẹ” phía sau nhà thờ La Vang, chiếm nhà thờ nầy, rồi phá một “trận địa pháo” của địch ở chỗ đám ruộng nhỏ phía trước nhà thờ. Ðến Cầu Lòn nầy thì Hùng tử trận, để lại cho mẹ tôi và các anh chị em chúng tôi một nỗi tiếc thương vô cùng về một đứa em út không chịu sống bình thường như nhiều thanh niên cùng thời.

Các em gái nhi đồng trong đoàn Kiệu La Vang năm đó, có lẽ bây giờ, nếu còn sống thì họ cũng đã thành những bà cụ lão cả rồi; nhưng đối với tôi, hình ảnh các em bé thiếu nhi thánh thể đó không bao giờ thay đổi. Những hình ảnh trẻ thơ ấy nằm sâu trong đáy tiềm thức cùng với những hoài vọng một thời niên thiếu ở quê ngoại, khi tôi còn sống bên mẹ và các anh chị em. Cho tới lúc nầy đây, khi viết cho chị những dòng chữ nầy, hình ảnh “nhi đồng các thánh” đó vẫn sống động như một cuốn phim đang diễn tra trong tâm tưởng của tôi. Do đó, tôi rất ngỡ ngàng khi đọc đoạn văn của bà Lê Thị Huệ: “Còn ăn mày La Vang Quảng Trị sao mà nó hiện thực cọng sản chủ nghĩa mới mẻ quá đi. Trong đời tôi chưa bao giờ thấy môt lực lượng ăn xin người Việt Nam hùng dũng tận đáy bần cùng như lần nầy.”

Ðọc đoạn văn nầy chị nghĩ gì?

Tôi thì hiểu rằng người dân Quảng Trị có lòng tự trọng, không “quen” đi ăn mày. Sở dĩ các bà già (Có ai trong các bà già đó là thiếu nhi thánh thể của chị ngày xưa?), các em bé trai gái ngữa tay mở miệng xin tiền du khách đến thăm “Vương Cung Thánh Ðường” La Vang là họ đã ở cái thế tận cùng của cuộc sống, là ở “tận đáy bần cùng” như nhận xét của bà Lê Thị Huệ. Họ không còn con đường nào khác để sống! Vô phương kiếm miếng ăn, dù khoai sắn, nói chi đến cơm, cá. Các thiên thần ngày xưa của chị có phải bây giờ là “nhi đồng các thánh áo quần rách rưới phần phật theo gió chạy theo tôi, cầm những bịch cao su dơ bẩn vàng sì bên trong chứa những chiếc lá khô queo gió Lào”. Ðó chính là cảnh tượng “sao mà nó hiện thực cọng sản chủ nghĩa mới mẻ quá đi”.

Tôi thương họ quá. Tôi thương các em bé đó. Không một ranh giới nào làm tôi cầm lại được mối xúc cảm xót xa phát xuất tự đáy lòng tôi. Và tôi biết làm gì cho họ bây giờ, nói gì với họ bây giờ? Không lý tôi khuyên các em hãy chờ một phép lạ như cha ông chúng ta có được phép lạ của Ðức Mẹ hiện ra ngày xưa khi họ vào La Vang để trốn tránh vua quan nhà Nguyễn. Thời đại chúng ta, “phép” lạ là do tự con người tạo ra nó chứ không từ một đấng thiêng liêng nào cả. Thời đại “duy vật” là vậy. Tôi không thể nói với các em rằng Ðức Mẹ sẽ hiện ra chiều nay hay ngày mai, đem lại cho các em một chén cơm trắng, trên mặt có một vài con cá cấn, cá bù nhỏ xíu, là loại cá rẻ mạt người ta thường đánh bắt được trong những ngày lũ lụt trên sông Thạch Hãn. Tôi cũng chẳng thể nói với các em về “triết lý sống” của đạo Phật, hãy từ bỏ “Bến Mê”, về với “Bến Giác”. Biết đâu có em sẽ hỏi tôi nếu về với “Bến Giác”, chiều nay em sẽ có gì cho no bụng sau những tháng ngày đói rách triền miên.

Ðiều tôi muốn nói là nói với đồng bào Quảng Trị hải ngoại. Người dân Quảng Trị ở Mỹ, không giàu có thì cũng dư ăn dư mặc. Không ít người nghĩ tới và giúp đỡ đồng bào nghèo khó, tàn tật ở quê nhà, nhưng cũng không ít người còn “xa lạ” với đồng bào ruột thịt Quảng Trị. Có người nói thẳng với tôi rằng chế độ mới tạo ra những cảnh nghèo đói ấy thì chế độ chịu trách nhiệm. Lời nói ấy không phải là không có lý nhưng nó xoáy động trái tim nhân ái biết bao người. Thấy người đói rách mà không thương thì nghịch với “Gia Huấn Ca” của Nguyễn Trãi (*). Cho nên tôi không đành lòng mà nghe theo họ được. Tôi thường nhớ câu ca dao mẹ tôi thường nói khi tôi còn nhỏ:

"Dù xây chín bậc phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người."

Thời đại chị đã văn minh, chị học y khoa, với lòng nhân ái là để xoa dịu vết thương những người đớn đau thân xác. Cha mẹ chúng ta thì vui mừng vì con cái mình làm nghề “Cứu nhân độ thế”.

Nhưng rất nhiều khi tôi tự hỏi lòng rằng chúng ta đã làm được gì cho những người bà con gần gủi, cho đồng bào Quảng Trị nghèo khó, cho các em thiếu nhi thánh thể một thời theo chị đi Kiệu và líu lo ca hát mà hiện thân là những người như bà Lê Thị Huệ đã gặp ở nhà thờ La Vang nói ở trên. Than ôi! Những em bé ngày xưa ấy, có phải bây giờ hóa thân qua hình ảnh: “Chúa mẹ ơi vừa dừng xe lại là một phái đoàn bà già con nít thanh niên xúm lại tưởng chúng tôi là người nhà trời hiện về, bu quanh mời mọc đủ thứ.”

Họ không phải là những thiên thần gãy cánh trong đoàn kiệu ngày xưa của chị và tôi đó hay sao?!

Những ngày tuyết muộn ở Mass

(*) Sau nầy có tên là đường Lê Văn Duyệt

(*) Sau nầy là ngã tư Quang Trung Trần Hưng Ðạo. Ðường Trần Hưng Ðạo hồi xưa gọi là đường lên ga.

(*) Sau nầy là đường Trình Minh Thế

(*) Thấy người đói rách thì thương

Thấy người tàn tật lại càng trông nom

(Gia huấn Ca)

 

Nhà Văn Y Ban: Phá cách để nhận lại đắng cay

Hồ Ngọc thực hiện

nguồn: ngoisao.net

Nhà văn Y Ban.

"Xung quanh tôi, người lao vào tình yêu như con thiêu thân, hy sinh hết mình, chắt chiu hết mình, rồi cứ chuyển từ thất vọng này sang thất vọng khác, người thì quá đau đớn về đàn ông, chuyển sang gu chỉ tin vào chuyện tình cảm với đàn bà. Cũng có thể họ phá cách, để cho trang viết, nhưng điều họ nhận lấy là sự ê chề, đắng cay cho cuộc đời", nhà văn Y Ban tâm sự.

- Các nhà văn hiện đại viết về tình dục một cách táo tợn, theo chị đó là sự ám ảnh của bản năng hay là một sự câu khách?

- Không chỉ các nhà văn Việt Nam hiện nay, mà cũng có cả một số nhà văn nữ của Trung Quốc hiện đại như Vệ Tuệ cũng phá cách bằng cách khai thác về cuộc sống tình dục. Đối với các nhà văn nữ trẻ, họ đang trong giai đoạn sung sức, tình dục đối với họ là dĩ nhiên, bởi vậy họ đưa nó vào trong tác phẩm. Còn đối với các nhà văn nữ đã qua tuổi thanh xuân, bắt đầu vào tuổi trung niên, thì họ lại hồi tưởng lại một thời son trẻ của mình. Tuy có thể bề ngoài của họ đã già đi, nhưng ẩn chứa trong đó vẫn là một tâm hồn lãng mạn, tinh tế và nồng nhiệt. Bởi vậy, họ cũng bị ám ảnh nhiều về sex. Tuy nhiên, còn một lý do nữa là để phản ánh được về thời cuộc hiện nay không đơn giản, rất dễ đụng chạm.

- Trong truyện của chị cũng như của các nhà văn nữ khác nói rất nhiều về những người phụ nữ ngoại tình, họ hạnh phúc đớn đau trong những căn nhà thuê tạm bợ để hưởng thụ những cuộc tình ngắn ngủi, chồng chị nghĩ gì khi đọc chúng?

- Chồng tôi hiểu tôi và hiểu những câu chuyện của tôi, thỉnh thoảng bảo tôi là ngày càng ghê gớm. Những gì viết ra được lắng đọng lại từ chính cuộc sống của tôi và của những người xung quanh, hoặc có thể cũng chỉ từ một câu chuyện vu vơ với bạn bè. Tuy vậy, thỉnh thoảng lão ấy cũng đột nhiên xưng xỉa với vợ khi bạn bè bình phẩm về một bài phỏng vấn nào đó về tôi hay một câu chuyện nào đó. Rồi mọi chuyện cũng qua, chúng tôi duy trì cuộc sống gia đình yên ổn với những đứa con ngoan ngoãn.

- Với truyện "Bức thư gửi mẹ Âu Cơ", chị gần như là nhà văn đầu tiên minh oan, cảm thông cho những cô gái phải đi 'giải quyết', những nỗi đau rất đàn bà, nỗi đau của một người mẹ của những cô gái trẻ, chị nghĩ sao?

- Nhiều người cũng nói rằng, chắc tôi phải trải qua những hoàn cảnh tương tự nên tôi mới viết được như vậy. Câu chuyện của tôi không minh oan nhưng để mọi người hiểu. Từ nhỏ, vì mẹ tôi là bác sĩ sản nên tôi đã quá quen với những chuyện 'kế hoạch' như vậy. Thế rồi, một lần về thăm nhà, con bé hàng xóm 16 tuổi cạnh nhà, chửa 6 tháng mà không hay biết gì. Bụng to mà nó vẫn ngồi dãi thẻ chơi chuyền. Rồi nó phải đi cô vắc, tôi bị ám ảnh và viết nên câu chuyện đó.

- Trong những lần cảm thấy chống chếnh, bế tắc vì cuộc sống gia đình, về công việc, chị giải toả thế nào?

- Nhiều lúc tôi cũng điên lên ấy chứ, chán tất, chán gia đình, chán cả cái cuộc sống bận rộn, chán tới mức tôi muốn treo cổ mình quách lên, nhưng rồi nghĩ đến con thì tôi nghĩ mình phải sống vì chúng nó. Đối với một nhà văn, thì sự chán nản ấy càng khủng khiếp. Hai tuần trước, tôi bị một trận ngộ độc thức ăn rất kinh khủng. Giữa cái lúc bồng bềnh, sống lưng lạnh toát và gần như không còn biết gì, thì thằng con trai bé bỏng của tôi cứ chạy lăng xăng quanh giường, vừa khóc vừa gọi mẹ. Lúc ấy thì tôi biết, mình cần phải sống, sống vì chúng nó.

- Chứ không phải cách giải toả những bế tắc trong cuộc sống với một mối tình 'ngoài vợ ngoài chồng' như các nhân vật của chị?

- Cũng đôi khi mình cảm thấy là mình bị 'phải lòng' một ai đó. Sự lãng mạn trong tâm hồn cho phép tôi được bay bổng, được thi vị những điều trong cuộc sống, nhưng rồi chính vì cách suy nghĩ đẩy đến tận cùng của tôi khiến cho tôi luôn suy nghĩ về những điều sau mối tình thi vị ấy, và cái kết thúc. Đa số các mối tình ấy đều kết thúc một cách ê chề và chán nản. Cũng chính bởi vì tôi cho phép mình lãng mạn, nên tôi mong muốn mọi thứ trong tình yêu đều phải hoàn hảo. Chỉ một chi tiết rất nhỏ thô vụng là cảm giác trong tôi tan vỡ ngay.

Hồ Ngọc thực hiện