Khuyến

 

Những chuyện tình không kém trinh bạch và rất đỗi minh bạch

 

Những chuyện tình dưới đây là để hưởng ứng lời mời “nhảy vào sân chơi” của Nguyễn Đăng Thường, đồng thời cũng để đóng góp xây dựng cho dòng văn chương lành mạnh, không dâm uế, không miệt thị nữ giới, của các nhà đạo đức và nữ quyền trong-ngoặc-kép -- khuyến

 

 không-một:

 

Người đàn ông không chút bận tâm đưa lưng trần về phía Cảo, khi không tự dưng cúi khom nhặt vật gì quanh quẩn chiếc ghế lưng không ngửa dài. Hai trái vú không tròn, không méo mà cũng không vuông, không đong đưa khi anh ta không cúi khom. Thứ vú tuy không to nhưng khi thõng lại không kém gợi tính kích thích. Người đàn ông không mấy tha thiết nhìn quanh, rồi không rời mắt nhìn người đàn ông kia nói gì. Anh ta không quen cười, nên tiếng cười không dòn, không iểu, không theo gió lúc lớn lúc nhỏ. Anh không thích lắc lắc đầu theo chiều gió, nên không thể để tóc bay cùng hướng gió, một tay, không, một ngón tay gom tóm tóc nơi gáy, tay kia, không, cũng ngón tay vừa rồi, vén mấy sợi tóc chạy lạc dưới háng. (Tóm laị, trong đoạn này, người đàn ông trần như nhộng đang vén tóc, cúi khom trong tư thế đợi chờ). Dáng vẻ không chút dửng dưng của người đàn ông này không kém phần gợi cảm. Tuy hai tay không thèm giơ lên bận bịu với tóc, cặp vú không thèm tròn, đầu vú không thèm nổi bật hai vết sẫm hơn, mông không thèm vun cao, đường eo không thèm uốn cong khúc quanh gắt. Cảo không chờ nghe người đàn ông vất cái chổi, không chút đắn đo sấn lại gần, không đợi mất can đảm mà từ sau lưng ôm vòng ra trước úp chụp lấy một vú. Người đàn ông không ôm giữ cánh tay hắn mà níu lấy dương vật hắn. Cả hai đều không cười thầm mà cười khanh khách. Tiếng cười không vỡ lớn mà chỉ vỡ nhỏ, không được gió đưa lên (hay đẩy xuống), đến tận nơi Cảo không đứng mà bây giờ đang quỳ, màn cửa sổ không giữ trong tay (vì màn cửa sổ không có tay).

 

không- hai:

 

Hắn không phải là một người đàn ông xa lạ, không những đang nhễ nhại trần truồng mà còn không ngần ngại cắm sâu người anh một bộ phận không cứng đờ như một thanh sắt nguội, mà cứng đờ như một thanh sắt không nguội. Anh càng không kêu lên vì đau đớn, hắn càng không kêu lên vì kích động (nên cả hai cùng im lặng không kêu). Hắn không leo lên người tôi lần nữa. Như không còn đủ sức để chứng minh cái nam tính của hắn. Tôi không thèm ngoảnh đầu qua một bên để nhìn hắn ấp úng giải thích. Hắn không dám ngồi sát vào, không dám kéo đôi chân tôi lên hôn chùn chụt. Đôi chân tôi không dựng ngược lên không trung, mà là con dốc đi xuống vũng lầy cho hắn (biết thế nào là lễ độ)... Hắn không làm tình với tôi như là một sự cố gắng giận dữ... Hắn không thúc vào người tôi, không như những cái đá dữ dội... Tốt, tôi không cần nghiến răng lại để khỏi rên vì đau. Hắn không cạ mạnh vào gót chân hay vào mặt tôi, không gập người tôi lại, làm tôi không thể kêu lên thảng thốt (mặc dù tôi rất muốn). Rồi hắn không từ từ, xin nhấn mạnh, không từ từ tụt khỏi người tôi một lần nữa. Không có súng chưa nổ, hắn cũng đã không tư chối cơ hội đầu hàng như một tên lính quèn run sợ. Không ngại lại một thất bại thứ hai (hay thứ ba, tư gì đó). Hắn không sợ gục xuống (mà chỉ sợ đứng lên). Chúng tôi không để mắt nhìn nhau. Tôi không đủ đô để bước ra khỏi giường, (nên cứ nằm ì cho dzui!) .

 

không-ba:

 

Cứ mỗi gốc cây không vắng vẻ, không có bóng tối càng tốt, là thế nào cũng không những có một tụ, mà toàn hai ba tụ trở lên, mỗi tụ ít nhất là hai chàng, không nhất thiết phải ăn mặc hở hang, không chắc hẳn phải phấn son loè loẹt, tay không nhất định chỉ luôn cầm điếu thuốc hiệu Mélia, hoặc Bastos (có thể là Mai hay Đalạt gì đó). Hễ thấy vài lính Lê Dương, hay Ma Rốc đi tới, là các chàng không ngừng tiến ra đường nói: "E mon Cheri, çàva. Voulez-vous coucher ]moi?" (Ê, chào tình nhân, anh có muốn ngủ với em không?). Tối tân hơn thì không ngại thêm: "Moi je suis très jeune. Dix sept ans seulement" (Em còn rất trẻ, chỉ mười bảy tuổi thôi). Dĩ nhiên, nếu không chịu cái dung nhan của các chàng, chàng lính trẻ sẽ không đến gần quan sát kỹ hơn (dĩ nhiên!). Lúc đó các chàng sẽ không cần cầm tay người lính, không cần để lên ngực của mình cho chàng bóp thử. Các chàng không dại gì tiến thêm bước nữa, không bằng cách đứng thật sát vào người lính, không cà hạ bộ của mình vào dương vật của người lính. Nếu người lính vẫn không tiền mà sẵn sàng "lên mây", thì các chàng tức khắc không thèm xổ ra chiêu khác nào ngoài lĩnh ngay vào gốc cây không vắng vẻ. Các chàng không ngu gì quỳ xuống cỏ như người nô lệ, nhất là không áp mồm vào dương vật của chàng lính mà hôn da diết, hoặc không táo bạo hơn, nghiã là các chàng sẽ không kéo phẹc-mơ-tuya của quần chàng lính, sẽ không lôi hẳn "thằng nhỏ" ra ánh sáng (hoặc chỗ không có bóng tối), và sẽ không biểu diễn màng thổi kèn saxo (Đương nhiên!).

 

không-bốn:

 

Tôi không chiụ choàng tỉnh dậy. Ai biểu hắn không đang đổ một muỗng yogurt mát lạnh lên ngực tôi?... Tôi không dụi mắt nhìn chung quanh (vì vẫn ngủ), không kinh ngạc (vì không có gì để kinh ngạc)... Vì nghèo, bốn bức tường quanh chỗ tôi nằm không được che phủ bởi bốn màn ảnh lớn như nhà của  Mickey Mouse. Tôi không nằm trần truồng trên tấm ra trải giường trắng nay đã ngã màu cháo lòng vì cả năm nay không được giặt... Bỗng nhiên phòng không hiểu sao tối om, ánh đèn không hiểu sao vụt tắt, và bốn màn ảnh không chịu sáng lên (à quên, vì bốn bức tường quanh chỗ tôi nằm không được che phủ bởi bốn màn ảnh)... Tôi không hét lên kinh hoàng (mặc dù muốn lắm), tiếng hét không dội lại như nuốt chửng lấy hình hài tôi trơ trọi (may mà tôi chưa hét). Tôi không thèm ôm mặt khóc mà lập tức đạp ngay vào mõm hắn, không lùi dần mà cứ liên tiếp sấn tới đạp hắn túi bụi... vì sau lưng tôi, trước mặt, hai bên, đều không là những hình hài kinh tởm nhầy nhụa trên bốn màn ảnh trắng... không là hàng trăm con rắn bò lổm ngổm mà chỉ là hắn, nên chẳng việc gì tôi phải dừng lại. Tôi không cần bíu chặt lấy tay hắn, vì hắn đã ngất đi sau mấy cú đạp ban đầu của tôi, không cần tiếp tục la hét như đang đối diện với cái chết, vì tôi vẫn còn sống! Toàn thân tôi không còn sợ co rúm. Tiếng hét của hắn không còn thất thanh, lạc lõng, mà đã được cảnh sát thâu âm làm tội chứng. Hắn sẽ không bao giờ dám luồn tay giữa hai chân tôi nữa, sẽ  không còn cơ hội nâng người tôi lên khi không có sự cho phép của tôi, tiếng hắn bây giờ không hơi thở đứt quãng nặng nề...

 

không-năm:

 

Nhẫn không từ tốn kéo quần lót Quyên ra khỏi một bên chân, mà nhanh chóng tụt nó hẳn ra cho dễ bề làm việc. Hắn không muốn tốn thời gian nhìn mảng lông dày trên gò bụng, không bỏ năng lượng vào việc áp đầu vào kề cạ . Nhẫn mừng vì không phải tìm bằng lưỡi cái lằn không-duyên xẻ đôi, hắn không phải cực khổ kiếm thớ thịt phồng không lay động như khi làm tình với vợ. Nhẫn không thích lui đầu ra nhìn mép cửa, mình Quyên săn sẫm. Nhẫn không ngại nhìn thật gần, không ngại vuốt ve những đường nhăn bên đùi, hắn không ngại đưa lưỡi vào người nàng ướt đẫm. Nhất định không chờ cho đến khi vị mặn của lúc đầu nhớp nháp loãng dần, nhất định không nhường bước trước cái tê vì tác động. Nhưng rồi Nhẫn không rời bụng Quyên, không nhoài người lên để bắt cặp môi, mà cứ khăng khăng chê rốn Quyên bẩn. Giận qúa, Quyên không thèm nhú nhô lưỡi nàng vào miệng hắn quấn quít. Nhẫn không chịu nằm bên Quyên nữa, thề sẽ không ngọ nguậy trong bụng nàng bằng ngón tay hay ngón chân gì nữa. Hắn không nói nhỏ mà hét vào tai nàng: "Anh nhớ cái bụng sạch của em quá, anh nói thật. Bề ai mà chẳng thích, nhưng anh không nhớ cái bụng của em nhờn như vầy, anh chỉ nhớ cái bụng em mềm bên trong..." Nhẫn không nằm vật ra mà đứng lên cái phắt, quần lót không ướt làm hắn khó chịu. Hắn không cần có bao ngừa thai, hắn sẽ không chạy lại đây vội... Quyên không ngồi dậy vì còn giận Nhẫn, nàng không màng đến việc thọc tay vào khe quần đùi hắn, Quyên không còn muốn nghiêng người, không còn muốn cúi đầu xuống gần Nhẫn. Nhẫn không đưa tay ra cản Quyên đi tiểu, hắn không kéo nàng lại trên người mình, không ôm lấy chặt. Trinh bạch.

  

 Khuyến

 

 __________________________

Chú thích:

Các đoản văn trên đây chỉ thêm từ "không" và một vài chữ khác vào nguyên tác của bài Những.Chuyện Tình Trinh Bạch của Nguyễn Đăng Thường. Có thể qúy vị đã nhận ra ngay ảnh hưởng sâu sắc của trường phái Không-thơ và Không-văn trong sáng tác của tôi. Tuy thế, việc tôi đặt những từ khác kế các chữ “không” trong nguyên tác có thể được gọi chính xác hơn là trường phái Thêm-Thắt.

 

 

 

talàchi

 

là một diễn đàn

độc.

 

l-

ập.

 

mông đối diện những vấn đề của hiện thực việt nam

 

bằng cách đ-

ặt chúng vào những góc nhìn của thế giới.

 

bên ngoài nội dung chủ yếu của talàchi là chuyển tải thành tựu văn hóa thế giới và những thảo luận thời sự của trí thức quốc tế vào các t-

ương quan

việt.

 

Nam ta là

chi

cũng

là điểm gặp

và cọ.

 

xát giữa

tiếng việt và c-

ác ngôn.

 

ngữ Kh-

ác.

 

@talàchi 2005-5002

 

khuyến

 

 

 

Hà Lăng

 

TA LÀ OAI

 

Tôi cần một tổ chức

Bí mật kéo tôi đi

bằng xe cam nhông

đỏ [vì là màu sở thích]

 

tôi cần liên hợp sức mạnh   cứu hoả   ò  e

cắt con đường làm đôi

chạy thẳng

ra khỏi câu hỏi           

TA LÀ QUÁI GÌ? (*)

 

 

thân tôi mục

vì café

như Randy

như tuổi già

chờ hoài

         không thèm chết

                   mơ những con chó thắt cổ toòng teng [nếu có gió thì xác sẽ đong đưa]

 

răng tôi mòn

vỡ ra sau khi ăn

 

lưỡi tôi đau

vì những hạt sừng nhô

 

mồm tôi xót

cắn phải nhiệt loang lở

vì tôi đi đuổi theo ngôi nhà chất đầy khủng long già và thấy họ chệnh chạng ôm chặt câu hỏi:

TA LÀ QUÁI GÌ?

rồi họ tự trả lời : ta là tá lả là tà là oai là oai là oai

 

đầu tôi nhức bưng bưng như ghạch ngói bị vỡ

 

cơ thể tôi cùng phản ứng mọi loại thuốc:

 

 

Dịch thuật

Tản văn thứ sáu

Nghệ thuật

Bàn tròn "Mĩ thuật đương đại Việt Nam đang ở đâu"

Mĩ thuật

Kiến trúc

Điện ảnh

Sân khấu

Âm nhạc

Tư tưởng

Triết học

Lịch sử

Tôn giáo

Các nhà nghiên cứu nước ngoài viết về Việt Nam

Phương Đông và Phương Tây

Văn hoá và phát triển

Chiến tranh nhìn từ nhiều phía

 

Văn học

Thơ và Thơ Trẻ

Văn học Việt Nam

Văn học nước ngoài

Các giải thưởng văn học

Giải thưởng Bùi Giáng

Lý luận phê bình văn học

Điểm nóng

Chính trị Việt Nam

Chính trị thế giới

Xã hội

Giáo dục

Kinh tế

Đồng tính luyến ái trong xã hội hiện đại

Thế hệ @

Pháp luật

Đời sống hiện đại

Thể thao

talaFemina

 

 

do chứng bệnh lì khó chữa:

 

cộng đồng + phe phái = lão hoá

 

 

Tôi cần một tổ chức

Bí mật đưa tôi đi [đi đâu cũng được]

khỏi nghĩa trang người sống

ngồn ngộn trên hố ke nóng hổi

họ mạnh khoẻ hơn tôi

liên doanh mục của họ lớn hơn tôi nhiều trong ngân hàng Khối Thịnh Vượng Riêng, ngân hàng nhiều lãi Tạp Chí Dơ

họ dính chặt với nhau qua những trương mục sinh lợi như Hãm Hiếp Bằng Văn Thơ, Điểm Oi Bức Chính Trị ngập họng

tôi thấy họ nhai không nghỉ trên miếng bánh giấy rộng như mặt khỉ

hàm họ to như toà nhà kiên cố, tống tin giật cốt, bí mật các nhà văn hưu trí, lợi tức của trò thọc gậy bánh xe [với thoả thuận sẽ thu nạp “câu hỏi đa phương đa chiều” vào bộ hàm đó]

 

Họ là những TA LÀ QUÁI GÌ biết khôn ngoan luồn lách trên sơ đồ Câu Không Dám Hỏi

 

Còn tôi thì đã dại dột thưa thốt

-không hợp thời  khi tự húc đầu vào mục nát của họ

 

Nên tôi muốn một tổ chức [tổ chảng, tổ quạ, tổ bố]

Bí mật đưa tôi đi

bằng xe cam nhông

đỏ [vì là màu sở thích]

chở tôi khỏi trận đồ TA LÀ QUẢI GÌ càng xa càng tốt

 

Tháng 4/05

Hà Lăng

 

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

(*) Giới thiệu sơ về TA LÀ QUÁI GÌ?

 

TA LÀ QUÁI GÌ? là một câu hỏi độc lập, mong đối diện những vấn đề của hiện thực Việt Nam bằng cách đặt chúng vào những góc nhìn [trộm, lén] của thế giới bên ngoài. Nội dung chủ yếu của TA LÀ QUÁI GÌ? là chuyển tải những câu hỏi[giữ nguyên dấu chỉ thay đổi nội dung] của văn hóa thế giới và những câu hỏi [tu từ] của trí thức quốc tế vào các tương quan Việt Nam. TA LÀ QUÁI GÌ? cũng là điểm gặp và cọ xát giữa câu hỏi TA LÀ QUÁI GÌ? và các câu hỏi khác như GÌ LÀ QUÁI TA? LÀ QUÁI GÌ TA? hay khác hơn nữa  MÀY LÀ QUÁI  GÌ?  NÓ LÀ QUÁI GÌ?

 

Nội dung các câu hỏi đăng trên TA LÀ QUÁI GÌ? luôn luôn phản ảnh quan điểm và thái độ của BBT TA LÀ QUÁI GÌ? Qua việc gửi câu hỏi đến TA LÀ QUÁI GÌ?, tác giả đồng ý với quyền làm ngơ [làm eo, làm lơ, làm le, làm vua] và quyền miễn đăng thiêng liêng của TA LÀ QUÁI GÌ?  Câu hỏi gửi riêng và đăng trên TA LÀ QUÁI GÌ? đêu mang dấu copyright L của TA LÀ QUÁI GÌ? Nếu muốn trích hoặc dùng lại tại nơi khác, xin gởi đơn xin phép tới BBT TA LÀ QUÁI GÌ? kèm theo các thông tin như số điên thoại liên lạc, số an ninh xã hội/chứng minh nhân dân, lý lịch gia đình dòng họ trước và sau ngày 30.4.75, một kí lô sự tôn trọng tối thiểu, và đừng quên số IP Address.

 

 

QUỲNH THI

LỜI  NÓI  THẬT  MUỘN  MÀNG  CỦA  MỘT  NGƯỜI  YÊU  NƯỚC

 

 

     Trong những ngày tháng tư . Tôi muốn viết một bài về biến cố kết thúc cuộc chiến tranh thảm khốc trên quê hương tôi . Thế rồi cứ nấn ná mãi , không biết nên viết như thế nào ? Khởi đầu bài viết ra sao ? Hay lại viết lên những điều mà mọi người đã nghĩ, đã viết ra từ 30 năm nay . Vẫn giọng điệu : Quốc kháng , quốc hận , bị đồng minh phản bội , bị bức tử với một đội quân hơn một triệu người . Sức mạnh đứng vào hàng thứ tư trên Thế giới . Thế mà phải buông vũ khí  chạy dài , từ Buôn mê Thuật , Pleiku , Nha Trang , Đà nẵng, Huế rồi Đà lạt , Long khánh , Biên Hòa cuối cùng là Sai gòn .

   

      Hơn ba mươi năm căm hận chỉ ngần ấy dữ kiện . Lập đi , lập lại như những bản nhạc vàng vọt rẻ tiền viết ca tụng lính chán ngấy mà  các phương tiện truyền thông nhai đi nhai lại vào các ngày lễ lớn kỷ niệm của Việt Nam Cộng Hòa trước đây . ( nếu không muốn nói là xúc phạm đến những người chiến sĩ VNCH  )

   

     Tất cả chúng ta vẫn chưa rút ra được một kinh nghiệm , một bài học nào về một cuộc nội chiến đẫm máu , tang thương vô cùng bi thảm , mà ai cũng biết là do hai thế lực ý thức hệ cầm đầu lãnh đạo,  kình chống nhau trên toàn cầu gần một thế kỷ đã trôi qua .

 

     Những người cầm quyền hai miền đã gặm nhấm những tủi hổ của kiếp bầy tôi được bọc bằng mỹ từ đồng minh , đồng chí sai khiến . Được dạy dỗ và được ban phát tiền bạc , lương thực và súng đạn , để hai miền bắn giết nhau gây căm thù giữa những người cùng chủng tộc .

 

     Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến nhà cầm quyền không có thực quyền tự quyết của Miền Nam Việt Nam ! Trong cuộc chiến với Miền Bắc Việt Nam vừa qua mà ai cũng phải cay đắng nhìn nhận . Nhưng họ đã không dám thẳng thắn nói lên sự thật với đồng bào , chúng ta bị phụ thuộc vào Mỹ . Mà có kêu lên xin cứu giúp viện trợ ( Nguyễn Văn Thiệu xin viện trợ kinh tế 300 triệu

vào cuối năm 74 ) cũng bị đấng quan thày lạnh nhạt khinh bỉ không hề lý tới . Đó là một thực tế phũ phàng mà họ phải cam chịu từ bấy nhiêu lâu nay , cho đến giờ đang sống lủi thủi những ngày cuối đời được bao bọc trên đất Mỹ .

 

     Những ngày sau khi các tỉnh miền Trung bỏ chạy vì thất thủ . Tôi còn nhớ như in giọng điệu của đồng minh Thế giới tự do , hay chính dư luận của truyền thanh , truyền hình Mỹ dấy lên luận điệu làm bộ lo sợ cảnh báo – Sài Gòn sẽ bị tắm máu – Sau khi Cộng Sản miền Bắc chiếm được

Miền Nam ! Sau đó khi Cộng quân chiếm được Sài Gòn rồi , thì có tắm máu hay không tắm máu  ai cũng đã rõ .

     Sự tiên tri cường điệu như thế không rõ họ có một ác ý gì ? Sau khi Việt Nam được thống nhất , được hoà bình và chiến tranh kết thúc .

 

     Chỉ thấy những ngày cuối tháng tư . Người Mỹ lại ra tay “ nghĩa hiệp “đưa đi di tản , hay đưa đi lánh nạn những tướng tá , viên chức cao cấp , những người có dính líu và quan hệ mật thiết với Mỹ trước đây .

       

     Sự hào phóng của người bạn đồng minh sau khi rút chạy khiến làn sóng người bỏ nước ra đi , lại một lần nữa đi tìm tự do ! Hẳn nhiều người còn nhớ năm 54 đã đi tìm tự do một lần , nhưng ngày đó đi tìm tự do ngay tại Việt Nam .

 

     Nhưng nay cái sách lược của người Mỹ lúc này được hoạch định sang một hướng khác , một ngã rẽ khác , tinh vi hơn , nhân đạo hơn . Mục đích là : Làm chảy máu chất xám Việt Nam sau

chiến tranh .

 

     Những con tầu lớn cứu vớt thuyền nhân , ngày đêm lởn vởn qua lại ngoài khơi quốc tế để đón những người ra đi bằng ghe thuyền . Cách khuyến khích thật là kín đáo tuyệt diệu và đầy lòng quảng đại của Thế Giới tự do . Đối với những người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam .

 

     Đây là lần thứ hai sách lược muốn biến Việt Nam thành một nước  ngu dốt lạc hậu . Vì người tài giỏi đã bỏ nước đi hết . Chúng ta tự hỏi : Trước đây như hồi năm 54 sao họ không ra tay nghĩa hiệp di tản cứu giúp những người muốn tránh tai ách của Cộng Sản đi lánh nạn ở các nước Phương Tây mà bây giờ mới động lòng thương xót ?

 

     Lần thứ nhất vào năm 72 khi Không quân Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc . Họ muốn biến Hà Nội và miền Bắc VN trở thành thời kỳ đồ đá .

 

     Lần thứ hai , họ cứu vớt người vượt biển , nhằm khuyến khích nhiều người bỏ nước ra đi . Họ muốn những trí thức , những người được đào tạo chuyên môn có bằng cấp đại học và những người giàu có  ra đi . Những mong VN sau này chỉ còn  lại những kẻ cơ hàn ngu dốt cho đáng kiếp người Chiến thắng .

 

     Nhưng cả hai ý đồ nêu trên đều bị thất bại và nó đã gây tác dụng ngược lại . Rất hữu ích cho Việt Nam bây giờ và sau này .

 

     Sau 3o năm . Gần 3 triệu người sinh sống ở nước ngoài . Cuộc sống của họ bây giờ  đã ổn định . Không những họ đã hội nhập mà còn thành công vượt bậc trên mọi lãnh vực . Nhất là những người trẻ thành công trên đường học vấn , so với nhiều sắc dân đã sống ở Mỹ nhiều thế hệ 

 

     Những người trẻ tuổi ViệtNam có năng lực học vấn , có bằng cấp cao . Đã được cất nhắc vào làm việc trong guồng máy của chính quyền Hoa Kỳ . Được mời làm Giáo Sư đại học . Họ được bầu vào cả Hạ Nghị Viện , Nghị viên các thành phố lớn . Nhiều người đã thành công trên thương trường .

 

     Nhiều năm gần đây những bạn trẻ đã tốt nghiệp các ngành chuyên môn ở các trường Đại Học danh tiếng Mỹ còn biết đem tài năng công sức , tiền bạc của họ  về quê hương đất nước giúp đỡ đồng bào . Đã có những nhóm Bác sĩ tài giỏi mỗi năm về nước khám và trị bệnh cho những trẻ em tàn tật và người nghèo khó ở các vùng xa thành phố . Đó là một việc làm cảm động đáng biểu dương vì họ đã bỏ thì giờ rất quí báu ở hải ngoại , thì giờ được nghỉ ngơi sau thời gian làm việc cực nhọc . Những hạt nhân tốt lành đó , sẽ là những người lãnh đạo mai sau để đưa đất nước đi lên thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu , khi Cộng Sản không còn hiện diện .

                 

                          *

     Kỷ niệm ngày 30- 4 năm nay , có một ý nghĩa lớn hơn ngày này những năm về trước đối với đồng bào cả nước . Vì nó đã có một thời gian dài hơn một phần tư thế kỷ để nhìn lại .

   

     Chắc  chắn với nhiều người sống ở Miền Nam , đây là một kỷ niệm đau buồn nhiều hơn là hân hoan đón nhận . Đa số gọi ngày 30 – 4 là ngày Quốc hận , là ngày mất nước . Trong lúc đất nước đã thống nhất sờ sờ ra đó . Lớn lối nhất là những người có địa vị trong chính quyền , trong Quân Đội , những người làm giàu nhờ vào chiến tranh nhưng không biết chiến tranh là gì .Không biết cuộc chiến thảm khốc bắn giết đẫm máu đến ngần nào . Họ sống phây phây ở những thành phố lớn , ăn chơi phù phiếm thỏa thuê . Tiền của thừa mứa . Con cái tới tuổi đi lính thì được gửi gấm ở những quân trường . Nhiều người chẳng cần phải đi huấn luyện , hết thời gian học tập mãn khóa . Nếu là Sinh viên Sĩ quan hay Hạ sĩ Quan cũng được gắn lon mang cấp hiệu hẳn hoi , rồi được bố mẹ của họ ( những ông bà lớn ) gửi gấm vào những binh chủng chuyên môn không phải đi tác chiến của quân đội hay họ được cử vào làm văn phòng các bộ tư lệnh ở xa chiến trường . Cứ đến kỳ hạn thì lại được thăng cấp . Nhiều vị sĩ quan từ lúc ra trường là Chuẩn úy , dăm năm sau lên đến Đại úy , Thiếu Tá cũng chẳng biết chiến tranh là gì ! Tôi đã lên cơn buồn nôn và ghê tởm nhiều lần khi thấy những vị cựu Sĩ Quan thành phố , trước đây đã sung sướng ở Việt Nam chẳng biết viên đạn súng ống là cái quái gì , chẳng biết đánh đấm ra sao cũng  chẳng biết tên Việt Cộng mặt mũi như thế nào . Sang  bên Mỹ cũng gân cổ kêu gào chống Cộng . Kêu gào chiến tranh phục quốc . Kêu gào giải phóng quê  hương đất nước ! Không đội trời chung với Cộng Sản . . . !

   

 Các vị Tướng Tá . Các bộ trưởng , công chức cao cấp của VNCH . Hãy tỏ ra là  một người có

chút liêm sỉ , hãy tự vấn lương tâm mình , xem những điều tôi nói trên có đúng sự thực hay là tôi vu khống ? Tôi thách đố sự lên tiếng của quí vị . Nếu quí vị cho tôi là võ đoán xuyên tạc để làm lợi cho Cộng Sản . Đó là tôi chưa kể ra , số đông quí vị Tướng Tá trong nhà lúc nào cũng có cả tiểu đội lính hầu , lính kiểng . Thậm chí cấp số lính hầu lên đến trung đội trở lên ở những dinh Tư lệnh . Còn lính ma thì rất nhiều hầu như tỉnh nào cũng có . Quân đoàn nào cũng có . Số quân thì có , số người hiện diện thì không . Lấy ai  ra tiền phuơng chiến đấu ?để mỗi tháng số tiền lương lính ma vào túi các vị chỉ huy , rồi các chỉ huy đem nộp cho ai thì những sĩ quan trong các ban tài chính biết rõ hơn tôi và biết rõ hơn  mọi người .

 

     Tôi đã từng chứng kiến người ta mua bán bằng cấp (đi thi được chấm đậu ). Mua chỗ ngồi , chỗ làm việc trong Quân Đội ngay từ lúc người tân binh mới vào quân trường thụ huấn . Giá cả mua bán khác nhau tùy theo giá trị binh chủng chuyên môn .

 

     Thi đậu vào học trường đại học quân y giá 800 ngàn trở lên . Thi đậu vào trường sĩ quan Cảnh sát ( Biên Tập Viên mang cấp bậc đại úy ) 500 ngàn . Còn vào các ngành như quân cụ , quân nhu quân Cảnh  từ ba bốn trăm ngàn trở lên . Muốn đi du học để trốn lính , họ đòi 1 triệu đồng . Đương nhiên là đương sự phải hội đủ tiêu chuẩn về bằng cấp . Học xong khi ra trường muốn ở

gần nhà hay được phục vụ ở những thành phố lớn thì phải trả thêm tiền hay phải quen biết với

những ông lớn .

 

     Những trường chuyên môn, nói cho công bằng họ cũng dành ra một số chỗ cho những người trước đây được đào tạo đã tốt nghiệp chuyên môn như : y khoa , quốc gia hành chánh , Kỹ sư Phú Thọ v.v. . . chứ không phải là  không . Nhưng khi cuộc chiến càng dữ dội , chết chóc càng nhiều ngoài chiến trường , thì muốn chuyển về những đơn vị không tác chiến càng khó khăn . Càng phải tốn nhiều tiền cha mẹ phải biết tìm chỗ lo lót hay phải quen biết lớn để nhờ cậy , mua chuộc . Thậm chí muốn làm lính nghĩa quân cho gần nhà phải khó khăn lắm mới tìm được đường giây và trả một số tiền 300 ngàn đồng . Lúc đó giá vàng là 15 ngàn đồng I lượng vàng 24 k . thời điểm cuối những năm 60 .

   

    Tôi kể sự thực mắt thấy tai nghe ra đây để lũ bịp bợm trộm cướp hợp pháp , đầu cơ xương máu chiến sĩ đồng bào làm giàu trong chiến tranh stop bớt hung hăng láo khoét , đừng gây thêm tội ác với dân tộc và đất nước tác hại đến những bạn trẻ sinh ra sau chiến tranh nhập nhiễm lòng căm thù dân tộc . Có nguy cơ tạo ra một cuộc nội chiến mới sau khi Cộng Sản xụp đổ , nguy hại đến sự hưng vong của đất nước sau này .

 

     Những điều kể trên đập vào mắt vào tai  những người có lương tri , những người trẻ tuổi , những Sinh viên học sinh chúng tôi đang khao khát niềm tin và hy vọng , làm sao tránh khỏi sự phẫn nộ và chống đối trong lúc cuộc chiến càng ngày càng ghê gớm , càng dữ dội , mỗi ngày càng có thêm người chết hết sức tàn khốc và nguy khốn .

 

  Một bên thì quân cộng sản miền Bắc mỗi ngày mỗi gia tăng cường độ tấn công , xâm nhập . Một bên thì quân đồng minh mỗi ngày mỗi đổ bộ đông thêm . Tất cả hai bên như đổ thêm dầu vào lửa sự tàn ác giết chóc . Lệnh tổng động viên ban hành , sinh viên hoc sinh hết lớp này đến lớp khác phải nghỉ học nhập ngũ . Nhiều người bị săn đưổi vì xuống đường biểu tình chống chiến tranh , họ phải nhảy vào bưng vào rừng , gia nhập hàng ngũ phía bên kia . Căm thù giưã người Việt Nam với nhau không bút nào tả xiết .

 

       Những bất công tham nhũng thối nát lan tràn ở khắp  mọi nơi , không khác gì Việt Nam thời Cộng Sản bây giờ .

 

     Tướng tá tranh giành quyền lực thanh toán giữa các phe nhóm , binh chủng . Nhiều kẻ làm  tay sai cho ngoại bang . Hết đảo chính này đến chỉnh lý khác . Mạnh được yếu thua . Quốc gia mất hết kỷ cương . Chính quyền do quân đội nắm giữ và khống chế các cơ quan dân cử .

 

     Bên ngoài mặt trận chỉ trông chờ vào sự yểm trợ của đồng minh và viện trợ Mỹ là chính . Ruộng đồng thì bị bỏ hoang nông dân ở nông thôn phải đi lánh nạn . Trong một tình hình như thế . Những người yêu nước . Những người phải cầm súng đi chiến đấu , ai lại không muốn chiến tranh cấm dứt .

 

Trường Đại Học Sài gòn , sinh viên bãi khóa lấy làm tụ điểm biểu tình đấu tranh . Các chùa chiền của Phật Giáo đưa cả bàn thờ Phật xuống đường , chống quân phiệt độc tài đàn áp tôn giáo . Chống quân đội ngoại quốc chiếm đóng . Tất cả sôi sục lửa căm hờn  . Chẳng còn biết tương lai , chẳng còn biết đất nước sẽ đi về đâu ? Cuộc sống rồi sẽ ra sao trong lúc quân trường đang mở rộng để đón chờ họ .  Những con thiêu thân vô tội , các đơn vị tác chiến mọi binh chủng đang trông đợi để quăng họ vào lửa đạn , làm mồi cho những mặc cả , những tham vọng trên bàn hội nghị . Họ sẽ được bơm vào đầu vào trái tim hai chữ yêu nước , phục vụ đất nước . Chiến đấu cho tự do dân chủ , đánh đuổi CS  “ xâm lăng “. Cái loa tuyên truyền bao nhiêu chục năm ra đến hải ngoại vẫn còn được khuếch đại thêm chưa chán .

  

  Những trí thức trẻ thét gào ngày đêm xuống đường > Hoà bình ơi , hòa bình ơi hãy đến >. Tiếng van xin đó , vào những năm đó là những lời kinh tuổi trẻ . Những lời tâm nguyện thống thiết nhất luôn nở trên môi họ . Nhưng nào có ai nghe . Họ còn bị gán cho tội Phản Chiến ! Mà phản chiến thiệt đi chứ . Chiến tranh giết bao nhiêu triệu dân lành . Bao nhiêu triệu thanh niên hai miền mà không phản thì yêu thương nó được sao ?

    

 Ai lúc đó có về những vùng nông thôn , những nơi hẻo lánh xa đô thị mới thấy được những cảnh thương tâm đau lòng . Cảnh máu đổ thịt rơi . Mới thấy được sự phân hóa tình cảm của con người vì chiến tranh . Cảnh nồi da sáo thịt giữa hai miền Nam Bắc . Thường họ phải sống cảnh ban ngày thì quốc gia , ban đêm thì Cộng Sản . Con đứa bên này chống lại con đứa phía kia . Anh em bắn giết nhau , ruộng vườn tan nát hố bom hố đạn . Không ai sản xuất , lương thực đã có gạo Mỹ viện trợ . Chưa kể cảnh xách nhiễu đánh đập tra tấn , hãm hiếp phụ nữ triền miên xảy ra mỗi ngày khi có hành quân , giáp chiến hay họ làm nơi đóng quân . Nói làm sao cho hết những tang thương do chiến tranh gây ra thời đó . Ước nguyện thời đó là làm thế nào để chiến tranh chấm dứt nhanh chóng . Bên  nào chiến thắng cũng được . Đó là lời nguyện xin của mọi người .

 

      Thế rồi hòa bình cũng phải đến , chiến tranh cũng phải kết thúc , phải đội nón ra đi . Khi nó ra đi cũng phải có người thắng kẻ bại . Đó là một qui luật . Dù sao ngày ấy cũng là một ngày đáng ghi nhớ . Ngày vui mừng của dân tộc . Chứ sao lại nói là ngày quốc hận ? Tuy nó là ngày miền Nam mất về tay Cộng sản . Sự mất mát đau buồn chẳng ai muốn phải rời quê cha đất tổ , phải bỏ nước ra đi . Chẳng ai muốn sống dưới ách độc tài của họ . Nhưng đó cũng chỉ là một giai đọan nhất thời . Chế độ nào cũng chỉ tồn tại một thời . Nếu họ làm mất lòng dân , thì sớm muộn gì chế độ cũng phải xụp đổ , phải bị thay thế .

   

  Đảng CS trong chiến tranh chống ngọai xâm đã tỏ ra là một mặt trận yêu nước . Nó có sức quyến rũ và thu phục nhiều người . Đáng tiếc là khi đã chiếm được miền Nam rồi . Những người Cộng sản  không làm đúng lời hứa . Nếu họ giữ lời hứa sau khi họ tiếp nhận bàn giao từ tay Dương Văn Minh là Chính sách đại đoàn kết dân tộc , xóa bỏ hận thù của đảng và Nhà nước CS. Lúc họ kêu gọi quân đội , viên chức chính phủ cũ ra trình diện cách mạng để được hưởng khoan hồng . thì nay đất nước đã có cơ may giũ bỏ bớt được lòng hận thù để cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh .

 

     Ủy ban quân quản Sài Gòn cũng hứa hẹn kêu gọi mọi người mang lương thực và đồ dùng cá nhân đi học tập 30 ngày . Nhưng sau đó chẳng ai biết là họ phải đi bao nhiêu ngày . Bao nhiêu tháng . Bao nhiêu năm trong tù cải tạo . Nhiều người đã bị đày đọa , bị trả thù cho đến chết . Khiến lòng căm phẫn đến nay khi họ ra khỏi tù và đã sang được Mỹ vẫn còn bốc cao ngùn ngụt . Nên bây giờ chúng ta không lạ và hỏi tại sao những người HO thù giai đến thế , và sao họ không bỏ qua , cái đã không tìm lại được là một điều dễ hiểu và dễ tha thứ . Vì tất cả mọi người đã không bao giờ còn tin vào lời nói của những người ở Bắc Bộ Phủ dối trá , thâm độc đang cầm quyền sinh sát ở Việt Nam .

   

 Nhất là  khi hòa bình lập lại . Nó đã phản bội lại quyền lợi của tổ quốc và dân tộc . Cộng Sản đã không còn phù hợp với lòng dân ,với tiến trình và phát triển thời đại . Đã bị thế giới xóa bỏ , lật đổ . Tư tưởng Macxist Leninist đã bị quăng vào thùng rác của nhân lọai . Chỉ còn một số ít người , một số quốc gia vì  quyền lợi cá nhân muốn duy trì như ở Việt Nam chúng ta hiện nay đó là một bất hạnh . Một mất mát lớn cho dân tộc Việt Nam .

 

     Cách đây dăm năm , tôi có viết xong một quyển Trường  ca trên 2000 câu và đã được Tạp Chí Thơ xuất bản . Quyển Trường ca có tên là Mùa Chuộc Tội . Tôi cho rằng trong cuộc nội chiến vừa qua . Cả hai bên đều có tội với đất nước và đồng bào . Tôi cũng nghĩ rằng mọi người cần ngồi lại  đối thoại với nhau , để tìm ra một hướng đi mới có lợi cho dân tộc .

                                                                          

                                                                           Houston ngày 30 – 4 – 2005

                                                                                        QUỲNH THI

 

VŨ CÔNG LÝ

Chuyện Dài Bolsa *

(chuyện nhiều kỳ của tuần báo VietWeekly, phố Bolsa, Nam California)

Thuyền ai một chiếc cuối sông!
Người đi áo mỏng chiều đông lạnh lùng...
Mây sầu giăng mắc không trung
Mờ xa hư ảnh một vùng nước trôi...
(Hư Ảnh - Nguyễn Thanh Huy)
...
Lên non khơi ánh lửa,
Cánh hạc vẫy trăng tà.
Đêm một mình thao thức,
Bỗng dưng nghe tiếng gà...
(Trăng Tà - Nguyễn Thanh Huy)


Vũ Công Lý thành thật cảm ơn nhà báo, nhà thơ Nguyễn Thanh Huy đã thân tặng hai bài thơ “Hư Ảnh” và “Trăng Tà”. Rất xúc động khi thấy thi sĩ, mặc dù thỉnh thoảng mới gặp gỡ nhưng đã hiểu phần nào tâm tư của tôi. Gần đây, tôi được may mắn thưởng thức những bài thơ khác của thi sĩ như: Mưa Tháng Chạp, Người Về, Thiêng Đất, Khí Phách, Thềm Hoang, v.v... trên trang nhà của Thi sĩ Trần Trung Đạo. Tôi rất mê giọng đọc thơ, ngâm thơ ấm áp, truyền cảm của những người dân xứ Quảng như ông, Thi sĩ Thái Tú Hạp, Họa sĩ & Thi sĩ Hồ Thành Đức, Thi sĩ Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn) v.v...

Ca sĩ Cao Thái mới khoe tôi lá thơ mà Tài tử Thẩm Thúy Hằng (mà trong một bài viết đăng trên tờ Sàigòn Nhỏ, cách đây khoảng 3 tháng gọi là “Thâm Thúi Háng”)... gửi cho anh hồi đầu năm. Nội dung như sau:
“Đầu xuân (Ất Dậu) Hằng viết vài dòng thơ gởi Anh Cao Thái vừa là đạo hữu vừa như Anh Cả nhiều năm. Hằng mong anh hoan hỷ. Nhựt Phượng Th. Th. Hằng.
Cao vút tên anh khắp Á Âu
Thái sơn chất ngất chứa tình sâu
Bạn bè đạo hữu đều thương nhớ
Của tạm chẳng cần, chẳng luyến lưu
Tất cả gởi trao, gởi tiếng cười
Cả hồn mong mỏi vạn người vui
Mọi điều hỷ xả... không mà có
Giới luật do tâm, chẳng thỉnh cầu.
Đầu Xuân 2005”

Ta bỗng sợ những bài thơ đã gởi
Còn có ai giữ lại để làm tin
Thơ đôi dòng theo nước mắt van xin
Có bận bịu đoạn đường Anh đi tới?

Đời thênh thang vũng sầu ta vời vợi
Hai mảnh đời riêng rẽ nôãi niềm nhau
Đoạn bên này tiếp nối những cơn đau
Ray rứt nhớ sầu theo người mất hút.

Tiếng âm vang tự tình xưa bay vụt
Nơi tinh cầu vô vọng gọi tên Anh
Thơ mất vầng nghiệt ngã phủ rêu xanh
Tìm hơi thở lạc vòng tay biền biệt.

Anh có nhặt dấu hồn ta tha thiết
Vài giọt nắng chiều nhàn nhạt ngả nghiêng
Đêm òa lên tiếng giun dế đảo điên
Tấu khúc nhạc tiễn tình ta đang chết.

Ôm ấp ấy bỗng đi rồi chợt hết
Lòng bẽ bàng than thở trôái trăn nhau
Trăng võ vàng nhuộm tím cuộc tình đau
Trăng thổn thức mộng gieo hồn tuyệt vọng.
(Kim Hạnh lại Gởi Anh nữa...)


Lại một lần nữa, Thi-nhái sĩ Dzũ Công phải trân trọng tiếp nhận những vần thơ ướt sũng nước mắt của Thi sĩ Kim Hạnh. Trong bài thơ đã đăng trong số báo trước, hai câu:


Người dửng dưng khép kín cửa tim lòng
Ta cúi mặt nghe đất trời bất động.
... đã làm cho bần đạo chết cứng toàn thân. Rôài trong bài thơ này, hai câu:
Đêm òa lên tiếng giun dế đảo điên
Tấu khúc nhạc tiễn tình ta đang chết.


...lại khiến cho bần đạo đâm ra căm hận thằng đực thối thây nào đó đã gây ra thảm trạng hết sức bi ai, não nùng:


Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm, gieo sầu đâu hay!


- Sao đang nói về Văn Chương, Văn Hóa mà sư huynh lại dơ chôåi cùn chỉ dùng để quét cứt gà ướt nhẹp mà quệt thắng vào khuôn mặt lam nham lở nhở của Khúc(củi) Thụy - Du, một cặp vốn đã dị hình dị dạng được liệt vào thứ ‘ngoại khổ’ mà những tên ‘yếu bóng vía’ chuyên ‘núp bóng quần thâm’ cho rằng nhãn hiệu ‘Song quái cầu bại’ chứ không phải ‘Độc cô cầu bại’ mới chính xác để miêu tả (tả về con miêu, con mèo... gào đực) về song quái lộn giống lộn hột này.


- Bề gì thầy cũng đang khoác áo cà sa, đột lốt tôn giáo, cũng nên cẩn thận về ngôn phong, không sợ khẩu nghiệp, cũng phải biết dè chừng máu thâm thúy, ý quên thâm... độc của bọn chúng. Thâm từ trong ra ngoài, hiện rõ trên làn da, đặc biệt ở căëp môi, càng tô hồng tô đỏ, càng thâm đen như mõm chó, đen hơn cặp môi... đứng dọc ở hạ thể, đôi lúc chuyển sang màu xanh tái nhợt nhạt như đôi môi xác chết chìm mới được vớt lên bờ.
- Sư huynh biết thế, lo cảnh giác cho tui mà sao sư huynh không biết lo sợ cho bản thân, có vẻ như không coi ai ra gì! Bộ trên đầu sư huynh không có ai sao?
- Đù... đù... ngựa Thầy! Thầy làm tôi muốn nổi khùng! Tôi sợ củ c... tôi nè! Tôi tưởng thầy là kẻ hiểu biết, mà sao mở miệng lập lại như một con vẹt luận điệu nhảm nhí của bọn trí thức trí ngủ hèn hạ nhát nhúa! Bi, Trí, Dũng để đâu? Vô Úy Thí cất vào xó nào! Thử hỏi trên đầu thầy hiện giờ đang có ai ngồi trên đó? Thầy trả lời tôi đi!


- Đâu có ai, mà cũng không có tóc, lâu lâu có con ruồi, con muỗi, con nhặng xấu số thấy đầu tôi trơn láng tưởng bở là mỡ, là bơ... nên mới hạ cánh đáp xuôáng để kiếm chút chất béo, bị trợt chân té cái bịch xuống đất chết giấc... Mà kỳ hé! Sao đầu trọc của tôi lại vô tình tạo sát nghiệp... Mà trên đầu của những thiện nam tín nữ đến chùa, tôi cũng chỉ thấy có tóc, họa hoằn có người đội thêm nón che nắng, hoặc bộ tóc giả để che phủ thảm trạng nô he... rồi chỉ còn không khí bao quanh chứ... đâu có ai!


- Thầy thấy không, cõi Tà-bà chó má này nó như thế đấy. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ chúng không đội lên đầu tôn thờ, đem ném vào nhà dưỡng lão, mà lại nâng cao trịnh trọng đặt ngồi lên đầu, toàn những tthi sĩ dỏm, nhà văn dỏm, chủ báo nặc nô hợm hĩnh, chẳng khác gì con đượi thúi quắc rồi hí hửng, vênh váo với thiên hạ rằng ta có con mắt tinh đời, biết lượm ra thiên tài thi ca, thiên tài làm báo từ đống giòi trong bãi phân. Mà địt bố cả lò những thằng những con có mắt mà thong manh, chúng muốn đội ai, đó là quyền tự do của chúng nó, vì mả nhà chúng nó động... nhưng sao chúng lại chạy đôn chạy đáo cố gắng đi bỏ nhỏ, khuyên can, nhắc chừng người khác cũng nên hành xử ngu muội như chúng nó... Còn thầy nữa, Phật thầy không chịu đội, lại đội biết bao nhiêu thanh củi.


- A Di Đà Phật! Sư huynh đừng nói quá, mặc dù tôi xuất thân từ gia đình nghèo khó, thân nhân tui phải làm đủ thứ việc lặt vặt mà chưa đủ cầm hơi qua ngày. Bản thân tui từ hôài nhỏ xíu đã phải xa gia đình nương nhờ cửa từ bi mới có miếng cơm, miếng rau lót dạ. Dĩ nhiên tui lao động như mọi người khác trong chùa, phải bửa củi, chất củi vào góc sân, nhưng chưa hề đội thanh củi nào trên đầu... trọc của tui!


- Tôi thật sự thấy thương, yêu... cái thật thà của thầy. Nếu như tôi nói đầu trọc lóc của thầy đã nhô lên vài cái sừng, đã mọc sừng, đang đội sừng, có lẽ thầy hiểu ngay. Nếu thầy chịu khó đọc tờ Sàigòn Nhỏ, đã biết rằng những kẻ như thầy đều được mụ nhà quê Đào nương xưng tụng là “Anh Hùng Đếm Củi” trong mục Phiếm Dị!

      
- Thảo nào mà tên tuôåi của bả lại lừng lẫy quá xá quà xa trong “chỗ gian nhân không thể hiêåu” chỉ có “bọn gian nhân mới có thể hiểu!” Theo tui, làm báo chỉ là để kiếm cháo, nhưng ‘sừng’ mà gọi là ‘củi’... quá siêu, đi sát với dân gian, chịu khó bước từ tháp ngà ‘chữ nghĩa’ xuống để hòa mình với quần chúng nghèo khổ vẫn phải nấu bếp bằng củi! Thiệt đúng là bả chịu khó kiêm nhiệm thêm nghề làm văn để thực thi thiên chức “văn dĩ tải đạo’, để cố gắng duy trì phong tục tập quán, phát huy dzăng hóa dân tộc như bả đã từng viết khuyên răn nhắc chừng những người hành nghề truyền thông khác... mà còn làm phong phú thêm, bổ túc thêm vốn liếng “chữ nghĩa bề bề” của Thi sĩ Du Tử Lê Táo Bón là người đã từng một thời đi ngang cát rẹt qua đời bả mà mồm cứ lẩm bẩm như bị quỉ ám: “Vì sao? Và vì sao?...”


- Vì sao? Vì sao... cái mả... thơ văn của nó! Cứ vờ vịt mãi, thì “tay anh lạnh, thân anh run, chân không vững” tức là đã ‘hết xí quách’ chứ còn gì nữa. Có thế mà cứ làm dáng mãi! À, mà tôi thấy từ nãy giờ, thầy cũng bắt đầu bạo mồm bạo miệng rồi đó! Chẳng thà như thế, tôi không ưa những đứa thích làm màu làm mè, quen làm mình làm mẩy. Thầy nói không sai, tên (tuổi?) của bả quá ‘lừng lẫy’ vì bả ‘lừng’ với thiên hạ không được, lại giở quẻ ‘làm lẫy’ theo kiểu ‘em chả’, nằng nặc sê nô, (say no) trong bụng em thèm muốn chết nhưng miệng đong đỏng: ‘em chả, em chả... em chả thèm vào. Củi em thiếu gì, em thường đếm củi mệt nghỉ, rồi đem chất kín hai ‘khu’ dzồi!... Ối dào ơi! Ai có thèm mặc kệ họ, chứ ‘tiểu thư con gái thằng của’ như em đây, chả thèm vào!”


Em tên gì? Em tên... chi?
Cho tui biết quí danh em tên gì?
Tui tên gì kệ cha tui
Anh thét mét tên tui làm chi?
Cô tên gì? Đào Nương ơi...
Cho “wua” biết tính danh em là... gì?
Tui tên gì mặc cha tui
Anh thét mét cái “lôn” tui làm chi?
...
Cô ở đâu mà bán cái “lôn”
Chẳng hay “lôn” ấy hết hay còn
Xuân xanh nay được bao nhiêu... củi
Đã chất chồng chưa, được mấy con?
...
Tôi ở thành Cam bán cái “lôn”
Cớ sao ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh nay độ dăm ba... củi
Cứ trả tiền “fee” sẽ có “lôn”.


Chỉ do hai chữ “Sừng” và “Củi” mà thầy lại bắt chước bọn văn chương thi phú nửa mùa, mở miệng ca tụng bả như một người có lòng với văn hóa dân tộc... Tôi thấy thầy dễ ‘mất xác’ như chơi với bọn giả hình đó, mở miệng tuôn chữ tuôn thơ nhưng lại rất thực tế, rất trần... tục, rất tục... tằn! “Sừng” to gốc rồi nhỏ dần đến đầu nhọn hoắt dễ làm lủng “tử cung” mà không thấy ‘phê’ chẳng khác gì ‘đuôi chuột quấy hũ mỡ... ngựa bà”. Còn “Củi” thường không chuyển dạng từ gốc quá to đến đầu quá nhọn như thế, kích thước bề ngang không chênh lệch cho lắm, mà lại ăn tiền ở những “khấc” lồi lõm, xấu xí trông “không giống ai” nhưng lại làm mấy mợ chết... ngất! Sừng đắt hơn củi nhưng chỉ có giá trị trang trí cho vui mắt, còn “củi” mới là “đồ cầm chơi” có giá trị... liên thành!


Nhưng từ “Sừng” sang “Củi” cũng là văn hóa, không phải văn hóa dân tộc mà là văn hóa nhà thổ, vì ‘văn’ là nghe, ‘hóa’ là ‘biến’, nghe ‘sừng’ hóa ngay thành ‘củi’, không thèm xài nguyên bản, không phải thứ bò nhai lại, mà nhờ khéo biêán hóa mới phát huy tính sáng tạo. Con người ‘kém văn hóa’, ‘thiếu văn hóa’ là nghe thiên hạ nói gì cứ nhắm mắt tin là phải, là đúng, rồi cứ y theo đó mà hành xử theo thành kiến (ý kiến đã thành hình trong đầu)...


Mà tôi thấy thằng lỏi  đó, nó là con người đầy ‘văn hóa’ vì sau khi nghe Du Tử Táo diễn thuyết, nó biến hóa những điều đã nghe thành những động tác đầy thi vị trên giường với bà tình nhân tình thú của thầy. Mỗi lần gần gũi với bả không phải chỉ là sự cọ xát vội vã giữa hai làn da, mà là một phim có cốt chuyện hẳn hoi, hết sức ngây thơ, lãng mạn... Thầy thử tưởng tượng coi, bả đang nằm trần truồng tênh hênh trên giường, toàn thân trắng toát như một con heo cạo sắp sửa bị xẻ thịt trong lò heo Chánh Hưng:


Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên.


Nó từ trong phòng tắm từng bước từng bước đến gần cái giường, đôi mắt trợn tròn ra điều ngây thơ chỉ ngón tay vào hai bình sữa thiu của bả hỏi:


Ô kìa! cái chi nó lạ rứa tề?
Có phải... mả mệ nằm kề mả ông?
(Nguyễn Vũ Trường Sơn – cựu Chủ bút tờ báo Lính)


Bất chợt nghe giọng Huế rặc của nó, bả chịu không nổi ôm bụng cười sằng sặc, rồi vùng lên vít cổ nó xuống, ghì đầu áp mặt nó vào cặp bưởi Biên Hòa, hai cái mả mệ, mả ông của bả rồi chu miệng rên rỉ:


nhớ cây vú sữa hiên nhà
nhớ ta chú tiểu thiệt thà... biết yêu.
(Du Tử Lê)


Mấy phút sau, có lẽ ngộp thở, nó vùng mạnh khỏi vòng tay hộ pháp của bả, đứng bật dậy rồi dơ tay rà rà từ hang Pắc-Bó lên tới rún, lên tới cằm rồi dừng ở đường rẽ ở mái tóc xõa của bả:


Bồ Tát! Trời ơi gan ruột tôi
phơi từ chánh-điện tới đường ngôi!
(Du Tử Lê)


- A Di Đà Phật! Thằng đực mất dạy, sao nó dám gọi quân trốn chúa lộn chồng là Bồ Tát, lại còn dám ví von ‘mả mẹ’ của nó với chánh điện! Bá Ngọ thằng chó đẻ đó, tui mà gặp nó là tui dọng cho nó sặc gạch, tui sẵn sàng liều mạng cùi hy sinh cho Đạo pháp.


- Khoan nóng! Tu hành gì mà còn sân giận quá chừng! Thầy đâu phải Tổng Thống Bônsa Cung Củ Đậu đâu mà hở một tí là đòi loi người này, dọng người kia. Hay là thầy giả vờ nổi nóng để hù khéo tôi, nếu thầy có mánh láu cá đó, tôi báo đời cho thầy biết để bỏ thói rởm đó đi... Ông Cung đã từng dọng nhiều thằng nhưng rất khiếp hãi tôi, nhìn thấy bóng dáng tôi từ đằng xa đã run lên như cầy sấy rồi, vì tôi thông thạo môn sờ sờ, nắn nắn rồi bất thần đâm thẳng vào “tử huyệt!” Tôi đã nói thầy rồi, thằng lỏi tình địch của thầy nó chỉ thuộc mấy chục câu thơ để chinh phục giống cái thôi, hai câu đó đâu phải nó sáng tác mà nó học thuộc từ thơ của Đại Dzăng Hào Du Tử Táo đó. Thầy dám wuýnh lộn với người tiêu biểu cho nền văn học thi ca ở hải ngoại không? Người mà Đào Nương xưng tụng là một “tên tuổi lẫy lừng cho hậu thế trong thi ca, trong báo giới...” Nguyên Sa đã bỏ đi rồi, để lại ‘áo thụng không làm nên nhà thơ’ mà không chính thức truyền “y” bát cho ai, nên bấy lâu nay mắt hắn lấm la lấm lét quan sát động tĩnh của thiên hạ, chân âm thầm nhích từng bước đến gần áo thụng đã rách bươm rồi nhặt lên phủi bụi nhưng vẫn không dám khoác vào vì sợ mang tiếng ‘cuồng danh’, phải có thật nhiều bài viết nữa tán tụng công lao phổ biến thi ca ở các đại học Huê Kỳ, hắn mới vững bụng.


- Mô Phật! Thiện tai. Tui tưởng là nó sáng tác, chớ tui đâu có ngờ là Thi sĩ Du Tử Lê. Tôi đâu có dám, nếu tôi dứt điểm Du Tử Lê, còn ai có can đảm đi giảng thuyết thi ca ở các đại học khắp vũ trụ này cho các sinh viên Việt Nam học hỏi về tiếng Việt.


- Thầy đừng lo cho hậu thế, ít ra cũng còn đệ tử ruột là Ngụy Vũ... Tác phẩm thơ văn của Du Tử Lê sau khi in ra nhờ giáo sư Đỗ Đình Tuân dịch ra Anh văn dùm cho. Còn trước khi đi diễn thuyết, khúm na khúm núm cong lưng nở nụ cười cầu tài toe toét năn nỉ ỉ ôi giáo sư Lê Chính Long, trùm Anh ngữ ở vùng Bônsa Chí Cả (Bolsa Chica) viết bài, rồi mang về đứng trước gương làm dáng tụng đi tụng lại cả tháng cho nằm lòng, cho nhập tâm... chứ Anh văn thuộc loại quơ quào hai tay, đâu có được nhuyễn nhừ như Bùi Bảo Trúc, tiếng Pháp hoàn toàn “ná đá ná đá” đâu có nhuyễn nhừ bằng Nguyễn Xuân Nghĩa, mà hai dị nhân này lại là hai kẻ tử thù không đội trời chung với mụ nhà quê Đào Nương, kẻ luôn ưỡn ngực ra điều ta đây là “Tiểu Thư con gái nhà ai?”.


Nhưng mà thầy cũng nên giữ mồm giữ miệng, thi sĩ đó có máu thù dai lắm, hồi xưa làm tờ báo Tay Phải, hắn nổi danh với chủ trương: “Văn dĩ tải đạo, Báo dĩ tải gạo!”.Viết văn chuyển tải đạo lý, còn mần báo vận tải cơm gạo! Những tờ báo đánh đấm giờ này không ăn thua gì so với tờ Tay Phải hồi xưa, tay phải lụi, tay trái lượm. Hôm nào rảnh tôi viết lại chi tiết cho thiên hạ thấy. Tụi làm báo nó láo lắm, thích quậy là tha hồ quậy, khi nó tạm ngưng là muốn thiên hạ phải để yên cho nó, làm như nó là nhạc trưởng đang điều hành một dàn đại hòa tấu. Hễ ai nổi hứng khơi những chuyện chó má hôài xa xưa ra, nó than phiền thế này thế nó. Xui xẻo cho bọn chúng là tui còn ‘hiện hữu’ ở vùng Bônsa bát nháo này, những chuyện cả trăm năm tui còn nhớ trong đầu, tụi nó khó mà ngủ yên. Bây giờ tới phiên tui quậy, tụi nó phải hiểu: “Khi Lý đã phang, rừng tàn núi lở!” Những người hiểu rõ gan ruột tôi, chẳng hạn như Bác sĩ Cam Vũ đã mắng: “Ông già đầu rồi mà sao lúc nào cũng nghịch ngợm được... Cứ thò cây gậy vào đống cứt quấy cho nó thối hoăng lên!...”  Sao bác sĩ nói đúng phong phóc thế! Tôi luôn nói và viết theo kiểu ngẫu hứng, theo ‘phong cách’ inpromtu, hết hứng ngưng ngang ngay, ai có nói gì cứ tha hồ nói, riêng tôi lại âm thầm ‘ra đi khi trời vừa tối’, ư ử câu hát “thằng bé âm thầm chui vào ngõ hẹp” hưởng thú phong lưu, âm thầm trau giồi võ công “âm hộ chấn giựt pháp”...


Tôi cũng không hiểu tại sao bả và thằng lỏi đó trong khi cọ xát, xà nẹo đủ trò đủ kiểu mà miệng cứ ư ử những câu thơ ‘thiền dâm, thiền sex’ của Thi sĩ Du Tử Táo?

xuống thế. Theo em khép cửa đời
vào thiền chỉ để thấy viền môi
...
tìm thấy trong ta một cửa vào
cũng là lối ngõ để đi ra
...
miếng trời đỏ ké! Miếng tro, than
miếng nhay. Miếng nhá: vùng u tối
địa ngục lên bàn tay nổi gân.
(Du Tử Lê)
...
Là cơn sướng
Đi ra từ thân thể em
Và, những lần tôi cúi xuống,
Cúi xuống, Du Tử Lê, cúi xuống,
Chói, gắt mùi thịt, da định mệnh!
(Chỉ đổi chữ ‘đau’ thành ‘sướng” trong thơ Du Tử Lê)


Thấy cảm thấy tôi đã diễn tả đủ chưa... về ba chuyện diễn ra từng giây, từng sát-na không những trong cõi Dục giới này mà vẫn xảy ra hà rầm ngay ở cõi Sắc giới?... Có lẽ đủ rồi phải không?


- Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc là tại sao bả và thẳng lỏi đó lại xa nhau?
- Chỉ vì nó “chơi hoa cả cụm”!
- Sư huynh nói gì kỳ wuá tui không hiêåu? Người ta chỉ nói “trồng hoa, trưng hoa” hay “mượn hoa cúng Phật”. Chơi cây kiêång chứ đâu có ai “chơi hoa”?
- “Chơi hoa” là lối nói bình dân học vụ, đúng ra phải nói trắng trợn là “phắc hoa” theo lối nói của ‘dân chơi xứ thượng’. Bả là một đóa hoa, nhưng đã héo tàn, thâm tím... nó đã ớn tớn tận cổ nên phải lưu ý tới đóa hoa khác ngay trong vườn nhà!


Mày từ trong ấy chui ra
Cớ sao dám nói vườn hoa bà tàn?
Hoa tàn mà nhụy chưa tàn!
Muốn xem bà vén bừa màn cho xem.
Con gái lớn của bả, hơn nó có 2 tuổi, đã ra trường, làm cô giáo, cũng là một đóa hoa, nhưng chưa hé nụ, còn “gin”, còn hồng thăém...
Một yêu cặp mắt đa tình
Hai yêu duyên dáng vừa xinh vừa giòn
Ba yêu cổ nõn eo thon
Bốn yêu mặt ngọc trăng tròn tuyết in
Năm yêu má lúm đồng tiền
Sáu yêu hai trái đào tiên nổi cồn
Bảy yêu bụi rậm xanh rờn
Tám yêu gò nổi như hòn núi cao
Chín yêu khép mở nhị đào
Mười yêu ngõ hẻm đi vào thiên thai.
...
Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Lưng tròn vành vạnh, đít bảnh bao
Mân mân, mó mó, đút ngay vào
Tương giao thủy hỏa sôi xình xịch
Nhị khí âm dương, sướng thế nào!
...
Kim đâm vào thịt thì đau
Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời.
...
Đêm xuân tẩn mẩn sờ “nhồn”
Máu dê nhường đã bồn chồn, đê mê
Hai tay cầm lấy khư khư
Bụng thì bảo dạ rằng ư đút vào.
Đút vào nó sướng làm sao!
Dập lên dập xuống, nó trào nước ra.
Chơi cho “kẹt” rát, “nhồn” ê
“Nhồn” tù, cu hãm càng tê tái đời.
...
Đấu mấy hiệp liền không đuối sức
Tranh ba ngày tiếp chửa mòn hơi
Khi mau khi chậm khi mơn trớn
Lúc xuống lúc lên, lúc thọc dài
Gác qua gác lại phô đủ kiểu
Món lồng banh nỉ ta còn chơi.


- Tui biết mặt con gái bả. Mặt mũi nó đâu có xinh đẹp bằng bả, nó cũng có duyên nhờ hai má lúm đồng tiền, nhưng lại hơi rỗ huê...
- Ăn tiền là ở chỗ mặt mũi tầm thường nhưng “dàn đồng”, body trông sạch nước cản hết biết! Thầy phải biết dân chơi sành điệu, tụi nó ít khi nào quan tâm đến bộ mặt mà lại rất lưu tâm đến bộ “dàn đồng”. Châm ngôn nằm lòng của bọn chúng là:


Mặt đẹp như múi mít
Đít thúi hơn sầu riêng!


- Sao kỳ dzậy? Tui không hiểu. Theo tui, mít hay sầu riêng gì cũng đều thơm hết ráo trọi!
- Thầy thiệt không hiểu, hay “giả nai” dzới tui?... Có gì khó hiểu đâu, mặt mũi càng xinh đẹp, đương nhiên phải có nhiều thằng đực thấy “hợp nhãn, bắt mắt” nên bám riết theo, rồi đương nhiên được hưởng thụ nhiều nên cặp mông vốn dĩ tròn trịa cong vêu, nay biến dạng trở nên xẹp lép như tờ giấy mỏng dính... vì thế cũng mấy thằng đực đó lại đổi giọng cho là ‘thúi hơn sầu riêng”... chớ không phải “sầu chung”!


“Nhồn già”, da dính tận xương
Váy xanh mỏng mảnh lại thương buồi dài.


“Sầu riêng” là vì sau khi thằng đực bỏ chạy mà miệng nghêu ngao “càng đi xa tui càng chóng quên!” chỉ một mình đương sự mới rõ thực tế ê chề, nhưng cũng đành ôm nỗi sầu riêng nằm ôm gối thở dài thườn thượt... còn những người xa lạ như thầy, luôn tưởng là vẫn “thơm như múi mít!”


Chi lạ rứa chiều ni tui muốn khóc
Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn
Nhìn chi tui hình đom đóm trong đêm
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch
Tui mơ ước không bao giờ tuyệt đích
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ
Rồi không nghĩ đến tui răng lại cứ hững hờ
Phép yêu mến vô duyên và trơ trẽn.
Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn
Đã vì răng tui biết được người hè
Nhưng mà chiều đã rũ bóng lê thê
Ni với nớ khi mô mà gần gũi
Chi lạ rứa người cứ làm tui tủi
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau
Cảm tình câm nên không có sắc màu
Mà vạn thảo chẳng lên màu lưu huyết
Chi lạ rứa người làm tui ái ngại
Biết sông sâu hay cạn giữa giòng đời
Bên ni bờ hoa thắm rất chơi vơi
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy
Muốn lên mặt sóng thuyền xô đẩy
Nhưng thân đau đâu dám đánh liều
Đâu chi mô có vẻ hận cô liêu
Mà chi lạ rứa mà hề ai chịu nổi
Tôi không điên cũng không thèm bối rối
Nhớ làm chi mà tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường
Không màu sắc chi lạ hè người hỉ
Tui muốn có một người thương tư kỷ
Nhưng giòng đời như rứa đó mần răng
Tui muốn đi muốn gọi muốn thưa rằng
Chờ tui với người ơi chi lạ rứa
Tui không điên mà răng mắt mờ lệ ứa
Bởi vì răng tui có biết chi mô
Mờ lòng tôi là mực nước sông hồ
Chi lạ rứa bên ni bờ tủi khóc
Bởi vì răng tui biết được người hè
Nhưng mà chiều đã rũ bóng lê thê
Ni với nớ khi mô mà gần gũi.
(Chi Lạ Rứa)


Vì thế, mấy thằng đực sành điệu lại thích những nữ nhân “vừa rỗ huê, vừa có má lúm đồng tiền!” vì những người như thế thiên hạ thường ngó lơ, không đếm xỉa tới, nên “đít vẫn thơm như múi mít!”... Hơn nữa, ông trời, bà trời lại rất công bình, ban phát cho họ một khả năng tự nhiên là rất giỏi trong nghệ thuật gối chăn, họ thường rất nhuần nhuyễn trong những tư thế “Phủ Âm Tựu Dương”, “Đỉnh Âm Tiếp Dương”, “Xả Âm Trợ Dương”... làm cho mấy thằng đực cực kỳ sảng khoái, mê tít thò lò!... Thằng lỏi ranh mãnh đó có đôi mắt tinh ma nên đã sớm phát hiện ra thứ hàng họ hiếm quí đó, rồi âm thầm xơi tái luôn cô con gái cưng của bả vào một buổi trưa hè, mà bả nào hay biết!


Nhiều nhặn chi có một cái “nhồn”
Mà quý khách vương tôn đều ngỏng “kẹt”.
...
Thế gian đẹp nhất là “nhồn”
Nhất ngon là gỏi, nhất khôn là tiền.
...
Trưa hè em để ‘nhồn’ ra
Sợ em thức giấc đứng xa nhòm vào
Cha đời một nắm thuốc lào
Thế gian hỏi có thằng nào không say?
Khoái tai tự sự!
Đếch mất tiền mà thấy rõ đầu đuôi
Cho dù ai bôn tẩu ngược xuôi
Tiền trăm vạn cũng dễ nuôi cái đó!
Phất phơ chòm lông khi kín hở
Gật gù của nợ cứ bồn chồn
Ối trời đất ơi thiên hạ thừa ‘nhồn’
Sao nỡ để khách vương tôn nứng ‘kẹt”?
Có chồng? Mặc! Không chồng cũng mặc
Xin đừng ai chơi ngặt anh em
Muốn xem lẳng lặng mà xem...
(Đặng Thái Mai - bố vợ Đại tướng “cầm quần chị em” Võ Nguyên Giáp)
...
Lưỡi không xương trăm đường lắt léo
“Nhồn” không cạp, nhồn méo làm ba.
...
“Nhồn” bà, bà để ra chơi
Cớ sao mi lại cửng buồi mi lên
Buồi ông nó muốn ngủ yên
Vì “nhồn” dạng háng nó điên cái đầu.
Điên đầu sao cứ làm cao
Sợ “nhồn” nó cắn hay sao hở buồi
Buồi này thịt rắn gân dai
Dù răng, dù lợi, chẳng nhai được buồi
Không răng mà chỉ có môi
Bốn môi mút kỹ đầu đuôi con buồi
Nói nghe mà rợn cả người
“Nhồn” kia cũng nứng, vậy thời cho vô!
Tức thì mấp máy nhấp nhô
Đập lên dập xuống, ép mu đè “nhồn”.
Đôi bên lăn lóc hai hòn
Đùi non kẹp chặt thằng con cứng đờ.
“Nhồn” ta tác động thi đua
Lắc đi, lắc lại, đong đưa sẩy sàng.
Bên trong nước chẩy chứa chan
“Nhồn” thi bóp chặt cổ thằng bé con
Cơn lên nó mửa nó nôn
Đầu dù phần phật, miệng phun vòi rồng.
Phun vào đến tận thâm cung
Thịt da điện giật bỗng dưng la làng.
Trời ơi! sáo nó làm sương!
Giời ơi! nó “sướng làm sao!”
...
Chống đỡ gay go trào bọt mép
Cò cưa dai dẳng toát mồ hôi.
Người trên ập xuống phều phào thở
Kẻ dưới nâng lên khúc khích cười
Đối thủ quần nhau mùa nắng cực
Quần lâu thấm mệt ngã lăn nhoài.


Nó khéo viện những lý do này nọ tạm tránh mặt bả, để âm thầm dắt cô giáo, con gái cưng của bả đi du hí, trèo núi, tắm sông, tắm biển khắp mọi nơi:


Chưa đi chưa biết Huế thương
Đi rồi mới biết cũng thường mà thôi
Họa là có khác cách chơi
Họ chơi dưới nước, mình chơi trên bờ.
...
Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân hồ dễ cầm lòng được chăng?
...
Nhũ hoa anh tựa đầu lên
Nụ hôn giòn giã còn rền bên tai.
...
Trèo lên dốc đá, đá chẳng leo (đéo chẳng la)
Có cô giáo nhỏ, đó học trèo (đéo học trò)
Nước chảy tăm tăm, mù mù đợi (mời mời đ...)
Cô dạy học trò, đếm đếm theo (đéo đéo thêm).
...
Chưa đi chưa biết Nha Trang
Đi rồi mới biết nó sang hơn mình
Nó vừa tắm biển tắm xình
Lại có hồ nhỏ cho mình rửa... chim.


Rôi chuyện đến sẽ phải đến! Một hôm cô con gái cưng nước mắt lưng tròng thổn thức với bả:


Má ơi con má hư rồi
Má đừng trang điểm phấn giồi uổng công
Má ơi con má luông tuồng
Có ngày thiên hạ lột truồng ô danh.
Má ơi con má phá thai
Nước da tái mét, trong ngoài đều hay.
Má ơi con má thất tình
Ăn khay trầu quế, uống chình rượu hương
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?

Vũ Công Lý (còn tiếp)

* tựa do Gió O đặt

Xuyến

Lời Phụ Tình không kém trinh bạch Của Xuyến

X. rất muốn hưởng ứng lời kêu gọi của Khuyến, mà Khuyến thì lại nghe theo lời dụ dỗ của nhà thơ lỗi lạc Nguyễn Đù Thường của Tạp Chí (nhà) Thổ, Tiền Vẹo, và TàLaHoác, mà X. thấy cả nhà thơ lỗi lạc Nguyễn Đù Thường của Tạp Chí (nhà) Thổ, Tiền Vẹo, và TàLaHoác lẫn Khuyến, và Hà Lăng, đều nên kiêng cẩn học thêm vài chiêu đá gìo lái chữ của công tử Bolsa Vũ Công Lý này. Vì chí ít ra là công tử Bolsa Vũ Công Lý nhái nhại nhài "qúy món" ( mà các diễn đàn văn chương văn hoá Việt Nam ngoài thế dái như Tạp Chí (nhà)Thổ, Tiền Vẹo, và TàLaHoác mê mẩn đi buôn) ra thành cái "nhồn". Đọc nghe hay ho tuyệt vời tiếng Việt của Mr. Nguyễn Hy Vọng MD. Chứ không thô tục cả đẩn dzô diêng không biết mình đang ngọng tiếng Việt đến rớt nước miếng đến vàng răng giả như các nhà thổ gái Lê Thị Rắm Vân, Đỗ Lê Anh Địt, lẫn các nhà thồ dái trong nhóm Mở Miệng (Dưới) như Bùi (lậu)Chát, Lý (Tú) Đợi, Nguyễn Vẹo (Dái), Nguyễn Cong Ca(.c, Đinh Liệt (dương), cà đi cà lại trên các Tạp Chí (nhà) Thổ, Tiền Vẹo, và TàlaHoác đã gây nên cảnh chiến tranh khói lửa tơi bời giữa các ACE giai và gái trong thời gian qua.

Để kết luận Xuyến xin mượn lời thi sĩ Qùynh Thi của Tạp Chí Thơ do "đại gia 360 mánh" Đỗ Kh bao thầu  kính cẩn gửi đến Khuyến cùng tất cả ACE:  "Tôi cho rằng trong cuộc nội chiến vừa qua . Cả hai bên đều có tội với đất nước và đồng bào . Tôi cũng nghĩ rằng mọi người cần ngồi lại  đối thoại với nhau , để tìm ra một hướng đi mới có lợi cho dân tộc". OK SALEM.

Xuyến