nguồn: phattuvietnam.org

Từ đêm nhìn sao mai mọc nơi rặng Hy Mã Lạp Sơn đến những con đường thôn dã của quê hương


Thích Phước An

Trong Việt Nam Phật Giáo sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: “Thi ca không có hình ảnh thì không còn thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì thiền không còn có thể là thiền nữa”



Nhưng thế nào là hình ảnh, giáo sư Nguyễn Lang giải thích: 

Khi Vô Ngôn Thông được hỏi về thiền và thiền sư, ông đã im lặng lấy tay chỉ vào một gốc cây Thoa lư. Thiền và thiền sư trong lãnh vực đàm luận có thể là những khái niệm trừu tượng, gốc cây Thoa lư   là một hình ảnh cụ thể của thực tại, nếu nhìn gốc cây Thoa lư trong chính thực tại của nó tức là đã xâm nhập thế giới thiền và trở thành thiền sư. Các thiền sư không bao giờ muốn đưa học trò của mình vào thế giới suy luận trừu tượng” (1).

Tất nhiên,   trong các tông phái của Phật giáo, thì thiền là tông phái gây cảm hứng mạnh mẻ nhất trong mọi lĩnh vực sáng tác nghệ thuật. Đặc biệt là trong lĩnh vực thi ca. Nhưng theo tôi, chính Đức Phật mới là người đầu tiên khai mở dòng cảm hứng bất tận ấy cho những nghệ sĩ sáng tạo. 

Đọc lịch sử đức Phật ta vẫn còn nhớ, sau 49 ngày tham thiền nhập định dưới gốc cây Bồ Đề bên dòng sông Ni liên thiền, khi sao mai vừa mọc thì thái tử Tất Đạt Đa hốt nhiên đại ngộ (Anuttara Samyak Sambodhi) mà người Trung Quốc đã dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩa là chứng nhập chân lý tối cao. 

Ta có thể đặt câu hỏi, tại sao đức Phật không hốt nhiên đại ngộ vào buổi trưa hay buổi chiều? mà biến cố ấy lại xảy ra vào lúc sao mai mới mọc? Phải chăng đó là giây phút đẹp nhất? Giây phút mà vũ trụ vừa thức tỉnh sau một đêm dài bị bóng tối vây phủ. Như vậy giây phút mà đức Phật giác ngộ đó, nếu ta nhìn theo cách nhìn của thi nhân thì đó là giây phút mà đức Phật đã nắm bắt được cái đẹp thiên thu của vũ trụ chính trong lòng bàn tay của ngài. 

Nhưng thơ là gì? Và tại sao con người phải làm thơ? Thi hào Hàn MặTử   của Việt Nam, người đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời ngắn ngủi của mình cho thi ca và nhất là đã từng trải qua những đau khổ nhất cũng như hoạn lạc nhất trong trái tim rỉ máu của mình, đã cho biết vì sao ông làm thơ: 

“Tôi làm thơ nghĩa là vì tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi bị phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, đều hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú, có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?” 

Trong Trường Bộ Kinh có ghi lại, sau khi rời gốc cây Bồ Đề, trên đường trở về thành Ba La Nại gặp  đạo sĩ Upaka, đức Phật đã reo lên: 

Ta là bậc tối thắng, Ta là bậc toàn trí 

Xả trừ hết ô nhiễm và trần cấu, 

Lìa bỏ tất cả, lửa tham dục đã tắt 

Ta không học với ai, thì còn biết gọi ai là Thầy?  

Những gì Ta biết Ta không học với một ai, 

Không ai bằng Ta trên thế gian này, 

Dầu sanh ở cõi phàm hoặc cung trời 

Không một ai bằng Ta hết 

Ta đã thực sự chiếm được quả giải thoát,  

Toàn thế gian Ta là bậc Vô thượng đạo sư, 

Độc nhất trong đời, hoàn toàn giác ngộ, 

Tự ngự trong yên vui vô thượng. 

Nếu hiểu thi ca trong tinh thần Hàn Mặc Tử, thì những lời trên của đức Phật cũng có thể tạm gọi là ngôn ngữ của thi ca, vì nó đã được trào vọt ra từ trái tim tràn đầy hoan lạc của một người vừa tìm lại được tự do nơi chính quê nhà của mình sau bao thuở lang thang phiêu giạt tận nơi gốc bể chân trời.   

Và rồi sau đó trong gần 50 năm lang thang khắp lục địaẤn Độ rộng lớn, từ những cung điện nguy nga tráng lệ của vua chúa đến những căn nhà nghèo khổ tăm tối nhất thuộc giai cấp tiện dân, từ những bậc Thánh ẩn mình trong rừng sâu đến những tay đồ tể giết người, hay từ một tư tưởng gia thông thaí đến những người nông dân chất phác thất học, với lòng từ bi vô hạn, Ngài đã vì sự thống khổ của muôn loài mà tuyên thuyết không biết bao nhiêu thi kệ. Những thi kệ ấy, có khi thì chất phác giản dị từ nội dung tư tưởng đến ngôn ngữ như trong các kinh thuộc thời nguyên thủy, khi như bay bổng tuyệt vời như trong các kinh thuộc đại thừa. Chẳng hạn như Hoa Nghiêm Kinh, ta đọc mà có cảm tưởng như đó là trường thi vĩ đại nhất mà dân tộc Ấn Độ đã cống hiến cho thi ca nhân loại, và phải chăng chỉ có một dân tộc được sanh ra dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn cao nhất thế giới thì mới tạo ra một thứ ngôn ngữ kỳ lạ như vậy? 

Năm 520 Bồ Đề Đạt Ma mang thông điệp Phật giáo Thiền tông đến Trung Quốc. Đã biết bao thiên niên kỷ trôi qua rồi, vậy mà cái truyền thuyết về việc đức Phật cầm đóa hoa đưa lên trước Pháp hội và nụ cười mênh mông của Tôn Giả Ca Diếp trên đỉnh núi Linh Thứu cùng với đôi mắt của Bồ Đề Đạt Ma chín năm trầm hùng nhìn vào vách đá Chùa Thiếu Lâm, đôi mắt sâu thẳm như đang nhìn vào kiếp người đen tối vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo nghệ thuật không những chỉ tại Trung Quốc mà còn cả toàn thể thuộc khu vực miền Viễn Đông nữa 

Nhưng vì Bồ Đề Đạt Ma dù sao cũng là người Ấn Độ nên theo giáo sư D.T Suzuky, chỉ có công khai mở một trào lưu. Phải đợi đến khi Huệ Năng, một người sanh ra từ đất Trung Hoa, và với thiên tài Huệ Năng thì thiền mới chính thức trở thành một trào lưu tâm linh vĩ đại cho đến ngày nay    

Nhưng mảnh đất đã sinh ra Bồ Đề Đạt Ma có gì khác biệt với mảnh đất đã sinh ra Huệ Năng? “Còn người Trung Hoa mãi mãi là những đứa trẻ bụi đời, vóc dáng nặng nề không bao giờ dám bay bổng lên mây. Sinh hoạt của họ thường ngày là cày cuốc, là gom lá khô, là xách nước, là buôn bán, là hiếu thảo, làm việc công ích, là quy định những lễ nghĩa rắc rối nhất đời, đại khái có nghĩa là có ý thức về lịch sử, quan sát thời vụ, là ghi lại những dấu vết ấy làm chứng tích của thời gian. Người Trung Hoa có thể tự hào giỏi ghi chép nhất trong đời, trái hẳn với người Ấn Độ đánh mất ý niệm thời gian (2). 

Vì tinh thần thực tiễn như vậy nên người Trung Hoa say sưa với những gì trên mặt đất này”. Núi vút trời cao, nước đi ra biển, cây trổ hoa xuân, hoa đơm tàn đỏ. Trăng sáng thì nhà thơ say sưa trổ khúc thái bình” 

Lục tổ Huệ Năng là một người con của một đất nước như thế, mà lại sống cùng thời đại với Lư Chiếu Tân (637-690), Mạnh Hạo Nhiên (689-740) và Vương Duy ( 710-776) v.v. tức là những tên tuổi lớn của thi ca Trung Quốc thời sơ Đường. Đặc biệt là khi Lục tổ Huệ Năng đang du thuyết đạo thiền thì Lý Bạch, thi hào được xem như là vĩ đại nhất của Trung Quốc đã là cậu thiếu niên 12 tuổi, và năm Huệ Năng viên tịch thì thi hào Đổ Phủ vừa chào đời được   một năm, Đổ Phủ sanh 712 và mất 770. “...Huệ Năng viên tịch năm 713, thọ 76 tuổi, nhằm thời thịnh Đường thiên hạ vui cảnh thái hoà và văn hóa Trung Quốc vút đến tuyệt đỉnh vinh quang trong lịch sử (4) 

Bởi vậy, dù không phải là một thi nhân, nhưng khi đem những vấn đề huyết mạch nhất của tư tưởng Phật giáo để giải thích cho người Trung Hoa thì Huệ Năng đã sử dụng ngôn ngữ đầy hình ảnh thi ca, ví dụ đoạn này trong Pháp Bảo Đàn Kinh: 

“Huệ Năng này bước ra ngồi xếp bằng trên tảng đá, Huệ Minh làm lễ nói rằng: Mong hành giả nói pháp cho tôi nghe! 

_Huệ Năng nói: Nếu ông vì Pháp mà đến, thì nên dứt tưởng niệm, lành dữ thảy đừng nghĩ tới. Huệ Minh vâng lời. 

_Giây lâu Huệ Năng lại nói: Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, ngay lúc này đây đưa cho tôi xem cái “bản lai diện mục” của ông trước khi mẹ ông sinh ra 

Giáo sư D.T Suzuki cho rằng, đoạn kinh trên làsự sáng tạo vĩ đại nhất của thiên tài Trung Hoa” đó là một chân trời mới mà Huệ Năng đã mở ra cho Thiền cổ truyền Ấn Độ. Ở cách nói ấy, ta không thấy gì là Phật Giáo hết, thế có nghĩa là Huệ Năng tự vạch ra cho mình một con đường riêng rẻ diễn  đạt một chân lý thiền theo kinh nghiệm riêng độc đáo, và đầy tinh thần sáng tạo trước Huệ Năng để biểu thị kinh nghiệm ấy, người ta vay mượn đó đây, mượn chữ cũng như mượn phương pháp nói rằng:”ông là Phật” hoặc là “Phật ở trong ông” thật quá sáo, quá chìm, vì quá trừu tượng, quá khái niệm. Những câu nói ấy đành là có chứa đựng một chân lý thâm diệu nào đó, nhưng thiếu cụ thể, không đủ sinh khí lay hồn ta chìm lỉm giữa trừu tượng và từ chương vậy. Huệ Năng chất phác ở tâm, mộc mạc ở trí, không nhiễm phải cái học của đạo và đời, Huệ Năng có thể nắm lấy chân lý nóng hổi trong tay, và đó là chổ tươi mát khác thường của tâm trí trong khi tiếp xử với đời” (5) 

“Chất phác ở trong tâm, mộc mạc ở trí”  

Có lẽ đấy chính là điểm gặp gỡ quan trọng nhất giữa thiền (Nhất là thiền của Huệ Năng) và thi ca. Đặc biệt là sau hai câu thơ lừng danh của Bàng Uẩn, một trong những cư sĩ trác việt nhất của Phật giáo thiền tông Trung Quốc: 

Thần thông tịnh diệu dụng 

Vận thủy cập ban sài 

(Này thần thông! Này diệu dụng! 

Ta gánh nước! Ta đốn củi! ) 

Khởi đầu là Trung Quốc, rồi sau đó tràn qua Nhật Bản, Triều Tiên, rồi tất cả các quốc gia thuộc khu vực miền Viễn Đông, tại các thiền viện, chùa chiền, trong các công án, pháp ngữ hay kệ thị tịch của các thiền sư, ta thấy tràn đầy tinh thần thi ca.

Tại Việt Nam, ngoài các thiền sư thi sĩ đời Lý, Trần, ta còn thấy đầu đời hậu Lê có bậc anh hùng Nguyễn Trãi, một con người hoàn toàn cô độc trước thời đại mình đang sống, đã luôn luôn mong ước dù chỉ một lần thôi, được đến tận nguồn của suối Tào Khê, nơi mà lục Tổ Huệ Năng đã khai mạch cho dòng suối tâm linh vĩ đại ấy:  

Bán sinh khưu hắc tiện u thê 

Thiền pháp phân minh thính điểu đề 

Vạn lý Nam lai sơn thủy viễn 

Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê 

(Nửa đời ẩn dật sẵn  hang sâu 

Vang động gian chùa tiếng nhạn kêu 

Muôn dặm từ Nam non nước thẳm 

Một đời mấy bận tới Tào khê) 

Vì nước của dòng suối ấy, Nguyễn Trãi tin tưởng rằng, không chỉ rửa sạch những đau khổ của chính mình thôi mà còn cả mọi sinh linh thống khổ khác nữa: 

Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy 

Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần 

(Trước cửa Tào Khê dòng nước chảy 

Rửa hết bụi bặm bao nhiêu kiếp của nhân gian) 

Trong một bài thơ chúng ta biết rằng, Nguyễn Du đã trì tụng kinh Kim Cang hơn cả ngàn lần, vậy mà thi hào của chúng ta vẫn không hiểu hết ý nghiã sâu xa của Kinh. Cuối cùng phải nhờ bài kệ đắc pháp của lục Tổ Huệ Năng mới chợt nhận ra rằng, con đường đi vào thực tại không qua ngôn ngữ mà chính là con đường của vô ngôn, nghĩa là con đường của im lặng: 

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ 

Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu 

Minh kính diệc phi đài 

Bồ đề bổn vô thọ 

Ngã độc Kim Cang thiên biến linh 

Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh 

Cập đáo phần kinh thạch đài hạ 

Tài tri vô tự thị chân kinh 

(Ta giải thoát khi nào trong lòng đã sáng tỏ, 

Linh Sơn ở ngay trong chính ta, 

Gương sáng vốn không đài, 

Cây Bồ Đề cũng không có gốc, 

Ta đã từng đọc kinh Kim Cang hơn ngàn lần, 

Ý nghĩa sâu xa vẫn chưa hiểu hết, 

Chỉ đến khi đứng trước đài phôi kinh 

Mới hay rằng “vô tự” mới chính là chân kinh). 

Nhưng tại sao một số Tổ sư của Phật Giáo mà lại dấy động được cả phong trào thi ca rầm rộ như vậy? 

Tôi nhớ hồi nhỏ tôi đọc được Pháp Bảo Đàn Kinh tại một ngôi chùa ở vùng núi non hẻo lánh thuộc miền Trung. Thôn quê vốn đã vắng vẻ tịch mịch, mà cách đây 40 năm lại càng vắng vẻ và tịch mịch hơn. Hồi đó tôi mới học lớp 4 hoặc lớp 5 ở trường làng, nên dĩ nhiên đọc Pháp Bảo Đà讠Kinh cũng như đọc chuyện cổ tích vậy thôi.

Nhưng chính nhờ đọc như chuyện cổ tích mà tôi mới thấy hình ảnh của Lục Tổ Huệ Năng gần gũi với tuổi thơ của tôi vô cùng, tôi cứ tưởng tượng cái xứ Lĩnh Nam mà Lục Tổ nói là nghèo khổ quê mùa đó chắc cũng giống như quê của tôi, cũng những người nông phu ra đồng cày ruộng, cũng những người tiều phu lên rừng đốn củi. Ngôi chùa Đông Thiền núi Hoàng Mai sinh hoạt cũng giống như những ngôi chùa trong rặng núi quê tôi, nghĩa là cũng xay lúa, cũng giã gạo, bữa củi, nhiều khi tôi còn tưởng tượng hình ảnh của cụ Lục Tổ mặc chiếc áo tràn màu nâu đất, mang đôi guốc gỗ lầm lũi bước đi, đó lúc là nơi núi rừng chập chùng, có khi là trên những con đường thôn dã giữa những người nông dân chân lắm tay bùn. 

Khi lớn lên lưu lạc các chùa ở thành phố, sống giữa thế giới văn minh tiến bộ, nên tất nhiên tôi cũng không còn đọc Pháp Bảo Đàn Kinh như đọc một câu chuyện cổ tích nữa, nhưng lúc nào hình ảnh của Lục Tổ Huệ Năng, ngôi chùa xưa dưới bầu trời cao rộng, nơi một vùng quê tĩnh mịch vẫn cứ sống êm đềm trong ký ức tuổi thơ xa xôi của tôi. 

Và tôi cũng nghĩ rằng, hễ bất cứ cái gì đưa tâm hồn con người đi lên, đưa con người tiến về cái đẹp, thì cái đó chính là hình ảnh thi ca vậy. 

Dường như thế giới càng văn minh tiến bộ bao nhiêu, thì tâm thức của con người càng hoang mang và lạc lỏng bấy nhiêu. Sự hoang mang đó có lẽ cũng giống như sự hoang mang của Thần Tú (một con người rất uyên bác) khi Ngũ Tổ bảo phải làm một bài kệ khác để trình cái sở chứng của mình: “Tâm trung hoảng hốt, thần tứ bất an, du như mộng trung hành tọa bất lạc” (trong lòng hoảng hốt, thần tứ chẳng an, dường như giấc mộng, đi ngồi chẳng vui) (6). Nghĩa là bất an và đau khổ vì cái sở học uyên bác của mình. 

Có lẽ nhân loại đang đứng trước thế kỷ 21 này, nên khởi sự học lại từ đầu cái mà Lục Tổ Huệ Năng đã bị mắng là “nhĩ giá lạp lão bất tri” ( con người man rợ này chẳng biết chi hết) thì mới mong tìm được một nền văn minh đích thực cho chính mình chăng? 

---o0o---

Chú thích: 

(1) Việt Nam Phật Giáo sử luận, tập 1 Nguyễn Lang, trang 204 NXB Văn Học, Hà Nội 1994 

(2) Thiền Luận, D.T Suzuki, Trúc Thiên dịch, trang 144, NXB An Tiêm, Sài Gòn 1973 

(3) “Trang 161 

(4) “Trang 356   

(5) “Trang 331 

(6) Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Tự tự  

(7) “_____, phẩm Tự tự


 

Chuyện chưa kể về người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết

nguồn: Báo Thanh Niên

Đó là bà Huỳnh Thị Thái (1896-1982), bút danh Huỳnh Thị Bảo Hòa, quê ở xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) với cuốn tiểu thuyết Tây phương mỹ nhơn viết vào năm 1972. Bà còn là ký giả của nhiều tờ báo và là người phụ nữ đầu tiên của Đà thành cắt tóc ngắn, đi xe đạp...

Từ thông tin của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Dy Hy đã tiếp cận gia đình và những người thân quen. Ông cũng là người duy nhất được cung cấp hầu như toàn bộ tư liệu, từ ảnh chụp, thẻ phóng viên, các tác phẩm đã xuất bản và di cảo của bà để biên soạn, cho ra đời cuốn Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa - Người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên (Nhà xuất bản Văn học - 2003). Trong cuốn sách này, Thy Hảo Trương Dy Hy sau phần biên khảo đã cho in toàn bộ cuốn Tây phương mỹ nhơn - Luân lý tiểu thuyết; Chiêm Thành lược khảo Bà Nà du ký - một ký sự in trên tạp chí Nam Phong tháng 6-1931.

Bà Huỳnh Thị Thái sinh năm 1896 là con của cụ Huỳnh Phúc Lợi - nguyên là một võ quan triều Nguyễn, từng tham gia Hội Cần Vương Quảng Nam và bà Bùi Thị Trang. Lúc trưởng thành, bà sánh duyên cùng Hàn lâm viện đại học sĩ Vương Khả Lãm, và theo chồng về sống tại Đà Nẵng.

Là một phụ nữ nông thôn trở thành Vương phu nhân, nhưng vốn là người có học, bà sớm tiếp thu tinh thần Duy Tân và tích cực tham gia các hoạt động của phong trào yêu nước hồi bấy giờ. Không chỉ đăng đàn diễn thuyết kêu gọi chị em học chữ quốc ngữ, thực hiện nếp sống mới..., bà còn đứng ra làm lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, tham gia Nữ công học hội do bà Đạm Phương thành lập. Bà còn là người phụ nữ làm báo từ rất sớm, là thông tín viên thường trực tờ Thực nghiệp dân báo của Hà Nội; đồng thời viết cho nhiều tờ báo khác như Nam Phong (Hà Nội), Tiếng Dân (Huế), Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)...

Năm 1927, với bút danh Huỳnh Thị Bảo Hòa, bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết Tây phương mỹ nhơn và được bạn đọc đương thời hoan nghênh. Bộ tiểu thuyết này được in tại nhà in Bảo Tồn (Sài Gòn), khổ 14x20 cm. Bìa in hình bán thân một phụ nữ Pháp chít khăn, cổ đeo chuỗi hạt. Tiểu thuyết có 15 hồi lấy bối cảnh của thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam) trong đệ nhất thế chiến (1914-1918). Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân phát hiện được tác phẩm này ở Thư viện quốc gia Hà Nội.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu khi xem xong tiểu thuyết nói trên đã viết lời tặng, ca ngợi nội dung tiết nghĩa và văn từ lưu hoạt... Bùi Thế Mỹ - người giữ việc nhuận sắc và trông nom việc xuất bản tiểu thuyết này viết trên tờ Đông Pháp thời báo cho biết là ông tôn trọng tác giả nên không thêm bớt, sửa đổi một chữ nào...

Cuốn sách do Thy Hảo Trương Dy Hy biên soạn còn cho biết, bà Huỳnh Thị Bảo Hòa là người phụ nữ tiên phong trong lĩnh vực khảo cứu, biên khảo với tác phẩm Chiêm Thành lược khảo. Chủ bút báo Nam Phong lúc ấy là Phạm Quỳnh đã viết lời giới thiệu cho tác phẩm này. Ngoài ra, bà còn viết nghiên cứu về tuồng. Nhưng thú vị nhất đối với những người làm báo là tác phẩm Bà Nà du ký in trên tờ Nam Phong năm 1931. Đó là một thiên ký sự không chỉ quý ở phần tư liệu mà còn về cả bút pháp phóng khoáng nhưng chân thực mà đến giờ cũng ít người làm được.

Bà Huỳnh Thị Thái mất ngày 8-5-1982 tại ngôi nhà 82 Phan Châu Trinh - Đà Nẵng, thọ 86 tuổi.

Người viết bài này băn khoăn một điều rằng, nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa mới qua đời năm 1982, lại sống ở Đà Nẵng, thế mà trước đó, người ta vẫn nói đến người phụ nữ đầu tiên của nước ta viết tiểu thuyết không phải là bà, thậm chí tiểu thuyết đầu tiên nói đến cũng ra sau tiểu thuyết của bà hàng chục năm. Đây là vấn đề đáng quan ngại cho công tác nghiên cứu, phê bình văn học khi mảng công việc này ngày càng ít người theo đuổi. Dù muộn, chúng ta cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân có công phát hiện một tư liệu quý và Thy Hảo Trương Dy Hy đã làm một việc cần thiết trả lại sự chính xác cho văn học sử Việt Nam.

NGUYỄN THẾ THỊNH - CÚC PHƯƠNG
(Báo Thanh niên)

 

Viết là niềm vui muôn thuở

  Như thế thì tôi, một phụ nữ tại sao lại không viết để nói lên tâm lý phụ nữ” (trang 147). Nhà báo Trần Quân đã viết trên tuần báo Times ở Sài Gòn năm 1963: “Bà Tùng Long có thể tự hào là bà đã nhận lấy trách nhiệm quan trọng khi cầm bút vạch ra cho phụ nữ đương thời con đường phải đi để được cùng tham gia với nam giới xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ hơn” (trang165).

     Bà Tùng Long còn nổi tiếng là người đầu tiên khởi xướng viết mục Gỡ rối tơ lòng trên báo Sài Gòn Mới (1953) và giúp báo bán chạy. Sau năm 1975, nhiều báo cũng mời bà viết tiếp mục này với nhuận bút cao nhưng bà đã biết từ chối vì “thời nào có người nấy”. Hiện nay một số báo vẫn có mục giống như Gỡ rối tơ lòng, nhưng không biết người gỡ rối có đem lại hạnh phúc cho người bị rối như bà Tùng Long đã làm?

     Tôi đã có dịp dự sinh nhật mừng thọ bà Tùng Long ở tuổi 87. Thật cảm động khi thấy những học trò mái tóc bạc phơ, sau hơn 40 năm vẫn đến ôm bà chúc mừng và khóc. Một cô giáo phải dạy dỗ như thế nào mới được học trò yêu thương đến vậy? Bà trả lời: “Nghề dạy học luôn được tôi xem là nghề tay mặt, còn viết văn chỉ là nghề tay trái mà thôi”.

     Nhà văn, nhà báo Trần Bạch Đằng giới thiệu Hồi ký bà Tùng Long đã cho người đọc biết “một góc của khung cảnh với ký ức văn nghệ Sài Gòn sau Hiệp định Genève”. Với người viết sẽ nhận thấy: Khi viết văn đem lại niềm vui cho mình và cho bạn đọc, người ta sẽ viết dễ dàng hơn và được bạn đọc yêu mến hơn.

Đoàn Thạch Biền
Báo NLĐ

Nhà xuất bản Trẻ mua toàn bộ tác quyền của nhà văn Sơn Nam

nguồn: Báo Tuổi Trẻ

Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam có một NXB mua toàn bộ tác quyền và quyền kế cận của một tác giả. Bà Quách Thu Nguyệt - Phó giám đốc NXB Trẻ, cho biết:

- Nhà văn Sơn Nam vốn có nhiều tác phẩm in từ trước 1975. Vào thời điểm kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh, khi một loạt tác phẩm Sơn Nam được tái bản, mọi người nhận ra rằng Sơn Nam là cây bút đặc biệt viết về mảnh đất Nam Bộ. Chính điều này thúc đẩy chúng tôi - những người làm công tác xuất bản - muốn tập hợp tất cả các tác phẩm của Sơn Nam lại dưới logo của NXB Trẻ. Nhà văn Sơn Nam cũng bày tỏ thiện ý sẵn sàng gửi gắm những tác phẩm của mình cho NXB Trẻ.

* Và công việc đầu tiên của NXB Trẻ...?

- Đầu tháng 3-2003, NXB Trẻ ký với nhà văn Sơn Nam một hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ tác quyền của ông. Đây là dấu mốc quan trọng đầu tiên. Hiện nay chúng tôi đã thống kê được 39 tựa sách, đã đưa ra công chứng hợp đồng và làm xong thủ tục bảo hộ tác quyền.

Để đánh dấu sự kiện này, chúng tôi đã tập hợp một số tác phẩm của ông như Hương rừng Cà Mau (ba tập), Bà chúa Hòn... in lại với hình thức một loạt ấn phẩm chất lượng cao để làm dấu ấn cho ngày đầu tiên công bố việc mua tác quyền này.

* Vậy giá mua toàn bộ tác quyền này là bao nhiêu, dưới góc độ kinh doanh và góc độ văn hóa, NXB Trẻ được gì qua "thương vụ" này?

- Vì lý do và yêu cầu từ phía nhà văn, chúng tôi không cung cấp thông tin về giá cả toàn bộ tác quyền mà chúng tôi đã mua. Còn nói về cái được thì thật ra ban đầu phía NXB chỉ có ý nghĩ về việc muốn tập hợp tác phẩm của nhà văn Sơn Nam lại thôi. Vì rằng có một thời gian, sách của ông ở nhà bị đem đi bán giấy cũ. Và có khi NXB cần tái bản, chính Sơn Nam cũng không còn giữ bản nào. Chính vì vậy việc tập hợp này theo chúng tôi là quan trọng và cần thiết hơn nhiều so với cái nhìn thuần kinh doanh. Tuy nhiên chúng tôi có lợi là việc một NXB mua được toàn bộ tác quyền của một tác giả, hơn nữa là một tác giả lớn, sẽ nâng uy tín và giá trị của NXB đó lên một mức nhất định. Điều này có giá trị vô hình. Ngoài ra, nó sẽ tạo ra tiền lệ cho việc tái bản sách ở ta. Ngay như những tác phẩm của cụ Vương Hồng Sển, khi dịp Sài Gòn 300 năm có nhiều người in lại nhưng lờ đi, không trả tác quyền cho người đang thừa kế gìn giữ. Chính vì vậy tôi nghĩ mình làm được điều gì cho người đang sống vẫn tốt hơn là sự tôn vinh chỉ diễn ra với người đã khuất.

LAM ĐIỀN
(Báo Tuổi trẻ)

Nhà văn Sơn Nam: Việc mua bán này ở xứ mình chưa có tiền lệ. Tôi nghĩ bán lúc mình còn sống để lấy tiền xài thì tốt hơn là để đến lúc mình chết. NXB Trẻ là chỗ thân tình với tôi, hơn nữa họ có độc giả. Chớ không người ta in lậu sách của tôi, tôi cũng chịu thua. Tôi bây giờ làm sao đi kiện, mướn luật sư cũng tốn ít nhất 1 triệu đồng, tiền đâu? Nếu in lậu rồi nói "tui thách ông Sơn Nam đi kiện" thì tôi cũng thua. Bây giờ giao cho NXB Trẻ thì yên tâm rồi.

Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, biên tập NXB Trẻ: Khi tập hợp sách của Sơn Nam để ký hợp đồng mua tác quyền, các biên tập viên NXB đã vào thư viện để tìm sách và lục tìm những truyện ngắn đăng rải rác trên các báo. Vừa rồi mới tìm được 30 truyện ngắn của ông đăng trong một tạp chí. Và các tác phẩm của ông còn rải rác khắp nơi, chúng tôi vẫn đang còn tập hợp. Hôm trước họa sĩ Việt Hải mới đưa ra hai quyển sách của Sơn Nam, một độc giả ở Bình Chánh cũng đưa ra một danh mục các sách của Sơn Nam. Chúng tôi muốn kêu gọi bạn đọc cung cấp nếu biết được.

 

Cá: Tâm tình và Kỷ niệm

nguồn: trinhnu .com

Nói về cá thì xung quanh đời sống con người thì có vô số loại cá. Tuy vậy, loại cá mà tôi vốn thích nhất vẫn là cá có râu mà người Mỹ gọi là whiskers, như cá mèo (dịch từ chữ nguyên thủy catfish), cá trê, cá tra, cá bông lau, cá dứa, cá nheo,... Với đời sống thường nhật tại Mỹ chúng ta va chạm với loại catfish tươi của Mỹ nhiều hơn cá đông lạnh nguyên gốc từ Việt Nam. Mấy lúc gần đây người ta nghe xôn xao cuộc chiến tranh giành thị trường giữa hai loại cá Việt và Mỹ này. Bài viết này chỉ chú trọng nhiều về kỷ niệm với những loại cá có râu "ăn ảnh" whiskers đối với tôi mà thôi.

Nói về cá thì gần hơn hết là các món ăn về cá. Tôi còn nhớ nhân đọc bài viết của nhà văn Phượng Đăng ở Ohio, ông viết một phóng sự về "Món ăn cầu kỳ nhất của thi sĩ Tản Đà" đã đăng trên tuần báo Mai, tác giả là bạn thân với người con trai lớn của cụ thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, nên được biết rất rõ về sở thích ăn rất cầu kỳ của nhà thơ núi Tản sông Đà này. Hồi học trung học tôi vốn thích bài thơ lục bát "Thề Non Nước" của cụ như sau:

"Nước non nặng một lời thề,
Nước đi mãi không về cùng non,
Nhớ lời "nguyện nước cùng non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không,

Non cao những ngóng cũng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương,

Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi nét ngọc nét vàng phôi pha,
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non,

Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa,
Non cao đã biết hay chưa ?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,

Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi,
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui,

Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non, nước nước không nguôi lời thề."

Tản Đà (1889-1919)

Tản Đà là một nhà thơ tiền bối về thơ lãng mạn như trong bài "Tương Tư", "Gió Thu" hay "Tống Biệt" mà tôi cũng rất thích. Hiểu đựơc án thơ của cụ mà lại hiểu thêm về lối ăn cầu kỳ mà cụ chủ trương về cách làm thức ăn như thế nào thì thật là thú vị, chẳng hạn như món ăn ốc bươu nướng cụ làm rất công phu, chả thua chi món escagots của người Pháp. Món ốc này cụ nhâm nhi với rựơu nếp than do đích thân cụ cất. Vì bài viết chú trọng về món cá, nên tôi miễn đi sâu vào cách thức làm ốc của cụ Tản. Dĩ nhiên cụ còn nhiều bí quyết nấu nướng mà thuở xa xưa ngừơi ta ít ghi nhận bằng sách vở mà chỉ truyền khẩu. Món cá thu kho mía của cụ cũng là món hấp dẫn tôi. Trước đây tôi chỉ được thửơng thức món cá thu kho riềng từ gia đình của một ngừơi bạn thân của tôi vốn di cư từ Bắc vào Sài gòn. Theo bài tác giả Phựơng Đăng ghi nhận theo cách thức của cụ Nguyễn như sau:

"Cá thu mua về không đựơc rửa nước mà phải lau bằng giấy bản như khi làm sạch cá ăn gỏi vậy. Không cần rán (chiên) qua cho khỏi tanh. Cá thu là loại cá biển không mấy tanh. Dưới đáy nồi (cụ Tản Đà đòi hỏi một nồi đất) bỏ những miếng mía xắt mỏng rồi đến một nắm trà mạn (nếu có trà mạn vào thì mới ngon, nhà thơ dặn cụ bà), xong xếp các khứa cá lên trên trà mía, trên cùng là ít ngọn rau răm, đổ vào một số nước mắm vừa đủ sao cho cá không mặn, không nhạt, rồi bắt lên bếp đun liu riu, khi cá đã khô cạn nước mắm là ăn được".

Tương tự như khi kho cá của người miền nam, mẹ tôi kho cá bông lau (cá whisker nước ngọt) hay cá dứa (cá whisker biển) theo lối rất đồng quê lục tỉnh, để lửa nhỏ riu riu để cá từ từ thấm. Mẹ tôi băm hành hương (hành tím) và tỏi cho giã nhuyễn ướp vào cá, bà ướp cách đêm, hôm sau bà đem cá từ tủ lạnh ra kho. Bà thích dùng niêu đất khi kho. Cá được cho vào tí nước màu như khi thắng đừơng caramel, rồi nêm bằng nước mắm ngon, loại Phú Quốc hay Phan Thiết, thêm nước lã vào hổn hợp sao cho nước lã và nước mắm xăm xắp các khứa cá, rồi giằn thêm đừơng thẻ (đừơng mía) cho vị ngọt của mía thấm vào cá. Khi nước cạn xuống hơn phân nửa độ dầy của cá, nước sốt sền sệt, xong cho cá ra diã bà rắc tiêu sọ giã to từng hạt. Khi ăn vào cá quyện vào những hạt tiêu sọ vừa cay cay, hương vị cá vừa bùi bùi của mùi đừơng mía, rồi hương vị hành hương thơm lừng phải nói là rất bắt khẩu vị.

Quê ngoại tôi ở Vũng Tàu mà quê nội lại ở tỉnh Tây Ninh, nên ngày xưa khi hè về anh em chúng tôi được luân phiên chia làm 2 tốp, nếu tốp này về thăm nội, tốp kia thăm ngoại, như thế hoán chuyển mỗi mùa hè khi được bãi trường hay nghỉ học. Cả hai địa danh này đều cho tôi nhiều kỷ niệm êm đềm đáng nhớ về sông rạch, về biển cả và cá, đặc biệt cá có râu whiskers. Tôi còn nhớ những ngày hè trước năm 75, khi quân đội đồng minh Mỹ và Úc đến vùng biển Vũng Tàu, thì nơi đây có sinh hoạt kinh tế rất sinh động, phồn thịnh và tấp nập. Ở tuổi trẻ thích vui khi được về Cấp, tôi theo ông ngoại tôi ban đêm ra Cầu Đá trước Ty Bưu Điện ở bãi trước Vũng Tàu câu cá đến khuya 1 hay 2 giờ sáng. Miệt biển có loại cá dứa tương tự như cá bông lau sông rất ngon. Thú câu đêm rất vui, hai ông cháu đèo nhau trên xe gắn máy ra biển. Để phòng cái lạnh về khuya tôi nhớ tôi trang bị cho mình chiếc quần blue jean dầy và khoác áo xanh lá cây treillis thật ấm của quân đội Hoa Kỳ những lần câu đêm như vậy. Sau khi thả mồi nhìn biển cả xa xa tâm hồn thư thái, an nhàn vô cùng, gió biển vào hè mát lạnh khi trời càng về khuya, thỉnh thoảng tôi ngó phao xem có cá cắn câu chưa. Đèn pha của ngọn hải đăng từ trên núi thỉnh thoảng quạt một vệt sáng trên trời, không trung có hàng triệu vì sao lấp lánh, những tinh tú ẩn hiện tận chân trời xa xăm cho thấy vũ trụ thật bao la. Giựt mình trong phút giây mộng mị vì cá lớn đã cắn câu và run mạnh cần, tôi vội xoay nhanh ghì cần kéo cá lên. Ồ, một chú cá dứa thật to. Có hôm ông cháu chúng tôi câu đựơc bốn, năm con cá dứa và nhiều cá mú đá màu xám hay mú lửa màu đỏ, rồi có hôm có cá ngộ halibut rất ngon. Bà ngoại tôi nấu ăn rất khéo. Bà nấu canh súng cá dứa, cá dứa chưng tương hoặc cá dứa kho me. Tôi không biết món canh súng tiên khởi phát xuất từ tỉnh nào, nhưng chỉ biết nhà ngoại tôi thường ăn món này. Trong nước lèo nêm canh súng có tương đen (hoisin sauce), đậu phọng rang giã nhỏ, xã băm, hành hương, tỏi phi và nêm thêm gia vị căn bản nước mắm, đường. Các loại rau độn có bạc hà, ngó sen chẻ cọng, giá và rau ngò om. Những khứa cá dứa thật ngon và béo ngậy. Vũng Tàu vẫn cho tôi nhiều kỷ niệm, nhưng thú câu cá về đêm vẫn hấp dẫn tôi nhiều hơn cả.

Những ngày hè về quê nội ở Gò Dầu Hạ, một quận lỵ sầm uất của tỉnh Tây Ninh, vì từ quận Gò dầu Hạ đi thêm 3 cây số là đến Gò Dầu Thượng, nơi có khu Chợ Trời Miên-Việt nổi tiếng. Tại đây bạn có thể mua bất cứ những món hàng lậu thuế giữa hai quốc gia từ chén diã bằng sứ, đồng hồ, quạt máy, sà bông, mỹ phẩm, dầu thơm Pháp, áo Montagut, rượu Cognac, rựơu chát Dubonnet, thuốc lá Craven A hay 555,... Tôi ghé Chợ Trời vài lần trong cái nắng chói chan, nóng hừng hực của Tây Ninh. Tôi nhớ bạn bè ngâm nga câu vè về cái nóng oi bức của Tây Ninh như sau khi so sánh với tình người:

"Tây Ninh nắng cháy da ngừơi,
Phố đông thân thiết hỡi ngừơi Tây Ninh?"

Mùa hè năm 69, tôi về Gò Dầu và được ngừơi anh bà con, anh Tài, chở vào Rạch Sơn câu cá. Rạch Sơn cách Gò Dầu khoảng một cây số nằm trên quốc lộ 22 đường lên Tây Ninh. Tại Rạch Sơn có cầu Rạch Nho mà bề rộng con rạch thiên nhiên này chừng 20 thước được nước sông cái là Vàm Cỏ Đông đưa vào. Chúng tôi đi câu dọc theo con rạch này, nơi đây có nhiều thứ cá đồng từ cá lóc, cá bông lau, cá trê, cá sặc hay cá rô đồng. Nhà ngừơi bạn thân của anh Tài, anh Sơn, ở gần sát con rạch này và nhà lại có hàng dừa nặng trĩu quằn cây, hàng dừa xanh mơ rất sai trái cạnh bờ rạch, tôi nhìn những cành dừa xiêm nghiêng lá rũ che bóng ngả xuống mặt nước là nơi mà cá thường trú ẩn. Nhà anh Sơn vách ngói cũ kỷ, các cạnh hông nhà lợp bằng gỗ khá bạc màu. Xung quanh nhà còn có rất nhiều cây ăn trái như cốc, xoài, ổi, sa pô chê, vú sữa, mãng cầu, bưỡi, tầm ruột,... Chúng tôi ra bờ rạch gần nhà anh thả mồi câu cá. Nước con rạch thật trong vắt cho ta thấy cá đùa giỡn qua lại, gió thổi dâng nước mát lên, tôi thấy hồn thật thú vị, nhẹ nhõm, khác xa với cái ồn ào, náo nhiệt của những con phố đông đúc Sài Gòn. Rồi không gian vang tiếng ve kêu khi hè về, tiếng chim muôn hót, tiếng ểng ươn kêu tạo thành bài họp ca của vùng đồng quê thật sự. Buổi chiều ngày hôm đó ba người chúng tôi vác về nhiều cá. Nào là cá lóc, cá trê vàng, cá rô đồng và cả cá bông lau mà tôi thích. Tôi mê món cá lóc và cá bông lau nướng đất sét do gia chủ làm. Lột bỏ lớp đất sét bao phần ngoài là những phần thịt cá trắng tươi, vị ngọt và thơm tự nhiên, thịt cá được cuốn chung với bánh tráng, rau sống, đọt chiết, đọt cốc, đọt xoài, ngó sen, khế, chuối chát... món nước mắm được pha rất ngon. Mẹ anh Sơn cẩn thận tước từng múi chanh ra, pha tỏi, ớt, kiệu băm nhỏ nên nước chấm không bị loãng. Ngoài ra món cá bông lau nấu canh chua bông so đũa rất ngon miệng, rồi cá trê vàng dầm nước mắm gừng kèm với xoài sống thái sợi, cá rô vàng kho xã, ớt và nghệ. Ôi, thật tuyệt cú mèo! Đồng quê Việt Nam như tại tỉnh nhà nơi tôi chào đời thiên nhiên quả thật ưu đãi ngừơi dân về các thổ sản từ ruộng đồng, sông rạch, đời sống nông thôn lại nhàn hạ, hiền hòa, chất phác làm sao ấy! Nếu đồng quê hay bờ biển Việt Nam có những loài cá whiskers như cá bông lau, cá trê hay cá dứa thì đồng quê Mỹ có những loại cá catfish, tôi thích Việt ngữ hóa là loài cá mèo.

Khi đất nước Việt Nam đổi đời năm 75 chạy sang Mỹ tị nạn, tôi lại có dịp đi đó đâỵ Tôi đến thăm Sacramento lần đầu vào mùa hè được ngừơi cậu vợ chở đi thăm những cánh đồng lúa vàng bao la, bát ngát của thành phố đồng quê Davis, tôi cảm thấy thích thú vô cùng, vì nó đem tôi về những cánh đồng trù phú của miền quê Việt Nam như Bạc Liêu, Sóc Trăng hay Long Xuyên năm nào trong sự thu nhận của ký ức cũ của tôi. Tôi còn được cậu chở đến thăm trang trại nuôi cá do ngừơi Mỹ địa phương làm chủ. Tại đây tôi thấy nhiều hồ cá nuôi theo công nghiệp, hồ xây nhân tạo, có nhiều loại cá được nuôi từ cá mèo, cá rainbow trout, cá hanh sọc (striped bass), cá chép, cá trắng (white fish) và cá rô phi (tapilia). Cá đựơc cho ăn đúng giờ bằng máy bơm thức ăn, nước được hệ thống sửơi điều hòa nhiệt độ thích ứng cho cá sinh sống. Thức ăn là những viên mồi hạt tròn nhỏ pha bởi bột lúa mì, bột bắp, bột đậu nành, vitamins và khoáng chất. Cá con đựơc nuôi riêng sau thời gian cá mẹ ấp trứng sinh nở. Mỗi cá mèo mẹ cho từ 4,000 đến 7,000 trứng. Kỹ nghệ nuôi cá có số thu hoạch khá đáng kể. Số thu hoạch hằng năm tại các nông trại ở miền Mississippi khoảng 450 triệu lbs cá mèo có trị giá tương đương hơn $350 triệu mỹ kim. Do đó khi số lượng cá nước ngoài đổ vào thị trừơng cá Hoa Kỳ thì thường thường bị các tổ chức ngư nghiệp Mỹ phản đối như các vụ thưa kiện giữa cá basa Việt Nam và cá mèo Hoa Kỳ.

Rồi tôi đến thăm tiểu bang Minnesota vào một mùa hè khác và được anh bạn cũ quen trong trại tị nạn Guam, anh Hoàng, đưa đi câu cá mèo tại đồng quê của tiểu bang này. Trước đây anh Hoàng trong đơn vị tuần thám giang đoàn của hải quân đóng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, anh rất am hiểu, rành rẽ về việc câu cá và sông ngòi. Nó như một nỗi đam mê của anh. Anh dẫn tôi đi câu cá tại vùng Hidden Falls, cạnh bờ sông Mississippi. Sông Mississippi dài 4,000 miles chảy qua nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, từ Wisconsin ở miền bắc xuôi xuống miền nam là Lousiana và đổ ra vịnh Mễ Tây Cơ. Lấy freeway 94 từ Minneapolis đi về hướng nam chúng tôi ghé vào một biển hồ bao la, tôi thấy người ta khệ nệ xách những chú cá mèo vừa câu lên, làm lòng tôi càng phấn khởi hơn. Cá có râu whiskers tại đây được liệt kê gồm có mấy loại khác nhau như khi tôi đọc trên bảng chỉ dẩn phân loại, loại đầu bò, bullhead, cá có đầu rất to và cứng, loại này có 3 giống, 3 màu khác nhau là: nâu, đen và vàng. Loại cá mèo thừơng gặp trong chợ là cá mèo kênh, hay channel catfish, thuộc loại phổ thông, tức loại ictalurus punctatus. Loại này màu xám lợt có khá nhiêu trong sông Mississippi này. Cá đẻ khá nhiều vào mùa hè khi thời tiết ấm áp thích hợp cho sự thụ tinh và sinh sản. Khác với cá nuôi, ngoài thiên nhiên cá cái có thể sản xuất 20 ngàn trứng. Cá mèo đầu dẹp, flathead catfish là loại cũng được ghi nhận ở đây. Chúng tôi dùng lưỡi câu số 8 hoặc 10 khi câu cá mèo. Ném cần khi ngồi ven sông, tôi ngó đám lục bình xanh hoa tím trôi lững lờ trên dòng Mississippi, tôi thấy sao cảnh thiên nhiên đồng quê êm đềm, dễ chịu như quê tôi, như khi tôi đứng tựa chân cầu Gò Dầu Hạ, chiếc cầu đúc màu trắng, có 5 nhịp được xây từ thời Pháp thuộc, cầu bắc ngang sông Vàm Cỏ Đông, ngày xưa Vàm Cỏ Đông cũng có những đám lục bình và hàng cây bần mọc ven sông. Ngày nay Mississippi cũng có lục bình y chang như trên quê hương Việt Nam. Tuy vậy điều thắc mắc là tôi không thấy cây bần, có thể ở Mỹ không có (?). Cũng tại bờ sông Mississippi này ngày xưa nhà văn hào Mark Twain thường đem con sông quyến rũ, thơ mộng và đầy lợi ích này vào văn chương của ông như tác phẩm "Dòng đời trên sông Mississippi" (Life on the Mississippi), mà trong đó ông đưa những tình tự thiên nhiên và đồng quê trong những mảnh đời ven dòng sông Mississippi. Thực vậy, chính dòng sông này đã nuôi sống không biết bao nhiêu ngừơi dân Hoa Kỳ. Hồn tôi cảm thấy thật thú vị, thư thái khi kéo cần kéo thêm một chú cá mèo đang giẫy giụa ăn trúng mồi của tôi. Trời về chiều hai chúng tôi vác ra xe hơn một chục chú, thiếm cá mèo channel và vài con cá đầu bò bullhead nâu và đen. Tối hôm đó chúng tôi có bữa họp mặt bạn bè thật no nê tại thành phố chị em Saint Paul – Minneapolis.

Một kỷ niệm khác câu cá mèo tại Mỹ nữa là khi tôi sang Houston, Texas, thăm ngừơi bạn học cùng trừơng Petrus Ký và đại học Kinh Tế Minh Đức cách đây 2 năm. Bạn tôi, Phước tính hiền hòa, thích sống an nhàn, thanh tịnh, anh thích lái ca nô ra biển hay ra hồ hửơng thú vui trở về với thiên nhiên. Tôi nhớ hôm đó sáng ngày thứ bảy, Phước rủ theo một ngừơi bạn khác cũng học Minh Đức nữa là Đức, vì Đức có tiếng là tay sát cá khi đi câu, mỗi lần anh thả mồi là hầu như luôn luôn bắt đựơc cá. Chúng tôi ba đứa chất nhau lên chiếc van Ford của Phước kéo theo chiếc ca nô phía sau đi câu tại biển hồ Lake Conroe. Sở dĩ tôi gọi là biển hồ vì đây là cái hồ thiên nhiên bao la rộng 22 ngàn mẫu Anh. Xe đi về hướng bắc trên xa lộ I-45, cuối cùng rẽ vào hồ Conroe. Chúng tôi cho tàu xuống bờ hồ, Phước chủ động tay lái hướng ra khơi, biển hồ mênh mông, gió thổi nhè nhẹ mát mẻ, phía bắc của hồ là nơi nước khá sâu và tương đối vắng vẻ là nơi tập trung nhiều cá. Hồ Conroe có nhiều loại cá khác nhau, trong đó cá mèo có khá nhiều. Đức mang theo 2 thứ mồi là mồi trùng và mồi tôm nhúng nước mắm. Mồi nên ngâm nước mắm trước vì lý do khi mùi nồng của nước mắm tỏa ra mấy chú, thiếm cá lại đê mê tâm hồn vây quanh cho cần câu chúng tôi hoạt động liên tục. Hai bạn tôi kéo cá khá nhiều, tôi thích cảnh hồ quá đẹp, thơ mộng và tôi còn nhớ hôm đó tôi mang theo một ít sách đọc giải trí khi tàu neo giữa hồ, trên trời có mây, bên dưới có nước, phần tôi buông cần để tìm những ý nghĩ cho riêng mình. Tôi đọc một quyển thơ Anh ngữ để tìm thấy những vần thơ trẻ trung, bình dị về thú câu cá biển hồ như hai bài thơ tiêu biểu, mà tôi đoán các tác giả hãy còn rất trẻ như lời văn hồn nhiên như sau:

"Let the lake show you
Let the lake guide you
Let the lake lead you onward
Peace, I know you will fịnd."

Thật vậy, quanh cảnh bao la hùng vĩ của thiên nhiên, của những ngọn gió mát rượi tâm hồn, sự yên bình trong tâm thức làm con người quên đi mọi muộn phiền của cuộc sống bon chen, những ngày giờ ganh đua, bận rộn chạy theo nhịp kim đồng hồ. Bên trang khác có hình vẽ một ngừơi đàn ông đăm chiêu ôm cần câu cá trên chiếc thuyền với lời thơ như sau:

"The water is peaceful
While fishing in my boat
Watching birds flying my head
Watching fish comes afloat."

Những vần thơ mộc mạc, thơ ngây đó đã diễn tả đúng tâm trạng chúng tôi ngày hôm nay khi sau hơn một phần tư thế kỷ loạn lạc xa nhau rồi gặp lại nhau trên quê hương người, chúng tôi những bạn bè cũ gặp nhau trong thú điền viên vui tuế nguyệt của cụ Tản Đà hay cụ Nguyễn Khuyến ngày xưa. Một tài liệu khác tôi đọc về loài cá mèo cho thấy những lợi ích từ những chất bổ dữơng của cá như chất đạm, sinh tố B12 và Omega-3 Fatty acids. Trung bình cứ 100 grams cá mèo tươi thì cá cho ta 100 calories, 2.5 grams chất béo chưa bão hòa, khoảng 1 gram chất béo bão hòa, 50mg lượng Cholesterol, 2.0mg sinh tố B3 (Niacin), 0.4mg Pyridoxine (B6), 12.8mcg Folic acid (B9), 0.2mg Riboflavin (B2), 2.0mcg Cobalamin (B12), 54mg Sodium, 0.9 mg Să‘t, 22.0mg Magnesium, 0.3g Potassium và 17grams chất đạm Protein. Do vậy mỡ trong cá là loại mỡ tốt nhiều hơn mỡ xấu, nên nhiều tài liệu nghiên cứu y khoa vẫn khuyên chúng ta ăn cá vẫn tốt hơn ăn thịt. Việc tiêu hóa trong tiến trình biến dữơng những chất sinh hóa bổ dữơng sẽ nhanh hơn khi chúng ta ăn thịt. Vả lại, nguồn cung cấp về trữ lượng chất đạm và Potassium rất dồi dào trong cá, vốn rất tốt cho vấn đề bảo vệ sức khoẻ theo quan niệm y khoa tây y. Còn bên đông y cho rằng ăn cá rất tốt cho tỳ và vị. Khi bổ tỳ có nghiã là khí tăng đối với ngừơi mang bệnh và cơ thể suy nhược hoặc yếu đuối. Bổ vị là rất tốt cho dạ dày, đại tràng dễ dàng tiêu hóa, ngăn ngừa chứng bệnh táo bón.

Điều không chối cãi từ ngàn xưa, ngừơi Việt Nam vẫn ăn cá nhiều vì hệ thống sông ngòi chằng chịt và bờ biển quá dài về hướng đông của quê hương, chạy dài từ Bắc xuôi Nam của đất nứơc chúng ta. Cá sông hay cá biển vẫn là nguồn thức ăn quý báu và phì nhiêu cho dân tộc ta. Hơn nữa, khi ăn cá ngừơi Việt lại thừơng độn thêm vô số rau quả trong các món ăn thường nhật ví dụ món canh chua khóm, canh chua bạc hà, canh chua măng,..., rồi bông so đũa, cà chua, me, giá, rau muống, bắp cải, bông súng, ngó sen, mít non, đậu bắp, đậu rồng, rau cần celery, bắp chuối, thì là, ngò om, ngò gai... đến các loại rau cải, đậu, nấm tươi đi kèm cho các món xào hay hấp. Có thể nói từ ngàn xưa ngừơi Việt Nam chúng ta đã ăn đúng sách vở y khoa đông hay tây phương đã chủ trương.

Viết lên những dòng chữ này, tôi nghĩ đến cụ tiền bối Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương ăn cá, nhớ đến cụ ngoại tôi ngừơi Vũng Tàu rất thích thú đi câu ban đêm, nghĩ đến bạn bè, thân thuộc khắp nơi hay những ngừơi dân chân chất thôn quê từ Tây Ninh, Bình Dương, Châu Đốc, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An, Long Xuyên, Cần Thơ, Rạch Gía, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Phú Quốc đến Minnesota, Texas, Mississippi, Tennessee, Missouri, Louisiana, Hawaii, Oregon hay California mà tôi đã chia sẻ những kỷ niệm yên vui trong đời.


Việt Hải