Hội họa Việt Nam: Nhức nhối nạn tranh giả!

nguon: thanh nien.com.vn

Bức Thiếu nữ trong vườn này được đăng trong Cataloge của hãng đấu giá Sotheby tại Singapore với giá 22.000 USD
Trên thị trường tranh hiện nay, những danh họa hàng đầu Việt Nam như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ .v.v không ai là không bị làm giả. Đau lòng hơn là có cả trường hợp chính con đẻ của những họa sĩ nêu trên cũng nhúng tay vào nạn tranh giả.

Mất cả triệu USD vì mua phải tranh giả tại Việt Nam

Gần đây, giới hội họa Việt Nam thật sự rúng động khi bức tranh Thiếu nữ trong vườn của họa sĩ Nguyễn Gia Trí được đăng quảng cáo trên tạp chí Mỹ thuật Châu Á Asian Art News. Họa sĩ Hồ Hữu Thủ chưng hửng: “Tôi sang Singapore thấy một bức như vậy trên sàn đấu giá, về Việt Nam lại thấy trên tạp chí đăng một bức khác...!, không biết thật giả là cái nào?”. Giới họa sĩ và những nhà sưu tập từng đến Singapore, Hong Kong... đều có chung nhận định là hiện nay thị trường tranh nước ngoài rất ngại tranh Việt Nam vì sợ mua phải đồ rởm, bởi vì những danh họa hàng đầu Việt Nam như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Lê

Bức Thiếu nữ trong vườn của gallery Ðức Minh này được đăng quảng cáo trên tạp chí Asian Art News

Phổ .v.v hiện nay không ai là không bị làm giả. Nếu nhìn vào giá chục, giá trăm ngàn USD của tranh các họa sĩ trên, cộng với sự thờ ơ của dư luận và một quy chế quản lý lỏng lẻo thì sẽ hiểu tại sao nạn tranh giả đang lũng đoạn thị trường tranh Việt Nam một cách có đường dây, có hệ thống một cách đáng báo động như hiện nay. Đánh vào tâm lý khách hàng là hay chọn tranh qua catalogue, những đối tượng làm tranh giả thường in những bức tranh giả lẫn lộn bên những bức tranh thật để đánh lừa những khách hàng kém may mắn của mình. Tranh giả có thể là phiên bản sao chép của các bức họa nổi tiếng, hoặc có thể là những đối tượng làm tranh giả mua những phác họa của những họa sĩ nổi tiếng đã quá cố từ người nhà của họ rồi làm thành tranh mới nhưng ký tên như một sáng tác thật của họa sĩ đã mất. Người quá cố bị làm giả là vậy, còn một số họa sĩ vẽ không kịp bán hiện nay cũng sẵn sàng thuê người khác vẽ theo phong cách mình rồi chỉ việc ký tên mình để kịp giao hàng theo kiểu mà PGS TS Nguyễn Đỗ Bảo gọi là “bán chữ ký ăn tiền”. Cho nên, có vị khách Hàn Quốc bỏ gần 1 triệu USD để mua tranh Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái... nhưng khi biết là tranh giả ông gần như ngất xỉu, còn những kẻ đã lừa ông thì chắc cả đời chỉ mong được một vố như vậy! Một vị khách nước ngoài khác mua tranh của hai họa sĩ nổi tiếng Việt Nam, nhưng khi nhờ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam giám định thì bà mới té ngửa là tranh giả. Trong đó, có một bức bà mua từ chính tay người con đẻ của họa sĩ mà bà mến mộ và ngỡ là mình đã mua được tranh thật của ông (!)

Khoảng thời gian năm 1997, có một số họa sĩ mượn tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng từ người sở hữu tranh nói là để chép lại, nhưng khi tranh trả về cho chủ thì trên thị trường Hong Kong cũng xuất hiện những bức tranh nhái tương tự. Vụ việc được phơi bày trên mặt báo, các bên thưa nhau ra tòa với lời giải thích của người mượn tranh là chỉ chép để... học tập (?). Những trường hợp khác được ông Nguyễn Thanh Châu – Tổng thư ký Hội Mỹ thuật TP HCM cho biết: “Chuyện làm tranh giả Hội chúng tôi đã đề cập nhiều, thậm chí đã phát hiện, đã điểm chỉ, nhưng rồi phát biểu thì chẳng thấy ai nghe, nên cuối cùng rồi cũng đâu vào đó...”. Sự bỏ ngõ đó, theo ông Nguyễn Thanh Châu là do dư luận còn thờ ơ với việc làm tranh giả, còn phần quản lý thì quy định có đó, nhưng để tìm cơ quan thực thi thì không biết gọi ai. Sự thờ ơ của dư luận một phần là do khách hàng mua tranh phần lớn là người nước ngoài, nên khi biết tranh giả thì họ chỉ biết đem đến bảo tàng nhờ... giám định (!), hoặc là đành gạt nước mắt ôm quả lừa trở về cố quốc. Giới am hiểu hội họa hiểu rằng một tranh của Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí .v.v được bán ra hiện nay hầu hết là tranh chép, tranh giả, còn những bức thật nếu lọt vào tay những đối tượng làm tranh giả thì họ sẽ giấu kỹ đến mức bưng bít, phong tỏa mọi băng hình, tư liệu hình ảnh... nên có nghi ngờ tranh giả thì việc tìm bản gốc để đối chiếu cũng là điều hết sức khó khăn.

... và đây cũng là một bức tương tự của nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn. Vậy đâu là Thiếu nữ trong vườn thật của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí? (Ảnh: Ngọc Thạch)
“Muốn chấn chỉnh nạn sao chép tranh, Bộ VH – TT phải quản lý một cách toàn diện và có những biện pháp nghiêm túc hơn. Đặc biệt, cần có sự phối hợp nhiều bên: Công an văn hóa, quản lý thuế .v.v chứ một mình Bộ làm là chưa chắc đã được việc. Một vài quy chế, quy định cũng không ăn thua gì !”
– có thể xem phát biểu trên đây của PGS TS Nguyễn Đỗ Bảo – Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Hà Nội như một lời kiến nghị đến các cơ quan chức năng nhằm mau chóng kiểm soát nạn tranh giả, đưa mỹ thuật Việt Nam trở lại đời sống lành mạnh. Bởi vì Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ .v.v là những họa sĩ tài hoa hết đời hiến thân cho nghệ thuật và là những người tiên phong đóng góp những viên gạch đầu tiên cho nền hội họa Việt Nam. Nhưng giờ đây, họ đang bị những kẻ làm tranh giả kinh doanh trên tên tuổi, biến tên tuổi họ thành trò lừa đảo; không những làm tổn hại đến uy tín và tài năng của những họa sĩ quá cố mà thị trường tranh Việt Nam vừa mới nhen nhúm trong thời gian trở lại đây cũng đang bị những đối tượng làm tranh giả làm cho lắt lay, yểu mệnh. .

 

Hệ thống giá trị

NGÔ NHÂN DỤNG

nguon: nguoiviet.com

Bộ Quốc phòng Mỹ điều tra rồi công nhận một chi nhánh của công ty Halliburton đã tính giá quá đắt khi bán hàng cho quân đội Mỹ ở Iraq. Chỉ riêng một vụ đấu thầu câu lạc bộ cho quân Mỹ họ đã tính trội tới 67 triệu mỹ kim. Công ty này đã được bộ Quốc phòng cho thầu mà không phải đấu giá, cung cấp những dịch vụ cho quân đội Mỹ từ khi chiến tranh Iraq chưa bắt đầu, trị giá hàng tỷ mỹ kim. Trên Nhật báo Người Việt cũng đã loan tin công ty Halliburton đã mua dầu lửa và hơi đốt từ Kuwait bán cho quân Mỹ ở Iraq, tính giá cao gấp đôi giá mà các cơ quan khác của Mỹ cũng mua từ Iraq. Điều khiến câu chuyện trở thành to là ông Dick Cheney, phó Tổng thống Mỹ trước kia làm chủ tịch tổng giám đốc công ty Halliburton, và sẽ tiếp tục lãnh lương hưu trí của công ty này.

Câu chuyện trên không có gì chứng tỏ ông Cheney đã làm điều gì sai trái. Cũng như chuyện em ruột Tổng thống George W. Bush, ông Neil Bush và một số người thân cận của ông Bush đã lập ra một công ty cố vấn chuyên về đầu tư ở Iraq, ngay sau khi chính phủ Mỹ quyết định đánh xứ này. Công ty New Bridge sẽ cố vấn cho các nhà thầu để chia nhau gần 19 tỷ mỹ kim tiền tái thiết xứ Iraq, công ty này quy tụ nhiều người bạn của gia đình ông Bush, như một người đứng đầu ban vận động tranh cử cho liên danh Bush-Quayle năm 1988, một người chủ tịch ủy ban Bush for President năm 2000, vân vân. Luật pháp nước Mỹ không cấm các nhà chính trị làm việc kinh doanh nếu không đang tại chức, hoặc tại chức nhưng không có ảnh hưởng đến ngành kinh doanh đó. Không thể bảo công ty New Bridge không được dính đến Iraq vì quen biết với gia đình Bush. Ông Richard Perle, một cố vấn thân cận của Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cũng vậy. Ông ta mời được hãng Boeing góp vốn 20 triệu cho một quỹ kinh doanh của ông, trong khi ông đứng đầu ủy ban cố vấn bộ Quốc phòng, và viết một bài báo ủng hộ việc bộ Quốc phòng Mỹ thuê 100 máy bay 747 của Boeing mà nhiều người cho là phí phạm. Bài báo dựa trên tài liệu mà hãng Boeing cung cấp. Nhưng khó tìm ra được là ông Perle có lỗi lầm nào, về pháp lý cũng như đạo lý. Nước Mỹ có những luật lệ rất nghiêm ngặt về "xung khắc quyền lợi" công và tư (conflict of interests.) Các viên chức chính phủ và thân nhân của họ đều bị ràng buộc trong luật lệ kiểu đó, và báo chí tự do, ai thấy điều gì sai trái cứ tố giác. Công tố viện tích cực điều tra để truy tố nếu cần. Khi một xã hội dùng luật lệ một cách đầy đủ, rộng rãi và áp dụng chặt chẽ như vậy, thì xã hội đó có thể "ngủ yên;" vì biết nếu có điều gì sai trái luật pháp sẽ "take care," lo đối xử xứng đáng. Nhưng cũng vì xã hội có khuynh hướng an tâm yên ngủ như vậy cho nên người ta không tìm cách khác để tránh không cho mọi người phải nghe những lời dị nghị, gây những mối nghi ngờ, và làm không khí tinh thần trong xã hội bị ô nhiễm.

Có một hình thức xã hội nào khác cách tổ chức như xã hội Mỹ hay không? Chắc phải có. Những nước Hồi Giáo sống theo lối khác, nước Ấn Độ cư xử với nhau khác, và những nước Á Đông theo truyền thống Khổng Giáo cũng có cách khác. Ngày xưa ở nước ta, nếu một ông giám khảo có con, em đi thi thì sẽ phải xin tránh không dự việc chấm bài, dù các bài đều được dọc phách, tức là cắt phần tên họ thí sinh cất riêng. Người ta muốn tránh gian lận, nhưng còn muốn tránh cái tiếng có thể gian lận nữa. Tránh để làm gì? Chắc có phần vì mình, tranh cho mình khỏi bị nghi oan. Nhưng cũng có tác dụng đối với người khác, tránh không gây ra không khí nghi kỵ giữa những người cộng sự và đối với cả công chúng. Những người chấm thi đã vậy, những ai tham gia vào chính quyền càng phải cẩn trọng hơn. Hiện nay ở vài nước Á đông còn giữ truyền thống tốt đó.

Trong mục này tuần trước đã nói đến ảnh hưởng của hệ thống kinh tế thị trường đối với phong hóa nước Mỹ. Kinh tế là thuận mua vừa bán, tính toán sòng phẳng, không nói chuyện tình cảm. Làm ăn như vậy rất có hiệu quả, nhưng không thể coi đó là một khuôn mẫu nên áp dụng cho tất cả mọi chuyện. Một xã hội mà mọi người chỉ sống với nhau theo lối thuận mua vừa bán, thì không chắc đã là một xã hội đáng sống. Một xã hội chỉ dựa trên luật pháp để cư xử với nhau cũng vậy. Chưa chắc đã sống xứng đáng như những con người. Con người sống bên nhau không những phải tôn trọng luật pháp mà còn phải giữ tư cách khi ứng xử, tạo nên một xã hội hòa mục. Muốn thực hiện điều đó thì những cơ chế chính trị, pháp luật không đủ. Phải bắt đầu bằng giáo dục, từ trong gia đình qua trường học.

Chúng ta thường thắc mắc việc xây dựng một nước Việt Nam tương lai phải như thế nào. Hiện nay cả nước, cả đồng bào ở ngoài nước, hầu như chỉ coi chuyện kinh tế là quan trọng nhất. Ai quan tâm nhiều hơn nữa, thì coi chế độ chính trị là điều phải giải quyết đầu tiên. Có tự do, dân chủ, có tôn trọng phẩm giá con người, với những quyền cơ bản nhất của mỗi người, thì nước Việt Nam mới xứng đáng sống trong thế kỷ này. Những mối quan tâm trên đều đúng cả. Nhưng nếu nhìn về lâu dài, chúng ta lại phải quan tâm đến một chế độ khác, là xây dựng một nếp sống sao cho có đạo lý, với những giá trị chung mà mọi người đều nhất định bảo vệ. Những giá trị đó bắt đầu tập từ thủa ấu thơ, chậm một ngày mất một ngày. Trẻ em tập sống hòa mục với xã hội chung quanh, qua những tập thể như gia đình, trường học, chùa chiền, nhà thờ, những đoàn thể thanh thiếu niên, vân vân. Mỗi tập thể đó là một nơi trẻ tập các thói quen cư xử, tập từng ngày một, cho đến khi lớn lên mang trong đầu những giá trị đã thuần thục, được nhập tâm.

Ít có một quốc gia nào huấn luyện thanh thiếu niên như người Việt Nam trước đây một thế kỷ, bằng cách đem những chuyện anh hùng, liệt nữ, những tấm gương tiết nghĩa ra kể cho trẻ em nghe từ khi còn nhỏ. Lối giáo dục đó đào tạo được rất nhiều người nghĩa khí, hữu dụng đối với xã hội. Dạy những tấm gương xưa không phải chỉ đề cao các anh hùng đã chiến đấu cho tổ quốc, mà còn những câu chuyện nêu lên cách cư xử của kẻ sĩ trong thời bình nữa. Những tấm gương của Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu bên cạnh những Trần Bình Trọng, Phạm Hồng Thái. Người Việt Nam không những dùng các câu chuyện trong lịch sử nước ta mà còn tìm trong kho tàng chung của các nước Á đông. Như khi Phan Bội Châu viết về Phạm Hồng Thái thì cũng đem tấm gương Phạm Hồng Thái ra so sánh với Kinh Kha, với Trương Lương, và với An Trọng Căn, một liệt sĩ Hàn quốc đã ám sát tướng Nhật Y Đằng chỉ huy đạo quân chiếm đóng.

Cho đến thời nay, các nhà văn vẫn còn khuynh hướng đề cao các tấm gương cổ nhân để dạy cho người bây giờ những bài học thấm thía. Như khi Nguyễn Hiến Lê viết cuốn Sử Trung Quốc, ông nhận xét các chính trị gia đời nhà Tống đối xử với nhau ra sao để làm gương cho đời nay. Nguyễn Hiến Lê viết rằng trong triều đình thời Tống Thần Tông, hai đảng Cũ và Mới đối chọi nhau về chính sách, nhưng vẫn kính trọng nhau. Các ông Vương An Thạch (phe Mới) và Tư Mã Quang (phe Cũ) nhã nhặn với nhau chứ không đàn áp nhau, "không khí tốt hơn chế độ dân chủ có hai đảng thiên tả, thiên hữu ở tây phương" bây giờ. Vương An Thạch tuy làm tể tướng nhưng sống bình dị, ham học, thương người. Phạm Trọng Yêm lúc làm tể tướng thì ăn uống đạm bạc, vợ con chỉ được mặc quần áo vải. Tô Đông Pha làm quan lo dào kênh, đắp đê, lập quỹ cứu giúp các gia đình nghèo để họ khỏi giết con gái mới sinh, nhưng khi ông mất chức thì vẫn nghèo đến nỗi phải đi hái hoa dại về ăn cho đỡ đói. Tư Mã Quang chín lần dâng sớ can vua, không được nhưng không sợ hãi, làm gương cho Chu Văn An ở nước ta về sau. Những người "làm quan" ở Á Đông đời xưa đều nhìn vào các tấm gương đó. Không phải mọi người theo được cả, nhưng ai cũng cần những tiêu chuẩn làm mẫu mực để cố noi theo.

Những cách sống đó bao hàm một hệ thống giá trị, đánh giá những điều nào là tốt, những hành động nào là đáng kính trọng. Hệ thống giá trị của nhân loại có rất nhiều điểm giống nhau, nhưng mỗi vùng văn hóa có các đặc điểm, mà mỗi thời đại cũng có những biến thiên. Chúng ta có thể nhìn vào cách người Mỹ cư xử với nhau, cách họ cư xử khi ngồi ở địa vị có trách nhiệm, để biết hệ thống giá trị có những điểm nào khác với chúng ta. Hệ thống giá trị đó thích hợp với những xã hội phát triển kinh tế thị trường và sống theo luật pháp dân chủ, trọng tinh thần duy lý. Nhưng điều quan trọng là chúng ta có muốn sống hoàn toàn duy lý hay không? Mỗi con người nên đặt câu hỏi đó, mà cả xã hội cũng nên đặt câu hỏi đó. Người Việt Nam ở ngoài hay ở trong nước đều cần đặt ra những câu hỏi về hệ thống giá trị mà mình muốn xây dựng cho tương lai.

NGÔ NHÂN DỤNG