TS Mai Thanh Truyết

Tình Trạng Ô Nhiễm Trầm Trọng tại Việt Nam:
Hóa Chất Độc Trong Thực Phẩm và Trái Cây  (*)

nguồn: khoahoc.net

Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng môi trường ô nhiễm trầm trọng. Từ không khí, trầm tích, nguồn nước mặt và nước ngầm, cho đến nguồn thức ăn, nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân cũng đang là một thãm nạn cho mọi người. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm và trái cây là một vấn nạn lớn đang xảy ra ở khắp nơi trên toàn cõi đất nước là một hiện thực. Theo báo cáo tổng kết của những ngành có trách nhiệm về vệ sinh thực phẩm, thì tại TpHCM trong 6 tháng đầu năm 2005, có gần 1.800 người bị ngô độc thực phẩm, đa phần là ngộ độc trong các quán ăn tập thể, trong đó có 39 người chết. Riêng ngộ độc do vi sinh, hóa chất bảo vệ thực vật thì đã xảy ra 11 vụ, gồm trên 300 người bị nhiễm độc. Tc KH&MT có trao đổi với TSMTT thuộc Hội KH&KT VN có trụ sở đặt tại Nam Cali, HK về vấn đề nầy và sẽ được phát ra trong nhiều kỳ.

Hỏi 1: trước hết, xin TS cho biết tình trạng chung về việc xử dụng hóa chất trong thực phẩm được bày bán ở VN.

Đáp 1: Thưa Quý thính giả của Đài ACTD ở hải ngoại cũng như ở quốc nội. Thưa Anh. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm tiêu dùng của người dân ở VN, quả thật đã đến độ nghiêm trọng và đã diễn ra từ bao năm nay rồi. Có 2 nguyên nhân chính cho tình trạng nầy: nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do môi trường chung bị ô nhiễm, do đó ảnh hưởng đến cây trồng và súc vật. Và nguyên nhân chủ quan là do con người, trong quá trình sản xuất sản phẩm đã thêm hóa chất vào trong thực phẩm với trọng tâm mang đến lợi nhuận cao nhất mà không lưu tâm đến những di hại cho sức khỏe của người tiêu dùng.

Hỏi 2: Xin TS có thể nói tổng quát là hóa chất nào, và áp dụng trong điều kiện nào không?

Đáp 2: Đây là một câu hỏi lớn, và câu giải đáp phải cần được phơi bày trong nhiều kỳ trên tạp chí nầy. Tuy nhiên trong cuộc trao đổi hôm nay, chúng tôi đề cập đến vấn đề hóa chất trong xì dầu hay nước tương đang được bày bán ở VN và các quốc gia Tây phương.

Hỏi 3: Đó là hóa chất gì thưa ông và sự hiện diện của nó do đâu mà ra.

Đáp 3: Thưa anh. Hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol. Trong quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật v.v... cho ra phế phẩm trên và một số hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol. Còn phương pháp chế tạo xì dầu qua công nghệ lên men tự nhiên thì không tạo ra các phế phẩm trên. Ngay sau khi giai đoạn chế biến xì dầu xong, hàm lượng của các hóâ chất trên có thể tăng lên trong giai đoạn vô chai, dự trữ, và ngay cả trong khi nấu nướng, nếu hóa chất trên không được khử đúng mức. Hiện tại, hầu hết các công ty sản xuất xì dầu áp dụng phương pháp thủy phân bằng acid do đó dung lượng 3-MCPD có hàm lượng cao là điều không thể tránh khỏi.

Hỏi 4: Ảnh hưởng của hóa chất nầy lên con người như thế nào thưa TS?

Đáp 4: Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên mức an toàn của cơ thể có thể chấp nhận được, nguy cơ bịnh ung thư sẽ xảy ra. Theo Ủy ban Khoa học Thực phẩm Âu châu, 3-MCPD được xếp vào hạng hóa chất có nguy cơ gây ung thư và di truyền (genotoxic carcinogen). Sự hiện diện của hóa chất trong cơ thể phải được hạn chế tối đa, và định mức chấp nhận hàng ngày trong cơ thể (Tolerable Daily Intake - TDI) là 2ug/Kg/cơ thể.

Hỏi 5: Xin ông cho biết tiêu chuẩn cho phép sự hiện diện của hóa chất trên trong xì dầu của VN và của một số quốc gia trên thế giới.

Đáp 5: Theo tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế VN, ban hành ngày 23/5/2005 sau ba năm nghiên cứu là: hàm lượng của 3-MCPD có trong xì dầu không thể vượt quá 1 mg/Kg áp dụng cho xuất cảng, và giao động từ 3- 5 mg/Kg cho việc tiêu dùng trong nội địa. Trong lúc đó tiêu chuẩn của LH Âu Châu là 0,02 mg/Kg, của Anh Quốc 0,2 mg/KG, Bỉ 0,5 mg/Kg. Qua các tiêu chuẩn trên, quả thật chúng tôi không thể hiểu tại sao BYT lại có hai quy định riêng rẽ cho xì dầu xuất cảng và xì dầu nội địa. Chẳng lý nào người dân VN có sức đề kháng với hóa chất trên cao hơn người ngoại quốc?

Hỏi 6: TS có biết xì dầu VN đã xuất cảng đến những quốc gia nào không và có bị trả về lại hay không?

Đáp 6: Thưa Anh. Các sản phẩm xì dầu dùng để xuất cảng do nhiều công ty trong nước sản xuất. Quan trọng nhất là Cty Liên doanh Chế biến Thực phẩm Việt Tiến (VITEC Food) xuất cảng xì dầu qua nhản hiệu Chin Su. Ngoài ra còn có các Cty như Nam Dương, Mêkong, Nestlé VN xuất cảng qua Âu châu, Mỹ châu, Úc và Á châu.

Cách đây độ 2 năm, Anh Quốc từ chối một lô hàng của VN vì hàm lượng 3-MCPD cao hơn tiêu chuẩn. Và gần đây nhất vào tháng 7 vừa qua, Bỉ cũng đã trả về các lô hàng Chin Su vì hàm lượng hóa chất trên lên đến 86 mg/Kg.

 Hỏi 7: Như vậy BGĐ Cty VITEC Food có lời giải thích nào không?

Đáp 7: Lẽ dĩ nhiên là BGĐ của Cty phải chạy tội bằng cách phủ nhận qua phát biểu của Ông Phạm Hồng Sơn, TGĐ, như sau:�Sản phẩm của Cty VITEC Food xuất cảng từ năm 2003 sang các nước Đông Âu và EU, nhưng chưa bao giờ xuất cảng sang Bỉ, nên chai nước tương phát hiện ở Bỉ có hàm lượng 3-MCPD lên tới 86 mg/Kg có nhiều khả năng là giả. Chúng tôi xin nhường lời bình luận về phát biểu trên của Cty Vitec cho thính giả. Tuy nhiên, với tính cách thông tin, qua kiểm tra của Trung tâm Đo lường Chất lượng 3 TpHCM thì có độ 50% số lần mẫu của xì dầu Chin Su không đạt tiêu chuẩn. Cũng như theo báo cáo củaTrung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở KHCN-MT Tp HCM, qua 42 mẫu nước tương thì toàn bộ 42 mẫu đều có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều khi lên đến 7 - 8 ngàn lần nghĩa là 7000 - 8000 mg/Kg.

Hỏi 8: Trước hiện trạng trên BYT, cơ quan cao nhất nước về chăm lo sức khỏe của người dân, có ý kiến gì không thua TS?

Đáp 8: Thưa Anh. Tiêu chuẩn do BYT đưa ra là 1mg/Kg nhưng vẫn chưa có biện pháp cũng như quy định nào cụ thể về việc kiểm tra phẩm chất sản phẩm của các nhà sản xuất. Cũng cần nên biết là toàn quốc chỉ có 9 phòng thí nghiệm có khả năng phân tích hoá chất 3-MCPD, và chi phí phân tích là 800 ngàn ĐồngVN/mẫu.

Hỏi 9: Ngoài hai phương pháp thủy phân và lên men để sản xuất xì dầu, ở VN còn có phương pháp sản xuất nào khác mà TS có theo dõi không?

Đáp 9: Thưa Anh. Ngoài 2 phương pháp nói trên là chính. Dĩ nhiên là ở VN, có nhiều thể loại mặt hàng nhái, hàng giả hiện diện khắp nơi từ hàng tiêu dùng cho đến thực phẩm. Do đó việc sản xuất xì dầu cũng không tránh khỏi tình trạng nầy. Nói ra thì thấy kinh tởm, nhưng sau đây là một sự thật đang xảy ra ở VN. Hiện có sự xuất hiện của nhiều nhà thu gom tất cả xương gà, xương heo, bò ở các tiệm ăn, thậm chí ở những đống rác, để mang về nấu trong acid, và được trung hòa lại bằng sút caustic. Sản phẩm được vô bao nylon hay chai lọ dưới nhản hiệu “nước cốt để làm xì dầu” và được bày bán khắp nơi nhất là ở chợ Kim Biên, thuộc Chợ Lớn. Nơi đây còn bày bán các nguyên vật liệu để làm nước tương qua công thức chế biến là: nước + muối + màu + mùi + chất phụ gia để bảo quản xì dầu sản xuất.

Hỏi 10: Đứng trước tình trạng sản xuất xì dầu ở VN, TS có đề nghị gì để giải quyết vấn đề sản xuất bừa bãi rất nguy hiểm cho sức khỏe của người tiêu dùng và nhất là làm mất uy tín đối với những quốc gia nhập cảng xì dầu VN không?

Đáp 10: Thưa Anh. Để kết luận về vấn đề xì dầu trong loạt bài hóa chất trong thực phẩm và trái cây, chúng tôi có vài suy nghĩ sau đây:

-    Trước hết, cần phải xem lại cung cách quản lý của VN đối với công nghệ sản xuất xì dầu. VN đã thành công trong quản lý chính trị, ổn định được trật tự xã hội về an ninh, không lý nào lại thất bại trong việc kiểm soát môi trường;

-     Sau nữa, chỉ còn có cung cách làm ăn thật thà, theo đúng quy trình kỹ thuật thì việc trử khữ hay hạn chế sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu có thể được kiểm soát dễ dàng. Ở các quốc gia tiên tiến, việc chấm dứt quá trình sinh sản 3-MCPD trong xì dầu bằng nhiệt độ cao và tăng độ pH thích hợp sau khi thủy phân;

-    Nguyên nhân của sự hiện diện của 3-MCPD tùy thuộc vào các yếu tố sau: nguyên vật liệu làm xì dầu, điều kiện lưu trử nguyên liệu; việc xử dụng nguồn nước rữa chứa chlor; và những điều kiện bảo quản trước khi tung ra thị trường như nhiệt độ, độ ẩm.

Hiện nay, một số nhà sản xuất ở Tây phương đang dùng acid phosphoric trong giai đoan thủy phân, thay thế acid chlorhydric. Phương pháp nầy có khả năng loại hẳn sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu.

Trong những kỳ tới chúng tôi sẽ thảo luận về các hóa chất khác trong kỹ nghệ thực phẩm như borax hay hàn the, calcium carbide hay khí đá, formol, sodium benzoate hay hóa chất bảo quản thực phẩm, Chloride Sodium Hydrosulfite hay hóa chất tẩy trắng, các loại phẩm màu, và các hóa chất bảo vệ thực vật. Xin Quý Vị nhớ đón nghe.

TS Mai Thanh Truyết

(*) Tựa do Gió O đặt

 

Trần Khánh Liễm

Nỗi đau sau cơn bão Rita

          Tôi rời nhà từ Pearland lúc 10 giờ sáng ngày chúa Nhật, tức 16 tháng 10 năm 2005. Từ đây qua beltway 8, tôi đi hướng bắc để vào đường I-10 east đi về Beaumont, rồi Port Arthur. Khi đi từ ngã tư beltway 8 và đường I-10 được khoảng 50 dặm, một chiếc bảng quảng cáo thật lớn bên vệ đường gió bẻ quặt thành một lưỡi hái tử thần thật lớn. Tôi biết đây là dấu hiệu khởi đầu của vùng bị cơn bão Rita quật vào ngày thứ sáu, 23 tháng 9 vừa qua.


          Một người cháu bảo tôi, nếu ông đi ban ngày thì đường Winnie an toàn và gần hơn đi ngả Beaumont tới Port Arthur. Tôi đã dùng đường Winnie, và cũng ngay khi bắt đầu vào con đường này, tôi thấy bên trái, có những nhà trailer nằm ngả nghiêng, bên tay mặt, có nhiều nhà bị gió đánh tốc mái. Người ta phải dùng bạt xanh do cơ quan FEMA phát để đóng tạm che mái. Họ làm như thế vì còn phải đợi bảo hiểm tới định giá hư hại, nên chưa thể sửa chữa nhà ngay được.


        Con đường từ đây vào Port Arthur  khoảng cách 32 cây số. Đường hai chiều có ngăn đôi, mỗi chiều hai ‘lanes’. Con đuờng mới được hoàn tất, nhựa trải nhẵn, lái xe rất êm. Một số bên đường hãy còn nhiều nước. Những mái tôn bay tản mát, cuộn tròn thành nhiều hình thể kỳ lạ.

          Bắt đầu vào port Arthur, những ngọn khói từ những nhà máy lọc dầu bay lên nền trời xanh trong biếc. Những làn khói êm ả của bầu trời đầy bình an một cách vô tư giữa  những đau thương u uẩn của những người dân sinh sống ở đây vẫn còn đau xót sau cơn bão dữ dằn đập vào thành phố này. Bên mặt tôi là Sabine Pass, cả trăm nhà máy lọc dầu hiện đang hoạt động.

          Có một thời mấy thập niên về trước đây, vì dầu hạ, những nhà máy lọc dầu bỏ ngỏ, không còn thày thợ. Thành phố này thiếu lợi tức, chỉ còn trật lại những người nghèo túng, sống dưới những căn nhà cũ rích  giá từ ba bốn ngàn đồng cho tới tám chin ngàn là tối đa.

          Đó là giữa thập niên bảy mươi, khi đoàn người di cư sống về nghề biển tới đây định cư, sau những tranh đấu, biểu tình từ trại Fort Chaffee.

          Cũng năm đó, vào mùa hè 76, tôi đi làm hè từ trường xã hội ở Louisville, Kentucky được gửi tới Beaumont. Cái quang cảnh người tỵ nạn lúc đó ít tiếng anh, phải sống tựa vào những người giúp định cư hay những vị lãnh đạo tôn giáo để có làng có xóm, có nhà thờ, có chùa, có công ăn việc làm bằng nghề biển.

          Khu đông người Việt được tụ tập chung quanh khu đường Proctor, rồi sau này là khu đường số 9 và những con đường lân cận. .

          Cũng theo những hiểu biết đó, tôi lái xe giọc theo đường 73 rồi vào 69, tận cùng đường 69 là đường Proctor. Quẹo trái trên đường Proctor, gặp đèn đỏ, quẹo trái vào đường số 9, trung tâm buôn bán của người Việt tại đây.
 
          Đền Đức Mẹ, nhờ ơn lạ, vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được biết cách đây một tuần lễ, ngôi đền này đã đón nhiều người tới đây tâm niệm và cảm tạ về những ơn bình an cho nhiều người có nhà cửa mà vẫn còn đó mặc dầu cơn bão Rita đã đánh sập hay gây hư hại, tróc nóc một số nhà ở chung quanh. Một thánh lễ tạ ơn đã được tổ chức như mời gọi mọi người hãy trở về Port Arthur, đốt lên sức sống, sau trên mười ngày dân chúng di tản, sống tại nhiều nơi trong tiểu bang Texas. Port Arthur trong những ngày đó là một thành phố chết trong bóng tối : không điện, không nước, không một bóng người qua lại. Một hai ngày sau thì quân đội, cơ quan FEMA dọn dẹp. Thành phố đầy mùi hôi thối từ những tủ lạnh chứa đồ ăn không có điện. .


          Trong những ngày đó, lệnh giới nghiêm, không cho ai trở về nhà, cho tới một tuần lễ sau, dân làng từ từ trở về. Họ dọn dẹp cây cối đổ ngã trong vườn, vứt đồ ăn thối ra trước cửa để được dọn dẹp. Sau đó lấy những giấy tờ quan trọng hay vật dụng cần rồi lại ra đi.


          Cách đây một tuần, người ta mới chính thức được trở về . Thế nhưng khi tôi tới thăm một người bà con vào ngày hôm nay, thì ba má con vừa trở về cách đây hai ngày. Đồ ăn thối hơn hai tuần lễ vừa được dọn đưa ra phía trước. Vào tới nhà vẫn còn mùi hôi nồng nực không chịu nổi. Đi trở lại đường số 9, tôi thấy nhà che bạt xanh, trường dạy thẩm mỹ vẫn còn bị tốc mái chưa sửa lại, cây vẫn đổ ngả nghiêng.
 

          Hôm nay chúa nhật mà cơ quan FEMA cũng cho người đến dọn những đống cây khổng lồ xếp hai bên lề phố. Thế nhưng hôm nay không có ai lấy rác, nên mùi hôi vẫn còn nồng nặc cả khu phố. Tuy thế những mùi hôi đã đỡ nhiều so với một tuần lễ trước đây. Cũng có rất ít cơ sở thương mại mở cửa. Nhiều tiệm thực phẩm sau hai tuần không có điện nên đồ ăn hư hỏng xông những mùi hôi thối ra đường phố.
 

          Trở lại đường Proctor, tôi thấy chùa Bửu Môn của thày Thích Huyền Việt vẫn còn vẹn toàn với những lá cờ  Hoa Kỳ và cờ quốc gia Việt Nam đang tung bay phất phới. Chắc rằng thày và các Phật tử sau cơn chạy loạn tới hú vía, đã trở về với niềm vui khôn tả khi nhìn lại ngôi chùa này.


          Tôi tiếp tục theo đường 69 đi về phía nam. Chỉ cách Port Arthur có mấy dặm, trước khi tới Port Neches, những dẫy phố có tiệm nails, tiệm dạy Karate và các tiệm khác đã được giải trùm từ trên xuống dưới những tấm tôn trắng phau giống như những giải lụa trải xuống.

          Đây mới thực là cảnh tượng đổ nát của vùng bão tố. Những căn chung cư cũng bị tốc mái không thể ở được, phải đợi thời gian sửa chữa.

Bây giờ trời yên bể lặng, nhưng cơn bão vẫn còn có những sóng ngầm trong lòng người dân , không biết bao giờ cơn đau mới lành. Cơn đau vẫn âm ỉ kéo dài nhiều ngày tháng hay có thể là nhiều năm. Cơn đau có thể kéo lê thê cả cuộc đời, vì có những người không có cơ may làm lại cuộc đời.

          Một người hàng xóm của một gia đình Việt Nam ở đây, tuần trước khi trở về nhà, thấy nhà cửa của ông bị một cây lớn đổ xuống làm đổ nát. Oâng đã rút súng kết thúc cuộc đời của mình. Năm nay ông 72 tuổi. Cả cuộc đời gây dựng cơ nghiệp. Thất vọng quá trong cơn đau, ông không thiết sống.

      Tôi vào thăm mấy gia đình khác quen thuộc. Chúng tôi nấu một nồi đồ ăn khá lớn đem xuống tiếp tế  để cùng có dịp hàn huyên. Mỗi gia đình tặng một bao gạo, mấy kí thịt heo, gọi là của ít lòng nhiều. Cái cử chỉ đó không ngờ nó làm ấm lại tình người nơi viễn xứ. Ai cũng tay bắt mặt mừng, vì ít nhất những gia đình tôi tới thăm nhà cửa của họ không bị hư hại nặng. Mọi người cảm tạ Trời đã che chở. Họ vẫn còn may mắn không bị lụt, không bị nước vào nhà.

          Những trai tráng hôm nay chúng tôi không gặp. Hỏi ra thì biết anh em làm nghề đánh tôm nhớ biển, người lớn kẻ bé kéo nhau ra khơi để kiếm chút ít bù lại mấy tuần nay chạy bão bị thua thiệt. (11, tầu chìm)

          Ở Port Arthur có khoảng hai trăm chiếc tầu đi biển. Trong đó có trên mười chiếc thuyền bị chìm, tám mươi phần trăm bất khiển dụng vì cơn bão gây nên. Số còn lại không đủ tiền mua dầu nhớt ra khơi. Họ thắt lưng buộc bụng, kéo nhau kẻ ít người nhiều hùn vào mua dầu để kéo ít tầu ra khơi chài tôm. Thành ra số tầu còn lại cũng không có khả năng mua dầu chạy tất cả. Tôm năm nay hạ, dầu năm nay cao gấp ba lần năm trước. Nếu tầu đã trả hết tiền cho nhà băng, thì cũng không ngại ra khơi. Thế nhưng hết nợ lại không đủ tiền đóng bảo hiểm. Tầu bị bể hay bị chìm chỉ có kêu trời.

          Đời sống càng ngày càng trở nên bấp bênh cho những người đi biển. Tuy thế hệ cha bác đã đi qua, một số giới trung niên vẫn theo nghề cha mẹ, tiếp tục đi đánh tôm, đánh cá. Tương lai của họ mù mịt. Cơn bão xảy đến còn làm cho họ bi thảm hơn nữa. Có lẽ rồi một ngày nào đó phải giã từ biển cả để đi làm những công việc khác.

         Đó là nói một số người Việt sống bằng nghề chài lưới ở Port Arthur, trong Jefferson county. Phía bắc đó cũng bị tại hại ghê gớm. Những nơi như ở Jasper, cả tuần lễ sau cơn bão, người ta không thấy cơ quan Hồng Thập Tự hay cơ quan Fema. Những khu rừng nhiều cây gỗ quí vùng đông Texas, gió lốc xoáy gẫy cả mấy chục ngàn mẫu cây. Nếu trước bão, người ta cắt cây bán cũng đủ lợi tức chi dụng. Nay cây đổ phải cắt để làm củi, phải cắt những khúc gỗ lựa được đưa tới nhà máy cưa. May ra có một ít trại cưa có điện để xẻ những khúc cây này.
 

          Theo thống kê 967 triệu thước khối trị giá 833 triệu bị thiệt hại. 435,000 mẫu cấy cây bị hư hại. Những lọaị cây này sắp sửa tới lúc được hạ xuống để bán.


      Cơn bão Rita có nhũng tại hại ghê gớm người ta không lường được và nó ảnh hưởng tới cuộc sống của dân địa phương thật sâu rộng.

          Tiểu bang Texas, nhất là thành phố Houston  đã mở rộng tấm lòng vàng đón tiếp dân tỵ nạn cả hai cơn bão. Bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu tài vật để xoa dịu những đau thương cho mấy trăm ngàn người tỵ nạn. Khi cơn bão Rita xảy tới, chúng ta đã cảm thấy mệt mỏi. Sự đón tiếp những nạn nhân ngay trong tiểu bang, trong cộng đồng người Việt cũng không còn rộng rãi như tháng trước chúng ta đã đón người tỵ nạn cơn bão Katrina.

          Một ủy ban do tổ chức cứu người vượt biên đã triệu tập tháng trước tại Washington để nói lên cho các tổ chức cứu trợ thấy những người Việt Nam bị bão đã bị bỏ quên. Chúng tôi cũng cùng một tiếng nói để báo động cho cộng đồng hay : những đồng hương việt Nam của chúng ta ở vùng Port Arthur đang sống trong những cơn đau do bão Rita. Mong rằng các tổ chức. Các cơ quan hay bỏ chút thì giờ tới thăm viếng. Thăm viếng không phải để cho mình được nhiều người nhắc tới, để có danh có tiếng, nhưng chúng ta cần tới để xoa dịu cơn đau vẫn còn đang kéo dài trên miền đất nghèo túng này. Mong chúng ta đừng quên những đau đớn còn đang kéo dài sau cơn bão Rita.

Tạp ghi sau chuyến thăm Port Arthur.
16 tháng 9 năm 2005.

Trần Khánh Liễm.

 

Bùi Bảo Trúc

Rose Parks

nguồn: geocities.com /tgbt

Thư Gửi Bạn Ta
Ngày 27 tháng 10 năm 2005

Bạn ta,

Nếu người đàn ông đi trên chuyến xe bus ở Montgomery hôm mồng 1 tháng 12 năm 1955 lịch sự và nịnh đầm một chút thì tình hình nước Mỹ đã đi sang một chiều hướng khác.

Chúng ta được dậy từ những năm tiểu học là lên xe điện, xe bus, thấy phụ nữ thì phải nhường chỗ cho những người này. Nhất là nếu các phụ nữ này có tuổi, đang có thai hay tay dắt, tay bế những đứa con còn bé.

Những bài đức dục học ở trường dậy những đứa bé như vậy. Lớn lên thì danh sách những người cần được nhường chỗ được thêm vào những người đàn bà trẻ và đẹp. Đoạn này không có trong các bài học đức dục nhưng ngoài đời đã dậy cho những người đàn ông phải làm như thế.

Người đàn ông da trắng trên chuyến xe bus ở Montgomery nửa thế kỷ trước đòi người phụ nữ đang ngồi phải đứng dậy để nhường chỗ cho ông ta thực ra không bao giờ được dậy những bài học đức dục.

Người đàn ông này lên xe bus sau khi người phụ nữ đã yên vị. Xe hết chỗ ngồi, ông ta đòi được nhường chỗ là vì luật ở tiểu bang Alabama thời ấy qui định là khi xe hết chỗ ngồi, thì hành khách người da đen phải đứng dậy nhường chỗ cho người da trắng.

Bất kể người da trắng đó là đàn ông, khỏe mạnh, trẻ trung và người da đen đang ngồi là đàn bà, có tuổi và không khỏe mạnh.

Những người làm luật của tiểu bang Alabama đã bị đầu óc kỳ thị dẫn dắt họ làm thứ luật mọi rợ, thiếu văn minh đó.

Người phụ nữ đang ngồi trên xe nhất định không chịu nhường chỗ đang ngồi cho người đàn ông da trắng.

Bà không nhường ghế vì bà lên trước. Lên trước tìm được chỗ ngồi thì ngồi. Lên sau hết chỗ thì đứng. Không thể vì mầu da trắng mà được quyền bắt người da đen phải nhường chỗ cho mình.

Thứ hai, đàn bà không nhường chỗ cho đàn ông. Dù đàn bà là da đen, và đàn ông là da trắng.

Rosa Parks, người phụ nữ 42 tuổi bị cảnh sát Montgomery bắt giữ về tội bất tuân luật của tiểu bang.

Việc bắt giữ bà Parks đã làm phát sinh ra một cuộc tẩy chay dịch vụ xe bus của thành phố trong 381 ngày. Một phong trào đòi dân quyền cho người da đen cũng bùng phát lên từ đó.

Bà Rosa Parks vừa qua đời hôm 24 tháng 10 tại Detroit.

Nghĩ lại thì cũng may mà ở Montgomery có một thứ quái vật như người đàn ông da trắng trên chuyến xe bus hôm mồng 1 tháng 12 năm 1955.

Chứ nếu trên chuyến xe đó, bà Rosa Parks gặp một người đàn ông da trắng đang ngồi, thấy bà, đứng dậy nhường chỗ cho bà ngồi thì làm sao đời sống người da đen ở Mỹ lại đổi thay quá nhiều như người ta đã thấy.

Được nhường chỗ, bà Rosa Parks ngồi xuống. Xe tới bến, bà đứng dậy, cám ơn người đàn ông nhường chỗ cho bà, về nhà, hôm sau đi làm tiếp.

Nhưng vì bị một người đàn ông quái cổ tiền sử da trắng đòi phụ nữ nhường chỗ nên mới thành chuyện.

Tuy nhiên, ngồi nghĩ thêm một chút thì lại thấy là nếu Rosa Parks không gặp người đàn ông da trắng trên xe năm 1955 mà bốn mươi, năm mươi năm sau mới gặp thì cũng chưa chắc đã có phong trào đòi dân quyền ở nước Mỹ.

Khoảng hơn một chục năm trước, thỉnh thoảng tôi cũng dùng xe điện ngầm đi làm ở Washington. Lâu lâu cũng có bữa xe đông người, hết chỗ cho những người lên ở những ga cuối từ Virginia chạy sang Washington.

Và ít nhất, năm sáu lần, người đàn ông Á châu, lúc ấy còn trung niên, đã đứng lên nhường chỗ cho lần thì cụ cao niên, lần thì bà bầu, lần thì không cao niên, không bầu, chỉ trẻ và đẹp thôi, thì đều bị lễ phép từ chối... Thanks a lot... I prefer to stand... I can stand just like everybody else... You don’t have to do this... Please sit down... Don’t worry about me...

Bài đức dục học ở lớp tư trường tiểu học đưọc đem ra dùng nhưng không được hưởng ứng.

Các phụ nữ Mỹ của thập niên 90 không còn giống như những đối tượng của bài đức dục hơn nửa thế kỷ trước nữa.

Họ đã được giải phóng. Họ đòi và đã được ngang hàng với đàn ông. Đàn ông đứng được thì họ cũng đứng được. Họ không cần phải được nhường ghế trên xe bus, xe điện nữa.

Thế nên nghĩ lại, mọi chuyện phải xẩy ra đúng lúc thì mới có nhân vật Rosa Parks. Chứ phụ nữ ngày nay chê người nhường chỗ cho ngồi, hay gặp đàn ông tử tế, không đòi đứng dậy nhường chỗ cho họ thì làm sao có Rosa Parks.

Nhưng nghĩ xa một chút thì phải cám ơn Rosa Parks. Không có máu, nước mắt và thái độ can đảm của những người như Rosa Parks thì nước Mỹ ngày nay không thể là nước Mỹ như chúng ta thấy được.

Bùi Bảo Trúc

 

  NGÔ NHÂN DỤNG

 Rosa Parks, bà mẹ của phong trào dân quyền

nguồn: nguoivietonline.com

Nhiều người đến nước Mỹ gần đây không biết tên bà Rosa Parks. Ngày hôm qua, chắc ai cũng phải biết. Cả nước Mỹ nhắc đến tên bà, chiếu lại hình ảnh của bà khi còn sống, nhất là hình ảnh những ngày tháng trước đây gần 50 năm, khi bà là biểu tượng của ý chí dũng cảm đòi tự do và quyền bình đẳng cho người da đen ở những tiểu bang miền Nam nước Mỹ.

Bà Rosa Parks là một phần của lịch sử Mỹ trong thế kỷ trước, mọi người nên học. Không phải chỉ những người sống ở Mỹ, mà tất cả mọi người trên thế giới, đặc biệt là những người đang sống thiếu tự do.

Một ngày cuối năm 1955, bà thợ may Rosa Parks, 42 tuổi, đi làm trở về, vô tình bước lên chiếc xe buýt mà đáng lẽ bà không lên. Bà ngồi lên hàng ghế đầu tiên ở phía sau xe, phần ghế dành cho người da đen ngồi. Trong thời đó, ở thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama cũng như nhiều tiểu bang miền Nam khác, người da đen không được coi ngang hàng với người da trắng. Chính sách phân biệt chủng tộc được luật lệ và phong tục quy định. Người da đen không được vào những tiệm ăn dành cho người da trắng, hoặc nếu tiệm ăn có hai khu thì phải ngồi trong ở khu vực riêng của họ. Họ không được uống nước ở chỗ dành cho người da trắng, không đi học trường trắng, không vào nhà thờ trắng, không được dùng nhà vệ sinh trắng, trong rạp hát, trong sân vận động, trong thư viện đều có chỗ ngồi phân biệt. Trên xe buýt người da trắng ngồi những hàng ghế phía trước; người da đen phía sau. Họ chỉ được coi là bình đẳng khi trả tiền mua vé xe buýt. Một người da đen cũng trả giá vé như người trắng, nhưng sau khi mua vé ở cửa trước rồi phải bước xuống đường, trở lại cửa sau mới được leo lên xe. Nhiều khi cửa sau chen chúc đông quá, đến giờ thì anh tài xế da trắng cứ thế vọt xe đi, mặc cho những hành khách đứng cầm vé trên tay. Có người té bị xe cán chết.

Ngày 1 Tháng Mười Hai năm 1955, bà Rosa Parks leo lên xe mà không nhìn kỹ mặt anh tài xế. Bà đã bị anh ta đuổi xuống xe một lần 12 năm trước đó. Năm đó Rosa Parks mua vé ở cửa trước xong thì cứ thế mà đi về phía cuối xe, không quay xuống đường để leo lên cửa sau. Người tài xế quát bảo bà quay lại, không được đi qua mấy hàng ghế da trắng. Bà đành vâng lời, và trong 12 năm sau đó đã tìm cách tránh mặt, không lên chiếc xe buýt nào do anh ta lái. Bữa đó trời lóa lem tối, bà quên.

Khi xe buýt đến một trạm có nhiều hành khách da trắng leo lên, một người đàn ông thiếu chỗ phải đứng. Anh tài xế làm đúng luật, ra lệnh những người ngồi hàng ghế đầu ở khu da đen phải đứng dậy nhường chỗ. Ba người im lặng đứng lên. Bà Rosa Parks không nhúc nhích. Người tài xế nhắc lại lệnh đứng dậy. Rosa Parks ngồi im lặng và bình thản. Mấy câu đối thoại đã ghi vào lịch sử:

“Có đứng dậy không?”

“Không.”

“Ðược, tôi sẽ kêu cảnh sát bắt.”

“Cứ kêu đi.”

Giọng nói của Rosa Parks điềm tĩnh và thản nhiên, nhỏ nhẹ làm anh tài xế nghe nghe không rõ trong tiếng ồn ào trên xe.

Về sau bà Parks viết kể lại, “Chúa đã ngồi cùng tôi, khiến tôi có thể bình tĩnh và cương quyết không để ai coi khinh phẩm giá của mình, coi mình thấp hơn những công dân khác trong thành phố.”

Tiếng nói “Không” bình thản của bà châm ngọn lửa mở màn cuộc tranh đấu cho dân quyền của người da đen ở miền Nam nước Mỹ. Bà Rosa Parks bị bắt để thụ lý đưa ra tòa. Ngay lập tức, những người bạn của bà, da đen và da trắng, phát động một phong trào người da đen ở Montgomery tẩy chay không đi xe buýt!

Bà Rosa Parks đã tham dự những tổ chức tình nguyện trong xã hội công dân địa phương như gia nhập nhà thờ, dự những sinh hoạt thanh niên, vào hội tranh đấu cho người da màu (NAACP), đòi hãng xe buýt phải thuê tài xế da đen, vân vân. Bà đã cùng hội NAACP mở cuộc tranh đấu cho những người da đen vào thư viện được dùng những phương tiện cùng người da trắng, nhưng không thành công. Mùa Hè năm 1955 bà đã được một người bạn da trắng rủ đi dự một cuộc hội thảo 10 ngày ở tiểu bang Mississippi về quyền bình đẳng chủng tộc. Bà còn kể lại cái cảm giác sung sướng khi buổi sáng thức dậy nghe tiếng người đang làm bếp chuẩn bị bữa sáng, ngửi mùi cà phê và bacon chiên, chợt nhận ra mình không phải làm bếp hầu ai mà chính những bàn tay da trắng đang làm bữa sáng cho mình ăn!

Bà Rosa Parks cũng không phải là người đầu tiên bướng bỉnh không vâng lệnh nhường chỗ cho người da trắng. Ðầu Tháng Ba năm 1955, một học sinh 15 tuổi, Claudette Colvin đã bị bắt khi không chịu nhường chỗ cho một bà da trắng. Khi đó, bà Parks đã họp với mấy người bạn, đen cũng như trắng, bàn việc tổ chức tẩy chay xe buýt. Nhưng những người lãnh đạo da đen khuyên nên chờ một cơ hội khác, vì dư luận chưa chín mùi và không đủ tiền bạc để tổ chức tẩy chay xe buýt.

Ðến khi chính bà Rosa Parks bị bắt thì không còn ai ngần ngại. Bà là người có thể đứng mũi chịu sào, không sợ sẽ bỏ cuộc. Bà là một công dân lương thiện, đạo đức, hoạt động và có uy tín trong cộng đồng; những kẻ chống quyền bình đẳng không thể đi tìm những chuyện xấu trong quá khứ của bà để bôi nhọ.

Người ta kêu gọi người da đen trong thành phố tẩy chay xe buýt ngay sau ngày phiên tòa xử bà Parks. Bà được hưởng án treo nhưng bị phạt 10 đô la và trả 5 đô la án phí (một đô la thời đó bằng khoảng 15 đô la bây giờ.) Cuộc tẩy chay bắt đầu. Dư luận cả nước Mỹ ủng hộ. Báo chí thế giới phải nói tới. Người da đen ở Montgomery càng cương quyết hơn. Mấy chục chiếc xe tư nhân và 14 xe buýt nhỏ của nhà thờ được dùng để chở người da đen đi làm. Họ đặt ra 32 trạm chờ xe, mỗi ngày làm việc từ 5 giờ 30 sáng đến nửa đêm, và họ chở 30,000 người đi làm. Không hãng bảo hiểm nào ở thành phố chịu bảo hiểm cho những xe đó, họ phải nhờ một hãng của người da đen ở Atlanta, dưới sự giúp đỡ của công ty Lloyd ở London, Anh Quốc. Cuộc “đình công” kéo dài hơn một năm (381 ngày) cho đến khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ chuẩn y bản án của tòa dưới, tuyên bố những đạo luật vi phạm quyền tự do và bình đẳng của người da đen trên những xe công cộng là vi phạm Hiến Pháp Mỹ. Mấy tháng sau, bà Parks và chồng bà, một người thợ hớt tóc, bị mất việc.

Không phải một mình bà Rosa Parks, không phải một vụ đề kháng bất bạo động của bà và của người da đen ở Montgomery đã đưa cuộc tranh đấu đến thành công. Những người tranh đấu cho dân quyền đã thành công nhiều lần trước đó, đặc biệt là bản án của Tối Cao Pháp Viện Mỹ tuyên bố việc phân biệt chủng tộc trong trường học là vi hiến.

Bà Rosa Parks đã tham dự những tổ chức vận động người da đen di bầu, chính bà đã đi ghi tên vào danh sách cử tri bà bị gạt ra ngoài hai lần hơn 10 năm trước vì không đủ điểm khi bị trắc nghiệm có biết đọc biết viết hay không. Lần thứ ba bà chép lại tất cả những câu hỏi và câu trả lời của mình để nếu rớt thì kháng cáo, nhưng bà được đậu! Bà Rosa Parks tham dự nhiều hội đoàn tôn giáo, chính trị của người da đen, chính nhờ thế bà dấn thân vào cuộc đấu tranh chống kỳ thị ngay khi cuộc đình công bắt đầu, mặc dù lúc đầu ông chồng bà không đồng ý.

Bài học của câu chuyện bà Rosa Parks là một cá nhân có thể thay đổi vận mạng cả triệu người khác, dù đó là một người đàn bà bé nhỏ, nhỏ nhẹ, nhưng điềm đạm và dũng cảm. Khởi tử cuộc vận động tẩy chay xe buýt đó mà có những cuộc vận đồng nhân quyền và dân quyền sau đó, sự nghiệp của mục sư Marin Luther King Jr. cũng xuất phát từ cuộc vận động này. Nhưng một cá nhân thôi không đủ, phải có cả một phong trào, nhiều người tranh đấu, người nọ tiếp nối người kia, mà vụ bà Rosa Parks chỉ là một giọt nước làm tràn ly. Một yếu tố quan trọng là ý thức tập thể của những người da đen ở thành phố Montgomery đã lên cao. Họ đòi quyền sống tự do và bình đẳng. Ý thức đó một phần do nỗi tủi nhục nung nấu âm ỉ qua nhiều năm bị coi thường, coi khinh; đã bùng lên khi thấy có một người đứng lên nói: “Không thể chấp nhận được!” Nhưng ý thức đó cũng đã được tôi luyện qua những sinh hoạt tập thể trong những tổ chức tôn giáo, giáo dục, xã hội, nói chung là trong xã hội công dân nằm ngoài khuôn khổ chính quyền. Và cũng phải kể tới sự đóng góp của rất nhiều người Mỹ da trắng bất bình trước cảnh con người khinh rẻ con người trên đất nước họ. Nhưng tất cả cuộc tranh đấu này chỉ có thể diễn ra trong hòa bình là nhờ nước Mỹ sống trong một chế độ dân chủ, tự do, có một hệ thống tư pháp độc lập, mọi người phải tôn trọng luật pháp và được bình đẳng trước pháp luật.

Ðó là một bài học cho cả loài người cũng như cho người Việt Nam. Nếu không có tự do, dân chủ, khó tranh đấu cho được quyền bình đẳng.

NGÔ NHÂN DỤNG